1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Hiện trạng và giải pháp cải tạo ô nhiễm môi trường làng nghề thôn Bình Yên, tỉnh Nam Định

118 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 118
Dung lượng 3,27 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Việc thực hiện đề tài “Hiện trạng và giải pháp cải tạo ô nhiễm môi trường làng nghề thôn Bình Yên, tỉnh Nam Định” là hết sức cần thiết và cấp bách, không chỉ đối với chính quyền và ngư

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ MINH LƯƠNG

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẢI TẠO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

THÔN BÌNH YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh, 2009

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRẦN THỊ MINH LƯƠNG

HIỆN TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP CẢI TẠO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ

THÔN BÌNH YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

Chuyên ngành: Kinh tế Phát triển

Mã số: 60.31.05

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: GS-TS Hoàng Thị Chỉnh

TP Hồ Chí Minh, 2009

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công

bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tác giả luận văn

Trần Thị Minh Lương

Cao học Kinh tế phát triển, Khóa 3 Đại học Kinh Tế, Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cám ơn tới các Thây Cô giáo khoa Kinh tế Phát triển, trường Trường Đại học kinh tế TP.Hồ Chí Minh; và Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright – những người đã cho tôi những kiến thức nền tảng về Kinh tế học Phát triển và cái nhìn tổng quan về các vấn đề phát triển

Xin được bày tỏ lòng biết ơn đối với GS.TS Hoàng Thị Chỉnh – người đã rất nhiệt tình hướng dẫn tôi hoàn thành bản luận văn này

Trang 5

MỤC LỤC:

TRANG BÌA

CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC KÝ TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

MỞ ĐẦU

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 6

1.1 Lý thuyết về môi trường 6

1.1.1 Khái niệm môi trường 6

1.1.2 Chức năng của môi trường 7

1.1.3 Mối quan hệ Kinh tế - xã hội - môi trường và phát triển bền vững 7

1.2 Lý thuyết về ô nhiễm môi trường 8

1.3 Làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề 16

1.3.1 Khái niệm làng nghề 16

1.3.2 Tính tất yếu của phát triển làng nghề đối với nền kinh tế: 17

1.4 Một số căn cứ pháp lý về bảo vệ môi trường 20

1.4.1 Luật bảo vệ môi trường 20

1.4.2 Quy chế Quản lý chất thải nguy hại 20

1.4.3 Nghị định về quản lý chất thải rắn Số: 59/2007/NĐ-CP 20

1.4.4 Một số tiêu chuẩn môi trường cho phép 20

1.5 Bài học kinh nghiệm từ các dự án tương tự 21

1.5.1 Mô hình cải thiện điều kiện SX, MT làng nghề Vân Chàng 21

Trang 6

1.5.2 Chương trình EHMA, Dự án Phát triển Đô thị Nam Định 22

1.5.3 Mô hình cộng dồng quản lý - Dự án JFPR tỉnh Thanh Hóa 23

1.5.4 Mô hình sản xuất sạch hơn (SXSH) tỉnh Nam Định 24

1.5.5 Mô hình phân loại rác tại nguồn, chế biến phân compost 24

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ BÌNH YÊN 26

2.1 Đặc điểm làng nghề Bình yên 26

2.1.1 Đặc điểm tự nhiên thôn Bình Yên 26

2.1.2 Đặc điểm sản xuất làng nghề Bình Yên 26

2.2 Quy trình sản xuất nhôm: 27

2.2.1 Quy trình cô lon và cô nhôm 27

2.2.2 Quy trình cán kéo, tạo hình 28

2.2.3 Quy trình nhúng bóng sản phẩm 29

2.3 Quy mô sản xuất nhôm của làng nghề Bình Yên: 29

2.4 Mức độ ô nhiễm môi trường của làng nghề Bình Yên 30

2.4.1 Đánh giá theo nhìn nhận của cộng đồng 30

2.4.2 Đánh giá dựa trên kết quả quan trắc 31

2.4.2.1 Môi trường nước mặt 31

2.4.2.2 Môi trường nước thải 32

2.4.2.3 Môi trường nước ngầm 33

2.4.2.4 Môi trường không khí: 34

2.4.2.5 Ô nhiễm bùn lắng: 35

2.4.2.6 Ô nhiễm từ tro, xỉ nhôm: 35

2.5 Tác hại của ô nhiễm môi trường đối với làng nghề 35

2.5.1 Tác hại của một số CTNH đối với sức khỏe con người 35

2.5.2 Tác hại của CTNH từ sản xuất đối với cộng đồng thôn Bình Yên 36 2.6 Các nguyên nhân ô nhiễm môi trường làng nghề BY 37

Trang 7

2.6.1 Ô nhiễm do CTNH phát sinh trong sản xuất 38

2.6.2 Ô nhiễm do chất thải sinh hoạt 43

2.6.3 Ý thức BVMT và năng lực Cộng đồng hạn chế 45

2.6.4 Thể chế, chế tài chưa đủ mạnh: 46

CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP CẢI TẠO Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG LÀNG NGHỀ BÌNH YÊN 48

3.1 Giải pháp Nâng cao năng lực và nhận thức cộng đồng 48

3.1.1 Nâng cao năng lực cho các nhóm thúc đẩy cộng đồng 48

3.1.2 Nâng cao nhận thức cộng đồng 50

3.2 Cải tạo môi trường chung của làng nghề 52

3.2.1 Giải pháp: Quản lý tốt rác thải sinh hoạt của thôn 52

3.2.2 Cải tạo CSHT chung (đường ngõ, cống rãnh, kênh mương) 55

3.2.3 Cải tạo điều kiện vệ sinh hộ gia đình 57

3.3 Cải tạo môi trường sản xuất 58

3.3.1 Nâng cao ý thức vệ sinh, an toàn lao động 58

3.3.2 Áp dụng sản xuất sạch hơn 58

3.4 Các quy định bảo vệ môi trường 84

3.4.1 Hương ước/quy ước bảo vệ môi trường làng nghề: 84

3.4.2 Quy định về quản lý chất thải nguy hại: 86

3.4.3 Quy định về quản lý chất thải sinh hoạt: 86

3.4.4 Đánh giá chi phí - lợi ích của các giải pháp cải tạo môi trường tại Bình Yên .87

TÀI LIỆU THAM KHẢO;

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC KÝ TỪ VIẾT TẮT

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

g

4 Bảng 2.3.a: Thống kê nguyên liệu đầu vào trong tháng của BY 30

5 Bảng 2.3.b: Thống kê nguyên liệu đầu vào trong tháng của BY 30

6 Bảng2.3.c: thời gian sản xuất của các hộ làng nghề trong tháng 30

7 Bảng 2.4.1: Đánh giá tác động của một số nhân tố đối với BY 30

8 Bảng 2.4.2.1: kết quả quan trắc môi trường nước mặt tại BY 31

9 Bảng 2.4.2.2: kết quả phân tích quan trắc mẫu nước thải tại BY 32

10 Bảng 2.4.2.3: kết quả phân tích quan trắc mẫu nước ngầm 33

11 Bảng 2.5.2: các triệu chứng bệnh thường gặp của người dân BY 37

14 Bảng 2.6.1.1.c: lượng rác thải phát sinh trung bình hàng tháng tại

làng nghề

39

15 Sơ đồ 2.6.1.2a: Sơ đồ phân bố các hộ sản xuất tại làng nghề BY 40

16 Bảng 2.6.1.2b: diện tích đất, nhà ở và nhà xưởng của các hộ sản

xuất

41

Trang 10

18 Bảng 2.6.1.2d: thống kê số lượng máy sản xuất nhôm tại làng nghề 41

19 Bảng 2.6.1.3: mức độ sử dụng bảo hiểm lao động của công nhân

24 Bảng 2.6.2.3: Mức độ tham gia các lớp đào tạo về bảo vệ môi

trường và an toàn lao động của các hộ tại làng nghề

46

25 Ảnh 2.6.4: Sơ đồ Nhân – Quả do ô nhiễm môi trường làng nghề 47

26 Sơ đồ 3: cơ cấu tổ chức thực hiện tiểu dự án làng nghề BY 47

27 Ảnh 3.1.1.a &b: thực hành kỹ năng làm việc nhóm và trình bày 49

30 Ảnh 3.2.1a: dọn bãi rác công cộng trong buổi Lễ VSMT 54

31 Ảnh 3.2.1b: Thông điệp Quản lý rác thải được thiết kế cho BY 54

34 Bảng 3.2.2c Các giải pháp sản xuất sạch hơn và kết quả thực

nghiệm

65

35 Ảnh 3.3.2.1: Hệ thống thông khí trước và sau khi cải tạo 80

36 Bảng 3.3.2.2a: Kinh phí hoạt động cải tạo môi trường làng nghề 89

37 Sơ đồ 3.3.2.2b: Tóm tắt các giải pháp cải thiện MT làng nghề 89

Trang 11

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Theo số liệu thống kê gần đây nhất, cả nước hiện có khoảng 2.790 làng nghề, trong

đó nhiều nhất là Nam Định (113), Hà tây (88), Thái Bình 82 Mỗi làng nghề thường dao động từ 400 – 700 hộ sản xuất; mỗi hộ có từ 4 – 5 nhân lực lao động (nguồn: website www.rfa.org/ /Vietnam-traditional-crafts-falters-in-global-ecnomic-downturn-qnh)

Trong vòng 10 năm qua tốc độ tăng trưởng của làng nghề ở nông thôn Việt nam đạt khoảng 8%/năm tính theo giá trị đầu ra, góp phần quan trọng trong công cuộc giảm đói nghèo và phát triển kinh tế của đất nước

Tuy nhiên, theo cục Cảnh sát môi trường trong năm 2008, có tới hơn 90% làng nghề trong cả nước vi phạm Luật bảo vệ môi trường Kết quả khảo sát của Bộ TN-MT tại

52 làng nghề điển hình trong cả nước cho thấy 46% số làng nghề được khảo sát có môi trường ô nhiễm nặng (đối với không khí, đất, nước hoặc cả ba dạng), trong khi

ô nhiễm vừa và nhẹ chiếm 27% Theo đánh giá của các nhà khoa học, hầu hết các giải pháp hữu hiệu cải tạo ô nhiễm môi trường làng nghề đều mới chỉ đang …

“mạnh trên giấy”

Là một trong số gần 50 làng nghề cơ khí của tỉnh Nam Định, nghề đúc nhôm thôn Bình Yên được hình thành từ năm 1987 và phát triển mạnh trong vòng 5 năm gần đây, với số hộ sản xuất chiếm trên 33% trong tổng số 530 hộ của thôn Sản phẩm chủ yếu của làng nghề là các loại mâm, nồi, ấm nhôm được sản xuất từ phế liệu nhôm và các loại vỏ lon và được đem đi tiêu thị các ở tỉnh miền trung, Lào và Campuchia Thu nhập bình quân của 1 người lao động làng nghề gấp gần 5 lần thu nhập từ thuần nông Nhưng cũng từ sản xuất, tái chế nhôm, Bình Yên không còn

“bình yên” như xưa Hàng ngày một lượng rất lớn các chất thải nguy hại phát sinh trong sản xuất (đặc biệt là quá trình cô lon và nhúng bóng sản phẩm) gây ô nhiễm

Trang 12

nghiêm trọng đến nguồn không khí, đất và nước; ảnh hưởng xấu đến cuộc sống, sức khỏe của người dân và trật tự trị an Nhiều đơn kêu cứu đã vượt cấp lên tận trung ương Sự tồn tại của làng nghề Bình Yên đã trở thành vấn đề trăn trở của các cấp chính quyền và người dân địa phương

Việc thực hiện đề tài “Hiện trạng và giải pháp cải tạo ô nhiễm môi trường làng

nghề thôn Bình Yên, tỉnh Nam Định” là hết sức cần thiết và cấp bách, không chỉ

đối với chính quyền và người dân Bình yên; hay của tỉnh Nam Định, mà còn là bài học kinh nghiệm cho các làng nghề khác trong cả nước

2 Câu hỏi nghiên cứu và Mục tiêu của đề tài

Trước thực trạng cấp bách về ô nhiễm môi trường của làng nghề Bình Yên, quá trình nghiên cứuvà thực hiện đề tài đã phát sinh những câu hỏi mà đề tài hướng tới: Các lý thuyết đề cập về vấn đề ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường làng nghề? chi phí và lợi ích cải tạo ô nhiễm môi trường? Các nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường làng nghề Bình Yên là gì? Cần có các giải pháp nào

để cải tạo ô nhiễm môi trường làng nghề Bình Yên một cách bền vững?

Mục tiêu của đề tài nhằm: (1) Xác định các nguyên nhân cơ bản gây ô nhiễm môi trường làng nghề Bình Yên; (2) đề xuất các giải pháp và tiến hành thực nghiệm giải pháp này để cải tạo ô nhiễm môi trường làng nghề Bình Yên; 2) rút ra các bài học chia sẻ rộng rãi đối với các làng nghề khác trong và ngoài tỉnh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng chính của đề tài là: các hộ sản xuất nhôm và các hộ thuần nông của làng nghề và các hoạt động sản xuất, sinh hoạt tác động tiêu cực đến môi trường làng nghề; các tổ chức đoàn thể của địa phương (thôn Bình Yên; xã Nam Thanh; huyện Trực ninh; thành phố Nam Định); tổ chức của dự án quản lý chất thải nguy hại tỉnh Nam Định

Trang 13

Với mục tiêu đề ra nhằm cải thiện môi trường làng nghề Bình Yên, phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong phạm vi thôn Bình Yên, xã Nam Thanh, huyện Nam Trực, Tỉnh Nam Định và một số khu vực lân cận

Thời gian nghiên cứu, khảo sát làng nghề: tháng 4/2008 – 6/2008; thời gian thực nghiệm các giải pháp cải tạo môi trường làng nghề: tháng 7/2008 – 12/2009

4 Phương pháp nghiên cứu:

Quá trình nghiên cứu và thực nghiệm, đề tài đã sử dụng một số phương pháp sau:

Phương pháp điều tra, khảo sát:

Chương trình điều tra tổng thể Kinh tế - Xã hội – Môi trường do tác giả thiết kế, hướng dẫn triển khai; nhóm khảo sát của Trung tâm quan trắc môi trường và Ban

Tư vấn Cộng đồng thành phố Nam Định thực hiện tại 100% hộ gia đình tại làng nghề Bình Yên tháng 5 – 6/2008

Chương trình quan trắc môi trường nước thải; nước ngầm; nước mặt; đất (bùn); không khí và chất thải rắn của làng nghề Bình Yên do Dự án QLCTNH Nam Định phối hợp với Trung tâm Trung tâm quan trắc môi trường, sở TNMT tỉnh Nam Định thực hiện vào tháng 6/2008

Phương pháp thống kê; phân tích; so sánh; tổng hợp:

Đề tài sử dụng một số phương pháp phân tích dựa trên kết quả khảo sát kinh tế - xã hội – môi trường làng nghề Bình Yên; phân tích quan trắc môi trường và so sánh với mức độ cho phép theo TCVN; các phân tích các tiếp cận thể chế liên quan đến làng nghề (Institutional Approach); các dữ liệu sơ/thứ cấp (primary and secondary data);

Đề tài cũng sử dụng phương pháp phân tích một số đề án được đúc kết bởi các bài học kinh nghiệm quốc tế và trong nước của một số dự án thành công tại Nam Định

và một số tỉnh khác như dự án QLCTNH tỉnh Nam Định; dự án Phát triển đô thị Nam Định; dự án JFPR Thanh hóa…

Trang 14

Phương pháp thực nghiệm:

Các giải pháp đề xuất trong đề tài này sẽ không chỉ nằm trên giấy, mà còn được thực hiện tại làng nghề đúc nhôm Bình Yên Việc đánh giá tác động hay hiệu quả của các giải pháp từ thực nghiệm sẽ là bài học kinh nghiệm hữu ích cho các làng nghề khác trên cả nước

5 Ý nghĩa khoa học của đề tài

Với mục tiêu và phương pháp nêu trên, đề tài “Hiện trạng và giải pháp cải tạo ô

nhiễm môi trường làng nghề Bình Yên – tỉnh Nam Định” mang ý nghĩa khoa học

và thực tiễn to lớn trong việc tìm ra các nguyên nhân và giải pháp hữu hiệu và khả thi để cải thiện môi trường làng nghề Bình Yên nói riêng và các làng nghề trong cả nước nói chung Sự thành công của đề tài góp phần thực hiện chiến lược Quản lý Chất thải Nguy hại của Tỉnh Nam Định

Đề tài còn mang ý nghĩa xã hội to lớn trong việc xã hội hóa công tác bảo vệ môi trường, với sự tham gia đồng bộ, đa ngành; và khẳng định vai trò tham gia của cộng đồng là hết sức cần thiết trong công tác bảo vệ môi trường làng nghề; Đồng thời là một bài học về sáng kiến huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực sẵn có trong

xã hội để cải tạo môi trường

6 Điểm mới của đề tài:

Điểm mới của đề tài được thể hiện ở chỗ: các đề xuất không chỉ nằm trên giấy, mà được thực nghiệm để cải thiện ô nhiễm môi trường làng nghề, đồng thời rút ra các bài học kinh nghiệm để chia sẻ rộng rãi với các làng nghề khác

Một điểm tiên phong, nổi bật của đề tài là cách tiếp cận theo mô cộng đồng hình quản lý Quá trình cải thiện ô nhiễm môi trường do chính người dân địa phương lập

kế hoạch, triển khai, quản lý giám sát và duy trì Cách tiếp cận này đã huy động được cao nhất các nguồn lực của địa phương, đồng thời hướng tới sự phát triển bền vững Kinh tế - Xã hội – Môi trường của làng nghề

Trang 15

Mặc dù hiện nay chúng ta có tương đối nhiều các dự án phát triển về cải tạo cơ sở

hạ tầng và điều kiện VSMT, nhưng có rất ít có dự án về cải tạo môi trường làng nghề, và các giải pháp mang tính tổng thể Nét mới của đề tài này được thể hiện trong các giải pháp mang tính tổng thể, đa ngành, thực sự được “xã hội hóa” với sự tham gia của tất cả các cấp từ chính phủ, đến chính quyền tỉnh, huyện, xã, thôn, các

tổ chức đoàn thể và hộ gia đình; các chuyên gia quốc tế và tư vấn địa phương

7 Kết cấu luận văn:

Ngoài phần Mở đầu; Danh mục các bảng biểu; Kết luận; Tài liệu tham khảo và Phụ lục; Kết cấu chính của luận văn bao gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận

Nội dung chính của chương 1: Gồm các cơ sở lý luận, khái niệm về môi trường, ô nhiễm môi trường và các biện pháp kiểm soát ô nhiễm môi trường Các căn cứ quy định về môi trường trong luật bảo vệ môi trường; Một số tiêu chuẩn Việt Nam về môi trường Một số bài học kinh nghiệm được rút ra từ các đề tài, dự án tương tự được kế thừa và phát triển cho phù hợp với làng nghề BY

Chương 2: Thực trạng môi trường làng nghề Bình Yên

Nội dung chính của chương 2: Phân tích kết quả khảo sát Kinh tế - Xã hội - Môi trường làng nghề; và phân tích kết quả quan trắc môi trường làng nghề, từ đó tìm ra các nguyên nhân chính tác động đến môi trường làng nghề Bình Yên; mức độ ô nhiễm và hậu quả của chúng đối với với môi trường tự nhiên, xã hội và cuộc sống của người dân làng nghề

Chương 3: Giải pháp cải tạo môi trường làng nghề Bình Yên

Nội dung chính của chương 3: là các giải pháp cải tạo môi trường làng nghề Bình Yên và các bài học kinh nghiệm rút trong quá trình thực hiện các giải pháp này tại làng nghề Bình Yên

Trang 16

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN

1.1 Lý thuyết về môi trường

1.1.1 Khái niệm môi trường

"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại,

phát triển của con người và thiên nhiên (Điều 1, Luật Bảo vệ Môi trường CHXHCN

Việt Nam, số 52/2005/QH11)

Môi trường sống của con người theo chức năng được chia thành các loại: Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như vật lý, hoá học, sinh học, tồn tại ngoài ý muốn của con người, nhưng cũng ít nhiều chịu tác động của con người

Đó là ánh sáng mặt trời, núi sông, biển cả, không khí, động, thực vật, đất, nước Môi trường tự nhiên cho ta không khí để thở, đất để xây dựng nhà cửa, trồng cấy, chăn nuôi, cung cấp cho con người các loại tài nguyên khoáng sản cần cho sản xuất, tiêu thụ và là nơi chứa đựng, đồng hoá các chất thải, cung cấp cho ta cảnh đẹp để giải trí, làm cho cuộc sống con người thêm phong phú

Môi trường xã hội là tổng thể các quan hệ giữa người với người, nó định hướng hoạt động của con người theo một khuôn khổ nhất định, tạo nên sức mạnh tập thể thuận lợi cho sự phát triển, làm cho cuộc sống của con người khác với các sinh vật khác

Ngoài ra, còn có môi trường nhân tạo: bao gồm tất cả các nhân tố do con người tạo nên, làm thành những tiện nghi trong cuộc sống, như ôtô, máy bay, nhà ở, công sở,

các khu vực đô thị, công viên nhân tạo (nguồn: Bách khoa toàn thư mở,

http://vi.wikipedia.org/wiki/Kinh_tê_hoc_moi_truong)

Trang 17

1.1.2 Chức năng của môi trường

Môi trường có các chức năng cơ bản: Là không gian sống của con người và các loài sinh vật; Nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản xuất của con người; Nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc sống và hoạt động sản xuất của mình; Nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và sinh vật trên trái đất; Nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con người Bảo vệ môi trường là những hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, đảm bảo cân bằng sinh thái, ngăn chặn, khắc phục các hậu quả xấu do con người và thiên nhiên gây ra cho môi trường, khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên

1.1.3 Mối quan hệ Kinh tế - xã hội - môi trường và phát triển bền vững

Phát triển kinh tế xã hội là quá trình nâng cao điều kiện sống về vật chất và tinh thần của con người qua việc sản xuất ra của cải vật chất, cải tiến quan hệ xã hội, nâng cao chất lượng văn hoá Phát triển là xu thế chung của từng cá nhân và cả loài người trong quá trình sống Giữa môi trường và sự phát triển có mối quan hệ hết sức chặt chẽ do môi trường là địa bàn và đối tượng của sự phát triển, còn phát triển

là nguyên nhân tạo nên các biến đổi của môi trường

Trong hệ thống kinh tế xã hội, hàng hoá được di chuyển từ sản xuất, lưu thông, phân phối và tiêu dùng cùng với dòng luân chuyển của nguyên liệu, năng lượng, sản phẩm, phế thải Các thành phần đó luôn ở trạng thái tương tác với các thành phần tự nhiên và xã hội của hệ thống môi trường đang tồn tại trong địa bàn đó Khu vực giao nhau giữa hai hệ thống trên là môi trường nhân tạo Tác động của hoạt động phát triển đến môi trường thể hiện ở khía cạnh có lợi là cải tạo môi trường tự nhiên hoặc tạo ra kinh phí cần thiết cho sự cải tạo đó, nhưng có thể gây ra ô nhiễm môi trường tự nhiên hoặc nhân tạo Mặt khác, môi trường tự nhiên đồng thời cũng tác động đến sự phát triển kinh tế xã hội thông qua việc làm suy thoái nguồn tài nguyên đang là đối tượng của hoạt động phát triển hoặc gây ra thảm hoạ, thiên tai đối với

Trang 18

các hoạt động kinh tế xã hội trong khu vực (Nguồn: R.Kerry Turner, David Pearce

& Ian Bateman, – Giáo trình Kinh Tế Môi trường)

Phát triển bền vững là sử dụng hợp lý và có hiệu quả các nguồn tài nguyên, bảo vệ

Môi trường một cách khoa học đồng thờivới sự phát triển kinh tế (Hội nghị môi

trường toàn cầu Rio de Janerio, 6/1992)

Phát triển bền vững là sự phát triển đáp ứng các nhu cầu hiện tại mà không làm tổn

hại khả năng của các thế hệ tương lai trong đáp ứng các nhu cầu của họ (Hội đồng

thế giới về môi trường và phát triển - World Commission and Environment and Development, WCED)

1.2 Lý thuyết về ô nhiễm môi trường

1.2.1 Khái niệm ô nhiễm môi trường

Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp

với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật (nguồn: luật

Bảo vệ môi trường Việt nam, 200, chương 1)

Ô nhiễm môi trường được coi như là một chi phí ngoại ứng, vì nền kinh tế là một hệ thống mở Cả ba quá trình căn bản của hệ thống này (khai thác, chế biến/sản xuất và tiêu thụ) đều bao gồm việc phát sinh chất thải, mà cuối cùng rồi cũng sẽ tìm đường trở về với môi trường chung quanh (không khí, nước, đất) Quá nhiều chất thải không đúng chỗ, đúng lúc (hoặc kéo dài quá lâu) sẽ gây ra những thay đổi về sinh học cũng như những thay đổi khác trong môi trường (gọi là nhiễm độc) Chính những sự nhiễm độc này sau đó có thể gây hại đến súc vật, cây cỏ và hệ sinh thái, ảnh hưởng đến sức khỏe con người Về mặt kinh tế thì đã có một sự mất mát phúc lợi không đền bù được do phải chịu một chi phí ngoại ứng (từ việc nguy hại đến sức khỏe, nguy cơ tử vong, mất các cơ hội được vui chơi, giải trí) liên quan đến việc các chất thải bị thải vào không khí, nguồn đất và nước

Các công trình nghiên cứu của Malthus (1978), Ricardo (1817) và Marx (1867) đã chỉ ra một điều mang ý nghĩa rất thực tế và tối hậu là: Các hoạt động kinh tế bị giới

Trang 19

hạn bởi khả năng của môi trường chung quanh Như vậy, để đạt được mục tiêu lợi nhuận, các nhà sản xuất đã cố tình giảm thiểu các chi phí sản xuất, đặc biệt là chi phí để xử lý ô nhiễm Theo Malthus, khi vấn đề ô nhiễm môi trường vượt quá các

“giới hạn tương đối” và “tuyệt đối” hay sự khan hiếm gia tăng, thì các chi phí khai thác (kể cả chi phí ô nhiễm sẽ gia tăng), dẫn tới tình trạng dậm chân tại chỗ và rơi

vào vòng luẩn quẩn là một kết quả không thể tránh khỏi (Nguồn: R.Kerry Turner,

David Pearce & Ian Bateman, – Giáo trình Kinh Tế Môi trường)

1.2.2 Một số dạng ô nhiễm môi trường thường gặp

Ô nhiễm không khí

Ô nhiễm không khí là sự có mặt một chất lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng trong thành phần không khí, làm cho không khí không sạch hoặc gây ra sự tỏa mùi, có mùi khó chịu, giảm tầm nhìn xa do bụi

Có 5 loại chất thải khí chủ yếu được thải ra gây ô nhiễm khí quyển, gồm: (1) Cacbon ô xít (độc hại đối với động vật) – phát sinh từ các phương tiện giao thông vận tải và từ ngành công nghiệp; (2) Oxit lưu huỳnh (có thể gây hại cho cả động và thực vật) chủ yếu hình thành do đốt cháy các nhiên liệu như than và dầu; (3) Ôxit Nito (có thể làm thương tổn phổi con người và giảm sự tăng trưởng cây cối), chủ yếu được tạo ra từ các phương tiện giao thông vận tải và từ việc đốt cháy tại chỗ như trong các nhà máy nhiệt điện; (4) Hydro cacbon – khi kết hợp với Ôxit nito và tia cực tím tạo thành một loại sương hóa dầu, tạo ra các triệu chứng khó thở, ngứa, chảy nước mắt ở người; (5) Các hợp chất không đồng nhất của các chất rắn và lỏng

lơ lửng trong không khí, chủ yếu là bụi, tàn tro và chất chì trong khí thải của các phương tiện giao thông vận tải, làm giảm tầm nhìn và có thể gây hại trực tiếp cho con người

Ô nhiễm nguồn nước

Xảy ra khi nước bề mặt chảy qua rác thải sinh hoạt, nước rác công nghiệp, các chất

ô nhiễm trên mặt đất, rồi thấm xuống nước ngầm Ô nhiễm nước là sự thay đổi theo

Trang 20

chiều xấu đi các tính chất vật lý – hoá học – sinh học của nước, với sự xuất hiện các chất lạ ở thể lỏng, rắn làm cho nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật, làm giảm độ đa dạng sinh vật trong nước

Ô nhiễm nước có nguyên nhân từ các loại chất thải và nước thải công nghiệp được thải ra lưu vực các con sông mà chưa qua xử lí đúng mức; các loại phân bón hoá học và thuốc trừ sâu ngấm vào nguồn nước ngầm và nước ao hồ; nước thải sinh hoạt được thải ra từ các khu dân cư ven sông

Ô nhiễm đất

Xảy ra khi đất bị nhiễm các chất hóa học độc hại do các hoạt động chủ động của con người làm thay đổi các nhân tố sinh thái vượt qua những giới hạn cho phép của các quần xã sống trong đất Người ta có thể phân loại đất bị ô nhiễm theo các nguồn gốc phát sinh hoặc theo các tác nhân gây ô nhiễm như: ô nhiễm đất do các chất thải

sinh hoạt; do chất thải công nghiệp; do hoạt động nông nghiệp

1.2.3 Các lý do khiến môi trườngbị ô nhiễm

1.2.3.1 Đặc tính của môi trường:

Điều gì khiến cho môi trường vốn là nơi đem lại lợi ích cho người sản xuất và tiêu dùng lại bị biến thành nơi chứa rác thải? Thông thường, ô nhiễm bắt nguồn từ một hoặc cả 2 nhân tố cơ bản sau: (1) không ai có quyền sở hữu hoặc thực hiện quyền

đó trong môi trường bị ô nhiễm; (2) đặc điểm tiêu dùng tập thể của môi trường

Đa số hàng hóa về môi trường mang tính chất “ hàng hóa công” - không tranh giành

và không loại trừ Có nghĩa là khi món hàng được một người tiêu thụ, nó không làm giảm đi phần tiêu thụ của những người khác, và một người không thể ngăn cản người khác tiêu thụ hàng hóa đó Nếu không ai sở hữu một phần nào đó của môi trường hoặc là người sở hữu môi trường không thể tự mình hoặc thông qua người khác để kiểm soát môi trường của mình, người ta hoàn toàn có thể sử dụng sông hồ; không khí, đất làm nơi xả rác tự do mà không bị ai đánh phí

Trang 21

Bên cạnh đó, có nhiều yếu tố của môi trường được sử dụng một cách tập thể Việc xác định giá trị của không khí mà một người hay một nhà cơ sở sản xuất là rất khó; khó có thể đánh giá giá trị của không khí bị mất đi do một cơ sở sản xuất gây ô nhiễm, vì đồng thời có nhiều cơ sở khác, nhiều tác nhân khác gây ô nhiễm không khí Nếu không thể tính toán được giá trị của môi trường đem lại cho người sử dụng

nó thì cũng khó có thể ngăn cản người ta không làm ô nhiễm môi trường bằng cách bắt những ai làm ô nhiễm phải trả tiền

1.2.3.2 Rối loạn trong vận hành của thị trường:

Theo Coase, dựa trên khái niệm chi phí giao dịch, thể hiện sự tồn tại của những chi

phí đặc thù do những cố gắng phối hợp của các tác nhân Nếu những tác nhân này

có thể dễ dàng liên lạc với nhau mỗi khi một vài tác nhân trong số họ chịu thiệt thòi

do hành động của một số khác, thì một không gian thương thảo có thể được mở ra

và như thế sẽ dẫn đến một tình thế tốt cho mọi người Nói cách khác, sở dĩ những ngoại ứng tồn tại thì đó là vì việc làm biến mất chúng sẽ tốn kém (tính theo chi phí giao dịch) hơn là chịu đựng chúng

Mặc dù các tài nguyên thiên nhiên là đói tượng trao đổi trên thị trường, nhưng giá của những giao dịch này được xác định rất thấp Trong khi một số sản phẩn môi trường khác như chất lượng không khí, tiếng ồn lại không có thị trường và do đó, không có giá Điều này thường dẫn đến việc xem các sản phẩm này là miễn phí để rồi khai thác chúng quá mức

Sự thất bại của thị trường trong việc bảo vệ môi trường xuất phát từ việc đánh giá thấp những chi phí mà những quyết định của các tác nhân có liên quan kéo theo Những quyết định này được đưa ra trên cơ sở những chi phí do người ra quyết định trực tiếp gánh chịu, mà không tính đến những chi phí mà người này bắt cả xã hội phải gánh chịu

Một nguyên nhân khác của thất bại thị trường và tình trạng xuống cấp kéo dài nằm

trong hành vi của người ăn không (ám chỉ hành vi cá nhân chủ nghĩa) Với bản chất

Trang 22

công của sản phẩm môi trường nên từng người riêng lẻ có xu hướng khai báo thấp

sự sẵn sàng chi trả cận biên của mình Ví dụ: dù không tham gia vào nỗ lực chung

để bảo vệ chất lượng nước của một con sông, người ta vẫn luôn có thể thụ hưởng nó một khi nỗ lực đã hoàn thành Nhưng do mỗi người đều ở trong tình thế này, nên có thể cuối cùng tổng lực là không đủ để duy trì một chất lượng chấp nhận được

Một nguyên nhân nữa của thất bại thị trường là do không có được thị trường như trong những tình huống có liên quan đến những thế hệ tương lai Ở đây không có chuyện thương lượng vì thiếu vắng một trong những thành viên để thương lượng 1.2.3.3 Rối loạn trong các hoạt động của nhà nước

Những thất bại của thi trường hiển nhiên khiến người ta phải xem xét sự can thiệp của nhà nước, đặc biệt vì nhà nước có chức năng khuyến khích (bằng các quy định pháp lý; hoặc các chính sách thuế) các tác nhân kinh tế chọn những hành vi phù hợp với lợi ích chung hơn là những hành vi mà họ sẽ chọn nếu không có các tác động của nhà nước

Nhưng nếu chính phủ can thiệp ngày càng nhiều hơn vào việc quản lý tài nguyên thiện nhiên hoặc tìm cách giải quyết hàng loạt vấn đề môi trường như quả của ô nhiễm không khí hoặc của tiếng ồn đối với sức khỏe… thì các chính phủ cũng không thành công hơn thị trường Có 3 loại lý do cho phép giải thích tình hình này: (1) thất bại có thể bắt nguồn từ sự thiếu vắng một chính sách thích hợp và khả năng chỉnh sửa thiếu sót này; (2) Có những vấn đề khó giải quyết hơn, gắn với bản chất công của tài sản môi trường toàn cầu Không một quốc gia nào có thể tự mình giải quyết những vấn đề như thế và kết quả là sẽ có, cho cùng một tình hình, những hậu quả giống với hậu quả do thất bại của các thị trường gây ra Nói cách khác, đối với tất cả những vấn đề toàn cầu có liên quan đến cả hành tinh, việc không có những định chế quốc tế có những đặc quyền được mọi người thừa nhận khiến cho các quyết định trở nên vô hiệu; (4) Giải pháp cho nhiều vấn đề, nó đòi hỏi một lượng thông tin khổng lồ, nhưng chỉ có sẵn dưới dạng phân tán Điều này làm cho hoạt động của một cơ quan trung ương là vô cùng khó khăn Ngay cả khi có sẵn các

Trang 23

thông tin này thì chúng cũng được kiến giải theo nhiều cách khác nhau trong khuôn khổ của những lý thuyết khoa học cạnh tranh nhau, đôi lúc điều này buộc phải hành động trước khi hiểu biết, với nguy cơ là ra một quyết định sai lầm

(nguồn: Phipipe Bontems Gilles Rotillon (2008), Kinh tế học môi trường Economie

De L’environnement, Nhà xuất bản trẻ)

1.2.4 Kiểm soát ô nhiễm môi trường

1.2.4.1 Chi phí của việc kiểm soát ô nhiễm

Phản ứng của chúng ta đối với nạn ô nhiễm thường khiến chúng ta quyết định “hãy giải quyết nó đi”, và cảm thấy rằng có thể làm sạch không khí, đất và nước Nhưng như thế nào thì được coi là sạch? Sự sạch cũng như cái tốt, là giá trị tương đối hơn tuyệt đối Để xác định mức độ ô nhiễm cho phép, trước tiên cần phải xem xét phí tổn cần để giữ môi trường sạch Việc kiểm soát ô nhiễm không phải là không phí tổn Công lao động và vốn sử dụng cho việc xây dựng và vận hành các thiết bị chống ô nhiễm sẽ không thể được sử dụng cho việc sản xuất hàng hóa và dịch vụ khác Giá trị của các hàng hóa và dịch vụ không được sản xuất ra là phí tổn của các hoạt động kiểm soát ô nhiễm của nhà máy Phí tổn cho kiểm soát ô nhiễm là sự áp dụng trực tiếp của nguyên tắc chi phí cơ hội

1.2.4.2 Lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm

Những lợi ích của việc kiểm soát ô nhiễm bao gồm việc cải thiện điều kiện sống của các thành viên trong xã hội, là kết quả của môi trường sạch hơn Để đo lợi ích của hoạt động kiểm soát ô nhiễm, giá trị của việc cải thiện điều kiện sống nó tạo ra cần phải được xác định Ví dụ: để xác định được lợi ích của việc giảm 50% khói, chúng

ta có thể hỏi mỗi người sống trong khu vực đó việc giảm khói này có giá trị bao nhiêu đối với mỗi cá nhân họ Bằng việc cộng tất cả các con số có được từ các câu trả lời, sẽ có được giá trị tính bằng tiền của các lợi ích có thể đạt được

1.2.4.3 Mức độ thích hợp của việc kiểm soát ô nhiễm

Trang 24

Do kiểm soát ô nhiễm – để có một môi trường sạch hơn – đòi hỏi chi phí, xã hội cần phải lựa chọn giữa mức hàng hóa và dịch vụ mà các nguồn lực của nó sẽ được sử dụng để sản xuất và mức độ sạch của môi trường Nếu xã hội phải chịu một mức ô nhiễm quá mức chịu đựng, nó sẽ sẵn sàng hy sinh lượng hàng hóa và dịch vụ để kiểm soát ô nhiễm

Mức kiểm soát ô nhiễm thích hợp được xác định bởi việc đánh giá các lợi ích so với chi phí Nếu lợi ích của việc tăng cường kiểm soát – giá trị của bầu không khí trong sạch đói với các thành viên của xã hội – cao hơn chi phí, thì việc kiểm soát ô nhiễm cần phải được tăng cường Tuy nhiên, nếu lợi ích của việc kiểm soát nhỏ hơn chi phí về mặt hàng hóa và dịch vụ, thì việc tăng cường kiểm soát không được đảm bảo Mức độ kiểm soát ô nhiễm thích hợp là điểm đạt được gần nhất có thể mức độ mà ở

đó lợi ích cận biên bằng chi phí cận biên

1.2.4.4 Các biện pháp kiểm soát ô nhiễm

Kiểm soát trực tiếp:

Một cách kiểm soát ô nhiễm môi trường đơn giản và đánh chú ý là chính phủ cấm hoạt động của các cơ sở gây ô nhiễm Biện pháp này trực tiếp và trên bề mặt, dường như rõ ràng là công bằng Tuy nhiên, nếu thiệt hại gây bởi một đơn vị ô nhiễm tăng thêm nhỏ hơn so với chi phí để ngăn chặn nó, phúc lợi cộng đồng sẽ lớn hơn là trong trường hợp thiệt hại đó được gây ra Do đó, kiểm soát trực tiếp thường nên tập trung vào một mục tiêu ít lý tưởng hơn là một môi trường hoàn toàn không có ô nhiễm Có thể kiểm soát mức độ ô nhiễm bằng các thiết bị quy định tiêu chuẩn hoặc mức hạn chế ô nhiễm của các tác nhân gây nên Các giới hạn có thể cho phép có thể được xác lập một cách có cơ sở Trong phạm vi các giới hạn đó, chi phí chung có thể được so sánh với lợi ích để xác lập các mức độ ô nhiễm có thể cho phép

Việc kiểm sát trực tiếp không khuyến khích về mặt kinh tế để các cơ sở gây ô nhiễm ngừng gây ô nhiễm Thực tế, vì mục đích kinh tế, các cơ sở gây ô nhiễm sẽ tìm cách và tìm biện pháp để tránh các tiêu chuẩn giới hạn ô nhiễm đã được xác lập

Trang 25

Hầu hết bất kỳ việc cấm các cá nhân và công ty nào khỏi hoạt động họ muốn làm đều gây nên vấn đề thực thi

Kiểm soát gián tiếp

Chính phủ có thể kiểm soát nhiều loại ô nhiễm bằng cách đánh thuế các hoạt động gây ô nhiễm Trong trường hợp có thể xác định lượng các chất thải gây ô nhiêm của từng cơ sở, một mức thuế có thể được áp dụng trực tiếp vào mỗi lượng chất thải được thải ra Việc này sẽ làm cho các cơ sở gây ô nhiễm giảm lượng chất thải Việc

sử dụng thuế để kiểm soát ô nhiễm có một số thuận lợi: thuận lợi lớn nhất là nó khuyến khích cơ sở gây ô nhiễm tìm các biện pháp và phương tiện để tránh hay làm sạch chất thải Một thuận lợi nữa là nó ngăn cơ sở gây ô nhiễm khỏi chuyển một phần chi phí sản xuất (chi phí ô nhiễm) cho cơ sở khác; điều này không khuyến khích các cơ sở sản xuất quá công suất

Tuy nhiên, biện pháp này cũng có một số điểm bất lợi: khó có thể xác định được lợi ích – tổng hoặc cận biên – của việc làm sạch chất thải đối với xã hội Tuy nhiên, cũng không nên quá chú trọng vào chỉ trích nó, vì biện pháp này hướng vào mọi cố gắng để kiểm soát ô nhiễm; Thứ hai, việc áp dụng một loại thuế như thế không dễ dàng Cần có giám sát để đảm bảo rằng các chất thải được xử lý đúng cách; Thứ ba, việc đánh thuế được các cơ quan chính trị thực hiện chứ không phải các cơ quan kinh tế, và chính trị hoàn toàn có thể xen vào việc áp dụng các mức thuế thích hợp Hiện nay, hình thức kiểm soát này chưa được sử dụng nhiều

Tạo ra các thị trường có quyền gây ô nhiễm

Việc không có quyền sở hữu chính đáng được xác định rõ đối với việc sử dụng các dịch vụ của môi trường là nguyên nhân chủ yếu của các vấn đề môi trường Trong các trường hợp như vậy, có thể đạt được mức kiểm soát ô nhiễm tối ưu bằng cách hiệu quả nhất về mặt chi phí thông qua việc thiết lập một thị trường quyền gây ô nhiễm, trong đó các công ty bán và mua các giấy phép của chính phủ để thải chất thải Cụ thể, nhà nước có thể quyết định mức chất thải cho phép dựa trên việc phân

Trang 26

tích lợi ích cận biên và chi phí cận biên, sau đó in các giấy phép cho phép các cơ sở

có giấy phép có quyền thải lượng chất thải cao nhất, và rồi phân bổ cho các cơ sở gây ô nhiễm một phần của các giấy phép này

Các công ty có khả năng xử lý chất thải ít tốn kém hơn được phép bán giấy phép của mình cho các công ty khác Các công ty không thể giảm lượng chất thải với chi phí thấp như vậy sẽ mua quyền được tiếp tục gây ô nhiễm

Người ta ước lượng này sẽ đem lại mức giảm ô nhiễm trên toàn cục với một khoản tiết kiệm khoảng 1 tỷ đô la mỗi năm so với trường hợp kiểm soát trực tiếp như yêu

cầu tất cả các công ty giảm gây ô nhiễm một cách đồng đều

1.3 Làng nghề và ô nhiễm môi trường làng nghề

1.3.1 Khái niệm làng nghề

Khái niệm:

Theo tác giả Trần Minh Yến, (2004): Làng nghề là một thiết chế kinh tế - xã hội ở nông thôn, được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công

là chính, giữa họ có mối liên kết về kinh tế, xã hội và văn hóa" (nguồn: Vũ Quốc

Tuấn, Sách Làng nghề, phố nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển, NXB

Hà nội 2009)

Theo Thông tư số 116/2006/TT-BNN, 18/12/2006, Bộ NNPTNT: Làng nghề là một hoặc nhiều cụm dân cư cấp thôn, ấp, bản, làng, buôn, phum, sóc hoặc các điểm dân cư tương tự trên địa bàn một xã, thị trấn, có các hoạt động ngành nghề nông thôn, sản xuất ra một hoặc nhiều loại sản phẩm khác nhau

Làng được được công nhận là làng nghề phải đạt 03 tiêu chí: (a) có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; (b) hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; (c) chấp hành tốt chính sách, pháp luật của Nhà nước

Trang 27

Phân loại làng nghề:

Hiện cũng có những cách phân loại làng nghề khác nhau: Phân loại theo số lượng làng nghề: làng nghề một nghề và làng nhiều nghề Phân loại theo tính chất nghề: làng nghề truyền thống và làng nghề mới

Làng nghề cũng có thể chia ra thành 14 nhóm như sau: (1) Mây tre đan; kể cả sản phẩm đan lát, bện thủ công (kể cả bàn nghế, nón lá); (2) Cói; (3) Gốm sứ; (4) Sơn mài, khảm trai; (5) Thêu, ren; (6) Dệt (vải, khăn tay, áo, khăn quàng, kể cả dệt thổ cẩm); (7) Đồ gỗ (đồ mộc dân dụng, gỗ mỹ nghệ, điêu khắc gỗ, làm trống); (8) Đá

mỹ nghệ; (9) Giấy thủ công; (10) Tranh nghệ thuật (bằng hoa khô, tre hun khói, lá khô, ốc… ); hoa các loại bằng vải, lụa, giấy; (11) Trò chơi dân gian (sản xuất và biểu diễn rối cạn, rối nước, tò he); (12) Sản phẩm kim khí (đồ đồng, sắt, nhôm … sản xuất và tái chế); (13) Chế biến nông sản, thực phẩm (các loại nước chấm, bún bánh, miến dong, đường, mật, mạch nha, rượu, trà, kể cả đóng giày da); (14) Cây

cảnh (gây trồng và kinh doanh sinh vật cảnh) (Vũ Quốc Tuấn, Sách Làng nghề, phố

nghề Thăng Long - Hà Nội trên đường phát triển, NXB Hà nội 2009)

1.3.2 Tính tất yếu của phát triển làng nghề đối với nền kinh tế:

Trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt khi Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của Tổ chức thương mại quốc tế (WTO), sức ép dư thừa lao động ở nông thôn và sự chuyển dịch lao động ra thành phố ngày càng lớn, chênh lệch về thu nhập giữa nông thôn và thành thị có nguy cơ ngày một gia tăng, trong bối cảnh đó, việc phát triển các làng nghề và ngành nghề nông thôn không chỉ ngày càng quan trọng đối với khu vực nông thôn

mà còn góp phần phát triển bền vững nền kinh tế xã hội chung của cả nước Tại nhiều nơi, làng nghề không còn là nghề phụ, mà thu nhập chính của người lao động Đặc biệt làng nghề đã góp phần tạo ra bộ mặt đô thị hóa mới cho nông thôn để nông dân ly nông nhưng không ly hương, có thể làm giàu trên quê hương mình Góp phần làm giảm bớt sức ép từ làn sóng nông dân nhập cư về các thành phố lớn kéo theo

Trang 28

hàng loạt hệ quả xã hội nặng nề Ngoài ra, các làng nghề còn góp phần nên những dấu ấn, bản sắc văn hóa đặc trưng của mỗi vùng, miền

Các làng nghề đã tạo việc làm và lao động cho khoảng 1.4 triệu lao động chuyên nghiệp; 3 – 5 triệu lao động không chuyên nghiệp Sản phẩm của làng nghề Việt Nam được tiêu thụ cả trong nước và xuất khẩu sang 136 quốc gia trên thế giới với kim ngạch lên tới 750 triệu USD năm 2007 và gần 900 triệu USD năm 2008

(Nguồn: Bộ TNMT (2009), báo cáo môi trường quốc gia)

1.3.3 Đặc điểm sản xuất và môi trường làng nghề

Nét nổi bật của sản xuất làng nghề là thường tổ chức theo hộ gia đình, tại nhà (chiếm trên 99% các loại hình tổ chức sản xuất khác như hợp tác xã, tổ hợp, doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần)

Cùng với xu thế phát triển sản xuất của làng nghề, hình thức tổ chức sản xuất theo quy mô hộ gia đình đã bộc lộ nhiều hạn chế trong việc mở rộng quy mô sản xuất, áp dụng công nghệ hiện đại và gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng Vì thế, những năm gần đây ở nhiều nơi đã hình thành các cụm công nghiệp làng nghề

1.3.4 Ô nhiễm môi trường làng nghề Việt Nam

Bên cạnh những đóng góp tích cực về kinh tế, những người dân làng nghề lại đang phải hứng chịu những ngoại tác tiêu cực do những ô nhiễm làng nghề gây nên Tại hầu hết các làng nghề, tình trạng không khí bị ô nhiễm bởi bụi, hơi nước, SO2, CO2, CO…là hết sức phổ biến Các chất thải độc hại khó phân huỷ cũng là một vấn

đề môi trường nóng bỏng tại các làng nghề, đặc biệt là các làng nghề tái chế kim loại và dệt nhuộm, thuộc da Thêm vào đó, thành phần chất thải rắn chứa nhiều chất độc hại có khả năng gây ô nhiễm môi trường đất và nguồn nước, tổng lượng chất thải rắn phát sinh từ các làng nghề trên toàn quốc ước tính tới 770.000 tấn /năm, nhưng lại chưa có các biện pháp xử lý an toàn và hiệu quả

Trang 29

Theo Quyết định 64 năm 2003 của Thủ tướng, 13 làng nghề gây ô nhiễm đặc biệt nghiêm trọng trong cả nước chậm nhất tới năm 2006 phải hoàn thành biện pháp khắc phục Tuy nhiên tới thờiđiểm này, vẫn chưa có làng nghề nào được đưa ra khỏi danh sách Nổi bật trong số các tồn tại là vấn đề chức năng nhiệm vụ và tổ chức quản lý môi trường làng nghề chưa rõ ràng; thiếu các quy định pháp luật đặc thù cho bảo vệ môi trường làng nghề; quy hoạch không gắn với bảo vệ môi trường làng nghề, dẫn đến tình trạng ô nhiễm lan rộng Bên cạnh đó, chính quyền địa phương tỏ

ra bất lực trong công tác thu các loại phí bảo vệ môi trường đối với chất thải, xử phạt hành chính chưa được thực hiện nghiêm Đặc biệt, công tác thanh, kiểm tra, quan trắc tỏ ra yếu kém Việc huy động nguồn nhân lực, tài chính trong bảo vệ môi trường làng nghề còn thiếu và chưa phát huy được các nguồn lực xã hội

(Nguồn: Bộ TNMT (2009), báo cáo môi trường quốc gia)

1.3.5 Các giải pháp đề xuất hiện nay

Một giải pháp được Bộ TNMT đưa lên đầu tiên trong việc xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề chính là tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho người dân “Người dân thường quan niệm, những gì nhà mình thải ra người khác chịu chứ không phải mình, trong khi thực tế, chính họ bị ảnh hưởng “Gậy ông đập lưng ông!”

Nhóm giải pháp khác được Bộ TNMT đề cập tới là quy hoạch các khu/cụm công nghiệp gây ô nhiễm nặng ra khỏi khu vực dân cư, đồng thời tại các khu vực này phải có hệ thống xử lý nước thải, thu gom chất thải rắn Về công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường làng nghề theo quan điểm: “áp dụng công nghệ với con nhà nghèo”

Một khía cạnh khác cần chú ý, theo nguyên tắc, ai gây ra ô nhiễm thì người đó phải

xử lý nhưng với các làng nghề thì phải có một lộ trình bền vững”./ (Nguồn: website

Tiem.html)

Trang 30

http://www.toquoc.gov.vn/Print/Article/O-Nhiem-Lang-Nghe-Lam-Manh-Se-Sap-1.4 Một số căn cứ pháp lý về bảo vệ môi trường

1.4.1 Luật bảo vệ môi trường

Luật bảo vệ môi trường nước CHXHCN Việt Nam, số 52/2005/QH11, ban hành ngày 29/11/2005, quy định một số điều liên quan đến sản xuất làng nghề

Điều 38 quy định cụ thể về bảo vệ môi trường làng nghề; Điều 49 quy định về xử lý

cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường, bao gồm các hình thức

xử lý đối với tổ chức, cá nhân hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ gây ô nhiễm môi trường; Trách nhiệm và thẩm quyền quyết định việc xử lý đối với cơ sở gây ô nhiễm môi trường; Điều 53: các yêu cầu về trách nhiệm bảo vệ môi trường đối với

hộ gia đình

1.4.2 Quy chế Quản lý chất thải nguy hại

Quy chế Quản lý chất thải nguy hại được ban hành theo quyết định số 155/1999/QĐ-TTg ngày 16/7/1999 của Thủ tướng chính phủ Quy chế bao gồm 6 chương, 31 điều Trong đó có các điều số 9 và 10 về các quy định bắt buộc mà chủ nguồn thải CTNH phải tuân thủ; điều 11 –14 quy định về trách nhiệm của chủ thu gom, vận chuyển chất thải nguy hại; điều 15 – 20 về trách nhiệm của chủ lưu giữ,

xử lý, tiêu hủy CTNH; và điều 21 – 27 quy định quản lý nhà nước về CTNH

1.4.3 Nghị định về quản lý chất thải rắn Số: 59/2007/NĐ-CP

Nghị định bao gồm 8 chương, 42 điều bao gồm các quy định chung; quy hoạch và quản lý chất thải rắn; đầu tư quản lý; phân loại; thu gom, lưu giữ và vận chuyển; xử lý; chi phí quản lý; thanh tra kiểm tra và xử lý vi phạm; và các điều khoản thi hành

1.4.4 Một số tiêu chuẩn môi trường cho phép

Kết quả quan trắc đánh giá mức độ ô nhiễm môi trường làng nghề được phân tích

và so sánh với tiêu chuẩn môi trường Việt nam như:

Trang 31

TCVN 5942-1995: Tiêu chuẩn Việt Nam quy định giới hạn nồng độ cho phép các chất ô nhiễm trong nước mặt;

TCVN 5945-2005: Tiêu chuẩn Việt Nam quy định giới hạn nồng độ cho phép các chất ô nhiễm trong nước thải;

TCVN 5944-1995: Tiêu chuẩn Việt Nam quy định giới hạn thông số và nồng độ cho phép các chất ô nhiễm trong nước ngầm;

TCVN 5937-2005: Tiêu chuẩn chất lượng không khí xung quanh (1h);

TCVN 5938-2005: Tiêu chuẩn Việt Nam quy định nồng độ tối đa cho phép của một

số chất khí độc hại trong không khí

1.5 Bài học kinh nghiệm từ các dự án tương tự

Một số giải pháp đề xuất và thực nghiệm trình bày trong đề tài chủ yếu là bài học kinh nghiệm được kế thừa và phát huy từ một số dự án tương tự, mà tác giả bản luận văn này được trực tiếp tham gia hoặc có cơ hội được tiếp xúc Tất cả các dự án này đều có sự tham gia của các chuyên gia quốc tế, với các bài học kinh nghiệm được các nơi trên thế giới được đúc rút và vận dụng linh hoạt vào các dự án phát triển ở Việt Nam

1.5.1 Mô hình cải thiện điều kiện SX, MT làng nghề Vân Chàng

Vân Chàng là làng nghề đúc đồng truyền thống của huyện Trực Ninh, Tỉnh Nam Định Trước năm 2003, ô nhiễm môi trường ở làng nghề trở thành vấn đề bức xúc

mà báo chí trong và ngoài tỉnh nhắc đến Từ năm 2003 – 2005, được sự hỗ trợ của

dự án quản lý chất thải nguy hại tỉnh Nam Định giai đoạn 1, Vân Chàng được lựa chọn để thực hiện tiểu dự án cải thiện điều kiện sản xuất và môi trường làng nghề Một số bài học kinh nghiệm thành công được rút ra từ mô hình này có thể được vận dụng đối với làng nghề Bình Yên như: các chương trình tập huấn về sản xuất sạch hơn; an toàn vệ sinh lao động; cải tạo cơ sở hạ tầng đường ngõ, cống rãnh; hệ thống

Trang 32

nước thải; thông khí và thoát nước hộ sản xuất nhằm giảm thiểu CTNH phát sinh;

áp dụng mô hình sản xuất sạch hơn; quy hoạch khu công nghiệp; thu gom và vận chuyển CTNH tới các điểm trung chuyển và vận chuyển đến nơi xử lý xử lý an toàn Tuy nhiên, hạn chế của mô hình này chú trọng nhiều đến các giải pháp hỗ trợ kỹ thuật và tài chính mà chưa phát huy được sức mạnh nội lực của chính quyền địa phương và vai trò cộng đồng Do đó, các hoạt động cải thiện môi trường của làng nghề đã không thể tự duy trì và phát triển khi dự án ngừng hỗ trợ

1.5.2 Chương trình EHMA, Dự án Phát triển Đô thị Nam Định

Chương trình Sức khỏe – Môi trường – Các hoạt động vi môi ( EHMA) một trong những hoạt động chính của hợp phần Tham gia Cộng đồng, thuộc Dự án Phát triển

Đô thị Nam Định giai đoạn 1, do chính phủ Thụy sỹ tài trợ, giai đoạn 1997 – 2002 Thay đổi nhận thức, dẫn tới thay đổi hành vi và phát huy tính chủ động tham gia của cộng đồng là cách tiếp cận của chương trình Mô hình được triển khai trên địa bàn 15 phường xã thành phố Nam Định và đã được nhiều các tổ chức trong nước và quốc tế tham quan, học tập và đánh giá cao

Chương trình chú trọng việc nâng cao năng lực cho cán bộ địa phương từ cấp thành phố, phường và tổ dân về các kỹ năng tuyên truyền vận động và huy động tham gia cộng đồng Các đội ngũ này sau đó trở thành các lực lượng hạt nhân có thể huy động cộng đồng duy trì các hoạt động cải thiện VSMT sau khi dự án kết thúc

Điểm nổi bật của chương trình này là các cuộc họp thảo luận hàng tháng của cộng đồng về các thông điệp bảo VSMT Thông qua cuộc họp dân để thảo luận về các thông điệp VSMT, người dân được tự do thảo luận, trao đổi ý kiến để về chủ đề VSMT theo thông điệp của từng tháng (xây cống và khơi thông dòng chảy; xây dựng nhà vệ sinh sạch sẽ; sử dụng nguồn nước sạch; an toàn vệ sinh thực phẩm ); đồng thời là nơi mà người dân được dân chủ bàn bạc các công trình sẽ cải tạo và các giải pháp thực hiện Bắt đầu từ những hoạt động rất nhỏ (vi mô) như dọn dẹp vệ sinh trong gia đình, thùng rác có nắp đậy, rửa tay trước khi ăn; từng bước, nhận

Trang 33

thức của người dân nâng cao và tiến tới các hoạt động chưa cần đến kinh phí như: dọn rác, phát quang bụi rậm, tổng vệ sinh xóm ngõ hàng tuần và đến các hoạt động huy động đóng góp của cộng đồng như nâng cấp đường; cải tạo cống; xây nhà văn hóa với một khoản hỗ trợ rất nhỏ từ dự án

Nhóm cán bộ phong trào nòng cốt của chương trình đã phát triển thành Ban Tư vấn cộng đồng thành phố; đã tự đứng vững trên đôi chân của mình và tiếp tục hỗ trợ cho các dự án khác trên địa bàn trong và ngoài thành phố Nam định

1.5.3 Mô hình cộng dồng quản lý - Dự án JFPR tỉnh Thanh Hóa

Mô hình cộng đồng quản lý là cách tiếp cận của dự án Dịch vụ và đầu tư hạ tầng quy mô nhỏ, khu vực đô thị và ven đô Tỉnh Thanh hóa Dự án do ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) tài trợ từ quỹ giảm nghèo của Nhật bản; được thực hiện trong bốn năm, bắt đầu từ tháng 8/2008 Đặc điểm nổi bật mô hình cộng đồng quản lý là:

“Mô hình cộng đồng quản lý là một quá trình mà ở đó người dân được nâng cao năng lực, được tham gia một cách dân chủ và được quyền quyết định vào việc huy động nguồn lực, lựa chọn dự án, lập kế hoạch, triển khai, giám sát, đánh giá và quản

lý các dự án tại địa phương; trên nguyên tắc: có sự tham gia, minh bạch và trách

nhiệm giải trình” (Nguồn: AF Colenco, (2008), đề xuất kỹ thuật dự án JFPR Thanh

Hóa)

Hợp phần này đã rất thành công trong việc nâng cao năng lực cho các ban Quản lý cộng đồng cấp phường xã và thôn tổ về kỹ năng thúc đẩy cộng đồng; quản lý quy trình dự án có sự tham gia; công cụ đánh giá nhanh địa phương (PRA), dân chủ cơ

sở, các quy trình quản lý dự án; quản lý tài chính Qua đó, các ban quản lý cộng đồng hiểu rõ vai trò, thái độ và năng lực của cán bộ thúc đẩy cộng đồng trong các hoạt động theo nguyên tắc “dân biêt, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Đồng thời người dân địa phương hiểu được quyền tham gia dân chủ của họ vào việc phân tích địa phương; lựa chọn các ưu tiên (bức xúc) cao nhất để lập kế hoạch cải tạo, nâng

Trang 34

cấp Sự tham gia, quản lý của cộng đồng được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án, từ lập kế hoạch đến triển khai, quản lý giám sát

1.5.4 Mô hình sản xuất sạch hơn (SXSH) tỉnh Nam Định

Từ 1998 đến 2007, Trung tâm SXSH của Việt Nam đã thực hiện 66 đề án SXSH Các công ty tham gia đã đầu tư 18,273 tỷ đồng và hàng năm tiết kiệm được 95,340

tỷ đồng; Giảm tiêu thụ hàng năm: 4 triệu m3 nước, 4000 tấn hóa chất các loại và

300 triệu KWh điện; Thờigian hoàn vốn của đầu tư cho SXSH: dưới 3 tháng Một trong những địa chỉ có thể tham quan học tập: hộ sản xuất nhôm của ông Trần Đình Vân, xóm Đức Long, thôn Vân Chàng; hoặc Nhà máy đúc cơ khí Trường Thành, thành phố Nam Định

1.5.5 Mô hình phân loại rác tại nguồn, chế biến phân compost

Được triển khai từ năm 2009 tại xã Tam Hồng – tỉnh Vĩnh Phúc”, mô hình này rất thành công trong công tác tuyên truyền và vận động người dân tham gia phân loại rác tại nguồn Việc thành lập và duy tri tổ thu gom rác thải; phân loại rác tại nguồn

và thu gom để chế biên phân compost được chính quyền xã Tam hồng tin cậy trao cho các tổ chức đoàn thể và người dân cấp thôn tự thực hiện, dưới sự hộ trợ kỹ thuật ban đầu của trường Đại học Nông nghiệp 1 – HN Mô hình này đã được chiếu trên kênh truyền hình VTV1 tháng 6/2009 và tác giả đã tới tận nơi tham quan, học tập

Trang 35

Nội dung chương này cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của làng nghề đối với công cuộc giảm nghèo và phát triển kinh tế của đất nước Tuy nhiên, vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề đang trở nên hết sức bức xúc

Các cơ sở pháp lý để thực hiện việc kiểm soát môi trường và các bài học kinh

nghiệm từ các dự án liên quan đến cải tạo ô nhiễm môi trường làng nghề cũng được phân tích kỹ trong chương này

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG MÔI TRƯỜNG

LÀNG NGHỀ BÌNH YÊN

2.1 Đặc điểm làng nghề Bình yên

Bình Yên là một trong 18 thôn của xã Nam Thanh, Huyện Nam Trực tỉnh Nam Định, cách thành phố Nam Định 20km về phía nam, theo đường tỉnh lộ số 21

Thôn Bình Yên bao gồm 2 xóm (1 và 2), với tổng diện tích tự nhiên: 7,2 km2; Tổng

số nhân khẩu của thôn là 1870 người; 538 hộ ( nữ chiếm 48%) Diện tích đất sử dụng trung bình của mỗi hộ gia đình ở Bình Yên 270m2/hộ Toàn thôn có 33 hộ nghèo (chiếm 6% tổng số hộ - theo tiêu chuẩn nghèo của Bộ LĐTBXH 2005); hộ già yếu mất sức lao động, neo đơn chiếm 10%;

Ngành nghề lao động của thôn chủ yếu là nông nghiệp và sản xuất cơ khí Tất cả các hộ trong thôn đều có ruộng và tham gia sản xuất nông nghiệp; trong đó số hộ thuần nông chiếm 50,7%; hộ sản xuất nhôm chiếm 33% Ngoài ra còn có một số ít

hộ có nghề dệt sợi (2%); và buôn bán, dịch vụ(1%); và một số đi làm ăn xa(3%); công nhân viên chức (2%); Theo kết quả khảo sát kinh tế, xã hội môi trường làng nghề 6/2008, thu nhập bình quân của các hộ thuần nông ước tính: 310.000đ/người/tháng trong khi của các hộ sản xuất nhôm gấp gần 5 lần (khoảng 1.500.000đ/người/tháng)

Sản xuất, tái chế nhôm không phải là nghề truyền thống của thôn, mà mới được hình thành từ năm 1989 trong quá trình chuyển đổi từ khu vực thuần nông sang phát triển nông nghiệp kết hợp với sản xuất công nghiệp Ban đầu làng nghề chỉ có 4 hộ sản xuất chậu và xong nhôm với nguyên liệu mua từ Vân Chàng – Nam Định và

Trang 37

một số làng của tỉnh Bắc Ninh Hiện số hộ sản xuất đã lên đến 180 hộ với trên 600

lao động (gồm 25 hộ cô lon; 28 cô nhôm; 127 hộ cán kéo và tạo hình)

Sản phẩm của làng nghề chủ yếu là đồ gia dụng như xong, ấm, mâm nhôm cung

cấp cho thị trường trong và ngoài tỉnh và xuất sang Lào, Campuchia; một số hộ chỉ

sản xuất ra bán thành phẩm như nhôm thỏi; nhôm cán, cung cấp nguyên liệu đầu

vào cho các hộ sản xuất thành phẩm trong thôn

Sản xuất tại làng nghề mang tính nhỏ lẻ, thủ công quy mô hộ gia đình (trung bình

mỗi xưởng sản xuất có 3 – 4 lao động)

Quy trình sản xuất nhôm tại làng nghề Bình Yên

Sản phẩm nhôm được sản xuất từ các nguyên liệu phế thải theo 3 công đoạn chính:

(1) cô lon, cô nhôm (tái chế nhôm phế liệu hoặc các loại vỏ lon) thành các thỏi

nhôm; (2) cán, kéo các thỏi nhôm bằng máy hoặc tay, taọ hình dáng sản phẩm để

được các sản phẩm thô; (3) nhúng mạ sản phẩm tạo độ bóng đẹp thành sản phẩm

hoàn thiện

Cô nhôm Cán kéo, tạo hình

Côlon Nhúng bóng

2.2 Quy trình sản xuất nhôm:

Nhôm phế liệu (cô nhôm) và vỏ lon các loại (cô lon) được nung chảy trong các lò

than, sau đó đổ vào khuôn định hình thành nhôm thỏi Tất cả các thao tác đều thực

hiện bằng tay và phương tiện sản xuất chủ yếu là lò than và chảo nấu

Nhôm phế

nhôm cán

Sản phẩm hoàn thiện

Vỏ lon nhôm

Bán thành phẩm (thô)

Trang 38

Trong quá trình cô nhôm, đặc biệt là

cô các vỏ lon: các loại mực có chứa

các chất hữu cơ và kim loại nặng khi

bị đốt nóng giải phóng ra môi

trường xung quanh các chất khí độc

hại có chứa thủy ngân, chì gây

cảm giác rất khó thở, tức ngực khó

chịu không chỉ cho những người lao

động trực tiếp, mà còn tới một diện

rộng các hộ xung quanh

Ảnh 2.2.1: quá trình cô lon nhôm

Lượng cặn nhôm còn xót trong xỉ nhôm tiếp tục được trộn với ô xít kẽm để tận thu nhôm, sau đó các cặn tro này được thải ra môi trường Tro cặn từ quá trình tái chế cũng chứa nhiều kim loại nặng, gây ô nhiễm nguồn đất và nước Nhiệt độ nhiệt độ ở khu vực sản xuất xung quanh lò cô nhôm lên tới trên 40C

Trong quy trình sản xuất này, nhôm

được ủ dẻo trên các lò ủ bằng than,

sau đó được tạo hình sản phẩm (hình

nồi, ấm, mâm ) và lắp ráp sản phẩm

(quay nồi, xong, vung ) Quá trình

tạo hình và lắp ráp sản phẩm chủ yếu

thực hiện bằng máy cán nhôm, máy

thụt, máy ba via và phát sinh tiếng

ồn

Ảnh 2.2.2: tạo hình sản phẩm bằng máy

Trang 39

2.2.3 Quy trình nhúng bóng sản phẩm

Sản phẩm được làm bóng trong bể

dung dịch xút và ô xít nitơ nóng sau đó

nhúng qua nước crôm và rửa lại bằng

nước Khi bị đun nóng, xút và ô xít ni

tơ sinh ra các chất khí gây mùi khó

chịu Nước thải từ các bể nhúng chứa

rất nhiều dư lượng crom và axit, được

thải trực tiếp ra cống và mương, gây ô

nhiễm nguồn nước và đất của thôn và

các khu vực lân cận

Ảnh 2.2.3: quá trình nhúng bóng SP

2.3 Quy mô sản xuất nhôm của làng nghề Bình Yên:

Tổng doanh thu trung bình hàng tháng của làng nghề nghề ước tính khoảng 2,796 tỉ đồng; (bình quân: 21,86 triệu /hộ/tháng); hộ có doanh thu cao nhất đạt: 90 trđ/hộ/tháng và thấp nhất: 2 trđ/hộ/tháng Mức lợi nhuận trung bình hàng tháng của người lao động tại các xưởng sản xuất làng nghề xấp xỉ 3 trđ/tháng

Trung bình hàng tháng, có 32 tấn vỏ lon và 150 tấn nhôm phế liệu được đưa vào lò nung chảy, cùng với một lượng rất lớn các hóa chất như xút, NO2, NO3, kẽm, Crom và các nhiên liệu như than, dầu bôi trơn để sản xuất các sản phẩm mâm, nhôm, chậu bán ra thị trường trong nước

Trung bình hàng tháng, mỗi hộ sản xuất làm việc từ 10 – 15 ngày, tuỳ theo nhu cầu tiêu thụ hàng hóa của thị trường và nguồn điện cung cấp của thôn

Bảng 2.3.a: Thống kê nguyên liệu đầu vào trong tháng của làng nghề

Cr (kg)

Axit (kg)

Vỏ lon (kg)

Nhôm phế liệu

Nhôm thỏi Tấm dát

Than (kg)

Dầu bôi

Trang 40

Bảng2.3.c: thời gian sản xuất của các hộ làng nghề trong tháng

Thời gian sản xuất trong

tháng của các hộ

Cô lon Cô

nhôm

Đúc/cán nhôm

Thụt sp Rửa sp

Số ngày sản xuất TB trong

tháng

(Nguồn: số liệu khảo sát KT - XH – MT làng nghề Bình Yên, 6/2008)

2.4 Mức độ ô nhiễm môi trường của làng nghề Bình Yên

Theo khảo sát Kinh tế, xã hội, môi trường (2008) đối với 100% đại diện hộ gia đình tại làng nghề, có đến 50% người dân cho rằng các nhân tố như nhiệt độ, bụi, tiếng

ồn, khí thải, rác thải, nước thải đang ảnh hưởng xấu đến môi trường; 15% cho rằng các tác động này là rất xấu

Bảng 2.4.1: Đánh giá tác động của một số nhân tố đối với làng nghề

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w