1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế - Nghiên cứu trường hợp các Quốc gia Đông Nam Á : Luận văn thạc sĩ

79 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 79
Dung lượng 732,39 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản chất của thuế Mặc dù thuế được coi là công cụ chủ yếu để huy động tập trung nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng không có nghĩa là nhà nước có thể quy định mức động viên thuế cao

Trang 1

NGUYỄN PHI KHANH

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỔNG SỐ THU THUẾ

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, năm 2013

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN PHI KHANH

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN TỔNG SỐ THU THUẾ

NGHIÊN CỨU TRƯỜNG HỢP CÁC QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã số: 60340201

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Quốc Hùng

TP Hồ Chí Minh, năm 2013

Trang 3

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

TÁC GIẢ LUẬN VĂN

NGUYỄN PHI KHANH

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng, biểu

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Chương 1: Lời mở đầu 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phương pháp nghiên cứu 2

1.4 Đối tượng nghiên cứu 2

1.5 Dữ liệu nghiên cứu 2

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

1.7 Bố cục của luận văn 3

Chương 2: Cơ sở lý thuyết 5

2.1 Tổng quan về thuế 5

2.2 Các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế 26

2.3 Mô hình nghiên cứu 34

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu 37

3.1 Phương pháp nghiên cứu 37

3.2 Đo lường các biến trong mô hình nghiên cứu 38

3.3 Dữ liệu nghiên cứu thực nghiệm 39

3.4 Kỹ thuật hồi qui 44

Chương 4 Kết quả và thảo luận 48

4.1 Phân tích bằng đồ thị 48

4.2 Kết quả 51

Chương 5 Kết luận 53

Trang 5

5.1 Kết luận 535.2 Hàm ý chính sách 53Tài liệu tham khảo

Phụ lục

Trang 6

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

ADB Ngân hàng Phát triển châu Á

ASEAN Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

FEM Mô hình các ảnh hưởng cố định

FTA Hiệp định thương mại tự do

GDP Tổng sản phẩm quốc nội

GNP Tổng sản phẩm quốc gia

OLS Bình phương bé nhất thông thường

REM Mô hình ảnh hưởng ngẫu nhiên

WTO Tổ chức Thương mại Thế giới

Trang 7

Danh mục các bảng, biểu

Bảng 3.1 Thống kê mô tả dữ liệu của các biến giải thích 40Bảng 4.1 Kết quả hồi qui theo các phương pháp 51

Trang 8

Danh mục các hình vẽ, đồ thị

Hình 2.1 Mô hình nghiên cứu 34

Hình 3.1 Tổng số thu thuế (%GDP) 41

Hình 3.2 Ln GDP bình quân đầu người 41

Hình 3.3 Độ mở thương mại (%GDP) 42

Hình 3.4 Tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP (%GDP) 42

Hình 3.5 Tỷ trọng ngành công nghiệp trong GDP (%GDP) 43

Hình 3.6 Lạm phát 43

Hình 4.1 Tổng số thu thuế và ln của GDP bình quân đầu người 48

Hình 4.2 Tổng số thu thuế và độ mở thương mại 49

Hình 4.3 Tổng số thu thuế và tỷ trọng nông nghiệp 49

Hình 4.4 Tổng số thu thuế và tỷ trọng công nghiệp 50

Hình 4.5 Tổng số thu thuế và lạm phát 50

Trang 9

Chương 1: Lời mở đầu 1.1 Lý do chọn đề tài

Chức năng chính của một hệ thống thuế là tạo số thu thuế đủ để tài trợ các khoản chi tiêu cần thiết cho hàng hoá và dịch vụ được cung cấp bởi chính phủ Theo Kaldore (1963), nếu một quốc gia muốn phát triển, nó phải thu thuế cao hơn các nước đang phát triển từ 10 – 15% Thuế là một trong những công cụ tốt nhất để thúc đẩy khả năng hoạt động của ngành công cộng, để tài trợ cho chương trình bảo hiểm xã hội và để trả nợ các khoản nợ công

Để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, cần một nỗ lực phối hợp

từ cả các nước phát triển và các nước đang phát triển Viện trợ từ các nước phát triển sẽ phải tăng đáng kể để đạt được các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ Các nước phát triển cũng cần tập trung cải thiện việc tiếp cận thị trường cho xuất khẩu của các nước đang phát triển bằng cách loại bỏ thuế quan và trợ cấp trong nước

Tuy nhiên, do sự phụ thuộc quá nhiều vào tài chính nước ngoài trong thời gian dài có thể dẫn đến vấn đề về bền vững nợ, do đó các nước đang phát triển cần phải dựa chủ yếu vào huy động nguồn thu trong nước Kinh nghiệm với huy động nguồn lực trong các nước đang phát triển trong vòng 25 năm qua đã bị pha trộn Ở các nước như Botswana, Israel, Kuwait và Seychelles, tỷ trọng số thu thuế/GDP của chính phủ trung ương tăng hơn 40% Mặt khác, các nước như Argentina, Nigeria, Guatemala và Burkina Faso đã rất khó khăn để tăng số thu thuế của họ trên 11%

Trong bài nghiên cứu này, chúng ta xem những yếu tố cấu trúc như thu nhập bình quân đầu người, độ mở thương mại, tỷ trọng ngành nông nghiệp và công nghiệp trong GDP và lạm phát có thể giải thích sự thay đổi trong nguồn huy động của các nước đang phát triển Cụ thể hơn, chúng ta nhìn vào những yếu tố chính tác động đến tổng số thu thuế của chính quyền trung ương, và phân tích

Trang 10

mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này

Để các nước Asean, trong đó có Việt Nam giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào tài chính nước ngoài, bằng cách dựa chủ yếu vào huy động nguồn thu trong nước, trong đó thuế là nguồn thu chính Đề tài “Các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế - nghiên cứu trường hợp các quốc gia Đông Nam Á” được lựa chọn để thực hiện và nghiên cứu thực nghiệm

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu và phân tích tác động của các yếu tố đến tổng số thu thuế của các quốc gia Đông Nam Á như thế nào?

Kết quả thực nghiệm có thể được dùng như những khuyến nghị cho các chính sách liên quan đến thu thuế ở các quốc gia Đông Nam Á, đặc biệt là ở Việt Nam, thông qua các kết quả tác động của các yếu tố đến tổng số thu thuế

1.3 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu định lượng

1.4 Đối tượng nghiên cứu

Phân tích ảnh hưởng của các biến đến tổng số thu thuế

Biến phụ thuộc: tổng số thu thuế

1.5 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng

Thu thập dữ liệu bảng hàng năm của 7 quốc gia Asean (Cambodia,

Trang 11

Indonesia, Lao, Malaysia, Philippines, Thailand, Viet Nam) trong giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2012 Các dữ liệu này được trích xuất từ bảng dữ liệu hàng năm của Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB)

Cả 7 quốc gia được đưa vào mô hình nghiên cứu có nhiều đặc điểm giống nhau như đều là các thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations, viết tắt là ASEAN), có khí hậu và thổ nhưỡng tương tự Theo kế hoạch đã được đề ra, đến năm 2015 thực hiện Hiệp định Thương mại Tự do (FTA), điều này có nghĩa là tất cả các nước trong khối

sẽ mở cửa hoàn toàn cho các sản phẩm và dịch vụ của các thành viên trong khối với thuế suất rất thấp hoặc bằng không Cả 7 quốc gia khảo sát đều là những nước đang phát triển với mức thu nhập bình quân đầu người từ trung bình thấp đến khá Thêm vào đó, các quốc gia này có đặc điểm chung là nền kinh tế dựa vào xuất khẩu và có mức tiết kiệm quốc gia trên GDP khá cao với mức trung bình 30%

Việc loại bỏ ba quốc gia còn lại của tổ chức Asean ra khỏi mô hình nghiên cứu vì những lý do sau:

Myanmar thì không đủ số liệu

Singapore và Brunei đều là những nước có mức thu nhập bình quân đầu người rất cao, được xếp vào ngưỡng những quốc gia phát triển

1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Làm rõ tác động của các yếu tố đến tổng số thu thuế của các nước Asean, đặc biệt là Việt Nam

Đề xuất các khuyến nghị cho chính phủ các nước Asean, đặc biệt là chính phủ Việt Nam, liên quan đến các quyết định nhằm tăng tổng số thu thuế, qua đó giảm sự phụ thuộc quá nhiều vào tài chính nước ngoài

1.7 Bố cục của luận văn

Chương 1 Lời mở đầu

Trang 12

Chương 2 Cơ sở lý thuyết

Chương 3 Phương pháp nghiên cứu

Chương 4 Kết quả và thảo luận

Chương 5 Kết luận

Trang 13

Chương 2: Cơ sở lý thuyết 2.1 Tổng quan về thuế

2.1.1 Nguồn gốc của thuế

Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh rằng, thuế ra đời là một tất yếu khách quan, gắn liền với sự ra đời, tồn tại và phát triển của nhà nước

Để duy trì sự tồn tại của mình, nhà nước cần có những nguồn tài chính để chi tiêu, trước hết là chi cho việc duy trì và củng cố bộ máy cai trị từ trung ương đến địa phương, thuộc phạm vi lãnh thổ mà nhà nước đó đang cai quản; chi cho các công việc ban đầu thuộc chức năng của nhà nước như: quốc phòng, an ninh, chi cho xây dựng và phát triển các cơ sở hạ tầng; chi cho các vấn đề về phúc lợi công cộng, về sự nghiệp, về xã hội trước mắt và lâu dài

Để có nguồn tài chính đáp ứng nhu cầu chi tiêu chung, nhà nước thường sử dụng ba hình thức động viên đó là: quyên góp của dân, vay của dân và dùng quyền lực nhà nước bắt buộc dân phải đóng góp Trong đó, hình thức quyên góp tiền và tài sản của dân và hình thức vay của dân là những hình thức tự nguyện, không mang tính ổn định và lâu dài, thường được nhà nước sử dụng có giới hạn trong một số trường hợp đặc biệt, để bổ sung cho những nhiệm vụ chi đột xuất hoặc cấp bách Để đáp ứng nhu cầu chi tiêu thường xuyên, nhà nước dùng quyền lực buộc dân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách nhà nước Đây là hình thức cơ bản nhất để huy động tập trung nguồn tài chính cho đất nước

Hình thức nhà nước dùng quyền lực buộc dân đóng góp để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của mình - chính là thuế

Về quan hệ giữa nhà nước và thuế, Mác đã viết: "Thuế là cơ sở kinh tế của

bộ máy nhà nước, là thủ đoạn đơn giản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi việc chi tiêu của nhà nước" (Mác- Ăng Ghen tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, 1961 trích trong Chuyên đề lý luận

Trang 14

cơ bản về thuế, 2009) Ăng ghen cũng đã viết: "Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có sự đóng góp của công dân cho nhà nước, đó là thuế" (Ăng Ghen: Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và Nhà nước – Nhà xuất bản Sự thật,

1962 trích trong Chuyên đề lý luận cơ bản về thuế, 2009)

Thuế luôn gắn chặt với sự hình thành và tồn tại của hệ thống nhà nước, đồng thời thuế cũng phát triển cùng với sự phát triển của hệ thống nhà nước

2.1.2 Bản chất của thuế

Mặc dù thuế được coi là công cụ chủ yếu để huy động tập trung nguồn lực tài chính cho nhà nước, nhưng không có nghĩa là nhà nước có thể quy định mức động viên thuế cao để tăng thu về thuế bằng mọi giá, mà mức độ động viên thuế chỉ có một giới hạn nhất định Nếu nhà nước dùng quyền lực để tập trung quá mức phần thu nhập từ tổng sản phẩm quốc nội (GDP) vào cho ngân sách nhà nước, thì phần GDP còn lại dành cho các doanh nghiệp và cá nhân sẽ giảm xuống Đến một lúc nào đó, nếu họ nhận thấy rằng công sức bỏ vào kinh doanh, vào làm việc được bù đắp không thoả đáng thì họ sẽ nghỉ không kinh doanh hoặc chuyển sang kinh doanh ngầm và tìm mọi cách để trốn thuế Như vậy, có thể thấy rằng, khả năng thu thuế tối đa cho ngân sách nhà nước là khoản thu nhập

mà các doanh nghiệp và người dân sẵn sàng giành ra để trả thuế mà không làm thay đổi mọi hoạt động vốn có của họ Đứng trên giác độ nền kinh tế quốc dân, khả năng thu thuế của một quốc gia được phản ánh thông qua tỷ lệ phần trăm của GDP được động viên vào ngân sách nhà nước được gọi là hệ số huy động thuế hay hệ số gánh nặng thuế

Hệ số huy động thuế không chỉ là cơ sở chính để tham khảo việc các quốc gia xây dựng chính sách thuế của họ mà còn là một dấu hiệu để so sánh mức độ huy động thuế giữa các quốc gia khác nhau Hệ số huy động thuế này bao nhiêu thì ảnh hưởng trực tiếp đến thu nhập sau thuế và gián tiếp đến mức tiêu dùng và tiêu chuẩn sống của nhân dân Đó là điều mà các quốc gia cần cân nhắc Trong giai đoạn kinh tế thị trường hội nhập quốc tế, hệ số huy động thuế có thể phản

Trang 15

ảnh xu thế dịch chuyển dòng vốn, lao động giữa các quốc gia trên thế giới Vì vậy, để gia tăng sự phồn vinh trong cộng đồng dân cư, tất cả các quốc gia xem thuế là nguồn thu chính, phải đưa ra một mức thuế hợp lý trong chính sách thuế của mình Độ lớn của hệ số huy động thuế vì thế trở thành một trong những dấu hiệu quan trọng để đánh giá việc hoàn thiện hơn của một nền kinh tế

Nếu gọi T là tổng số thuế có thể thu được vào Ngân sách Nhà nước thì hệ số huy động thuế là: T/GDP x 100

Hệ số này được dùng để chỉ ranh giới phân chia hợp lý thu nhập xã hội giữa các khu vực công cộng và khu vực tư nhân Nếu Nhà nước động viên thuế chưa đạt tới giới hạn khả năng thu thuế thì nguồn lực xã hội tập trung vào tay Nhà nước chưa đầy đủ Nếu Nhà nước động viên vượt quá giới hạn khả năng thu thuế thì sẽ làm giảm khả năng tích luỹ để tái sản xuất mở rộng tại doanh nghiệp, do

đó làm giảm số thuế thu được trong tương lai

Hệ số huy động thuế do đó còn gọi là độ lớn của gánh nặng thuế đánh vào cộng đồng, vì vậy mặt nào đó thể hiện sức chịu đựng của nhân dân trong việc huy động thuế của nhà nước Hệ số huy động thuế của một quốc gia tăng, chứng

tỏ tốc độ tăng tiết kiệm của khu vực dân cư sẽ giảm và tất yếu phần đầu tư trong khu vực tư nhân sẽ khó có khả năng gia tăng Trong trường hợp hệ số huy động tăng, nhưng chi tiêu chính phủ hợp lý, đầu tư của Chính Phủ hiệu quả, thì sự tăng trưởng của nền kinh tế vẫn bình ổn Tuy nhiên, theo đánh giá thông thường, đầu

tư trong khu vực nhà nước thường kém hiệu quả hơn trong đầu tư của lĩnh vực tư nhân, vì vậy việc tăng mức huy động thuế quá cao sẽ làm cho nền kinh tế giảm bớt nhịp độ phát triển

2.1.3 Khái niệm về thuế

Cho đến nay, trong giới các học giả và trên các sách báo kinh tế thế giới vẫn chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm thuế, bởi lẽ giác độ nghiên cứu có nhiều khác biệt Nhìn chung, các nhà kinh tế khi đưa ra khái niệm về thuế mới

Trang 16

chỉ nhìn nhận từ những khía cạnh khác nhau của thuế mà mình muốn khai thác hoặc tìm hiểu, chưa phản ánh đầy đủ bản chất chung của phạm trù thuế Chẳng hạn theo các nhà kinh điển thì thuế được quan niệm rất đơn giản: " Để duy trì quyền lực công cộng, cần phải có những sự đóng góp của những người công dân của Nhà nước đó là thuế khoá " (Mác- Ăng Ghen tuyển tập, Nhà xuất bản Sự thật, 1962, trang 522 trích trong Chuyên đề lý luận cơ bản về thuế, 2009) Và với quan điểm này, thuế chỉ là sự đóng góp của công dân để duy trì quyền lực nhà nước Cũng từ luận điểm này, Mác phát triển thêm rằng trong một nhà nước có giai cấp (một giai cấp giành được quyền thống trị) thì thuế thực ra là khoản đóng góp bắt buộc để duy trì quyền lực của giai cấp đó Khi những giai cấp không phải là giai cấp cai trị, nghĩ rằng việc bắt buộc nộp thuế chỉ dùng để bảo vệ quyền lợi cho giai cấp cai trị, thì họ sẽ không coi thuế là nghĩa vụ công dân và sẽ bằng nhiều cách để tránh thuế và trốn thuế Quan điểm này đã hỗ trợ rất nhiều cho các nhà kinh tế có quan điểm xã hội trong việc củng cố lập trường đấu tranh giai cấp

Bên cạnh đó, cũng có các quan điểm khác nhau về thuế, được nhìn nhận trên các bình diện khác Trong cuốn từ điển kinh tế của hai tác giả người Anh Chrisopher Pass và Bryan Lowes, đứng trên giác độ đối tượng chịu thuế đã cho rằng: "Thuế là một biện pháp của chính phủ đánh trên thu nhập của cải và vốn nhận được của các cá nhân hay doanh nghiệp (thuế trực thu), trên việc chi tiêu về hàng hoá và dịch vụ (thuế gián thu) và trên tài sản"

Một khái niệm khác về thuế tương đối hoàn thiện được nêu lên trong cuốn sách "Economics" của hai nhà kinh tế Mỹ, dựa trên cơ sở đối giá như sau: "thuế

là một khoản chuyển giao bắt buộc bằng tiền (hoặc chuyển giao bằng hàng hoá, dịch vụ) của các công ty và các hộ gia đình cho chính phủ, mà trong sự trao đổi

đó họ không nhận được trực tiếp hàng hoá, dịch vụ nào cả, khoản nộp đó không phải là tiền phạt mà toà án tuyên phạt do hành vi vi phạm pháp luật" (Economic Makkollhell and Bruy-M, 1993,p.14 được trích trong Chuyên đề lý luận cơ bản

Trang 17

về thuế, 2009) Trong các quan điểm này, người ta chỉ nhìn nhận thuế trên giác

độ các đối tượng nộp thuế và đối tượng chịu thuế, không nói đến việc sử dụng tiền thuế để làm gì, chỉ thể hiện việc đánh thuế như là một nghĩa vụ công dân của các doanh nghiệp và hộ gia đình với đất nước mà mình đang kinh doanh hoặc đang sinh sống Các quan điểm này cũng chỉ phù hợp với giai đoạn phát triển của thuế trong thời đoạn lịch sử nhất định lúc đó

Trên giác độ phân phối thu nhập, người ta định nghĩa: Thuế là hình thức phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quỹ tiền tệ tập trung của nhà nước để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước

Trên giác độ người nộp thuế, thuế được coi là khoản đóng góp bắt buộc mà mỗi tổ chức, cá nhân phải có nghĩa vụ đóng góp cho nhà nước theo luật định để đáp ứng nhu cầu chi tiêu cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ Nhà nước Trên giác độ kinh tế học, thuế là một biện pháp đặc biệt, theo đó, Nhà nước

sử dụng quyền lực của mình để chuyển một phần nguồn lực từ khu vực tư sang khu vực công, nhằm thực hiện các chức năng kinh tế – xã hội của Nhà nước

Ở nước ta, đến nay cũng chưa có một khái niệm thống nhất về thuế Theo từ điển tiếng Việt - Trung tâm từ điển học (1998) thì thuế là khoản tiền hay hiện vật

mà người dân hoặc các tổ chức kinh doanh, tuỳ theo tài sản, thu nhập, nghề nghiệp,… buộc phải nộp cho nhà nước theo mức quy định

Những khái niệm về thuế nêu trên mới nhấn mạnh một chiều theo quan niệm của từng góc độ khác nhau, nên chưa thật đầy đủ và chính xác được bản chất của thuế Đến nay, tuy chưa có một định nghĩa về thuế thống nhất, nhưng các nhà kinh tế đều nhất trí cho rằng, để làm rõ được bản chất của thuế thì định nghĩa về thuế phải nêu bật được các khía cạnh sau đây:

Nội dung kinh tế của thuế được đặc trưng bởi các quan hệ tiền tệ giữa nhà nước với các pháp nhân và các thể nhân, không mang tính hoàn trả trực tiếp;

Trang 18

Những mối quan hệ dưới dạng tiền tệ này được nảy sinh một cách khách quan và có ý nghĩa xã hội đặc biệt- việc chuyển giao thu nhập có tính chất bắt buộc theo mệnh lệnh của nhà nước;

Các pháp nhân và thể nhân chỉ phải nộp cho Nhà nước các khoản thuế đã được pháp luật quy định

Và việc sử dụng tiền thuế phải dành cho mục đích chung

Tuy nhiên, trong tiến trình phát triển xã hội, việc quy định thuế phải được sử dụng chung cũng là một vấn đề cần xem xét Có những loại thuế được thu chỉ nhằm một mục đích định trước và trao cho một số đối tượng quy định

Dù trải qua nhiều giai đoạn và được nhận định trên nhiều giác độ khác nhau, nhưng hiện nay một định nghĩa về thuế theo xu hướng cổ điển vẫn còn đang được áp dụng phổ biến, đặc biệt trong cơ chế kinh tế thị trường, điển hình là khái niệm về thuế của Gaston Jèze đưa ra trong Giáo trình Tài chính công Dựa vào định nghĩa này và các yêu cầu nêu trên, có thể đưa ra một khái niệm tổng quát về thuế phù hợp với giai đoạn hiện nay như sau:

Thuế là một khoản nộp bằng tiền mà các thể nhân và pháp nhân có nghĩa vụ bắt buộc phải thực hiện theo luật đối với nhà nước; không mang tính chất đối khoản, không hoàn trả trực tiếp cho người nộp thuế và dùng để trang trải cho các nhu cầu chi tiêu công cộng

2.1.4 Đặc điểm của thuế

Qua phân tích nguồn gốc của sự ra đời của thuế và khái niệm chung về thuế nêu trên, có thể khẳng định rằng: Thuế là một công cụ tài chính của Nhà nước, được sử dụng để hình thành nên quỹ tiền tệ tập trung nhằm sử dụng cho mục đích công cộng Tuy nhiên, thuế khác với các công cụ tài chính khác như phí, lệ phí, tiền phạt, giá cả.v.v Điều này thể hiện qua các đặc điểm cơ bản của thuế trong kinh tế thị trường như sau:

Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền

Trang 19

Theo phương thức đánh thuế trong nền kinh tế thị trường, về nguyên tắc, thuế là một khoản trích nộp dưới hình thức tiền tệ, khác với hình thức nộp thuế bằng hiện vật đã tồn tại từ thời xa xưa hoặc khác với chế độ giao nộp sản phẩm trong nền kinh tế phi thị trường Nhiều quan điểm cho rằng, đây chính là

sự khác biệt cơ bản và đầu tiên của thuế trong nền kinh tế thị trường và thuế trong các nền kinh tế khác Chính sự phát triển của hoạt động trao đổi hàng hoá bằng tiền đã làm cho thuế phát triển, và ngược lại, việc bắt buộc nộp các khoản thuế bằng tiền đã góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường bằng cách đòi hỏi người nộp thuế trong trường hợp không có tiền phải đổi những tài sản hiện vật của mình ra thành tiền để thanh toán nợ thuế

Tuy nhiên, hình thức trả thuế bằng hiện vật cũng không hoàn toàn mất đi trong hệ thống chính sách thuế đương đại Một số quốc gia vẫn duy trì hình thức này dưới dạng thanh toán thuế bằng tặng vật với một số hiện vật qúy, như khi đào được cổ vật phải nộp thuế cho nhà nước với một tỷ lệ hiện vật tùy theo quy định cụ thể Kỹ thuật này giúp Nhà nước sưu tập được những di sản quốc gia quý giá từ dân chúng để bảo tồn tập trung những giá trị văn hoá của dân tộc, nhân loại

Luôn gắn liền với quyền lực nhà nước

Đặc điểm này thể hiện tính pháp lý tối cao của thuế Thuế là nghĩa vụ

cơ bản của công dân đã được quy định trong Hiến Pháp - Đạo luật gốc của một quốc gia Việc ban hành, sửa đổi, bổ sung, hay bãi bỏ bất kỳ một thứ thuế nào cũng chỉ có một cơ quan duy nhất có thẩm quyền, đó là Quốc Hội - Cơ quan quyền lực Nhà nước tối cao Mặt khác tính quyền lực Nhà nước cũng thể hiện ở chỗ Nhà nước không thể thực hiện thu thuế một cách tuỳ tiện mà phải dựa trên những cơ sở pháp luật nhất định đã được xác định trong các văn bản pháp luật do các cơ quan quyền lực Nhà nước ban hành Ở các quốc gia, do vai trò quan trọng của thuế đối với việc hình thành qũy ngân sách Nhà nước và những ảnh hưởng của nó đối với đời sống kinh tế - xã hội nên thẩm quyền quy định, sửa đổi, bãi bỏ

Trang 20

các Luật thuế đều thuộc cơ quan lập pháp Ðây là nguyên tắc sớm được ghi nhận trong pháp luật của các nước Chẳng hạn ở nước Anh đạo Luật về dân quyền năm 1688 quy định: cấm mọi sự thu thuế để dùng vào việc chi tiêu của Nhà nước nếu không được Quốc hội chấp thuận Ở Pháp, Quốc hội Pháp quy định: bất cứ một khoản thuế nào nếu không được Quốc hội chấp thuận thì không được áp dụng Hiến pháp của nước Cộng hòa Pháp năm 1791 quy định Quốc hội Pháp có quyền biểu quyết và định đoạt các Luật thuế Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định: Quốc hội có nhiệm vụ và quyền hạn quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các Luật thuế Tuy vậy, do yêu cầu điều chỉnh các quan hệ pháp luật về thuế, Quốc hội có thể giao cho Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ một số loại thuế thông qua hình thức ban hành Pháp lệnh hoặc Nghị quyết về thuế Đây là quan điểm “No Tax, No Law” mà nhiều nước

áp dụng Nghĩa là, công dân không phải nộp bất kỳ loại thuế nào nếu loại thuế đó chưa được ban hành dưới dạng Luật

Theo quan điểm này, công dân không có quyền từ chối trả thuế, cũng không có quyền tự ấn định hay thỏa thuận mức đóng góp của mình, mà chỉ có quyền chấp hành Trường hợp đối tượng nộp thuế nào cố tình không chấp hành

sẽ bị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật

để buộc họ phải làm tròn nghĩa vụ nộp thuế của mình theo luật định

Đây là đặc trưng cơ bản nhất của thuế nhằm phân biệt với tất cả các hình thức động viên tài chính cho Ngân sách Nhà nước khác

Luôn gắn liền với thu nhập

Đặc điểm này thể hiện rõ nội dung kinh tế của thuế Nhà nước thực hiện thu thuế thông qua quá trình phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân, mà kết quả của nó là một bộ phận thu nhập của người nộp thuế được chuyển giao bắt buộc cho Nhà nước mà không kèm theo bất kỳ một sự cấp phát hoặc những quyền lợi nào khác cho người nộp thuế Thuế, cho dù dưới bất kỳ hình thức nào đều buộc người trả thuế phải lấy một khoản thu nhập của mình ra

Trang 21

thanh toán cho Nhà nước mà không cần biết mình đã chuẩn bị được khoản thu nhập đó hay chưa

Với đặc điểm này, thuế không giống như các hình thức huy động tài chính tự nguyện hoặc hình thức phạt tiền tuy có tính chất bắt buộc, nhưng chỉ áp dụng đối với những tổ chức cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật

Không hoàn trả trực tiếp và được sử dụng để đáp ứng chi tiêu công cộng Tính chất không hoàn trả trực tiếp được thể hiện trên các khía cạnh:

Thứ nhất, sự chuyển giao thu nhập thông qua thuế không mang tính chất đối giá Về mặt pháp lý, thuế không là giá cả của dịch vụ cung cấp Vì vậy, người nộp thuế không thể phản đối việc thực hiện nghĩa vụ thuế bằng cách viện

cớ là Nhà nước sử dụng tiền thuế không có hiệu quả Họ cũng không thể đòi hỏi

số tiền thuế do họ nộp phải phân bổ cho dịch vụ công này hay hoạt động khác Mặt khác, họ cũng không thể từ chối nộp thuế với lý do số thuế thu được tài trợ cho các khoản chi tiêu trái với những nguyên tắc của nó

Thứ hai, các khoản thuế đã nộp cho Nhà nước sẽ không được dùng phục vụ trực tiếp cho người nộp thuế Nghĩa là mức thuế mà các tầng lớp trong

xã hội chuyển giao cho Nhà nước không hoàn toàn dựa trên mức độ người nộp thuế thừa hưởng những dịch vụ và hàng hoá công cộng do Nhà nước cung cấp Người nộp thuế không có quyền đòi hỏi Nhà nước cung cấp hàng hoá, dịch vụ công cộng trực tiếp cho mình mới nộp thuế cho Nhà nước Người nộp thuế sẽ nhận được một phần các hàng hoá, dịch vụ công cộng mà Nhà nước đã cung cấp cho cả cộng đồng, phần giá trị mà người nộp thuế được hưởng thụ không nhất thiết tương đồng với khoản thuế mà họ đã nộp cho Nhà nước Đặc điểm này của thuế giúp ta phân định rõ thuế với các khoản phí, lệ phí và giá cả

Khái niệm chi tiêu công cộng ngày nay không chỉ được hiểu theo nghĩa bó hẹp trong các khoản chi tiêu cho việc duy trì bộ máy nhà nước Trên thực tế, nhà nước hiện nay còn thực hiện nhiều chức năng kinh tế, xã hội, văn hoá và tất yếu các hoạt động này cũng chỉ được chi trả bằng thuế

Trang 22

2.1.5 Chức năng của thuế

Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính hay chức năng phân phối thu nhập

Một nền tài chính quốc gia lành mạnh phải dựa chủ yếu vào nguồn thu nội bộ của nền kinh tế quốc dân Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, xuất phát từ phạm vi hoạt động mà đòi hỏi Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện pháp luật thuế để tập trung nguồn tài chính vào ngân sách Nhà nước từ đó mới đáp ứng được nhu cầu chi ngày càng tăng phụ thuộc vào các công việc Nhà nước đảm nhiệm

Ngay từ khi ra đời thuế luôn luôn có công dụng là phương tiện huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước Người ta gọi công dụng này là chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế Đây là chức năng cơ bản của thuế, đặc trưng cho thuế ở tất cả các dạng Nhà nước, trong tiến trình phát triển của xã hội

Thông qua chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế mà các quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước được hình thành, để đảm bảo cơ sở vật chất cho sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước Chính chức năng này đã tạo ra những tiền đề để Nhà nước tiến hành tham gia phân phối và phân phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân Do đó chức năng này còn được gọi là chức năng phân phối của thuế

Sự phát triển và mở rộng các chức năng của Nhà nước đòi hỏi phải tăng cường chi tiêu tài chính, do đó vai trò của chức năng huy động tập trung nguồn lực của thuế ngày càng được nâng cao Thông qua thuế, một phần đáng kể tổng sản phẩm quốc nội được tập trung vào Ngân sách Nhà nước Thuế trở thành nguồn thu có tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu Ngân sách Nhà nước của tất cả các nước có nền kinh tế thị trường

Chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính tạo ra những tiền đề khách quan cho sự can thiệp của Nhà nước vào nền kinh tế Trong quá trình thực

Trang 23

hiện chức năng huy động tập trung nguồn lực tài chính của thuế đã tự động làm xuất hiện chức năng điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế

Chức năng điều tiết

Điều tiết kinh tế

Nhà nước thực hiện điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô bằng cách đưa

ra những chuẩn mực mang tính định hướng lớn trên diện rộng và bằng các công

cụ đòn bẩy để hướng các hoạt động kinh tế - xã hội theo các mục tiêu Nhà nước

đã định và tạo hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế - xã hội thực hiện trong khuôn khổ luật pháp

Nhà nước thực hiện chức năng điều chỉnh của thuế thông qua việc quy định các hình thức thu thuế khác nhau, xác định đúng đắn đối tượng chịu thuế và đối tượng nộp thuế; xây dựng chính xác, hợp lý các mức thuế phải nộp

có tính đến khả năng của người nộp thuế Với công cụ thuế, sự can thiệp của Nhà nước không mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc các chủ thể phải kinh doanh hay không kinh doanh, mà chủ yếu tạo ra sự lựa chọn đối với các chủ thể trong việc xác định phạm vi hoạt động kinh doanh của mình

Dựa trên cơ sở xác định mục tiêu và đối tượng ảnh hưởng đến sự tăng trưởng của nền kinh tế trong từng giai đoạn cụ thể, Nhà nước điều chỉnh thuế để tạo ra những thay đổi trong nền kinh tế quốc dân theo hướng mong muốn bao gồm: điều chỉnh chu kỳ kinh tế; cơ cấu ngành, khu vực và từng vùng lãnh thổ; lưu thông tiền tệ; giá cả; tiền lương; phân phối thu nhập; các mối quan hệ kinh tế đối ngoại; bảo vệ môi trường Như vậy, nội dung điều chỉnh của thuế đối với nền kinh tế quốc dân rất rộng, nó bao hàm hầu hết các quá trình điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Điều tiết tiêu dùng: nhà nước áp dụng các mức thuế gián thu phân tầng như thuế nhập khẩu, thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt sẽ làm giảm cầu với những hàng hoá, dịch vụ mà nhà nước cho là cần hạn chế hoặc nên ưu đãi Thông qua điều chỉnh mức thuế suất thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu mà gây nên

Trang 24

áp lực tăng giá hàng nhập khẩu, giảm khả năng cạnh tranh so với hàng sản xuất trong nước, từ đó điều chỉnh khối lượng hàng hoá đưa ra thị trường và đưa vào

để thực hiện bảo hộ nền sản xuất trong nước và bảo vệ lợi ích của thị trường nội địa Mặt khác, tác động đánh thuế nhập khẩu cũng gây nên phản ứng của người tiêu dùng trong nước tạo nên sự lựa chọn của họ trong tiêu dùng Ngoài ra người

ta còn sử dụng công cụ thuế để kích thích việc sử dụng có hiệu quả các nguồn lực hay ít nhất là giảm đến mức thấp nhất tính kém hiệu quả của sản xuất trong nước Chẳng hạn, trong trường hợp cần hạn chế xuất khẩu những hàng hoá mà giá cả của chúng bị ấn định bởi giá cả bất lợi của thị trường thế giới, gây thiệt hại cho sản xuất trong nước, trường hợp này có thể sử dụng thuế xuất khẩu để kích thích chuyển các nguồn lực từ sản xuất hàng xuất khẩu sang sản xuất hàng hoá tiêu dùng nội địa Việc phân tầng các mức thuế gián thu này, phù hợp với các nguyên tắc thị trường, dù cho mức độ hội nhập của quốc gia đó cao hay thấp Điều cần chú ý là tránh phân biệt đối xử với hàng hoá, dịch vụ trong và ngoài nước kể cả trên việc áp dụng thuế suất nhập khẩu hay thuế nội địa, vì việc này vi phạm các cam kết quốc tế khi đã tham gia hội nhập

Điều tiết xã hội: hệ thống chính sách thuế trong nền kinh tế thị trường hội nhập được áp dụng thống nhất chung cho các ngành nghề, các thành phần kinh

tế, các tầng lớp dân cư, trong và ngoài nước nhằm đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội về quyền lợi và nghĩa vụ đối với mọi thể nhân và pháp nhân

Mối quan hệ giữa hai chức năng

Giữa hai chức năng trên của thuế có mối quan hệ gắn bó mật thiết với nhau Chức năng phân phối và phân phối lại của thuế là nguyên nhân ảnh hưởng đến sự vận động và phát triển của chức năng điều tiết Nhưng chức năng điều tiết của thuế cũng có tác động ngược lại đến chức năng phân phối và phân phối lại thu nhập Nguồn tài chính mà Nhà nước tập trung được dưới dạng thuế là tiền đề của sự can thiệp của Nhà nước trên diện rộng và theo chiều sâu tới qúa trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Ngược lại, việc điều tiết, sắp xếp sản

Trang 25

xuất của Nhà nước nhằm vào việc thúc đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tạo điều kiện để tăng thu nhập của các tầng lớp nhân dân và đây chính là cơ sở quan trọng để mở rộng phạm vi tác động của chức năng phân phối và phân phối lại

Sự tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại làm cho nguồn thu của Nhà nước tăng lên Ðiều đó có nghĩa là mở rộng khả năng của Nhà nước trong việc thực hiện các chương trình kinh tế xã hội Mặt khác, việc tăng cường chức năng phân phối và phân phối lại một cách qúa mức làm tăng gánh nặng thuế và hậu qủa là làm giảm động lực phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp làm hạn chế vai trò của chức năng điều tiết Ðó là tính hai mặt của thuế, nó có khả năng làm ảnh hưởng đến nền kinh tế một cách tích cực, nhưng cũng có thể ảnh hưởng một cách tiêu cực Tính hai mặt của sự tác động đó cần phải được xem xét nghiêm túc kỹ lưỡng trong tiến trình hoạch định, xây dựng, ban hành các chính sách pháp luật về thuế của Nhà nước trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội nhất định

2.1.6 Vai trò của thuế trong nền kinh tế thị trường

Các nhà kinh tế học thường đề cập vai trò của thuế đối với ngân sách Nhà nước và đời sống xã hội Bởi vì trên thực tế, thông qua hoạt động thu thuế, Nhà nước tập trung được một bộ phận của cải của xã hội từ đó hình thành nên qũy ngân sách Nhà nước và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội

Về phương diện Luật học, thuế là một thực thể do Nhà nước đặt ra thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật Các văn bản quy phạm pháp luật không chỉ quy định nội dung các loại thuế mà còn xác lập các quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, các biện pháp đảm bảo thực hiện thu, nộp thuế Pháp luật thuế là sự thể chế hoá các chính sách kinh tế - xã hội cuả Nhà nước Chính vì vậy pháp luật thuế là nhân tố quyết định ý nghĩa kinh tế - xã hội của thuế và có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế và đời sống xã hội

Trang 26

Vai trò của thuế là sự biểu hiện cụ thể các chức năng của thuế trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, với sự thay đổi phương thức can thiệp của Nhà nước vào hoạt động kinh tế, thuế đóng vai trò hết sức quan trọng đối với qúa trình phát triển kinh tế - xã hội Vai trò của thuế được thể hiện trên các khía cạnh sau đây:

Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước

Với chức năng phân phối lại thu nhập quốc dân, thuế bằng nhiều cách hình thành nên nguồn tài chính tập trung lớn nhất phục vụ cho chi tiêu công cộng, đó là ngân sách nhà nước Ngân sách nhà nước được tập hợp từ nhiều nguồn thu khác nhau, nhằm đảm bảo yêu cầu chi tiêu chung cho nhu cầu công cộng Trong tất cả các nguồn, thông thường số thu về thuế chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng số thu ngân sách nhà nước Đây là nguồn thu ổn định nhất được

kế hoạch hoá tốt trên cơ sở dự báo kế hoạch và tiềm năng phát triển kinh tế của đất nước trong một năm Hầu như mọi khoản chi tiêu của ngân sách nhà nước đều dựa vào sự đóng thuế của người dân Vì vậy, xã hội có trách nhiệm phải tôn trọng người nộp thuế, những người thông qua hành vi của mình đóng góp tài chính cho nhà nước một cách trực tiếp và gián tiếp

Thuế là công cụ điều hoà thu nhập, thực hiện công bằng xã hội

Một trong những khiếm khuyết của nền kinh tế thị trường là có sự chênh lệch lớn về mức sống, về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Kinh tế thị trường càng phát triển thì khoảng cách giàu - nghèo giữa các tầng lớp dân cư ngày càng có xu hướng gia tăng Sự phát triển mọi mặt của một đất nước

là thành quả của sự nỗ lực của cả cộng đồng, mỗi thành viên trong xã hội đều có những đóng góp nhất định Nếu không chia sẻ thành quả phát triển kinh tế cho mọi thành viên sẽ thiếu công bằng và tạo nên sự đối lập về quyền lợi và của cải giữa các tầng lớp dân cư và gây ra bất ổn xã hội Chính vì vây, Nhà nước cần phải can thiệp vào quá trình phân phối thu nhập, của cải của xã hội Thuế là công

cụ quan trọng mà Nhà nước sử dụng để tác động trực tiếp vào quá trình này

Trang 27

Việc điều hoà thu nhập giữa các tầng lớp dân cư được thực hiện một phần thông qua thuế gián thu mà đặc biệt là hình thức thuế tiêu thụ đặc biệt Loại thuế này có đối tượng chịu thuế chủ yếu là các hàng hoá, dịch vụ tiêu dùng cao cấp, đắt tiền Các hàng hoá, dịch vụ này thông thường chỉ có những người có thu nhập cao trong xã hội mới có thể sử dụng và hoặc sử dụng nhiều, qua đó điều tiết bớt một phần thu nhập của họ

Các sắc thuế trực thu, đặc biệt là thuế thu nhập cá nhân với việc sử dụng thuế suất luỹ tiến là loại thuế có tác dụng rất lớn trong vấn đề điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội

Thuế là công cụ để thực hiện kiểm tra, kiểm soát các hoạt động sản xuất, kinh doanh

Vai trò này được xuất hiện trong quá trình tổ chức thực hiện các luật thuế trong thực tế Để đảm bảo thu được thuế và thực hiện đúng các quy định của các luật thuế đã ban hành, cơ quan thuế và các cơ quan liên quan phải bằng mọi biện pháp nắm vững số lượng, quy mô các cơ sở sản xuất, kinh doanh, ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh, mặt hàng họ được phép kinh doanh cũng như các định mức chi tiêu đặc thù và các phương thức hạch toán riêng có Từ công tác thu thuế mà cơ quan thuế sẽ phát hiện ra những khó khăn mà họ gặp phải để giúp đỡ họ tìm mọi biện pháp tháo gỡ Đồng thời, cũng qua công tác thu thuế, cơ quan thuế cập nhật được nhiều kiến thức quản lý kinh tế để phục vụ tốt hơn cho việc kiểm tra, kiểm soát sau này Như vậy, qua công tác quản lý thu thuế mà có thể kết hợp kiểm tra, kiểm soát toàn diện các mặt hoạt động của các

cơ sở kinh tế, đảm bảo thực hiện tốt quản lý Nhà nước về mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội

Thuế góp phần thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển

Thuế trong cơ chế thị trường không chỉ đóng vai trò là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, mà còn là một công cụ làm đòn bẩy để thúc đẩy sản xuất, kinh doanh phát triển Theo quan điểm công bằng, bất kỳ một tổ chức, cá

Trang 28

nhân khi đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nộp thuế của mình với đất nước, họ được quyền thụ hưởng và cung ứng những lợi ích công cộng nhất định và được tạo thuận lợi nhất cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình Bên cạnh đó, phụ thuộc vào chủ trương kinh tế đất nước, mà nhà nước có thể dùng thuế để tác động, tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh ở một số ngành, vùng để khuyến khích sản xuất, kinh doanh phát triển nhằm tạo ra một cơ cấu hợp lý hơn

2.1.7 Phân loại thuế

Để phân loại thuế người ta dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau Từ thực tế sử dụng tiêu thức phân loại thuế ở nước ta và thế giới, chúng ta thấy các tiêu thức

để phân loại thuế rất đa dạng và tuỳ thuộc vào mục tiêu quản lý của mỗi quốc gia

mà người ta có thể đưa ra các tiêu thức khác nhau như: phân loại thuế dựa theo phương thức đánh thuế, phân loại thuế dựa theo cơ sở tính thuế, phân loại thuế dựa theo phạm vi điều chỉnh của sắc thuế, phân loại thuế theo tên gọi của sắc thuế, theo tính chất thuế suất

Dựa theo phương thức đánh thuế

Các loại thuế, suy cho cùng đều đánh vào thu nhập của các tổ chức, cá nhân trong xã hội Tuy nhiên, tuỳ thuộc vào phương thức đánh thuế là đánh một cách trực tiếp hay gián tiếp vào thu nhập mà người ta chia hệ thống thuế thành hai loại: thuế trực thu và thuế gián thu

- Thuế trực thu

Là loại thuế đánh trực tiếp vào thu nhập hoặc tài sản của người nộp thuế Thuế trực thu có đặc điểm là đối tượng nộp thuế theo luật quy định đồng nhất với người phải chịu thuế Ở đây, theo quy định của luật, thuế thu trực tiếp vào thu nhập của người nộp thuế Như vậy, thuế trực thu làm cho khả năng và cơ hội chuyển dịch gánh nặng thuế cho người khác khó khăn hơn Về nguyên tắc, loại thuế này mang tính chất thuế luỹ tiến, vì nó tính đến khả năng của người nộp thuế, người có thu nhập cao hơn phải nộp thuế nhiều hơn, còn người có thu nhập

Trang 29

thấp thì nộp thuế ít hơn Loại thuế trực thu thường bao gồm các sắc thuế đánh trên thu nhập của tổ chức và cá nhân Ở nước ta, các sắc thuế trực thu bao gồm: thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế tài nguyên, thuế sử dụng đất phi nông nghiệp,

Ưu điểm của thuế trực thu là động viên trực tiếp vào thu nhập của từng tổ chức, cá nhân có thu nhập, hơn thế nữa, thuế trực thu còn cho phép xem xét đến các yếu tố tương đối độc lập đến thu nhập của người nộp thuế, như hoàn cảnh bản thân, hoàn cảnh gia đình Do đó, thuế trực thu có tác dụng rất lớn trong việc điều hoà thu nhập, giảm bớt sự chênh lệch đáng kể về mức sống giữa các tầng lớp dân cư, do đó đã bảo đảm được tính công bằng trong xã hội

Nhược điểm của thuế trực thu là dễ gây ra phản ứng từ phía người nộp thuế khi Nhà nước điều chỉnh tăng thuế Hơn nữa việc theo dõi, tính toán số thuế phải nộp và thủ tục thu, nộp thuế hết sức phức tạp Số thu động viên vào Ngân sách thường chậm và chi phí quản lý thu thuế khá tốn kém

- Thuế gián thu

Là loại thuế không trực tiếp đánh vào thu nhập hay tài sản của người nộp thuế mà đánh một cách gián tiếp thông qua giá cả hàng hoá, dịch vụ Người tiêu dùng những hàng hoá, dịch vụ đó là người chịu loại thuế này Thuế gián thu

có đặc điểm là người nộp thuế theo luật và người chịu thuế không đồng nhất với nhau Thuế gián thu là một bộ phận cấu thành trong giá cả hàng hoá, dịch vụ Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, còn người chịu thuế là người tiêu dùng các hàng hoá đó, họ mua hàng hoá với giá cả trong đó có

cả thuế Loại thuế này có sự chuyển dịch gánh nặng thuế trong những trường hợp nhất định Thuế gián thu ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua cơ chế giá cả thị trường Tuy nhiên, sự ảnh hưởng đó của thuế gián thu không những chịu chi phối bởi mối quan hệ cung cầu trên thị trường, mà còn phụ thuộc vào bản chất của thị trường, trong đó có sự tác động của thuế, tức là thị trường đó là thị trường cạnh tranh hay độc quyền Về nguyên tắc, thuế gián

Trang 30

thu mang tính chất luỹ thoái vì nó không tính đến khả năng thu nhập của người chịu thuế, người có thu nhập cao hay thấp đều phải chịu thuế như nhau nếu cùng mua một loại hàng hoá, dịch vụ Tuy nhiên, tỷ lệ thu nhập nộp thuế của những người có thu nhập thấp sẽ cao hơn tỷ lệ nộp thuế của người có thu nhập cao nếu

so với tổng thu nhập trong kỳ, bởi lẽ tốc độ tăng tiêu dùng bao giờ cũng thấp hơn tốc độ tăng thu nhập Loại thuế này thưòng có cơ sở đánh thuế là các khoản thu nhập dùng để tiêu dùng Ở nước ta, các sắc thuế gián thu bao gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu

Ưu điểm của thuế gián thu là đối tượng chịu thuế rất rộng Thuế gián thu được che đậy qua giá bán hàng hoá, dịch vụ nên người chịu thuế ít có cảm giác mình bị Nhà nước đánh thuế Thuế gián thu đem lại nguồn thu thường xuyên và ổn định cho Ngân sách Nha nước Đối tượng quản lý thu thuế cũng tập trung hơn, nghiệp vụ tính và thu thuế đơn giản, nên chi phí quản lý thuế cũng thấp hơn so với thuế trực thu

Nhưng loại thuế này cũng có nhược điểm là có tính chất luỹ thoái nên không đảm bảo tính công bằng trong nghĩa vụ nộp thuế Nếu tính tỷ lệ động viên thuế gián thu so với thu nhập thì người giàu có tỷ lệ động viên thuế chịu thuế thấp hơn so với người nghèo

Dù cho đây là hình thức tiếp cận cổ xưa nhất, nhưng vẫn là hình thức phân loại được sử dụng phổ biến nhất ở các nước Nhiều nước đưa vào trong chính sách thuế của mình các tiêu thức phân loại thuế trực thu và gián thu khác nhau

Phân theo cơ sở tính thuế

Nếu căn cứ vào cơ sở tính thuế để phân loại thuế thì có thể chia thành ba loại như sau:

- Thuế thu nhập

Bao gồm các loại thuế có cơ sở đánh thuế là thu nhập kiếm được Thu

Trang 31

nhập kiếm được là toàn bộ số tiền và lợi ích vật chất mà một tổ chức, cá nhân nhận được trong kỳ tính thuế, kể cả các khoản chi tiêu đã bỏ ra để có được thu nhập Thu nhập kiếm được từ nhiều nguồn: từ lao động dưới dạng tiền lương, tiền công; từ hoạt động sản xuất, kinh doanh dưới dạng thu nhập, lợi tức cổ phần; và từ các hoạt động đầu tư tài chính khác do đó, thuế thu nhập cũng có nhiều dạng: thuế thu nhập cá nhân, thuế thu nhập công ty, thuế chuyển thu nhập

ra nước ngoài, thuế lợi tức cổ phần

- Thuế tiêu dùng

Là loại thuế đánh vào hàng hoá, dịch vụ khi diễn ra việc mua bán Điều đáng chú ý đầu tiên là thuế tiêu dùng không khác thuế thu nhập nhiều như người ta tưởng Thật vậy, thuế tiêu dùng đánh vào phần thu nhập kiếm được hoặc sử dụng phần tiết kiệm để mua sắm hàng hoá hoặc dịch vụ tiêu dùng trong hiện tại Thứ hai, Thuế tiêu dùng đôi khi còn thể hiện giống như hình thức thuế vốn hay tài sản Đó là trường hợp mua tài sản dùng để đầu tư như nhà cửa, lợi thế thương mại, trái phiếu Các phần mua tài sản tiêu dùng là thể hiện thuế tiêu dùng rõ nét Trong thực tế loại thuế tiêu dùng được thể hiện dưới nhiều dạng như thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế giá trị gia tăng

- Thuế tài sản

Thuế tài sản có thể được đánh trong trường hợp chuyển giao, cho không tài sản (ví dụ như cho, tặng hoặc thừa kế), hoặc dưới hình thức bán (ví dụ như nhượng bán bất động sản hoặc động sản), hoặc trong trường hợp có sự hiện hữu của tài sản (như trường hợp đánh thuế vào các khối tài sản lớn)

Người ta nhận thấy rằng, thuế tài sản có thể là một dạng của thuế tiêu dùng và cũng có thể dưới hình thức gián tiếp của thuế thu nhập Thuế tài sản giống thuế tiêu dùng khi đánh vào hoạt động mua bất động sản và động sản Nó thể hiện như một hình thức gián tiếp của thuế thu nhập khi mua các bất động sản hoặc động sản bằng việc sử dụng các khoản thu nhập có từ trước và bản thân các

Trang 32

thu nhập đó cũng đã bị đánh thu Thuộc loại thuế tài sản là các sắc thuế như thuế

sử dụng đất phi nông nghiệp

Phân theo đặc trưng của biểu thuế

Thuế đánh theo tỷ lệ %: Là loại thuế đánh theo hình thức áp dụng một tỷ

lệ hoặc phần trăm, hoặc lần trên các cơ sở tính thuế Đây là hình thức áp dụng phổ biến trong các loại thuế hiện nay Trong thuế tỷ lệ có thể phân ra thành 3 loại cụ thể như sau:

- Thuế lũy tiến: áp dụng tỷ lệ tăng dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng cao Trong thuế lũy tiến

có hai hình thức: thuế lũy tiến từng phần và thuế lũy tiến toàn phần Với thuế lũy tiến từng phần, thuế suất cao hơn chỉ được áp dụng cho phần cơ sở tính thuế tăng thêm Với thuế lũy tiến toàn phần, phần thuế suất cao hơn được áp dụng cho tất

cả cơ sở tính thuế, kể cả cơ sở ở mức thấp trước đó

- Thuế lũy thoái: áp dụng tỷ lệ giảm dần theo các mức tăng của cơ sở tính thuế Cơ sở tính thuế càng tăng thì mức thuế suất càng giảm Tương tự với thuế lũy tiến, thuế lũy thoái cũng có hai hình thức: lũy thoái toàn phần và lũy thoái từng phần Thông thường các nước áp dụng thuế lũy thoái để khuyến khích các đối tượng nộp thuế nhiều Hà lan trước đây đã dùng thuế lũy thoái đánh vào thu nhập công ty để thu hút các khoản đầu tư lớn, thúc đẩy quá trình tích lũy vốn

- Thuế tỷ lệ cố định: là loại thuế áp dụng một thuế suất cố định trên cơ sở tính thuế mà không phụ thuộc vào quy mô của cơ sở tính thuế đó Thuế tỷ lệ cố định thường được áp dụng để các cơ sở kinh doanh dễ hạch toán và tính toán trong quá trình kinh doanh Thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam là một ví

dụ về thuế tỷ lệ cố định

Thuế đánh trên mức tuyệt đối

- Là loại thuế được xác định bằng cách ấn định một số thu bằng tiền trên một đơn vị vật chất như trọng lượng, khối lượng, diện tích của đối tượng chịu

Trang 33

thuế Trong thực tế cách tính thuế này ít phổ biến Trong hệ thống chính sách thuế Việt Nam hiện nay có thể lấy ví dụ là thuế tiêu thụ đặc biệt đánh trên xe ô tô

Phân theo thẩm quyền ban hành chính sách thuế

Tùy theo thẩm quyền thu thuế được quy định với từng loại thuế, người ta phân thuế thành hai loại: Thuế trung ương và thuế địa phương

- Thuế trung ương

Có nơi còn gọi là thuế Liên bang, do nhà nước hoặc chính quyền liên bang chịu trách nhiệm thu trên phạm vi cả nước theo một chính sách thuế thống nhất Các đối tượng nộp thuế dù kinh doanh hay cư trú bất kỳ nơi nào trong lãnh thổ quốc gia cũng đều chịu thuế theo một chính sách như nhau Thuế trung ương chủ yếu là các loại thuế đánh vào các hoạt động kinh doanh có phạm vi trên toàn quốc, hoặc có khả năng di chuyển trên toàn quốc, nhằm tránh việc phân khúc giữa các địa phương và dễ gây ra hiện tượng đánh thuế trùng hoặc bỏ sót thuế Thuế trung ương thường được thu tập trung cho ngân sách Trung ương hoặc ngân sách liên bang (với các nhà nước liên bang) Tuy nhiên, cũng có quốc gia phân một tỷ lệ nhất định trong thuế suất dành cho các địa phương sau khi thu xong

- Thuế địa phương

Có nơi gọi là thuế Bang, đánh vào các hoạt động kinh doanh hoặc các hành vi chỉ ảnh hưởng trong phạm vi quản lý của từng địa phương hoặc một Bang Thuế địa phương thường bao gồm các loại thuế đánh trên bất động sản, tài nguyên theo một khung thuế thống nhất do nhà nước hoặc Liên bang soạn thảo Các địa phương căn cứ vào khung thuế suất để quyết định một mức thuế suất cụ thể, thu trong phạm vi địa phương mình trong một thời kỳ nhất định Thuế địa phương có thể được nâng lên hoặc hạ xuống trong phạm vi khung cho phép phụ thuộc vào điều kiện kinh doanh, thu nhậpvà đời sống của dân cư tại địa phương

Trang 34

Các loại thuế trên được áp dụng cho nhiều đối tượng khác nhau để vừa phát huy tác dụng riêng của từng loại thuế, vừa hỗ trợ, bổ sung cho nhau nhằm thực hiện một cách tổng hợp các mục tiêu và vai trò của hệ thống pháp luật thuế

2.2 Các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế

2.2.1 Các yếu tố cấu trúc

Các yếu tố tác động đến tổng số thu thuế (đo lường bằng tỷ lệ tổng số thu thuế/GDP) đã là chủ đề của một cuộc tranh luận dài Các nhà nghiên cứu đã bao gồm các biến như: GDP bình quân đầu người, tỷ trọng ngành kinh tế trong GDP,

độ mở thương mại và công khai tài chính, tỷ lệ viện trợ nước ngoài/GDP, tỷ lệ tổng nợ/GDP, các giải pháp cho nền kinh tế, và các yếu tố thể chế như mức độ

ổn định chính trị và tham nhũng cũng là các yếu tố tiềm năng quyết định đến tổng số thu thuế

Thu nhập bình quân đầu người được đại diện cho sự phát triển chung của nền kinh tế và được dự kiến tương quan cùng chiều với số thu thuế bởi vì nó được dự kiến sẽ là một chỉ số tốt về tổng thể mức độ phát triển kinh tế Hơn nữa, theo qui luật Wagner, nhu cầu về các dịch vụ của chính phủ thì co giãn theo thu nhập, vì vậy phần hàng hóa và dịch vụ được chính phủ cung cấp dự kiến sẽ tăng lên theo thu nhập Tỷ trọng ngành kinh tế trong GDP cũng là một vấn đề vì một số ngành kinh tế dễ thu thuế hơn những ngành khác Ví dụ, ngành nông nghiệp khó có thể thu thuế, đặc biệt là nếu nó bị chi phối bởi một số lượng lớn nông dân Mặt khác, ngành khai thác bị chi phối bởi một số công ty lớn có thể tạo ra thặng dư chịu thuế lớn

Độ mở thương mại quốc tế - đo lường bằng tỷ lệ xuất khẩu và nhập khẩu, cũng là vấn đề quan trọng trong tổng số thu thuế, bởi vì nhập khẩu và xuất khẩu đều phải chịu thuế Hơn nữa, hầu hết các nước đang phát triển chuyển từ mậu dịch thuế trong thập niên 1990, trong đó phần lớn là do tự do hóa thương mại Tác động của tự do hóa thương mại đến việc huy động số thu thuế có thể là mơ

hồ Nếu tự do hóa này xảy ra chủ yếu thông qua giảm thuế quan thì sau đó dự

Trang 35

kiến sẽ giảm số thu thuế Mặt khác, Keen và Simone (2004) cho rằng số thu thuế

có thể tăng khi tự do hóa thương mại thông qua thuế quan của hạn ngạch, ngoại trừ việc miễn, giảm mức thuế cao và cải thiện trong thủ tục hải quan Rodrik (1998) cũng chỉ ra rằng có một mối tương quan dương rõ ràng giữa độ mở thương mại và kích thước của chính phủ, bởi vì dường như xã hội cần vai trò mở rộng của chính phủ trong việc cung cấp bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế mở Các kết quả thực nghiệm thì đa dạng vì sự nhạy cảm của chúng với dữ liệu của các quốc gia và thời gian phân tích Phần lớn những nghiên cứu sử dụng phương pháp thực nghiệm theo dữ liệu chéo và do đó bỏ qua sự biến đổi theo thời gian Lotz và Morss (1967) thấy rằng thu nhập bình quân đầu người và độ

mở thương mại là yếu tố quyết định đến tổng số thu thuế, và phát hiện này đã được nhân rộng (ví dụ, xem Piancastelli (2001)) Theo Chelliah (1971), có liên quan giữa tổng số thu thuế với các biến giải thích như tỷ trọng ngành khoáng sản, tỷ trọng xuất khẩu không gồm khoáng sản và tỷ trọng ngành nông nghiệp Một số nghiên cứu, bao gồm cả Chelliah, Baas và Kelly (1975) và Tait, GRATZ

và Eichengreen (1979), cập nhật Chelliah (1971) và có được kết quả tương tự Trong một nghiên cứu liên quan bao gồm nước đang phát triển, Tanzi (1992) tìm thấy rằng một nửa của sự thay đổi trong tổng số thu thuế được giải thích bởi thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng nhập khẩu, tỷ trọng ngành nông nghiệp và tỷ

lệ nợ nước ngoài Gần đây, một số nghiên cứu đã xem xét tầm quan trọng của các yếu tố thể chế trong việc xác định khả năng thu thuế Ví dụ, Bird, Martinez-Vasquez và Torgler (2004) tìm thấy các yếu tố như tham nhũng, quy định của pháp luật đóng vai trò chính

Một số nghiên cứu khu vực đã nhìn vào yếu tố quyết định huy động nguồn lực Đối với các nước khu vực châu Phi hạ Sahara, Tanzi (1981) thấy rằng tỷ trọng ngành khoáng sản và tỷ trọng xuất khẩu không gồm khoáng sản tác động cùng chiều đến tổng số thu thuế Tập trung vào cùng một vùng, Leuthold (1991)

sử dụng dữ liệu bảng để tìm một tác động cùng chiều từ tỷ trọng mậu dịch,

Trang 36

nhưng tác động ngược chiều từ tỷ trọng ngành nông nghiệp Trong một nghiên cứu tương tự, Stotsky và WoldeMariam (1997) thấy rằng cả tỷ trọng ngành nông nghiệp và tỷ trọng ngành khoáng sản ảnh hưởng ngược chiều đến số thu thuế, trong khi tỷ trọng xuất khẩu và thu nhập bình quân đầu người có một tác động cùng chiều Ghura (1998) kết luận rằng số thu thuế tăng lên với thu nhập bình quân đầu người và độ mở thương mại và giảm với tỷ trọng ngành nông nghiệp Ông cũng phát hiện ra rằng các yếu tố khác như tham nhũng, cải cách cấu trúc và phát triển nguồn nhân lực ảnh hưởng đến tổng số thu thuế Trong khi sự gia tăng tham nhũng có liên quan với sự suy giảm tổng số thu thuế, cải cách cơ cấu và sự gia tăng trong mức nguồn nhân lực có liên quan với sự gia tăng tổng số thu thuế Trong một nghiên cứu ở các nước Ả Rập, Eltony (2002) quan sát thấy rằng tỷ trọng ngành khoáng sản có tác động ngược chiều đến số thu thuế đối với nước xuất khẩu dầu mỏ, nhưng một tác động cùng chiều đối với các nước không xuất khẩu dầu mỏ

Các tài liệu liên quan đến tác động của lạm phát đến tổng số thu thuế thì đa dạng và khó mô tả Một số tài liệu trước đây cho thấy lạm phát cao làm tăng tổng

số thu thuế, nhưng tài liệu gần đây cho thấy rằng tình trạng khó xử này phụ thuộc vào chọn độ trễ Tanzi (1977) giải thích rằng sự kết hợp của lạm phát cao,

độ trễ trung bình tương đối dài trong thu thuế, và sự ít co giãn của hệ thống thuế dẫn đến sự sụt giảm mạnh mẽ trong số thu thuế thực khi lạm phát xảy ra

Teera (2003), Tanzi và Zee (2000) giải thích rằng khả năng thu các loại thuế khác nhau trong một nền kinh tế có thể được xác định bằng thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng ngành nông nghiệp trong GDP, tỷ trọng xuất khẩu khoáng sản/GDP, độ mở của nền kinh tế và tỷ lệ tiền/GDP

2.2.2 Các yếu tố thể chế

a Yếu tố tham nhũng

Trong khu vực công, động cơ thương lượng và dàn xếp trong hành vi tham

Trang 37

nhũng thì dễ xảy ra Tình trạng này xảy ra cả từ các công chức, người mà có thể làm giàu bằng cách nhận hối lộ và cả từ người hối lộ, người mà muốn thu được lợi ích không đáng có như tránh thuế, được nhận hợp đồng hoặc trốn thuế Trong lĩnh vực thuế, các quy định thường phức tạp đến nỗi mà người nộp thuế có động

cơ mạnh để thỏa mãn trong tham nhũng Sự phức tạp của hệ thống thuế cũng cho phép công chức sử dụng quyền lực linh hoạt của họ để tham nhũng

Sandmo (2004 ) định nghĩa các khái niệm về hành vi trốn thuế như sau

"Trốn thuế là vi phạm pháp luật: Khi người nộp thuế cố tránh những báo cáo thu nhập từ lao động hoặc vốn mà phải chịu thuế, ông ấy tham gia vào một hoạt động bất hợp pháp mà làm cho anh ta phải chịu trách nhiệm trước pháp luật hoặc trách nhiệm pháp lý từ các nhà chức trách"

Nhiều nghiên cứu giải thích rằng thu thuế là một trong những lĩnh vực quan trọng mà tham nhũng có thể phát sinh (Galtung (1995), Li (1997); Toye và Moore (1998); Tanzi (2000); Fjeldstad và Tungodden (2003) ) Một trong những yếu tố góp phần vào tham nhũng trong hệ thống thuế là:

Một hệ thống thuế phức tạp làm tăng nhu cầu đối với tham nhũng Thanh tra thuế và người nộp thuế có được lợi thế thông qua các quy tắc phức tạp, pháp luật không rõ ràng về quy định và thủ tục của hệ thống thuế Các quy định phức tạp cho phép các công chức sử dụng quyền hạn linh hoạt của họ để tham nhũng Các vấn đề phức tạp trong nộp thuế dẫn đến tham nhũng (người nộp thuế tiết kiệm thời gian và giảm những vấn đề không chắc chắn)

Một yếu tố khác thúc đẩy tham nhũng là mức thuế suất cao, nó tăng động

cơ để người nộp thuế trốn thuế

Cá nhân tham nhũng khi so sánh lợi ích của họ với nguy cơ phát hiện và trừng phạt, họ tham gia vào các hoạt động tham nhũng nếu họ cảm thấy rằng hình phạt dự kiến là thấp

Mức lương thấp của quản lý thuế và người nộp thuế cũng thúc đẩy tham

Trang 38

nhũng

Fjeldstad (2005) xem xét kinh nghiệm của Cơ quan thuế Uganda trong kiểm soát tham nhũng tài chính Có nhiều yếu tố giải thích liên quan đến tham nhũng tài chính Nghiên cứu kết luận rằng một số yếu tố đã góp phần kết quả không hài lòng của Cơ quan thuế Uganda Nghiên cứu này cũng giải thích rằng mức lương của nhân viên Cơ quan thuế Uganda là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến hành vi của công chức thuế

Nghiên cứu gần đây cho thấy rằng trong trường hợp của các nước nghèo gây

ra tham nhũng tài chính nhiều hơn, nhưng nghịch lý là mức độ trốn thuế thấp hơn và số thu thuế cao hơn Nhưng Fjeldstad và Bertil (2001) giải thích rằng nghịch lý này không biện minh cho chính sách để kích thích tham nhũng Nó phân tích rằng trong ngắn hạn tham nhũng có thể làm tăng số thu thuế nhưng trong lâu dài, số thu thuế sẽ giảm

Tác động của tham nhũng và trốn thuế lên số thu thuế không phải là mới trong lĩnh vực tài chính công Trong một loạt các bài nghiên cứu, Tanzi và Dvoodi (1997) đã cung cấp bằng chứng cho thấy các quốc gia có mức độ tham nhũng cao có xu hướng có số thu thuế/GDP thấp hơn Điều này có nghĩa rằng một số các khoản thuế phải nộp của người nộp thuế không được nộp đầy đủ vào ngân sách nhà nước Tanzi (1999 ) cho rằng cần phân biệt các loại thuế được thu bởi các nhà quản lý thuế và các loại thuế Kho bạc nhận được

Khi tham nhũng trở nên phổ biến thì mức thuế suất cao hơn dẫn đến số thu thuế thực nhỏ hơn Sanyal và cộng sự (1998 ) điều tra các mối quan hệ giữa tham nhũng, trốn thuế và đường cong Laffer Nghiên cứu giải thích rằng một tham nhũng trong quản lý thuế dẫn đến hành vi của đường cong Laffer (mức thuế suất cao hơn sẽ dẫn đến số thu thực nhỏ hơn)

Trong trường hợp của các nước đang phát triển, tham nhũng thì phổ biến và hậu quả là nó phá hủy thuế hệ thống Nó làm giảm các khoản thu của nhà nước

Trang 39

và do đó làm giảm khả năng hoàn thành các nghĩa vụ đối với xã hội của nhà nước Đây là điều đáng báo động như nhiều nghiên cứu liên quan đến hệ thống thuế ở các nước đang phát triển cho thấy rằng hơn 50 phần trăm của số thu thuế

bị thất thu vì tham nhũng tài chính và trốn thuế (Richupan (1984); Alm và cộng

sự (1991); Bird (1990) , (1992) và Krugman và cộng sự (1992) ) Một hậu quả không mong muốn của tham nhũng là nó làm giảm chức năng phân phối thu nhập của thuế và do đó làm gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập

Vấn đề trốn thuế và tham nhũng đã được giải quyết một cách riêng biệt, chúng ít được quan tâm để xem xét tác động kết hợp Hadi.S (2006) đã thực hiện một nỗ lực để xem mối quan hệ giữa tham nhũng và trốn thuế Nghiên cứu này phân tích rằng hối lộ ảnh hưởng đến hành vi trốn thuế như thế nào Nó cũng giải thích người nộp thuế sẽ có xu hướng hối lộ như thế nào để tối đa hóa thu nhập

dự kiến của họ Nghiên cứu sử dụng ba nhóm người khác nhau, người nộp thuế

cá nhân, người thu thuế và thanh tra viên Kết quả cho thấy mức độ hối lộ tác động ngược chiều đến trốn thuế

Nghiên cứu về hành vi của các cán bộ tài chính, chức vụ và động cơ của họ Chand và Karl (1999 ) đã giải thích tầm quan trọng của thiết lập tổ chức và điều kiện làm việc của cán bộ tài chính Nghiên cứu kết luận rằng tham nhũng được thực hiện do tiền lương thấp và các hoàn cảnh xã hội khác

b Yếu tố quản trị

Quản trị tốt mang lại hệ thống thuế tốt Có ba yếu tố chính để xây dựng một hệ thống tốt thuế, trong đó bao gồm tính hợp pháp nhà nước, sự sẵn sàng nộp thuế của người nộp thuế và hiệu quả của quản lý thuế Phillips & Sandall (2008) giải thích các mối quan hệ giữa quản trị và cải cách thuế Nghiên cứu giải thích rằng ba động lực quan trọng phản ánh mối quan hệ giữa quản lý, thuế và môi trường đầu tư Trước hết, một hệ thống thuế tốt phụ thuộc vào quản trị tốt Thứ nhì là một hệ thống thuế công bằng trong nước thúc đẩy quản trị tốt vì hệ

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:56

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w