1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích tác động của thiên lệch hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân

64 179 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 64
Dung lượng 665,88 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Vì vậy, đề tài “Phân tích tác động của thiên lệch hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân” mà tác giả đã chọn sẽ góp phần nhỏ để làm sáng tỏ và đưa lý thuyết tài chính hành vi từ c

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

LÝ NGỌC PHƯỢNG

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN LỆCH HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.HCM, THÁNG 01/2012

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

LÝ NGỌC PHƯỢNG

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN LỆCH HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN

Chuyên ngành : Kinh tế Tài chính - Ngân hàng

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học:

PGS.TS Nguyễn Thị Ngọc Trang

TP.HCM, THÁNG 01/2012

Trang 3

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU: 1

1 Lý do lựa chọn đề tài 1

2 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu 2

3 Phương pháp nghiên cứu 2

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 3

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH HÀNH VI 4

1.1 TÀI CHÍNH TRUYỀN THỐNG 4

1.1.1 Học thuyết thị trường hiệu quả 4

1.1.2 Những khiếm khuyết của thị trường hiệu quả dẫn đến sự ra đời của thuyết tài chính hành vi 6

1.2 TÀI CHÍNH HÀNH VI 7

1.2.1 Tài chính hành vi là gì? 7

1.2.2 Lý thuyết kỳ vọng (The Prospect Theory) 8

1.2.3 Lý thuyết ra quyết định dựa trên kinh nghiệm chủ quan (Heuristics).10 1.2.4 Phân biệt tài chính hành vi vi mô và tài chính hành vi vĩ mô 11

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI TỒN TẠI 11

1.3.1 Hành vi không hợp lý 11

1.3.2 Hành vi không hợp lý mang tính hệ thống 12

1.3.3 Giới hạn khả năng chêch lệch giá 12

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN THIÊN LỆCH HÀNH VI 15

2.1 Thiên lệch do ác cảm mất mát, thua lỗ (Loss Aversion Bias) 15

2.2 Thiên lệch do tính toán bất hợp lý (Mental Acouting Bias) 17

2.3 Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc (Regret Aversion Bias) 19

2.4 Thiên lệch do quá tự tin (Overconfidence Bias) 22

2.5 Thiên lệch do tình huống điển hình (Representative Bias) 25

Trang 4

2.6 Thiên lệch do điểm tựa (Anchoring Bias) 27

2.7 Thiên lệch do ảo tưởng về sự kiểm soát (Illusion of control Bias) 30

2.8 Thiên lệch do củng cố thêm (Confirmation Bias) 31

2.9 Thiên lệch do sự kiện gần đây (Recenty Bias) 32

2.10 Thiên lệch do tâm lý bầy đàn (Herd behavior) 33

CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN LỆCH HÀNH VI ĐẾN QUYẾT ĐỊNH CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN TRÊN TTCK TP.HCM 3.1 Mô hình khảo sát 36

3.2 Quy trình khảo sát 36

3.3 Kết quả nghiên cứu 39

Trang 5

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1.EMH (Efficient Market Hypothesis): lý thuyết thị trường hiệu quả

2 EFA (Exploratory Factor Analysis): phân tích nhân tố khám phá

3 TTCK: thị trường chứng khoán

4 Tp.HCM: thành phố Hồ Chí Minh

Trang 6

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Thống kê mô tả sự ảnh hưởng của nhân tố tâm lý đến quá trình ra quyết định

đầu tư của nhà đầu tư cá nhân trên sàn Tp.HCM

Bảng 3.2 Thống kế mô tả tình hình sử dụng công cụ phân tích khi ra quyết định

Bảng 3.3 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến dựa vào lý thuyết kỳ vọng Bảng 3.4 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo các biến dựa vào lý thuyết kinh

nghiệm và nhận thức

Bảng 3.5 Kết quả đánh giá độ tin cậy của thang đo quyết định đầu tư

Bảng 3.6 Kết quả phân tích nhân tố EFA các biến độc lập

Bảng 3.7 Phân tích phương sai tổng thể

Bảng 3.8 Bảng xoay nhân tố

Bảng 3.9 Kết quả phân tích nhân tố EFA biến phụ thuộc

Bảng 3.10 Ma trận tương quan giữa các nhân tố

Bảng 3.11 Tóm tắt mô hình hồi quy:

Bảng 3.12 Nhân tố hành vi tác động đến loại giao dịch trong quyết định giao dịch của

nhà đầu tư

Trang 7

1

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài:

Nhiều học thuyết kinh tế tài chính cho rằng hành động của cá nhân là hợp lý

và có khả năng xử lý tất cả thông tin sẵn có trong quá trình ra quyết định Tuy nhiên, những nghiên cứu của Evan (2006), Gao và Schmidt (2005), Statman (1995, 1999), Tversky và Kahneman (1974) cho rằng hành động của nhà đầu tư thì không luôn luôn hợp lý Nghiên cứu của Berstein đưa ra cách hành xử không hợp lý, mâu thuẫn và thiếu khả năng trong việc ra quyết định và sự lưa chọn với điều kiện không chắc chắn Tài chính hành vi (nghiên cứu thị trường nhờ vào tâm lý học) đang làm sáng tỏ tại sao mọi người mua hoặc bán cổ phiếu và thậm chí tại sao họ không mua

cổ phiếu

Lý thuyết thị trường hiệu quả (EMH: dựa vào thông tin và sự hợp lý) thống trị vào những năm 1980 (Peters, 1996) Tuy nhiên, lý thuyết thị trường hiệu quả đang trở nên thất bại trong việc giải thích hành vi của thị trường, không thể giải thích tại sao giá cổ phiếu Mỹ rớt hơn 30% trong suốt 2 tháng và trước đó là sự sụp

đổ vào tháng 10/1987 Và ngày càng nhiều những bằng chứng (Statman, 1999) cho rằng Mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) thì không mô tả hết Vì vậy, tài chính hành vi cố gắng tìm hiểu và giải thích những sai lầm do cảm xúc và kinh nghiệm đã tác động đến nhà đầu tư như thế nào Nhiều nghiên cứu (như Shiller, 1998; Olsen, 1998; Rockenbach, 2004; Gao và Schmidt, 2005) tin rằng những nghiên cứu về tâm

lý học và những môn khoa học xã hội khác có thể làm sáng tỏ hành vi của thị trường tài chính, cũng như giải thích sự bất thường của thị trường cổ phiếu, bong bóng đầu cơ và sự sụp đổ của thị trường

Tuy nhiên hầu hết nghiên cứu hành vi được thực hiện ở những thị trường đã phát triển của Châu Âu và Mỹ (Odean, 1999; Rockenbach, 2004; Caparrelli, 2004; Fogel và Berry, 2006) Chỉ có một vài nghiên cứu được thực hiện ở các thị trường đang nổi (như Mansor và Lim, 1995; Lai et al., 2001)

Cũng như ở các thị trường đã phát triển, thị trường chứng khoán Việt Nam cũng có giai đoạn chứng khoán nóng đến nổi nhà nhà đều mua chứng khoán, trên

Trang 8

2

khắp các mặt báo đều là chứng khoán, cứ mua là thắng - từ những “đại gia” chứng khoán thì lời hàng chục tỷ đồng, thậm chí bà nội trợ, anh nhân viên phải gom góp, vay mượn vài chục triệu đồng làm vốn nay đã có bạc trăm triệu, thậm chí bạc tỷ đã thôi thúc người ta lao vào chơi chứng khoán Một nhà đầu tư đã phát biểu ”Ai bảo TTCK là canh bạc thì kệ họ nhưng chơi thắng nhiều hơn thua thì chưa ai chịu dừng” Chứng khoán vượt quá giá trị thật - biết chứ - nhưng họ vẫn mua Họ chấp nhận mua với giá cao vì tin chắc rằng trên thị trường sẽ còn có người chấp nhận mua lại nó với giá cao hơn nữa Họ vẫn kiếm lợi được Sức nóng của TTCK còn

“hút” cả anh hai lúa, bà bán đậu phộng đến ông xích lô… gom góp tiền dành dụm

cả đời đổ vào chơi chứng khoán Họ biết phân tích cổ phiếu, biết dự đoán khả năng hoạt động sinh lời của công ty? Không hề! Họ chơi theo xu hướng đám đông Thậm chí có nhiều người còn mua bán theo cách hoàn toàn bắt chước các nhà đầu tư nước ngoài

Vì vậy, đề tài “Phân tích tác động của thiên lệch hành vi đến quyết định của nhà đầu tư cá nhân” mà tác giả đã chọn sẽ góp phần nhỏ để làm sáng tỏ và đưa lý thuyết tài chính hành vi từ các thị trường đã phát triển và mở rộng sang thị trường mới nổi như Việt Nam

2 Đối tượng và mục tiêu nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu: Đối tượng nghiên cứu trọng tâm của đề tài là hành vi của nhà đầu tư cá nhân trên thị trường chứng khoán Tp.HCM

Mục tiêu nghiên cứu:

- Tìm hiểu thiên lệch hành vi và tác động của chúng

- Xác định các thiên lệch hành vi chủ yếu tác động đến quyết định đầu tư

- Nghiên cứu tác động của thiên lệch hành vi trong quá trình giao dịch trên TTCK Tp.HCM

3 Phương pháp nghiên cứu:

Phương pháp quan sát thực tế: qua hơn 2 năm công tác tại Trung tâm giao dịch vàng – Ngân hàng Á Châu, tác giả có cơ hội tiếp xúc với nhiều đối tượng khách hàng thuộc nhóm các nhà đầu tư cá nhân trong nước Từ đó, tác giả phần nào

Trang 9

3

nắm bắt được tâm lý chung của nhà đầu tư

Phương pháp định lượng: luận văn sử dụng phương pháp điều tra chọn mẫu thông qua bảng câu hỏi khảo sát Dựa trên số liệu thu thập được từ bảng câu hỏi khảo sát, tác giả sử dụng phần mềm SPSS để phân tích dữ liệu

4 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:

Đề tài nghiên cứu nhằm mục tiêu như trên Từ đó có thể giúp cho nhà đầu tư nhận diện các thiên lệch, tránh được những sai lầm khi ra quyết định đầu tư tài chính cũng như giúp cho họ và các nhà môi giới, tư vấn đầu tư có thể tạo ra một danh mục đầu tư thành công hơn và đạt được mục tiêu tài chính như mong muốn

Kết cấu nghiên cứu:

Chương 1: Tổng quan về tài chính hành vi

Chương 2: Nhận diện thiên lệch hành vi

Chương 3: Phân tích tác động của thiên lệch hành vi đến quyết định của nhà đầu

tư cá nhân trên TTCK Tp.HCM

Trang 10

4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TÀI CHÍNH HÀNH VI

1.1 TÀI CHÍNH TRUYỀN THỐNG (Standard Finance)

Tài chính truyền thống được xây dựng trên cơ sở nguyên lý chênh lệch (Arbitrage Principle) của Miller và Modigliani, nguyên lý danh mục của Markowitz,

lý thuyết về định giá tài sản vốn của Sharpe, Lintner, Mertom, Black và lý thuyết định giá hợp đồng quyền chọn (Option) của Black Scholes, Merton (Statman, 1999- trích Johnsson Lindblom và Platan, 2002) Các lý thuyết này xem thị trường là hiệu quả có tính quy chuẩn cao

Lý thuyết kinh tế tài chính hiện đại dựa trên giả định rằng các nhà đầu tư là

có lý trí Nhà đầu tư ra quyết định theo phương châm của lý thuyết lợi ích kỳ vọng: nhà đầu tư thường ngại rủi ro và hàm lợi ích là hàm lõm (lợi ích biên của tài sản giảm dần) Đồng thời nhà đầu tư có khả năng xử lý mọi thông tin có sẵn

Giá trị tài sản được xác lập bởi các nhà đầu tư lý trí, họ luôn hành xử một cách hợp lý, kết quả là sự cân bằng thị trường dựa trên các hành xử hợp lý được

thực hiện Trong sự cân bằng này, chứng khoán được định giá theo lý thuyết thị

trường hiệu quả

Theo giả thuyết thị trường hiệu quả, giá kết hợp chặt chẽ với tất cả các thông tin sẵn có và giá được xem như là sự đánh giá tối ưu về giá trị đầu tư thực sự về mọi thời điểm

Do bởi thực tế rằng tất cả thông tin được chứa trong giá cổ phiếu, vì vậy không thể tạo ra lợi nhuận trên mức trung bình

1.1.1 Học thuyết thị trường hiệu quả:

Giả thuyết thị trường hiệu quả là một giả thuyết của lý thuyết tài chính cho

rằng giá cả trên các thị trường có tính chất đầu cơ, đặc biệt là thị trường chứng khoán phản ánh đầy đủ mọi thông tin đã biết, hay nói cách khác, phản ánh đầy đủ

kỳ vọng của các nhà đầu tư Do đó không thể kiếm được lợi nhuận bằng cách căn

cứ vào các thông tin đã biết hay những hình thái biến động của giá cả trong quá

khứ Có thể nói một cách ngắn gọn là các nhà đầu tư không thể khôn hơn thị trường Khái niệm hiệu quả ở đây được dùng với hàm ý hấp thụ thông tin nhanh chóng chứ

Trang 11

5

không phải các nguồn lực tạo ra sản lượng tối đa như trong các lĩnh vực kinh tế

học khác Thông tin cũng được hiểu là những tin tức có thể ảnh hưởng đến giá cả và không dự đoán trước được

Giáo sư Eugene Fama của trường đại học Chicago đã có công phát triển khái

niệm "thị trường hiệu quả" như một khái niệm mang tính học thuật trong các

nghiên cứu của ông vào đầu thập niên 1960 cũng tại trường đại học này

Từ khi thị trường chứng khoán ra đời, đã có rất nhiều lý thuyết dày công nghiên cứu phương pháp đầu tư có lợi nhuận cao trên thị trường này như phân tích

cơ bản, phân tích kỹ thuật hay các quy tắc mua sau khi giá tăng 2 ngày; mua khi

có tin xấu, bán khi có tin tốt Tuy vậy kết quả của nó không thỏa mãn mong muốn

của những nhà đầu tư Một nghiên cứu của Alfred Cowles về hoạt động của những nhà môi giới chứng khoán đã dẫn đến kết luận rằng tính trung bình, lợi nhuận đem lại từ các danh mục đầu tư do họ thực hiện cũng không hơn một danh mục đầu tư được lựa chọn ngẫu nhiên Những cứu về xu hướng giá của thị trường chứng khoán

sử dụng số liệu thống kê trong nhiều năm cũng rút ra: chỉ có một điều chắc chắn đối

với giá cổ phiếu là chúng lên xuống rất thất thường Những điều này đã dẫn đến

một lý thuyết gọi là lý thuyết tấm bia trong việc lựa chọn cổ phiếu để đầu tư: nhà đầu tư có thể phóng một cái phi tiêu vào bảng danh mục cổ phiếu (như Nhật báo phố Wall chẳng hạn) để chọn; tốt hơn cả là đa dạng hóa danh mục đầu tư thậm chí

mua tất cả các loại cổ phiếu niêm yết (mua chỉ số chứng khoán)

Nói tóm lại, những nghiên cứu trong nhiều thập kỷ qua đưa đến kết luận không thể kiếm lợi nhuận cao trên thị trường chứng khoán bằng các quy tắc hay công thức bởi vì nhìn chung nó cũng không tốt hơn một cơ cấu đầu tư chứng khoán được đa dạng hóa và lựa chọn ngẫu nhiên

Điều này đã khiến cho các nhà lý thuyết tài chính đi sâu nghiên cứu nhằm tìm ra câu trả lời tại sao một thị trường tài chính hoạt động tốt lại loại bỏ được tình

trạng lợi nhuận quá cao trong một thời gian dài Giả thuyết thị trường hiệu quả là

một câu trả lời:

Thị trường hiệu quả (efficient market) là nơi mà tại bất kỳ thời điểm nào, tất

cả các thông tin mới đều được những người tham gia thị trường nắm bắt và

Trang 12

6

tức thì được phản ánh vào trong giá cả thị trường Ví dụ: tin một công ty dầu lửa phát hiện ra mỏ dầu mới có trữ lượng lớn được công bố lúc 10 giờ sáng ngày hôm nay thì ngay lập tức thông tin đó sẽ được phản ánh vào giá cả khiến cho nó được đẩy lên ở mức thích hợp Ở Mỹ đã có những nghiên cứu

đo lường tốc độ của sự điều chỉnh giá cả và kết quả là chỉ có thể kiếm được lợi nhuận khi mua chứng khoán trong vòng 30 giây sau khi thông tin mới được công bố rộng rãi

Bước ngẫu nhiên: giả thuyết thị trường hiệu quả đưa ra một phương pháp để phân

tích diễn biến giá cả của những thị trường đầu cơ có tổ chức, theo đó giá cả của thị

trường này lên xuống thất thường và không thể dự kiến trước được như những bước

ngẫu nhiên trong một khoảng thời gian Các nghiên cứu về chỉ số giá chứng khoán

của toàn bộ thị trường cũng như của một cổ phiếu cho thấy đồ thị diễn biến của nó cũng giống như đồ thị kết quả tung ngẫu nhiên một đồng xu Giả thuyết thị trường

hiệu quả giải thích rằng sở dĩ có tình trạng này là do những thông tin mới ngay tức

thì được phản ánh vào trong giá cả đồng thời những thông tin này có tính không dự đoán trước được nên diễn biến của giá cả cũng vậy

1.1.2 Những khiếm khuyết của thuyết thị trường hiệu quả dẫn đến sự ra đời của thuyết “hành vi tài chính”

Có một số vấn đề về giá chứng khoán diễn biến trong thực tế mà giả thuyết thị trường hiệu quả không giải thích được một cách thuyết phục như:

• Sự sụt giảm mạnh mẽ của giá cả chứng khoán trong những thời điểm nào đó

ví dụ như đã xảy ra ở thị trường chứng khoán Mỹ từ 15 tháng 10 đến ngày Thứ Hai Đen 19 tháng 10 năm 1987 Khi nhà kinh tế học James Tobin nói

rằng: không có một yếu tố hữu hình nào có thể tạo ra sự chênh lệch đến 30%

trong giá trị cổ phiếu thì các lý thuyết gia của thị trường hiệu quả không thể

đưa ra được lập luận phản bác Hay hiện tượng giá chứng khoán tại Việt Nam tăng liên tục trong giai đoạn cuối năm 2006 đến gần cuối năm 2007

• Giả thuyết thị trường hiệu quả tỏ ra đúng với những cổ phiếu riêng rẽ chứ không hoàn toàn đúng đối với toàn bộ thị trường Thị trường chứng khoán trong dài hạn có những biến động tự đảo ngược rõ rệt mà nhiều nhà kinh tế

Trang 13

1.2 TÀI CHÍNH HÀNH VI

1.2.1 Tài chính hành vi là gì?

Tài chính hành vi là mô hình mới của tài chính, tìm kiếm để bổ sung cho lý thuyết tài chính truyền thống, bằng cách giới thiệu khía cạnh hành vi đối với quá trình ra quyết định Tài chính hành vi ứng dụng các lý thuyết về hành vi con người xuất phát từ tâm lý học, xã hội học và nhân loại học để hiểu hành vi của thị trường tài chính và cố gắng giải thích làm thế nào và tại sao những sai lầm do cảm xúc và kinh nghiệm tác động đến nhà đầu tư trong quá trình ra quyết định và tạo ra các trường hợp bất thường trên thị trường chứng khoán chẳng hạn như bong bóng và sự sụp đổ thị trường

Các nhà tâm lý học như Ward Edwards, Daniel Kahneman, Amos Tversky bắt đầu sử dụng các mô hình kinh tế như là chuẩn đối sách tương phản với mô hình tâm lý học của họ

Có lẽ đóng góp chủ yếu đối với sự phát triển của tài chính học hành vi hiện đại là các bài báo của Tversky và Kahnemen (1974) về ra quyết định dựa trên kinh nghiệm chủ quan (Heuristics) và lý thuyết triển vọng (Prospect Thoery) Và vào năm 2002, Tversky và Kahnemen đã nhận chung giải Nobel kinh tế vì những đóng góp của mình trong lĩnh vực kinh tế học hành vi

Từ những năm 80 - thế kỷ 20, sự quan tâm đến tài chính hành vi bắt đầu phát triển nhờ vào nhiều nghiên cứu khác nhau, chứng minh sự bất thường của thị trường tài chính khi so sánh với thị trường hiệu quả, mà những hiện tượng bất thường này không thể giải thích bởi lý thuyết tài chính truyền thống Sự quan tâm tiếp tục gia tăng những năm sau đó và cho đến ngày nay tài chính hành vi trở thành một ngành khoa học đang phát triển

Trang 14

8

Tài chính hành vi nhằm mục đích hiểu và dự đoán thị trường tài chính một cách hệ thống, và liên quan đến quá trình ra quyết định có ảnh hưởng bởi tâm lý và kinh tế để cải thiện việc ra quyết định tài chính (Olsen, 1998-trích Johnsson, Lindblom và Platan, 2002)

Những bất thường này ám chỉ rằng những nguyên lý cơ bản của hành vi lý trí, các giả thuyết cơ bản về thị trường hiệu quả không hoàn toán chính xác và cần phải nghiên cứu mô hình khác là mô hình phản ảnh hành vi con người được nghiên cứu trong các khoa học xã hội khác (Shiller, 1998- trích Johnsson, Lindblom và Platan, 2002)

1.2.2 Lý thuyết kỳ vọng (The Prospect Theory)

Lý thuyết lợi ích kỳ vọng (Expect Utility Theory) trình bày hành vi lý trí trong điều kiện không chắc chắn và nó được xem là cơ sở cho các lý thuyết kinh tế dựa trên hành vi lý trí hoàn toàn Theo lý thuyết lợi ích kỳ vọng, nhà đầu tư thường ngại rủi ro (risk averse), tương ứng với tính lõm của hàm lợi ích (lợi ích biên giảm dần), mỗi đơn vị tăng thêm của sự giàu có ít giá trị hơn so với đơn vị tăng thêm trước đó Mặc dù có sự hấp dẫn rõ ràng đối với lý thuyết lợi ích kỳ vọng, nhưng trong vài trường hợp nó dự đoán sai một cách hệ thống hành vi con người

Kahneman và Tversky tiến hành thí nghiệm sau để minh họa cách nhà đầu tư

đã vi phạm lý thuyết lợi ích kỳ vọng:

Tình huống 1: khi đối tượng khảo sát của họ được yêu cầu chọn lựa giữa

A – có 25% cơ hội thắng 3000

B – có 20% cơ hội thắng 4000

Kết quả có 65% đối tượng khảo sát chọn B

Tình huống 2: khi đối tượng khảo sát của họ được yêu cầu chọn lựa giữa

A – có 100% cơ hội thắng 3000

B – có 80% cơ hội thắng 4000

Kết quả có 80% đối tượng khảo sát chọn A

Lý thuyết lợi ích kỳ vọng dự đoán rằng không có sự lựa chọn khác nhau trong hai tình huống trên, mọi người đều chọn B

Trang 15

9

Để phù hợp với các chứng cứ này nhiều lý thuyết đã được đưa ra trong đó chủ yếu là Lý thuyết kỳ vọng Lý thuyết kỳ vọng đề cập đến hàm giá trị (value function) Hàm giá trị của Kahneman và Tversky khác với Hàm lợi ích ở chỗ hàm giá trị có điểm thắt nút được gọi là điểm tham khảo (referent point) là điểm so sánh của cá nhân (một cách đo mức độ giàu có mục tiêu) được xác định bởi ấn tượng chủ quan

Theo lý thuyết lợi ích kỳ vọng thì hàm lợi ích là lõm đi xuống đối với mọi mức độ giàu có Trái lại, hàm giá trị là hàm lõm đối với lời (tăng sự giàu có) và là hàm lồi đối với lỗ (giảm sự giàu có) Độ dốc của hàm giá trị là dốc lên đối với mọi mức độ giàu có bên dưới điểm tham khảo và dốc xuống đối với mọi mức giàu có bên trên điểm tham khảo

Kahneman và Tversky (1979) tiến hành thí nghiệm sau để minh họa cho lý thuyết kỳ vọng:

Tính huống 1: Bạn được cho trước 1000$ Bạn được yêu cầu chọn lựa giữa:

A - chắc chắn kiếm lợi được 500$

B – 50% cơ hội kiếm lợi 1000$, 50% không có thêm gì

Kết quả 84% đối tượng khảo sát chọn A

Tình huống 2: bạn được cho trước 2000$ Bạn được yêu cầu chọn lựa giữa:

C - chắc chắn mất 500$

D – 50% khả năng mất 1000$, 50% không mất gì

Kết quả có 69% đối tượng khảo sát chọn D

Trang 16

10

Kết quả trên cho thấy rằng người ta thường ngại rủi ro khi đứng trước lợi nhuận nhận được và thích rủi ro khi đối diện với mất mát, thua lỗ

Với mức giàu có bên dưới điểm tham khảo thì nhà đầu tư là người thích rủi

ro (risk seeker), họ chấp nhận mức độ rủi ro hơn để có thể đạt được mức giàu có bên trên mức giàu có mục tiêu của họ Đối với mức giàu có bên trên điểm tham khảo, hàm giá trị dốc xuống giống với hàm lợi ích, khi đó nhà đầu tư ngại rủi ro

1.2.3 Lý thuyết ra quyết định dưa trên kinh nghiệm chủ quan (Heuristics)

Hueristics được định nghĩa là bất kỳ kỹ thuật giải quyết vấn đề và ra quyết định nào liên quan đến việc sử dụng kiến thức chủ quan, linh cảm, thử và sai, dựa theo kinh nghiệm chủ quan

Do bởi thực tế rằng thông tin ngày càng nhiều, lan truyền ngày càng nhanh hơn, cuộc sống đối với người ra quyết định trong thị trường tài chính trở nên phức tạp hơn Điều này dẫn đến sự gia tăng việc sử dụng kinh nghiệm như là cách tiếp cận quen thuộc, nhưng không luôn luôn mang lại lợi ích

Để ra quyết trong điều kiện không chắc chắn hầu hết mọi người sử dụng kinh nghiệm Nhìn chung, chúng hữu ích đối với chúng ta khi phải ra quyết định nhưng thỉnh thoảng nó dẫn đến sai lầm mang tính hệ thống

Lý thuyết ra quyết định dựa trên kinh nghiệm chủ quan có thể giúp giải thích tại sao thị trường thỉnh thoảng hành xử một cách phi lý, trái ngược với mô hình thị trường thông tin hiệu quả Hành vi bầy đàn là một dạng ra quyết định dựa trên kinh nghiệm trong đó các cá nhân tuân theo đa số, thể hiện bằng việc đi theo các quyết định của số đông

Con người có khuynh hướng thể hiện sự tin tưởng thái quá về đánh giá của

họ Sự tin tưởng thái quá cũng có thể được chỉ ra với việc ra quyết dịnh dựa trên Thiên lệch do tình huống điển hình (Representative Bias) Người ta thường có khuynh hướng phân loại sự kiện như điển hình hoặc đại diện cho một nhóm nào đó Trong thị trường chứng khoán, nhà đầu tư thường phân loại cổ phiếu, ví dụ như loại

cổ phiếu tăng trưởng, dựa trên lịch sử tăng trưởng lợi nhuận ổn định, mà bỏ qua khả năng có rất ít công ty vẫn giữ được đà tăng trưởng nó có

Trang 17

11

1.2.4 Phân biệt tài chính hành vi vi mô và tài chính hành vi vĩ mô

Tài chính hành vi được chia ra làm 2 mảng:

• Tài chính hành vi vi mô (BFMI: Behavioral Finance Micro): nghiên cứu các thiên lệch hành vi của nhà đầu tư

• Tài chính hành vi vĩ mô: (BFMA: Behavioral Finance Macro): phát hiện và

mô tả các bất thường trong giả thuyết thị trường hiệu quả mà mô hình hành

vi có thể giải thích được

Trong tài chính hành vi vi mô, người ta lại chia làm hai hướng nghiên cứu: nghiên cứu sự thiên lệch hành vi trong bản thân mỗi cá nhân (Individual Bias), và nghiên cứu sự thiên lệch hành vi do sự tương tác giữa các cá nhân với nhau (Collective Bias), trong đó các nhà đầu tư bị ảnh hưởng bởi những nhà đầu tư khác

và bắt đầu hành xử như một đám đông xúc cảm (emotional crowd)

1.3 ĐIỀU KIỆN ĐỂ LÝ THUYẾT TÀI CHÍNH HÀNH VI TỒN TẠI

Các mô hình được đề xuất bởi lý thuyết tài chính hành vi sẽ có thể đúng nếu trên thị trường tồn tại một trong ba điều kiện cơ bản sau Nếu cả ba đều tồn tại, lý thuyết tài chính hành vi dự báo rằng việc định giá sai không những là tồn tại, mà còn là rất đáng kể (lớn hoặc đến mức nghiêm trọng) và kéo dài Ba điều kiện đó bao gồm:

• Tồn tại hành vi không hợp lý

• Hành vi bất hợp lý mang tính hệ thống

• Giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá trên thị trường tài chính

1.3.1 Hành vi không hợp lý

Các nhà đầu tư sẽ có hành vi không hợp lý khi họ không phân tích và xử lý

“đúng” những thông tin mà họ có (và thị trường cung cấp), từ đó dẫn đến những kỳ vọng lệch lạc về tương lai của cổ phiếu mà họ đầu tư vào Ngoài ra, trong một số trường hợp, dựa trên kinh nghiệm hay nhận thức sẵn có, họ cũng mắc phải những

“lệch lạc trong nhận thức” (cognitive biases) Những nghiên cứu về các hành vi không hợp lý tiêu biểu trong thị trường tài chính là kết hợp giữa tâm lý học, mà chủ

Trang 18

do đó, nó tạo thành một dạng như chúng ta thường gọi là “hiệu ứng bầy đàn”, khiến cho giá một số cổ phiếu không phản ánh giá trị “thực” (hay “hợp lý”) của chúng Như vậy, “hiệu ứng bầy đàn” là không tốt cho thị trường trong trường hợp chúng ta xem hiệu ứng bầy đàn là tất cả đều hành động theo một mẫu hình hành vi lệch lạc, không hợp lý, thấy ai làm sao thì làm vậy

1.3.3 Giới hạn khả năng chêch lệch giá

Lý thuyết thị trường hiệu quả tin rằng nếu tồn tại định giá sai thì sẽ tồn tại cơ hội để kinh doanh chênh lệch giá thu lợi nhuận, và chính hành vi kinh doanh chênh lệch giá sẽ điều chỉnh giá trên thị trường về cân bằng Nhưng nếu tồn tại định giá sai, mà lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá để tận dụng các khoản lợi nhuận này thì như thế nào? Và tại sao lại không thể thực hiện kinh doanh chênh lệch giá khi có định giá sai?

Một giải thích được chấp nhận rộng rãi trong trường phái tài chính hành vi là

có 2 dạng định giá sai: một dạng là thường xuyên xảy ra và có thể kinh doanh chênh lệch giá được, một dạng là không thường xảy ra, kéo dài và không thể kinh doanh chênh lệch giá được (nói một cách khác, khó mà xác định được khi nào mức định giá sai đã đạt tới giới hạn trên hay dưới và điều chỉnh lại) Nếu tham gia “chỉnh sửa” kiểu định giá sai dạng 2 thì rất dễ rơi vào trạng thái “tiền mất, tật mang”, mà điển hình là bài học nổi tiếng của LTCM (Long-Term Capital Management) kinh doanh

Trang 19

4 năm trước thương vụ này) tham gia sửa chữa sai lầm này thì sẽ thất bại

Barberis và Thales (2003) chỉ ra rằng kinh doanh chênh lệch giá không thể xảy ra vì có những tài sản về lý thuyết là có tính thay thế lẫn nhau hoàn hảo và có thể kinh doanh chênh lệch giá 2 tài sản đó, nhưng thực tế thì không như vậy, do đó tạo ra rủi ro tăng thêm cho hoạt động kinh doanh chênh lệch giá (vốn được xem là rủi ro thấp đến mức phi rủi ro) Ngoài ra, chi phí thực hiện các chiến lược hưởng chênh lệch giá và sự tồn tại của các giao dịch của những nhà đầu tư không hợp lý (gọi là noise trading) cũng ngăn cản điều này Chính vì vậy, chúng ta đã từng thấy trong lịch sử nhiều vụ bong bóng giá ở Nhật (thập niên 1980), Đài Loan (1990), cổ phiếu công nghệ truyền thông của Mỹ (1999-2000), rồi gần đây là chứng khoán Trung Quốc và Việt Nam cũng bị xem là “quá nóng” Tuy nhiên, rõ ràng không hề

có những điều chỉnh tức thời như người ta kỳ vọng, mà những vụ bong bóng này kéo dài nhiều năm (nhất là ở các nước châu Á đang phát triển) Đây là dấu hiệu của giới hạn khả năng kinh doanh chênh lệch giá

Kết luận chương 1

Tóm lại, Thị trường chứng khoán cũng có những thay đổi bất thường lúc sôi động lúc trầm lắng Cùng với sự sôi động - trầm lắng của thị trường là tâm trạng, cảm xúc trái chiều của nhà đầu tư: lạc quan có, bi quan có, hy vọng có, hối tiếc có - tất cả mọi cảm giác đều có thể tồn tại trong cùng một nhà đầu tư tại các thời điểm khác nhau hoặc trong vài nhà đầu tư hoặc một nhóm nhà đầu tư tại cùng một thời điểm

Nhìn chung, lý thuyết tài chính hành vi không phải là một trường phái tài chính chính thống, còn ở dạng sơ khai và có nhiều vấn đề gây tranh cãi Tuy nhiên,

nó đã giúp giải thích được các hiện tượng bất thường trên thị trường tài chính như bong bóng đầu tư và sự sụp đỗ của thị trường mà lý thuyết tài chính truyền thống không thể

Trang 20

14

giải thích được Mặc dù vậy, lý thuyết tài chính hành vi không phải là phương thức đầu

tư kỳ diệu nhưng nó sẽ giúp cho nhà đầu tư thận trọng hơn với hành vi của mình và tránh được những sai lầm khi ra quyết định đầu tư

Trang 21

15

CHƯƠNG 2: NHẬN DIỆN THIÊN LỆCH HÀNH VI 2.1 THIÊN LỆCH DO ÁC CẢM MẤT MÁT, THUA LỖ (Loss Aversion Bias) 2.1.1 Mô tả chung:

Thiên lệch do ác cảm với mất mát thua lỗ đã được Kahneman và Tversky đưa ra vào năm 1979 là một phần của lý thuyết triển vọng

Kahneman và Tversky đã đưa ra lý thuyết mô tả cách mà người ta hành xử khi đối mặt với sự lựa chọn trong điều kiện không chắc chắn Hàm giá trị cho thấy

có sự không cân xứng giữa giá trị mà người ta thu được và mất đi

Sự không hài lòng mà người ta cảm nhận từ việc thua lỗ là lớn hơn sự hài lòng khi kiếm được lợi nhuận Sự bất cân xứng trong đánh giá này được gọi là

Thiên lệch do ác cảm với mất mát, thua lỗ

Một cuộc kiểm tra thực nghiệm chỉ ra rằng sự thua lỗ mất mát có trọng số gấp 2 lần lợi ích tăng thêm, mất 1 đồng buồn phiền gấp 2 lần niềm vui khi nhận được 1 đồng (Kahneman và Tversky, 1991- trích Johnsson, Lindblom và Platan, 2002)

Thiên lệch do ác cảm với mất mát, thua lỗ nói đến thực tế rằng con người có khuynh hướng nhạy cảm đối với việc giảm sự giàu có hơn là gia tăng sự giàu có

Điều này có thể diễn tả hiện tượng, người ta có xu hướng mạo hiểm đầu tư vào sự thua lỗ trong khi có thể bán chúng hoặc có lợi nhuận từ sớm hơn vì nhà đầu

tư luôn nghĩ rằng, những cổ phiếu bị lỗ sẽ nhanh chóng tốt trở lại, họ cảm thấy tiếc nuối khi phải bán chúng Vì thế khi đối mặt với tình trạng thua lỗ, họ càng kỳ vọng vào lợi nhuận trong tương lai và thể hiện sự liều lĩnh của mình Thiên lệch này lý giải cho việc giữ cổ phiếu lỗ quá lâu

Thiên lệch do ác cảm với thua lỗ liên quan đến các yếu tố khác Một trong số

chúng được gọi là hiệu ứng Endowment Nó hàm ý rằng khi người ta sở hữu một

thứ gì đó, họ sẽ gán cho nó một giá trị cao hơn trước khi sở hữu Hiệu ứng Endowment khiến người ta gán nhiều trọng số cho việc thua lỗ hơn là lời

Sự tồn tại của Thiên lệch do ác cảm với mất mát, thua lỗ khiến cho người ta chịu tác động bởi sự thiên lệch nguyên trạng (Status quo Bias)

Trang 22

16

Thiên lệch nguyên trạng (Status quo bias) là sự thiên lệch về nhận thức

đối với việc giữ nguyên hiện trạng Nói cách khác, con người có xu hướng không thay đổi hành vi đã thiết lập trừ phi có động cơ thay đổi thúc ép

2.1.2 Tác động của thiên lệch do ác cảm với mất mát thua lỗ:

Ác cảm do thiên lệch không thể chấp nhận trong việc ra quyết định tài chính Trái ngược với những gì nhà đầu tư muốn: gia tăng rủi ro, lợi nhuận thấp Các nhà đầu tư nên chấp nhận rủi ro để gia tăng lợi nhuận chứ không phải để giảm thiểu thiệt hại Việc những người thua nắm giữ và người chiến thắng bán đi sẽ phải gánh chịu sự phá vỡ danh mục đầu tư

• Ác cảm do mất mát thua lỗ là nguyên nhân các nhà đầu tư nắm giữ các chứng khoán thua lỗ quá lâu Họ nắm giữ khoản đầu tư thua lỗ với hy vọng rằng có thể giành lại những gì đã mất Hành vi này gây ra hậu quả tiêu cực cho lợi nhuận của danh mục đầu tư

• Ác cảm do mất mát thua lỗ là nguyên nhân các nhà đầu tư bán các chứng khoán đang tăng giá quá nhanh do sự sợ hãi lợi nhuận của họ sẽ giảm đi trừ phi là họ bán nó Hành vi này giới hạn tiềm năng của danh mục đầu tư và có thể dẫn đến nhà đầu tư thực hiện quá nhiều giao dịch với mức lợi nhuận thấp hơn

• Ác cảm do mất mát thua lỗ là nguyên nhân các nhà đầu tư vô tình nhận lấy nhiều rủi ro hơn nếu họ loại trừ sự đầu tư này để đầu tư cái khác tốt hơn (hoặc giữ tiền mặt)

• Thiên lệch này là nguyên nhân làm các nhà đầu tư nắm giữ danh mục không cân xứng Ví dụ, nếu một vài vị thế bị giảm giá thì nhà đầu tư không sẵn lòng bán do ác cảm với mất mát thua lỗ Và sự không cân xứng có thể xảy ra Nếu không có sự cân đối lại hợp lý thì sự phân bổ không hợp lý đối với mục tiêu dài hạn của nhà đầu tư, dẫn đến lợi nhuận không tối ưu

Trang 23

là giá cả phục hồi như lúc ban đầu mà họ đầu tư Vì thế, nó ảnh hưởng đến việc ra quyết định của con người bởi vì để tránh nỗi đau về sự hối tiếc, người ta có thể thay đổi hành vi của họ theo những cách thức mà trong vài trường hợp được xem như là phi lý

Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc giúp giải thích một thực tế rằng nhà đầu tư trì hoãn bán cổ phiếu đang giảm giá và nhanh chóng bán cổ phiếu khi giá tăng (Shefrin và Stamman, 1985 – trích Johnsson, Lindlom và Platan, 2002) Có thể hiểu một cách đơn giản rằng nhà đầu tư tránh việc bán cổ phiếu khi giá giảm nhằm không phạm phải sai lầm để sau này hối tiếc trong trường hợp giá cổ phiếu tăng lại

Họ bán cổ phiếu khi giá tăng để không cảm thấy hối tiếc nếu cổ phiếu giảm giá ngay sau đó Hành vi này được dẫn chứng bằng cách sử dụng dữ liệu thương mại của Ferris, Haugen và Makhija (1988) và Odean (1996)

Thiên lệch do mâu thuẫn về nhận thức (Cognitive Dissonance Bias) :

Đó là sự xung đột về nhận thức mà con người trải qua khi họ đưa ra bằng

chứng để công nhận rằng niềm tin hoặc giả định của họ trước đây là sai Thiên lệch

do mâu thuẫn về nhận thức có thể được phân loại như một dạng của nỗi đau về sự hối tiếc, sự hối tiếc về những gì mình đã từng tin tưởng lại là không đúng

Lý thuyết Festinger (1957 – trích Johnsson, Libblom và Platan, 2002) đánh giá rằng con người có khuynh hướng hành động để giảm sự mâu thuẫn về nhận thức một cách không lý trí như tránh các thông tin mới hoặc khuyếch trương các lý lẽ sai nhằm duy trì niềm tin của họ Kết quả là họ hành xử theo cách thức được xem là phi

Để tránh thông tin mới, trái với niềm tin của cá nhân và khuyếch trương các

lý lẽ sai nhằm củng cố niềm tin cũng có thể giải thích hành vi bầy đàn và hiện tượng

Trang 24

18

thông tin phản hồi (Feedback Phenomenon) có liên hệ với sự kiện bong bóng chứng khoán

2.2.2 Tác động của thiên lệch do ác cảm với hối tiếc (Regret Aversion Bias)

• Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc khiến cho các nhà đầu tư quá bảo thủ trong lựa chọn đầu tư Việc gánh chịu thua lỗ trong quá khứ khiến cho nhiều người

né tránh việc đầu tư táo bạo mới và chỉ chấp nhận những vị thế ít rủi ro Hành vi này có thể gây hại cho mục tiêu đầu tư trong dài hạn

• Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc khiến cho các nhà đầu tư né tránh khi thị trường gần như đang đi xuống Họ sợ rằng nếu họ mua vào mà thị trường tiếp tục đi xuống sẽ khiến cho họ hối tiếc với quyết định mua trữ Tuy nhiên, thị trường đang giảm thường chào giá hời và mọi người có thể kiếm lợi do sự đầu tư dưới giá trị

• Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc khiến cho các nhà đầu tư nắm giữ vị thế thua lỗ quá lâu Mọi người không muốn thừa nhận sai lầm của mình và họ sẽ tiếp tục nắm giữ không bán những đầu tư đang bị thua lỗ Giống như ác cảm

do mất mát thua lỗ, hành vi này sẽ gây hại cho tài sản của họ

• Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc là nguyên nhân gây ra hành vi bầy đàn, bởi

vì đối với một vài nhà đầu tư việc mua vào theo đám đông đồng lòng có thể hạn chế khả năng hối tiếc trong tương lai Không cần phải nói thêm, sự sụp

đổ của bóng bóng cổ phiếu internet đã giải thích cho sự kiện bầy đàn lớn nhất đã tháo chạy trong xu hướng sai lầm

• Thiên lệch do ác cảm với hối tiếc dẫn dắt nhà đầu tư thích lựa chọn cổ phiếu của công ty tốt hơn ngay cả khi lựa chọn cổ phiếu có lợi nhuận ngang nhau hoặc cao hơn sự mong đợi Ác cảm hối tiếc có thể là cảm giác mà đám đông rủi ro đòi hỏi ra quyết định liều lĩnh hơn Vì vậy, nếu đầu tư thất bại, kết quả này là dựa vào sự phán quyết cá nhân hơn là kết quả của việc đầu tư vào cổ phiếu quen thuộc, an toàn và đáng tin cậy Tất nhiên nhận thức trách nhiệm

cá nhân càng được gia tăng thì càng gia tăng sự hối tiếc Việc đầu tư vào

Trang 25

lý học bất cứ cái gì lên thì tất nhiên sẽ phải đi xuống

2.3 THIÊN LỆCH DO TÍNH TOÁN BẤT HỢP LÝ (Mental Acouting Bias) 2.3.1 Mô tả:

Tính toán bất hợp lý (mental accounting) Đây là một dạng của định nghĩa hẹp Mental accounting đề cập đến xu hướng mọi người phân chia số tiền của họ thành những tài khoản riêng biệt dựa trên nhiều tiêu chí chủ quan khác nhau, như nguồn gốc của số tiền và mục đích cho mỗi tài khoản Theo lý thuyết, cá nhân chỉ định chức năng khác nhau cho mỗi nhóm tài sản, điều này sẽ gây tác động bất hợp

lý và có hại đến các quyết định tiêu dùng và những hành vi khác Chúng ta có khuynh hướng tách riêng các quyết định mà đáng lẽ phải kết hợp lại với nhau vào các tài khoản ảo do chúng ta tưởng tượng ra (mantal account) và tối đa hóa lợi ích từng tài khoản Thoạt đầu, chúng ta nghĩ đó là quyết định hợp lý, thật ra đó có thể là quyết định sai lầm Ví dụ: người ta có xu hướng tách biệt ra 2 ngân sách gia đình, một dành cho mua thức ăn gia đình, một dành cho đi ăn nhà hàng cuối tuần Và khi chi tiêu mua đồ ăn, người ta thường không mua hải sản cao cấp vì nghĩ rằng nó mắc

và chỉ ăn thịt bình thường, nhưng khi vào nhà hàng, người này lại gọi hải sản thay

vì ăn thịt bình thường Nếu thay vì như vậy, người này ăn hải sản cho bữa ăn tại nhà

và chỉ ăn thịt bình thường trong nhà hàng, anh ta có thể tiết kiệm được tiền Vấn đề

ở chỗ anh ta đã tách biệt ra 2 tài khoản riêng cho thức ăn tại nhà và đi ăn cuối tuần

Cho dù có nhiều người sử dụng Mental accounting, họ không nhận thức được cách suy nghĩ này bất hợp lý đến mức độ nào Ví dụ, mọi người thường có một “con heo đất” hoặc thiết lập quỹ dành cho một kỳ nghỉ hoặc một ngôi nhà mới, trong khi vẫn còn mang nợ thẻ tín dụng một cách đáng kể Trong ví dụ này, tiền trong các quỹ đặc biệt được “đối xử” khác với số tiền người đó dùng để trả tiền nợ

Trang 26

Trong trường hợp này, thay vì tiết kiệm cho kỳ nghỉ, hành động hợp lý nhất

là sử dụng những khoản tiền trong “heo đất” (và bất cứ số tiền nào khác có sẵn) để trả hết các chi phí nợ nần

Điều này nghe có vẻ đơn giản, nhưng tại sao mọi người không hành xử theo cách này? Câu trả lời nằm ở giá trị cá nhân mà mọi người đặt trên từng tài sản cụ thể Ví dụ, người dân có thể cảm thấy rằng để dành tiền cho một ngôi nhà hoặc các quỹ đại học của con cái là quá "quan trọng" nên không thể bỏ đi Kết quả là, các tài khoản quan trọng này có thể không được đụng đến, ngay cả khi làm như vậy sẽ cung cấp thêm nguồn lợi tài chính

Thiên lệch do tính toán bất hợp lý khiến người ra quyết định có khuynh hướng phân biệt các loại khác nhau của các vụ đầu tư có tính mạo hiểm mà họ gặp phải vào các tài khoản riêng biệt, sau đó ứng dụng các quy luật ra quyết định của lý thuyết lợi ích kỳ vọng đối với mỗi tài khoản mà bỏ qua sự ảnh hưởng lẫn nhau có thể có giữa các tài khoản Nó có thể tác động đến nhà đầu tư khiến họ chia khoản đầu tư vào các tài khoản riêng biệt được xác định một cách tùy tiện Ví dụ: khi mua giá cổ phiếu 30.000, sau đó giá cổ phiếu giảm xuống 22.000, người ta không bán cổ phiếu thậm chí là mua tiếp và chờ đến khi giá lên trên 30.000 một chút thì bán ngay kiếm lời Và giá có giảm tiếp thì người ta cứ giữ cổ phiếu đó tiếp Vì họ đã tách biệt giữa “tài khoản lời” và “tài khoản lỗ” trong tâm trí của mình, cho nên họ cố tối đa hóa tài khoản lời và tối thiểu hóa tài khoản lỗ nên giá lên một chút thì bán, giá xuống thì cứ giữ, xem như nó chưa chuyển qua tài khoản lỗ

Thiên lệch do tính toán bất hợp lý liên quan đến Thiên lệch do khung nhìn

Khung nhìn là việc phân tích một vấn đề trong khuôn khổ hẹp, tách biệt và cố gắng đưa ra quyết định tối ưu trong khuôn khổ hẹp ấy thay vì cho toàn cục Tài chính truyền thống giả định rằng khung nhìn không liên quan gì đến hành vi, bởi vì nó

Trang 27

21

được giả định rõ ràng nhưng sự thật thì không phải luôn như vậy Khi một người gặp khó khăn khung nhìn của anh ta không rõ ràng, quyết định của anh ta phụ thuộc vào khung nhìn cụ thể mà anh ta sử dụng Ví dụ như, tiền kiếm được từ làm việc chăm chỉ thì giá trị nhiều hơn tiền trúng xổ số

2.3.2 Tác động của thiên lệch do tính toán bất hợp lý (Mental Acouting Bias)

• Thiên lệch do tính toán bất hợp lý là nguyên nhân khiến cho nhiều người tưởng tượng ra rằng sự đầu tư của họ chia ra thành những tài khoản riêng lẻ

Ví dụ, những loại này bao gồm: tiền dành đi học và tiền nghỉ hưu Tưởng tượng ra các tài khoản riêng biệt để phù hợp với mục tiêu tài chính Tuy nhiên, có thể là nguyên nhân khiến cho nhà đầu tư không chú ý đến các vị thế mà bù đắp hoặc các tài khoản ngang nhau Điều này có thể dẫn đến một danh mục chưa được tối ưu

• Thiên lệch do tính toán bất hợp lý là nguyên nhân khiến cho nhà đầu tư có sự phân biệt không hợp lý giữa lợi nhuận có nguồn gốc từ thu nhập và đánh giá cao lợi nhuận có nguồn gốc từ vốn Nhiều người cảm thấy cần bảo toàn vốn gốc và thích tiêu xài tiền lãi hơn Kết quả là một số nhà đầu tư đuổi theo dòng thu nhập và vô tình ăn mòn vốn gốc Ví dụ, xem xét một trái phiếu thu nhập cao hoặc cổ phiếu ưu đãi mà được trả cổ tức cao có thể bị thua lỗ vốn gốc do biến động lãi suất Tính toán bất hợp lý tạo nên công cụ hấp dẫn nhưng chúng không có lợi cho nhà đầu tư trong dài hạn

• Thiên lệch do tính toán bất hợp lý là nguyên nhân khiến cho nhà đầu tư phân

bổ tài sản khác nhau khi có liên quan tới cổ phiếu người chủ Các nghiên cứu

đã chỉ ra rằng những người tham gia trong các kế hoạch hưu trí công ty được cấp không cổ phiếu như là một xu hướng lựa chọn đầu tư một cách cân bằng giữa chứng khoán và công cụ thu nhập cố định Tuy nhiên, khi cổ phiếu chủ

là một lựa chọn, người lao động thường phân bổ một phần đóng góp đối với

cổ phần công ty, với phần còn lại chi tiêu ngang bằng trên vốn và các công

cụ thu nhập cố định Sau đó, sự phân bổ tổng vốn có thể quá cao khi cổ phiếu công ty được chào bán, khiến cho danh mục của nhà đầu tư có khả năng ít

Trang 28

22

được đa dạng hóa Điều này có thể là một điều kiện ít tối ưu bởi vì các nhà đầu tư không hiểu rõ những nguy cơ tồn tại trong danh mục đầu tư của họ

• Thiên lệch do tính toán bất hợp lý là nguyên nhân khiến cho nhà đầu tư do

dự khi bán các khoản đầu tư tạo ra lợi ích quan trọng, nhưng, theo thời gian,

đã giảm giá Trong thời kỳ thị trường tăng trưởng vào những năm 1990, các nhà đầu tư trở nên quen với lợi nhuận lành mạnh chưa thực hiện Khi hầu hết các nhà đầu tư khi giá trị ròng của họ bị xì hơi bởi sự điều chỉnh của thị trường, họ do dự bán các vị thế của họ cho đến lúc số dư lợi nhuận nhỏ hơn Ngày nay, nhiều người vẫn hối tiếc vì không gặt được lợi nhuận khi họ có thể, một số nhà đầu tư bám theo bùng nổ những năm 1990 thì trở nên gần như không có giá trị

Ác cảm do khung nhìn và thua lỗ cùng giải thích việc ghét rủi ro quá mức Nhà đầu tư bị lỗ ròng có khả năng hơn để lựa chọn các đầu tư rủi ro, trong khi người thu được lợi nhuận ròng cảm thấy thiên về sự lựa chọn ít rủi ro

2.4 THIÊN LỆCH DO QUÁ TỰ TIN (Overconfidence Bias)

2.4.1 Mô tả:

Người ta có khuynh hướng quá tự tin vào niềm tin và sự dự đoán của họ Họ nghĩ là họ thông minh hơn, có thông tin tốt hơn, tuy nhiên đó là những gì họ nghĩ chứ không phải là những gì họ thật sự có

Người ta có xu hướng phóng đại tài năng và đánh giá thấp khả năng xảy ra kết quả tồi tệ trong trường hợp họ không kiểm soát được tình hình Người ta càng tin tưởng vào bản thân, càng có nhiều rủi ro do sự quá tự tin gây ra

Thiên lệch do quá tự tin liên quan đến vài sự thiên lệch khác Đầu tiên là

Thiên lệch trong nhận thức muộn màng (Hindsight Bias) Con người hiếm khi

diễn tả lại những gì họ đã nghĩ trước đó ở một thời điểm trong quá khứ khi sự kiện xảy ra Sau khi sự kiện đã xảy ra người ta cho rằng họ đã nghĩ nó sẽ như thế Thiên lệch trong nhận thức về quá khứ có xu hướng làm tăng sự tin tưởng thái quá trong mỗi người, bởi vì nó cho họ ảo tưởng rằng thế giới thật dễ dàng dễ hiểu hơn là những gì thực sự là chính nó

Trang 29

Thiên lệch do lạc quan (Optimism Bias) là một thiên lệch trong đánh giá

thường đi cùng với sự quá tự tin Nó khiến người ta có cái nhìn tích cực thái quá về khả năng và viễn cảnh của họ Đa số người ta có xu hướng xếp hạng chính họ vượt trội hơn mức trung bình của số đông

Nhà đầu tư thường lạc quan quá mức về thị trường, nền kinh tế, tiềm năng đạt được kết quả tốt cho các khoản đầu tư họ thực hiện Nhiều nhà đầu tư quá lạc quan tin rằng các khoản đầu tư thất bại sẽ không xảy đến với họ, chúng chỉ làm khổ

sở những người khác mà thôi

Sự kết hợp giữa Thiên lệch do lạc quan và Thiên lệch do quá tự tin khiến người ta đánh giá quá cao kiến thức của họ, phóng đại các kỹ năng của họ và đánh giá thấp những rủi ro tiềm ẩn và thổi phồng khả năng của họ về việc kiểm soát các

sự việc, điều này dẫn đến khối lượng giao dịch quá mức và thị trường bong bóng Một người càng tự tin vào bản thân thì càng gặp nhiều rủi ro và sai lầm trong quyết định vì sự tự tin thường không tạo ra mối quan hệ nào với kiến thức thực tế

Đặc tính chung của con người là phản ứng lại quá mức đối với những sự kiện, những thông tin không lường trước và đầy kịch tính Vì vậy, sự quá tự tin có thể giúp giải thích phần nào sự gia tăng quá mức của giá cả trong thị trường bong bóng (đầu cơ)

Nhiều nhà đầu tư cảm thấy rằng họ có lý do để giao dịch thường xuyên và họ

có niềm tin rằng họ nhận thức tốt hơn những người khác Điều đó như thế hầu hết mọi người nghĩ rằng khả năng của họ ở trên mức trung bình Shiller (1987) đã quan sát thấy hiện tượng này trong cuộc khảo sát về sự đổ vỡ của thị trường chứng khoán

Trang 30

24

Mỹ năm 1987 Vì vậy, sự lạc quan thái quá có thể sẽ giúp giải thích sự phản ứng quá mức của toàn bộ thị trường Có nhiều nghiên cứu tâm lý học trên thị trường tài chính cũng như những bằng chứng gần đây nhất là việc nhiều nhà đầu tư ít đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình và đầu tư nhiều vào những công ty mình quen thuộc (một số nghiên cứu tranh cãi rằng có thể vì họ có thông tin nội bộ về những công ty

đó, nhưng những nghiên cứu gần đây trong lĩnh vực công ty đã bác bỏ luận cứ này) Như vậy, một cách giải thích khả dĩ là các nhà đầu tư ít đa dạng hóa này tự tin quá mức vào tầm hiểu biết của mình đối với công ty

Nhà đầu tư thường xem bản thân họ tốt hơn những nhà đầu tư khác, đánh giá cao bản thân hơn những gì người khác đánh giá, và họ thường phóng đại những hiểu biết của mình Trong vấn đề đầu tư, sự quá tự tin có thể gây hại cho khả năng chọn cổ phiếu của bạn trong thời gian dài Trong một nghiên cứu năm 1998 mang tên "Volume, Volatility, Price, and Profit when all trades are above average", nhà nghiên cứu Terrence Odean thấy rằng các nhà đầu tư “quá tự tin” thường tiến hành nhiều giao dịch hơn những người nhà đầu tư khác Sự quá tự tin làm tăng các hoạt động giao dịch bởi vì nó là lý do khiến nhà đầu tư sẵn sàng bảo vệ quan điểm của

họ, không cần tham khảo thêm những quan điểm thích đáng của những nhà đầu tư khác

Sự quá tự tin cũng làm tăng tính không đồng nhất trong niềm tin của nhà đầu

tư Nhà đầu tư quá tự tin cho rằng, hành động của họ ít rủi ro hơn các nhà đầu tư khác cảm nhận Những nhà đầu tư quá tự tin nhiều khi hiểu sai giá trị thông tin họ nhận được, không những tính chính xác của thông tin mà còn hiểu sai cả ý nghĩa của thông tin

2.4.2 Tác động thiên lệch do quá tự tin (Overconfidence Bias)

• Thiên lệch do quá tự tin khiến cho các nhà đầu tư đánh giá quá cao khả năng của họ khi định giá công ty cũng như tiềm năng đầu tư Kết quả là, họ trở nên mù quáng với những thông tin tiêu cực mà thông thường đưa ra những dấu hiệu cảnh báo, cũng như họ mua những cổ phiếu không nên mua và bán những cổ phiếu không nên bán

Trang 31

25

• Quá tự tin khiến cho các nhà đầu tư giao dịch quá nhiều Kết quả của việc quá tự tin là họ sở hữu kiến thức đặc biệt mà người khác không có Hành vi giao dịch quá mức đã minh chứng cho lợi nhuận nghèo nàn suốt thời gian qua

• Bởi vì họ không biết, không hiểu, không chú ý đến số liệu thống kê sự đầu

tư, sự quá tự tin khiến cho các nhà đầu tư đánh giá thấp mặt trái của rủi ro Kết quả là họ có danh mục không tốt

• Quá tự tin khiến cho nhà đầu tư nắm giữ những danh mục không được đa dạng, vì thế sẽ gánh chịu nhiều rủi ro mà không có sự tương xứng với dung sai rủi ro Thông thường, quá tự tin khiến cho nhà đầu tư không biết rằng họ đang chấp nhận nhiều rủi ro hơn là gánh chịu những rủi ro thông thường

2.5 THIÊN LỆCH DO TÌNH HUỐNG ĐIỂN HÌNH (Representative Bias) 2.5.1 Mô tả:

Một trong những nghiên cứu đầu tiên về Thiên lệch do tình huống điển hình được thực hiện bởi Kahneman và Tversky (1974) Họ cho rằng con người

trong sự hình thành phán xét chủ quan có khuynh hướng phân loại các sự kiện như

là điển hình hoặc tiêu biểu Nó được xác định như là khuôn mẫu đáng tin cậy Thiên lệch này thường được diễn tả một cách đơn giản là xu hướng không quan tâm nhiều đến nhân tố dài hạn mà thường đặt nhiều quan tâm đến những tình huống ngắn hạn

Người ta đánh giá xác suất xảy ra của những sự kiện trong tương lại dựa trên mức độ tương tự với một tình huống điển hình nào đó Kinh nghiệm này có thể đưa người ta đến việc xét đoán sự thay đổi của thị trường chứng khoán như là thị trường lên hoặc xuống mà không đánh giá khả năng để chuỗi các thay đổi giá có tính hiệu giống nhau xảy ra là rất hiếm Theo cách này, nó có thể khiến người ta trở nên lạc quan hơn đối với những người thành công trong quá khứ hoặc bi quan hơn đối với những thất bại trong quá khứ

Thiên lệch do tình huống điển hình liên kết chặt với quy lật số nhỏ Hiện tượng này được mô tả lần đầu tiên bởi Tversky và Kahneman (1971 – trích

Trang 32

Một kinh nghiệm quan trọng khác là Thiên lệch do tình huống sẵn có Một trong những mô tả đầu tiên về điều này thực hiện bởi Kahneman và Tversky (1974)

Nó ảnh hưởng đến con người trong tình huống người ta đánh giá khả năng một sự kiện xảy ra bởi sự dễ dàng nảy sinh trong đầu họ khiến người ta xem trọng các sự kiện mà có thể nhớ dễ dàng Điều này hàm ý xem trọng các sự kiện có mức độ bao phủ phương tiện truyền thông đại chúng cao hoặc dễ dàng hình dung

2.5.2 Tác động thiên lệch do tình huống điển hình (Representative Bias)

• Thông tin có sẵn Các nhà đầu tư lựa chọn đầu tư dựa vào những thông tin có sẵn (như quảng cáo, lời đề nghị của nhà tư vấn, bạn bè,…) và sẽ không tiến hành nghiên cứu có kỹ luật hoặc siêng năng kiểm tra lại các đầu tư được lựa chọn là tốt nhất

• Phân loại Nhà đầu tư sẽ chọn đầu tư dựa trên các danh sách phân loại mà đã

có sẵn trong bộ nhớ của họ Trong tâm trí của họ, các hạng mục khác sẽ không thể dễ dàng nhớ lại, và do đó, sẽ bị bỏ qua Ví dụ, nhà đầu tư Mỹ có thể bỏ qua những nước có cơ hội đầu tư tiềm năng bổ ích có thể tồn tại bởi vì các nước này không phải là hạng mục đáng nhớ trong bộ nhớ của họ

• Phạm vi hẹp của kinh nghiệm Nhà đầu tư sẽ chọn đầu tư phù hợp với phạm

vi hẹp của họ về kinh nghiệm sống, chẳng hạn như họ làm việc trong ngành công nghiệp, khu vực họ sinh sống, và những người họ liên kết Ví dụ, nhà đầu tư, người làm việc trong ngành công nghiệp công nghệ có thể tin rằng chỉ có đầu tư vào lĩnh vực công nghệ mới mang lại lợi nhuận

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w