Vì vậy, đề tài "Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí" là một đề tài mới và không trùng với đề tài và luận văn nào đã đư
Trang 1-
NGÔ THỊ THÚY HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NGÀNH DẦU KHÍ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010
Trang 2-
NGÔ THỊ THÚY HẰNG
GIẢI PHÁP NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU CỦA CÁC CÔNG TY XÂY DỰNG NGÀNH DẦU KHÍ
Chuyên ngành: Thương mại
Mã số: 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
GVHD: GS.TS VÕ THANH THU
TP Hồ Chí Minh, tháng 10 năm 2010
Trang 3MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iii
DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU iv U PHẦN MỞ ĐẦUU v
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ KHOA HỌC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 1
1.1 BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤU THẤU XÂY DỰNG 1
1.1.1 Khái quát về đấu thầu xây dựng 1
1.1.2 Bản chất của đấu thầu xây dựng 1
1.1.3 Vai trò của đấu thầu xây dựng 1
1.2 ĐẶC ĐIỂM CỦA CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 2
1.2.1 Lý thuyết cạnh tranh 2
1.2.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 3
1.2.3 Phân loại cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 6
1.3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 6
1.3.1 Năng lực tài chính của doanh nghiệp: 6
1.3.2 Số lượng công trình trúng thầu và giá trị công trình trúng thầu 8
1.3.3 Chất lượng dự án 8
1.3.4 Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp 9
1.3.5 Giá bỏ thầu 9
1.4 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 10
1.4.1 Những nhân tố nội lực của doanh nghiệp xây dựng 10
1.4.2 Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp xây dựng 15
1.5 NHỮNG KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NHÀ THẦU XÂY DỰNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM 18
1.5.1 Phân chia khu vực các nhà thầu trong cùng một quốc gia 19
1.5.2 Kinh nghiệm từng bước chiếm lĩnh thị trường 19
1.5.3 Kinh nghiệm về lựa chọn nhà thầu phụ 20
1.5.4 Kinh nghiệm quan hệ với chủ đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương 20
1.5.5 Kinh nghiệm về sử dụng và điều động thiết bị 21
1.5.6 Kinh nghiệm vận dụng sự hỗ trợ và bảo đảm của Nhà nước 21
1.5.7 Kinh nghiệm về sử dụng công cụ luật pháp 22
1.5.8 Kinh nghiệm về lập hồ sơ giải ngân và thanh toán 22
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DẦU KHÍ - ĐIỂN HÌNH TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ THIẾT KẾ DẦU KHÍ 24
2.1 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG TRONG NGÀNH DẦU KHÍ 24
2.1.1 Hoạt động đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng của ngành Dầu khí 24
Trang 42.1.2 Tổng quan về năng lực cạnh tranh của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí trong thời gian gần đây 28 2.2 THỰC TRẠNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ THIẾT KẾ DẦU KHÍ (PVE) TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY 39 2.2.1 Giới thiệu chung về Công ty 39 2.2.2 Những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh đấu thầu xây dựng của Công ty 40 2.2.3 Kết quả đấu thầu một số công trình xây dựng của Công ty những năm vừa qua 51 2.3 NGHIÊN CỨU CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG DẤU KHÍ THÔNG QUA HOẠT ĐỘNG ĐẤU THẦU MỘT SỐ CÔNG TRÌNH CỦA CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ THIẾT KẾ DẦU KHÍ 53 2.3.1 Gói thầu: Thi công Mở rộng Nhà máy chế biến Dầu mỡ nhờn BP
PETCO Nhà Bè (Đấu thầu cạnh tranh - Công ty trúng thầu) 53 2.3.2 Gói thầu: Thiết kế kỹ thuật và thiết kế bản vẽ thi công Tổng Kho xăng dầu Phú Hữu – Giai đoạn 1 (Đấu thầu cạnh tranh - Công ty trượt thầu) 54 2.3.3 Gói thầu: EPC Trạm chiết nạp khí CNG Việt Nam – Giai đoạn điều chỉnh (Chỉ định thầu) 55 2.3.4 Kết quả đánh giá năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng của Công
ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí 57 CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH
TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA NGÀNH DẦU KHÍ 61 3.1 Xu thế tất yếu của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí trước xu thế hội nhập nền kinh tế quốc tế 61 3.1.1 Yêu cầu đối với các Công ty xây dựng Dầu khí khi tham gia đấu thầu cạnh tranh trong thời gian tới 61 3.1.2 Định hướng phát triển của các Công ty xây dựng Dầu khí trong thời gian sắp tới 62 3.2 MỘT SỐ GIÀI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG NGÀNH DẦU KHÍ TRONG XU THẾ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 65 3.2.1 Nhóm giải pháp nhằm tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp xây dựng trong ngành Dầu khí 65 3.2.2 Nhóm giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hồ sơ dự thầu và kỹ thuật đấu thầu xây dựng 70 3.2.3 Nhóm giải pháp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 74 3.2.4 Một số kiến nghị đối với Nhà nước, ngành Dầu khí trong lĩnh vực cạnh tranh đấu thầu xây dựng 75 TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
PVN Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
PVC Tổng Công ty cổ phần Xây lắp Dầu khí Việt Nam
PVE Công ty cổ phần Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí
Trang 6DANH SÁCH CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Một số Dự án xây lắp Dầu khí được triển khai trong thời gian qua 25
Bảng 2.2 : Một số dự án đầu tư sản xuất công nghiệp – cơ khí chế tạo đang được triển khai của Tổng Công ty PVC 32
Bảng 2.3: Một số Dự án kinh doanh Khu công nghiệp – Bất động sản của Tổng Công ty PVC và các đơn vị thành viên đang triển khai 33
Bảng 2.4: Bảng tổng hợp về nguồn nhân lực của Tổng Công ty PVC 35
Bảng 2.5: Một vài chỉ tiêu tài chính của Tổng Công ty PVC giai đoạn 2008-2012.38 Bảng 2.6 : Giá trị đầu tư máy móc, thiết bị của Công ty 41
Bảng 2.7: Cơ cấu lao động của Công ty tính đến 30/09/2010 42
Bảng 2.8: Tình hình tài chính của Công ty giai đoạn 2006-2009 45
Bảng 2.9: Các chỉ tiêu tài chính của Công ty qua các năm 46
Bảng 2.10 Ma trận hình ảnh cạnh tranh năng lực đấu thầu của Công ty PVE và các đối thủ cạnh tranh 51
Bảng 2.11: Kết qủa đấu thầu dự án của Công ty trong thời gian qua 52
Bảng 2.12: Kết quả đấu thầu của Công ty theo hình thức đấu thầu 53
Bảng 3.1: Lĩnh vực hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty PVC giai đoạn 2011-2015 64
Bảng 3.2: Dự kiến kế hoạch sản xuất kinh doanh của các Công ty xây dựng thuộc Tổng Công ty PVC giai đoạn 2011 - 2015 65
Biểu đồ 2.1: Doanh thu hoạt động Xây lắp Dầu khí của Tổng Công ty PVC 300
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu doanh thu của Tổng Công ty PVC qua các năm 3434
Sơ đồ 1.1: Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng 6
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty năm 2010 40
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
I Ý NGHĨA VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ý NGHĨA VÀ TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Trước đây trong nền kinh tế kế hoạch, việc thực hiện đầu tư được thực hiện theo kế hoạch hàng năm thông qua kế hoạch giao nhận thầu và như vậy không có đấu thầu để lựa chọn người thực hiện Từ những năm 1989-1990 thì vấn đề tổ chức đấu thầu là yêu cầu tất yếu Thực hiện đấu thầu sẽ tạo được sự công bằng và cạnh tranh giữa các nhà thầu, hạn chế tiêu cực trong việc lựa chọn đơn vị thực hiện và qua đó giảm được chi phí đầu tư, mang lại hiệu quả cho dự án Hiện nay hoạt động đấu thầu đã được áp dụng rộng rãi ở nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực khác nhau nhưng đấu thầu trong xây dựng cơ bản luôn được quan tâm, cải tiến để từng bước được hoàn thiện Một trong những cam kết của Việt Nam với WTO là minh bạch hóa chính sách đầu tư Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến tính cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu
Hoạt động đấu thầu xây lắp có đặc thù là tính cạnh tranh giữa các nhà thầu rất cao đó là cạnh tranh về giá bỏ thầu, cạnh tranh về chất lượng công trình, cạnh tranh về tiến độ thi công (thể hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật-thi công) và sự cạnh tranh giúp cho các nhà thầu lớn lên về mọi mặt
Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí (PVE) là một đơn vị thành viên thuộc Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam (PVN), hoạt động trong lĩnh vực
tư vấn, thiết kế và xây dựng và việc cạnh tranh đấu thầu xây dựng là hoạt động chính của Công ty
Trong bối cảnh hiện nay, trước sự lớn mạnh của các doanh nghiệp xây dựng trong nước, sự xuất hiện của những Công ty xây dựng lớn của nước ngoài, sự phát triển của khoa học công nghệ xây dựng cho thấy rằng cạnh tranh đấu thầu xây dựng giữa các doanh nghiệp xây dựng diễn ra rất gay gắt
Hơn nữa, trong thời gian tới để thực hiện những cam kết trong tiến trình hội nhập WTO thì môi trường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn thì việc nâng cao tính cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu xây dựng trở thành mối quan tâm hàng đầu của các doanh nhiệp hoạt động trong lĩnh vực này Xuất phát từ thực tế trên thì hoạt động đấu thầu xây dựng trong ngành Dầu khí cũng không nằm ngoài xu thế đó Chính vì vậy đề tài “Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí” sẽ phần nào giải đáp được những vấn đề nêu trên
Trang 8II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
− Nghiên cứu thực trạng cạnh tranh trong đấu thầu của Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí
− Phân tích những mặt mạnh, cơ hội và những mặt yếu, thách thức của những Công ty xây dựng ngành Dầu khí trong giai đoạn hiện nay Qua đó, giúp cho tìm ra cho mình những hướng đi, hướng phát triển trong thời gian tới nhất là thời điểm nền kinh tế mở cửa của Việt Nam hiện nay
− Đề xuất những giải pháp tối ưu giúp cho các doanh nghiệp xây dựng trong ngành Dầu khí có thể áp dụng để nâng cao năng lực cạnh tranh trong công tác đấu thầu ngày càng khắc nghiệt
III NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI
− Nhận diện một cách tổng quát về bản chất và vai trò của đấu thầu cũng như tóm tắt được lý thuyết cạnh tranh
− Chỉ ra và nêu rõ được những kinh nghiệm khi tham gia đấu thầu xây dựng từ
đó rút ra được bài học kinh nghiệm cho hoạt động đấu thầu xây dựng Dầu khí
− Phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí đang diễn ra hiện nay
− Làm rõ được sức mạnh của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng Dầu khí, những hạn chế cũng như điểm yếu của đấu thầu trong ngành Dầu khí Từ đó có cơ
sở để đề xuất những giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí trong nền kinh tế thị trường
IV NHỮNG CÂU HỎI PHẢI TRẢ LỜI THÔNG QUA LUẬN VĂN NHỮNG CÂU HỎI PHẢI TRẢ LỜI THÔNG QUA LUẬN VĂN
− Bản chất của đấu thầu cạnh tranh là gì? Vai trò cũng như hạn chế của nó trong hoạt động đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí ra sao?
− Thực trạng đấu thầu xây dựng trong ngành Dầu khí đang diễn ra theo xu hướng nào?
− Mức độ đáp ứng yêu cầu thị trường cũng như khả năng tiếp cận những chuẩn mực của hoạt động đấu thầu xây dựng đến đâu?
− Các Công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực xây dựng ngành Dầu khí làm thế nào để nâng cao được năng lực cạnh tranh khi tham gia đấu thầu rộng rãi?
V ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
− Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài tập trung vào những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí trước xu thế hội nhập và phát triển theo nền kinh tế thị trường
− Phạm vi nghiên cứu:
Trang 9Đề tài chỉ nghiên cứu thực trạng đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí thông qua nghiên cứu điển hình (case study) một số công trình mà Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí tham gia đấu thầu
Không phô diễn nhóm giải pháp liên quan đến yếu tố kỹ thuật trong đấu thầu xây dựng mà chỉ tập trung phân tích các nhóm giải pháp về tài chính, năng lực kinh nghiệm, nguồn nhân lực để có thể tham gia đấu thầu cạnh tranh trong xu thế kinh tế mới
VI PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
− Phương pháp thống kê: được sử dụng để phân tích thực trạng đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí
− Phương pháp logic biện chứng: dùng để nhận định và đánh giá những vấn đề, nội dung nghiên cứu
− Phương pháp nghiên cứu điển hình (case study): trên cơ sở nghiên cứu điển hình rút ra được những bài học kinh nghiệm, những điểm mạnh điểm yếu của Công
ty khi tham gia đấu thầu xây dựng
− Một số phương pháp nghiên cứu khoa học khác như: phương pháp so sánh, phương pháp xã hội học, phương pháp phân tích kết hợp với tổng hợp
VII ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI ĐIỂM MỚI CỦA ĐỀ TÀI
Cạnh tranh là một khái niệm được sử dụng trên nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, trong lĩnh vực kinh tế cạnh tranh có thể được hiểu là sự ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, các doanh nghiệp nhằm giành các điều kiện sản xuất, khách hàng, thị trường tiêu thụ có lợi nhất Đây là hiện tượng kinh tế được các nhà kinh tế học nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Ở nước ngoài, có thể kể đến các công trình nghiên cứu của K.Marx (nghiên cứu cạnh tranh dưới chế độ tư bản chủ nghĩa), P.A Samuelson, D Begg, S Fischer, R Dorbusch, R.S Pindyck, D.L Rubinfeld Những công trình nghiên cứu này đã đề cập đến cạnh tranh dưới những khía cạnh như: điều kiện thực hiện cạnh tranh, môi trường cạnh tranh, cạnh tranh giữa các quốc gia, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
Ở trong nước, vấn đề cạnh tranh đã được nhiều cá nhân và tổ chức nghiên cứu Các công trình nghiên cứu này được thể hiện dưới dạng các dự án Các vấn đề pháp lý
và thể chế về chính sách và kiểm soát độc quyền kinh doanh, những công trình
chuyên khảo như: "Qui chế quản lý đầu tư xây dựng và đấu thầu” (Lê Thị Kim Quế
và Nguyễn Thị Đức Hạnh, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1998); "Cẩm nang về
công tác đấu thầu" (Bộ Kế hoạch - Đầu tư, Trung tâm Thông tin, Nxb Chính trị
quốc gia, 1997); hoặc dưới dạng các đề tài nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận
án như: đề tài "Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội
nhập khu vực và quốc tế" (do GS.TS Chu Văn Cấp làm chủ nhiệm); đề tài "Sức
Trang 10cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước ở nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế" (do TS Lê Hữu Thành làm chủ nhiệm); v.v Các công trình nghiên này đã
đề cập đến những vấn đề chung, qui chế pháp lý trong cạnh tranh, xây dựng qui trình, tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của nền kinh tế và của doanh nghiệp trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta
Các công trình nghiên cứu về cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng trước đây chỉ mới tập trung những vấn đề chung nhất trên bình diện quản lý mà chưa đề cập đến việc nghiên cứu cơ chế và đề ra những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp Mặt khác, nghiên cứu về khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí cũng là một điểm mới mẻ bởi lẽ tính chất cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu ngành Dầu khí chủ yếu theo xu hướng ưu tiên, ưu đãi, hỗ trợ lẫn nhau giữa các đơn vị là thành viên của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam, khó có đơn vị ngoài ngành nào có thể thâm nhập vào tham gia đấu thầu cạnh tranh Hơn nữa, điểm mới nữa của đề tài là sẽ nghiên cứu khả năng cạnh tranh và những giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí trong nền kinh tế mở cửa trong điều kiện cạnh tranh gay gắt và khốc liệt vuợt ra khỏi sự bao tiêu, hỗ trợ của Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Vì vậy, đề tài "Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong hoạt động đấu thầu của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí" là một đề tài mới và không trùng với đề
tài và luận văn nào đã được nghiên cứu trước đây
VIII KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI KẾT CẤU CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài bao gồm 3 chương:
− Chương I: Cơ sở khoa học nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
− Chương II: Phân tích thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí - nghiên cứu điển hình: hoạt động đấu thầu một số công trình xây dựng tại Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí
− Chương III: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh đấu thầu xây dựng trong ngành Dầu khí trước xu thế hội nhập nền kinh tế thị trường
Trang 11CHƯƠNG 1
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
.
CƠ SỞ KHOA HỌC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
1.1 BẢN BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤU THẤU XÂY DỰNG CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA ĐẤU THẤU XÂY DỰNG
1.1.1 Khái quát về đấu thầu xây dựng
Theo qui định tại mục 2, Điều 4, Chương 1, Luật Đấu thầu được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005, thì: "Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu
để thực hiện gói thầu thuộc các dự án quy định tại Điều 1 của Luật này trên cơ sở bảo đảm tính cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế"
Như vậy, đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu có năng lực thực hiện các công việc có liên quan đến quá trình tư vấn, xây dựng, mua sắm thiết
bị và lắp đặt các công trình, hạng mục công trình xây dựng nhằm đảm bảo tính kinh tế, các yêu cầu kỹ thuật của dự án
Đấu thầu xây dựng là phương thức đấu thầu được áp dụng rộng rãi đối với hầu hết các dự án đầu tư xây dựng cơ bản
Đấu thầu xây dựng (xây lắp) được thực hiện qua các hình thức sau đây:
− Đấu thầu rộng rãi: việc tổ chức đấu thầu không hạn chế số lượng các nhà thầu tham gia
− Đấu thầu hạn chế: bên mời thầu chỉ mời một số nhà thầu có đủ năng lực tham dự đấu thầu
− Chỉ định thầu: là hình thức lựa chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng được yêu cầu
để thương thảo hợp đồng
1.1.2 Bản chất của đấu thầu xây dựng
Đấu thầu xây dựng là quá trình cạnh tranh giữa các nhà thầu khác nhau về khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tiến độ, chi phí xây dựng do bên mời thầu đặt ra
Xét về bản chất, đây là một hoạt động mua bán mang tính đặc thù, tính đặc thù ở đây được thể hiện qua quá trình thực hiện của chủ thể tham gia Thực chất đây
là hoạt động cạnh tranh xuất phát từ mối quan hệ cung - cầu, diễn ra giữa hai chủ thể: cạnh tranh giữa bên mời thầu (chủ đầu tư) với các nhà thầu và cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau
1.1.3 Vai trò của đấu thầu xây dựng
Đấu thầu là chế độ được áp dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường Việc đấu thầu mang lại những lợi ích thiết thực với chủ đầu tư, nhà thầu và
cả nền kinh tế quốc dân
Trang 12Đối với chủ đầu tư, thông qua việc thực hiện đấu thầu, chủ đầu tư sẽ tìm được nhà thầu có khả năng đáp ứng cao nhất các yêu cầu thực hiện dự án đầu tư trên cả phương diện chất lượng, tiến độ và chi phí Hiệu quả vốn đầu tư được tăng cường nhờ vốn được quản lý chặt chẽ, khắc phục được tình trạng thất thoát vốn Đấu thầu cũng giúp chủ đầu tư giải quyết được tình trạng phụ thuộc vào một nhà thầu như trong hình thức giao thầu hoặc chỉ định thầu Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả thiết thực của đấu thầu, chủ đầu tư phải am hiểu sâu sắc quy chế đấu thầu và có được đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn tốt, có đạo đức nghề nghiệp để lập hồ
sơ mời thầu có chất lượng, đánh giá đúng các hồ sơ dự thầu và lựa chọn đúng nhà thầu có đủ năng lực thực hiện yêu cầu công trình
Đối với nhà thầu, việc thực hiện chế độ đấu thầu sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt tìm kiếm việc làm thông qua việc nắm bắt thông tin về
dự án, về đối thủ cạnh tranh, thiết lập quan hệ với các chủ thể kinh tế khác Đấu thầu cũng tạo nên sức ép với các nhà thầu trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao trình độ cán bộ và công nhân viên, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh để tăng xác suất trúng thầu Thông qua đấu thầu, các nhà thầu cũng sẽ tích luỹ được thêm kinh nghiệm thi công, kinh nghiệm lập hồ sơ dự thầu và xác định chiến lược phát triển dài hạn của mình
Đối với Nhà nước, thông qua đấu thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước có đủ thông tin thực tế và cơ sở khoa học để đánh giá đúng thực lực của các chủ đầu tư và các nhà thầu Những điều đó giúp Nhà nước phát huy đúng được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường: tổ chức thị trường xây dựng, tạo sự cạnh tranh lành mạnh và tăng cường trật tự, kỷ cương trong thựuc hiện quá trình đầu tư
1.2 ĐẶC ĐẶC ĐIỂM CỦA CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG ĐIỂM CỦA CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG 1.2.1 Lý thuyết cạnh tranh
Có nhiều nghiên cứu được thực hiện nhằm giải thích, đánh giá tính cạnh tranh ở nhiều cấp độ khác nhau, và cơ sở lý thuyết của các nghiên cứu này dựa trên
lý thuyết cổ điển về lợi thế cạnh tranh Ý tưởng của lý thuyết này dựa trên vấn đề là nguồn nhân tố sản xuất (như lao động, đất đai, tài nguyên, vốn…) của các quốc gia rất khác nhau, và quốc gia sẽ có lợi thế so sánh đối với các ngành công nghiệp sử dụng tối đa các nhân tố mà quốc gia này có nhiều Quốc gia này sẽ xuất khẩu các sản phẩm này và nhập khẩu các sản phẩm không có lợi thế so sánh Tuy nhiên, vấn
đề của lý thuyết này nằm ở các giả định không có thực trong thực tế, đó là không có lợi thế về qui mô, kỹ thuật sản xuất là giống nhau ở các quốc gia, tổng nhân tố sản xuất là cố định, các yếu tố sản xuất như lao động hay vốn không được lưu chuyển giữa các quốc gia Vì lẽ đó, lý thuyết này chỉ có tác dụng trong việc định hướng phân bổ hiệu quả nguồn tài nguyên trong bối cảnh của một nền kinh tế mở
Trang 13Theo C.Marx, cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh giữa các nhà tư bản nhằm giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ hàng hoá để thu được lợi nhuận siêu ngạch Ông cũng coi cạnh tranh là một trong những quy luật của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
P.A.Samuelson cho rằng, cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp
để giành khách hàng hoặc thị trường
Từ điển Bách khoa Việt Nam (tập 1) định nghĩa: cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất
Các quan niệm nêu trên có sự khác nhau về cách tiếp cận và diễn giải, song
có nhiều điểm chung Đó là:
− Khi nói đến cạnh tranh tức là nói đến một quá trình có sự tham gia của nhiều chủ thể có cùng mục tiêu (đối tượng mà các chủ thể đều hướng tới chiếm đoạt)
− Có ràng buộc chung mà các chủ thể phải tuân thủ Đó là đặc điểm nhu cầu của khách hàng, ràng buộc của luật pháp và thông lệ trên thị trường
− Về thời gian và không gian, cạnh tranh diễn ra trong khoảng thời gian và trong không gian không cố định
Cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường có những mặt tích cực và những mặt tiêu cực nhất định Vấn đề đặt ra không phải là thủ tiêu cạnh tranh, mà phải để cạnh tranh diễn ra trong điều kiện bình đẳng và minh bạch, tránh dùng những thủ đoạn không lành mạnh, phải phát huy được mặt tích cực và hạn chế đến mức tối đa những mặt tiêu cực của cạnh tranh Đó là trách nhiệm của Nhà nước và của tất cả các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường
1.2.2 Đặc điểm của cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu là sự cố gắng giành được quyền thực hiện các dự án thông qua gọi thầu với điều kiện thuận lợi và tối ưu nhất trên cơ sở nguồn nội lực và ngoại lực có khả năng khống chế được của doanh nghiệp nhằm mục đích tối đa hóa lợi ích kinh tế - xã hội Cụ thể, cạnh tranh đấu thầu có thể được hiểu trên các khía cạnh sau:
− Theo nghĩa hẹp, cạnh tranh giữa các doanh nghiệp xây dựng trong đấu thầu
là quá trình doanh nghiệp đưa ra những giải pháp về kỹ thuật, trang thiết bị, nhân lực, tiến độ thi công, giá bỏ thầu, ưu thế về kinh nghiệm thể hiện tính ưu việt của mình so với nhà thầu khác nhằm thỏa mãn các yêu cầu của bên mời thầu trong việc thực hiện dự án Cách hiểu này chỉ giới hạn ở khâu đấu thầu, chưa chỉ ra được sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong suốt quá trình sản xuất kinh doanh, do đó rất khó xác định được tính toàn diện của cạnh tranh trong quá trình đấu thầu
Trang 14− Theo nghĩa rộng, cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng là sự ganh đua quyết liệt giữa các doanh nghiệp trong quá trình tìm kiếm thông tin, đưa ra các giải pháp
về kỹ thuật, ưu thế về kinh nghiệm, điều kiện thực hiện dự án, giá bỏ thầu nhằm đảm bảo trúng thầu và thực hiện các cam kết theo hợp đồng ký kết với chủ đầu tư Cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng thường được hiểu theo nghĩa rộng, nó có một
số đặc điểm sau:
Thứ nhất, về chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu xây dựng Cạnh tranh
trong đấu thầu xây dựng thường có nhiều chủ thể tham gia, các chủ thể này có cùng mục tiêu theo đuổi đó là phải giành được những lợi thế về phía mình Các chủ thể tham gia cạnh tranh đấu thầu phải tuân thủ các qui định của pháp luật, các thông lệ quốc tế và các ràng buộc về điều kiện tham gia đấu thầu do cơ quan quản lý dự án đặt ra Các chủ thể khi tham gia đấu thầu đều phải cạnh tranh với nhau, điều này dẫn tới sự hình thành nhiều mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể khi tham gia đấu thầu Đó là, mối quan hệ cạnh tranh giữa người bán và người mua, theo đó, người mua (bên mời thầu) thì muốn mua được công trình xây dựng có chất lượng cao, thời gian thi công ngắn, chi phí hợp lý, về phía những người bán (nhà thầu) thì muốn bán được công trình trong tương lai có giá cao với chi phí hợp lý và có lợi nhuận lớn nhất trong hạn độ bảo đảm các qui chuẩn của xây dựng
Thứ hai, về đối tượng của cạnh tranh đấu thầu xây dựng Khi đánh giá và
quyết định lựa chọn nhà thầu, chủ đầu tư thường căn cứ vào các tiêu chí để xét thầu,
đó là: kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu; khả năng tài chính; trình độ chuyên môn,
kỹ thuật; tiến độ thi công và giá dự thầu Trong đó, bên mời thầu chú ý nhiều nhất tới chất lượng, tính năng ưu việt về kỹ thuật và giá thành sản phẩm, đó cũng chính
là đối tượng cạnh tranh giữa các nhà thầu với nhau
Cạnh tranh bằng chất lượng công trình, là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong việc đề xuất các giải pháp tốt nhất về khoa học - công nghệ nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn do bên mời thầu đưa ra Để thắng thầu, doanh nghiệp phải không ngừng đầu tư, nghiên cứu và ứng dụng các thành tựu khoa học - công nghệ nhằm nâng cao chất lượng công trình Chất lượng công trình là một trong những yếu tố quan trọng nhất, nó khẳng định năng lực thi công, uy tín của doanh nghiệp Mặt khác, chất lượng công trình còn góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hoàn thành các mục tiêu kinh tế - kỹ thuật mà doanh nghiệp đã đề ra và thương hiệu của doanh nghiệp
Cạnh tranh bằng giá dự thầu cũng có ý nghĩa hết sức quan trọng trong quyết định đến thành công hay thất bại trong đấu thầu xây dựng Do đó, xây dựng được mức giá bỏ thầu hợp lý là yêu cầu hàng đầu quan trong việc đảm bảo tính cạnh tranh và đạt hiệu quả kinh doanh cao của doanh nghiệp Để tạo ra ưu thế cạnh tranh
Trang 15về giá trong cạnh tranh đòi hỏi doanh nghiệp phải nhanh nhạy và linh hoạt trong việc tìm hiểu thông tin về dự án, đối thủ cạnh tranh, mục tiêu của dự án, ưu thế của các doanh nghiệp khác trong cạnh tranh Tùy theo từng công trình cụ thể dựa vào mục tiêu của công ty, tiềm lực tài chính, năng lực thi công từ đó xây dựng chính sách giá khác nhau để quyết định giá bỏ thầu
Cạnh tranh bằng tiến độ thi công Tiến độ thi công thể hiện năng lực của nhà thầu trên các khía cạnh như; trình độ tổ chức và quản lý thi công, khả năng kỹ thuật, trang thiết bị máy móc và nguồn nhân lực Nhà thầu cạnh tranh với nhau qua các tiêu chí này để giành những ưu thế trong đấu thầu Thực hiện đầy đủ các cam kết về tiến độ thi công là điều kiện quan trong để thắng thầu cũng như nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Thứ ba, về hình thức cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng Trong đấu thầu xây
dựng, tồn tại hai hình thức cạnh tranh chủ yếu là: cạnh tranh theo chiều rộng và cạnh tranh theo chiều sâu
Cạnh tranh theo chiều rộng (cạnh tranh có giới hạn) bao gồm các yếu tố chính như: Đa dạng hóa các công trình xây dựng mà doanh nghiệp kinh doanh trên cơ
sở nguồn lực hiện có; cải tiến phương thức thanh toán và các điều kiện thi công trong hợp đồng nhận thầu; nâng cao năng lực xây dựng hồ sơ dự thầu, đặc biệt là hoạt động giới thiệu và thông tin về doanh nghiệp; đổi mới công tác tổ chức thi công; tăng cường hoạt động tìm kiếm thông tin kinh tế; đẩy mạnh hoạt động marketing, truyền thông
Cạnh tranh theo chiều sâu (cạnh tranh không có giới hạn) là sự đầu tư của doanh nghiệp thông qua việc nâng cấp thiết bị thi công, nghiên cứu và ứng dụng những tiến bộ của khoa học - công nghệ vào thi công, nâng cao trình độ chuyên môn cho đội ngũ cán bộ khoa học và công nhân, viên chức trong doanh nghiệp Cạnh tranh theo chiều sâu thực chất là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp thông qua việc đầu tư nghiên cứu nhằm nâng cao hàm lượng khoa học - kỹ thuật của hàng hóa chào bán nói riêng (công trình) và năng lực khoa học của doanh nghiệp nói chung
Trong thực tế, doanh nghiệp thường thực hiện cả hai hình thức trên để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình
Doanh nghiệp phải chủ động tìm kiếm thông tin về các cuộc đấu thầu để có
sự chuẩn bị tham gia đấu thầu
Khi doanh nghiệp tham gia đấu thầu, có hai trường hợp xảy ra là trượt thầu hoặc trúng thầu Trong trường hợp nào thì doanh nghiệp cũng luôn luôn phải tìm kiếm các thông tin để tiếp cận các cuộc đấu thầu Phân tích và đánh giá thông tin để đưa ra các quyết sách đúng đắn trong việc tham gia đấu thầu
Trang 16Sơ đồ 1.1: Quá trình cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
1.2.3 Phân loại cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Cạnh tranh trong đấu thầu có nhiều loại, trong đó chủ yếu là:
− Cạnh tranh giữa người bán và người mua: Người mua dịch vụ xây dựng (chủ đầu tư - bên mời thầu) và người bán dịch vụ xây dựng công trình (doanh nghiệp xây dựng - nhà thầu) với những mục tiêu khác nhau, tạo ra sự sôi động của thị trường xây dựng Mục tiêu của chủ đầu tư là các công trình có chất lượng cao, thời gian xây dựng ngắn và chi phí xây dựng (giá cả hợp lý) Còn mục tiêu của nhà thầu là đảm bảo hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhất và ít rủi ro nhất
− Cạnh tranh giữa người mua dịch vụ xây dựng với nhau: Chỉ xảy ra khi có nhiều chủ đầu tư có công trình cần xây dựng nhưng chỉ có một doanh nghiệp xây dựng hoặc một ít tổ chức xây dựng tham gia đấu thầu có khả năng công nghệ độc quyền để xây dựng các công trình ấy Trường hợp này hiếm xảy ra trong nền kinh tế thị trường, nhất là trong đấu thầu
− Cạnh tranh giữa những người cung ứng dịch vụ xây dựng với nhau (cạnh tranh giữa các nhà thầu - doanh nghiệp xây dựng) đó là cuộc cạnh tranh khốc liệt nhất, gay go nhất của cạnh tranh trên thị trường xây dựng
1.3 TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các tiêu chí như: năng lực tài chính, số lượng công trình trúng thầu, giá trị công trình trúng thầu; tỷ lệ thắng thầu trong các dự án; chỉ tiêu về lợi nhuận của doanh nghiệp; chỉ tiêu về chất lượng công trình; chỉ tiêu về kinh nghiệm, năng lực của nhà thầu Cụ thể:
1.3.1 Năng lực tài chính của doanh nghiệp:
Năng lực tài chính của doanh nghiệp thường được đánh giá qua các chỉ tiêu sau đây:
Trang 17∗ Khả năng thanh toán lãi vay
Lợi nhuận trước thuế +tiền lãi vay Khả năng thanh toán lãi vay =
Lãi tiền vay
Hệ số này phản ánh khả năng thanh toán tiễn lãi vay của doanh nghiệp Nếu
tỷ lệ này thấp sẽ làm giảm khả năng trả lãi và lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là một trong những tiêu chí để các ngân hàng xem xét khi cung ứng các khoản vay của doanh nghiệp
∗ Khả năng thanh toán hiện hành
Tài sản lưu động Khả năng thanh toán hiện hành =
Nợ ngắn hạn
∗ Khả năng thanh toán nhanh
Tài sản lưu động - Hàng hóa tồn kho Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
∗ Khả năng thanh toán tức thời
Tiền mặt Khả năng thanh toán tức thời =
Nợ ngắn hạn
∗ Lợi nhuận của doanh nghiệp Hệ số doanh lợi bao gồm:
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ lợi nhuận trên doanh thu =
Doanh thu
Lợi nhuận sau thuế
Tỷ lệ lợi nhuận trên vốn sản xuất kinh doanh = Vốn sản xuất kinh doanh
Hệ số này phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh và kết quả cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, hệ số này tỷ lệ thuận với hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
Trang 181.3.2 Số lượng công trình trúng thầu và giá trị công trình trúng thầu
Tiêu chí này phản ánh một cách khái quát kết quả, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong hoạt động đấu thầu, tình hình dự thầu, kết quả hoạt động đấu thầu nói riêng và kết quả kinh doanh nói chung của doanh nghiệp trong năm Số lượng công trình trúng thầu phản ánh khả năng và qui mô của doanh nghiệp trong cạnh tranh đấu thầu Giá trị trúng thầu hằng năm của doanh nghiệp là tổng giá trị của tất cả các công trình (kể cả gói thầu trong hạng mục công trình) mà doanh nghiệp đã trúng thầu trong năm Giá trị công trình trúng thầu trong năm phản ánh năng lực và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong năm Chỉ tiêu này càng lớn, chứng tỏ công tác đấu thầu của doanh nghiệp có hiệu quả và ngược lại
- Tỷ lệ trúng thầu trong các dự án
Tiêu chí này phản ánh năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp, nó được xác định dựa trên hai chỉ tiêu: theo số công trình và theo giá trị công trình trong năm Chỉ số này tỷ lệ thuận với năng lực cạnh tranh đấu thầu của doanh nghiệp Tỷ lệ này được tính như sau:
∗ Tính theo số công trình
Σ Ctt P1 =
Σ Cdt x 100%
Trong đó:
P1: Tỷ lệ trúng thầu theo số công trình doanh nghiệp dự thầu Ctt: Số công trình trúng thầu
Cdt: Số công trình doanh nghiệp dự thầu
∗ Tính theo giá trị công trình
Σ Gtt P2 =
Trang 19phẩm chính là chất lượng các công trình xây dựng, nó biểu hiện ở công năng sử dụng, độ an toàn, tuổi thọ, tính kinh tế, tính kỹ thuật và mỹ thuật của công trình
Với sự phát triển của khoa học - công nghệ hiện nay, cạnh tranh thông qua chất lượng các dự án là sự cạnh tranh hết sức gay gắt và không có giới hạn Nghiên cứu, ứng dụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật, nâng cao chất lượng các dự án là việc làm thường xuyên của doanh nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
1.3.4 Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp
Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp là một trong những yếu tố quyết định chất lượng của công trình, là yếu tố quan trọng, có tác động lớn đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong công tác đấu thầu Đây là yếu tố hàng đầu quyết định đến uy tín trên thương trường, tiến độ thực hiện dự án và năng lực thi công của doanh nghiệp Năng lực kỹ thuật của doanh nghiệp được xác định dựa trên một số tiêu chí sau:
− Khả năng đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của bên mời thầu;
− Tính hợp lý, tính tối ưu và tính khả thi của các giải pháp kỹ thuật;
− Khả năng đáp ứng các yêu cầu về an toàn lao động, vệ sinh môi trường;
− Khả năng đáp ứng của thiết bị thi công (số lượng, chủng loại, chất lượng, công nghệ, tiến độ huy động )
− Uy tín và kinh nghiệm của nhà thầu
Khi đánh giá các tiêu chí để lựa chọn nhà thầu, chủ dự án không chỉ căn cứ vào tiêu chuẩn kỹ thuật, giá công trình do doanh nghiệp đưa ra mà chủ đầu tư còn xem xét đến uy tín trên thương trường và kinh nghiệm của doanh nghiệp trong quá trình thực hiện các dự án tương tự trước đó Uy tín của nhà thầu được thể hiện qua các tiêu chí như: uy tín về thương hiệu, uy tín về năng lực thi công, uy tín về năng lực tài chính và đội ngũ cán bộ, công nhân viên lành nghề Đó là những yếu tố hết sức quan trọng tác động đến khả năng trúng thầu của doanh nghiệp, vì vậy, doanh nghiệp luôn xem việc xây dựng thương hiệu, uy tín trên thương trường là yếu tố hết sức quan trọng trong chiến lược phát triển của mình
1.3.5 Giá bỏ thầu
Giá bỏ thầu có tác động rất lớn đến thành công hay thất bại của doanh nghiệp trong quá trình tham gia đấu thầu Khi tham gia dự thầu, các doanh nghiệp mong muốn đưa ra một mức giá hợp lý, thấp hơn giá của đối thủ cạnh tranh nhằm lôi kéo
sự chú ý của chủ đầu tư, điều này làm cho việc cạnh tranh về giá giữa các doanh nghiệp diễn ra hết sức khốc liệt
Khác với các sản phẩm tiêu dùng thông thường, giá của công trình xây dựng được xác định trước khi có công trình và được xác định thông qua đấu thầu Giá
Trang 20công trình xây dựng được ghi trong hồ sơ dự thầu và được gọi là giá bỏ thầu Khả năng cạnh tranh về giá của nhà thầu có thể được xác định qua các tiêu chí sau:
Gi
KG =
GATrong đó:
KG: Là hệ số cạnh tranh về giá của nhà thầu GA: Là giá gói thầu
Gi: Là giá dự thầu của nhà thầu thứ i (i = 1 ÷ m) Trong thực tế, giá bỏ thầu còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như:
− Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội nơi thực hiện dự án, đó là: đường giao thông, điện, nước, khả năng khai thác vật tư tại chỗ, trình độ dân trí;
− Đặc điểm kinh tế, kỹ thuật của dự án,
− Tiến độ thực hiện dự án
Đối với những dự án xây dựng lớn, thời gian triển khai thường kéo dài, do
đó nảy sinh nhiều vấn đề như: trượt giá vật tư, chi phí quản lý cao, công trình chậm được đưa vào sử dụng ảnh hưởng đến tính hiệu quả của dự án Vì vậy, chủ đầu tư thường rất quan tâm đến tiến độ thực hiện dự án của doanh nghiệp và đây là một trong những tiêu chí để xem xét khả năng trúng thầu Tiến độ thực hiện dự án xây dựng thường được xem xét trên các khía cạnh:
− Khả năng đảm bảo tiến độ theo qui định đã cam kết;
− Tính hợp lý về tiến độ hoàn thành các hạng mục công trình liên quan;
− Khả năng rút ngắn tiến độ thi công
1.4 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG
NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN KHẢ NĂNG CẠNH TRANH TRONG ĐẤU THẦU XÂY DỰNG.
1.4.1 Những nhân tố nội lực của doanh nghiệp xây dựng
1.4.1.1 Tài chính
Hoạt động tài chính là một trong những nội dung cơ bản của hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp nhằm giải quyết các vấn đề kinh tế, kỹ thuật, công nghệ, lao động phát sinh trong quá trình kinh doanh dưới hình thức giá trị Hoạt động sản xuất - kinh doanh ảnh hưởng đến tình hình tài chính, ngược lại tình hình tài chính tốt hay xấu sẽ có tác động thúc đẩy hay cản trở quá trình sản xuất - kinh doanh
Trước hết khả năng tài chính của một doanh nghiệp được thể hiện ở qui mô
về nguồn vốn tự có, khả năng huy động các nguồn vốn phục vụ cho sản xuất - kinh doanh và hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đó Mặt khác, để đánh giá khả năng tài chính của một doanh nghiệp xây dựng, cần xem xét cơ cấu giữa vốn cố định và vốn lưu động
Trang 21Một doanh nghiệp xây dựng với khả năng tài chính cao, có thể tham gia đấu thầu nhiều công trình trong một năm, có nhiều cơ hội để đầu tư tăng thiêt bị, máy móc nhằm đáp ứng yêu cầu thi công và đòi hỏi của qui trình công nghệ hiện đại Đồng thời giữ luôn được uy tín đối với nhà cung cấp vật tư và các tổ chức tín dụng
Năng lực tài chính mang tác dụng tích cực đến quá trình đấu thầu Nó được xét trên hai phương diện:
− Với những công trình đã thắng thầu, năng lực tài chính mạnh giúp cho doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ thi công, đảm bảo công trình có kỹ thuật, chất lượng tốt, tiến độ thi công đảm bảo tạo uy tín và niềm tin cho chủ đầu tư
− Trong đấu thầu, khả năng tài chính là một trong những tiêu chuẩn để đánh giá nhà thầu Điều quan trọng hơn là một doanh nghiệp với khả năng tài chính mạnh, cho phép đưa ra quyết định giá bỏ thầu một cách sáng suốt và hợp lý hơn
Trong đấu thầu quốc tế, nếu xét trên phương tiện tài chính, các doanh nghiệp trong nước thường mất ưu thế so với các doanh nghiệp nước ngoài Vì vậy, các nhà thầu trong nước thường phải liên doanh với nhà thầu nước ngoài và kết cục nếu trúng thầu thường là những nhà thầu phụ
1.4.1.2 Máy móc, thiết bị, công nghệ thi công
Máy móc thiết bị là bộ phận chủ yếu và quan trọng nhất trong tài sản cố định của doanh nghiệp Nó là thước đo cho trình độ kỹ thuật là thể hiện năng lực sản xuất hiện có, là nhân tố quan trọng góp phần tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trong đấu thầu
Năng lực về máy móc thiết bị được chủ đầu tư đánh giá cao, bởi nó liên quan nhiều đến chất lượng và tiến độ thi công Để đánh giá về năng lực máy móc thiết bị
và công nghệ có thể dựa vào các đặc tính sau:
− Tính hiện đại của thiết bị, công nghệ: Biểu hiện ở các thông số như hãng sản xuất, năm sản xuất, công suất, giá trị còn lại của thiết bị
− Tính đồng bộ: Thiết bị đồng bộ là điều kiện để đảm bảo sự phù hợp giữa thiết bị, công nghệ với phương pháp sản xuất; giữa chất lượng, độ phức tạp của sản phẩm do công nghệ đó sản xuất ra
− Tính hiệu quả: Thể hiện trình độ sử dụng máy móc thiết bị của doanh nghiệp,
từ đó nó có tác dụng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh và khả năng huy động tối đa nguồn lực về máy móc thiết bị sẵn có phục vụ cho mục đích cạnh tranh của doanh nghiệp
− Tính đổi mới: là sự đáp ứng yêu cầu của hoạt động sản xuất kinh doanh và cũng là một trong những yếu tố tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp Trong sản xuất kinh doanh yếu tố này quyết định việc lựa chọn tính toán các giải pháp hợp lý trong tổ chức thi công Trong đấu thầu, năng lực máy móc thiết bị là
Trang 22một trong những tiêu chuẩn đánh giá của chủ đầu tư Một nhà thầu có năng lực máy móc thiết bị mạnh mẽ sẽ làm tăng khả năng cạnh tranh và đặc biệt là trong việc xây dựng giá bỏ thầu hợp lý
− Cán bộ quản trị cấp trung gian: Đội ngũ cấp chỉ huy trung gian đứng trên cấp quản trị viên cơ sở và dưới cấp quản trị cao cấp Với cương vị này, họ vừa quản trị các quản trị cấp cơ sở thuộc quyền, vừa đồng thời điều khiển các nhân viên khác ở cấp này các quản trị viên có chức năng thực hiện các kế hoạch và chính sách của tổ chức bằng cách phối hợp các công việc được thực hiện nhằm dẫn đến sự hoàn thành mục tiêu chung
Để đánh giá điểm mạnh, điểm yếu của đội ngũ cán bộ quản trị, chủ đầu tư thường tiếp cận trên các khía cạnh: một là, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm công tác, tác phong làm việc, sự am hiểu về kinh doanh và luật pháp của từng thành viên trong ê kíp quản lý và hai là, cơ cấu về các chuyên ngành đào tạo phân theo trình độ
sẽ cho biết khả năng chuyên môn hoá cũng như khả năng đa dạng hoá của doanh nghiệp
− Cán bộ quản trị cấp cơ sở, công nhân: Đây là đội ngũ các nhà quản trị ở cấp bậc cuối cùng trong hệ thống cấp bậc của các nhà quản trị của một doanh nghiệp Thông thường họ được gọi là đốc công, tổ trưởng, trưởng ca Nhiệm vụ của họ là hướng dẫn, đốc thúc, điều khiển công nhân trong các công việc cụ thể hàng ngày để đưa đến hoàn thành mục tiêu chung của cả doanh nghiệp Đội ngũ quản trị này lãnh đạo lực lượng lao động trực tiếp, tạo nên sức mạnh tổng hợp của doanh nghiệp trên các khía cạnh như chất lượng, tiến độ thi công công trình
Người phụ trách đơn vị phải có trình độ quản trị (tổ chức điều phối lao động
và thiết bị hợp lý, tránh lãng phí nhằm hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận nhưng đảm bảo chất lượng), am hiểu sâu về công việc mà đơn vị đang thực hiện, biết chăm lo
Trang 23quyền lợi người lao động, mới tạo ra được sự ủng hộ, lòng nhiệt thành từ phía người lao động, mới tạo ra được sự ủng hộ Tuy nhiên, lãnh đạo đơ vị giỏi cũng chưa đủ,
mà còn cần có đội ngũ lao động với trình độ tay nghề chuyên sâu, có khả năng sáng tạo, trung thực trong công việc Họ chính là những người trực tiếp thực hiện những
ý tưởng, chiến lược và chiến thuật kinh doanh của đội ngũ lãnh đạo cấp trên, những người tạo nên chất lượng công trình và sức cạnh tranh của doanh nghiệp
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng không giống như các doanh nghiệp công nghiệp là các doanh nghiệp này có thể đưa sản phẩm của mình
ra thị trường cho khách hàng chọn mua Ngược lại, họ cần phải dựa vào danh tiếng của mình để khiến cho khách hàng tìm đến và yêu cầu sản phẩm cần thiết Giữa các doanh nghiệp xây dựng có sự cạnh tranh trực tiếp đó là sự so sánh về danh tiếng
Danh tiếng thành tích của doanh nghiệp có tác dụng rất lớn đến khả năng trúng thầu dự án Do vậy, trước khi đấu thầu, làm tốt công tác quảng cáo sẽ tăng thêm mức độ tin cậy của chủ đầu tư đối với doanh nghiệp, từ đó nâng cao tỷ lệ trúng thầu
1.4.1.5 Khả năng liên doanh, liên kết
Liên doanh, liên kết là sự kết hợp hai hay nhiều pháp nhân kinh tế để tạo ra sức mạnh tổng hợp về năng lực kinh nghiệm, khả năng tài chính Đây là một trong những yếu tố đánh giá khả năng của doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xây dựng với những dự án có quy mô lớn, những yêu cầu đôi khi vượt khả năng của một doanh nghiệp đơn lẻ trong cạnh tranh đấu thầu
Để tăng năng lực của mình trên thị trường cạnh tranh, vấn đề mở rộng các quan hệ liên danh, liên kết dưới những hình thức thích hợp là giải pháp quan trọng
và phù hợp Thông qua đó, doanh nghiệp xây dựng có thể đáp ứng một cách toàn diện các yêu cầu của những công trình có quy mô lớn và mức độ phức tạp cao
Trang 24Liên danh, liên kết trong dự thầu xây dựng có nhiều hình thức Mỗi hình thức có sự thuận lợi, phù hợp riêng cho doanh nghiệp trong từng thời kỳ cụ thể Song các hình thức trên đều được dựa trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, cùng
có lợi
∗ Liên kết:
Liên kết có thể thực hiện theo chiều ngang tức là khả năng liên kết của doanh nghiệp với các doanh nghiệp cùng ngành để đảm nhận các dự án lớn; liên kết theo chiều dọc tức là liên kết của doanh nghiệp xây dựng với các doanh nghiệp sản xuất nguyên nhiên vật liệu hoặc trang thiết bị (nhờ đó làm giảm được giá thành xây dựng ở mức tối đa)
∗ Liên danh tham gia dự thầu:
Là hình thức các nhà thầu liên kết với nhau thành một nhà thầu để tham dự thầu Năng lực của nhà thầu này là năng lực tổng hợp của tất cả các nhà thầu độc lập Điều này sẽ tăng sức mạnh về tài chính, nhân lực, kỹ thuật đáp ứng yêu cầu của chủ đầu tư
Như vậy, việc mở rộng hình thức liên danh liên kết là một giải pháp quan trọng nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu của các doanh nghiệp xây dựng Liên kết kinh tế tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển chuyên môn hoá một cách có hiệu quả, khai thác được thế mạnh, khắc phục mặt yếu trong quá trình thực hiện dự án đầu tư
1.4.1.6 Trình độ tổ chức lập hồ sơ dự thầu
Khả năng cạnh tranh trong đấu thầu phụ thuộc trực tiếp vào trình độ lập hồ
sơ dự thầu Một nhà thầu có thể bị loại ngay từ vòng đầu do hồ sơ dự thầu không đảm bảo các yêu cầu của tổ chức mời thầu
Tổ chức lập hồ sơ dự thầu đòi hỏi phải qua các bước nghiên cứu hồ sơ mời thầu (công việc này đòi hỏi phải tỷ mỷ, nghiêm túc, hiểu rõ đầy đủ nội dung và yêu cầu của hồ sơ mời thầu); điều tra môi trường đấu thầu; điều tra môi trường đấu thầu; điều tra dự án đấu thầu; khảo sát hiện trường xây dựng công trình; lập phương án thi công; xây dựng giá dự thầu…
− Điều tra môi trường đấu thầu, đó là việc điều tra các điều kiện thi công, tự nhiên, kinh tế và xã hội của dự án, những điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp tới
Trang 25phương án thi công và cuối cùng là giá thành công trình Điều tra đặc điểm vị trí của hiện trường thi công như vị trí địa lý, điều kiện địa hình, địa chất, giao thông vận tải, thông tin liên lạc; điều kiện cung ứng vật tư nguyên nhiên vật liệu, giá cả, khả năng khai thác nguyên vật liệu tại chỗ; điều kiện cung cấp thầu phụ chuyên nghiệp và lao động phổ thông; khả năng cung cấp lương thực, thực phẩm Hàng loạt
số liệu, thông tin cần điều tra xác định trong một thời gian ngắn nói lên kết quả tiêu thụ phụ thuộc vào tổ chức, trình độ chuyên môn, phương tiện của đội ngũ cán bộ lập hồ sơ dự thầu
− Điều tra dự án đấu thầu đòi hỏi phải nắm được tính chất, quy mô, phạm vi đấu thầu; mức độ phức tạp về kỹ thuật của công trình; yêu cầu tiến độ, thời hạn hoàn thành hạng mục và hoàn thành tổng thể công trình; nguồn vốn; phương thức thanh toán; uy tín, năng lực công tác của tổ chức giám sát
− Lập phương án thi công công trình là khâu có ảnh hưởng quyết định đến giá
dự thầu
− Công tác xác định giá dự thầu là một khâu có nội dung phức tạp với những yêu cầu nghiêm ngặt phải tuân thủ, đây là một trong những yếu tố quyết định việc trúng thầu Công việc này đòi hỏi phải do một bộ phận chuyên nghiệp thực hiện với
sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng và kịp thời của các bộ phận chuyên môn khác
Tổ chức lập hồ sơ dự thầu là công việc hết sức phức tạp và yêu cầu thực hiện trong khoảng thời gian thường rất hạn chế Chất lượng hồ sơ dự thầu là một trong những tiêu chí cơ bản quyết định việc nhà thầu có trúng thầu hay không
1.4.2 Những nhân tố bên ngoài doanh nghiệp xây dựng
1.4.2.1 Cơ chế chính sách của Nhà nước
Cơ chế chính sách của Nhà nước có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của doanh nghiệp Tác động trực tiếp đến các vấn đề tín dụng, về chống độc quyền;
về thuế; các chế độ đãi ngộ, hỗ trợ; bảo vệ môi trường v.v Các tác động này có thể tạo ra cơ hội hoặc nguy cơ cho mỗi doanh nghiệp
Sự ổn định chính trị cũng là một nhân tố thuận lợi làm tăng khả năng cạnh tranh quốc gia nói chung và của doanh nghiệp nói riêng
Một trong những bộ phận của yếu tố chính trị ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là hệ thống luật pháp Mức độ ổn định của hành lang pháp
lý tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển Ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn khi phải đối diện liên tục với những thay đổi của pháp luật, làm suy yếu khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Trang 261.4.2.2 Chủ đầu tư
Chủ đầu tư là cơ quan chịu trách nhiệm toàn diện về các vấn đề liên quan đến dự án trước pháp luật Do vậy, chủ đầu tư có ảnh hưởng rất lớn tới các doanh nghiệp tham gia đấu thầu xây dựng công trình
Với chủ đầu tư có tinh thần trách nhiệm cao, trình độ chuyên môn nghiệp vụ tốt tạo nên việc cạnh tranh lành mạnh trong đấu thầu và từ đó chọn ra nhà thầu trúng thầu là thoả đáng, chính xác, ngược lại dễ tạo nên sự quan liêu trong đấu thầu
1.4.2.3 Cơ quan tư vấn
Công tác tư vấn gồm các khâu: Tư vấn thiết kế; tư cấn đấu thầu; tư vấn giám sát Các khâu này có thể do một hoặc nhiều tổ chức tư vấn thực hiện
− Tư vấn thiết kế là tổ chức tư vấn chịu trách nhiệm thiết kế, xác định giá trị
dự toán của công trình Khi hồ sơ thiết kế thiếu chính xác dẫn đến việc lập dự toán thiếu chính xác và từ đó dẫn đến khó khăn trong phê duyệt giá gói thầu công trình
− Tư vấn đấu thầu giúp chủ đầu tư làm công tác đấu thầu bao gồm các công việc: Chuẩn bị các tài liệu pháp lý, soạn thảo hồ sơ mời thầu, tiếp nhận và quản lý
hồ sơ dự thầu; giúp chủ đầu tư đánh giá so sánh và xếp hạng các hồ sơ dự thầu, tổng hợp tài liệu về quá trình đánh giá xet chọn nhà thầu và lập báo cáo xét thầu
Việc đánh giá hồ sơ dự thầu, đề xuất ý kiến chọn thầu ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thắng thầu của các doanh nghiệp xây dựng, đặc biệt khi các nhà thầu có khả năng trúng thầu tương đương Do đó, kinh nghiệm, trình độ và sự công tâm, khách quan của tư vấn có ảnh hưởng rất lớn tới việc trúng thầu của nhà thầu
− Tư vấn giám sát thi công: Thực hiện việc theo dõi kế hoạch tiến độ của đơn
vị nhận thầu; kiểm tra tiến độ thi công, chất lượng thi công; nghiệm thu công trình Đôn đốc đơn vị nhận thầu thực hiện toàn diện hợp đồng
Với chức năng, nhiệm vụ nặng nề như trên, cơ quan tư vấn luôn đi sát mọi hoạt động của nhà thầu trong quá trình thi công công trình Trong điều kiện còn nhiều kẽ hở, bất cập về chính sách quản lý xây dựng cơ bản như hiện nay càng làm tăng vai trò ảnh hưởng của cơ quan tư vấn đối với nhà thầu
1.4.2.4 Các đối thủ cạnh tranh
Các đối thủ cạnh tranh là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp nhất đối với khả năng trúng thầu của doanh nghiệp Số lượng cũng như khả năng cạnh tranh của các đối thủ cạnh tranh quyết định mức độ cạnh tranh trong các cuộc đấu thầu Để trúng thầu, nhà thầu phải vượt qua được tất cả các đối thủ tham gia dự thầu Tức là phải đảm bảo được năng lực vượt trội của mình trước các đối thủ cạnh tranh hiện tại với tất cả các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn Do vậy, sự hiểu biết đối thủ cạnh tranh có một
ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp Trong cạnh tranh các bên sẽ bộc lộ tính chất và mức độ tranh đua hoặc thủ thuật giành ưu thế trên thị trường
Trang 27Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào các yếu tố như số lượng các nhà thầu tham gia cạnh tranh, tốc độ tăng trưởng của ngành, sự đa dạng hoá của các đối thủ cạnh tranh, hàng rào cản trở sự xâm nhập của các đối thủ tiềm ẩn mới
Hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng trong nước phải cạnh tranh với các đối thủ mạnh là các công ty nước ngoài có trình độ phát triển cao Việc thu hút vốn đầu
tư trực tiếp từ nước ngoài nhằm mục tiêu tăng nguồn vốn, tranh thủ công nghệ tiên tiến, thâm nhập thị trường và kỹ năng quản lý Việc này, một mặt tạo ra sức phát triển mới cho các doanh nghiệp trong nước, mặt khác làm cho mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp càng thêm quyết liệt, phần yếu thế trước mặt thường nghiêng
về các doanh nghiệp trong nước, làm giảm cơ hội trúng thấu và giảm mức lợi nhuận của các doanh nghiệp trong nước
1.4.2.5 Các nhà cung cấp
Các nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn đến việc cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp Các tổ chức cung cấp vật tư, thiết bị có ưu thế có thể gây áp lực với các khách hàng để thu lợi nhuận bằng cách tăng giá, giảm chất lượng sản phẩm hoặc giảm mức độ dịch vụ đi kèm
Các yếu tố làm tăng thế mạnh của người bán - nhà cung cấp như trường hợp
số lượng người cung cấp ít; không có hàng thay thế khác và không có các nhà cung cấp nào chào bán các sản phẩm có tính khác biệt thì lúc này các doanh nghiệp mua hàng bị sức ép đáng kể từ nhà cung cấp làm ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh nếu không có phương án giải quyết tốt
Giữa các nhà cung cấp và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thương lượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng Khả năng thương lượng về giá
cả của các nhà cung cấp tuỳ thuộc vào mức lãi và chất lượng hàng hoá (hay dịch vụ)
mà họ dự định cung ứng cho doanh nghiệp
Nhà cung cấp có nhiều cách để tác động vào khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp như nâng giá, giảm chất lượng những loại vật tư kỹ thuật mà họ cung ứng, không đảm bảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu cầu của doanh nghiệp, hoặc gây ra sự khan hiếm giả tạo Các nhà cung cấp có thể gây áp lực mạnh khi có những điều kiện sau:
− Độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanh nghiệp;
− Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp;
− Loại vật tư cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng quyết định rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, hoặc đến chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Tuy nhiên, khi nhà cung cấp có nhiều điều kiện thuận lợi để gây áp lực với doanh nghiệp, thì các doanh nghiệp với quy mô lớn lại tìm cách để cải thiện vị trí
Trang 28của mình bằng cách tác động đến một hay nhiều yếu tố nói trên Doanh nghiệp có thể đe doạ hội nhập dọc bằng cách thâm nhập vào kinh doanh ngành hàng này như mua lại các cơ sở cung cấp hàng cho chính họv.v
Đối với thị trường xây dựng, danh tiếng, sự đảm bảo của nhà cung cấp có ảnh hưởng rất lớn đến chủ đầu tư do có sự liên quan trực tiếp đến chất lượng công trình Vì vậy, tạo được những mối quan hệ tốt với các nhà cung cấp có danh tiếng sẽ nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu nói riêng, tăng thế mạnh của doanh nghiệp nói chung
1.5 NHỮNG KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NHÀ THẦU XÂY DỰNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
NHỮNG KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ KHẢ NĂNG CẠNH TRANH CỦA CÁC NHÀ THẦU XÂY DỰNG NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM
Từ năm 1993 trở lại đây, nguồn vốn đầu tư nước ngoài cho các dự án xây dựng, đặc biệt là xây dựng cơ sở hạ tầng ở Việt Nam ngày càng tăng Trong đó, các nguồn vốn vay chủ yếu là từ các tổ chức tài trợ như WB, ADB, OECF cũng như từ các nước trong khu vực Việc triển khai thực hiện các dự án này thường áp dụng quy chế đấu thầu quốc tế với các quy định theo thông lệ chặt chẽ của các tổ chức cho vay Các nhà thầu quốc tế có tiềm lực mạnh, có khả năng cạnh tranh đã tham gia đấu thầu thi công những công trình này bao gồm các nhà thầu đến từ Châu Âu, Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Trung Quốc… Trong số đó, một số nhà thầu đã chiếm lĩnh và đứng vững tại thị trường xây dựng Việt Nam như: Taisei, Sumitomo của Nhật Bản; Huyndai Engineering, Samsung Engineering của Hàn Quốc, Technip của Pháp, BEC của HongKong; HIG Công ty cầu đường Thượng Hải, Trung Quốc…Một đặc thù trong đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí là quy mô dự án đấu thầu rất lớn, đòi hỏi về các giải pháp công nghệ, năng lực các nhà thầu phải mạnh, đáp ứng yêu cầu của dự án Vì thế việc tham gia đấu thầu của những nhà thầu nước ngoài không chỉ góp phần làm cho môi trường cạnh tranh giữa các nhà thầu ngày càng gay gắt và sôi động mà còn giúp cho các nhà thầu trong nước đúc rút ra được những bài học quý báu và học hỏi những kinh nghiệm, những điều hay, cái mới của
họ trong công tác đấu thầu cũng như thi công Và thực tế trong một số dự án lớn của ngành Dầu khí để thắng thầu các nhà thầu trong nước thường liên danh, liên kết với nhà thầu nước ngoài cùng bắt tay nhau tham gia thực hiện dự án: Dự án Nhà máy sản xuất hạt nhựa Polypropylene do liên danh các nhà thầu Hyundai Engineering (Hàn Quốc), Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) và Công ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí (PVE) làm tổng thầu, Dự án Nhà máy sản xuất Bio Ethanol Bình Phước được thực hiện bởi liên danh nhà thầu Toyo Thái Lan và Công
ty CP Tư vấn Đầu tư và Thiết kế Dầu khí (PVE), Dự án Nhà máy Điện Nhơn Trạch
do liên danh nhà thầu Siemen (Đức) và Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) làm tổng thầu…
Trang 29Hơn nữa, chúng ta thấy các nhà thầu xây dựng nước ngoài đã chiến thắng và thực hiện khá tốt, có hiệu quả nhiều gói thầu có giá trị lớn thuộc các lĩnh vực giao thông, thuỷ lợi, thủy điện, công nghiệp xây dựng Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam do năng lực về tài chính, kinh nghiệm chưa đủ mạnh để đáp ứng yêu cầu
là nhà thầu chính thực hiện các dự án đấu thầu quốc tế, do đó chủ yếu phải làm thầu phụ để từng bước nâng cao năng lực của mình
Qua xem xét quá trình các nhà thầu nước ngoài tham gia đấu thầu và thực hiện dự án xây dựng tại Việt Nam cho thấy một số bài học kinh nghiệm giúp cho các nhà thầu này thắng thầu và thắng thầu có hiệu quả trong môi trường cạnh tranh khá phức tạp ở thị trường xây dựng Việt Nam
1.5.1 Phân chia khu vực các nhà thầu trong cùng một quốc gia
Trong các gói thầu tổ chức đấu thầu quốc tế rộng rãi có sự tham gia của nhiều nhà thầu từ các quốc gia khác nhau Trong mỗi nước lại có rất nhiều nhà thầu cùng có mục tiêu thâm nhập thị trường xây dựng Việt Nam Tuỳ từng gói thầu thuộc địa bàn, lĩnh vực, nguồn vốn cụ thể mà các nhà thầu trong một quốc gia họp bàn và phân chia nhau để tham gia đấu thầu, đặc biệt là các nhà thầu Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung quốc Thực tế cho thấy, họ thực hiện việc phân chia này bằng hai hình thức chủ yếu: một là, nhà thầu chuẩn bị tham gia đấu thầu từng gói thầu cụ thể
và hai là, một số nhà thầu chuẩn bị tham gia với tư cách vệ tinh tạo thế cho các nhà thầu chính có khả năng, có điều kiện thắng thầu
ở Việt Nam, công việc này thuộc về vai trò điều tiết của Hiệp hội nhà thầu, nhưng thực tiễn điều đó chưa làm được, dẫn đến các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh quyết liệt, thậm chí nhiều nhà thầu bỏ giá thấp, không thực tế, gây hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng đến chất lượng công trình và sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp
1.5.2 Kinh nghiệm từng bước chiếm lĩnh thị trường
Đa số các nhà thầu có tiềm lực mạnh thường có chiến lược cạnh tranh, chiến lược đấu thầu dài hạn để đạt được mục tiêu chiếm lĩnh thị trường xây dựng Việt Nam Họ đặt kế hoạch cụ thể cho từng giai đoạn với các mục tiêu khác nhau Chẳng hạn, ở giai đoạn đầu, để đặt chân được vào thị trường họ chấp nhận giảm lợi nhuận, kéo dài thời gian khấu hao máy móc thiết bị, giảm số lượng cán bộ trong bộ máy quản lý… thậm chí có sự hỗ trợ của Công ty mẹ để thắng thầu Trong số này có thể thấy nhà thầu Taisei của Nhật Bản, trong khi thực hiện gói thầu xây dựng quốc lộ 5,
km 0-47; nhà thầu Kukdong của Hàn Quốc thực hiện gói thầu Hợp đồng 2 Hà Nội - Vinh Sau đó và hiện nay các nhà thầu này đã chiếm lĩnh thị trường xây dựng Việt Nam với rất nhiều gói thầu khác
Trang 301.5.3 Kinh nghiệm về lựa chọn nhà thầu phụ
Các nhà thầu nước ngoài tham gia đấu thầu xây dựng các công trình tại Việt Nam về cơ bản phải sử dụng các nhà thầu phụ của nước sở tại để tham gia xây dựng công trình theo quy định các hồ sơ thầu hoặc để giảm chi phí đấu thầu Việc lựa chọn được chính xác các nhà thầu phụ sẽ tạo điều kiện cho các nhà thầu chính tăng khả năng thắng thầu, đồng thời tăng khả năng thực hiện dự án sau thắng thầu một cách có hiệu quả Bởi vậy, các nhà thầu nước ngoài thường tìm hiểu rất kỹ các doanh nghiệp xây dựng Việt Nam về:
− Năng lực tài chính
− Kinh nghiệm thi công các công trình
− Uy tín thương hiệu
− Đội ngũ cán bộ, công nhân kỹ thuật
− Năng lực máy móc, thiết bị thi công…
Và đặc biệt là tìm hiểu kỹ về mục tiêu của nhà thầu phụ tại thời điểm đấu thầu Tại thời điểm đó, nếu nhà thầu phụ có quá nhiều công việc đang triển khai hoặc nghi ngại vì lực lượng sẽ bị dàn trải khi thực hiện dự án, tất nhiên họ sẽ không nhiệt tình với công việc mới và sẽ đưa ra giá thầu phụ cao hơn Ngược lại, nếu nhà thầu phụ đang đợi việc thì phải xem xét lại khả năng cạnh tranh của nhà thầu phụ,
uy tín của nhà thầu phụ trên thị trường…
Các nhà thầu Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc kiểm tra rất cụ thể tỉ mỉ các nhà thầu phụ Việt Nam khi tham gia liên danh đấu thầu bằng việc họ đánh giá năng lực nhà thầu trên rất nhiều khía cạnh: hồ sơ năng lực, hồ sơ tài chính, trực tiếp phỏng vấn nhân sự tham gia dự án của các nhà thầu phụ… Trong ngành Dầu khí những dự án lớn như Nhà máy Lọc dầu Dung Quất do nhà thầu Technip làm tổng thầu thì việc hợp tác với những nhà thầu phụ như Tổng công ty xây lắp Dầu khí (PVC), Công ty CP lắp máy Lilama, những công ty xây dựng khác sẽ được Technip đánh giá rất kỹ về năng lực và khả năng thực hiện dự án của các nhà thầu phụ trước khi ký kết Hợp đồng
Đối với các doanh nghiệp Việt Nam, trong điều kiện năng lực của bản thân mỗi doanh nghiệp không đủ mạnh thì việc lựa chọn nhà thầu phụ, nhà thầu liên danh trong đấu thầu cũng cần phải xem xét kỹ lưỡng để tăng khả năng thắng thầu cũng như thực hiện dự án sau thắng thầu
1.5.4 Kinh nghiệm quan hệ với chủ đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nước tại địa phương
"Nhập gia tuỳ tục" các nhà thầu nước ngoài thực hiện rất tốt công việc này Việc quan hệ tốt với chủ đầu tư ngoài việc gây thiện cảm, nhưng cái chủ yếu là nắm bắt thông tin nhanh hơn và xử lý thông tin tốt hơn Về nguyên tắc có quy định
Trang 31nghiêm ngặt trong quan hệ với chủ đầu tư, nhưng thực tế để thắng thầu cần bám sát các chủ thể trên để nắm chắc điều kiện tình hình, sự thay đổi về các nội dung hồ sơ thầu, các cuộc họp giữa chủ đầu tư với nhà thầu tham gia để có sự điều chỉnh phù hợp, đồng thời giải quyết các vướng mắc trong quá trình thực hiện dự án
Việc quan hệ tốt với các cơ quan quản lý chính quyền địa phương đặc biệt quan trọng trong việc giải quyết các thủ tục pháp lý có liên quan đến dự án, nhà thầu và nhất là công việc giải phóng mặt bằng và các công việc khác Các nhà thầu nước ngoài đều có sử dụng các nhân viên giỏi người bản xứ (các nhà tư vấn) để giúp họ thực hiện tốt chức năng này, hoặc là tận dụng nhà thầu phụ bản xứ
1.5.5 Kinh nghiệm về sử dụng và điều động thiết bị
Ngoài thiết bị thi công do các nhà thầu phụ cung cấp và tự thực hiện, các nhà thầu nước ngoài cũng cần sử dụng, điều động một số thiết bị của mình để thực hiện
dự án Việc tính toán được thực hiện ngày từ khi lập hồ sơ dự thầu Các thiết bị đang dùng ở cá dự án khác được tính toán tiến độ rất kỹ để vận dụng nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị, đồng thời giảm chi phí đấu thầu
Việc này đã tạo điều kiện cho Kukdong thắng thầu và thực hiện tốt hợp đồng sau khi thắng thầu
Nhà thầu Huyndai Engineering trúng thầu Dự án Nhà máy Polypropylene Dung Quất một phần nhờ việc sử dụng những vật tư thiết bị chính được điều động
từ Hàn Quốc nhằm đảm bảo chất lượng cao của công trình
1.5.6 Kinh nghiệm vận dụng sự hỗ trợ và bảo đảm của Nhà nước
Yếu tố này rất quan trọng thể hiện trên 2 mặt:
− Bảo đảm của Nhà nước về uy tín của nhà thầu
− Sự hỗ trợ của Nhà nước về tài chính, cơ chế chính sách hỗ trợ nhằm tăng khả năng thắng thầu của nhà thầu, tạo điều kiện cho nhà thầu tích luỹ kinh nghiệm và bổ sung năng lực tài chính…
Các nhà thầu Trung Quốc luôn nhận được sự hỗ trợ của Nhà nước và chính quyền địa phương khi tham gia các công việc xây dựng ở Việt Nam… Chẳng hạn, nhà thầu HISD khi tham gia đấu thầu dự án sân vận động quốc gia Mỹ Đình; nhà thầu SFEECO (Thượng Hải) tham gia dự án Trung tâm Hội nghị Quốc gia Một số nhà thầu của Nga, Ucraina trong khi tham gia các dự án thuỷ điện ở Việt Nam, thậm chí khi trượt thầu còn có sự can thiệp của Chính phủ hoặc Đại sứ quán các nước này tại Việt Nam…
Trong điều kiện năng lực của các nhà thầu Việt Nam hiện nay còn yếu thì sự
hỗ trợ của Nhà nước là rất quan trọng Thực ra chúng ta chưa quan tâm đầy đủ đến vấn đề này Hiện tại, Nhà nước mới hỗ trợ bằng cách thực hiện chỉ định thầu đối với một số công trình giao thông, thuỷ điện lớn hoặc thực hiện các hình thức đầu tư xây
Trang 32dựng theo hình thức EPC, BT, BOT… còn sự hỗ trợ tài chính cho các nhà thầu Việt Nam cũng cần phải được xem xét để tạo thế cho các doanh nghiệp
1.5.7 Kinh nghiệm về sử dụng công cụ luật pháp
Đây là một bài học kinh nghiệm rất quan trọng, nhất là trong điều kiện hệ thống pháp luật về xây dựng, các quy chế, chế tài về đấu thầu, quản lý dự án ở Việt Nam còn nhiều bất cập, các dự án đầu tư vừa thiết kế, vừa thi công, hồ sơ đấu thầu chưa hoàn chỉnh, thường có phát sinh lớn… Các nhà thầu nước ngoài rất có kinh nghiệm trong lĩnh vực này nên đã tận dụng tối đa để tạo lợi thế cho mình, chẳng hạn:
− Tất cả các thay đổi về hồ sơ, thiết kế phát sinh đều được cập nhật đầy đủ;
− Các sai sót của chủ đầu tư về hồ sơ, điều hành đều có biên bản chặt chẽ;
− Các chậm trễ do giải phóng mặt bằng gây thiệt hại chờ đợi của lao động, thiết bị thi công của bên nhà thầu đều được lập thành hồ sơ có xác nhận của chủ đầu
tư, giám sát thi công…
1.5.8 Kinh nghiệm về lập hồ sơ giải ngân và thanh toán
Việc quay vòng vốn có hiệu quả rõ ràng, giải ngân nhanh khối lượng công việc đã thực hiện tạo điều kiện giảm lãi suất vay và thúc đẩy tiến độ thi công Các nhà thầu nước ngoài đặc biệt quan tâm thực hiện chặt chẽ việc lập hồ sơ thanh toán,
để đảm bảo tiến độ giải ngân kịp thời Các doanh nghiệp Việt Nam rất chậm trễ trong khi thực hiện các nội dung này Chi phí lãi vay thường chiếm tỷ trọng lớn trong khi tiền của dự án (hay gói thầu) do chính mình thực hiện lại không giải ngân được…
KẾT LUẬN CHƯƠNG I:
Những cơ sở lý luận về cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng, những yếu tố ảnh hưởng và mang tính quyết định đến khả năng cạnh tranh trong đấu thầu cùng với một vài kinh nghiệm thực tiễn của một số nhà thầu nước ngoài đã phần nào khái quát được bức tranh tổng thể về hoạt động đấu thầu xây dựng và tính cạnh tranh trong lĩnh vực này Từ đó chúng ta thấy rằng một trong những yếu tố đạt được hiệu quả của công tác đấu thầu là phải bảo đảm được quy luật cạnh tranh theo cơ chế thị trường Trong hoạt động đấu thầu nói chung và công tác đấu thầu xây dựng của Việt Nam nói riêng, mục tiêu cạnh tranh đang ngày càng được tăng cường Có cạnh tranh thì mới có động lực để sáng tạo, cải tiến, kích thích người mua (bên mời thầu) đưa ra các yêu cầu phù hợp (thể hiện trong HSMT) và người bán (nhà thầu) cạnh tranh với nhau để giành được hợp đồng (bán được hàng) với giá bán cạnh tranh song vẫn bảo đảm chất lượng của hàng hoá, công trình, dịch vụ Một nguyên tắc cơ bản để bảo đảm được cạnh tranh trong đấu thầu đó là việc tạo ra sự ”mâu thuẫn lợi ích” hay ”xung đột
Trang 33lợi ích” Xung đột lợi ích trong đấu thầu có thể hiểu một cách nôm na rằng Chủ đầu
tư (bên mời thầu) luôn mong muốn ”nhanh, bền, tốt, rẻ” trong khi đó, nhà thầu thì luôn muốn "làm ít, hưởng nhiều” và có nhiều hợp đồng Tuy vậy, do hoạt động đấu thầu là việc chi dùng tiền nhà nước nên việc mong muốn của các chủ thể tuy là chính đáng song không thể tuỳ tiện mà cần theo quy định Như vậy, khi có sự xung đột lợi ích giữa các bên sẽ tạo ra động lực cạnh tranh giữa CĐT, BMT và các nhà thầu để đạt được sự cân bằng về lợi ích thì cuộc đấu thầu sẽ diễn ra và hàng hoá, dịch vụ, công trình được cung cấp sẽ bảo đảm về chất lượng Bên cạnh đó, giữa các nhà thầu cũng phải có sự cạnh tranh để giành lấy được hợp đồng và đó sẽ là điều kiện để kích thích các nhà thầu phát huy sáng tạo, cải tiến biện pháp thi công, cải tiến công nghệ
Trang 34CHƯƠNG 2
CHƯƠNG 2 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DẦU KHÍ - ĐIỂN HÌNH TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ
THIẾT KẾ DẦU KHÍ
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH ĐẤU THẦU XÂY DỰNG CỦA CÁC CÔNG TY NGÀNH DẦU KHÍ - ĐIỂN HÌNH TẠI CÔNG TY CP TƯ VẤN ĐẦU TƯ VÀ
2.1.1 Hoạt động đấu thầu trong lĩnh vực xây dựng của ngành Dầu khí
2.1.1.1.Khái quát chung
Đặc thù của ngành dầu khí là cần có quy định riêng của pháp luật liên quan đến đấu thầu gói thầu thực hiện hợp đồng dầu khí Hoạt động dầu khí có nhu cầu đầu tư lớn, có thể mang lại lợi nhuận cao nhưng thường có độ rủi ro lớn Vì vậy, nhà thầu Dầu khí phải áp dụng các công nghệ hiện đại, tiên tiến để nâng cao hiệu quả đầu tư và phải tận dụng tối đa các cơ hội, trong đó việc rút ngắn thời gian để hoàn chỉnh các thủ tục đầu tư, mua sắm thiết bị là yếu tố quan trọng trong hoạt động xây lắp Trong các hợp đồng Dầu khí đều có các điều khoản quy định cụ thể về phân cấp phê duyệt các gói thầu và thủ tục, trình tự mua sắm thiết bị phục vụ hoạt động xây dựng Dầu khí Ở nước ngoài, các Nhà điều hành chủ yếu dựa vào các quy định trong hợp đồng Dầu khí để thực hiện các hoạt động đấu thầu triển khai hợp đồng Dầu khí Trong khi đó, nhiều quy định theo quy định pháp luật đấu thầu hiện nay của Việt Nam chưa phù hợp với những đặc điểm của hoạt động Dầu khí dẫn đến nhiều bất cập trong quá trình thực hiện hợp đồng dầu khí, làm chậm tiến độ triển khai các hợp đồng xây lắp kéo theo việc phát sinh về kinh phí
Tuy nhiên, hoạt động đấu thầu xây dựng ngành Dầu khí thì vẫn rất sôi động
và phổ biến trên nhiều dự án trọng điểm của ngành và quốc gia Cụ thể tính đến nay trong công tác đấu thầu và ký kết Hợp đồng xây dựng, các Công ty xây dựng ngành Dầu khí trực thuộc Tổng Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) đã tham gia dự thầu các gói thầu với Tổng giá trị là 19.500 tỷ đồng, trong đó giá trị của các gói thầu trong ngành chiếm khoảng 90% và tỷ lệ trúng thầu đạt 95% trong đó có nhiều dự án trọng điểm của quốc gia, nhiều dự án được thực hiện dưới hình thức EPC như: Nhà máy Lọc dầu Dung Quất; Kho xăng dầu Cù lao Tào, Kho LPG Hải Phòng; Kho chứa LPG Gò Dầu; Tổng kho xăng dầu Nhà Bè giai đoạn 2, Nhà máy hạt nhựa Polypropylene; Khu liên hợp lọc hóa dầu Nghi Sơn; Nhà máy điện Nhơn Trạch 2; Nhà máy nhiệt điện Vũng Áng 1; Nhà máy sản xuất xơ sợi Polyester Đình Vũ; Nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học Ethanol Phú Thọ; Nhà máy nhiệt điện
Trang 35Thái Bình 2; Đường ống dẫn khí lô B - Ô Môn… chi tiết được thể hiện trong bảng sau:
(Triệu đồng)
6 Dự án Trung tâm thương mại tài chính dầu khí Phú Mỹ Hưng 570.000
7 Nhiệt điện Thái Bình 2 - san lấp mặt bằng, đường vào dự án 383.309
11 Nhà máy sản xuất cồn và nhiên liệu sinh học phía Bắc 1.171.705
[Nguồn: Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam]
Bảng 2.1: Một số Dự án xây lắp Dầu khí được triển khai trong thời gian qua 2.1.1.2.Các hình thức đấu thầu xây dựng phổ biến trong ngành Dầu khí
Hoạt động đấu thầu xây dựng trong ngành Dầu khí vẫn được thực hiện dưới những hình thức sau:
∗ Đấu thầu rộng rãi:
Hình thức này không được phổ biến trong công tác đấu thầu xây lắp mà chủ yếu được sử dụng trong những gói thầu mua sắm vật tư thiết bị phục vụ cho hoạt động của ngành Vì đặc thù của hoạt động xây dựng Dầu khí là xây dựng các công trình công nghiệp và không phải nhà thầu xây dựng nào cũng có khả năng thi công được
Theo quy định của luật đấu thầu hiện hành, việc đấu thầu xây lắp hoặc từng gói thầu của các dự án đầu tư xây dựng được chia làm 2 giai đoạn Giai đoạn 1 là sơ tuyển về năng lực và kinh nghiệm, giai đoạn 2 là đấu thầu thương mại và giá
Với phương thức lựa chọn này, nhiều doanh nghiệp khẳng định: hầu hết các nhà thầu đều vượt qua giai đoạn 1 vì thực tế các nhà thầu (kể cả nhà thầu không đủ năng lực) có thể thuê các nhà tư vấn có kinh nghiệm làm bài Như vậy, thực chất việc lựa chọn nhà thầu sẽ bị trải rộng và gặp khó khăn trong công tác chọn lựa nhà thầu tốt nhất Hơn nữa việc đánh giá và xem xét năng lực tài chính, khả năng thi
Trang 36công của nhà thầu cũng sẽ gặp khó khăn hơn Vì thế, hình thức đấu thầu này không được sử dụng phổ biến đối với hoạt động xây lắp của ngành
∗ Đấu thầu hạn chế:
Với đặc thù của hoạt động xây lắp Dầu khí vừa được phân tích ở trên thì việc lựa chọn nhà thầu theo hình thức đấu thầu hạn chế là khá phổ biến trong thực tế đấu thầu xây lắp Dầu khí Với hình thức này PVN dễ dàng hơn trong việc đánh giá, xem xét khả năng của nhà thầu vì PVN am hiểu và biết khá rõ về năng lực của các nhà thầu xây dựng trong ngành Khi có dự án hoặc gói thầu xây dựng họ chỉ cần gửi Hồ
sơ mời thầu đến những đơn vị chuyên trách mà họ đã có những nhận định và xem xét sơ bộ phù hợp với công việc cụ thể của từng dự án, gói thầu đang đấu thầu Và như thế, việc chấm thầu và lựa chọn nhà thầu cũng đỡ phức tạp hơn và tiết kiệm được thời gian lựa chọn được nhà thầu có đủ năng lực
∗ Chỉ định thầu:
Được áp dụng trong một số dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an toàn năng lượng theo chỉ thị số 229/TTg-KTN của Thủ tướng đã ký ngày 16/2/2009 Theo đó vì tính chất quan trọng của một số dự án trong ngành Dầu khí nên hình thức này được áp dụng khá phổ biến Hơn nữa hạn mức áp dụng hình thức chỉ định thầu được nâng lên theo Nghị định 85/2009/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 1/12/2009) cũng là một trong những tiêu chí cho ta thấy rằng một số gói thầu về tư vấn, thiết kế, lập dự án đầu tư một số công trình trong ngành Dầu khí đều áp dụng hình thức chỉ định thầu
2.1.1.3.Thực tiễn áp dụng hình thức chỉ định thầu – hình thức đấu thầu phổ biến trong hoạt động đấu thầu ngành Dầu khí
a) Đặc điểm và thực tế áp dụng hình thức chỉ định thầu
Chỉ định thầu là một trong những giải pháp để góp phần thực hiện chủ trương kích cầu của Chính phủ Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải được triển khai sớm, thúc đẩy tiến độ thực hiện dự án đầu tư Tuy nhiên, thực hiện chỉ định thầu trong điều kiện vẫn đảm bảo sử dụng hiệu quả nguồn vốn, tránh thất thoát là vấn đề không dễ giải quyết Báo cáo của Cục Quản lý đấu thầu cho thấy, năm 2009, tỷ lệ gói thầu áp dụng chỉ định thầu chiếm vị trí áp đảo Trong tổng số 80.202 gói thầu được thực hiện, chỉ định thầu chiếm 67,13%, sử dụng 192.825,93 tỷ đồng (chiếm 49,57% tổng giá trúng thầu), nhưng chỉ mang lại tỷ lệ tiết kiệm 2,07% (mức tiết kiệm bình quân là 5,87%) Tỷ lệ tiết kiệm này thấp hơn rất nhiều so với đấu thầu rộng rãi, chào hàng cạnh tranh, hay đấu thầu hạn chế
Nghị định 85/2009/NĐ-CP có hiệu lực (ngày 1/12/2009), tỷ lệ các gói thầu được áp dụng hình thức chỉ định thầu càng lớn Nguyên nhân là, theo quy định tại
Trang 37nghị định này, ngưỡng chỉ định thầu đã được nâng lên gấp 5 - 6 lần so với quy định tại Nghị định 58/2008/NĐ-CP hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu Cụ thể, 5 tỷ đồng
là hạn mức chỉ định thầu đối với các gói thầu xây lắp, gấp 5 lần so với trước khi Nghị định 85/2009/NĐ-CP có hiệu lực Các con số tương ứng đối với gói thầu tư vấn là 3 tỷ đồng (gấp 6 lần so với con số 500 triệu đồng theo quy định tại Nghị định 58/2008/NĐ-CP) và với gói thầu mua sắm hàng hóa là 2 tỷ đồng
Trên thực tế, tình trạng chỉ định thầu trong những năm gần đây có xu hướng tăng lên Năm 2009, khi thực hiện chương trình kích cầu đầu tư, một số gói thầu đã được cho phép áp dụng chỉ định thầu để đẩy nhanh tiến độ, nên tỷ lệ chỉ định thầu tăng đáng kể Các đơn xin áp dụng chỉ định thầu liên tiếp được gửi về các cơ quan quản lý nhà nước Thậm chí, theo báo cáo của Cục Quản lý đấu thầu (Bộ Kế hoạch
và Đầu tư), còn xuất hiện tình trạng chủ đầu tư cố tình kéo dài thời gian chuẩn bị phê duyệt dự án, để đề nghị cho áp dụng hình thức chỉ định thầu
Trong ngành Dầu khí, hình thức chỉ định thầu là hình thức đấu thầu khá phổ biến, nhất là trong lĩnh vực tư vấn, thiết kế, lập dự án đầu tư vì giá trị của những gói thầu này thường nhỏ nằm trong ngưỡng giá trị được áp dụng hình thức Chỉ định thầu theo Nghị định 85/2009/NĐ-CP có hiệu lực ngày 1/12/2009 Hơn nữa, theo thông tư số 229/TTg-KTN của Thủ tướng Chính phủ về việc cho phép áp dụng hình thức Chỉ định thầu đối với những dự án cấp bách vì lợi ích quốc gia, an ninh an toàn năng lượng Và rất nhiều dự án của ngành Dầu khí được triển khai nằm trong danh mục dự án này
b) Ưu nhược điểm của hình thức chỉ định thầu xây dựng ngành Dầu khí
∗ Ưu điểm:
− Về mặt kinh tế:
Thời gian thi công rút ngắn, giảm rủi ro về biến đổi giá nguyên vật liệu Giảm chi phí đấu thầu, và các chi phí liên quan đến đấu thầu: Không cần thành lập tổ chuyên gia đấu thầu: Chỉ cần một vài thành viên có kinh nghiệm đánh giá năng lực nhà thầu, xem xét chi phí hợp lý…
Các chi phí rủi ro trong thi công được giảm xuống
− Về mặt xã hội:
Công trình sớm đưa vào hoạt đông tạo điều kiện đi lại, sinh hoạt cho người dân
Đem lại lượng tích lũy của cải cho xã hội
Khi dự án đi vào hoạt động sớm thì sớm đem lại doanh thu, hưởng các loại
ưu đãi của nhà nước, giảm chi phí trong đấu thầu: Đánh giá lại hiệu quả tài chính, Dòng tiền trả lãi vay, hoàn trả vốn gốc được rút ngắn lại, thời gian hoàn vốn sớm
Trang 38hơn Bên cạnh các yếu tố đó là đem lại hiệu quả kinh tế xã hội: Tác động Môi trường sống xung quanh
∗ Nhược điểm:
Dễ dẫn đến tình trạng chia nhỏ các gói thầu để tổ chức đấu thầu hạn chế và chỉ định thầu, tạo điều kiện cho nhà thầu liên kết, móc ngoặc dưới dạng “quân xanh, quân đỏ”, đã làm giảm tính cạnh tranh và hiệu quả của công tác đấu thầu
Nếu tất cả các cấp huyện, xã đều được chỉ định thầu, mà chủ đầu tư không có
đủ năng lực, trình độ quản lý, thì vốn nhà nước có thể bị thất thoát, lãng phí
Chỉ định thầu được thực hiện đúng chuẩn mực, thì kết quả sẽ không tệ,
nhưng nếu chỉ định thầu “cộng hưởng” với các quy định khá thông thoáng của
Nghị định 12/2009/NĐ-CP về quản lý dự án đầu tư xây dựng công trình (chủ đầu tư được phép tự điều chỉnh đơn giá, suất đầu tư ) thì lại rất nguy hiểm
Việc lựa chọn nhà thầu thông qua hình thức chỉ định thầu mang lại hiệu quả kinh tế không cao, trong khi tỷ lệ tiết kiệm luôn ở mức thấp: nếu như việc thực hiện đấu thầu rộng rãi trước đây có thể giúp giảm bình quân 5 - 6% giá gói thầu, thì với chỉ định thầu hiện nay, tỷ lệ này có khi chỉ đạt 1%
Với điều kiện là gói thầu “cấp bách”, thực tế cho thấy nhiều dự án, dù có kế hoạch từ rất sớm, nhưng lại bị cố ý kéo dài, dẫn đến thời gian triển khai còn ít và trở nên cấp bách một cách “cưỡng bức” Như vậy, mọi dự án cũng đều có cơ hội “lọt vào” diện được chỉ định thầu theo tiêu chí “dự án cấp bách” và như thế hiệu quả của
việc chỉ định thầu là không cao và dễ dẫn đến tình trạng trục lợi của một số người
2.1.2 Tổng quan về năng lực cạnh tranh của các Công ty xây dựng ngành Dầu khí trong thời gian gần đây
2.1.2.1 Những đánh giá chung
Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của các Công ty xây dựng Dầu khí được đánh giá qua năng lực của Tổng Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC) là đơn vị chuyên ngành trong lĩnh vực xây lắp của ngành Dầu khí hoạt động theo mô hình Công ty mẹ - Công ty con với hơn 40 đơn vị thành viên là các Công ty hoạt động trong lĩnh vực xây dựng
Với kinh nghiệm hoạt động 27 năm trong ngành, PVC là đơn vị hoạt động xây lắp lâu năm nhất và lớn nhất trong ngành dầu khí Việt Nam Hầu hết các công trình dầu khí lớn mà PVN triển khai xây dựng đều có PVC tham gia Với tốc độ phát triển mỏ mới, quy hoạch đầu tư trong và ngoài nước của PVN, chi tiêu hàng năm cho hoạt động xây lắp vào khoảng 16.000 – 20.000 tỉ đồng thì PVC sẽ ngày càng có cơ hội mở rộng hoạt động kinh doanh, gia tăng doanh thu, lợi nhuận trong thời gian tới Trong thời gian từ 2005-2009, tốc độ tăng trưởng doanh thu bình quân
Trang 39của PVC đạt 152%/năm, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận đạt 277%/năm Tốc độ tăng trưởng của PVC vào loại nhanh nhất trong ngành xây lắp của Việt Nam trong thời gian vừa qua Trong thời gian tới với việc mở rộng hoạt động tổng thầu EPC các dự
án nhà máy nhiệt điện, thủy điện, sản xuất công nghiệp và xây lắp nhà máy lọc dầu, tốc độ tăng trưởng của PVC sẽ tiếp tục tăng mạnh với tốc độ lên tới trên 30%/năm tới năm 2015
2.1.2.2.Khái quát năng lực cạnh tranh của các Công ty xây dựng Dầu khí thông qua lĩnh vực hoạt động của Tổng Công ty CP Xây lắp Dầu khí Việt Nam (PVC)
a) Lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh
∗ Hoạt động xây lắp
Hoạt động xây lắp của các Công ty xây dựng Dầu khí thuộc PVC thường xuyên đóng góp trên 90% trong tổng cơ cấu doanh thu của toàn thể các đơn vị xây lắp trong ngành Trong đó chủ yếu tập trung vào doanh thu xây lắp trong nội bộ Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Hiện nay, Tổng Công ty PVC có hàng loạt dự án đang triển khai hoạt động xây lắp mà chủ yếu đến từ các đơn vị trong Tập đoàn Dầu khí Quốc gia Việt Nam
Cơ cấu doanh thu xây lắp đến từ trong ngành vào khoảng 80% trong tổng cơ cấu doanh thu xây lắp Doanh thu xây lắp chuyên ngành dầu khí chiếm 34% tổng doanh thu xây lắp, xây lắp công nghiệp chiếm 20% còn lại là xây lắp dân dụng chiếm 46% Cơ cấu doanh thu từ hoạt động xây lắp sẽ dần thay đổi khi hoạt động xây lắp các công trình dầu khí PVC sẽ dần trở thành nhà thầu thi công chính, tổng thầu EPC cho các dự án
Trong giai đoạn 2010-2015, Tổng Công ty PVC sẽ thay đổi cơ cấu doanh thu rất nhanh Tới năm 2015, doanh thu hoạt động xây lắp công trình Dầu khí trên biển chiếm 15% tổng cơ cấu doanh thu, tương đương với doanh thu khoảng gần 5.250 tỉ đồng Doanh thu từ hoạt động xây lắp nhà máy lọc dầu & các nhà máy công nghiệp dầu khí chiếm 20% tổng doanh thu xây lắp, tương đương với doanh thu khoảng 7.000 tỉ đồng Doanh thu từ hoạt động xây dựng hệ thống tàng trữ, vận chuyển sản phẩm dầu khí chiếm khoảng 10% tổng doanh thu tương đương với 3.500 tỉ đồng Điều này được thể hiện qua biểu đồ sau:
Trang 40[Nguồn: Tổng Công ty Xây lắp Dầu khí Việt Nam]
Biểu đồ 2.1: Doanh thu hoạt động Xây lắp Dầu khí của Tổng Công ty PVC
b) Lĩnh vực sản xuất công nghiệp – cơ khí chế tạo:
Hiện nay hoạt động sản xuất công nghiệp mới chiếm 1,5% trong tổng cơ cấu doanh thu của Tổng Công ty PVC Tuy nhiên với việc mở rộng hoạt động cơ khí chế tạo, sản xuất ống dẫn dầu, ống thép công nghiệp, sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng… thì tỷ trọng lĩnh vực sản xuất công nghiệp sẽ ngày càng tăng mạnh trong tổng cơ cấu doanh thu của Tổng Công ty PVC trong tương lai và dự kiến chiếm 30% trong tổng doanh thu của Tổng Công ty vào năm 2015 Sự chuyển dịch cơ cấu doanh thu đến chủ yếu từ việc PVN đưa vào khai thác các mỏ dầu, mỏ khí mới trong kế hoạch phát triển mỏ giai đoạn 2010-2015 trong đó giai đoạn này sẽ phát triển thêm 14 mỏ mới Trong thời gian vừa qua, hệ thống đường ống của Việt Nam