1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nghiên cứu tác động quy mô hội đồng quản trị đến giá trị trị doanh nghiệp

67 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo quan điểm phổ biến, quản trị doanh nghiệp trở thành công cụ bù đắp tổn thất tiềm tàng do xung đột lợi ích giữa thành viên góp vốn và các nhà quản lý.. Sự ảnh hưởng của Hội đồng quản

Trang 1

NGUYỄN THÙY VÂN

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG QUY MÔ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN

GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

LUẬ N VĂ N THẠ C SỸ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH



NGUYỄN THÙY VÂN

NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG QUY MÔ HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ ĐẾN

GIÁ TRỊ DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: Tài chính – ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2014

Trang 3

Tôi xin cam đoan công trình nghiên cứu này là của bản thân, các số liệu và nội dung trong nghiên cứu này là trung thực Kết quả của nghiên cứu chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào

Tác giả

Nguyễn Thùy Vân

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG BÌA PHỤ

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

TÓM TẮT 1

1 TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU 2

1.1 Lý do thực hiện đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Kết cấu đề tài 4

2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 5

2.1 Hội đồng quản trị tác động đến giá trị doanh nghiệp 5

2.1.1 Lý thuyết chi phí đại diện 5

2.1.2 Lý thuyết quản trị 9

2.1.3 Quan điểm phụ thuộc nguồn lực 10

2.1.4 Quan điểm các bên liên quan 11

2.2 Quy mô Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp 14

2.2.1 Ảnh hưởng tích cực đến giá trị doanh nghiệp: 14

2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp: 14

2.2.3 Ảnh hưởng không đáng kể lên giá trị doanh nghiệp: 15

2.3 Thành viên Hội đồng quản trị nội bộ và độc lập 16

Trang 5

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 24

3.1 Dữ liệu mẫu 24

3.2 Mô hình nghiên cứu chung: 24

3.3 Đo lường các biến trong mô hình 26

3.4 Phương pháp phân tích 28

3.4.1 Lập bảng thống kê các biến trong mô hình 28

3.4.2 Lựa chọn mô hình phù hợp 28

3.4.3 Thay đổi cách đo lường giá trị công ty 34

3.4.4 Phân tích đặc điểm của Hội đồng quản trị 35

3.4.5 Phân tích khác biệt đặc điểm của Hội đồng quản trị 36

4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 38

4.1 Phân tích thống kê mô tả 38

4.2 Phân tích mối quan hệ quy mô Hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp 40 4.3 Phân tích đặc điểm của Hội đồng quản trị 47

4.4 Phân tích sự khác biệt đặc điểm của Hội đồng quản trị 52

5 KẾT LUẬN 57

TÀI LIỆU THAM KHẢO 58

Trang 6

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1: Tóm tắt bốn nhóm lý thuyết 13Bảng 2.2: Các nghiên cứu trước đây Mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị

và giá trị công ty 16Bảng 4.1: Mô tả biến phân tích 38Bảng 4.2: Ma trận tương quan giữa quy mô Hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp 39Bảng 4.3: Quy mô Hội đồng quản trị tác động đến ROA – Lựa chọn mô hình 42Bảng 4.4: Quy mô Hội đồng quản trị tác động đến ROA – Mô hình OLS tốt nhất 43Bảng 4.5: Quy mô Hội đồng quản trị tác động đến ROA – Sử dụng biến công cụ (IV) 48Bảng 4.6: Quy mô Hội đồng quản trị tác động đến ROA – Sử dụng hồi quy GMM 49Bảng 4.7: Hai thước đo khác đo lường giá trị công ty 50Bảng 4.8: Thành viên Hội đồng quản trị nội bộ và độc lập tác động lên giá trị doanh nghiệp 54Bảng 4.9: Sự kiêm nhiệm và đặc điểm giới trong Hội đồng quản trị tác động lên giá trị doanh nghiệp 55Bảng 4.10: Sự khác biệt trong đặc điểm công ty 56

Trang 7

2SLS Hồi quy hai giai đoạn bình phương tối thiểu

FE Mô hình hiệu ứng cố định

HĐQT Hội đồng quản trị

OLS Bình phương tối thiểu

RE Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

Trang 8

- 1-

TÓM TẮT

Phần lớn các bài nghiên cứu là ở Mỹ, Anh và Nhật Bản, đã xem xét mối quan hệ giữa cơ chế quản trị doanh nghiệp, cơ cấu sở hữu và giá trị doanh nghiệp công ty Những nghiên cứu này mang lại khác nhau kết quả do bị ảnh hưởng bởi bản chất của hệ thống quản lý hiện hành của mỗi nước Vì thế, bài nghiên này thực hiện tìm hiểu mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu ở các công ty niêm yết từ năm 2006 trên sàn chứng khoán Việt Nam Bằng việc sử dụng dữ liệu bảng cân bằng của 145 công

ty, bài nghiên cứu tìm thấy mối quan hệ tiêu cực đáng kể giữa quy mô Hội đồng quản trị với giá trị doanh nghiệp Bên cạnh đó, thành viên độc lập nắm vai trò quan trọng trong Hội đồng quản trị và tác động lớn đến giá trị doanh nghiệp Tuy nhiên, bài nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng cho thấy việc Giám đốc điều hành kiêm Chủ tịch Hội đồng quản trị cũng như sự có mặt của thành viên nữ trong Hội đồng quản trị tạo nên tác động đáng kể lên giá trị doanh nghiệp

Theo quan điểm lý thuyết, tồn tại vấn đề nội sinh trong mô hình tìm hiểu mối quan hệ giữa Hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp Do đó, bài nghiên cứu sử dụng mô hình ước lượng phổ biến GMM để khắc phục vấn đề trên Mô hình này được sử dụng xuyên suốt trong quá trình đánh giá mối quan hệ giữa cấu trúc Hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp

Trang 9

1 TỔNG QUAN BÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do thực hiện đề tài

Một tập thể hoạt động thông suốt, người lãnh đạo là hết sức quan trọng Người lãnh đạo sử dụng nguồn vốn sẵn có một cách có hiệu quả nhất Tuy nhiên nếu như người lãnh đạo lại tạo nên sự mất mát và tổn thất cho tập thể Bởi họ đang quan tâm đến lợi ích cá nhân hơn lợi ích tập thể Như vậy công ty sẽ đi về đâu?

Để không tạo nên tương lai xấu cho công ty, một tổ chức thường chú trọng đến quản trị doanh nghiệp, hạn chế vấn đề đại diện phát sinh Và Hội đồng quản trị là khâu quan trọng nhất trong mô hình quản trị của một công ty Nếu như người lãnh đạo quan trọng cho công ty phát triển thì Hội đồng quản trị cũng quan trọng không kém cho sự tồn tại của công ty Hội đồng quản trị là nơi bảo vệ lợi ích và tài sản của công ty, đảm bảo việc đầu tư thu lãi Mọi quyết định chiến lược hoạt động của doanh nghiệp phải bắt nguồn hoặc được phê duyệt bởi Hội đồng quản trị Như vậy, một công ty có thành công hay không phụ thuộc nhiều vào Hội đồng quản trị và quá trình quản trị công ty

Theo đánh giá của Hiệp Hội Các quốc gia Đông Nam Á về quản trị doanh nghiệp

ở Việt Nam, quản trị doanh nghiệp trong các công ty niêm yết tại Việt Nam giảm dưới mức mong đợi, đặc biệt là trong lĩnh vực trách nhiệm của ban giám đốc và vai trò của các bên liên quan Quản trị doanh nghiệp yếu kém dẫn đến mất mát lớn từ chi phí đại diện Biểu hiện của sự quản trị doanh nghiệp yếu kém thể hiện trong tập đoàn Viettel Tập đoàn Viettel xây dựng mô hình quản trị không có Hội đồng quản trị hay hội đồng thành viên Theo tư tưởng quản trị của người lãnh đạo tập đoàn Viettel, Hội đồng quản trị không mang lại lợi ích gì cho tập đoàn Vai trò quan trọng của Hội đồng quản trị mà các nghiên cứu khoa học trước đây tìm

ra không tồn tại

Như vậy, trường hợp ở tập đoàn Viettel chỉ là một cá biệt hay đại diện trong các công ty ở Việt Nam? Với những nỗ lực và tầm quan trọng của mình, Hội đồng quản trị ở Việt Nam có tạo nên giá trị công ty hay không? Số lượng thành viên

Trang 10

- 3-

Hội đồng quản trị có tác động đến giá trị doanh nghiệp hay không? Đó chính là

lý do và động lực thúc đẩy tôi nghiên cứu vấn đề “Nghiên cứu tác động của

quy mô Hội đồng quản trị đến giá trị doanh nghiệp”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của nghiên cứu này là tìm hiểu sự ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị lên giá trị của công ty Vì vậy, các câu hỏi nghiên cứu đặt ra nhằm kiểm định mối quan hệ trên

 Quy mô Hội đồng quản trị có tác động đến giá trị của công ty? Quan hệ này là tích cực hay tiêu cực?

 Thành viên Hội đồng quản trị nội bộ và thành viên độc lập tham gia vào mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị với giá trị công ty như thế?

 Chủ tịch hội đồng kiêm nhiệm tổng giám đốc điều hành có tác động vào giá trị công ty hay không?

 Việc phân biệt giới tính hay nữ giám đốc trong Hội đồng quản trị có làm thay đổi giá trị công ty hay không?

 Quy mô Hội đồng quản trị tương tác với đặc điểm khác của công ty có kéo theo sự thay đổi mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị và giá trị công ty hay không?

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Thành viên Hội đồng quản trị trong báo cáo thường niên hay báo cáo tài chính của 145 công ty phi tài chính

 Phạm vi nghiên cứu: Các công ty phi tài chính đang niêm yết trên sàn chứng khoán Việt Nam năm 2006 (bao gồm HNX và HOSE)

 Thời gian nghiên cứu: từ năm 2007 đến 2013

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích hồi quy tuyến tính đa biến - ước lượng theo phương pháp bình phương tối thiểu và GMM – để xác định

Trang 11

sự tác động của quy mô Hội đồng quản trị lên giá trị doanh nghiệp và khả năng

cấu trúc Hội đồng quản trị làm thay đổi giá trị doanh nghiệp

1.5 Kết cấu đề tài

Bài nghiên cứu được tổ chức thành 5 phần và phụ lục Chi tiết các phần như sau:

 Phần 1: Tổng quan bài nghiên cứu

 Phần 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước đây

 Phần 3: Dự liệu và phương pháp nghiên cứu

 Phần 4: Trình bày kết quả nghiên cứu thực nghiệm và đánh giá kết quả

này

 Phần 5: Kết luận quan trọng cuối cùng toàn bài nghiên cứu

Trang 12

- 5-

2 CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

2.1 Hội đồng quản trị tác động đến giá trị doanh nghiệp

Quản trị doanh nghiệp được xác định là tổ chức chi phối hành vi của các nhà quản lý và xác định quyền hạn của họ Quản trị doanh nghiệp có thể cũng được thu hẹp lại định nghĩa là các công cụ để đảm bảo tỷ lệ lợi tức đầu tư tối đa cho các thành viên góp vốn Theo quan điểm phổ biến, quản trị doanh nghiệp trở thành công cụ bù đắp tổn thất tiềm tàng do xung đột lợi ích giữa thành viên góp vốn và các nhà quản lý Những tổn thất tiềm năng phát sinh do chi phí đại diện (lý thuyết đại diện), chi phí giao dịch (lý thuyết chi phí giao dịch), và chi phí

quyền sở hữu (lý thuyết quyền sở hữu) Bozec (2005, trang 4)

Chính vì vậy, việc quản trị doanh nghiệp hiệu quả là hết sức quan trọng với một doanh nghiệp Trong nhiều thập kỷ qua, các nhà nghiêu cứu xem xét kỹ lưỡng địa vị, các đặc điểm và cách thức hoạt động của Hội đồng quản trị Bởi lẽ Hội đồng quản trị là công cụ quản trị được quan tâm hàng đầu Hội đồng quản trị đặt nhiều quan tâm vào các biện pháp tinh giản và nâng cao quản trị doanh nghiệp Một số nghiên cứu đã nêu lên quyền tự chủ lớn hơn cho các thành viên Hội đồng quản trị Do đó, Hội đồng quản trị đóng vai trò hết sức quan trọng trong tiến trình

ra quyết định của một công ty Sự ảnh hưởng của Hội đồng quản trị đến công ty được lý giải theo các quan điểm sau:

2.1.1 Lý thuyết chi phí đại diện

Theo lý thuyết chi phí đại diện, nhà quản lý lấy mình làm trung tâm và hành động theo lợi ích cá nhân Do đó, họ ít chú ý đến lợi ích cổ đông Ví dụ, các nhà quản lý có thể quan tâm nhiều trong việc hưởng thụ các đãi ngộ như các văn phòng sang trọng, xe hơi công ty và lợi ích khác Các nhà quản lý có kiến thức chuyên môn cao đang ở trong một vị trí có thể theo đuổi lợi ích riêng chứ không phải là lợi ích cổ đông (chủ sở hữu) (Fama, 1980; Fama và Jensen, 1983) Các quyết định của nhà quản lý nhằm theo đuổi tư lợi làm tăng chi phí để các công ty, trong đó có thể bao gồm các chi phí cơ cấu lại các hợp đồng, chi phí giám sát và

Trang 13

kiểm soát hành vi của các đại diện Lợi ích cổ đông rõ ràng có thể bị tổn hại nếu các nhà quản lý tối đa hóa lợi ích của bản thân, tạo các chi phí làm giảm lợi nhuận tổ chức Như vậy, nhà quản lý chiếm đoạt lợi ích cổ đông Về bản chất, các nhà quản lý không thể tin tưởng và cần được theo dõi chặt chẽ từ Hội đồng quản trị, để bảo vệ quyền lợi của cổ đông Hơn nữa, trong công ty lớn có sự phân tán rộng rãi quyền sở hữu, cổ đông nhỏ không đủ nguồn lực để cho việc giám sát hành vi của người quản lý Eisenhardt (1989, trang 58) giải thích rằng vấn đề đại diện xảy ra khi (a) những tham vọng hay mục tiêu của nhà quản lý và cổ đông xung đột nhau và (b) cổ đông tốn kém chi phí và khó khăn trong việc xác minh những hành động thực của nhà quản lý Do đó, việc giám sát các hoạt động quản

lý là nhiệm vụ cơ bản của Hội đồng quản trị Khi đó vấn đề đại diện được giảm thiểu, và giá trị doanh nghiệp có thể tăng

Theo lập luận của Fama và Jensen (1983, trang 306), chi phí đại diện xuất hiện

trong các tổ chức từ rất sớm Lý thuyết về chịu đựng rủi ro tối ưu cho chúng ta biết rằng các thành viên góp vốn chấp nhận chia sẻ rủi ro không hạn chế tạo nên lợi thế trong các tổ chức nhỏ cũng như lớn Điều này có nghĩa là, các thành viên góp vốn chấp nhận bù đắp phần lỗ từ hoạt động của công ty, vượt qúa vốn góp ban đầu Trong tổ chức nhỏ, các thông tin quan trọng chỉ tập trung vào một hoặc một vài đại diện Một vài đại diện này thực hiện kiểm soát quyết định cũng như quản lý quyết định khá hiệu quả Tuy nhiên, một khi các đại diện này thực hiện quyết định quan trọng của công ty nhưng lựa chọn đảm bảo quyền lợi của bản thân Các thành viên góp vốn sẽ rất ít cơ hội bảo vệ mình chống lại các hành vi trên của các đại diện này, và điều này làm giảm giá trị và lòng tin của các thành viên góp vốn chịu rủi ro không hạn chế

Một giải pháp khả thi được đưa ra để giải quyết vấn đề đại diện phát sinh Các thành viên góp vốn hạn chế chịu rủi ro trong phần vốn góp của mình Trong thực

tế, sự hạn chế chịu rủi ro là công cụ kiểm soát hành động tùy ý của các đại diện quyết định Trong các tổ chức lớn thông thường, số lượng thành viên góp vốn

Trang 14

- 7-

lớn Khi có nhiều thành viên góp vốn, khá tốn kém để cho tất cả họ được tham gia vào kiểm soát quyết định Họ ủy quyền kiểm soát quyết định mới hiệu quả Việc kiểm soát quyết định được tách biệt hoàn toàn với quản lý quyết định là hiện tượng khá phổ biến trong các công ty lớn và quỹ hỗ tương tài chính Các tổ chức này hầu hết có các thành viên góp vốn không đủ điều kiện đảm đương vai trò của mình trong quá trình ra quyết định Do đó họ ủy quyền cho các đại diện thực hiện vai trò kiểm soát quyết định

Sự tách biệt quản lý quyết định và kiểm soát ra quyết định nhằm hạn chế quyền lực của các cá nhân ra quyết định, muốn chiếm đoạt các lợi ích của các thành viên góp vốn Tổ chức tốn kém chi phí cho việc kiểm tra và cân bằng của hệ thống ra quyết định, nhưng nó cũng có những lợi ích quan trọng Sự tách biệt mang lại lợi ích vì các kiến thức có giá trị được sử dụng trong quyết định ra quá trình Các kiến thức này có liên quan và hỗ trợ kiểm soát các vấn đề đại diện của các thành viên góp vốn phổ biến Trong các tổ chức có cơ cấu góp vốn phức tạp, những lợi ích của việc tách biệt hai chức năng trong quá trình ra quyết định mang lại lợi ích lớn hơn chi phí mà chúng tạo ra

Giải pháp tốt để tách rời quản lý quyết định với kiểm soát quyết định là xây dựng một hệ thống phân cấp quyết định điển hình Trong hệ thống này, các đại diện cấp cao phê duyệt và giám sát các sáng kiến của cấp dưới và đánh giá hiệu quả làm việc của họ Các hệ thống phân cấp chính thức của các tổ chức lớn cũng được củng cố bởi các thông tin không chính thức từ việc giám sát lẫn nhau giữa các đại diện Khi các đại diện tương tác lẫn nhau, họ có được thông tin với chi phí thấp về đồng nghiệp, thông tin không trực tiếp có sẵn cho các đại lý cấp trên

Hệ thống giám sát lẫn nhau khai thác thông tin để sử dụng trong quá trình kiểm soát Hệ thống giám sát lẫn nhau tạo ra động lực nâng cao giá trị của con người thông qua lợi ích của các đại diện trên thị trường đại diện nội bộ của các tổ chức Các đại diện lựa chọn giữa các tổ chức trên cơ sở lợi ích được cung cấp và tiềm năng phát triển nguồn nhân lực Đại lý đánh giá sự tương tác cạnh tranh diễn ra

Trang 15

trong thị trường đại diện nội bộ của tổ chức vì nó gia tăng sản phẩm biên hiện tại

và đóng góp vào phát triển nguồn vốn con người Hơn nữa, nếu các đại diện nhận thấy rằng đánh giá hiệu quả của họ là không thiên vị (có nghĩa là, nếu người ta không thể đánh lừa sự đánh giá có hệ thống của họ) Sau đó họ xem xét việc điều chỉnh hệ thống tưởng thưởng từ thông tin giám sát lẫn nhau Bởi vì thông tin làm giảm sự độ không chắc chắn của phần thưởng cho sự nỗ lực và kỹ năng Kể từ khi cơ chế khuyến khích và hệ thống kiểm soát quyết định phổ biến mang lại lợi ích cho các thành viên góp vốn

Jensen và Meckling (1976) nhận định vấn đề đại diện có thể được giải quyết thông qua các hợp đồng thích hợp Các hợp đồng xác định các quyền thuộc các nhà quản lý và cổ đông Fama và Jensen (1983, trang 302) đề cập đến hợp đồng

“quy định quyền của từng nhà quản lý trong tổ chức, tiêu chuẩn hiệu suất mà họ được đánh giá và cấu trúc phần thưởng cho những gì họ đạt được” Hầu hết nhà quản lý có toàn quyền quyết định về vấn đề này (Shleifer và Vishny, 1997) Cổ đông không có khả năng hoặc ít tham gia trong hợp đồng hoàn hảo Do đó, cổ đông giảm bớt quyền quản lý quyết định dành cho nhà quản lý Hơn nữa, cổ đông giám sát nhà quản lý để đảm bảo họ hành động vì lợi ích tốt nhất của các cổ động Khi đó cổ đông phải chịu chi phí giám sát, tiếp tục làm giảm giá trị của công ty

Cổ đông luôn muốn tối đa hóa lợi nhuận, nhưng việc giảm thiểu chi phí đại diện không mang lại cho họ lợi ích mong muốn thông qua việc sử dụng hợp đồng Các học giả đã đề xuất cơ chế quản lý khác nhau để giải quyết các vấn đề về đại diện

Do đó, lý thuyết chi phí đại diện làm cho sở cho việc quản trị công ty thông qua việc sử dụng cơ chế nội bộ và bên ngoài (Roberts et al, 2005) Cơ chế quản trị được thiết kế để bảo vệ lợi ích cổ đông, giảm thiểu chi phí đại diện và gắn kết sự quan tâm của nhà quản lý – cổ đông

Hai cơ chế quản lý quan trọng được sử dụng cho mục đích này là Hội đồng quản trị và kế hoạch khen thưởng để gắn kết lợi ích của nhà quản lý và cổ đông Fama

Trang 16

- 9-

(1980) cho rằng Hội đồng quản trị một cơ chế quản lý với chi phí thấp Theo lý luận này, Hội đồng quản trị là một nhóm quản trị, với các đặc điểm như quy mô, thành viên nội bộ và độc lập, việc tách biệt Giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị (Dalton et al, 1998; Coles & Hesterly, 2000; Daily et al, 2003) với mục tiêu nâng cao hiệu quả giám sát Việc khen thưởng điều hành phụ thuộc vào mức độ mà các nhà quản lý quan tâm đến lợi ích với các cổ đông

sự hài lòng với bản thân, bởi lẽ nó chính là thách thức của công việc Hơn nữa,

họ sẽ đạt được sự công nhận của các đồng nghiệp và cổ đông

Quan điểm quản trị xem các nhà quản lý như nhà quản trị của công ty Là người quản trị, các thành viên phải tối đa hóa tài sản cổ đông Davis et al (1997) thừa nhận một người quản trị lấy được lợi ích lớn từ việc đạt mục tiêu tổ chức hơn là mưu cầu lợi ích cá nhân Davis et al (1997) lập luận rằng sự thành công của tổ chức nếu đạt được, tổ chức cũng đáp ứng các nhu cầu cá nhân của người quản trị

Vì thế, lý thuyết quản trị cho rằng các nhà quản lý nên được trao quyền tự chủ dựa trên sự tin tưởng, làm tối thiểu chi phí giám sát và kiểm soát hành vi của các nhà quản lý Khi nào các nhà quản lý làm việc cho một công ty trong khoảng thời gian đáng kể, sẽ có sự “sát nhập của cái tôi cá nhân vào công ty” (Donaldson & Davis, 1991, trang 51)

Lý thuyết quản trị cho rằng các quyết định của người quản lý cũng bị ảnh hưởng bởi động cơ phi tài chính, chẳng hạn như nhu cầu về thành tích và công nhận, sự

Trang 17

hài lòng của bản thân khi thành công, cộng với sự tôn trọng quyền và nguyên tắc làm việc Những khái niệm đã được ghi nhận trong các tài liệu của các học giả như Argyris (1964), Herzberg (1966), McClelland (1961), và Muth và Donaldson (1998) Daily et al (2003) lập luận rằng nhà quản lý quan tâm đến danh tiếng của

họ như các chuyên gia ra quyết định Vì thế, các nhà quản lý điều hành công ty tối đa hoá hiệu quả tài chính, bao gồm lợi nhuận cổ đông Khi đó, giá trị công ty trực tiếp ảnh hưởng đến nhận thức về hiệu suất làm việc của cá nhân nhà quản lý Shleifer và Vishny (1997) cho rằng các nhà quản lý mang lại lợi nhuận tài chính tốt cho các nhà đầu tư, thiết lập một danh tiếng tốt Điều đó cho phép họ tái gia nhập thị trường tài chính đối với các nhu cầu tương lai của công ty

2.1.3 Quan điểm phụ thuộc nguồn lực

Quan điểm phụ thuộc nguồn lực cung cấp một nền tảng về vai trò của Hội đồng quản trị như một nguồn lực của công ty (Johnson et al, 1996; Hillman et al, 2000) Penrose (1959) nhấn mạnh các nguồn tài nguyên mà công ty kiểm soát là rất quan trọng cho sự tăng trưởng của nó Những nguồn lực này bao gồm tất cả tài sản, nguồn lực, quy trình tổ chức, thông tin và kiến thức mà công ty có để nâng cao hiệu quả và hiệu suất (Barney, 1991; Daft, 2006) Từ quan điểm này, cơ cấu quản trị công ty và thành phần Hội đồng quản trị được xem như một nguồn lực làm gia tăng giá trị cho công ty

Lập luận quan trọng của quan điểm phụ thuộc nguồn lực là tổ chức cố gắng kiểm soát môi trường thông qua lựa chọn nguồn lực cần thiết (Pfeffer & Salancik, 1978) Theo đó, Hội đồng quản trị xem xét liên kết giữa công ty và các nguồn lực

mà một công ty cần từ môi trường bên ngoài cho giá trị doanh nghiệp cao Các thành viên độc lập trong Hội đồng quản trị là cầu nối giúp công ty tiếp cận các nguồn lực quan trọng bên ngoài (Johnson et al., 1996, trang 410) Các thành viên này mang lại nguồn lực cho công ty, như thông tin, kỹ năng, tiếp cận các thành phần chủ chốt (ví dụ, nhà cung cấp, người mua, các nhà hoạch định chính sách công, các nhóm xã hội) (Hillman et al., 2000, trang 238)

Trang 18

- 11-

Vai trò phụ thuộc nguồn lực của Hội đồng quản trị cũng giúp công ty tiếp cận các nguồn tài chính (Thompson & McEwen, 1958; Pfeffer, 1972; Mizruchi & Stearns, 1988) Thompson và McEwen (1958) lập luận rằng một công ty có nợ ngân hàng cao thì có thể bổ nhiệm một cán bộ của ngân hàng làm thành viên Hội đồng quản trị để đảm bảo dễ dàng tiếp cận quỹ của ngân hàng Tương tự như vậy, Mizruchi và Stearns (1988) thấy rằng các công ty gặp vấn đề khả năng thanh toán có khả năng cử đại diện của các tổ chức tài chính cho hội đồng của họ Stearns và Mizruchi (1993) cũng tìm thấy mối liên giữa các doanh nghiệp vay chiến lược và loại đại diện tài chính trong Hội đồng quản trị Mối quan hệ này cung cấp cả hai bên với một cơ hội để lựa chọn cùng nhau phát triển liên tục

2.1.4 Quan điểm các bên liên quan

Quan điểm chi phí đại diện mong đợi Hội đồng quản trị bảo vệ quyền lợi của cổ đông Quan điểm các bên liên quan là một phần mở rộng của quan điểm chi phí đại diện Trong quan điểm này mong đợi Hội đồng quản trị gắn kết lợi ích của nhiều nhóm liên quan khác nhau, bao gồm các nhóm lợi ích liên quan đến cân nhắc về xã hội, môi trường và đạo đức (Freeman, 1984; Donaldson & Preston, năm 1995; Freeman et al., 2004) Quan điểm các bên liên quan cho rằng, “các công ty và xã hội phụ thuộc lẫn nhau và các công ty phục vụ một mục đích xã hội rộng lớn hơn hơn trách nhiệm của mình cho các cổ đông” (Kiel & Nicholson, 2003a, trang 31)

Các học giả tranh luận rất nhiều về việc xác định các bên liên quan của một công

ty nên hiểu theo nghĩa rộng hay nghĩa hẹp Định nghĩa của Freeman (1984, trang 46) đề xuất một quan điểm rộng, “các bên liên quan là bất kỳ cá nhân hay nhóm người có thể ảnh hưởng hoặc bị ảnh hưởng trong việc theo đuổi mục tiêu của tổ chức” Ngược lại, Clarkson (1994) cung cấp một cái nhìn hẹp, cho thấy “Các bên liên quan tự nguyện chịu một số hình thức rủi ro như là một kết quả của việc đầu

tư một số hình thức vốn, nhân lực, tài chính, hoặc một cái gì đó có giá trị, trong một công ty” Wheeler và Sillanpaa (1997) xác định các bên liên quan khác nhau

Trang 19

như các nhà đầu tư, quản lý, nhân viên, khách hàng, đối tác kinh doanh, cộng đồng địa phương, tổ chức xã hội, môi trường tự nhiên, thế hệ tương lai, và các loài không phải con người

Mitchell, Agle và Wood (1997) lập luận rằng các bên liên quan có thể được xác định bởi sở hữu của một, hai hoặc cả ba của các thuộc tính của: (1) quyền lực có ảnh hưởng đến công ty, (2) tính hợp pháp của mối quan hệ với các công ty, và (3) tính cấp bách yêu cầu của họ đối với công ty Phân loại này cho phép các nhà quản lý phải chú ý và đáp ứng từng loại liên quan khác nhau

Dù được xác định thế nào, các bên liên quan đều chịu ảnh hưởng từ quyết định của doanh nghiệp Freeman et al (2004) cho rằng việc gia tăng giá trị cho các bên liên quan được kết nối mật thiết với việc tăng giá trị cho cổ đông Nhà quản

lý nên cố gắng tạo ra càng nhiều giá trị cho các bên liên quan càng tốt Bằng cách giải quyết mâu thuẫn hiện có trong đó để các bên liên quan không thoát khỏi thỏa thuận

Sundaram và Inkpen (2004) lập luận rằng tối đa hóa giá trị cổ đông là mục tiêu duy nhất dẫn đến quyết định tăng cường giá trị cho tất cả các bên liên quan Các nhà quản lý phải phát triển các mối quan hệ, truyền cảm hứng cho họ các bên liên quan, và tạo ra các cộng đồng nơi mà tất cả mọi người phấn đấu để cung cấp cho tốt nhất của họ để cung cấp giá trị công ty hứa hẹn

Mỗi quan điểm đã nêu thể hiện một quan điểm đánh giá giá trị của quyết định Hội đồng quản trị Các quan điểm này được thống kê trong bảng 2.1 Lý thuyết chi phí đại diện tập trung vào những xung đột lợi ích giữa cổ đông và các quản

lý Trong khi quan điểm của lý thuyết quản trị, các nhà quản trị là nhà quản lý và

đề xuất liên kết về lợi ích giữa người quản lý và mục tiêu của tổ chức Mặt khác, quan điểm các bên liên quan tìm hiểu về tình trạng khó xử liên quan đến nhóm lợi ích của các bên liên quan Quan điểm phụ thuộc nguồn lực nhấn mạnh tầm quan trọng của Hội đồng quản trị như một nguồn tài nguyên và vạch ra một vai trò khác ngoài trách nhiệm kiểm soát truyền thống

Trang 20

- 13-

Chi phí đại diện Quyền quản trị Hội đồng độc lập là một cơ

chế cho các cổ đông để giữ quyền sở hữu quyền kiểm soát

và theo dõi giá trị doanh nghiệp

Quản trị Trao quyền quản trị HĐQT được trao quyền quản

lý và có trách nhiệm quản lý tài sản công ty

Phụ thuộc nguồn lực Hợp tác HĐQT liên kết mạnh mẽ bên

ngoài là một cơ chế “Hợp tác” với các công ty truy cập các nguồn lực bên ngoài

Các bên liên quan Phát huy lợi ích của tất

cả các bên liên quan

Tối đa hoá lợi nhuận cổ đông, không phải duy nhất; lợi ích của tất cả các bên liên quan nên được bình đẳng và tôn trọng

Bảng 2.1: Tóm tắt bốn nhóm quan điểm

Trong số các quan điểm khác nhau thảo luận, quan điểm lý thuyết chi phí đại diện là nhất phổ biến và đã nhận được sự chú ý tối đa từ các viện nghiên cứu (Jensen và Meckling, 1976; Fama và Jensen, 1983) Nó cung cấp tiêu chuẩn quản trị cơ sở và nguyên tắc phát triển của nhiều tổ chức (Calpers, 1999; OECD, Năm

1999, 2004; ICGN, 1999, 2005) Hội đồng quản trị được thành lập từ sự chỉ định của các cổ đông, nhằm theo dõi và kiểm soát việc ra quyết định quản lý để bảo vệ quyền lợi của cổ đông Đặc biệt, vai trò giám sát này sẽ được thực hiện hiệu quả thông qua thành viên độc lập không điều hành và các vị trí Chủ tịch Hội đồng

Trang 21

quản trị và Giám đốc điều hành được nắm giữ bởi những người khác nhau (Cadbury năm 1992; OECD, năm 1999; ICGN, năm 1999, kết hợp Mã, 2006)

2.2 Quy mô Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến giá trị doanh nghiệp

Số lượng thành viên Hội đồng quản trị được coi là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến giá trị công ty, nhưng không có một quy mô tối ưu cho một Hội đồng quản trị Jensen (1983) cho rằng một Hội đồng quản trị nên có tối đa là bảy hay tám thành viên hoạt động hiệu quả Các nghiên cứu thực nghiệm đánh giá sự ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị lên giá trị doanh nghiệp theo ba hướng chính:

2.2.1 Ảnh hưởng tích cực đến giá trị doanh nghiệp:

Báo cáo của Kiel và Nicholson (2003) cho thấy sự ảnh hưởng tích cực của quy

mô Hội đồng quản trị ở các công ty tại Úc Nghiên cứu Beiner et al (2006) ở các

công ty Thụy Sĩ cũng tìm thấy mối quan hệ tích cực Coles et al (2008) tìm thấy

các công ty đa ngành có xu hướng mở rộng quy mô Hội đồng quản trị và có thể làm tăng giá trị doanh nghiệp

Lý thuyết chi phí đại diện và quan điểm phụ thuộc nguồn lực ủng hộ kết quả thực nghiệm về mối quan hệ tích cực giữa quy mô Hội đồng quản trị và giá trị doanh nghiệp Từ góc độ lý thuyết chi phí đại diện, quy mô Hội đồng quản trị lớn cho thấy hiệu quả giám sát tốt hơn Sự giám sát tốt hơn sẽ giảm sự độc quyền của giám đốc điều hành cũng như chi chí đại diện giảm đi Do đó, dẫn đến hiệu quả hoạt động nhiều hơn và giá trị doanh nghiệp tăng (Singh & Harianto, 1989) Quan điểm phụ thuộc nguồn lực cho thấy rằng các tổ chức có thể làm tăng quy

mô Hội đồng quản trị để tối đa hóa nguồn lực cho tổ chức (Hillman & Dalziel, 2003)

2.2.2 Ảnh hưởng tiêu cực đến giá trị doanh nghiệp:

Bắt nguồn từ quan điểm chi phí đại diện, Lipton và Lorsch (1992) qua nghiên cứu thực nghiệm lại gợi ý rằng quy mô Hội đồng quản trị tăng, làm giảm hiệu quả của Hội đồng quản trị Phù hợp với khái niệm này, Yermack (1996) và

Trang 22

công ty là tương quan nghịch biến (Eisenberg và cộng sự, 1998; Yermack,

1996)

Một số nghiên cứu khác cũng xác nhận mối quan hệ tiêu cực giữa quy mô Hội

đồng quản trị và giá trị công ty Conyon và Peck (1998) nghiên cứu các công ty ở Anh, Pháp, Hà Lan, Đan Mạch và Ý; Mak và Yuanto (2001) tại Malaysia và Singapore; Loderer và Peyer (2002) ở Thụy Sĩ Mối quan hệ này khá phổ biến

2.2.3 Ảnh hưởng không đáng kể lên giá trị doanh nghiệp:

Jong et al (2000) và Black et al (2004) tìm ra mối quan hệ không đáng kể giữa

quy mô Hội đồng quản trị và giá trị công ty ở Hà Lan và Hàn Quốc

Mak and Li (2001) xem xét trong 147 công ty Singapo sử dụng dữ liệu năm

1995, mối quan hệ tiêu cực không đáng kể giữa quy mô Hội đồng quản trị và

giá trị công ty giữa quy mô Hội đồng quản trị và giá trị công ty – đo lường bằng Tobin Q Mak and Kusnadi (2005) tiếp tục nghiên cứu mối quan hệ này với dữ liệu năm 1999/2000 và mẫu lớn hơn (230 công ty Singapo và 230 công ty

Malaixia) Tuy nhiên, họ vẫn tìm thấy một kết quả: mối quan hệ tiêu cực không

đáng kể giữa quy mô Hội đồng quản trị và giá trị công ty

Lý thuyết quản trị làm cơ sở lý giải cho kết quả thực nghiệm này Bởi lẽ, nhà quản trị cũng là nhà quản lý, thành công của tổ chức là thành công của cá nhân nhà quản lý Theo lý thuyết này, nhà quản lý tự mình nỗ lực cho việc gia tăng giá trị doanh nghiệp mà không cần sự đốc thúc của Hội đồng quản trị Do đó, Hội đồng quản trị kiểm soát chặt hay lỏng lẽo, thành viên có nhiều hay không cũng đều không ảnh hưởng đáng kể lên giá trị doanh nghiệp

Trang 23

Bảng 2.2 tổng hợp các kết quả một số nghiên cứu thực nghiệm trước đây Phần lớn các tài liệu tìm hiểu về sự ảnh hưởng của quy mô Hội đồng quản trị đến giá trị công ty Chủ yếu dự đoán cho rằng quy mô Hội đồng quản trị có liên quan tiêu cực với giá trị công ty

Tác giả Năm Đất nước số quan

sát

Giá trị doanh nghiệp Tobin

Q Khả năng sinh lợi

Beiner et al 2006 Switzerland 109 +*

Coles, Daniel and Naveen 2008 USA 8165 *

De Andres, Azofra and

Chú thích: (*) các kết quả đạt mức ý nghĩa từ 10% trở lên

Nguồn: Tác giả tự thu thập

Bảng 2.2: Các nghiên cứu trước đây Mối quan hệ giữa quy mô Hội đồng quản trị

và giá trị công ty

Naveen Kumar, J.P Singh (2013) cũng cho rằng việc tăng số lượng các thành viên Hội đồng quản trị trên một giới hạn lý tưởng có thể có tác động xấu thêm về giá trị công ty

Tuy nhiên, có một số tác giả cho rằng quy mô Hội đồng quản trị luôn tác động

tiêu cực lên giá trị doanh nghiệp tại các công ty công chúng lớn xuyên quốc gia,

trừ một số trường hợp như đã nêu ở trên (Bennedsen, Kongsted và Nielsen, 2007)

2.3 Thành viên Hội đồng quản trị nội bộ và độc lập

Từ quan điểm lý thuyết quản trị, giá trị doanh nghiệp cao có liên quan đến các

thành viên Hội đồng quản trị bên trong (nội bộ) Các thành viên này hiểu rõ hơn

về công việc kinh doanh, và quản lý tốt hơn so với thành viên bên ngoài (độc lập), và do đó các quyết định tốt có thể đưa ra hơn (Donaldson, 1990; Donaldson

& Davis, 1991) Để kiểm soát hiệu quả tổ chức trao quyền quản lý chuyên môn

Trang 24

- 17-

cho họ để tối đa hóa biểu hiện của công ty và doanh nghiệp lợi nhuận Do đó, thành viên nội bộ chiếm ưu thế và được ưa chuộng do chiều sâu kiến thức của họ, tiếp cận thông tin hoạt động hiện nay, chuyên môn kỹ thuật và cam kết với công

ty

Một số nghiên cứu ủng hộ quan điểm rằng các thành viên nội bộ sở hữu lượng thông tin nhiều và có chất lượng, có thể đưa ra quyết định tốt hơn (Baysinger & Hoskisson năm 1990; Baysinger, Kosnick & Turk, năm 1991 và Boyd, 1994) Bhagat và Black (1999) cũng đã phát hiện ra rằng các công ty có Hội đồng bao gồm một số lượng lớn thành viên độc lập (đại diện cho quan điểm lý thuyết chi phí đại diện), biểu hiện tồi tệ hơn so với các công ty có thành viên nội bộ với số lượng ít thành viên độc lập

Fama và Jensen (1983, trang 14) khẳng định Hội đồng quản trị bao gồm các

thành viên là các chuyên gia quyết định Các thành viên nội bộ có quyền nắm bắt thông tin cụ thể có giá trị về các hoạt động của tổ chức Hệ thống kiểm soát quyết định nội bộ hoạt động tốt, các thành viên bên ngoài bị điều hành bởi các thành viên nội bộ Quản lý nội bộ có thể sử dụng kiến thức về tổ chức đề cử các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài những kiến thức bổ sung có liên quan: ví dụ, có chuyên môn về thị trường vốn, pháp luật của công ty, hoặc công nghệ có liên quan đã cung cấp một hỗ trợ quan trọng chức năng để các nhà quản lý hàng đầu trong việc giải quyết vấn đề quyết định chuyên ngành

Hội đồng quản trị có khả năng sử dụng thông tin từ các hệ thống giám sát nội bộ Hội đồng quản trị cũng tìm kiếm thông tin từ các nhà quản lý cấp dưới về các sáng kiến quyết định và hiệu suất của các nhà quản lý hàng đầu Thông tin này được sử dụng để thiết lập những phần thưởng của các nhà quản lý hàng đầu, xếp hạng họ, và để lựa chọn trong số các sáng kiến quyết định của họ

Các học giả cũng đã sử dụng quan điểm phụ thuộc nguồn lực để giải thích các

thành phần của Hội đồng quản trị, đặc biệt trong thành viên độc lập Hermalin và Weishbach (1988) cũng tìm thấy rằng các thành viên nội bộ được thay thế bởi

Trang 25

thành viên độc lập giàu kinh nghiệm, khi giá trị công ty thấp Hơn nữa, Pearce và Zahra (1992) thấy rằng thành viên độc lập được bổ nhiệm vào Hội đồng quản trị, mang lại hy vọng cho các công ty đang có biểu hiện không tốt Muth và Donaldson (1998) lập luận cho tầm quan trọng của sự liên kết, để nâng cao hiệu suất công ty Như vậy, lý thuyết phụ thuộc nguồn lực xem Hội đồng quản trị như một nguồn tài nguyên mà không chỉ có thể thay thế nhu cầu về các nguồn lực khác, mà còn ảnh hưởng đến môi trường làm việc Cho nên, Hội đồng quản trị hỗ trợ cải thiện giá trị công ty

Fama và Jensen (1983) cũng cho rằng thành viên độc lập có động lực để phát triển danh tiếng - các chuyên gia kiểm soát quyết định Hầu hết các giám đốc bên ngoài của các tập đoàn lớn là nhà quản lý của các công ty khác hoặc đại diện quyết định quan trọng trong các tổ chức phức tạp khác Giá trị của nguồn nhân lực của họ phụ thuộc chủ yếu vào các hoạt động của họ với tư cách là nhà quản

lý các tổ chức khác Họ sử dụng chức vụ của mình để báo hiệu cho nội bộ công

ty và thị trường bên ngoài (1) họ là những chuyên gia ra quyết định, (2) họ hiểu tầm quan trọng của lan tỏa và việc tách biệt sự kiểm soát quyết định, và (3) họ có thể làm việc với hệ thống điều khiển quyết định Chính vì thế, thành viên độc lập cũng sẽ nỗ lực gia tăng giá trị doanh nghiệp

Thông qua bằng chứng thực nghiệm của Guest (2009), thành viên độc lập luôn

tác động tiêu cực lên giá trị doanh nghiệp Thành viên nội bộ ảnh hưởng không đáng kể trên chỉ tiêu sinh lợi ROA, nhưng ảnh hưởng tiêu cực đáng kể lên Tobin

Q và lợi nhuận chứng khoán Tobin Q và lợi nhuận chứng khoán chịu ảnh hưởng

như nhau giữa các thành viên nội bộ và thành viên độc lập

2.4 Hiện tượng kiêm nhiệm

Các thành viên độc lập thường đóng vai trò giám sát các thành viên Hội đồng quản trị nội bộ Các thành viên không tham gia điều hành đảm bảo chức năng giám sát của họ tốt hơn các thành viên giam gia điều hành Bởi họ độc lập và quan tâm nhiều hơn vào việc duy trì danh tiếng của họ trong thị trường lao động

Trang 26

- 19-

bên ngoài (Fama và Jensen, 1983) Phù hợp với lý do này, một mối quan hệ đồng biến dự kiến giữa tỷ lệ giám đốc không điều hành trong Hội đồng quản trị với giá trị của công ty Tuy nhiên, một quan điểm khác cho rằng thành viên Hội đồng quản trị nội bộ lại có ưu thế hơn Chính xác hơn, thành viên nội bộ có được các thông tin làm cho việc quản trị hiệu quả (Baysinger và Hoskisson, 1990) Mặt khác, các thành viên độc lập thường chỉ làm việc bán thời gian và có thể đảm nhiệm nhà quản trị ở nơi khác Kết quả là, họ nắm bắt hoạt động phức tạp của công ty khá khó khăn Họ có thể không có tất cả các thông tin cần thiết cho việc

ra quyết định Xem xét các lợi ích tiềm năng của thành viên nội bộ, sự độc lập

của Hội đồng quản trị mong đợi là ảnh hưởng nghịch biến đến biểu hiện giá trị

của công ty

Để xem xét mối quan hệ giữa sự độc lập Hội đồng quản trị và giá trị công ty, các chỉ số khác nhau về được sử dụng bao gồm các biện pháp kiểm soát tài chính dựa trên hạch toán kế toán (Bhagat và Black, 2000; Klein năm 1998; và Mehran, 1995), Tobin Q được định nghĩa là vốn hóa thị trường cộng với tổng số nợ chia tổng tài sản (Hermalin và Weisbach, 1991 và Bhagat và Black, 2000) và lợi nhuận theo giá thị trường (Bhagat và Black, 2000)

Một cách khác để xem xét tính độc lập là xem xét sự kiêm nhiệm đồng thời (Duality) sự kiêm nhiệm đồng thời đề cập đến cấu trúc lãnh đạo Hội đồng quản trị, trong đó một người đảm nhận cả hai vai trò giám đốc điều hành và Chủ tịch Hội đồng quản trị

Theo lý thuyết chi phí đại diện, việc kiêm nhiệm làm suy yếu tính độc lập của Hội đồng quản trị bởi vì giám đốc điều hành sẽ có tầm kiểm soát rộng hơn Việc kiêm nhiệm cũng thúc đẩy giám đốc điều hành tham quyền cố vị Một mối quan

hệ nghịch biến là được mong đợi giữa việc kiêm nhiệm và giá trị công ty Mặt khác mặt, có thể lập luận rằng việc kiêm nhiệm đại diện cho một lợi thế tích cực đối với công ty vì chỉ có một lãnh đạo thống nhất trong toàn công ty (Finkelstein

và D'Aveni, 1 994) Việc kiêm nhiệm cũng sẽ đưa ra một sự hiểu biết kiến thức

Trang 27

rộng hơn về môi trường hoạt động của công ty Điều đó sẽ tác động tích cực vào

giá trị hoạt động công ty Tuy nhiên, nghiên cứu về các mối quan hệ kiêm nhiệm

– giá trị công ty chưa đưa ra bằng chứng để hỗ trợ các lý luận trên (Dalton et al.,

1998)

2.5 Sự phân biệt giới tính

Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị đóng góp một vai trò nhất định và không thua kém gì các thành viên nam Một số quan điểm lý thuyết có thể được sử dụng

để giải thích sự đóng góp của nữ giám đốc đến hoạt động của công ty

Đầu tiên, quan điểm phụ thuộc nguồn lực xem công ty là một hệ thống mở, phụ thuộc vào môi trường bên ngoài (Pfeffer 1972; Pfeffer & Salancik 1978) Lý thuyết này cho rằng Hội đồng quản trị đại diện cho một phương tiện quan trọng

để quản lý nguồn lực bên ngoài, làm giảm môi trường không chắc chắn và giảm chi phí giao dịch liên quan Pfeffer & Salancik (1978) lập luận rằng ba quan trọng nhất nguồn lực cần thiết từ Hội đồng quản trị bao gồm những lời khuyên và

tư vấn, tính hợp pháp, và các kênh giao tiếp thông tin giữa công ty và các tổ chức bên ngoài Theo đó, sự hiện diện của phụ nữ trong Hội đồng quản trị được mong đợi, bởi vì họ mang lại bề sâu cho các nguồn tài nguyên, chẳng hạn như uy tín, tính hợp pháp, kỹ năng, kiến thức, kết nối với các nguồn bên ngoài Mà các nguồn này rất hữu ích trong việc giúp các tổ chức giảm thiểu rủi ro xuất phát từ

sự phụ thuộc vào môi trường Thật vậy, bằng chứng thực nghiệm đã chỉ ra rằng phụ nữ tham gia Hội đồng quản trị dựa trên các loại tài nguyên mà họ mang lại (Peterson & Philpot 2007)

Lý thuyết chi phí đại diện mô tả mối quan hệ giữa vốn (ví dụ, cổ đông) và các đại diện của vốn (ví dụ, giám đốc và các nhà quản lý), cung cấp một cái nhìn khác Sau Fama và Jensen (1983), Hội đồng quản trị của công ty là tổ chức quan trọng

để kiểm soát và quản lý quyết định Nó nhằm mục đích giải quyết vấn đề giữa nhà quản lý và cổ đông (ví dụ, tưởng thưởng hoặc thay thế Giám đốc điều hành) Một yếu tố trung tâm của lý thuyết chi phí đại diện là sự phân biệt giữa thành

Trang 28

"giám đốc cuối cùng" vì họ có xu hướng hoạt động nhiều hơn so với giám đốc truyền thống bên ngoài (Carter et al 2003)

Thành kiến nhận thức khác nhau giữa nam và nữ (Hambrick & Mason 1984) và phụ nữ có thể có chỉ tiêu, hành vi, niềm tin, và quan điểm khác nhau dựa trên những sự khác biệt về nhận thức (Pelled et al 1999) Mô hình nhận thức này sẽ cho phép Hội đồng quản trị để ý xem xét phạm vi rộng các lựa chọn và các giải pháp liên quan đến các vấn đề của công ty (Konrad et al 2008) Dutton & Duncan (1987) cho thấy cấu trúc niềm tin khác biệt trong một tổ chức làm tăng tần số phát sinh vấn đề và khả năng thay đổi được Trong phạm vi mà họ có nhận thức khác nhau, nữ thành viên có thể mang đến mâu thuẫn quan điểm, kiến thức, quan điểm và các giải pháp thay thế nhiều hơn đối với các vấn đề (Dutton & Duncan 1987; Watson et al 1993)

Các bằng chứng thực nghiệm chứng minh vai trò của nữ giới ảnh hưởng lên giá trị công ty Sự hiện diện của nữ thành viên là có lợi cho việc ra quyết định Ví dụ,

sự tham gia của phụ nữ trong Hội đồng quản trị có thể giúp tránh các dự án quá mạo hiểm bởi phụ nữ e sợ rủi ro hơn nhiều so với nam giới và không quá tự tin như nam giới Nữ thành viên có ảnh hưởng đáng kể trong Hội đồng quản trị (Adams & Ferreira 2009) Phụ nữ có tỷ lệ tham gia các cuộc họp Hội đồng quản trị cao hơn nam giới và sự hiện diện của nữ giới có ảnh hưởng đáng kể đến sự tham dự của nam giới Nghiên cứu của Adams & Ferreira (2009) cho thấy phụ nữ tạo ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê trong Hội đồng quản trị Bởi vì họ có nhiều

Trang 29

khả năng yêu cầu các giám đốc điều hành chịu trách nhiệm về hiệu quả tài chính kém Trong sự hiện diện của nữ thành viên, giám đốc trong Hội đồng quản trị đa dạng có nhiều khả năng nhận được phần thưởng dựa trên vốn chủ sở hữu Hơn nữa, hiệu quả việc ra quyết định của Hội đồng quản trị và chức năng giám sát được tăng cường Hiệu quả được nâng cao khi nữ giám đốc ít đảm nhiệm vị trí cực đoan và sẵn sàng tham gia vào các phân tích chất lượng cao hơn (Jackson

năm 1992; Fairfax 2005) Erhardt et al (2003) báo cáo quan hệ tích cực giữa hai

thước đo giá trị công ty (ROA và ROI) và sự đa dạng giới trong Hội đồng quản

trị Tương tự như vậy, Carter et al (2003) tìm thấy một mối quan hệ tích cực và

đáng kể giữa tỷ lệ nữ giám đốc và hoạt động tài chính công ty được đo bằng Q Tobin Nghiên cứu của Farrell và Hersch (2005) cho thấy số phụ nữ được thêm vào Hội đồng quản trị của 500 công ty, không tạo nên ảnh hưởng đến ROA Hầu hết các nghiên cứu sử dụng dữ liệu của Mỹ cho thấy tỷ lệ phụ nữ trong ban

quản trị của 500 công ty có liên quan tiêu cực đến giá trị kế toán (ROE, ROA, ROI, và ROS), nhưng đồng biến (tích cực) với tỷ lệ của phụ nữ trong ban quản

lý (Shrader et al 1997)

Trong một nghiên cứu của 2.500 công ty ở Đan Mạch, Smith et al (2006) báo cáo

không có liên kết quan trọng giữa nữ thành viên Hội đồng quản trị và giá trị kế

toán của công ty Kết quả cũng tương tự với những phát hiện của Rose (2007), mối quan hệ không có ý nghĩa thống kê giữa thành viên nữ và Tobin Q, nhưng

tương phản những Bohren & Strom (2007), người tìm thấy một mối quan hệ tiêu

cực giữa tỷ lệ phụ nữ trong Hội đồng quản trị của công ty Na Uy và Tobin Q

Randoy et al (2006) xem xét tác động của nữ giám đốc lên giá trị công ty ở 500 doanh nghiệp lớn nhất từ ba Nước Bắc Âu (Đan Mạch, Na Uy và Thụy Điển) và

tìm thấy ảnh hưởng giới tính không có ý nghĩa thống kê trên cả thị trường chứng

khoán và ROA

Nhìn chung, mối liên hệ giữa nữ thành viên của Hội đồng quản trị và hoạt động

công ty từ các nghiên cứu thực nghiệm trước đó là không có rõ ràng Các kết

Trang 30

- 23-

quả khác nhau giữa các nghiên cứu đi từ sự khác biệt vốn có vị trí địa lý và thời gian nghiên cứu, các khuôn khổ pháp lý và tổ chức, các phương pháp ước lượng được sử dụng bởi các nhà nghiên cứu khác nhau, và các yếu tố không quan sát được làm ảnh hưởng đến hiệu suất công ty (Campbell & Mínguez- Vera, 2008)

Trang 31

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

tỷ lệ vay nợ cao hơn 70% tổng tài sản, thậm chí Ngân Hàng có thể vay nợ gấp nhiều lần so vốn tự có Do đó chỉ tiêu nợ của các công ty này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến các công ty hoạt động sản xuất kinh doanh thông thường Vì vậy, nếu không loại bỏ các công ty này khỏi mẫu, sẽ làm chỉ tiêu nợ trong nghiên cứu không phải ánh đúng nhu cầu phân tích cán cân nợ hợp lý

3.2 Mô hình nghiên cứu chung:

Mô hình hồi quy kinh tế tác giả sử dụng theo Guest (2009):

𝑹𝑶𝑨𝒊𝒕 = 𝜶 + 𝜷𝟏 𝑳𝒏 𝑩𝒐𝒂𝒓𝒅𝒔𝒊𝒛𝒆𝒊𝒕+ 𝜷𝟐𝑳𝒏 𝒂𝒈𝒆𝒊𝒕+ 𝜷𝟑𝑳𝒏 𝒔𝒊𝒛𝒆𝒊𝒕+

𝜷𝟒𝑫𝒆𝒃𝒕𝒊𝒕+ 𝜷𝟓𝑫𝑨𝑺𝒊𝒕+ 𝜷𝟔𝑺𝑻𝑫𝑫𝑬𝑽𝒊𝒕+ 𝜺 (*)

Lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) là thước đo khá phổ biến để đo lường biển hiện giá trị công ty: Yermack (1996) Eisenberg, Sundgren và Wells (1998) Bhagat và Black (2002), Guest (2009) ROA được tính bằng lợi nhuận hoạt động trước khấu hao chia tổng tài sản Ở Việt Nam, ROA thường tính bằng lợi nhuận sau thuế Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế bị tác động từ sự thay đổi thuế thu nhập doanh nghiệp Lợi nhuận trước thuế không đổi giữa năm t và năm t - 1 nhưng tỷ

lệ thuế thu nhập doanh nghiệp tăng, làm lợi nhuận sau thuế của năm t nhỏ hơn

Sự thay đổi này không phản ánh hiệu quả làm việc của Hội đồng quản trị Do đó, tác giả lựa chọn lợi nhuận hoạt động trước khấu hao hay lợi nhuận trước thuế

Trang 32

- 25-

trước khấu hao, và không bao gồm lợi nhuận khác Lợi nhuận khác là lợi nhuận bất thường và không chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị Nếu như lợi nhuận bất thường lớn (như nợ không thể thu hồi đã xóa sổ trong thời gian trước, nhưng bất ngờ thu được trong năm nay), ROA không phản ánh chính xác ảnh hưởng của Hội đồng quản trị lên giá trị doanh nghiệp Do đó, tác giả loại trừ khoản này khỏi

tỷ lệ ROA

Ln Boardsize: Yermack (1996), Guest (2009) và các nghiên cứu về quy mô và đặc điểm Hội đồng quản trị đều sử dụng thước đo này: logarit tự nhiên của số thành viên trong Hội đồng quản trị

Các nghiên cứu trước đây Raheja (2005), Coles, Daniel và Naveen (2007), Boone, Field, Karpoff, và Raheja (2007),Linck, Netter và Yang (2008) cho rằng cấu trúc Hội đồng quản trị ảnh hưởng đến chi phí liên quan và lợi ích tổ chức của công ty Cấu trúc Hội đồng quản trị tác động đến chi phí kiểm soát và lợi ích cá nhân trong việc kiểm soát bề mặt của công ty Do đó, nghiên cứu của tôi sử dụng các biến kiểm soát được đề nghị như sau:

 Ln age: logarit tự nhiên thời gian công ty niêm yết trên sàn

 Ln size: logarit tự nhiên của quy mô công ty Quy mô công ty (Firm size): Yermack (1996) and Coles, Daniel and Naveen (2007) đã đề nghị sử dụng vốn cổ phần theo giá thị trường điều chỉnh theo lạm phát

 Tỷ lệ nợ (Debt): Nghiên cứu của Graham et al.(2004), Khanna & Tice (2005), hay Bebchuk và các cộng sự (2009), họ tính tỷ lệ nợ bằng tổng nợ (nợ ngắn hạn + nợ dài hạn) chia cho tổng tài sản Có các thước đo khác để tính tỷ lệ nợ như: nợ dài hạn trên tổng tài sản (Anderson et al 2000) hay

tỷ lệ nợ trên vốn chủ sở hữu (Comment & Jarrell 1995) Guest (2009) tính

tỷ lệ nợ trên tổng nợ và vốn chủ sở hữu Tôi sử dụng cách tính của Guest

 STDDEV: độ lệch chuẩn tỷ suất sinh lợi của chứng khoán qua 12 tháng trong năm nghiên cứu

 DAS: sự thay đổi tài sản cố định vô hình chia doanh thu

Trang 33

3.3 Đo lường các biến trong mô hình

ROAit: tổng (lợi nhuận hoạt động + khấu hao) chia tổng tài sản trong năm t của công ty i Trên báo cáo kết quả kinh doanh, lợi nhuận hoạt động bao gồm lợi nhuận từ hoạt đồng kinh doanh (mã số 30) và lợi nhuận từ đầu tư liên kết, liên doanh (mã số 41) Lợi nhuận hoạt động còn có thể tính bằng lợi nhuận trước thuế trừ đi lợi nhuận khác Khấu hao được tính là khấu hao tài sản cố định lấy từ bảng báo cáo lưu chuyển tiền tệ

Boardsizeit: Số thành viên Hội đồng quản trị trong năm t của công ty i

Trong năm nếu Hội đồng quản trị có sự thay đổi, sự thay đổi này phải duy trì ít nhất 6 tháng trước thời điểm kết thúc năm t thì được tính cho năm t Nếu sự thay đổi này không được 6 tháng thì tác giả lấy cấu trúc Hội đồng quản trị trước thay đổi, để xác định số thành viên Hội đồng quản trị, thành viên nội bộ, thành viên độc lập, có thành viên nữ hay sự kiêm nhiệm

Thành viên nội bộ (Insiders): số thành viên nằm trong ban giám đốc, hay nhân viên của công ty, bao gồm cả các cán bộ phụ trách Đoàn, Đảng trong công ty Thành viên độc lập (Outsiders): số thành viên mà không phải là thành viên nội

bộ

Nếu trong báo cáo thường niên không thể hiện số thành viên độc lập, tác giả xem chi tiết thông tin cá nhân của các thành viên Hội đồng quản trị để xác định số thành viên độc lập và thành viên nội bộ Tuy nhiên, một số công ty nhỏ niêm yết trên sàn trong năm đầu tiên không có báo cáo thường niên, tác giả xác định số thành viên độc lập và thành viên nội bộ dựa theo báo cáo tài chính Trong báo cáo tài chính, danh sách thành viên Ban Giám Đốc, Hội đồng quản trị, Ban Kiểm Soát thể hiện trong phần báo cáo của Ban Giám Đốc Các thành viên Hội đồng quản trị không nằm trong Ban Giám Đốc, Ban Kiểm Soát thì được xác định là thành viên độc lập

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm