1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Những Giải Pháp Tài Chính cơ bản Đổi Mới Doanh Nghiệp Nhà Nước theo cơ chế kinh tế thị trường ở Việt Nam

171 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 171
Dung lượng 3,26 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mặc dù có nhiều đổi mới, nhưng hoạt động của các DNNN còn một số yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của DNNN còn thấp, chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế nhà n

Trang 1

BÙI HỮU PHƯỚC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2001

Trang 2

Trang phụ bià……….… ……… ……….1

LỜI CAM ĐOAN Error! Bookmark not defined MỤC LỤC 1

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT : 3

DANH MỤC CÁC BẢNG 4

DANH MỤC ĐỒ THỊ 4

DANH MỤC SƠ ĐỒ 4

MỞ ĐẦU 5

Chương 1: VAI TRÒ Ø CỦ Û A TÀ Ø I CHÍNH TRONG TIẾ Á N TRÌNH ĐỔ Å I MỚ Ù I DOANH NGHIỆ Ä P NHÀ Ø NƯỚ Ù C 8

VAI TRO CUA TAI CHÍNH TRONG TIEN TRÌNH ĐOI MƠI DOANH NGHIEP NHA NƯƠC 1.1 Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự cần thiết đổi mới cơ chế quản lý DNNN trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN: 8

1.1.1 Vai trò chủ đạo của KTNN trong cơ cấu kinh tế nhiều thành phần: 8

1.1.2 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý đối với DNNN : 23

1.2 Vai trò của tài chính trong tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước: 27

1.2.1 Cơ chế quản lý tài chính – một nhân tố trọng yếu trong hoạt động của doanh nghiệp nhà nước: 27

1.2.2 Vai trò của tài chính nhà nước trong tiến trình đổi mới DNNN : 33

1.3 Kinh nghiệm quản lý DNNN một số nước trên thế giới: 46

1.3.1 Trung Quốc 46

1.3.2 Một số nước Asean và NIC: 53

1.3.3 Một số nước ở châu Âu : 55

Chương 2: THỰ Ï C TRẠ Ï NG HOẠ Ï T ĐỘ Ä NG CỦ Û A DNNN VÀ Ø VAI TRÒ Ø CỦ Û A TÀ Ø I CHÍNH TRONG TIẾ Á N TRÌNH ĐỔ Å I MỚ Ù I DNNN VIỆ Ä T NAM 62

THƯC TRANG HOAT ĐONG CUA DNNN VA VAI TRO CUA TAI CHÍNH TRONG TIEN TRÌNH ĐOI MƠI DNNN VIET NAM 2.1 Khái lược về thực trạng doanh nghiệp nhà nước : 62

2.1.1- Từ năm 1986 về trước : 62

2.1.2- Từ năm 1986 -1992: 64

2.1.3- Từ năm 1992 đến nay : 71

2.2 Thực trạng về cơ chế quản lý tài chính trong quá trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước : 92

2.2.1 Quản lý và cấp phát vốn : 92

2.2.2 Quản lý doanh thu, chi phí : 96

2.2.3 Phân phối thu nhập : 96

Trang 3

2.2.3.1 – Chính sách tiền lương : 96

2.2.3.2 – Khoản thu trên vốn ngân sách (thuế vốn) : 97

2.2.3.3 – Thuế thu nhập doanh nghiệp ( TNDN): 98

2.3 Nguyên nhân của những tồn tại và những vấn đề đặt ra tiếp tục đổi mới doanh nghiệp nhà nước : 100

2.3.1 Thiếu vốn : 102

2.3.2 Chưa tìm ra mô hình tổ chức quản lý thích hợp : 104

2.3.3 Năng lực của đội ngủ cán bộ quản lý: 105

2.3.4 Cơ chế tài chính chưa thông thoáng : 106

2.3.5 Về chủ trương đường lối : 108

Chương 3: CAC GIAI PHAP TAI CHÍNH CƠ BAN ĐOI MƠI DNNN CÁ Ù C GIẢ Û I PHÁ Ù P TÀ Ø I CHÍNH CƠ BẢ Û N ĐỔ Å I MỚ Ù I DNNN 110

3.1 Hoàn thiện môi trường cho tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà nước: 110 3.1.1 – Hoàn thiện hệ thống luật pháp : 110

3.1.2 – Có sự quyết tâm của Chính phủ : 111

3.1.3 – Có sự thông hiểu và ủng hộ của quần chúng : 112

3.1.4 – Cần phát triển và hoàn thiện thị trường chứng khoán : 113

3.1.5 –Xử lý dứt điểm các khoản công nợ dây dưa: 114

3.2 Phương hướng cơ bản đổi mới doanh nghiệp nhà nước: 114

3.2.1 - Nhóm các doanh nghiệp thuộc diện phải giữ lại hình thức DNNN : 116 3.2.2 – Nhóm những doanh nghiệp cần phải bán, giải thể hoặc cho phá sản:………… 117

3.2.3 - Nhóm các doanh nghiệp không thuộc diện Nhà nước cần phải giữ lại nhưng có khả năng hoạt động được thì nên nhanh chóng cổ phần hóa: 118

3.3 Các giải pháp tài chính cơ bản cần thiết cho việc đổi mới doanh nghiệp nhà nước: 122

3.3.1 Nhóm doanh nghiệp giữ lại hình thức doanh nghiệp nhà nước: 122

3.3.1.1- Tách quyền quản lý Nhà nước ra khỏi quyền quản lý kinh doanh ở các doanh nghiệp nhà nước : 122

3.3.1.2- Đổi mới cơ chế quản lý doanh nghiệp : 128

3.3.1.3- Đổi mới cơ chế quản lý tài chính : 133

3.3.2 Nhóm doanh nghiệp cổ phần hoá : 155

3.3.3 Nhóm doanh nghiệp thực hiện giải pháp bán, giải thể hay phá sản: 163

KẾT LUẬN 165

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 167

TÀI LIỆU THAM KHẢO : 168

Trang 4

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT :

AFTA : Asean Free Trade Area ( khu vực mậu dịch tự do ASEAN)

ASEAN : Association of South – East Asian Nations ( Hiệp hội các nước Đông Nam Á)

CBCNVC : Cán bộ, công nhân, viên chức

CNXH : chủ nghĩa xã hội

CTCP : Công ty cổ phần

DNNN : Doanh nghiệp nhà nước

HĐQT : Hội đồng quản trị

KTNN : Kinh tế nhà nước

KTQD : Kinh tế quốc doanh

NXB: Nhà xuất bản

SXKD : Sản xuất, kinh doanh

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

TSCĐ: Tài sản cố định

USD : Đơn vị tiền tệ ( Đô – la ) của Mỹ

XHCN : Xã hội chủ nghĩa

XNQD : Xí nghiệp quốc doanh

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 So sánh hiệu quả kinh doanh thực của các DNNN 73

Bảng 2.2 Công suất sử dụng tài sản, thiết bị 75

Bảng 2.3 Bảng đánh giá kết quả kinh doanh của DNNN 80

Bảng 2.4 Báo cáo tình hình hoạt động kinh doanh của DNNN trên

Bảng 2.5 Tỷ trọng đóng góp GDP và thu ngân sách của khu vực

kinh tế nhà nước trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh 87

Bảng 2.6 Hiệu quả sử dụng vốn của DNNN 89

Bảng 2.7 Bảng phân loại DNNN theo qui mô vốn năm 1998 91

Bảng 2.8 Bảng phân loại DNNN theo mức nộp ngân sách năm

1998 92 Bảng 2.9 Bảng Phân loại DNNN theo hiệu quả hoạt động 93

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 2.1 Kết quả cổ phần hoá DNNN từ 1992 – 2000 94

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 3.1 Phân phối thu nhập doanh nghiệp 162

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 - Sự cần thiết của đề tài :

Từ năm 1985 về trước, nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hầu như không thừa nhận thị trường ( thị trường vốn, thị trường sức lao động …)

Chuyển sang nền kinh tế thị trường, phần lớn các doanh nghiệp nhà nước ( DNNN ) ở trong tình trạng khó khăn, sản phẩm bị ứ đọng, hiện tượng chiếm dụng vốn lẫn nhau khá phổ biến Qua đợt thanh toán nợ của các DNNN cho thấy nợ nần dây dưa, chồng chéo, chiếm dụng vốn lẫn nhau của các DNNN trong cả nước rất đáng lo ngại Đặc biệt, đến cuối năm 1997 tình hình nợ dây dưa của khu vực DNNN đã trở nên rất nghiêm trọng, tổng công nợ trong khu vực DNNN đã lên tới khoảng 170.000 tỷ đồng Tính đến nay, sau gần 10 năm hoạt động, ban thanh toán nợ trung ương vẫn chưa giải quyết xong tình hình công nợ của các DNNN

Sau ba đợt sắp xếp lại, số DNNN đã giảm gần 60% Cơ cấu doanh nghiệp có bước điều chỉnh hợp lý hơn, có tác động tích cực quá trình tích tụ, tập trung vốn; đã hình thành và phát triển thêm một số doanh nghiệp mới có trình độ công nghệ cao, có sức cạnh tranh Vốn bình quân của một doanh nghiệp tăng đáng kể Qua sắp xếp lại, các DNNN đã hoạt động có kết quả hơn và góp phần quan trọng tăng ngân sách nhà nước Mặc dù có nhiều đổi mới, nhưng hoạt động của các DNNN còn một số yếu kém, hiệu quả sản xuất kinh doanh và sức cạnh tranh của DNNN còn thấp, chưa tương xứng với điều kiện và lợi thế nhà nước ưu đãi…

Thực trạng đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục đổi mới DNNN để các doanh nghiệp nầy có thể thích nghi với nền kinh tế thị trường Thực trạng đó cũng đặt

ra yêu cầu mới đối với quản lý nhà nước về kinh tế, nhằm tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp chuyển sang kinh doanh thật sự, đồng thời duy trì và

Trang 7

củng cố vai trò chủ đạo của khu vực kinh tế nhà nước ( KTNN) Vì thế, cần phải tiếp tục đổi mới DNNN, đồng thời tạo bước đi ban đầu vững chắc giúp các DNNN tham gia hội nhập kinh tế quốc tế, cần đẩy nhanh hơn công tác hoàn thiện cơ chế, chính sách, một mặt để tháo gỡ khó khăn tạo điều kiện cho phát triển sản xuất, nâng cao hiệu quả, chất lượng và khả năng cạnh tranh ; mặt khác kiên quyết hơn trong việc xóa bỏ bao cấp, đề cao tính chủ động, tự chịu trách nhiệm trong SXKD của doanh nghiệp, gắn sản xuất với thị trường, củng cố và mở rộng thị trường trong và ngoài nước

2 - Mục đích của đề tài :

Đổi mới DNNN cho phù hợp với nền kinh tế thị trường là quá trình gay

go, lâu dài và phức tạp, phải giải quyết hàng loạt các vấn đề về kinh tế, tổ chức, tài chính, luật pháp v.v

Phạm vi bài nầy chỉ trình bày những giải pháp cơ bản về mặt tài chính để tiến hành đổi mới DNNN nhằm giúp cho những DN nầy nâng cao sức cạnh tranh, hoạt động có hiệu quả ngày càng cao trong cơ chế thị trường

3 - Phương pháp nghiên cứu :

Phương pháp nghiên cứu vận dụng xuyên suốt trong đề tài nầy là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với việc phân tích và tổng hợp các tài liệu lịch sử về quản lý DNNN từ đó nâng thành lý luận từ các thực tiễn để chứng minh xu hướng chung - quy luật phát triển tất yếu của việc đổi mới DNNN ở nước ta nói chung và các giải pháp tài chính nói riêng

4 - Nội dung nghiên cứu :

Trong đề tài nầy, chúng tôi tập trung nghiên cứu một số nội dung sau:

9 Vai trò của tài chính trong tiến trình đổi mới DNNN

9 Thực trạng hoạt động của DNNN và tác động của tài chính trong tiến trình đổi mới DNNN Việt Nam

Trang 8

9 Đề xuất các giải pháp tài chính cơ bản đổi mới DNNN

Những điểm mới của luận án là :

œ Khẳng định một số nhận thức mới liên quan đến vai trò chủ đạo của KTNN ( chủ yếu là DNNN) trong nền kinh tế thị trường, nhận thức về cổ phần hoá DNNN …

œ Kiến nghị sửa đổi luật DNNN DNNN là doanh nghiệp một chủ nên không được phát hành cổ phiếu ra bên ngoài DNNN hoạt động công ích không được đầu tư góp vốn liên doanh, liên kết với bên ngoài

œ Kiến nghị xây dựng tương đối hoàn chỉnh cơ chế quản lý tài chính của các DNNN bao gồm tổ chức quản lý và sử dụng vốn; quản lý doanh thu, chi phí; chính sách phân phối thu nhập ( chính sách phân phối quĩ lương, thưởng, chính sách phân phối lợi nhuận sau thuế)

œ Kiến nghị các giải pháp nhằm tách rõ phạm vi quản lý nhà nước và quản lý doanh nghiệp Vai trò, nhiệm vụ chủ sở hữu và vai trò, nhiệm vụ của người quản lý trong DNNN

œ Kiến nghị một số giải pháp về tổ chức và đặc biệt là chính sách tài chính nhằm đẩy mạnh tiến trình cổ phần hoá DNNN – một hướng cơ bản của việc cải cách DNNN hiện nay

Toàn bộ nội dung trên được trình bày theo kết cấu như sau:

Phần mở đầu

Chương 1 : Vai trò của tài chính trong tiến trình đổi mới DNNN

Chương 2 : Thực trạng hoạt động của DNNN và vai trò của tài chính trong tiến trình đổi mới DNNN Việt Nam

Chương 3 : Các giải pháp tài chính cơ bản đổi mới DNNN

Phần kết luận

Trang 9

Chương 1

ĐỔI MỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC

1.1 Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và sự cần thiết đổi mới cơ

chế quản lý doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN:

1.1.1 Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong cơ cấu kinh tế nhiều thành

phần:

KTNN ở nước ta là một lực lượng quan trọng, đã được xây dựng và phát triển trong nhiều năm qua Hệ thống KTNN có vai trò chủ đạo theo nghĩa là công cụ vật chất của nhà nước để chi phối và điều tiết sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân Vai trò chủ đạo của nó gắn liền với vai trò quản lý của nhà nước đối với nền kinh tế thị trường

DNNN là một bộ phận trọng yếu cấu thành của hệ thống KTNN Do đó, một mặt, nó hoạt động bình đẳng trong cơ chế thị trường; mặt khác, tuỳ thuộc vào từng ngành, từng lĩnh vực cụ thể mà chiếm lĩnh các vị trí then chốt hoặc đóng vai trò chi phối, thực hiện chức năng kinh tế - xã hội góp phần đảm bảo cho KTNN đóng vai trò chủ đạo và định hướng về mặt xã hội

DNNN đã có lịch sử lâu đời DNNN là hình thức tổ chức kinh doanh tồn tại và phát triển theo trình độ xã hội hoá của lực lượng sản xuất là một tất yếu khách quan Điều này thể hiện rõ nhất thuộc tính tự nhiên của DNNN Các nước trên thế giới đều có DNNN với số lượng khác nhau Sự cùng tồn tại và phát triển của các DNNN và doanh nghiệp phi nhà nước tạo nên sự bổ sung lẫn nhau trong nền kinh tế mỗi nước Tuy rằng ở một số nước có tỷ trọng DNNN không lớn

Trang 10

nhưng đều là ngành hạ tầng, có tác dụng làm nền cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân

Tại các nước Aâu-Mỹ, do chịu ảnh hưởng của Keynes và do rút được bài học về khủng hoảng kinh tế với qui mô lớn nên sau chiến tranh thế giới thứ hai người ta thực hiện quốc hữu hoá lập ra một số DNNN bằng cách trưng mua, mua lại cổ phiếu trong một số ngành có ảnh hưởng tới quốc kế dân sinh như giao thông, bưu điện, năng lượng v.v…

Tại Pháp, DNNN chiếm trên 30% trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân, riêng ngành năng lượng giá trị sản lượng của các DNNN chiếm 69% tổng giá trị sản lượng của toàn ngành Ngành giao thông vận tải, các công ty đườngsắt, công

ty hàng không chủ yếu do nhà nước nắm giữ… Trong ngành tài chính và bảo hiểm, các tổ chức tài chính nhà nước nắm giữ 90% tiền gửi, 84,8% vốn cho vay, 97,2% nghiệp vụ tài chính, ngân hàng nhà nước và tổ chức bảo hiểm kiểm soát toàn diện hoạt động của hệ thống tài chính và bảo hiểm…

Các DNNN đang chiếm đa số trong nền kinh tế ở một số nước Châu Á và có vai trò quan trọng khác nhau trong nhiều lĩnh vực của nền kinh tế từ dịch vụ tài chính, SXKD nông sản đến lĩnh vực hàng không … Các doanh nghiệp đóng vai trò chủ đạo trong việc đóng góp vào GDP của mỗi nước

Tại Indonesia, tuy chỉ có 164 DNNN lại chiếm đến 29% GDP, ở Thái Lan cũng vậy, chỉ với 67 công ty thuộc chính phủ chiếm lại đến hơn 20% tổng sản phẩm quốc gia

Tại Hàn Quốc, Xingapo, Nhật Bản, Đài Loan cũng có các DNNN dưới nhiều hình thức khác nhau Tại Xingapo và Đài Loan, DNNN được hình thành

chủ yếu trên cơ sở tịch thu “ chiến lợi phẩm” sau chiến tranh thế giới thứ 2 (tiếp

quản các cơ sở sản xuất của Nhật) sau đó lại đầu tư xây dựng thêm một loạt các

Trang 11

DNNN nữa Đầu những năm 50, DNNN ở Đài Loan chiếm 70% toàn bộ nền kinh tế, đến năm 1991 vẫn còn chiếm 42% [ 5 ]

Tại Trung quốc, DNNN là trụ cột của nền kinh tế quốc dân, giữ vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội, đặt nền móng cho công cuộc công nghiệp hoá, cũng cố chế độ XHCN, nâng cao đời sống nhân dân Qua hơn 18 năm cải cách và mở cửa, thực lực của các DNNN Trung Quốc đã được tăng cường, các DNNN này luôn luôn nắm giữ huyết mạch của nền kinh tế Sự trưởng thành và lớn mạnh của DNNN làm thay đổi bộ mặt kinh tế của Trung Quốc, giúp Trung Quốc xây dựng được hệ thống công nghiệp độc lập tương đối hoàn chỉnh, thay đổi kết cấu công nghiệp, làm tăng sức mạnh tổng hợp của đất nước thể hiện trên các mặt sau:

– Thay đổi kết cấu kinh tế : biến Trung Quốc từ một nước nông nghiệp điển hình thành một nước XHCN từng bước thực hiện thành công công nghiệp hoá – Nhiều sản phẩm công nghiệp quan trọng vươn lên hàng đầu thế giới – Thay đổi căn bản về phân bố công nghiệp

– Hình thành được đội quân đông đảo, có trình độ kỹ thuật tương đối cao – Cung cấp dư dật hàng tiêu dùng thiết yếu cho nhân dân, nâng cao mức sống của người dân Trên cơ sở đó đã đẩy mạnh được xuất khẩu

– Rút ngắn được hơn 40 năm trong việc thay đổi vị trí Trung Quốc là nước lớn đông dân nhưng yếu kém về quân sự Công nghiệp quốc phòng tiến nhanh vượt bậc và là một trong số rất ít nước có thể tham gia vào việc phóng vệ tinh thương mại quốc tế

Từ đó cho thấy DNNN ở Trung Quốc chẳng những có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng nền kinh tế XHCN ở Trung Quốc mà còn giữ vai trò chủ đạo trong tiến trình hiện đại hoá đất nước

Trang 12

Sự ra đời của các DNNN tại các nước xã họâi chủ nghiã không giống như sự ra đời của các DNNN tại các nước tư bản chủ nghĩa Đặc biệt là ở thời kỳ đầu xây dựng nền kinh tế XHCN, đa số các DNNN ở thời kỳ này được cải tạo và xây dựng thông qua việc tịch thu tư sản mại bản hoặc trưng mua tư bản dân tộc Bấy giờ, cơ sở kinh tế của phần lớn các nước XHCN đều mỏng, yếu Để củng cố chính quyền mới cần phải nhanh chóng xây dựng nên hệ thống kinh tế và cơ sở kinh tế của mình

Song, thực tiễn phát triển kinh tế của các nước XHCN cho thấy sau khi các DNNN do nhà nước đầu tư xây dựng ra đời DNNN mới thật sự giữ vai trò

chủ đạo và việc xây dựng các DNNN ấy chủ yếu là nhằm thích ứng với đòi hỏi

của nền sản xuất xã hội hoá cao Vì rằng, một mặt quan hệ kinh tế trong thế giới ngày nay đã chặt chẽ hơn, xã hội hoá đời sống kinh tế đã phát triển tới trình độ quốc tế hoá, trong điều kiện đó không một nước nào có thể đóng cửa để tự xây dựng được Mặt khác, các nước lạc hậu muốn nhanh chóng chen chân vào hàng ngũ các nước tiên tiến trên thế giới thì phải dùng sức của mình để bảo vệ nền kinh tế của nước mình, gồm các DNNN mới được xây dựng Đối với Việt Nam, một nước đang phát triển, xây dựng DNNN là điều kiện tất yếu để nhanh chóng tiến kịp các nước tiên tiến trên thế giới

Như vậy, có thể nói các DNNN và các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác tại các nước nói trên hình thành quan hệ thống nhất đối lập, chế ước nhau, bổ sung cho nhau, cùng tồn tại, kích thích phát triển, tăng cường chức năng tự điều tiết của nền kinh tế Trong đó DNNN luôn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển đất nước

Tổng kết thực tiễn cơ chế quản lý kinh tế các nước trên thế giới cũng như thực tiễn ở nước ta cho thấy có hai loại cơ chế quản lý kinh tế đã từng tồn tại : kinh tế kế hoạch hoá tập trung và kinh tế thị trường

Trang 13

Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, Đảng và nhà nước ta đã lựa chọn con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miển Bắc và tiếp tục đấu tranh giải phóng miền Nam Theo chủ trương đó, công cuộc cải tạo XHCN bắt đầu được thực hiện

ở miền Bắc với nhiệm vụ thủ tiêu kinh tế tư nhân, xây dựng kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể Kết quả tất yếu là thu hẹp và dẫn đến xóa bỏ kinh tế tư bản

tư nhân để chuyển sang hình thức sở hữu toàn dân, xây dựng mới các XNQDû

Như vậy, kinh tế quốc doanh từ chỗ rất nhỏ bé vươn lên trở thành lực lượng kinh tế chủ yếu của nền kinh tế quốc dân nước ta lúc bấy giờ Với chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đi lên chủ nghĩa xã hội, vai trò chủ đạo, chủ lực đã được giao cho kinh tế quốc doanh

Trong thời gian từ năm 1960 - 1985 nền kinh tế chỉ có hai thành phần chính là quốc doanh và hợp tác xã, cơ chế kế hoạch hóa tập trung thuần túy vẫn được khẳng định và thể hiện trong thực tế Cùng với chủ trương tiếp tục củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất XHCN và công nghiệp hóa XHCN, công cuộc cải tạo XHCN ở miền Nam đã làm cho số lượng XNQD ở tất cả các lĩnh vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp đều tăng lên một cách nhanh chóng

DNNN vẫn đóng vai trò chủ đạo, tuyệt đối quan trọng trong công cuộc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng và phát triển quan hệ sản xuất mới XHCN, cũng như trong công cuộc phát triển kinh tế

Từ năm 1986 đến nay : giai đoạn bắt đầu thực hiện đổi mới cơ chế kinh tế, tư tưởng xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần được đưa ra Trong quá trình hình thành cơ chế kinh tế nhiều thành phần, công tác quản lý KTNN vẫn tiếp tục được cải tiến theo hướng phi tập trung hóa, kế hoạch hóa và quản lý đối với kinh tế quốc doanh Điểm nổi bật trong cải tiến quản lý ở giai đoạn này là việc tách bạch giữa quyền quản lý nhà nước về kinh tế và quyền quản lý SXKD

Trang 14

của các doanh nghiệp Bên cạnh đó, quan điểm mới nổi bật ở giai đoạn này là quan niệm không phải nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta chỉ có nền KTNN; chủ trương của Đảng và nhà nước ta không chỉ bó hẹp trong phạm vi cải tiến quản lý đối với KTNN mà còn phát huy sức sản xuất của kinh tế tư nhân, cá thể cũng như các thành phần kinh tế khác Trong cơ chế kinh tế mới đó, KTNN vẫn đóng vai trò chủ đạo song không phải độc tôn Năm 1990, KTNN tạo

ra 66% tổng sản phẩm xã hội

Trên phương diện kinh tế, vai trò chủ đạo của KTNN trong nền kinh tế quốc dân trong suốt các giai đoạn này được thể hiện không chỉ như là một công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện chủ trương công nghiệp hóa XHCN ở miền Bắc theo hướng ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, đáp ứng các nhu cầu của sản xuất và chiến đấu cho cả hậu phương và tiền tuyến mà còn như là tấm gương phản ánh sự thành công của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta Xét trên phương diện chính trị, xã hội, KTNN luôn luôn được quan niệm là lực lượng tiến bộ xã hội, là đội quân tiên phong trong việc tăng cường và mở rộng quan hệ sản xuất mới - quan hệ sản xuất XHCN

Như vậy, ở Việt Nam, trong thời kỳ đầu cải tạo và xây dựng CNXH ở miền Bắc và những năm đầu sau giải phóng miền Nam nước ta, thành phần KTNN mà trong đó chủ yếu là các XNQD (DNNN) là lực lượng kinh tế chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân Các doanh nghiệp nầy được hình thành từ 3 nguồn sau đây :

– Quốc hữu hoá các doanh nghiệp tư nhân, tư sản mại bản hay tiếp thu các DNNN của chế độ cũ

– Biến các doanh nghiệp tư nhân của các nhà tư sản dân tộc thành các

XN công tư hợp doanh và sau đó thành các XNQD

Trang 15

– Xây dựng mới bằng các nguồn vốn của ngân sách nhà nước, nguồn viện trợ hoặc vốn đi vay

Cơ chế quản lý kinh tế lúc đó là cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu, bao cấp, tất cả đều do ngân sách nhà nước cấp và tất cả đều phải nộp vào ngân sách nhà nước Trong thời kỳ nầy các XNQD chiếm tỷ trọng gần như tuyệt đối trong các ngành và do trung ương, tỉnh, huyện quản lý Thời kỳ nầy, DNNN được thành lập ra chủ yếu làm nhiệm vụ sản xuất ra sản phẩm hàng hoá, cung ứng lao vụ, dịch vụ để đáp ứng cho nhu cầu sản xuất và đời sống của nhân dân theo chỉ tiêu pháp lệnh của Nhà nước Đồng thời với nhiệm vụ sản xuất, giao nộp sản phẩm, DNNN với nghĩa vụ nộp vào ngân sách nhà nước các khoản tích luỹ tiền tệ đây là nguồn thu chủ yếu từ nội bộ kinh tế quốc dân Ngoài ra DNNN còn có nghĩa vụ giải quyết công ăn việc làm cho người lao động trong xã hội Một số DNNN được bố trí ở vị trí xung yếu để góp phần bảo vệ tổ quốc

Với nhiệm vụ như vậy, DNNN có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân : Đảm bảo hầu hết các mặt cân đối lớn của nền kinh tế, nó chi phối các hoạt động SXKD và đời sống xã hội Chính vì thế, DNNN đã giữ vai trò chủ đạo đối với nền kinh tế quốc dân

Thực tiễn ở nước ta trong suốt mấy mươi năm cho thấy, mặc dù trình độ phát triển của các DNNN và hợp tác xã rất khác nhau về quy mô, tình trạng trang thiết bị, vốn đầu tư, trình độ khoa học kỹ thuật, trình độ tổ chức quản lý và công nghệ song hai thành phần kinh tế nầy đã tõ rõ được sức mạnh của mình trong nền kinh tế quốc dân, đã có những đóng góp to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế phù hợp với tình hình có chiến tranh Trong những năm đó, giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân đều tăng lên hằng chục lần Trong thời kỳ nầy nói KTQD giữ vai trò chủ đạo trong toàn bộ nền

Trang 16

kinh tế quốc dân chi phối toàn bộ nền kinh tế quốc dân chắc chắn không ai có thể phủ nhận, phản bác được

Sau khi kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống xâm lược và thống nhất đất nước, đáng lẽ chúng ta phải kịp thời thay đổi những quan điểm về xây dựng kinh tế, về cơ chế kế hoạch hoá và hàng loạt các chính sách kinh tế không còn phù hợp với nền kinh tế thời bình, thế nhưng chúng ta vẫn duy trì quá lâu và áp dụng cứng nhắc cơ chế củ vào miền Nam mới được giải phóng, nơi mà nền kinh tế thị trường đã có những bước phát triển nhất định ( cơ chế nầy áp dụng trên phạm vi cả nước ), làm cho nền kinh tế ngày càng kém phát triển và thậm chí còn thụt lùi, tụt hậu so với nhiều nước khác trong vùng Đông Nam Á và thế giới

Tương ứng với thời kỳ này ở nước ta, tại Liên Xô, rút ra từ những khuyết tật của một nền kinh tế tập trung theo các phương pháp phi kinh tế và từ phương pháp đó tạo nên bộ máy chính quyền ngập trong những việc vụn vặt của cơ sở, Lênin đã nhận định bộ máy đó quá ư tệ hại, cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý đặc biệt là cơ chế quản lý kinh tế Từ đó Lênin đã đề xuất chính sách kinh tế mới

Cùng với việc chuyển các phương pháp kinh tế thay cho các phương pháp phi kinh tế đồng thời thay đổi cách tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền trong quá trình thực hiện chính sách kinh tế mới, Lênin đã khẳng định rằng : "chúng ta không hề coi lý luận của Mác như là một cái gì đã xong xuôi và bất khả xâm phạm, trái lại đó chỉ là nền móng mà chúng ta phải phát triển nếu không muốn lạc hậu với cuộc sống " [18 ]

Từ những năm 1980 về trước, nền kinh tế nước ta được vận hành theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp, hầu như không thừa nhận cơ chế thị trường, ngăn sông cấm chợ, xem thường qui luật giá trị, qui luật cung cầu, cạnh tranh

Trang 17

v.v Trong khi đó, cùng với sự phát triển khách quan của sản xuất và lưu thông hàng hóa cũng như sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế đã tất yếu nẩy sinh và hình thành thị trường ( hàng hoá, vốn, sức lao động…)

Cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao cấp đã làm mất quyền chủ động SXKD của cơ sở, kìm hảm sản xuất phát triển, triệt tiêu động lực sản xuất, không đưa được tiến bộ khoa học - công nghệ vào sản xuất, máy móc thiết bị ngày càng già cỗi, riệu rã, cán bộ quản lý thụ động, xơ cứng v.v Mâu thuẫn gay gắt trong thời kỳ nầy là một bên nhà nước can thiệp quá sâu vào công việc SXKD của các đơn vị kinh tế cơ sở trong điều kiện nguồn lực của mình có hạn, một bên là các đơn vị cơ sở đòi quyền tự chủ SXKD, họ muốn bung ra, muốn được tháo gỡ Trong điều kiện đó, sản xuất đã xa sút, nhiều doanh nghiệp có nguy cơ phải giải thể, phá sản, nhất là các doanh nghiệp dùng nguyên liệu của nước ngoài

Từ thực tiễn vốn có đó và cùng với sự phát triển trong tư duy lý luận được đánh dấu bằng nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VI, Đảng và nhà nước ta đã khẳng định nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước XHCN Sang Đại hội lần thứ VII Đảng Cộng Sản Việt Nam lại tiếp tục khẳng định đường lối đúng đắn đó : " tiếp tục xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước"

Các đặc trưng cơ bản của cơ chế thị trường là :

– Có nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường, nhiều tổ chức kinh tế, doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau ra đời cùng cạnh tranh để tồn tại, phát triển

– Các đơn vị kinh tế có quyền tự chủ về tài chính, tự do kinh doanh, vật

tư, hàng hoá được sản xuất, lưu thông một cách bình thường dựa trên cơ sở tôn

Trang 18

trọng luật pháp, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh Điều đó không đồng nghĩa với việc phải tư nhân hoá toàn bộ nền kinh tế vì các cơ sở kinh tế thuộc sở hữu nhà nước cũng có quyền tự chủ như các đơn vị kinh tế thuộc các thành phần khác

– Giá cả hàng hoá được hình thành theo cơ chế thị trường, tức là phụ thuộc vào quan hệ cung - cầu và trên cơ sở cạnh tranh Cơ chế giá như vậy phản ánh nhu cầu người tiêu dùng, có tác dụng khuyến khích các cơ sở nâng cao hiệu quả kinh tế, thúc đẩy tiến bộ khoa học kỹ thuật Đồng thời cơ chế giá đó cũng có chức năng đào thải những cơ sở làm ăn yếu kém, làm cho nền kinh tế năng động và linh hoạt hơn Mặt khác, chính sự cạnh tranh làm kìm hảm sản xuất và sự phát triển xã hội

– Các đơn vị kinh tế cạnh tranh với nhau trong khuôn khổ pháp luật Sự cạnh tranh thúc đẩy các cơ sở làm ăn có hiệu quả ngày càng lớn mạnh và dẫn đến sự phá sản của các cơ sở yếu kém

– Cơ chế thị trường chỉ có thể phát huy đầy đủ hiệu quả khi các thị trường cấu thành ( thị trường lao động, thị trường ngoại tệ, thị trường vốn ) được liên kết với nhau và thông tin thông suốt, nhanh nhạy

– Sự vận động của cơ chế kinh tế thị trường luôn có sự điều chỉnh của nhà nước bởi vì động lực vật chất của cơ chế thị trường là lợi nhuận tối đa, do đó hiện tượng buôn gian bán lận, hàng giả, hàng lậu, kinh doanh bất chấp đạo đức, pháp luật tất yếu sẽ xảy ra

Các DNNN trong các ngành kinh tế đã đóng vai trò hết sức to lớn trong sự nghiệp kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ và xây dựng hoà bình trên phạm

vi cả nước Tuy nhiên, chuyển sang cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước một số DNNN không những đã khẳng định được vị trí của mình mà còn ngày càng lớn mạnh, nhưng cũng có nhiều đơn vị không trụ nổi trong cơ chế mới, bị

Trang 19

thua lỗ kéo dài, bị mất khả năng thanh toán phải giải thể, sáp nhập làm mất uy tín của DNNN

Trước tình hình đó, có nhiều quan điểm khác nhau trong việc thực hiện cải cách DNNN

Một số ý kiến cho rằng, trong nền kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường chỉ nên phát triển DNNN một cách có chọn lọc Do đó, cần từng bước cơ cấu lại DNNN, chủ yếu tập trung vào những ngành quan trọng, những ngành mà tư nhân không được phép làm, hoặc chưa đủ khả năng làm và muốn làm tức là DNNN chỉ nên tồn tại trong những lĩnh vực và những ngành kinh tế - kỹ thuật then chốt Chỉ có trên cơ sở đó nhà nước mới đủ sức đầu tư đổi mới công nghệ, đổi mới cơ chế quản lý nhằm tạo cho nó vai trò chủ đạo, đồng thời làm cho nó trở thành một trong những công cụ đắc lực để nhà nước điều tiết

vĩ mô nền kinh tế Những lĩnh vực còn lại nên để cho các thành phần kinh tế khác đảm nhận

Ý kiến khác cho rằng các DNNN trong nền kinh tế thị trường là yếu tố bảo đảm cho định hướng XHCN, nó vẫn giữ vai trò chủ đạo, vẫn là thành phần kinh tế đóng góp nhiều nhất cho ngân sách Nhà nước Vì thế, cần phải tiếp tục phát triển DNNN trên tất cả các ngành, các lĩnh vực, phát triển về mọi phương diện Nếu coi nhẹ phát triển các DNNN sẽ xa rời định hướng XHCN

Để có được quan điểm và đề ra các giải pháp hợp lý cần thiết phải nhận thức rõ bối cảnh quá trình đổi mới và phát triển DNNN

Nước ta bắt đầu phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, các thành phần kinh tế chưa chiếm lĩnh và giữ đúng vai trò, vị trí của mình Vì vậy, việc đổi mới DNNN cũng có ý nghĩa là xác định tương quan hợp lý giữa DNNN với các thành phần kinh tế khác khả dĩ mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao nhất cho đất nước

Trang 20

Các thành phần kinh tế phi nhà nước nói chung còn nhỏ bé, đang trong giai đoạn ban đầu của sự phát triển, chưa phát huy được các tiềm năng về vốn, công nghệ, thị trường v.v

DNNN tuy hiệu quả còn kém, song do yếu tố lịch sử để lại, nó đang buộc phải đóng vai trò to lớn, gần như tuyệt đối trong nhiều lĩnh vực đối với nền kinh tế quốc dân Nhiều mặt hàng quan trọng liên quan đến sản xuất và đời sống xã hội vẫn do DNNN sản xuất và cung ứng như than đá, dầu khí, ximăng, xăng, dầu, điện Thực tiễn lại đang đòi hỏi phải đổi mới căn bản DNNN để nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội của các doanh nghiệp nầy Đó là một mâu thuẫn lớn cần phải có giải pháp xử lý thích hợp

Các thể chế pháp lý làm cơ sở cho việc chuyển hoạt động kinh tế sang

cơ chế thị trường và đổi mới DNNN hiện còn thiếu và chưa đồng bộ

Như thế, để phát triển kinh tế theo đúng định hướng XHCN cần thiết phải duy trì DNNN và DNNN phải giữ vai trò chủ đạo (vai trò chủ đạo của DNNN không nhất thiết DNNN phải chiếm tỷ trọng lớn trong các thành phần kinh tế, trong các ngành nghề như suy nghĩ trước đây mà chỉ cần bố trí hợp lý các DNNN và tiền vốn của Nhà nước, nắm chắc các ngành then chốt, huyết mạch của nền kinh tế quốc dân, thường xuyên nâng cao hiệu quả kinh doanh thì dù tỷ trọng và qui mô kinh tế nhà nước không chiếm ưu thế, tỷ trọng GDP có giảm xuống thậm chí đến 20% nó vẫn có thể phát huy vai trò chủ đạo) Bởi vì :

– DNNN là kết quả của việc quốc hữu hóa các tài sản của tư sản thực dân cũng như do ngân sách nhà nước đầu tư Ở các nước như Pêru, Pakistan, Philippin, Chilé v.v mặc dù DNNN không giữ vai trò chủ đạo nhưng mục tiêu nhằm giảm bớt quyền lực kinh tế trong tay một số ít tư nhân, để chống độc quyền của một số tư nhân và dòng họ trong đời sống kinh tế xã hội của đất nước,

Trang 21

người ta đã sử dụng biện pháp quốc hữu hóa một số công ty tư nhân nội địa biến thành DNNN chịu sự quản lý của Nhà nước

– Cần phải có DNNN để đầu tư vào những ngành quan trọng liên quan đến quốc kế dân sinh nhưng tư nhân không đầu tư hoặc phải làm nhiệm vụ dự trữ cho nhà nước về các mặt hàng chiến lược nhằm đề phòng những bất trắc xảy

ra trong tương lai do những biến động về kinh tế, chính trị trên thế giới, thiên tai như dự trữ nhiên liệu, lương thực, đầu tư vào lĩnh vực giao thông công cộng, cấp thoát nước, vệ sinh v.v

– Nhà nước cần phải nắm vững những vị trí then chốt trong nền kinh tế quốc dân, có vai trò chi phối đối với các hoạt động kinh tế đất nước như điện, nước, phân bón, thuốc trừ sâu, ngân hàng v.v

– Cần có tổ chức kinh tế lớn của quốc gia ( cở tập đoàn kinh tế ) để tạo lực hút vốn đầu tư và liên doanh với các hãng, công ty lớn ở nước ngoài hoặc làm đối trọng với các hãng, công ty lớn ở nước ngoài trong thị trường nội địa hoặc vươn ra thị trường thế giới

– Tạo thêm nguồn thu đáng kể cho ngân sách nhà nước ( duy trì đầu tư vào những ngành mà sản phẩm có nhu cầu lớn trong xã hội, lãi nhiều, ít rủi ro như rượu, bia, thuốc lá ) Nếu những ngành nầy được đổi mới và tăng cường quản lý, giám sát thì các khoản đóng góp vào ngân sách còn lớn hơn

Như vậy, việc hình thành và tồn tại các DNNN ở các nước có chế độ chính trị khác nhau có nhiều lý do nhưng đều có nguyên nhân chung là do yêu cầu quản lý vĩ mô : nhà nước phải có vai trò nhất định trong điều hành toàn bộ nền kinh tế xã hội Ngoài việc thực hiện nhiệm vụ kinh tế, DNNN còn thực hiện nhiệm vụ chính trị, còn nhằm mục tiêu xã hội, góp phần điều chỉnh sự mất cân đối giữa các vùng trong cả nước, giữa các tầng lớp dân cư v.v

Trang 22

KTNN phải giành vị trí chủ đạo trong nền kinh tế và trên thị trường bằng

cơ chế kinh doanh trong quan hệ bình đẳng với các thành phần kinh tế khác, xóa bỏ mọi hình thức độc quyền mệnh lệnh hành chính Vai trò chủ đạo của KTNN mà chủ yếu là DNNN đối với nền kinh tế phải thể hiện trên các mặt sau đây :

− DNNN hoạt động thực sự có hiệu quả, góp phần tăng thu ngân sách, hoặc giảm tối đa phần bù lỗ mà ngân sách phải chi ( đối với DNNN thuộc lĩnh vực phục vụ lợi ích công cộng, an ninh quốc phòng )

− DNNN hoạt động trong các lĩnh vực then chốt chi phối nền kinh tế quốc dân như lĩnh vực tài chính, ngân hàng, điện, bưu chính viển thông,

− DNNN đóng vai trò then chốt trong các lĩnh vực công nghệ tiên tiến, cao cấp

− DNNN liên kết được các thành phần kinh tế trong sự phát triển, góp phần nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội trong toàn bộ nền kinh tế quốc dân Đồng thời làm gương và làm lá chắn cho việc thực hiện nghiêm chỉnh luật pháp và các chế độ, chính sách của Nhà nước

− DNNN dễ tập trung vốn để xây dựng theo trọng điểm, có thể thúc đẩy việc điều chỉnh kết cấu ngành khiến chúng được bố trí hợp lý, tối ưu hoá

− DNNN thực hiện có hiệu quả mục tiêu kế hoạch phát triển đất nước đặc biệt là quan hệ kinh tế đối ngoại, tạo chỗ dựa vững chắc cho việc thực hiện chiến lược mở cửa của nhà nước ta

Tóm lại, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện qua ba chức năng sau:

1- Chức năng hướng dẫn: Chức năng này thể hiện ở chỗ kinh tế nhà nước

sẽ trở thành đòn bẩy mạnh mẽ đồng thời là cơ sở vật chất kỹ thuật để thực hiện các chính sách kinh tế và các chức năng điều chỉnh kinh tế, hướng các thành

Trang 23

phần kinh tế khác phát triển lành mạnh, hợp lý, phù hợp với yêu cầu phát triển

kinh tế – XHCN

2- Chức năng hỗ trợ và phục vụ : Khác với các thành phần kinh tế khác,

sự phát triển của kinh tế nhà nước không đơn thuần vì bản thân nó, mà quan trọng hơn cả là tạo điều kiện phát triển cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển

3- Chức năng điều tiết sự vận động của nền kinh tế quốc dân: Kinh tế nhà

nước phải thực hiện tốt hai chức năng cơ bản trên, phải nắm và điều tiết được sự vận động của nền kinh tế quốc dân Điều này đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu sự phân bố các DNNN cũng như tài sản, tiền vốn của các DNNN phải làm cho chúng phối hợp với nhau một cách hợp lý

Những chức năng cơ bản kể trên phản ánh vị trí đặc biệt của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế quốc dân, không có một thành phần kinh tế nào có thể thay thế được, đây cũng chính là thuộc tính khách quan về sự tồn tại và phát triển của kinh tế nhà nước

Như thế, vai trò điều tiết của hệ thống kinh tế Nhà nước, trong đó DNNN là một bộ phận quan trọng, không phải là vấn đề riêng có của chủ nghĩa xã hội mà là một yêu cầu có tính quy luật chung của sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là trong cơ chế thị trường Nhà nước sử dụng hệ thống kinh tế nhà nước như là một công cụ vật chất quan trọng để chi phối, điều tiết sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế theo định hướng chiến lược chung

Trong một thời gian dài, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước và DNNN chưa được nhận thức cụ thể và thống nhất đã gây khó khăn lúng túng khi định hướng và thực hiện các biện pháp đổi mới DNNN nhất là các biện pháp về sắp xếp, đa dạng hoá sở hữu DNNN Trong khi không đủ khả năng bảo đảm vốn tối thiểu cho DNNN hoạt động nhưng nhiều ngành, địa phương vẫn ham muốn duy

Trang 24

trì nhiều DNNN dẫn đến đầu tư quá tràn lan, phân tán và còn thành lập thêm những DNNN không đủ các điều kiện cơ bản để hoạt động bình thường

Vấn đề vai trò chủ đạo của DNNN như thế nào trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN cũng còn có nhiều quan điểm khác nhau Cần nhận thức rằng vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước mà Đảng và nhà nước

ta đưa ra là hoàn toàn mới mẻ Về lý luận kinh tế, chưa từng có trong hệ thống

lý luận kinh tế XHCN truyền thống cũng như trong hệ thống lý luận tư bản chủ nghĩa Đó là tinh hoa của mô hình kinh tế thị trường XHCN cùng tồn tại nhiều

thành phần kinh tế, trong đó KTNN ( mà trong đó chủ yếu là các DNNN) giữ vai trò chủ đạo Cần phải nhận thức rằng vai trò chủ đạo của DNNN không phải thể hiện ở số lượng vốn lớn, lao động nhiều, lượng DNNN lớn mà vai trò chủ đạo này phải thể hiện bằng chất lượng và hiệu qua, tính chất then chốt của nó v.v

Xu hướng của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển là thu hẹp tỷ trọng của DNNN đến mức cần thiết để giảm nhẹ gánh nặng cho ngân sách nhà nước nhưng vẫn đảm bảo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, xã hội

Qua phân tích có thể nhận thấy rằng sự tồn tại của DNNN ở nước ta là một tất yếu lịch sử, chẳng những thế mà DNNN còn phải giữ vai trò chủ đạo đối với toàn bộ nền kinh tế không những trong thời kỳ kinh tế chỉ huy ( kế hoạch hoá tập trung ) mà cả ngay trong thời kỳ chuyển sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước XHCN

1.1.2 Sự cần thiết phải đổi mới cơ chế quản lý đối với doanh nghiệp nhà nước :

Tư duy là quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào đầu óc con người, là trình độ cao của nhận thức cho phép con người thu nhận được bản chất của sự vật mà nhận thức cảm tính không vươn tới được một cách trực tiếp Sự vật hiện tượng luôn vận động và phát triển vì thế tư duy mỗi người, mỗi giai cấp, mỗi dân tộc, mỗi thế hệ là sản phẩm lịch sử Tư duy ở những thời đại khác nhau có sự

Trang 25

khác nhau Từ cuối thập niên 80 của thế kỷ nầy tình hình kinh tế, chính trị có nhiều biến động lớn cùng với sự tiến bộ vượt bậc của khoa học - kỹ thuật, đặc biệt là sự phát triển của cuộc cách mạng về công nghệ đã làm biến đổi phương pháp sản xuất của con người cả về chất về lượng Từ chỗ khai thác, chế biến các nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách ồ ạt làm cạn kiệt các nguồn tài nguyên, làm ô nhiểm trầm trọng môi trường, đến nay con người sáng tạo ra phương pháp mới khai thác, sử dụng tài nguyên một cách hợp lý hơn với năng suất hiệu quả lớn, có khả năng bảo vệ môi trường Cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền tảng sản xuất hiện đại đang đổi mới về chất, từ công cụ đến nguyên liệu, phương pháp sản xuất, quiù trình công nghệ Các ngành công nghệ sinh học, điện tử, năng lượng nguyên tử, tự động hoá, thông tin và vật liệu mới đang được phát triển mạnh và trở thành những ngành kinh tế mũi nhọn của nhiều nước Những hệ thống máy móc cồng kềnh đang được thay bằng những thiết bị kỹ thuật hiện đại, tinh vi, nhỏ bé, sạch và đẹp Vì vậy, đổi mới tư duy là yêu cầu bức thiết của cuộc sống, là quá trình có tính cách mạng nhằm nhận thức cho đúng và bổ sung những nhận thức mới về CNXH, khắc phục những sai lầm và khiếm khuyết, đề

ra những giải pháp đúng để vượt qua những khó khăn hiện tại và tiến lên

Nói đến đổi mới tư duy là phải nhấn mạnh đến đổi mới tư duy về kinh tế

vì kinh tế là khâu quyết định nhất Phải đổi mới cả phương pháp, quan niệm về công tác quản lý kinh tế Nhưng muốn đổi mới tư duy kinh tế, cần phải đổi mới

tư duy trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội, các lĩnh vực ấy có liên quan, tác động qua lại lẫn nhau Trên từng lĩnh vực, nội dung đổi mới cũng phải toàn diện bao gồm từ đổi mới quan niệm đến đổi mới cơ chế chính sách, tổ chức, cán bộ, phong cách và lề lối làm việc Nếu chỉ đơn giản đổi mới một khâu nào thì công cuộc đổi mới sẽ không thể đạt được kết quả mong muốn

Trang 26

Thực tiễn cho thấy đổi mới là cuộc cách mạng sâu sắc và toàn diện, không trên cơ sở đó không đổi mới kinh tế được Nghị quyết lần thứ 6 của trung ương Đảng ( khoá VI ) đã chỉ rõ : " Đổi mới tư duy là nhằm khắc phục những quan niệm không đúng, làm phong phú những quan niệm đúng về thời đại, về chủ nghĩa xã hội, vận dụng sáng tạo và phát triển chứ không phải xa rời những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin”

Nước ta bắt đầu chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay đã gần 15 năm, song cơ chế quản lý tài chính của ta chưa thoáng vẫn còn mang nặng tính quan liêu, bao cấp Từ luật cho đến nghị định, thông tư hướng dẫn còn mang tính chấp vá chưa đồng bộ Việc quản lý kinh tế, tài chính các DNNN của các cơ quan quản lý nhà nước chưa xuất phát từ qui luật kinh tế khách quan mà chủ yếu dựa vào khả năng quản lý của mình để đề ra các chính sách, các qui định gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp, thậm chí còn có chỗ trói buộc doanh nghiệp, hạn chế quyền tự chủ về kinh tế lẫn tài chính của doanh nghiệp như các qui định về chính sách tín dụng, lãi suất, về doanh thu, chi phí, về phân phối thu nhập nói chung và chế độ trả lương nói riêng Tất cả những vấn đề trên là do còn có sự chưa thống nhất về quan điểm, chủ trương, về nhận thức … của các ngành các cấp từ trung ương đến địa phương

Mặt khác, sau khi Liên Xô và các nước XHCN Đông Âu tan rã Việt Nam mất hẳn nguồn viện trợ quan trọng, kinh tế tuột dốc, lạm phát gia tăng… Trong tình hình đó buộc Đảng và nhà nước ta phải cải cách kinh tế nhằm tự cứu mình Từ đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng và nhà nước ta từ bỏ cơ chế quản lý kế hoạch tập trung, quan liêu, bao cấp chuyển sang nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN Từ đó, một trong những nhiệm vụ hàng đầu của

Trang 27

Đảng và nhà nước ta là phải đổi mới DNNN nhằm làm cho DNNN nói riêng và kinh tế nhà nước nói chung giữ được vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân

Vấn đề cải cách DNNN như thế nào? Cải cách DNNN tất nhiên đụng chạm đến các quan niệm truyền thống trên phạm vi lớn và mức độ sâu Qua nhiều năm tìm tòi gian khổ, nhận thức của mỗi người về cải cách DNNN đã có bước đột phá, cải cách không phải là và cũng không thể là chỉ làm sống động từng doanh nghiệp, mà là phải vực dậy toàn bộ khu vực kinh tế Nhà nước Một trong những xu hướng chung và tất yếu của quá trình cải cách DNNN là giảm số lượng DNNN và chuyển đổi sở hữu một bộ phận DNNN Tuy nhiên, không phải mọi người, mọi cấp đều nhất trí, vẫn còn nhiều người sợ cải cách như thế sẽ làm suy giảm kinh tế nhà nước và sẽ đi chệch định hướng XHCN

Cố Tổng Bí thư Nguyễn văn Linh đã phát biểu tại hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ ba khoá VI ngày 24/8/1987 như sau :

Quá trình ra đời của cơ chế mới không đơn giản, chứa đầy mâu thuẫn, trải qua những bước quanh co, phức tạp, có cả những dao động tạm thời Bài học rút

ra cho việc làm sắp tới là đòi hỏi tính kiên định, không cho phép đảo ngược xu thế đổi mới cơ chế quản lý theo hướng xác lập quyền tự chủ SXKD đối với cơ sở, không vì những thiếu xót tạm thời mà bác bỏ hoặc vi phạm tính qui luật chung là mở rộng dân chủ đầy đủ cho bên dưới, đồng thời giữ vững sự tập trung đúng đắn của bên trên

Như thế, mãi cho đến hôm nay vẫn còn có nhiều điều bất cập đòi hỏi phải được xem xét lại nhận thức rõ các qui luật kinh tế khách quan, trên tinh thần đổi mới tư duy một cách triẹât để nhằm ngày càng nâng cao năng lực quản lý Nhà nước, quản lý doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh doanh, góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển một cách vững chắc theo định hướng XHCN

Trang 28

Từ năm 1991 đến nay, nhà nước Việt Nam đã ba lần sắp xếp lại DNNN, nhiều DNNN hoạt động có hiệu quả và hiệu quả ngày càng cao, song bên cạnh đó vẫn còn nhiều DNNN làm ăn kém hiệu quả thậm chí không có hiệu quả, qui mô của DNNN còn nhỏ, còn dàn trải và chậm đổi mới khoa học - công nghệ …, một số DNNN tồn tại được là nhờ những ưu đãi của nhà nước nếu không có những ưu đãi này thì không thể tồn tại được Vì thế cần phải tiếp tục đổi mới DNNN về mặt tổ chức, về cơ chế quản lý … để DNNN có thể thích nghi với nền kinh tế thị trường, giúp DNNN nâng cao sức cạnh tranh trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực và thế giới

1.2 Vai trò của tài chính trong tiến trình đổi mới doanh

nghiệp nhà nước:

1.2.1 Cơ chế quản lý tài chính – một nhân tố trọng yếu trong hoạt động của

doanh nghiệp nhà nước:

Trong hoạt động hàng ngày của mình, mỗi doanh nghiệp phải xử lý hàng loạt các vấn đề tài chính Đó là các vấn đề về huy động, quản lý, sử dụng vốn, về bảo toàn và phát triển vốn, về vay nợ và trả nợ, về phân phối doanh thu và lợi nhuận, về hình thành các quỹ tiền tệ phục vụ cho nhu cầu sản xuất và phúc lợi tập thể, về thực hiện nghĩa vụ với Nhà nước, với khách hàng và với các đối tượng quan hệ khác… Tất cả các bộ phận trên hợp thành một thể thống nhất là cơ chế quản lý tài chính Cơ chế quản lý tài chính sẽ quy định phạm vi, giới hạn của các mối quan hệ đó Để hiểu rõ vai trò của cơ chế tài chính trong phạm vi doanh nghiệp cần phải hiểu rõ bản chất và vai trò của tài chính doanh nghiệp

1.2.1.1 Bản chất tài chính doanh nghiệp:

Để có thể thực hiện tốt nhiệm vụ, các doanh nghiệp cần phải có vốn tiền tệ ban đầu để xây dựng, mua sắm các đối tượng lao động, để trả lương, khen

Trang 29

thưởng, tiến hành nghiên cứu thí nghiệm, cải tiến kỹ thuật Việc chi dùng thường xuyên vốn tiền tệ đòi hỏi phải có các khoản thu bù đắp tạo nên quá trình luân chuyển vốn

Như vậy, trong quá trình thực hiện nhiệm vụ, tại DN phát sinh nhiều mối quan hệ kinh tế Song song với những quan hệ kinh tế thể hiện một cách trực tiếp là các quan hệ kinh tế thông qua tuần hoàn luân chuyển vốn, gắn với việc hình thành và sử dụng vốn tiền tệ Các quan hệ kinh tế này thuộc phạm trù tài chính Tài chính doanh nghiệp ra đời từ nền kinh tế hàng hóa và trở thành công cụ quản lý SXKD ở các doanh nghiệp

Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong lĩnh vực SXKD gắn liền với việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ ở các

doanh nghiệp để phục vụ và giám đốc quá trình SXKD

Chính vì các mối quan hệ kinh tế biểu hiện dưới hình thái giá trị tồn tại một cách khách quan trong lĩnh vực SXKD gắn liền với việc hình thành và sử dụng các loại quỹ bằng tiền của doanh nghiệp nên cũng có tác giả nêu bản chất tài chính doanh nghiệp một cách ngắn gọn như sau :

“Tài chính doanh nghiệp là các quỹ bằng tiền của doanh nghiệp Hình thái vật chất của các quỹ bằng tiền này có thể là nhà cửa, máy móc, thiết

bị, nguyên vật liệu, vốn bằng tiền và các loại chứng khoán có giá…” [14]

1.2.1.2 Vai trò của tài chính doanh nghiệp :

Vai trò của tài chính doanh nghiệp sẽ trở nên tích cực hay thụ động, mờ nhạt đối với sản xuất trước hết phụ thuộc vào trình độ của người quản lý trong việc sử dụng và khai thác khả năng tài chính

TCDN là một mặt kinh tế không thể thiếu được, nó có mối quan hệ chặt chẽ, có tác động qua lại với các hoạt động khác của doanh nghiệp

Trang 30

Tổ chức và quản lý tốt tài chính doanh nghiệp sẽ tạo điều kiện để đảm bảo cho doanh nghiệp có đầy đủ những yếu tố cơ bản để không ngừng mở rộng SXKD Ngược lại, kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp cùng tác động trực tiếp tới tài chính doanh nghiệp Việc tiêu thụ hàng hóa, cung ứng dịch vụ đều đặn kịp thời sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp thường xuyên có vốn tiền tệ nhằm đáp ứng mọi nhu cầu chi tiêu cần thiết Việc hạ thấp chi phí SXKD, tăng năng suất lao động, tiết kiệm nguyên nhiên liệu sẽ tăng được tích luỹ, giảm bớt lượng nhu cầu về vốn tiền tệ nhờ đó tình hình tài chính của doanh nghiệp sẽ thuận lợi

Như thế, tài chính doanh nghiệp có các vai trò sau :

– Chủ động tạo lập vốn, bảo đảm vốn cho SXKD

– Tổ chức sử dụng vốn một cách tiết kiệm và hiệu quả

– Vai trò đòn bẩy kích thích SXKD

– Công cụ quan trọng kiểm tra, kiểm soát hoạt động SXKD

Trong thực tế ở các nước có nền kinh tế hàng hóa phát triển, thường nhà quản lý tài chính chiếm địa vị cao trong cơ cấu tổ chức của doanh nghiệp như giám đốc, phó tổng giám đốc đôi khi chính tổng giám đốc đảm nhận Mặt khác, thẩm quyền về tài chính ít khi được phân quyền hay ủy quyền cho cấp dưới vì các quyết định về tài chính có thể liên quan trực tiếp đến sự tồn vong của doanh nghiệp Ví dụ như quyết định bán chịu một lượng lớn hàng hóa cho khách, phát hành thêm cổ phiếu

Tài chính doanh nghiệp có vai trò quan trọng như thế nên cần phải có cơ chế quản lý thích hợp để tài chính doanh nghiệp phát huy được tối đa chức năng của mình nhằm thực hiện được mục tiêu của doanh nghiệp Nếu các cơ chế quản lý tài chính được sắp xếp, bố trí hợp lý và được phân định rõ ràng thì sẽ tạo động lực thúc đẩy cơ chế hoạt động tốt và mang lại hiệu quả cao và ngược lại, nếu cơ

Trang 31

chế tài chính không hợp lý sẽ là rào chắn sự phát triển của doanh nghiệp, chẳng những doanh nghiệp không thể phát triển được mà còn có thể suy thoái

Trên cơ sở tổng kết kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển ( Tây Âu, Nhật, Mỹ, các nước NICs) trong việc xây dựng và hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính doanh nghiệp, GS TS Nguyễn Ngọc Lâm đã rút

ra vai trò quan trọng của tài chính doanh nghiệp , có thể tóm tắt như sau: [ 17 ]

1 Quản lý có kế hoạch và vai trò của việc lập kế hoạch tài chính trong quá trình quản lý:

Để mô tả quá trình quản lý cấp công ty, chuyên gia quản lý Thuỵ Điển đã đưa ra một số sơ đồ gồm năm khâu, trong đó kế hoạch hoá được xem là khâu đầu tiên quan trọng

Tuy nội dung hoạt động của kế hoạch hoá được luận giải khác nhau theo các quan niệm của các trường phái quản lý, song tựu trung lại có thể khái quát thành các vấn đề chính: chẩn đoán và dự báo chiến lược về môi trường và nội bộ; kế hoạch hoá chiến lược; kế hoạch hàng năm và kế hoạch tác nghiệp

Với nội dung đó, theo Rôney, nhà kinh tế học Anh, thì hoạt động kế hoạch hoá cấp công ty sẽ thực hiện được hai chức năng cơ bản là: dự phòng ( tức rủi ro có tính toán để tráng các cạm bẩy và cám dỗ của thị trường) và tấn công (tức khai thác mọi cơ hội kinh doanh muôn vẽ trên thị trường để giành lợi nhuận cao), từ đó xác định cho mình hướng đi trước mắt và lâu dài

Điểm xuất phát của việc nghiên cứu xây dựng phương án kinh doanh là nhu cầu thị trường và sự khan hiếm về nguồn lực Kế hoạch hoá là một trong những cách thức để phân bố các nguồn lực có hạn nhằm thực hiện có hiệu quả các mục tiêu sản xuất kinh doanh Còn xây dựng kế hoạch là nghiên cứu để tìm

ra cách thức tối ưu đó Bằng việc xây dựng và thực hiện các phương án với hiệu quả cao, tính toán chi ly, phân bổ hợp lý, triệt để tiết kiệm các nguồn lực, trên

Trang 32

thực tế các công ty ở các nước phát triển đã thực hiện cơ chế quản lý có kế hoạch theo phương thức hạch toán kinh doanh, tự trang trải và kinh doanh có lãi Đó cũng chính là phương hướng đổi mới cơ chế kế hoạch hoá và quản lý mà các doanh nghiệp nước ta đang hướng tới

2 Vốn được hình thành từ nhiều nguồn, đặc biệt là từ thị trường vốn, với một cơ chế rõ ràng và sòng phẳng:

Kinh nghiệm của các nước có nền kinh tế thị trường phát triển cho thấy:

9 Nhu cầu vốn của doanh nghiệp phải được khai thác từ thị trường vốn

Vì vậy, nhà nước cần sớm hoàn thiện thị trường vốn và tạo đầy đủ điều kiện để thị trường này hoạt động theo đúng thực chất của nó Có như vậy mới thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài tham gia vào thị trường vốn, mới tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước tiếp xúc trực tiếp vớùi các nguồn vốn và các đối tác nước ngoài

9 Quy định chặt chẽ và thực hiện nghiêm các qui định về lập, thẩm định dự án đầu tư, chuyển giao công nghệ; duyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật, lập dự toán, quyết toán theo đúng qui định, cấp vốn theo đúng mục tiêu

9 Liên doanh với nước ngoài là là một hình thức liên kết kinh tế và huy động vốn đã được nhiều nước áp dụng có hiệu quả Đó là con đường để các nước chậm phát triển tiếp cận nhanh với các nước tiên tiến Tuy còn các thiếu xót nhất định, song liên doanh vẫn đang là hướng có triển vọng

9 Sử dụng tổng hợp vốn, quỹ, thực hiện khấu hao nhanh để đổi mới kỹ thuật- công nghệ là biện pháp quan trọng để đạt hiệu quả cao trong hoạt động sản xuất kinh doanh

9 Mục tiêu nâng cao hiệu quả và phát triển sản xuất kinh doanh của các nước có khác nhau , tuỳ theo đặc điểm và điều kiện của mỗi nước Chẳng hạn, các công ty ở Tây Âu và Mỹ tập trung vào việc nâng cao tỷ suất lãi trên

Trang 33

vốn đầu tư và giá trị cổ phiếu, trong khi các công ty Nhật Bản và các nước Nic lại tập trung đổi mới kỹ thuật – công nghệ, nâng chất lượng sản phẩm, hạ giá bán để tăng cường khả năng cạnh tranh và mở rộng thị trường

3 Nguyên tắc bao quát trong phân phối đối với các doanh là phân phối theo tỷ lệ vốn đóng góp và phân phối theo lao động đối với lao động tạo ra của cải vật chất:

Theo nguyên tắc này thì thu nhập của chủ doanh nghiệp, của lao động kỹ thuật và quản lý có trình độ cao ở các nước phát triển nhiều hơn gấp nhiều lần so với người lao động bình thường Điều đó chẳng những được chấp nhận như là một sự hợp lý, mà còn là mục tiêu kích thích những ai muốn có thu nhập cao và trình độ nghề nghiệp giỏi

Tuy vậy, sự chênh lệch về lương giữa lao động phổ thông với lao động kỹ thuật và quản lý ở Nhật Bản không lớn bằng ở các công ty Mỹ và Tây Âu

4 Quan tâm phát triển nhân tố con người trên cả hai phương diện: sử dụng trước mắt và đào tạo bồi dưởng (vật chất và tinh thần) cho tương lai:

Vấn đề này được các công ty Nhật Bản và các nước NICs rất quan tâm Nhóm chuyên gia kinh tế Boston đã nhận xét: Nhật Bản đã vươn lên trở thành cường quốc kinh tế với ba chiến lược chính: Chiến lược Marketing, chiến lược tài chính và chiến lược con người

5 Trong các loại lợi ích kinh tế, người ta thường chú trọng đến lợi ích

cá nhân trực tiếp của người lao động:

Các công ty Nhật Bản chẳng những chăm lo giải quyết công bằng về tiền lương , mà còn chăm lo đến đời sống gia đình của họ Họ mong các thế hệ nối tiếp nhau trong gia đình đều yên tâm làm việc cho công ty

Trang 34

6 Những chính sách thuế hoàn chỉnh với quy chế thực hiện nghiêm

túc, không phân biệt đối xử đã và đang là một trong các yếu tố bảo đảm cho sự ổn định và phát triển:

Kinh nghiệm của các công ty ở các nước phát triển trên thế giới rất phong phú Song, mỗi nước có trình độ và hoàn cảnh khác nhau, do đó điều quan trọng là mỗi nước phải biết chắt lọc những kinh nghiệm phù hợp với điều kiện và trình độ quản lý của nước mình

1.2.2 Vai trò của tài chính nhà nước trong tiến trình đổi mới doanh nghiệp nhà

nước :

Tài chính, cơ chế quản lý tài chính thực sự là công cụ quản lý và điều chỉnh vĩ mô cực kỳ quan trọng vì vậy việc tìm hiểu và nhận thức đúng phạm vi, tính chất, vai trò, chức năng của nó không chỉ cần thiết đối với nhà nước mà cả đối với hoạt động của một chủ thể kinh tế

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung với sự định hướng phát triển và thể chế tương ứng nhằm đạt tới sự thuần nhất về thành phần và sở hữu, cơ chế quản lý tài chính của Việt Nam cũng như các nước XHCN trước đây mang một số đặc trưng:

− Tập trung, mệnh lệnh và quan liêu cao độ: mọi nguồn lực tài chính đều thâu tóm vào tay nhà nước, phân bố và sử dụng theo kế hoạch và mệnh lệnh của nhà nước

− Mang nặng tính bao cấp dưới nhiều hình thức thông qua hệ thống tài chính nhà nước, kết cục là thủ tiêu các đòn bẩy kinh tế vốn có của tài chính, hiệu quả kinh tế, phân phối và sử dụng các nguồn tài chính không được chú ý đúng mức

− Song song với quá trình nhà nước hoá nền kinh tế là sự đơn điệu hoá tài chính với sự hiện diện chủ yếu là tài chính nhà nước, kết cục là thủ tiêu cơ

Trang 35

sở tồn tại và phủ nhận vai trò, quan hệ của các nguồn lực và hệ thống tài chính phi nhà nước

− Quan hệ giữa nhà nước và các đơn vị kinh tế là quan hệ cấp phát và giao nộp, quan hệ giữa các chủ thể trong nền kinh tế diễn ra hoàn toàn theo sự chỉ huy của nhà nước, theo sự lắp ghép của hệ thống kế hoạch…

Ngược lại, kinh tế thị trường phát triển theo hướng ngày càng đa dạng hoá hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và quan hệ kinh tế – tài chính thông qua quá trình thương mại hoá sâu sắc đời sống kinh tế – xã hội nhờ có hệ thống thị trường đa dạng, không ngừng phát triển, còn nhà nước chủ yếu giữ vai trò tạo cơ sở pháp lý và quản lý, điều chỉnh kinh tế vĩ mô Trong kinh tế thị trường, không gian, phạm vi tác động, quan hệ tài chính được mở rộng không ngừng và hình thành các mạng lưới quan hệ giữa các tụ điểm kinh tế – tài chính, giữa các chủ thể kinh tế với nhau

Như vậy, trong kinh tế thị trường phạm vi quan hệ kinh tế đến đâu thì lĩnh vực tác động, chi phối của tài chính đến đó, có bao nhiêu dạng quan hệ kinh tế thì có bấy nhiêu dạng hoạt động tài chính Phạm vi, tác động và quan hệ tài chính trong kinh tế thị trường được xây dựng dựa trên hệ thống pháp chế hoàn chỉnh và chi tiết

Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống tài chính mặc dù không thâu tóm hết các nguồn lực tài chính như trong kinh tế kế hoạch, song tài chính nhà nước vẫn chiếm một tỷ trọng lớn nhất và cũng giữ vai trò quyết định, chi phối các thành phần kinh tế khác Thể hiện qua các phương diện sau :

− Chi phối các thành phần kinh tế khác thông qua hệ thống thu – chi ngân sách trên cơ sở luật pháp xác định nghĩa vụ của các thành phần kinh tế khác

Trang 36

− Chi phối một nguồn lực tài chính rất lớn trong phạm vi cả nước Nguồn tài chính này gắn liền với sự tồn tại của guồng máy nhà nước, chức năng và vai trò điều chỉnh vĩ mô của nhà nước, khu vực kinh tế nhà nước

− Duy trì và tái tạo môi trường kinh tế, các điều kiện tiên quyết cho các thành phần kinh tế – tài chính khác tồn tại và phát triển

Vai trò của tài chính là sự vận dụng các chức năng của tài chính trong thực tiễn nhằm góp phần giải quyết những nhiệm vụ kinh tế xã hội đặt ra trong những giai đoạn lịch sử nhất định

Trong những năm qua, nền kinh tế nước ta đã chuyển sanh kinh tế thị trường theo định hướng XHCN đã tạo nên những điều kiện thuận lợi để tài chính phát huy được vai trò của nó

Trong nền kinh tế thị trường , tài chính có vai trò quan trọng :

9 Cân đối cung cầu về nguồn tài chính:

Nền kinh tế thị trường đòi hỏi mọi hoạt động kinh tế – xã hội phải có những nguồn tài chính nhất định Nếu như trong cơ chế kế hoạch hoá trực tiếp , mệnh lệnh, kế hoạch và cung ứng vật tư theo lệnh độc lập tương đối với nguồn tài trợ, hoạt động kinh tế - xã hội vẫn có thể được tiến hành, nhưng trong nền kinh tế thị trường không thể có tình trạng đó, nhất là trong điều kiện nước ta hiện nay đang có những mục tiêu kinh tế – xã hội rất lớn như vấn đề tăng trưởng kinh tế, tạo công ăn việc làm, ổn định và cải thiện đời sống nhân dân, giải quyết các vấn đề xã hội… Để thực hiện những mục tiêu đó đòi hỏi một khối lượng nguồn lực tài chính khổng lồ Song, đáp ứng nhu cầu đó không thể trông chờ vào ngân sách nhà nước vì khả năng tăng động viên thu nhập quốc dân vào ngân sách rất hạn chế, hơn nữa cũng không thể lặp lại sai lầm là dùng ngân sách để bao cấp cho mọi nhu cầu của nền kinh tế

Trang 37

Cân đối cung cầu về nguồn lực tài chính bằng cách tìm cách nâng cao cung về nguồn lực, đó là điều có thể làm được thông qua việc sử dụng tổng hợp các công cụ tài chính, các khâu của hệ thống tài chính Có thể thực hiện điều đó bằng cách phân luồng các nhu cầu tài trợ, chỉ dùng ngân sách cho những nhu cầukhông thể dùng nguồn khác, phát triển đa dạng các hình thức và phương pháp tài trợ , gắn liền với sự đa dạng các khâu tài chính, gọi vốn đầu tư và cổ phần nước ngoài, hình thành và sử dụng thị trường ct để tài trợ và thực hiện phổ biến nguyên tắc tự trang trải, tự cấp phát cho các nhu cầu sản xuất - kinh doanh Nếu làm được việc cân đối cung cầu nguồn lực tài chính như vậy vai trò tài chính sẽ trở nên chủ động và tích cực hơn trong việc khai thác các nguồn lực tài chính ở trong và ngoài nước nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế từng giai đoạn Tuy nhiên, vai trò đó có được thực hiện hay không còn ohụ thuộc vào việc xây dựng và thực hiện các chính sách và cơ chế tài chính phù hợp với đặc điểm, tình hình kinh tế – xã hội nước ta và mục tiêu nhiệm vụ ở từng giai đoạn

9 Tài chính có vai trò điều hoà kinh tế vĩ mô gắn liền với việc Nhà

nước sử dụng công cụ thuế, chi tiêu ngân sách, trợ giá từ ngân sách, tạo môi trường kinh tế và điều kiện để kích thích hay hạn chế những lĩnh vực kinh tế hay xã hội, gắn liền với việc bố trí lực lượng dự trữ quốc gia, tổ chức dự trữ lưu thông để bảo hiểm cho sự phát triển đất nước khi bị thiên tai địch họa và để điều hoà cung cầu hàng hoá, vật tư , tạo điều kiện ổn định giá cả, tiền tệ, giữ cho nền kinh tế phát triển bình thường

Để thực hiện vai trò điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế thì tài chính, mà trước hết là tài chính Nhà nước phải được sử dụng những công cụ chính để thực hiện kế hoạch hoá gián tiếp, thay thế cho kế hoạch hoá trực tiếp Vai trò đó của tài chính có đạt được hay không còn tuỳ thuộc vào chính sách tài chính của nhà

Trang 38

nước và một số điều kiện khác, gắn liền với việc Nhà nước sử dụng đồng bộ các công cụ tài chính, tiền tệ, pháp luật, thương mại và tỷ giá

9 Tài chính phải thực hiện công bằng xã hội, góp phần thực hiện chức năng công bằng của Nhà nước pháp quyền:

Những khuyết tật và hạn chế của nền kinh tế kế hoạch hoá cũng như những hậu quả nặng nề về mặt xã hội của nền kinh tế nước ta sau chiến tranh chỉ có thể được sửa chữa và khắc phục bằng sự điều tiết của Nhà nước thông qua các công cụ thuế, trợ cấp và chi tiêu ngân sách, hệ thống luật pháp

Thuế phải trở thành công cụ tài chính quan trọng để điều tiết và phân phối lại một cách thoả đáng những thu nhập cao, chưa hợp lý của một số tầng lớp dân

cư trong xã hội, thực hiện xoá bỏ bao cấp nhà ở trong khu vực Nhà nước, chi tiêu ngân sách cho một số nhu cầu có tính chất xã hội như văn hoá, giáo dục, y tế … cần được ưu tiên xem xét thoả đáng cho phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước Hệ thống hỗ trợ thu nhập hoặc trợ cấp của Nhà nước đối với các gia đình thương binh , liệt sĩ, những người già yếu, neo đơn, những người tàn tật, trẻ mồ côi cũng cần được coi là những công cụ quan trọng của chính sách tài chính Nhà nước nhằm góp phần thực hiện công bằng xã hội

Nói về vai trò của tài chính Việt Nam, trong buổi hội thảo với Học viện Tài chính – tiền tệ Trung Quốc, các chuyên gia tài chính của Bộ Tài Chính Việt Nam cho rằng tài chính Việt Nam có ba vai trò quan trọng sau đây [ 36 ]

9 Tài chính là một trong những nhân tố quan trọng góp phần hình thành nền kinh tế nhiều thành phần ở Việt nam

Nền kinh tế nhiều thành phần được hình thành và phát triển ở Việt Nam dưới tác động của nhiều nhân tố đổi mới Trong đó, nhân tố tài chính có vị trí cực kỳ quan trọng Sự tác động của tài chính đối với việc phát triển nền kinh tế nhiều thành phần được thể hiện trên hai phương diện :

Trang 39

Một là, tạo môi trường pháp lý về tài chính thúc đẩy sự phát triển các thành

phần kinh tế đi đúng quỹ đạo của tiến trình đổi mới Trên phương diện này, trong quá trình chuyển đổi, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chú ý đến việc cải cách cách hệ thống thuế, từng bước thể chế hóa các chế độ tài chính trong các đơn vị kinh tế, đồng thời tiến hành cải cách các khoản chi tiêu công cộng

Cùng với việc cải cách hệ thống thuế, nhà nước Việt Nam cũng từng buớc nghiên cứu thể chế hoá chế độ tài chính trong các đơn vị kinh tế Đặc biệt, trong giai đoạn chuyển đổi, các DNNN trên phương diện quản lý tài chính, hàng loạt các chính sách, chế độ tài chính mới, được áp dụng Việc thể chế hoá các chính sách, chế độ tài chính trong các đơn vị kinh tế làm lành mạnh hoá tình hình tài chính của các đơn vị, mặt khác tạo cơ sở pháp lý để các thành phần kinh tế yên tâm hoạt động

Ngoài ra, việc cải cách các khoản chi tiêu công cộng theo hướng tiết kiệm, chống bao cấp cũng có ý nghĩa quan trọng trong việc làm lành mạnh hoá nền tài chính, giảm được sự đóng góp của các thành phần kinh tế, kìm chế lạm phát có nguyên nhân từ các khoản chi tiêu của chính phủ

Hai là, thực hiện việc hỗ trợ về mặt tài chính theo cách thức đổi mới tạo

điều kiện vật chất nhất định cho các thành phần kinh tế hoạt động

Theo hướng này, trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế, Đảng và nhà nước đã thi hành chính sách tín dụng mở rộng cho các thành phần kinh tế, hình thành hệ thống các quỹ ngoài NSNN để hỗ trợ cho hoạt động kinh tế của các thành phần Hệ thống bảo hiểm trong nền kinh tế từng bước phát triển với nhiều loại hình thích hợp cũng góp phần ổn định hoạt động SXKD của các thành phần kinh tế Ngoài ra, trong qúa trình chuyển đổi nền kinh tế, / thị trường tài chính ngắn hạn, dài hạn từng bước được hình thành góp phần quan trọng trong việc giao lưu vốn giữa các thành phần kinh tế

Trang 40

9 Vai trò tài chính trong quá trình hình thành hệ thống thị trường, tạo môi trường cạnh tranh

Nền kinh tế thị trường là một nền kinh tế hàng hoá, tiền lệ phát triển ở mức độ cao Ở đó, mọi hoạt động kinh tế, chủ yếu được điều chỉnh bởi các quy luật của kinh tế thị trường

Có thể nhìn nhận vai trò của tài chính trong quá trình thúc đẩy thị trường phát triển ở Việt Nam trên những điểm chủ yếu sau đây :

– Cải cách cơ chế tài chính:

Mục tiêu hàng đầu của việc cải cách cơ chế tài chính ở Việt Nam trong quá trình chuyển đổi là xoá bỏ cơ chế bao cấp “xin cho” vốn đã tồn tại lâu đời trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, làm cho cơ chế tài chính phù hợp với những yêu cầu đặt ra của cơ chế thị trường

Trong cơ chế thị trường các yếu tố sản xuất thể hiện rõ ràng tính chất hàng hoá, quan hệ sở hữu phải rõ ràng, có nhiều thành phần kinh tế tham gia với sự bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ và tự chủ động kinh doanh, tự chủ tài chính Đồng thời trong cơ chế thị trường, sự điều tiết vĩ mô của Nhà nước mang tính chất gián tiếp thông qua pháp chế và các công cụ tài chính, kinh tế

Những biện pháp cải cách cơ chế tài chính của Việt Nam thời gian qua đã cố gắng dựa trên những cơ sở đó để xác định mục tiêu và phương hướng cải cách

Cụ thể, trong quá trình chuyển đổi chúng ta đã thực hiện xoá chế độ bao cấp về vật tư, tiền vốn đối với các doanh nghiệp nhà nuớc, biến nền tài chính bao cấp thành nền tài chính mang tính kinh doanh Đồng thời trong phân phối tài chính giữa Nhà nước với các chủ thể kinh tế đã có sự chú ý thích đáng nên mối quan hệ tích tụ và tập trung, theo hướng tăng cường các khoản tích tụ của cơ sở

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w