BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINHNGUYỄN THỊ NGỌC LINH NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI TPHCM
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ NGỌC LINH
NGHIÊN CỨU CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ CHỨNG KHOÁN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TẠI TPHCM
Chuyên ngành: Thương Mại
Mã ngành: 60.34.10
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 2NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: GS.TS ĐOÀN THỊ HỒNG VÂN
Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2013
LỜI CẢM ƠN
Thông qua luận văn tốt nghiệp này tôi xin gửi lời tri ân đến Quý Thầy Cô Khoa Thương Mại – Du Lịch – Marketing, trường Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh, đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong thời gian học tập vừa qua Tôi cũng xin gửi lòng biết ơn sâu sắc đến Cô Đoàn Thị Hồng Vân đã tận tình giúp đỡ
và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn Đồng thời tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến người thân, bạn bè, những người đã luôn bên cạnh giúp đỡ và động viên tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập
Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn các anh chị đã nhiệt tình trả lời bảng câu hỏi khảo sát phục vụ cho đề tài nghiên cứu
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn!
Trang 3Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013
Nguyễn Thị Ngọc Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn Thạc sĩ kinh tế này là công trình nghiên cứu của bản thân, là kết quả của quá trình học tập nghiêm túc và kinh nghiệm thực tiễn của quá trình làm việc và nghiên cứu về quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư
cá nhân tại Thành Phố Hồ Chí Minh,dưới sự hướng dẫn nhiệt tình của GS TS Đoàn Thị Hồng Vân Các thông tin và số liệu ghi nhận trong Luận văn là hoàn toàn trung thực
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm với cam kết trên
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2013
Người cam đoan
Nguyễn Thị Ngọc Linh
Trang 6Danh mục từ viết tắt x
Lời mở đầu 1
• Lí do chọn đề tài 1
• Mục tiêu nghiên cứu 2
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
• Phương pháp nghiên cứu 2
• Tổng quan nghiên cứu và tính mới của đề tài 3
• Bố cục của đề tài 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5
• Các lý thuyết có liên quan đến quyết định đầu tư chứng khoán 5
• Lý thuyết triển vọng5
• Lý thuyết tiếc nuối 6
• Lý thuyết quá tự tin 6
• Lý thuyết mâu thuẫn nhận thức 7
1.1.5 Lý thuyết tâm lý đám đông 7
• Các mô hình nghiên cứu về yếu tố tâm lý của nhà đầu tư cá nhân
8
Trang 7• Mô hình nghiên cứu của Pi – Chuan Sun & Shu Chun Hsiao 8
• Mô hình nghiên cứu của H Kent Baker & John R Nofsinger 11
1.3 Mô hình nghiên cứu của Robert A Nagy & Robert W Obenberger về yếu tố tài chính của nhà đầu tư cá nhân 20
• Các kết quả nghiên cứu trước đây 21
• Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu đề xuất 22
• Các giả thuyết nghiên cứu 22
• Mô hình nghiên cứu đề xuất 22
Tóm tắt chương 1 26
CHƯƠNG 2 GIỚI THIỆU THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT
• Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam 28
• Đặc điểm của thị trường chứng khoán Việt Nam28
• Vai trò của thị trường chứng khoán Việt Nam 28
• Nguyên tắc hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam 29
• Một số chỉ số tài chính 30
• Tình hình hoạt động của TTCK Việt trong năm 2012 31
Trang 8• Đặc điểm nhà đầu tư cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh33
• Diễn biến hoạt động đầu tư của nhà đầu tư cá nhân 36
Tóm tắt chương 2 39
CHƯƠNG 3.THẾT KẾ NGHIÊN CỨU 40
• Quy trình nghiên cứu 40
3.2 Nghiên cứu định tính 40
• Mục tiêu 40
3.2.2 Cách thực hiện 41
3.2.3 Kết quả 42
3.3 Nghiên cứu định lượng 45
3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 45
3.3.2 Các biến đo, thang đo và phương pháp phân tích 46
Tóm tắt chương 3 53
CHƯƠNG 4 PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 55
4.1 Thống kê mô tả mẫu 55
• Kiểm định thang đo 60
• Phân tích nhân tố 62
Trang 9• Xây dựng ma trận tương quan giữa biến độc lập và biến phụ thuộc
66
• Xác lập phương trình hồi quy 67
• Hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu 71
Tóm tắt chương 4 73
CHƯƠNG 5 CÁC GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ ĐỂ THU HÚT NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 74
Trang 10Phụ lục 3 Bảng câu hỏi định lượng
Phụ lục 4 Bảng mã hóa biến
Phụ lục 5 Thống kê mô tả mẫu
Phụ lục 6 Kiểm định độ tin cậy của thang đo
Trang 11Bảng 4.5 Phân loại mẫu theo trình độ 57
Bảng 4.6 Phân loại mẫu theo tuổi tác 58
Bảng 4.7 Phân loại mẫu theo tình trạng gia đình 58
Bảng 4.8 Phân loại mẫu theo thu nhập hàng tháng 59
Bảng 4.9 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 60
Bảng 4.10 Kết quả phân tích nhân tố 63
Bảng 4.11 Kết quả phân tích hệ số tương quan Pearson 66
Bảng 4.12 Kết quả phân tích hồi quy 68
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Trang 12Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Pi-Chuan Sun & Shu Chun Hsiao 8
Hình 1.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất 23
Hình 2.1 Tình hình thị trường chứng khoán Việt Nam năm 2012 32
Trang 14• Lí do chọn đề tài
Ngày 20 tháng 7 năm 2000, sự ra đời của Trung tâm giao dịch chứng khoán
TP HCM (nay là Sở Giao Dịch Chứng Khoán TP HCM) đã được công chúng, các chuyên gia kinh tế rất hoan nghênh, là một sự kiện rất đáng khích lệ của nền kinh tế nước ta theo xu hướng hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước Cùng với hệ thống ngân hàng thương mại, thị trường chứng khoán là một kênh huy động vốn cho các doanh nghiệp và nền kinh tế nước ta
Qua 13 năm phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn: giai đoạn hình thành và phát triển, giai đoạn tăng trưởng mạnh, giai đoạn điều chỉnh, giai đoạn bắt đầu suy thoái, giai đoạn suy thoái và giai đoạn phục hồi Theo nhận định cũng như các kết quả khảo sát về các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư thì yếu tố tài chính & yếu tố tâm lý là hai nhóm yếu tố tác động chủ yếu khi họ ra quyết định Cụ thể mục tiêu lợi nhuận riêng mỗi cá nhân
và tâm trạng của nhà đầu tư là hai nhân tố ảnh hưởng mạnh đến phần lớn quyết định của các nhà đầu tư cá nhân Tuy nhiên, những yếu tố ảnh hưởng trên được các nghiên cứu tìm ra khi họ ra quyết định ở thời điểm thị trường giao dịch cổ phiếu rất khả quan Tình hình biến đổi tốt của thị trường cũng là một trong những điều kiện góp phần tạo hưng phấn cho các nhà đầu tư tự tin khi tham gia vào thị trường và dễ dàng ra quyết định Tất cả các nghiên cứu và nhận định trên đều xét tại thời điểm thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh kết hợp với những dự báo
về triển vọng phát triển theo chiều hướng tốt hơn nữa trong tương lai của thị trường chứng khoán và không xét đến sự suy thoái của thị trường cổ phiếu Trên thực tế, thị trường cổ phiếu đã bắt đầu suy thoái từ cuối năm 2007 và chỉ mới bắt đầu phục hồi từ đầu năm 2012, do đó quyết định của nhà đầu tư sẽ bị ảnh hưởng
Trang 15của nhiều nhân tố khác nhau tùy theo từng giai đoạn.
Là một nhân viên của công ty chứng khoán, qua quá trình làm việc, tiếp xúc với nhà đầu tư, tác giả nhận thấy được ở mỗi thời điểm khác nhau nhà đầu tư thường quyết định mua bán cổ phiếu dựa vào những yếu tố khác nhau Do đó tác giả đã tiến hành nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư
cá nhân trong diễn biến thị trường đang phục hồi Từ nghiên cứu này sẽ khẳng định lại và nhận dạng thêm các yếu tố ảnh hưởng xét trong hoàn cảnh cụ thể khi thị trường đang phục hồi, từ đó đưa ra những giải pháp góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
• Mục tiêu nghiên cứu
• Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
• Đối tượng nghiên cứu: các nhà đầu tư cá nhân tham gia giao dịch cổ phiếu trên thị trường chứng khoán tại TP HCM, chỉ khảo sát các nhà đầu tư trong nước, không xét các nhà đầu tư nước ngoài
Trang 16• Phạm vi nghiên cứu: chỉ thực hiện nghiên cứu tại các sàn giao dịch của công ty chứng khoán ngân hàng Sacombank (SBS).
• Phương pháp nghiên cứu
Gồm 2 phương pháp: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
• Nghiên cứu định tính dùng để nghiên cứu khám phá: sử dụng các câu hỏi mở
để phỏng vấn trực tiếp và trao đổi với 5 nhà đầu tư cá nhân tại các sàn giao dịch của công ty chứng khoán SBS để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân và bổ sung vào mô hình nghiên cứu làm tiền đề cho nghiên cứu định lượng Nội dung chủ yếu trong phần phỏng vấn của nghiên cứu định tính
sẽ tập trung vào hai nhóm yếu tố tài chính và yếu tố tâm lý
• Nghiên cứu định lượng dùng để nghiên cứu chính thức: sử dụng kỹ thuật phỏng vấn bằng bảng câu hỏi đối với các nhà đầu tư cá nhân tại TP HCM với số lượng mẫu n = 154 nhằm mục đích kiểm định thang đo và mô hình lý thuyết Thang đo được kiểm định sơ bộ bằng hệ số tin cậy Cronbach Alpha, phân tích nhân tố EFA và phân tích hồi qui thông qua phần mềm xử lý số liệu thống kê SPSS
• Tổng quan nghiên cứu và tính mới của đề tài
Các đề tài về chứng khoán đã được các nhà nghiên cứu và học viên cao học nghiên cứu khá nhiều:
• Nghiên cứu “The Influence of Investor Psychology on Disposition Effect” của Pi-Chuan Sun và Shu Chun Hsiao chỉ nghiên cứu các yếu tố tâm lý tác động đến nhà đầu tư cá nhân và kết quả là các yếu tố sự quá tự tin, chống lại sự tiếc nuối, sự tính toán bất hợp lý và sự tự kiểm soát có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu
Trang 17tư cá nhân.
• Nghiên cứu “Psychological Biases of Investors” của H Kent Baker và John R Nofsinger (2002) cũng chỉ nghiên cứu về các yếu tố tâm lý và xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là cách nhà đầu tư nghĩ, cách nhà đầu tư cảm nhận và ảnh hưởng của xã hội
• Nghiên cứu “Factors Influencing Individual Investor Behavior” của Robert A Nagy và Robert W Obenberger (1994) nghiên cứu về các yếu tố tài chính có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là yếu tố về nhận thức cá nhân, thông tin về cổ phiếu, thông tin thị trường và nhu cầu tài chính cá nhân
• Đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế: “Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Việt Nam tại TTCK TP HCM ” của học viên Man Thái Hưng (Trường Đại học Bách Khoa TP HCM – năm 2007) đã xác định được các yếu tố hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là tâm lý nhà đầu tư, phân tích cơ bản và thông tin thị trường, nhưng nghiên cứu này thực hiện vào thời điểm thị trường chứng khoán đang tăng trưởng và không đưa ra yếu tố tâm lý cụ thể nào
• Tương tự, đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân năm 2007” của học viên Đặng Thị Thúy Dung (Trường Đại học Bách Khoa TP HCM – năm 2007) cũng thực hiện vào thời điểm thị trường đang tăng trưởng và xác định được các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là niềm tin đối với nhân viên môi giới, yếu tố nhận biết về cổ phiếu, yếu tố chấp nhận rủi ro và yếu tố hài lòng về những quyết định mua trước đây
Tuy nhiên, các đề tài nghiên cứu nước ngoài chỉ nghiên cứu về các yếu tố tài chính hoặc các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến nhà đầu tư cá nhân, còn các nghiên
Trang 18cứu trong nước chủ yếu nghiên cứu trong thời điểm thị trường chứng khoán đang tăng trưởng, do đó đề tài này có tính mới là sẽ nghiên cứu cả yếu tố tài chính và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân trong thời điểm thị trường đang phục hồi.
• Bố cục của đề tài
Luận văn được chia thành 5chương:
• Chương 1: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu
• Chương 2: Giới thiệu về thị trường chứng khoán Việt Nam
• Chương 3: Thiết kế nghiên cứu
• Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu
• Chương 5: Các giải pháp và kiến nghị để thu hút nhà đầu tư cá nhân góp phần phát triển thị trường chứng khoán Việt Nam
Ngoài ra, còn có Lời mở đầu và Kết luận
CHƯƠNG 1
Trang 19CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
• CÁC LÝ THUYẾT CÓ LIÊN QUAN ĐẾN QUYẾT ĐỊNH ĐẦU TƯ
CHỨNG KHOÁN
Liên quan đến các quyết định của nhà đầu tư chứng khoán có một số lý thuyết
mà các nhà nghiên cứu đã thực hiện là lý thuyết tài chính hành vi bao gồm lý thuyết triển vọng, lý thuyết tiếc nuối, lý thuyết quá tự tin, lý thuyết mâu thuẫn nhận thức và lý thuyết tâm lý đám đông.
• Lý thuyết triển vọng
Theo lý thuyết triển vọng của Kahneman & Tversky’s (1979), nhà đầu tư có khuynh hướng xem khả năng bù đắp một khoản lỗ quan trọng hơn khả năng kiếm được nhiều lợi nhuận hơn Khi khoản đầu tư có khuynh hướng mang lại lợi nhuận, nhà đầu tư thường thích việc nắm chắc ngay khoản lợi nhuận hiện tại hơn là cố gắng tiếp tục đầu tư cho lợi nhuận nhiều hơn trong tương lai Nhưng ngược lại, khi khoản đầu tư có nguy cơ bị thua lỗ thì nhà đầu tư lại cố gắng duy trì với hy vọng sẽ nhận được khoản lời trong tương lai, mặc dù lúc này rủi ro lỗ nhiều hơn của họ là rất lớn Điều này cho thấy, khi đối mặt với khoản lợi nhuận thì nhà đầu
tư muốn nắm chắc nó, nhưng với khoản lỗ, nhà đầu tư trở nên liều lĩnh hơn, chấp nhận rủi ro nhiều hơn
Lý thuyết này dùng để giải thích xu hướng mua bán cổ phiếu của các nhà đầu tư: bán quá nhanh cổ phiếu có lời và giữ cổ phiếu lỗ quá lâu, bởi vì nhà đầu tư kỳ vọng rằng cổ phiếu đang sụt giá sẽ tốt hơn cổ phiếu đang lời của họ trong tương lai Một nhà đầu tư đã mua cổ phiếu vì những thông tin có triển vọng sẽ nhanh chóng bán cổ phiếu này khi giá cổ phiếu tăng bởi vì họ tin vào thông tin của họ và
Trang 20họ cho rằng thông tin này bây giờ đã tương ứng với giá cổ phiếu (Brad M Barker,
1999, The Courage of Misguided Conviction: The Trading Behavior of Individual Investors) Như vậy, lý thuyết này tập trung vào tâm lý kỳ vọng vào lợi nhuận của nhà đầu tư và tâm lý thích an toàn, khi nhà đầu tư cảm thấy họ đạt được lợi nhuận mong muốn thì sẽ bán cổ phiếu đi để kiếm lời mà không phân tích khả năng tăng thêm lợi nhuận”
• Lý thuyết tiếc nuối
Kahneman, Paul Slovic và Tversky’s cũng đưa ra lý thuyết tiếc nuối vào năm
1982 là con người luôn có khuynh hướng cảm thấy khổ sở, đau buồn sau khi phạm phải một sai lầm trong phán đoán Bên cạnh đó, lý giải cho xu hướng “bán cổ phiếu lời quá nhanh và giữ cổ phiếu lỗ quá lâu” lý thuyết tiếc nuối của Odean (1998) cho rằng nhà đầu tư luôn nghĩ rằng những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ sợ phải nuối tiếc khi bán lỗ cổ phiếu này
Lý thuyết này đã tập trung lý giải cho tâm lý của nhà đầu tư khi đối mặt với tình trạng thua lỗ, lúc này nhà đầu tư lại càng kỳ vọng vào lợi nhuận của họ trong tương lai, họ sợ nuối tiếc nếu như phải bán lỗ Trong hoàn cảnh đối mặt với rủi ro, nhà đầu tư càng thể hiện sự liều lĩnh của mình
• Lý thuyết quá tự tin
Sự tự tin của con người thể hiện ở con người có xu hướng đánh giá sự chính xác về hiểu biết của họ (Fischhoff, Slovic & Lichtentein, 1977) và khả năng phán đoán của họ (Lichtentein, Fischhoff & Phillips, 1982)
Hầu hết các nhà đầu tư xem bản thân họ tốt hơn những nhà đầu tư khác và
Trang 21đánh giá cao bản thân hơn những gì người khác đánh giá (Taylor & Brown, 1988)
Và họ thường phóng đại những gì họ hiểu biết (Fischhoff, 1982)
Odean (1998) đã chứng minh được lý thuyết này liên quan đến hành vi đầu tư như sau: những nhà đầu tư quá tự tin giao dịch nhiều hơn những nhà đầu tư khác
Sự quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó là lý do khiến nhà đầu
tư sẵn sàng về quan điểm của họ, họ không cần tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác
Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu
tư Nhà đầu tư quá tự tin cũng cho rằng hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu
tư khác cảm nhận Tuy nhiên những nhà đầu tư quá tự tin lại thường hiểu sai giá trị thông tin họ nhận được, không những tính chính xác của thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của thông tin
• Lý thuyết mâu thuẫn nhận thức
Lý thuyết này không những bao gồm cả những rủi ro được xem xét và thông tin mong đợi mà còn có cả nhu cầu của nhà đầu tư để tự biện hộ cho họ khi bị thua
lỗ Khi nhà đầu tư thua lỗ, thay vì họ thừa nhận “tôi đầu tư bị lỗ” thì họ lại nghĩ
“việc đầu tư của tôi sẽ tốt trở lại” (Zuchel, 2001)
Zuchel cho rằng mâu thuẫn về nhận thức chỉ phát sinh khi thua lỗ Bởi vì con người thường khó chấp nhận mình bị lỗ hơn, còn khi lời họ thích nói nhiều về điều
đó hơn
Trang 22Lý thuyết này cho thấy sự tự tin quá mức của nhà đầu tư, họ không chấp nhận sai lầm của họ mà vẫn tìm lý lẽ để biện hộ và níu kéo hy vọng Chính lý thuyết này giải thích nguyên nhân các nhà đầu tư càng lún sâu vào các khoản đầu tư lỗ, thay vì thừa nhận và đầu tư vào những loại cổ phiếu mới.
• Lý thuyết tâm lý đám đông
Theo lý thuyết này, làm theo đám đông không chỉ giới hạn với những nhà đầu
tư chưa có kinh nghiệm mà việc làm theo đám đông xuất hiện trực tiếp đến những tình huống không chắc chắn và mơ hồ (Olsen & Robert A., 2000)
Khi 1 tình huống ra quyết định trở nên không chắc chắn thì ảnh hưởng hành vi
và quan điểm của đám đông sẽ làm cho các cá nhân trở nên chắc chắn hơn (Blake
& Helson, 1957; Crutchfield, 1955; Ghosh & Ray, 1997) Những nhà nhân chủng học đã ghi chép trong khoảng thời gian rất lâu rằng một trong những mơ ước cơ bản xã hội của loài người và những động vật khác là sự thôi thúc giao tiếp xã hội Hầu như trong lịch sử nhân loại, sự giao tiếp xã hội được đáp ứng bởi những thành viên của một nhóm người Khi xuất hiện những hành vi của một nhóm người sẽ gây sự chú ý đến bộ não của con người (Brothers, 1997)
Như vậy lý thuyết này đã khẳng định, tâm lý đám đông luôn tồn tại trong quá trình ra quyết định của con người cũng như nhà đầu tư không phân biệt việc có kinh nghiệm hay không Và lý thuyết ảnh hưởng đám đông này càng thấy rõ khi nhà đầu tư buộc phải đưa ra các quyết định nhanh chóng, chưa có đầy đủ thông tin cần thiết
• CÁC MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ YẾU TỐ TÂM LÝ CỦA NHÀ ĐẦU
Trang 23TƯ CÁ NHÂN
Có khá nhiều nghiên cứu về tâm lý của nhà đầu tư cá nhân, tuy nhiên sau khi
đã xem xét kỹ về đặc điểm nhà đầu tư cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh có 2 nghiên cứu phù hợp với nghiên cứu này là nghiên cứu của Pi-Chuan Sun & Shu Chun Hsiao và nghiên cứu của H Kent Baker & John R Nofsinger Trước hết, xem xét nghiên cứu của Pi-Chuan Sun & Shu Chun Hsiao
• Mô hình nghiên cứu của Pi – Chuan Sun & Shu Chun Hsiao
Theo Pi-Chuan Sun & Shu Chun Hsiao tâm lý nhà đầu tư được dựa trên 4 yếu tố: Sự quá tự tin (Overconfidence), Chống lại sự nuối tiếc (Regret aversion), Sự tính toán bất hợp lý (Mental Account) và Sự tự kiểm soát (Self-Control)
Hình 1.1 Mô hình nghiên cứu của Pi-Chuan Sun & Shu Chun Hsiao
Trang 241.2.1.1 Sự quá tự tin
Về sự quá tự tin, Fischhoff & Phillips (1982) cho rằng con người thường phán đoán sai về khả năng những gì có thể xảy ra và liên tưởng đến những lần xảy ra trong thực tế giống với những điều mình phán đoán để làm cơ sở đánh giá cao sự phán đoán của mình trong tình huống này Điều này có nghĩa là con người đã quá
tự tin bởi vì họ tin là mình đúng và tìm những dẫn chứng để ủng hộ cho nhận định của mình, biểu hiện cách nhìn vấn đề thiếu chủ quan
Odean (1998) thì lại nhấn mạnh rằng sự quá tự tin có thể là kết quả của việc đánh giá quá cao những điều nổi bật trước đây và kiến thức về cổ phiếu Con người thường nhớ những thành công và dễ dàng quên đi những thất bại Quá tự tin thường là lý do dẫn đến quyết định sai bởi vì đánh mất cơ hội hiệu chỉnh và nâng cao khả năng ra quyết định đúng
1.2.1.2 Chống lại sự nuối tiếc
Shefrin & Statement (1985) cho rằng nuối tiếc là 1 cảm xúc liên quan sự lựa chọn tốt hơn trong quá khứ mà nhà đầu tư đã bỏ qua
Barber & Odean (1999) thì lại đưa ra giả thuyết là nhà đầu tư muốn né tránh sự nuối tiếc Do đó, khi nhà đầu tư thấy giá cổ phiếu đi xuống, họ vẫn mong giá sẽ lên trở lại và họ tiếp tục giữ cổ phiếu
Còn theo Siller (2000) lý thuyết sự nuối tiếc có thể giúp giải thích những yếu
tố mà nhà đầu tư trì hoãn viêc bán cổ phiếu đã giảm giá và sẵn sàng bán cổ phiếu
Trang 25đang tăng giá Bởi vì nhà đầu tư nghĩ giá cổ phiếu sẽ tuân theo chu kỳ, sau khi giảm thì sẽ lại tăng cho nên nhà đầu tư chấp nhận chờ đợi cổ phiếu tăng giá trở lại hơn là phải bán lỗ ngay mà không phân tích nhiều về nguyên nhân thật sự làm cho giá cổ phiếu giảm
Trong trường hợp này cũng thể hiện sự tự tin quá mức vào khả năng tự kiểm soát tình huống của nhà đầu tư Họ cho những gì mình nghĩ về chu kỳ giá là đúng nên dựa vào đó mà quyết định
1.2.1.3 Tính toán bất hợp lý
Các nhà nghiên cứu Tversky & Kahneman (1981), Thaler (1985), Kahneman
& Lovallo (1993) cho rằng tính toán bất hợp lý là việc nhà đầu tư chia kết quả ra thành nhiều phần riêng biệt còn đối với Thaler (1999) cho rằng những tính toán giả thuyết về thành công hay thất bại thì đòi hỏi phải khéo léo, nhưng rõ ràng việc nhận thấy sự thất bại thực tế rất khó so với thất bại trong giả thuyết Bởi vì, thất bại thì thật tồi tệ, một dự báo về việc tính toán bất hợp lý là con người sẽ miễn cưỡng bán cổ phiếu đang bị thua lỗ của họ Nguyên nhân chính của việc nhận ra thất bại thực tế khó hơn trong giả thuyết bởi vì lúc này nhà đầu tư xem xét vấn đề không theo tổng thể mà lại tách từng thành phần liên quan ra thành những yếu tố nhỏ để phân tích độc lập, trong khi nhìn tổng thể các yếu tố này có thể ảnh hưởng qua lại với nhau Do đó, những tính toán này của nhà đầu tư dẫn đến những quyết định sai lầm
Năm 2000, Shefrin & Statement cũng đã phát triển lý thuyết danh mục đầu tư của hành vi đầu tư dựa trên lý thuyết triển vọng của Lopes (1987) và Kahneman & Tversky (1979) Hai ông đã tận dụng những tính toán đơn giản và phức tạp để suy
Trang 26luận ra lý thuyết danh mục đầu tư Bởi vì nhà đầu tư có thể xem những cổ phiếu
có giá trị ngang nhau như 1 loại cổ phiếu trong trường hợp tính toán đơn giản Trong trường hợp nhà đầu tư có những tính toán phức tạp sẽ chia danh mục ra thành những tính toán khác nhau để phân tích
Như vậy những tính toán bất hợp lý này xảy ra khi nhà đầu tư phân tích cổ phiếu nhưng lại tách riêng những thông tin tác động đến cổ phiếu để phân tích, làm cho phân tích thiếu thực tế dẫn đến đầu tư thua lỗ
Odean (1998) và Grinblatt & Keloharju (2001) đã chứng minh được nhà đầu tư bán nhiều cổ phiếu thua lỗ hơn vào gần cuối năm Lý do hợp lý để giải thích ở đây
là do thuế của chính phủ Mỹ áp dụng đối với giao dịch cổ phiếu của các nhà đầu
tư Điều này có nghĩa nguyên nhân chủ yếu của việc bán nhanh cổ phiếu lỗ lúc này không phản ánh sự suy thoái của công ty niêm yết hay thị trường mà chỉ đơn giản do nhà đầu tư muốn kiểm soát thu nhập chịu thuế của mình
• Mô hình nghiên cứu của H Kent Baker & John R Nofsinger
Trang 27H Kent Baker & John R Nofsinger đã nghiên cứu về “Xu hướng tâm lý của nhà đầu tư” và đưa ra những yếu tố sau đây có ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư:
Bảng 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư của H Kent Baker
& John R Nofsinger
Trang 283 Ảnh hưởng xã hội Truyền thông
Ảnh hưởng xã hộiInternet
• Cách nhà đầu tư nghĩ
• Lệch lạc do tình huống điển hình
Tình huống điển hình là một sự đánh giá dựa trên việc rập khuôn Lệch lạc do tình huống điển hình do nhà đầu tư mua cổ phiếu tiêu biểu cho những loại cổ phiếu họ ao ước (Shefrin, 2000) Ví dụ: nhà đầu tư nhầm lẫn giữa công ty tốt với
cổ phiếu tốt, họ cho rằng 1 công ty đạt lợi nhuận cao, doanh số tăng trưởng cao và quản lý có chất lượng sẽ đại diện cho 1 công ty tốt Nhưng 1 cổ phiếu tốt là cổ phiếu tăng giá nhiều hơn những cổ phiếu khác (Solt & Statman, 1989), đây là trường hợp họ nhận định thương hiệu công ty liên quan đến xu hướng giá cổ phiếu hay là nhà đầu tư cho rằng cổ phiếu Blue-chips sẽ luôn tăng giá nhiều hơn các cổ phiếu khác
Việc phân loại cổ phiếu dựa vào xem xét công ty có lịch sử tăng trưởng lợi nhuận tốt hay không, bỏ qua thực tế là có vài công ty có thể chỉ duy trì kết quả kinh doanh cao trong quá khứ Nhận định này làm cho giá của cổ phiếu đẩy lên quá cao Theo thời gian, nhà đầu tư lo là họ quá lạc quan khi đánh giá tiềm năng trong tương lai của công ty và giá cổ phiếu giảm Đây chính là nguyên nhân làm cho các cổ phiếu tăng giá mạnh trong thời gian dài nhưng lại sụt giá nhanh, nhà đầu tư đã đánh giá cao giá trị của cổ phiếu
Trang 29Nhà đầu tư thích mua cổ phiếu có lời trong quá khứ bởi vì họ tin rằng xu hướng giá trong quá khứ sẽ đại diện cho giá trong tương lai, từ đó nhà đầu tư sẵn sàng chấp nhận rủi ro là giá cổ phiếu đã đạt mức tăng đỉnh, khả năng kiếm thêm lợi nhuận của cổ phiếu sẽ không cao nữa.
• Mâu thuẫn về nhận thức
Nhà đầu tư điều chỉnh trí nhớ về thông tin và thay đổi ký ức của những quyết định trước đó (Akerlof & Dickens, 1982) Mâu thuẫn nhận thức là kết quả của việc nhà đầu tư cố gắng né tránh hay đánh giá thấp những thông tin mâu thuẫn với niềm tin và cố tìm kiếm những thông tin củng cố niềm tin của mình Chẳng hạn khi nhà đầu tư tin là cổ phiếu này sẽ tăng giá rất cao trong tương lai nhưng có thông tin xấu về cổ phiếu này thì nhà đầu tư sẽ tìm kiếm những thông tin tốt trong quá khứ hay những trường hợp tương tự để củng cố niềm tin của mình và không thay đổi quyết định đầu tư
Nhà đầu tư có thể nhớ những điều trong quá khứ tốt hơn những gì nó đã xảy
ra Nghĩa là nhà đầu tư luôn cường điệu những vấn đề xảy ra trong quá khứ khi cần thiết để làm căn cứ biện hộ cho quyết định đầu tư của mình Lúc này, nhà đầu
tư sử dụng những định kiến quá nhiều trong việc phân tích và quyết định
• Sự hiểu rõ
Con người thường thích những thứ quen thuộc với họ Nhà đầu tư cũng vậy,
họ có xu hướng mua quá nhiều cổ phiếu quen thuộc Bởi vì cổ phiếu này là những
cổ phiếu họ tin rằng họ đã biết rõ, họ tin rằng như vậy sẽ ít rủi ro hơn việc mua cổ
Trang 30phiếu lạ.
Ví dụ: nhà đầu tư có xu hướng mua cổ phiếu của các công ty địa phương (Huberman, 2001) Nhà đầu tư thích mua cổ phiếu của những công ty trong nước hơn những công ty nước ngoài Khi mua những cổ phiếu quen này, nhà đầu tư cho rằng họ sẽ nắm bắt kỹ thông tin hơn những nhà đầu tư ở xa, họ sẽ kiểm soát cổ phiếu này tốt hơn
• Tâm trạng và sự lạc quan
Tâm trạng ảnh hưởng đến cách nhà đầu tư phân tích và đánh giá (Nofsinger, 2002) Người có tâm trạng tốt sẽ có những đánh giá lạc quan hơn những người có
tâm trạng xấu Khi nhà đầu tư có tâm trạng tốt họ sẽ quyết định nhanh mà không
cần phải phân tích quá kỹ Tuy nhiên nếu tâm trạng tốt là lý do nhà đầu tư mua một cổ phiếu mà không có sự phân tích hợp lý sẽ khiến cho nhà đầu tư hối tiếc trong tương lai
• Sự quá tự tin
Nhà đầu tư thường quá tự tin về khả năng của họ khi vượt qua những khó khăn, chẳng hạn như việc chọn đúng cổ phiếu tốt để đầu tư Họ đánh giá cao sự hiểu biết của mình và họ cho rằng họ có thể dự báo chính xác
Belsky & Gilovich (1999) xem sự quá tự tin như là tính tự kỷ và ghi chú sự quá tự tin này lan tràn khắp nơi
Trang 31Có hai yếu tố tạo nên sự quá tự tin:
• Ảo tưởng về kiến thức, nghĩa là tự tin có nhiều thông tin quan trọng Tăng cấp
độ những thông tin không cần thiết dẫn đến kiến thức rộng bởi vì nhiều nhà đầu tư không được huấn luyện, đào tạo kiến thức phân tích cổ phiếu Họ đã cho rằng việc
có nhiều thông tin đồng nghĩa với việc có nhiều kiến thức Điều này có thể là nguyên nhân khiến cho các nhà đầu tư thích tìm hiểu các thông tin nội bộ, thông tin không chính thức về công ty họ mua cổ phiếu
• Ảo tưởng về khả năng kiểm soát, con người thường tin rằng họ ảnh hưởng đến kết quả của một sự kiện không có khả năng kiểm soát được Yếu tố chính làm tăng
sự ảo tưởng về khả năng kiểm soát là sự lựa chọn, chuỗi kết quả, công việc quen thuộc, thông tin và những hoạt động có liên quan (Presson & Benassi, 1996)
Nhà đầu tư quá tự tin rất tin vào giá trị của cổ phiếu của họ và ít lo lắng về niềm tin của những nhà đầu tư khác (Barber & Odean, 1999)
• Những thứ có sẵn
Con người thường đòi hỏi mua vật gì đó giá trị nhiều hơn họ sẽ trả để mua nó (Kahneman, Knetsch & Thaler, 1990, 1991) Nghĩa là họ luôn muốn có được nhiều hơn những gì họ có thể có Con người có xu hướng giữ những cổ phiếu mà
họ đang có Samuelson & Zeckhauser (1988) phát biểu rằng khi những người sinh viên thừa hưởng một số tiền lớn, họ có rất nhiều lựa chọn để đầu tư thì họ chọn việc giữ lại lại những cổ phiếu mà họ được thừa hưởng Nghĩa là, nếu họ thừa kế được tiền giấy thì họ chọn việc giữ nó, nếu họ thừa kế 1 công ty có rủi ro cao, họ
Trang 32cổ phiếu trước đây là một quyết định tệ hại, đặc biệt trong trường hợp giá cổ phiếu
bị rớt
Tvesky & Shafir (1992) nhận thấy rằng quyết định trì hoãn 1 hành động, hoặc không hành động sẽ gia tăng khi có quá nhiều lựa chọn hấp dẫn tồn tại Do đó, vài nhà đầu tư đã lựa chọn tránh việc thay đổi
• Điểm tham chiếu
Có vài nhà đầu tư gắn bó với một giá đặc biệt của cổ phiếu Giá đặc biệt của cổ phiếu được gọi là điểm tham chiếu Điểm tham chiếu là giá cổ phiếu mà nhà đầu
tư so sánh với giá cổ phiếu hiện tại (Benartzi & Thaler, 1995) Sự lựa chọn điểm tham chiếu của người giỏi nhất nhóm rất quan trọng bởi vì nó xác định nhà đầu tư
có cảm thấy hài lòng với mức lợi nhuận hay khoản lỗ hay không Một điểm tham chiếu quan trọng là giá mua của cổ phiếu Và giá cao nhất của cổ phiếu cũng được
Trang 33điểm tham chiếu mới quyết định giao dịch.
• Quy luật của nhóm nhỏ
Nhiều nhà đầu tư giữ mãi ý kiến cho rằng đám đông sẽ tạo ra xu hướng mới theo thời gian (Nofsinger, 2002)
Nhiều nhà đầu tư không tin là giá cổ phiếu là ngẫu nhiên, họ có xu hướng cho rằng xu hướng giá cổ phiếu sẽ tiếp tục như vậy Bởi vì nhà đầu tư đã tin tưởng sai lầm là một nhóm mẫu nhỏ có tương đồng với đám đông (Rain, 2002) Họ cho rằng nhóm nhỏ mà họ nhận định đã có thể mô phỏng cho toàn bộ thị trường
• Tính toán bất hợp lý
Tính toán bất hợp lý là việc nhà đầu tư thường hay tách riêng các quyết định
mà lẽ ra chúng phải được kết hợp lại với nhau (Thaler, 1980) Từ đó dẫn đến những phân tích thiếu hệ thống và họ sẽ dễ mắc sai lầm cũng như khó vượt qua những tình huống xấu trong đầu tư vì những gì thực tế xảy ra khác nhiều so với những gì họ nhận định sẽ xảy ra
1.2.2.2 Cách nhà đầu tư cảm nhận
• Ảnh hưởng của khuynh hướng
Con người muốn cảm thấy hài lòng về bản thân họ Có hai thứ làm con người xúc động mạnh là tính tự phụ và sự hối tiếc Con người cố tìm cho được hành
Trang 34động làm cho họ có niềm kiêu hãnh và tránh hành động dẫn đến sự hối tiếc Tránh hối tiếc và tìm kiếm sự kiêu hãnh có ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư (Shefrin & Staman, 1985) Cụ thể, việc tránh hối tiếc và tìm kiếm sự kiêu hãnh dẫn đến việc họ bán quá sớm những cổ phiếu tăng giá, vì họ cảm thấy hài lòng với quyết định mua cổ phiếu đó trước đây Ngược lại, nếu giá cổ phiếu bị giảm sau khi mua, họ có xu hướng giữ cổ phiếu lại vì họ tránh cảm giác tồi tệ về quyết định sai lầm khi mua cổ phiếu này.
Có vài minh chứng cho thấy, nhà đầu tư thành công sẽ tiếp tục thành công và ngược lại nhà đầu tư thua lỗ sẽ tiếp tục thua lỗ (De Bondt & Thaler, 1985, 1987) Tuy nhiên, Shefrin (2000) cho rằng ảnh hưởng của lời - lỗ xuất phát từ tính bảo thủ, quá tự tin và thích nổi bật của nhà đầu tư
Tuy nhiên từ những nhận định trên có thể nói, khuynh hướng này phản ánh tính ngại rủi ro của nhà đầu tư
• Sự gắn bó
Một xu hướng tâm lý khác là sự gắn bó, nghĩa là việc nhà đầu tư trở nên gắn
bó với một loại cổ phiếu giống như là con người thường thích gắn bó với cha mẹ, anh chị em con cái và bạn bè của mình Sự gắn bó này là do họ tập trung đến đặc điểm và hành vi tốt để giảm hoặc tránh những đặc điểm hay hành vi xấu, do đó nhà đầu tư cũng muốn gắn bó với một loại cổ phiếu
Khi một nhà đầu tư gắn bó đặc biệt với một loại cổ phiếu, họ sẽ không nhận ra những tin tức xấu về công ty và thường giữ những cổ phiếu này quá lâu, ví dụ như rất nhiều người đã nghỉ hưu và nhân viên hiện tại tiếp tục giữ cổ phiếu của công ty
Trang 35mà họ đã làm hay đang làm.
• Phản ứng với rủi ro
Cảm xúc của con người sẽ đặc biệt mạnh mẽ sau những sự kiện thành công hay thất bại (Thaler & Johnson, 1990) Khi nhà đầu tư đang thành công, tính tham danh lợi sẽ ảnh hưởng đến sự an toàn trong quyết định của họ Càng thành công, nhiều nhà đầu tư có thể cảm thấy họ thích đánh bạc với tiền bạc của họ Điều này mang lại nhiều rủi ro cho các nhà đầu tư Và ngược lại, đối với các nhà đầu tư thua
lỗ, họ sẽ không muốn giữ bất cứ cổ phiếu nào sau một chuỗi những thất bại, vì họ
sợ rủi ro Kahneman & Tversky (1979) gọi đây là “hội chứng sợ thua lỗ”
1.2.2.3 Ảnh hưởng xã hội
• Phương tiện truyền thông
Phương tiện truyền thông có ảnh hưởng rất lớn đến từng cá nhân Kinh doanh
và đầu tư làm cho nhà đầu tư thích nói về những chuyện tốt Những nhà báo cũng chỉ tìm ra những điểm tốt để đăng tin
Phương tiện truyền thông thường ảnh hưởng thuyết phục nhà đầu tư ra quyết định đầu tư bằng cách đưa các thông tin về các chỉ số hay các báo cáo tài chính của công ty, đặc biệt, khi các phương tiện này cung cấp quan điểm của các chuyên gia
• Ảnh hưởng của xã hội
Trang 36Những người có cùng sở thích, thị hiếu và mong muốn sẽ có cách sống giống nhau Nhóm những người này phát triển tiêu chuẩn xã hội theo những gì họ tin tưởng Người mới sẽ khám phá ra nhóm người này bằng cách quan sát hành động hay nói chuyện với họ Sự chọn lựa theo đám đông sẽ xuất hiện khi ra quyết định với những thông tin không đầy đủ (Ellision & Fudenberg, 1993) Môi trường cũng ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu tư Ví dụ, nếu nhà đầu tư chơi với nhóm người nói nhiều về giao dịch hằng ngày, nhà đầu tư cũng thích giao dịch hàng ngày, nếu những người này nói nhiều về cổ phiếu quốc tế, nhà đầu tư có thể thiên
về danh mục cổ phiếu quốc tế Ảnh hưởng này phản ánh sự ảnh hưởng của đám đông là khó tránh khỏi của nhà đầu tư
đó, khả năng truyền thông tin của mạng điện tử là rất nhanh, do đó có thể xem mạng điện tử cũng giúp cho các nhà đầu tư truy cập tin tức nhanh nhưng lại không chắc chắn về tính chính xác của thông tin Do đó, có thể nói mạng điện tử vừa giúp ít cho nhà đầu tư nhưng cũng có thể ảnh hưởng không tốt đến nhà đầu tư qua việc cung cấp thông tin không kiểm định độ chính xác so với phương tiện truyền thông là báo chí, truyền hình
• MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU CỦA ROBERT A NAGY & ROBERT W
Trang 37NHÂN (1994)
Nghiên cứu của Robert A Nagy and Robert W Obenberger, Các yếu tố ảnh
hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân (1994), đã được nhiều nước ứng
dụng để thực hiện, điển hình là ở UAE là:
• Yếu tố về nhận thức cá nhân: ấn tượng của nhà đầu tư về sản phẩm của doanh nghiệp, vị trí của doanh nghiệp trong ngành, danh tiếng của doanh nghiệp
• Thông tin về cổ phiếu: khả năng bán được cổ phiếu, lợi nhuận kỳ vọng, cổ tức, thông tin giá của cổ phiếu
• Thông tin thị trường: chỉ số chứng khoán toàn thị trường, khối lượng giao dịch của cổ phiếu
• Nhu cầu tài chính cá nhân: sự hấp dẫn từ những thị trường đầu tư khác
Nghiên cứu cho thấy rằng khi quyết định các nhà đầu tư cá nhân ở UAE thường đặt ra mục tiêu lợi nhuận kỳ vọng cho mình và thường đa dạng hóa danh mục đầu tư nhằm giảm rủi ro Họ cũng thường xem xét đến sản phẩm của doanh nghiệp, ngành của doanh nghiệp niêm yết và danh tiếng của doanh nghiệp đó trong trong ngành Bên cạnh đó, các thông tin như khả năng mua bán của cổ phiếu, khối lượng giao dịch của cổ phiếu, chỉ số chứng khoán toàn thị trường cũng tác động đến quyết định của nhà đầu tư
Dựa vào kết quả nghiên cứu trên, tại Việt Nam đã có một số nghiên cứu nhằm
Trang 38tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của các yếu tố này đối với nhà đầu tư Việt Nam Kết quả cho thấy các yếu tố này cũng có tác động đến quyết định của nhà đầu tư Do vậy kết quả của các nghiên cứu trên sẽ được sử dụng trong nghiên cứu này khi khảo sát các yếu tố tài chính.
• CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
Theo kết quả các nghiên cứu về yếu tố ảnh hưởng đến quyết định của nhà đầu
tư cá nhân khi tham gia giao dịch trên thị trường chứng khoán Việt Nam ở thời điểm thị trường chứng khoán tăng trưởng mạnh (đầu năm 2007), thì các kết quả như sau:
• Theo khảo sát chung về các yếu tố này từ Đề tài: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến xu hướng mua cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán TP.HCM – Luận văn Thạc sĩ (07/2007) của tác giả Đặng Thị Thuý Dung, xu hướng mua chịu ảnh hưởng bởi 4 yếu tố: niềm tin đối với những người môi giới, yếu tố nhận biết, yếu tố chấp nhận rủi ro, yếu tố hài lòng về những quyết định mua trước đây Trong đó yếu tố sự chấp nhận rủi ro có hệ số lớn nhất nên ảnh hưởng mạnh nhất đến xu hướng mua, tiếp đến là yếu tố nhận biết, sau cùng là yếu
tố hài lòng với các quyết định mua trước đây
• Theo Đề tài: Nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư Việt Nam tại TTCK TP HCM – Luận văn Thạc sĩ (2007) của học viên Man Thái Hưng đã xác định được các yếu tố hưởng đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân là tâm lý nhà đầu tư, phân tích cơ bản và thông tin thị trường nhưng nghiên cứu này thực hiện vào thời điểm thị trường chứng khoán đang tăng trưởng và không đưa ra yếu tố tâm lý cụ thể nào
Trang 39• CÁC GIẢ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT
Dựa vào các lý thuyết liên quan đến quyết định đầu tư chứng khoán và các nghiên cứu trước, giả thiết nghiên cứu và mô hình đề xuất cho đề tài này như sau:
1.5.1 Các giả thuyết nghiên cứu
- H1: Yếu tố Ảnh hưởng của Doanh nghiệp ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H2: Yếu tố Mục tiêu cá nhân ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H3: Yếu tố Thông tin cổ phiếu ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H4: Yếu tố Thông tin thị trường ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H5: Yếu tố Tâm lý đám đông ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H6: Yếu tố Sự tự tin ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H7: Yếu tố Khuynh hướng mua bán cổ phiếu ảnh hưởng đến quyết định đầu
tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
- H8: Yếu tố Sự chấp nhận rủi ro ảnh hưởng đến quyết định đầu tư chứng khoán của nhà đầu tư cá nhân
1.5.2 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trang 40Dựa theo các giả thuyết trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu như sau: