Cơ quan thuế phải hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ trên cơ sở phân tích và đánh giá được những nhân tố tác động với mức độ khác nhau đến hành vi ứng xử của người nộp thuế, từ đó t
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS TS Nguyễn Hồng Thắng
TP Hồ Chí Minh - Năm 201 4
Trang 3Tôi cam đoan rằng Luận văn "Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ
thuế thu nhập cá nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh" là công trình nghiên cứu do
chính tôi thực hiện
Các số liệu, tài liệu sử dụng trong Luận văn là hoàn toàn hợp pháp, trung
thực, được Tác giả thu thập qua phỏng vấn và điều tra trực tiếp tại TP Hồ Chí Minh
từ tháng 7 năm 2013 đến tháng 12 năm 2013
Người thực hiện đề tài
Đào Mộng Long
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Động cơ nghiên cứu 1
1.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
1.5 Những vấn đề cần nghiên cứu thêm 3
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn 4
1.7 Kết cấu của Luận văn 4
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN 6
2.1 Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân 6
2.1.1 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân 6
2.1.2Vai trò của thuế thu nhập cá nhân 9
2.2 Tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 11
2.2.1 Lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng 11
2.2.2.Hành vi tuân thủ thuế 12
2.2.3 Cấp độ nhận thức và cấp độ hành vi 14
2.2.4 Tránh thuế và trốn thuế 14
2.3 Lược khảo những công trình nghiên cứu có liên quan 15
2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 19
2.4.1 Nhân tố kinh kinh tế vĩ mô 20
Trang 52.4.5 Nhân tố xã hội 24
Kết luận chương 2 25
CHƯƠNG 3 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2009 - 2013 26
3.1 Lược sử thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam 26
3.1.1 Giai đoạn từ tháng 4 năm 1991 đến tháng 12 năm 2008 26
3.1.2 Giai đoạn từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2013 28
3.2 Thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2009 - 2013 29
3.3 Khác biệt cơ bản của thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam so với thông lệ quốc tế ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ 33
CHƯƠNG 4: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 36
4.1 Quy trình nghiên cứu và mô tả mẫu nghiên cứu 36
4.1.1 Quy trình nghiên cứu 36
4.1.2 Mô tả mẫu 37
4.2 Xác định biến, xây dựng thang đo và giả thiết 41
4.2.1 Xác định biến 41
4.2.2 Xây dựng thang đo 42
4.2.3 Giả thuyết nghiên cứu 43
4.3 Kết quả nghiên cứu 44
4.3.1 Kết quả thống kê mô tả các thành phần của nhân tố ảnh hưởng 44
4.3.2 Kết quả đánh giá thang đo trước khi phân tích EFA 47
4.3.3 Phân tích nhân tố khámphá (EFA) 49
4.3.4 Kết quả phân tích nhân tố các nhân tố ảnh hưởng 50
4.3.5 Kết quả đánh giá lại thang đo sau khi phân tích EFA 53
4.3.6 Phân tích hồi quy 54
Trang 64.3.6.4 Kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến 56
4.3.6.5 Kiểm tra hiện tượng tự tương quan 57
4.3.6.6 Kiểm định phân phối chuẩn phần dư 57
Kết luận chương 4 58
CHƯƠNG 5 KIẾN NGHỊ 59
5.1 Nhận định tình hình thực hiện thuế thu nhập cá nhân thời gian qua 59
5.2 Nhận định từ kết quả nghiên cứu 61
5.3 Nguyên tắc và quan điểm khuyến khích tuân thủ thuế thu nhập cá nhân 64
5.3.1 Nguyên tắc 64
5.3.2 Quan điểm 65
5.4 Giải pháp gợi ý 65
5.4.1 Xây dựng được sự chỉ trích xã hội đối với hành vi gian lận thuế 65
5.4.2 Tạo thuận lợi cho người nộp thuế 66
5.4.2.1 Chủ động lựa chọn hình thức khai thuế 66
5.4.2.2 Đơn giản thủ tục kê khai và quyết toán 66
5.4.3 Che kín kẽ hở thuế 66
5.4.4 Tăng cường kiểm tra và hình phạt 67
5.4.5 Tạo niềm tin về tính minh bạch và công bằng cho người nộp thuế 68
5.4.6 Thực hiện quản lý thuế dựa theo rủi ro 68
5.5 Giải pháp bổ trợ 69
Kết luận chương 5 71
KẾT LUẬN 72 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7Chữ viết tắt Tiếng Anh Tiếng Việt
Sciences
Phần mềm thống kê trong khoa học xã hội
Trang 8Bảng 2.1: Cơ cấu thuế các quốc gia OECD 10
Bảng 3.1: Thuế, phí và thu khác của Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013 28
Bảng 3.2: Khác biệt cơ bản của thuế thu nhập cá nhân tại Việt Nam so với thông lệ quốc tế 34
Bảng 4.1: Thống kê mô tả 30 thuộc tính của biến 44
Bảng 4.2a: Thống kê mô tả về nhân tố nghề nghiệp: 45
Bảng 4.2b: Thống kê mô tả về nhân tố cơ quan, doanh nghiệp: 45
Bảng 4.2c: Thống kê mô tả về nhân tố xã hội: 46
Bảng 4.2d: Thống kê mô tả về nhân tố kinh tế 46
Bảng 4.2e: Thống kê mô tả về nhân tố hệ thống thuế 47
Bảng 4.2f: Thống kê mô tả về nhân tố nhận thức và tâm lý 47
Bảng 4.3: Cronbach’s Alpha của các nhân tố tác động (Item-Total Statistics) 48
Bảng 4.4: Kiểm định KMO và Bartlett's 50
Bảng 4.5: Tổng phương sai trích các nhân tố ảnh hưởng 50
Bảng 4.6: Kết quả ma trận xoay các nhân tố tác động 51
Bảng 4.7: Lượng và tên biến trước và sau khi phân tích nhân tố khám phá 52
Bảng 4.8: Cronbach’s Alpha của các nhân tố ảnh hưởng (Item-Total Statistics) 53
Bảng 4.9: Hệ số Coefficients 54
Bảng 4.10: Tổng hợp giả thuyết sau khi kiểm định 56
Bảng 4.11: Phân tích ANOVA 56
Bảng 4.12 Tổng hợp mô hình 57
Trang 9DANH MỤC HÌNH
1 Hình 2.1: Tác động của thuế thu nhập cá nhân lên thị trường lao động 7
2 Hình 2.2: Đường biểu diễn thuế lũy tiến 8
3 Hình 2.3: Thuế lũy tiến, lũy thoái và tỷ lệ 9
4 Hình 2.4: Tháp tuân thủ 17
5 Hình 2.5: Chi phí và lợi ích biên của một đồng thuế trốn được 24
6 Hình 2.6: Tổng hợp các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế 25
7 Hình 3.1: Tốc độ tăng bình quân của sáu khoản thuế lớn giai đoạn 2009 – 2013 29
8 Hình 3.2: Số thu từ thuế, phí và thu khác thuộc ngân sách tại thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước 30
9 Hình 3.3: Số thu thuế thu nhập cá nhân tại TP Hồ Chí Minh và cả nước 30
10 Hình 3.4: Tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh so với cả nước 31
11 Hình 3.5: Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu từ thuế, phí và thu khác thuộc ngân sách tại thành phố Hồ Chí Minh và cả nước 31
12 Hình 3.6: Tốc độ tăng bình quân hàng năm của thuế thu nhập cá nhân giai đoạn 2009 – 2013 32
13 Hình 4.1: Quy trình nghiên cứu 37
14 Hình 4.2: Nghề nghiệp người nộp thuế 38
15 Hình 4.3: Kinh nghiệm trong lĩnh vực làm việc 39
16 Hình 4.4: Vị trí công việc hiện tại 39
17 Hình 4.5: Trình độ học vấn 40
18 Hình 4.6: Thu nhập bình quân tháng 40
19 Hình 4.7: Nguồn thu nhập 41
20 Hình 4.8: Số năm quyết toán thuế 41
21 Hình 4.2a: Biểu đồ tần số Histogram 58
22 Hình 4.2b: Biểu đồ phân phối tích lũy P-P Plot 58
Trang 10Chương 1 GIỚI THIỆU
1.1 Động cơ nghiên cứu
Cơ chế tự khai tự nộp (Self-Assessment System) đòi hỏi cả người nộp thuế và cơ quan thuế cần có những hành vi ứng xử phù hợp nhằm tôn trọng pháp luật thuế Người nộp thuế được yêu cầu tuân thủ đúng quy định của pháp luật về thuế Cơ quan thuế phải hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ trên cơ sở phân tích và đánh giá được những nhân tố tác động với mức độ khác nhau đến hành vi ứng xử của người nộp thuế, từ đó tạo ra cơ sở vật chất, môi trường tổ chức và thái độ thích hợp Nói cách khác, cơ quan thuế phải nhận diện, định lượng và ưu tiên quản trị nhân tố ảnh
hưởng nhiều đến hành vi tuân thủ nhằm đạt được các mục tiêu: (i) phân bổ nguồn lực tốt hơn cho việc hoàn thành nhiệm vụ thu; (ii) đối xử công bằng giữa những người nộp thuế có mức tuân thủ thuế khác nhau; (iii) nâng dần mức tự giác tuân thủ
trên bình diện cả nước;…
Trong hệ thống thuế, thuế thu nhập cá nhân liên quan trực tiếp đến con người thực Đây vừa là đối tượng thực thi nghĩa vụ thuế, vừa là chủ thể của xã hội Vì vậy tương tác giữa cơ quan quản lý thuế với hàng triệu người nộp thuế phải bình đẳng, khách quan (fair play) và tôn trọng lẫn nhau vừa tránh làm tổn thương người nộp thuế có trách nhiệm vừa tầm soát nghiêm ngặt những nguy cơ dẫn đến hành vi không tuân thủ Đề tài này nghiên cứu những nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế gồm nhân tố từ môi trường kinh tế - xã hội, từ phía cơ quan thuế và từ phía người nộp, sau đó gợi ý giải pháp mà cơ quan thuế cần phải làm để khuyến khích người nộp thuế tuân thủ hiệu quả Địa bàn nghiên cứu là thành phố Hồ Chí Minh Đây là một địa phương có số thu từ thuế, phí và thu khác thuộc ngân sách bằng 21,21% cả nước, nhưng riêng số thu từ thuế thu nhập cá nhân bằng 38% thuế thu nhập cá nhân
cả nước Do đó, nếu phát hiện đúng các nhân tố, định lượng được mức tác động của chúng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân đồng thời đưa ra được giải pháp hoàn thiện tuân thủ tại đây sẽ góp phần lớn vào tổng thu thuế của cả nước
Trang 111.2 Câu hỏi và mục tiêu nghiên cứu
Luận văn được thực hiện nhằm trả lời hai câu hỏi:
1 Nhân tố nào tác động đến mức tuân thủ thuế thu nhập cá nhân?
2 Giải pháp cơ bản khuyến khích tuân thủ là gì?
Như vậy, Luận văn hướng đến mục tiêu:
Nhận diện và định lượng mức ảnh hưởng của các nhân tố đến rủi ro tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
Đưa ra được những giải pháp cơ bản nhằm thúc đẩy người nộp thuế tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tốt hơn
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những nhân tố tác động đến hành vi tuân thủ
thuế thu nhập cá nhân
Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế thu nhập cá nhân thuộc
ba lĩnh vực Một là nhân tố bên ngoài gồm hệ thống luật pháp, bối cảnh kinh tế và bối cảnh xã hội Hai là nhân tố thuộc về cơ quan thuế gồm cơ cấu tổ chức, cơ sở vật chất và nhân viên thuế Ba là nhân tố thuộc người nộp thuế: mức độ nhận biết pháp
luật thuế, nghề nghiệp và vị trí xã hội, độ tuổi, học vấn, động cơ dẫn đến hành vi không tuân thủ từng phần hoặc toàn phần, …
Phạm vi khảo sát thu thập dữ liệu là thông tin được cung cấp qua điều tra trực tiếp người nộp thuế thuộc nhiều thành phần nghề nghiệp khác nhau tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Số liệu minh họa số thu thuế các loại và thuế thu nhập cá nhân được thu thập 5 năm
từ năm 2009, năm đầu tiên áp dụng thuế thu nhập cá nhân, đến năm 2013, tại thành phố Hồ Chí Minh và cả nước
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng nghiên cứu định tính kết hợp với định lượng
Trang 12Để làm nền, luận văn sử dụng lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng (responsive regulation theory) phát triển bởi Ian Ayres và John Braithwaite từ năm 1992 và sau đó được V Braithwaite nghiên cứu vận dụng năm 2002 vào hoạt động quản trị rủi
ro tuân thủ tại Tổng Cục Thuế Úc (Australian Taxation Office, ATO)
Trong phương pháp nghiên cứu định tính, luận văn sử dụng kỹ thuật phỏng vấn chuyên gia (face-to-face interview) gồm: cán bộ thuế lâu năm và nhà nghiên cứu về thuế thu nhập cá nhân
Từ kết quả của nghiên cứu định tính, Tác giả sẽ xác định biến (nhân tố tác động đến tuân thủ thuế) cùng với những thuộc tính của chúng, rồi thiết kế bảng câu hỏi điều tra với thang đo Likert Sau đó xử lý bằng phần mềm SPSS để ước tính mức độ ảnh hưởng của các biến (nhân tố) đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
1.5 Những vấn đề cần nghiên cứu thêm
Như bất kỳ công trình nghiên cứu nào đều có những giới hạn không thể tránh khỏi, Luận văn này có một số hạn chế như sau:
Một là biến, thuộc tính của biến và thang đo lường thuộc tính của biến được hình
thành từ lý thuyết và lược khảo công trình nghiên cứu liên quan Với trình độ và khả năng có hạn của tác giả, chắc chắn thang đo lường này cần thiết phải được xem xét thêm và thực hiện trên nhiều nghiên cứu nữa thì mới khẳng định được độ tin cậy của thang đo
Hai là, nghiên cứu này chỉ khảo sát trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh với 10
cuộc phỏng vấn có cấu trúc và hơn 200 phiếu điều tra, như vậy kết quả phân tích có thể chưa đại diện được cho tổng thể người nộp thuế
Ba là, nghiên cứu này chỉ tập trung vào các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến hành vi
tuân thủ thuế thu nhập cá nhân Một số yếu tố khác sẽ không xem xét đến, nên có thể chưa phản ánh toàn diện, sâu sắc mọi khía cạnh tác động đến hành vi tuân thủ thuế
Luận văn chỉ nghiên cứu những nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế mà chưa nghiên cứu rủi ro tuân thủ, tức là những biến cố gây thiệt hại có thể gặp với
Trang 13xác suất khác nhau trong quá trình tuân thủ, cùng với ứng xử của cơ quan quản lý thuế Sau khi thực hiện thành công luận văn này, Tác giả sẽ tiếp tục nghiên cứu mở rộng và chuyên sâu về rủi ro tuân thủ thuế thu nhập nói chung gồm thuế thu nhập cá nhân và thuế thu nhập doanh nghiệp
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của Luận văn
Đề tài nghiên cứu này đem lại một số ý nghĩa về thực tiễn cho những người làm công tác quản lý thuế, các nhà làm chính sách trong việc hướng dẫn thực thi thuế thu nhập cá nhân
Cụ thể như sau:
- Một là, kết quả nghiên cứu sẽ góp phần giúp những nhà làm chính sách hiểu biết hơn nữa về các yếu tố chính tác động đến hành vi tuân thủ thuế Điều này sẽ góp phần tạo cơ sở cho việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện chính sách hữu hiệu hơn, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật thuế của công dân Việt Nam
- Hai là, kết quả nghiên cứu giúp cho cán bộ thuế hiểu rõ hơn tâm lý và hành
vi của người nộp thuế từ đó có thể thực hiện công tác quản lý tốt hơn, giảm thất thu ngân sách cho nhà nước
- Ba là, kết quả nghiên cứu này giúp cho bản thân tác giả có thêm kiến thức về tuân thủ thuế của mỗi cư dân nhằm phục vụ cho công việc của mình
- Bốn là, số thu thuế thu nhập cá nhân có tốc độ tăng nhanh nhất trong hệ thống thuế, đồng thời số thu thuế thu nhập cá nhân của thành phố Hồ Chí Minh chiếm 38% cả nước Do đó, động viên hợp lý tính tuân thủ thuế thu nhập cá nhân tại đây sẽ góp phần quan trọng vào số thu thuế thu nhập cá nhân nói riêng và tổng thu thuế cả nước
1.7 Kết cấu của Luận văn
Luận văn bao gồm các chương sau đây:
Chương 1: Giới thiệu
Trang 14Chương 2: Khung lý thuyết về tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
Chương 3: Thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chính Minh giai đoạn
2009 đến 2013
Chương 4: Thiết kế nghiên cứu
Chương 5: Kết luận và khuyến nghị
Trang 15Chương 2 KHUNG LÝ THUYẾT VỀ TUÂN THỦ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN
2.1 Đặc điểm và vai trò của thuế thu nhập cá nhân
2.1.1 Đặc điểm của thuế thu nhập cá nhân
Thuế thu nhập cá nhân là một loại thuế đánh vào thu nhập của cá nhân Đây là một loại thuế phổ biến và giữ vị trí quan trọng bậc nhất cả về số thu lẫn tác động kinh tế
- xã hội ở hầu hết các quốc gia trên Thế giới Cơ sở tính của thuế này dựa vào thu nhập trong nước và ngoài nước của người cư trú hoặc thu nhập phát sinh nội địa của
người không cư trú Theo định nghĩa Schanz-Haig-Simons (S-H-S), thu nhập của cá
nhân biểu hiện ở mức gia tăng khả năng tiêu dùng ròng trong một thời kỳ Về cấu phần, thu nhập gồm giá trị tiêu dùng và mức gia tăng tài sản
Thu nhập = Giá trị tiêu dùng + Mức gia tăng tài sản
(Mức gia tăng tài sản biểu hiện một sự gia tăng tiêu dùng tiềm năng)
Cụ thể, những thành phần cơ bản của thu nhập gồm: Tiền lương, tiền công, thù lao; Lợi nhuận kinh doanh cá thể; Tiền cho thuê; Tác quyền; Lợi tức cổ phần, lợi tức trái phiếu;… Những thành phần khác cấu thành thu nhập theo định nghĩa S-H-S: Đóng góp của doanh nghiệp vào lương hưu của nhân viên; Đóng góp của doanh nghiệp cho bảo hiểm của nhân viên; Những khoản thanh toán chuyển giao: trợ cấp hưu trí,
bồi thường thất nghiệp, trợ cấp trẻ em; Lời từ vốn (Capital gains); Hiện vật nhận
được (hàng hóa, dịch vụ, cổ phần);…
So với các loại thuế khác, thuế thu nhập cá nhân có những đặc điểm sau đây
Thuế thu nhập cá nhân ít gây biến dạng (distortion) trên thị trường hàng hóa thông thường do được trích xuất ngay từ khi phát sinh thu nhập, nhưng ảnh hưởng
đến nghỉ ngơi và cung, cầu lao động Giả sử đơn giá lương cho một giờ làm việc là 100.000 đồng Thuế suất bình quân của thuế thu nhập cá nhân là 20% Như vậy, tiền lương sau thuế là 80.000 đồng Đây là chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi
Trang 16Nếu thuế suất bình quân của thuế thu nhập lên đến 40% thì chi phí cơ hội của một giờ nghỉ ngơi rẻ đi sẽ thúc đẩy người lao động tiêu thụ mặt hàng nghỉ ngơi nhiều thêm Điều này làm giảm cung lao động trên thị trường lao động, và có thể tác động lên mức đơn giá lương cân bằng trên thị trường này
Trong hình 2.1, ban đầu phân phối giờ trong một ngày ở điểm A (8 giờ làm, 16 giờ nghỉ) Khi chính phủ điều chỉnh thuế suất tăng lên, phân phối giờ trong một ngày chuyển lên B (6 giờ làm, 18 giờ nghỉ) Trên thị trường lao động, mức cung số giờ làm việc giảm từ H1 về H2 và thúc đẩy đơn giá lương từ W1 lên W2 Cân bằng thị trường lao động chuyển từ điểm E1 lên thành điểm E2
Hình 2.1: Tác động của thuế thu nhập cá nhân lên thị trường lao động
Thuế thu nhập cá nhân sử dụng thuế suất lũy tiến (từng phần)
Trang 17Hầu hết các quốc gia đều sử dụng thuế suất lũy tiến trong thuế thu nhập cá nhân do vận dụng quy luật độ hữu dụng biên (của thu nhập) giảm dần Thậm chí, Mỹ còn sử dụng cả thuế suất lũy tiến trong thuế thu nhập công ty Thuế suất lũy tiến là thuế suất ngày càng cao hơn đối với những phần thu nhập gia tăng Đồ thị thuế lũy tiến
Trang 18Hình 2.3: Thuế lũy tiến, lũy thoái và tỷ lệ
Thuế thu nhập cá nhân điều tiết thu nhập của con người thực (human being) chứ không phải thực thể pháp lý (legal entity) nên độ “chệch” không đáng kể và
rất khó chuyển (shifting) Các sắc thuế hàng hóa, dịch vụ điều tiết thu nhập của cả người tiêu dùng lẫn người sản xuất tùy vào hệ số co giãn cầu theo giá Thuế thu nhập cá nhân ảnh hưởng lên người có vốn (capitalist), người lao động (labourers) và người có quyền sử dụng đất (landlords) tùy theo cung-cầu vốn, cung-cầu lao động
và cung-cầu quyền sử dụng đất
Do minh bạch, ít bị chệch trong điều tiết thu nhập và tính đến gia cảnh nên thuế thu nhập cá nhân có tính công bằng và “nhân văn” hơn so với các sắc thuế khác Đây là một trong những đặc điểm khiến thuế thu nhập cá nhân trở thành cột trụ của hệ thống thuế ở các quốc gia
2.1.2 Vai trò của thuế thu nhập cá nhân
Nhìn chung có ba cơ sở thuế (tax base) chính: mức tiêu dùng, thu nhập và bất động sản Từ đó mỗi nhà nước đều xây dựng ba nhóm thuế: nhóm thuế dựa trên nền tảng tiêu dùng gồm thuế giá trị gia tăng, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế nhập khẩu; nhóm thuế dựa trên nền tảng thu nhập gồm thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập
Thu nhập
Số thuế nộp
Thuế lũy tiến
Thuế lũy thoái Thuế tỷ lệ
Trang 19cá nhân; và nhóm thuế dựa trên nền tảng giá trị bất động sản cá nhân (thuế tài sản) Mỗi nhóm thuế, loại thuế đều có vai trò riêng
Thuế thu nhập cá nhân có những vai trò như sau
- Mang lại số thu lớn Bằng chứng thực tế ở các đất nước phát triển hay đang
phát triển cho thấy đây là loại thuế mang lại số thu lớn, thậm chí lớn nhất, của hệ thống thuế Bảng 1 dưới đây cho thấy thuế thu nhập cá nhân chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hệ thống thuế ở quốc gia thuộc Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD)
Bảng 2.1: Cơ cấu thuế các quốc gia OECD
Đơn vị tính: %
Thuế thu nhập cá nhân 26 30 30 26 24 24
(người sử dụng lao động) ( 10) ( 14) ( 13) ( 14) ( 14) ( 15)
Thuế tài sản (Property taxes) 8 6 5 5 6 5 Thuế tiêu dùng (General consumption
Trang 20- Thực thi công bằng xã hội
Không một loại thuế nào khấu trừ gia cảnh của người nộp thuế như thuế thu nhập cá nhân Thuế thu nhập cá nhân dựa trên thu nhập và gia cảnh của mỗi cá nhân cụ thể, nên nó không chung chung như các loại thuế tiêu dùng hay thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của thực thể pháp lý phi con người Hai cá nhân có cùng một mức thu nhập chịu thuế, nhưng thu nhập tính thuế có thể khác nhau và nghĩa vụ thuế của từng cá nhân được xác định cụ thể tùy theo gia cảnh của cá nhân đó, nên mức thuế phản ánh được công bằng xã hội
- Hình thành tinh thần công dân
Trong thuế thu nhập cá nhân, mỗi cá nhân tự khai báo và tự chịu trách nhiệm về những khai báo thu nhập của mình Cơ quan thuế chỉ kiểm tra tính xác thực của thông tin mà không khai báo thay người nộp thuế Cơ quan thuế chỉ thanh tra hoặc điều tra khi có dấu hiệu gian lận Như vậy, thuế này đòi hỏi tính tự giác rất cao của người nộp thuế nhằm tránh những phiền toái trong tương lai
Ngoài ra, thuế thu nhập cá nhân cũng hình thành nên tinh thần công dân nếu họ nhận thức được vai trò của mình khi đóng góp một phần thu nhập để tạo ra công trình phúc lợi công cộng Đồng thời, mỗi công dân cũng có quyền đòi hỏi chính phủ giải trình việc sử dụng thuế do họ đóng góp
2.2 Tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
2.2.1 Lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng
Nội dung cơ bản của lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng (responsive regulation theory) được tóm tắt qua hai phát biểu như sau1 Một là phát biểu của Ayres and Braithwaite (1992): “The basic idea of responsive regulation is that regulatory agencies should be “responsive to the conduct of those they seek to regulate and law enforces should be responsible to how effectively citizen are regulating
1 Marhaini Mahmood, 2012 Compliance Risk Management Strategies For Malaysian Tax Administration
ATTA Conference, University of Sydney, 16-18 January 2012
Trang 21themselves before they intervene”” (Tác giả tạm dịch: Ý tưởng căn bản của lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng là các cơ quan quản lý nên thấu hiểu hành vi của những người đang cố gắng tuân thủ và hệ thống pháp luật nên có trách nhiệm để công dân tự điều chỉnh trước khi can thiệp bằng sức mạnh) Hai là phát biểu của Braithwaite (2007): “Responsive regulation is a process that “confidently and openly engages regulatees”to think about their obligations and accept responsibility for regulating themselves in a manner that is consistent with the law” (Tác giả tạm dịch: điều chỉnh theo phản ứng là quá trình tạo điều kiện cho người chịu quản lý tự tin và thẳng thắn thay đổi hành vi bản thân phù hợp với luật pháp) Như vậy, lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng có hai đại ý gắn chặt với nhau Ý thứ nhất, cơ quan quản lý (người điều chỉnh) phải nhận diện, tổng hợp và đánh giá được những nhân tố tác động đến hành vi của người chịu quản lý Ý thứ hai, cơ quan quản lý cần đưa ra những ứng xử phù hợp với hành vi của người chịu quản lý để chính người này chủ động và tự tin tuân thủ theo quy định của pháp luật
Lý thuyết điều chỉnh theo phản ứng được vận dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực như giao thông, giáo dục, y tế,… Trong lĩnh vực thuế, nó được V Braithwaite nghiên cứu vận dụng năm 2003 vào hoạt động quản trị rủi ro tuân thủ tại Tổng Cục Thuế Úc (Australian Taxation Office, ATO) với một trong những nội dung chính là Tháp Tuân thủ (Compliance Pyramid)
2.2.2 Hành vi tuân thủ thuế
Tuân thủ thuế là những hành vi thực thi nghĩa vụ thuế của người nộp thuế thu nhập
cá nhân
Theo chuẩn mực Châu Âu2, thực thi nghĩa vụ thuế gồm bốn nội dung cơ bản: đăng ký thuế (registration), khai báo thuế (filing of tax return), điều chỉnh khai báo (correct declaration) và nộp thuế (payment of tax due) Ngoài ra, tuân thủ thuế còn
2 Compliance Risk Management Guide For Tax Administration, European Commission, 2010, page 9
Trang 22bao gồm: giữ sổ sách chứng từ, hạch toán theo chuẩn mực và chấp hành quyết định của cơ quan thuế
Theo Trung tâm Nghiên cứu Chính sách và Quản lý Thuế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD), tuân thủ thuế được phân thành hai nhóm: tuân thủ hành chính (administrative compliance) và tuân thủ kỹ thuật (technical compliance) Tuân thủ hành chính là thực thi những quy định mang tính hành chính trong thủ tục đăng ký, khai báo,… Tuân thủ hành chính có thể gặp khó khăn khi những quy định pháp luật thường gồm nhiều điều khoản, không dễ hiểu và nằm trong các văn bản khác nhau Tuân thủ kỹ thuật là việc tính toán nghĩa vụ thuế phải nộp (tax due) và nộp thuế
Mô hình quản lý thuế theo rủi ro (risk-based management) sẽ hướng theo mức tuân thủ thuế của người nộp thuế, tức là, tùy vào mức tuân thủ thuế mà ứng xử của cơ quan thuế sẽ khác nhau Cụ thể, nếu người nộp thuế sẵn sàng tuân thủ thì cơ quan thuế sẽ tạo điều kiện thuận lợi cao nhất; nếu người nộp thuế cố tình không tuân thủ thì cơ quan thuế sẽ sử dụng những quy định gắt gao nhất của luật pháp để buộc tuân thủ
Ngược với tuân thủ là không tuân thủ thuế Không tuân thủ thuế được hiểu đơn giản
là tình trạng không đáp ứng những quy định về nghĩa vụ thuế, bất luận vô ý hay cố
ý Theo Hasseldine (1999), dù nhiều cơ quan thuế sử dụng những phương pháp, kỹ thuật khác nhau nhằm đo mức độ của các nhân tố tác động đến sự không tuân thủ thuế, nhưng tựu trung có hai nhóm nhân tố lớn là nhóm nhân tố xã hội và nhóm nhân tố cá nhân Đồng thời có một kết luận rằng, mức độ tuân thủ thuế của mỗi người không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố cá nhân, mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ những bối cảnh xã hội khác nhau
Tổng quát, không tuân thủ thuế có những hình thức biểu hiện sau:
i Chậm hoặc không nộp tờ khai thuế;
ii Khai thu nhập không chính xác;
iii Khai khống các khoản được giảm trừ;
iv Không nộp thuế đầy đủ, đúng hạn
Trang 232.2.3 Cấp độ nhận thức và cấp độ hành vi
Hành vi tuân thủ hay không tuân thủ thuế phụ thuộc vào nhận thức Về phương diện nhận thức, có thể chia nhận thức về tuân thủ thuế thành bốn cấp độ:
- Không biết (ignorance): Người nộp thuế vốn không hề có ý thức về thuế
- Vô ý (carelessness): Người nộp thuế có ý thức về thuế nhưng vô tình không cập
nhật quy định của pháp luật thuế
- Coi thường (recklessness): Người nộp thuế có ý thức và có biết quy định của
pháp luật thuế nhưng bàng quan với chúng
- Cố ý (deliberate): Người nộp thuế có suy nghĩ trốn tránh nghĩa vụ thuế
Về phương diện hành vi, cũng có thể chia hành vi tuân thủ thuế thành bốn cấp độ :
- Tuân thủ hoàn toàn (compliant): Người nộp thuế sẵn lòng tuân thủ mọi quy
định pháp luật về thuế
- Cố gắng tuân thủ nhưng thất bại (attempt to comply but fail): Người nộp thuế
tuân thủ nhưng đôi khi có sai sót do hiểu chưa đúng quy định của pháp luật
- Không tuân thủ (general non-compliant): Người nộp thuế xem thường quy định
của pháp luật
- Vi phạm cố ý (deliberate fraud): Người nộp thuế cố tình thực hiện những hành
vi gian lận thuế
2.2.4 Tránh thuế (tax avoidance) và trốn thuế (tax evasion)
Hai hành vi mà cơ quan thuế không mong đợi từ người nộp thuế là tránh thuế và
trốn thuế Tránh thuế là việc sắp xếp các khoản thu nhập và giảm trừ trong khuôn
khổ quy định của pháp luật thuế nhằm giảm nghĩa vụ thuế Trốn thuế là hành động
có chủ ý vượt ngoài quy định cho phép của pháp luật nhằm giảm nghĩa vụ thuế Một khảo sát gần đây của Richupan (1984) nghiên cứu về vấn đề trốn thuế tại một
số nước đang phát triển cho thấy tình trạng chỉ thu được một nửa hay ít hơn số thuế thu nhập tiềm năng không phải là tình trạng cá biệt (đọc thêm trong tài liệu của Richupan, 1984; Acharya và các cộng sự, 1986; Bahl và Murray, 1985; Virmani,
Trang 241987 Có thể tìm đọc một nghiên cứu điều tra trước đó trong tài liệu của Herschel, 1978.) Tình trạng đối với thuế gián thu (Rao và Pradahan, 1985; Viện Chính sách
và Tài chính công, 1986; Bird, 1985) hay thuế tài sản (Bahl và Linn, sắp xuất bản) cũng không khá hơn Bất kỳ nơi nào có thuế, nơi ấy có tình trạng trốn thuế3
Trốn thuế là vấn đề toàn cầu, buộc chính phủ ở các quốc gia phải tìm cách đối phó (Pentland & Carlile, 1996; Horton, 2003) Điều này cũng lôi cuốn nhiều học giả nghiên cứu (Reckers & Sanders, 1994; Ghosh & Crain, 1995; Brand, 1996; Tibiletti, 1999; Yaniv, 1999; Bishop, 2000; Loo, 2006) Trốn thuế gây ra tổn thất thuế hàng năm rất lớn Ở Mỹ, tổn thất thuế4 (tax gap) năm 1998 là 280 tỉ USD và năm 2001 là 312–353 tỉ USD (General Accounting Office [GAO], 2005) Tổn thất này gây ra bởi khai dấu thu nhập (underreporting of income), không nộp thuế (underpayment of taxes) và không khai báo (non-filing of returns) (McManus & Warren, 2006) Sử dụng mô hình của Tanzi (1983), Kasipillai (1997) đã ước tính trốn thuế tại Malaysia làm thất thu 20% thuế trong 25 năm, từ 1969 đến 19945
2.3 Lược khảo những công trình nghiên cứu có liên quan
Nhiều công trình trong và ngoài nước đã nghiên cứu chủ đề liên quan đến tuân thủ thuế như: gian lận thuế, đạo đức của người nộp thuế, hành vi và phản ứng của người nộp thuế,… Ở đây chỉ tập trung vào các công trình mà luận văn có tham khảo những ý tưởng chính
2.3.1 Thứ nhất là công trình nghiên cứu của Allingham và Sandmo mang tên
“Income Tax Evasion: A Theoretical Analysis” vào năm 1972 Đây được xem
là nghiên cứu đầu tiên về hành vi của người nộp thuế Họ cho rằng trốn thuế
3 Chương 36, cuốn Thuế ở các nước đang phát triển, do Richard M Bird và Oliver Oldman biên soạn Ấn
bản lần 4, Baltimo: Nxb Johns Hopkins phát hành năm 1990, Chương trình Giảng dạyKinh tế Fulbright 2011-2013
4 Chênh lệch giữa thuế thu được và thuế có thể thu được (the difference between total tax collected and what should have been collected)
5 Jeyapalan Kasipillai and Hijattulah Abdul Jabbar, Gender and Ethnicity Differences in Tax Compliance,
2006
Trang 25phụ thuộc nghịch biến vào nguy cơ bị phát hiện và mức phạt Do đó cơ quan thuế cần sử dụng công cụ truyền thống là kiểm tra thuế và xử phạt
Theo nhiều tác giả, điển hình là James Andreoni, Brian Erard, Jonathan Feinstein (1988), và James Alm (1999), thì Becker (1968) là người tiên phong khởi xướng
phương pháp luận nghiên cứu kinh tế học về hành vi phạm tội (economics of crime),
sau đó tiếp tục được phát triển bởi Michael G Allingham và Agnar Sandmo (1972)
và T.N Srinivasan (1973), thành một mô hình đơn giản về quyết định tuân thủ thuế dựa trên nền hữu dụng kỳ vọng (expected utility) khi chủ ý trốn thuế6
Mô hình có thể tóm tắt như sau Gọi I là thu nhập của một người nộp thuế, t là thuế suất và ID là thu nhập khai báo Số thuế phải nộp là (t×ID) Nếu ID = I thì người nộp thuế đó đã khai trung thực và nộp thuế (t×I) Nếu không, người đó khai ID < I Gọi X là thu nhập không khai báo
X = I – ID
Suy ra: ID = I – X
Cơ quan thuế chỉ nhận thông tin về ID nên sử dụng các biện pháp thanh kiểm tra (audit) và xử phạt để tìm ra I Giả sử xác suất phát hiện ra thu nhập không khai báo
là p (p độc lập với ID) và tỷ lệ phạt là trên X
Nếu gian lận tránh được thanh kiểm tra với xác suất (1 – p) người nộp thuế sẽ tiêu dùng một khoản thu nhập (I – t×ID)
(I – t×ID) = I – t×(I – X) = (1 – t)I + tX, trong đó tX>0
Nếu gian lận bị phát hiện với xác suất p người nộp thuế sẽ tiêu dùng một khoản thu nhập [I – t×ID – ( +t)X]
[I – t×ID – ( +t)X] = (1 – t)I – X
Gọi EU là độ thỏa dụng kỳ vọng sinh ra từ thu nhập
EU = (1 – p)u[(1 – t)I + tX] + pu[(1 – t)I – X]
2.3.2 Thứ hai là nghiên cứu của I Ayres và J Braithwaite với tiêu đề “Responsive
Regulation: Transcending the Deregulation Debate” năm 1992 Nội dung
6 Tax Compliance and Administration, James Alm (1999) và Tax Compliance, James Andreoni, Brian Erard
and Jonathan Feinstein, Journal of Economic Literature, Vol 36, No 2, 1998, pp 818-860
Trang 26chính là tháp tuân thủ (compliance pyramid) và những công cụ của cơ quan
quản lý nhằm khuyến khích người dân tự giác chấp hành pháp quy regulation) mà không cần sự can thiệp bằng sức mạnh pháp luật của cơ quan quản lý nhà nước Như vậy, cơ quan quản lý nhà nước sẽ xây dựng được một chính sách tốt và thích hợp nhằm thúc đẩy tính tự giác tuân thủ Nghiên cứu này được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực thuế Năm
(self-2001 và 2002 Valerie Braithwaite đã phát triển mô hình của I Ayres và J Braithwaite vào quản lý thuế tại cơ quan thuế Úc với bài nghiên cứu mang tên “A New Approach to Tax Compliance”
Hình 2.4: Tháp tuân thủ
Nguồn: Valerie Braithwaite (2003)
2.3.3 Thứ ba là công trình nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hoài và các tác giả
thuộc Học viện Tài chính năm 2011 có tên “Giám sát tính tuân thủ thuế ở
Việt Nam” Nghiên cứu này sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính
2.3.4 Thứ tư, nhóm tác giả Eva Hofmann, Erik Hoelzl, và Erich Kirchler thuộc
Khoa Tâm lý Đại học Vienna, Australia đã công bố nghiên cứu mang tên
Trang 27“Preconditions of Voluntary Tax Compliance: Knowledge and Evaluation of Taxation, Norms, Fairness, and Motivation to Cooperate” Trong đó, các tác giả nhận định về tổng thể người nộp thuế sẵn lòng hợp tác với cơ quan thuế nhưng xét về chi tiết thì mức sẵn lòng nộp thuế (willingness to pay taxes) còn tùy thuộc vào biến số bên ngoài và biến số bên trong Những biến số bên ngoài (external variables) bao gồm thuế suất, thu nhập, xác suất bị phát hiện
và mức phạt (severity of fines) Những biến số bên trong có nguồn gốc từ
tâm lý người nộp thuế và đóng vai trò quan trọng tương tự biến số bên ngoài
Các tác giả đã cho thấy những nhân tố sau đây ảnh hưởng đến mức tuân thủ thuế: hiểu biết của người dân về pháp luật thuế, thái độ của họ đối với chính phủ và hệ thống thuế, chuẩn mực cá nhân (personal norm), chuẩn mực và công bằng xã hội, động cơ, chiến lược tạo áp lực tuân thủ của cơ quan quản
lý thuế
2.3.5 Thứ năm là công trình nghiên cứu của Keith Walsh mang tên
“Understanding Taxpayer Behaviour” trình bày tại Hội thảo Nghiên cứu và Phân tích thuế tháng 12 năm 2011 do cơ quan Thuế và Hải quan Ai-len tổ
chức
K Walsh đã tổng hợp và phân tích năm nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hành
vi tuân thủ thuế như sau
Sự làm nản lòng (Deterrence) Tính chặt chẽ và nghiêm minh của pháp luật,
tinh thần mẫn cán và liêm chính của nhân viên thuế và sự trợ giúp hữu hiệu của hệ thống thông tin là ba nhân tố thuộc nhóm thứ nhất khiến người nộp thuế nản lòng trong việc gian lận thuế
Chuẩn mực xã hội (Social Norms) Thái độ thượng tôn pháp luật và đề cao
trách nhiệm công dân của cộng đồng xã hội là nhóm nhân tố thứ hai ảnh hưởng đến tuân thủ thuế
Công bằng và niềm tin (Fairness & Trust) Niềm tin của người nộp thuế vào
sự đối xử công bằng trong thực thi nghĩa vụ tài chính đối với đất nước ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ
Trang 28Cơ hội và sự phức tạp (Opportunity & Complexity) Sự kiểm tra, giám sát
chặt chẽ và phối hợp hiệu quả từ phía cơ quan quản lý thuế và những cơ quan nhà nước có liên quan đối với mọi giao dịch kinh tế của người nộp thuế khiến cho cơ hội gian lận thuế giảm xuống
Kinh tế vĩ mô và vai trò của chính phủ (Macro Economic and Role of Government) Tăng trưởng GDP, công ăn việc làm và hành động cụ thể, hữu
hiệu của chính phủ đối với nền kinh tế có ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế vì người nộp thuế lạc quan vào tương lai cũng như tin rằng chính phủ sử dụng thuế như cộng đồng cư dân mong đợi
2.4 Nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập cá nhân
Qua nghiên cứu những công trình có liên quan đến tuân thủ thuế ở mục 2.3 nói trên, chúng tôi nhận thấy tuân thủ thuế là một quá trình không chỉ thuần túy mang tính cá nhân của người nộp thuế mà còn chịu ảnh hưởng của bối cảnh kinh tế-xã hội có liên quan Theo Michael G Silverman (2008), trong bối cảnh hiện đại, tuân thủ nói chung không chỉ gói gọn trong việc chấp hành luật, pháp lệnh và quy định mà còn
là một quá trình phức hợp liên quan đến hành vi đạo đức, cơ cấu tổ chức, công nghệ
và kỹ thuật quản trị rủi ro7 Hay nói cách khác, để gia tăng tính tuân thủ không chỉ
sử dụng các biện pháp nghiệp vụ, kỹ thuật như thanh kiểm tra thuế (tax audit) và xử phạt, mà còn phải sử dụng nhiều biện pháp mang tính xã hội Do đó, ngoài việc đo mức tuân thủ thuế, cần phài phân tích rõ những nhân tố ảnh hưởng đến mức tuân thủ nhằm giúp cơ quan thuế xây dựng chiến lược ứng xử thích hợp
Dựa vào khung lý thuyết và lược khảo những công trình nghiên cứu liên quan, Tác giả tập hợp và phân các nhân tố ảnh hưởng đến mức tuân thủ thuế thành năm nhóm sau:
- Nhân tố kinh tế vĩ mô
- Nhân tố pháp luật thuế
7 Compliance Management for Public, Private, or Nonprofit Organizations, Michael G Silverman, 2008,
Introduction
Trang 29- Nhân tố cơ quan thuế
- Nhân tố người nộp thuế
- Nhân tố xã hội
2.4.1 Nhân tố kinh tế vĩ mô
Nhóm này gồm những nhân tố cụ thể như: tốc độ tăng trưởng GDP, GDP đầu người, tỷ lệ lạm phát, số lượng chỗ làm mới tăng thêm, chính sách thu hút đầu tư nước ngoài, khối lượng tiền thanh toán qua hệ thống ngân hàng,… Khi kinh tế vĩ
mô ổn định và tăng trưởng thì người nộp thuế có kỳ vọng tương đối tích cực về tương lai, nên có thể sẵn lòng tuân thủ thuế Bên cạnh đó, tỷ trọng tiền giao dịch qua ngân hàng cũng ảnh hưởng đến tuân thủ vì không thể che dấu được nếu cơ quan thuế điều tra
2.4.2 Nhân tố pháp luật thuế
Chính sách pháp luật thuế đầy đủ và mang tính hệ thống sẽ tạo khả năng “bịt” những “kẽ hở” trong chính sách giúp ngăn ngừa hành vi vi phạm Hệ thống pháp luật nói chung và chính sách thuế nói riêng được xây dựng đồng bộ, minh bạch, tính giải thích cao và hạn chế biệt lệ sẽ tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển và gia tăng việc làm Điều này sẽ làm tăng thu nhập cá nhân bền vững, góp phần tích cực vào tuân thủ thuế
Nhóm này gồm các nhân tố: bậc thuế, thuế suất, mức miễn trừ gia cảnh, quy định về phạm vi điều chỉnh (đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, đối tượng tính thuế), quy định về thủ tục, xử phạt,…
2.4.3 Nhân tố cơ quan quản lý thuế
Nhóm nhân tố này phản ánh năng lực và trình độ quản lý thuế của cơ quan hành thu, cùng với hệ thống cơ sở vật chất hỗ trợ hành thu Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến mức tuân thủ của người nộp thuế Nhóm này gồm những thành
tố sau
Trang 30- Tổ chức bộ máy cơ quan thuế từ trung ương xuống đến cơ sở Một bộ máy hành thu hợp lý sẽ vừa mang tính chuyên môn hóa vừa mang tính phối hợp
sẽ giúp kiểm soát thuế tốt hơn, đảm bảo công bằng trong giải quyết tranh chấp thuế, qua đó hoàn thiện được tính tuân thủ
- Quy trình nghiệp vụ quản lý thuế Quy trình này gồm một bộ các quy định và hướng dẫn về đăng ký thuế, kê khai, nộp thuế, quyết toán thuế, hoàn thuế,… Quy trình nghiệp vụ thuế rõ ràng và ổn định sẽ góp phần làm sáng tỏ chính sách thuế để người nộp thuế dễ tuân thủ hơn
- Tính sẵn có và dễ tiếp cận các dịch vụ tư vấn thuế do cơ quan quản lý thuế cung cấp Dịch vụ tư vấn thuế sẽ giúp cơ quan thuế gần người nộp thuế hơn
- Năng lực tầm soát của cơ quan thuế thể hiện thông qua các hoạt động thanh tra, khả năng phát hiện gian lận thuế và tính cưỡng chế thông qua những biện pháp và hình phạt do trốn thuế Việc kiểm soát và cưỡng chế thích hợp của
cơ quan thuế trước hết có tác dụng làm nản ý định gian lận của người nộp thuế, sau đó tạo ra tính răn đe đối với trường hợp cố tình vi phạm Tuy nhiên năng lực tầm soát của cơ quan thuế cần trợ giúp rất nhiều từ sự hợp tác toàn diện của cộng đồng nói chung gồm: người dân, cơ quan chức năng ngoài thuế, …
- Trình độ chuyên môn và đạo đức của cán bộ thuế Trình độ chuyên môn của cán bộ thuế gồm: nắm vững nghiệp vụ, sử dụng được công nghệ thông tin, cập nhật văn bản pháp quy về thuế và các văn bản pháp luật có liên quan, được huấn luyện kỹ năng ứng xử,… Đạo đức của cán bộ thuế được thể hiện qua nhận thức về trách nhiệm đối với công việc, về người nộp thuế và những ảnh hưởng tiêu cực sẽ xảy ra nếu có sai phạm Đạo đức còn thể hiện thông qua tinh thần làm việc của cán bộ thuế Không thể phủ nhận rằng, một phần đạo đức của cán bộ thuế hình thành từ phẩm chất vốn có, phần thứ hai đến từ môi trường làm việc, và phần thứ ba rất quan trọng đến từ tính nghiêm minh của luật pháp
Trang 31- Cơ sở vật chất của ngành thuế Trang thiết bị ngành thuế, đặc biệt là hệ thống thông tin là nhân tố quan trọng trong việc ngăn ngừa rủi ro không tuân thủ,
cụ thể giúp sưu tra những giao dịch kinh tế quá khứ của người nộp thuế Cơ
sở vật chất còn đóng vai trò quan trọng trong việc hoàn thiện công nghệ hành thu vừa góp phần tăng tính tuân thủ vừa làm giảm chi phí tuân thủ cho người nộp thuế
- Thể chế phối hợp giữa các cơ quan chức năng có liên quan đến quản lý thuế Người nộp thuế là một con người xã hội nên có những giao dịch và quan hệ ngoài tầm kiểm soát của cơ quan thuế Vì vậy, thiết lập hệ thống thông tin hữu hiệu giữa cơ quan thuế với hải quan, ngân hàng, kho bạc, cơ quan tài chính, cơ quan thống kê, cơ quan quản lý tài chính doanh nghiệp,… là một nhân tố không thể thiếu trong việc củng cố tính tuân thủ thuế
2.4.4 Nhân tố người nộp thuế
Người nộp thuế là chủ thể của tính tuân thủ Nhóm này gồm: nhận thức về thuế, đặc thù nghề nghiệp, nhân tố kinh tế, và nhân tố khác
- Nhận thức về thuế Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy nhận thức và đánh
giá đúng về thuế của công dân là một nhân tố cơ bản tác động đến tuân thủ
thuế (Erich Kirchler và các tác giả, 2008) Vì luật thuế phức tạp do chứa đựng những thuật ngữ có tính khái quát và kỹ thuật cao (McKerchar, 2001), nên không có gì đáng ngạc nhiên nếu người nộp thuế hiểu chưa chính xác các thuật ngữ trong luật thuế (e.g., Roberts, Hite & Bradley, 1994; Schmölders, 1960) và cảm thấy phức tạp khi tuân thủ thuế (Sakurai & Braithwaite, 2003) Bằng chứng thực nghiệm của Niemirowski, Wearing, Baldwin, Leonard & Mobbs (2002) cho thấy nhận thức chưa tốt của công dân về thuế làm nảy sinh sự nghi ngờ đối với quy định thuế và tuân thủ trong
“hoài nghi” Một nghiên cứu thực nghiệm khác của Lewis (1978) cho thấy chỉ 11% người được hỏi là biết thuế suất hiện hành của thuế thu nhập cá nhân, và gần như không biết không phân biệt thuế suất tỷ lệ với thuế suất lũy
Trang 32tiến Nghiên cứu của Niemirowski và các tác giả (2002) chỉ ra tương quan dương giữa nhận thức về thuế và mức tuân thủ thuế8
- Đặc thù công việc hay nghề nghiệp Người nộp thuế cá nhân làm nhiều công việc (nghề nghiệp) khác nhau Có người thuộc giới văn nghệ sỹ, có người là công chức, viên chức, có người là doanh nhân, bác sĩ, luật sư, có người hành nghề tự do hay làm công ăn lương,…Thu nhập của mỗi nhóm có thể đến từ nhiều nguồn hoặc một nguồn duy nhất, ổn định hoặc không ổn định Thêm nữa, có người ghi chép thu nhập cẩn thận và cũng có người chưa quen ghi chép,… Tất cả điều này ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế
- Nhân tố kinh tế Độ lớn của số thuế phải nộp và chi phí tuân thủ sẽ ành hưởng đến hành vi tuân thủ Kinh tế học hành vi (behavioural economics) đã cho thấy hành vi tuân thủ thuế phụ thuộc nhiều vào tâm lý của người nộp thuế đó là mức độ cảm nhận về sự công bằng trong thực thi nghĩa vụ thuế, sự
lo sợ rủi ro khi vô tình hay cố ý vi phạm pháp luật thuế Sự phân tích lợi ích – chi phí của người nộp thuế khi che dấu được một đồng thuế sẽ ảnh hưởng đến mức tuân thủ Nếu người nộp thuế tính hết những chi phí để che dấu một đồng thuế thì có thể họ sẽ không tìm cách trốn thuế Hình 2.5 dưới đây cho thấy quan hệ giữa một đồng thuế trốn được với chi phí Nếu bỏ qua những nhân tố khác, xác suất bị phát hiện cao và mức phạt nặng hơn thì người nộp thuế sẽ ít khai dấu thu nhập
Show Desktop.scf 8 Eva Hofmann, Erik Hoelzl, và Erich Kirchler, Preconditions of Voluntary Tax
Compliance: Knowledge and Evaluation of Taxation, Norms, Fairness, and Motivation to Cooperate, 2008
Trang 33Giải thích hình 2.5: MB: Lợi ích biên; MC: Chi phí biên; p: Xác suất bị kiểm tra; t: Thuế suất biên; N: Mức phạt biên; I *: TN không khai báo tối ưu
Hình 2.5: Chi phí và lợi ích biên của một đồng thuế trốn được
- Nhân tố khác thuộc cá nhân gồm: học vấn, truyền thống gia đình, địa vị xã hội, tính cách,…
Phân tích sâu và toàn diện nhân tố người nộp thuế sẽ giúp cơ quan quản lý thuế xây dựng chiến lược quản lý thuế theo rủi ro thích hợp cho từng nhóm cá nhân nhằm giảm chi phí hành thu và tăng hiệu lực quản lý
2.4.5 Nhân tố xã hội
Đây là nhóm liên quan đến chuẩn mực xã hội (social norms) Chúng bao gồm những tiêu chuẩn mà xã hội mong muốn về hành vi tuân thủ thuế Cụ thể là (1) nhận thức của người nộp thuế về trách nhiệm của bản thân đối với đất nước và cộng đồng xung quanh, cũng như (2) phán xét của cộng đồng về hành vi không tuân thủ thuế Gần như mọi người trưởng thành đều biết thuế là một khoản thu bắt buộc của nhà nước, nhưng không phải ai cũng quan tâm đến điều gì xảy ra nếu không thu được thuế Nộp thuế được hiểu là góp một phần thu nhập theo khả năng tài chính để nhà nước tạo ra hàng hóa, dịch vụ công; đồng thời trốn, tránh nghĩa vụ thuế được hiểu là khước từ trách nhiệm đối với cộng đồng Một người có khả năng tài chính nhưng
Trang 34tìm cách tránh, trốn thuế sẽ giống như người ấy dùng chung hàng hóa công với những cá nhân khác nhưng cố tình không biết nguồn hình thành
Trong các nền kinh tế có trình độ phát triển khác nhau, nhận thức của người nộp thuế về trách nhiệm đối với cộng đồng và dư luận xã hội về hành vi vi phạm pháp luật thuế sẽ khác nhau Nhận thức của người nộp thuế được xem là tích cực và hợp chuẩn xã hội khi họ tự xem mình là thành viên của cộng đồng và phải góp sức làm cộng đồng tốt hơn tùy vào khả năng tài chính Nhận thức của người nộp thuế về trách nhiệm cộng đồng và phán xét của xã hội về sự vi phạm thuế cùng tác động hỗ tương và thuận chiều Nhận thức của người nộp thuế về trách nhiệm cộng đồng ngày càng tích cực sẽ làm cho phán xét của xã hội về sự vi phạm thuế nghiêm khắc hơn và ngược lại Cả hai nhân tố đều ảnh hưởng tích cực đến tuân thủ thuế
Chuẩn mực xã hội sẽ hình thành nên đạo đức thuế của mỗi cá nhân Xét về mặt đạo đức, tránh thuế dù là một hành động hợp pháp nhưng không được đồng tình
Hình 2.6: Tổng hợp các nhóm nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế
Trang 35Chương 3 THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ
MINH GIAI ĐOẠN 2009 - 2013
3.1 Lược sử thuế thu nhập cá nhân ở Việt Nam
3.1.1 Giai đoạn từ tháng 4 năm 1991 đến tháng 12 năm 2008
Tiền thân của thuế thu nhập cá nhân ngày nay là thuế thu nhập đối với người
có thu nhập cao được ban hành bằng Pháp lệnh 50-LCT/HĐNN8 ngày 7 tháng 1 năm 1991 và có hiệu lực kể từ 1 tháng 4 năm 1991 Người nộp thuế gồm công dân Việt Nam và người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam Đối tượng chịu thuế được chia thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên Thu nhập thường xuyên có hình thức: tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp và tiền thưởng có tính chất tiền lương, tiền công từ trên 500.000 đồng/tháng/người đối với người Việt Nam hoặc từ trên 2.400.000 đồng/tháng/người đối với người nước ngoài Thu nhập không thường xuyên có hình thức: tiền hoặc hiện vật của người định cư ở nước ngoài gửi về, thu nhập về chuyển giao công nghệ, thu nhập không thường xuyên khác về thiết kế kỹ thuật xây dựng, về thiết kế công nghiệp và về dịch vụ khác từ trên 1.500.000 đồng /lần; riêng thu nhập trúng thưởng xổ số từ trên 10.000.000 đồng/lần
Tuy nhiên trong khoảng thời gian từ ngày 1 tháng 4 năm 1991 đến trước năm
2009, ngoài thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao còn hai khoản thu khác cũng điều tiết thu nhập của cá nhân đó là thuế thu nhập doanh nghiệp đánh vào thu nhập của cá nhân kinh doanh và thuế chuyển quyền sử dụng đất đánh vào giá trị của quyền sử dụng đất mang chuyển nhượng Điều này cho thấy, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao là bước đầu để cả người nộp lẫn cơ quan quản lý thuế tập làm quen với thuế thu nhập cá nhân theo thông lệ quốc tế
Kể từ khi áp dụng thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đến năm
2008, số thu được từ thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao tăng nhanh tính theo mặt bằng giá hiện hành và chiếm tỷ trọng lớn dần trong tổng thu thuế, phí và thu khác thuộc ngân sách nhà nước không kể thu từ dầu thô (gọi tắt là thu từ thuế và
Trang 36phí) Năm 1991, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao đóng góp vào ngân sách nhà nước chỉ là 62 tỷ đồng chiếm 0,63% tổng thu ngân sách từ thuế và phí thì đến năm 2008 con số này lên đến 12.940 tỷ đồng và chiếm 3,10% trong tổng thu ngân sách từ thuế và phí
Tuy tỷ trọng chưa cao trong tổng thu thuế, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao trực tiếp tham gia tái phân phối thu nhập, qua đó góp phần quan trọng trong thực thi công bằng xã hội và nâng cao trách nhiệm tài chính của công dân đối với chính bản thân và cộng đồng
Những điểm yếu nổi bật của thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được chi tiết như sau
Thứ nhất, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao quy định đối tượng
nộp thuế theo quốc tịch, chứ không dựa trên cơ sở thường trú, tức là quy định đối tượng nộp thuế là người Việt Nam và người nước ngoài theo hướng có lợi cho người nước ngoài bởi mức khởi điểm chịu thuế khác nhau giữa người Việt Nam và người nước ngoài
Thứ hai, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao điều chỉnh thu nhập
của cá nhân không kinh doanh còn thuế thu nhập cá nhân điều chỉnh thu nhập của
cả cá nhân kinh doanh và cá nhân không kinh doanh với cơ sở tính thuế và mức thuế khác nhau
Thứ ba, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao chia thu nhập chịu thuế
thành thu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên với biểu thuế khác nhau gây ra nhiều khó khăn trong phân biệt
Thứ tư, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao dựa trên cơ sở là thu
nhập chịu thuế mà không phải là thu nhập tính thuế và chưa thực hiện giảm trừ gia
cảnh mà thay bằng quy định mức khởi điểm thu nhập chịu thuế
Thứ năm, tính pháp lý còn yếu vì chỉ được ban hành dưới hình thức pháp
lệnh
Nguyên nhân cơ bản của những điểm yếu nói trên bao gồm
Thứ nhất, nhận thức chung của người dân về trách nhiệm tài chính của công
dân vẫn còn hạn chế Phần lớn người dân cho rằng thuế thu nhập là công cụ điều tiết
Trang 37vào người có thu nhập cao mà không nghĩ rằng toàn dân phải có trách nhiệm tài chính nhằm xây dựng cộng đồng
Thứ hai, phần lớn các khoản thanh toán và chi trả thực hiện bằng tiền mặt
nên cơ quan quản lý thuế khó kiểm soát tổng thu nhập chịu thuế
Thứ ba, phương pháp tự khai, tự nộp chưa được áp dụng một cách rộng rãi
bổ sung cho phương pháp khấu trừ tại nguồn
Thứ tư, chưa có thể chế để cơ quan thuế phối hợp chặt chẽ với các cơ quan
hữu quan khác trong công tác quản lý thu nhập cá nhân
Thứ năm, cơ sở hạ tầng thông tin và trình độ quản lý của một bộ phận cán bộ
thuế chưa thích ứng
3.1.2 Giai đoạn từ tháng 1 năm 2009 đến tháng 12 năm 2013
Qua nhiều lần sửa đổi và bổ sung vào các năm 1996, 2001 và 2004, thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao được chính thức đổi tên thành thuế thu nhập cá nhân và được ban hành bằng Luật số 04/2007/QH12 ngày 21 tháng 11 năm 2007, có hiệu lực từ ngày 1 tháng 1 năm 2009
Giai đoạn 2009 – 2013, thuế thu nhập cá nhân trở thành một trong sáu loại thuế đem về số thu ngân sách nhà nước cao nhất (xem Bảng 3.1)
Bảng 3.1 – Thuế, phí và thu khác của Việt Nam giai đoạn 2009 - 2013
Đơn vị tính: tỷ đồng
1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 112164 148655 196058 213953 222399
2 Thuế giá trị gia tăng 108549 155022 192064 193787 222168
3 Thuế XNK và TTĐB hàng nhập khẩu 76996 74068 81406 72028 74300
4 Thuế TTĐB hàng sản xuất trong nước 29728 37311 42686 43356 50096
6 Thuế tài nguyên 19093 26316 38123 42278 36368
10 Thuế sử dụng đất nông nghiệp 67 56 72 69 55
11 Thuế chuyển quyền sử dụng đất 260
12 Lệ phí trước bạ 9670 12611 15700 11820 12991
13 Thu phí, lệ phí (cả phí xăng dầu) 18325 20542 10341 8198 15205
14 Thu tiền cho thuê đất 3370 3791 5869 7762 5740
15 Tiền sử dụng đất và thu từ nhà 39588 51563 54225 46429 40236
16 Thu khác thuộc ngân sách 23894 17628 20420 35270 46021
Nguồn: Bộ Tài chính/Công khai ngân sách/Số liệu quốc tế
Trang 38Tuy chưa phải loại thuế đem lại số thu nhiều nhất, nhưng trong năm năm gần đây, tốc độ tăng bình quân của thuế thu nhập cá nhân giai đoạn 2009 – 2013 nhanh nhất trong sáu khoản thuế lớn (xem Hình 3.1) bất chấp năm 2009 có chính sách miễn, giảm thuế của Chính phủ nhằm đối phó suy giảm kinh tế và nửa cuối năm 2013 có điều chỉnh tăng mức miễn trừ gia cảnh hàng tháng từ 4 triệu đồng lên 9 triệu đồng cho người kê khai và từ 1,6 triệu đồng lên 3,6 triệu đồng cho người phụ thuộc Điều này chứng tỏ thuế thu nhập cá nhân có tiềm năng mang lại số thu rất lớn trong tương lai nếu cơ quan quản lý thuế thấu hiểu và hỗ trợ người nộp thuế tuân thủ thích hợp
Hình 3.1: Tốc độ tăng bình quân của sáu khoản thuế lớn giai đoạn 2009 – 2013
Nguồn: Bộ Tài chính
3.2 Thuế thu nhập cá nhân trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2009 – 2013
Năm 2013, số thu từ thuế, phí và thu khác thuộc ngân sách tại thành phố Hồ Chí Minh đạt xấp xỉ 167 nghìn tỉ đồng, bằng 21,21% tổng thu thuế, phí và thu khác của
cả nước Tỷ lệ này tăng liên tục từ 16,88% lên 18,14%, 18,50% và 20,41% từ năm
2009 đến 2012 (xem Hình 3.2) Hình 3.2 mô tả số thu bằng số tuyệt đối với đơn vị tính là tỉ đồng
Trang 39Hình 3.2: Số thu từ thuế, phí và thu khác thuộc ngân sách tại thành phố Hồ Chí
Minh so với cả nước
Nguồn: Bộ Tài chính và Cục Thuế Tp HCM
Riêng về thuế thu nhập cá nhân: số thu thuế thu nhập cá nhân tại Tp HCM năm
2009 được 5.475 tỉ đồng đến năm 2013 là 17.346 tỉ đồng, đạt tốc độ tăng bình quân 33,4% một năm (xem Hình 3.3) Đồng thời giữ tỷ lệ xấp xỉ 38,0% so với thuế thu nhập cá nhân cả nước (xem Hình 3.4)
Hình 3.3: Số thu thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh và cả nước
Nguồn: Bộ Tài chính và Cục Thuế Tp HCM
Trang 40So với cả nước, số thu từ thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh xấp xỉ 38% trong năm năm trở lại đây
Hình 3.4: Tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân tại thành phố Hồ Chí Minh so với cả
nước
Nguồn: Bộ Tài chính và Cục Thuế Tp HCM
Tỷ trọng thuế thu nhập cá nhân trong tổng thu ngân sách tại thành phố Hồ Chí Minh luôn cao hơn cả nước (xem Hình 3.5)