1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích mức sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng nước sạch nông thôn trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang

71 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xét thấy sự cần thiết nên nghiên cứu tìm hiểu cụ thể hơn về tình hình sử dụng nước sinh hoạt cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nước sạch nông thôn của người dân hiện nay tr

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

CHÂU THIẾU NỮ

PHÂN TÍCH MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CHO VIỆC

SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN

THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

CHÂU THIẾU NỮ

PHÂN TÍCH MỨC SẴN LÕNG CHI TRẢ CHO VIỆC

SỬ DỤNG NƯỚC SẠCH NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN

THỊ XÃ HÀ TIÊN, TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS NGUYỄN HỮU DŨNG

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn “Phân tích mức sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng nước sạch nông thôn trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” là

được nghiên cứu bởi riêng cá nhân tôi dưới sự hướng dẫn của PGS TS Nguyễn Hữu Dũng Dữ liệu được thu thập một cách khách quan, các tài liệu trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm với lời cam đoan này

TP Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 6 năm 2017

Học viên thực hiện

Châu Thiếu Nữ

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 3

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 3

CHƯƠNG 2 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM 5

2.1.1 Hộ và hộ gia đình nông thôn 5

2.1.2 Thu nhập và thu nhập hộ gia đình 5

2.1.3 Khái niệm về tài nguyên nước 6

2.1.4 Khái niệm về nước sạch 6

2.1.5 Mức sẵn lòng chi trả 6

Trang 5

2.2 CÁC LÝ THUYẾT 7

2.2.1 Lý thuyết về tổng giá trị kinh tế 7

2.2.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên 10

2.2.2.1 Nội dung phương pháp 10

2.2.2.2 Các bước thực hiện CVM 13

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN 18

2.3.1 Trên thế giới 18

2.3.2 Ở Việt Nam 19

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 22

CHƯƠNG 3 23

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23

3.1 KHUNG PHÂN TÍCH 23

3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 24

3.3 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU Error! Bookmark not defined 3.3 MẪU NGHIÊN CỨU 28

3.3.1 Cỡ mẫu nghiên cứu 28

3.3.2 Phương pháp chọn mẫu 29

3.3.3 Thiết kế bảng câu hỏi khảo sát 29

3.4 PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH SỐ LIỆU 30

3.4.1 Quy trình sàng lọc và xử lý dữ liệu 30

3.4.2 Phân tích thống kê mô tả 30

3.2.3 Kiểm định trung bình hai mẫu độc lập (t-test) Error! Bookmark not defined 3.4.1 Phương pháp hồi quy Binary Logistic 30

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 31

CHƯƠNG 4 32

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 32

4.1 TỔNG QUAN VỀ THỊ XÃ HÀ TIÊN 32

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 32

4.1.2 Thực trạng sử dụng nguồn nước sạch của người dân tại thị xã Hà Tiên 34

Trang 6

4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 35

4.2.1 Đặc điểm chủ hộ gia đình theo chi trả cho sử dụng nước sạch 35

4.2.2 Đặc điểm hộ gia đình 38

4.3 KẾT QUẢ HỒI QUY 41

4.3.1 Kiểm tra đa cộng tuyến của các biến trong mô hình 41

4.3.2 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả cho việc sử dụng nước sạch nông thôn của hộ gia đình 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 45

CHƯƠNG 5 46

KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 46

5.1 KẾT LUẬN 46

5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 47

5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 50 TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN HỘ GIA ĐÌNH

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Giải thích các biến độc lập trong mô hình 25

Bảng 3.2: Phân bố mẫu khảo sát 29

Bảng 4.1: Giới tính chủ hộ 36

Bảng 4.2: Dân tộc chủ hộ 36

Bảng 4.3: Tuổi chủ hộ 37

Bảng 4.4: Qui mô hộ (số người) 39

Bảng 4.5: Tỷ lệ phụ thuộc (ĐVT: %) 39

Bảng 4.6: Khu vực sinh sống 40

Bảng 4.7: Thu nhập bình quân 40

Bảng 4.8: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập 41

Bảng 4.9: Kết quả ước lượng mô hình 42

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Phân loại tổng giá trị kinh tế của tài nguyên 9

Sơ đồ 3.1: Khung phân tích 23

Hình 4.1: Bản đồ TX Hà Tiên 32

Biểu đồ 4.1: Tỷ trọng cơ cấu kinh tế 33

Biểu đồ 4.2: Học vấn chủ hộ 37

Biểu đồ 4.3: Nghề nghiệp chủ hộ 38

Trang 11

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Nước sạch nông thôn (NSNT) là nhu cầu rất cần thiết trong đời sống hàng ngày Việc cung cấp NSNT cho người dân không chỉ giải quyết tình trạng thiếu nước sinh hoạt, bảo vệ sức khỏe của họ mà còn ổn định và từng bước thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống Hiện tại, tại một số vùng nông thôn trong tỉnh, nguồn nước người dân sử dụng sinh hoạt chủ yếu là ở

ao, hồ, bể chứa nước mưa và nước ngầm từ giếng khơi, giếng khoan Nếu nguồn nước không đảm bảo vệ sinh sẽ gây nên nguy cơ mắc các bệnh đường ruột, bệnh ngoài da và một số căn bệnh khác Chính vì thế, vai trò của nước sạch đối với đời sống người dân nói chung, với các vùng nông thôn luôn quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết

Bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tác giả chọn mẫu khảo sát gồm 200

hộ gia đình đang sinh sống trên địa bàn TX Hà Tiên Tiến hành thống kê mô tả các đặc trưng của chủ hộ, để có cái nhìn khái quát về mẫu nghiên cứu Sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic xác định các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng NSNT Kết quả hồi quy cho thấy, có 6 biến độc lập ảnh hưởng đến khả năng sẵng lòng chi trả cho việc sử dụng NSNT của hộ gia đình gồm tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ, nghề nghiệp chủ hộ, tỷ lệ phụ thuộc, khu vực sinh sống và thu nhập bình quân đầu người trong tháng của hộ gia đình

Kết quả nghiên cứu trên là cơ sở để giúp UBND TX Hà Tiên và Công ty nước sạch VSMT tỉnh Kiên Giang có những chính sách nhằm hỗ trợ người dân trên địa bàn TX Hà Tiên tiếp cận được nguồn nước sạch, đảm bảo vệ sinh môi trường, góp phần nâng cao sức khỏe cho người dân địa phương

Trang 12

Trong khi dân số ngày càng tăng, nguồn nước lại ngày càng giảm nhất là khi đứng trước nguồn nước ô nhiễm trầm trọng như ngày nay, nước sạch và vệ sinh môi trường càng có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với sức khoẻ và phát triển bền vững của đất nước Thực trạng tiếp cận nước sạch cho thấy những khó khăn (địa lý, tài chính, nhận thức) trong việc thực hiện quyền tiếp cận nước sạch, sự thiếu công bằng

rõ rệt trong khả năng tiếp cận nước sạch và điều kiện tiếp cận vệ sinh giữa các khu vực nông thôn và thành thị

Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia “thiếu nước” do lượng nước mặt bình quân đầu người mỗi năm chỉ đạt 3.840 m3, thấp hơn chỉ tiêu 4.000 m3/người mỗi năm của Hội Tài nguyên Nước quốc tế (IWRA) Đây được xem là một nghịch lý đối với một quốc gia có mạng lưới sông ngòi dày đặc như nước ta Theo thống kê của Viện Sức khỏe nghề nghiệp và môi trường (Bộ Y tế), Việt Nam hiện có khoảng 17,2 triệu người (tương đương 21,5% dân số) đang sử dụng nguồn nước sinh hoạt từ giếng khoan, chưa được kiểm nghiệm hay qua xử lý Cho đến thời điểm hiện nay, vẫn còn trên 60% dân số nông thôn chưa có nước sạch để dùng Nước mặt ở các

Trang 13

sông, hồ, suối, ao đã nhiễm bẩn, nhiễm mặn Tình hình khô hạn, thiếu nước sản xuất đang diễn ra gay gắt

Hà Tiên là một thị xã của tỉnh Kiên Giang Hiện tại có 07 đơn vị hành chính (03 xã - 04 phường, trong đó có 01 xã biên giới) có nền kinh tế cũng khá phát triển

Hệ thống cấp nước tại khu vực nông thôn, đa phần là các trạm cấp nước quy mô nhỏ, các giếng khoan gia đình, chất lượng nước không được kiểm tra thường xuyên

do kinh phí hạn hẹp và việc quản lý chất lượng nguồn nước uống không đồng bộ Chương trình đưa nước sạch về nông thôn mang lại hiệu quả đáng kể Khu vực đô thị sử dụng nước máy còn khu vực nông thôn được chính quyền quan tâm xây dựng các trạm nước tập trung dưới hình thức các giếng khoan tầng sâu Tính đến cuối năm 2015 tỷ lệ gia đình sử dụng nước sạch là 90,3% (Báo cáo của UBND thị xã Hà Tiên, 2015) Tuy nhiên, việc cung cấp nước sạch này chưa đồng đều giữa các xã trên địa bàn, vẫn còn tình trạng hộ gia đình sử dụng nước ao, hồ trong sinh hoạt Nguyên nhân hiện trạng này là gì? Có phải do người dân thực sự không có nhu cầu

sử dụng nước sạch hay nguyên nhân từ phía chính sách nước sạch nông thôn của thị

xã Xét thấy sự cần thiết nên nghiên cứu tìm hiểu cụ thể hơn về tình hình sử dụng nước sinh hoạt cũng như các nhân tố ảnh hưởng đến việc sử dụng nước sạch nông thôn của người dân hiện nay trên địa bàn để từ đó tìm ra giải pháp hiệu quả cung cấp nước sạch nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, nên tôi đã chọn

đề tài: “Phân tích mức sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng nước sạch nông thôn trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang” làm luận văn thạc sĩ

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

Trang 14

Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho việc sử dụng nước sạch nông thôn tại thị xã Hà Tiên

Trên cơ sở đó, gợi ý các chính sách nhằm mở rộng mạng lưới sử dụng nước sạch nông thôn của các hộ gia đình

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Nhằm đạt được những mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần trả lời những câu hỏi sau:

Hiện trạng sử dụng nước sách nông thôn của hộ gia đình như thế nào và có sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng nước sạch hay không?

Các yếu nào tố ảnh hưởng đến khả năng sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho việc sử dụng nước sạch nông thôn tại thị xã Hà Tiên?

Những chính sách gì nhằm mở rộng mạng lưới sử dụng nước sạch nông thôn của các hộ gia đình tại thị xã Hà Tiên?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng sẵn lòng chi trả của hộ gia đình cho việc sử dụng nước sạch nông thôn

1.4.2 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài tập trung nghiên cứu trong thời gian từ năm 2014 - 2015 Số liệu sơ cấp thu thập 200 hộ gia đình tại 7 xã - phường đình trên địa bàn thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang thông qua phỏng vấn trực tiếp trong thời gian tháng 12/2016

Phương pháp phân tích sử dụng chính là: Phương pháp Thống kê mô tả, đánh giá ngẫu nhiên CVM (contingent valuation methoth) và phương pháp xây dựng câu hỏi

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Luận văn kết cấu gồm 5 chương:

Chương 1 Giới thiệu đề tài Chương này trình bày vấn đề nghiên cứu, mục

tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phương pháp nghiên cứu, kết cấu luận văn

Trang 15

Chương 2 Cơ sở lý thuyết và nghiên cứu liên quan Chương này trình bày

các khái niệm về hộ gia đình, mức sẵn lòng chi trả, các lý thuyết kinh tế và tổng hợp các nghiên cứu liên quan đến đề tài

Chương 3 Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương này trình bày

phương pháp chọn mẫu, phương pháp phân tích dữ liệu và mô hình nghiên cứu

Chương 4 Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về thị xã Hà

Tiên, đặc điểm mẫu khảo sát, kết quả hồi quy và thảo luận kết quả nghiên cứu

Chương 5 Kết luận và hàm ý chính sách Chương này trình bày những kết

quả mà đề tài đạt được, các hàm ý chính sách nhằm mở rộng mạng lưới cung cấp nước sạch nông thôn, đồng thời chỉ ra các hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

CHƯƠNG 2

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 MỘT SỐ KHÁI NIỆM

2.1.1 Hộ và hộ gia đình nông thôn

Hộ có nhiều định nghĩa khác nhau bởi nhiều tác giả Theo như giáo trình kinh tế phát triển nông thôn có trích dẫn thì tác giả Martin (1988) có định nghĩa, hộ

là đơn vị cơ bản liên quan đến sản xuất, tái sản xuất, đến tiêu dùng và các hoạt động

xã hội khác Theo Harris, ở viện nghiên cứu phát triển trường Đại học tổng hợp Susex (Luân Đôn - Anh) cho rằng: “Hộ là một đơn vị tự nhiên tạo nguồn lao động”

Từ đó, có thể hiểu hộ là một nhóm người cùng chung huyết tộc hay không cùng huyết tộc, cùng sống chung hay không cùng sống chung một mái nhà, có chung một nguồn thu nhập và ăn chung, cùng tiến hành sản xuất chung

Hộ gia đình nông thôn được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình và sản xuất Luôn nằm trong hệ thống kinh tế rộng lớn nhưng về cơ bản được đặc trưng tham gia một phần vào thị trường với mức độ chưa hoàn chỉnh Nông hộ cũng có thể được hiểu là hộ có phương tiện kiếm sống từ ruộng đất và sử dụng chủ yếu lao động gia đình vào sản xuất Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt động nông nghiệp theo nghĩa rộng bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt động phi nông nghiệp ở nông thôn (Trần Văn Hiền, 2014)

Theo Ellis (1988): Nông hộ là các hộ nông dân thu hoạch các phương tiện sống từ ruộng đất, sử dụng chủ yếu lao động gia đình trong sản xuất nông trại, nằm trong một hệ thống kinh tế rộng hơn nhưng về cơ bản được đặc trưng bằng việc tham gia một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh không cao

2.1.2 Thu nhập và thu nhập hộ gia đình

Theo Tổng Cục Thống kê (2010): Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay

một gia đình kiếm được trong 1 ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất

Trang 17

cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người là 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu

nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng

Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền

sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian nhất định, thường là 1 năm, bao gồm (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền từ tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)

2.1.3 Khái niệm về tài nguyên nước

Theo Luật Tài nguyên nước quy định (sửa đổi và bổ sung 2012): Tài nguyên nước bao gồm: nguồn nước mặt, nước dưới đất, nước mưa và nước biển trên lãnh thổ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam

Luật cũng quy định, nguồn nước là các dạng tích tụ nước tự nhiên hoặc nhân tạo có thể khai thác, sử dụng bao gồm sông, suối, kênh, rạch, hồ, ao, đầm, phá, biển, các tầng chứa nước dưới đất; mưa, băng, tuyết và các dạng tích tụ nước khác

2.1.4 Khái niệm về nước sạch

Theo quy định của Luật Tài nguyên nước năm 1998 thì nước sạch là nước đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng của Tiêu chuẩn Việt Nam Theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế

“nước sạch trong quy định này là nước dùng trong các mục đích sinh hoạt cá nhân

và gia đình, không sử dụng làm nước ăn uống trực tiếp Nếu dùng trực tiếp cho ăn uống phải xử lý để đạt tiêu chuẩn vệ sinh nước ăn uống ban hành theo Quyết định

số 1329/QĐ-BYT ngày 18/4/2002 của Bộ Y tế”

2.1.5 Mức sẵn lòng chi trả

Theo lý thuyết marketing, khi mua sắm một sản phẩm, khách hàng sẵn lòng

chi trả bao nhiêu phụ thuộc vào giá trị kinh tế nhận được và mức độ hữu dụng của

Trang 18

sản phẩm Hai giá trị xác định mức giá một người sẵn lòng chấp nhận là mức giá hạn chế và mức giá tối đa Tùy thuộc nhận định của khách hàng khi mua sản phẩm

là sản phẩm dự định mua không có sản phẩm thay thế thì để có được độ hữu dụng của sản phẩm, khách hàng sẵn sàng chi trả khoản tiền cao nhất là mức giá hạn chế; hoặc sản phẩm thay thế của sản phẩm dự định mua có giá trị kinh tế thấp hơn mức hữu dụng thì mức giá cao nhất khách hàng chấp nhận chi trả bằng với giá trị kinh tế của sản phẩm thay thế là mức giá tối đa Mức sẵn lòng chi trả được định nghĩa là mức gia cao nhất một cá nhân sẵn sàng chấp nhận chi trả cho một hàng hóa hoặc dịch vụ

2.2 CÁC LÝ THUYẾT

2.2.1 Lý thuyết về tổng giá trị kinh tế

Theo kiến thức kinh tế thì tiền tệ là phương tiện chính trong lưu thông hàng hoá, nhưng không phải bất cứ loại hàng hoá nào cũng được xác định thông qua tiền

tệ, đặc biệt là hàng hoá môi trường, đối với những loại hàng hoá này khó có thể cân

đo đong đếm và khó có thể định lượng được Do đó, thất bại thị trường thường diễn

ra đối với những loại hàng hoá này vì chưa định giá hoặc định giá chưa phù họp

Theo lý thuyết kinh tế, tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường chính là

tổng giá trị sử dụng và giá trị không sử dụng của tài nguyên môi trường đó (Munasinghe, 1993), cụ thể:

Trong đó:

TEV: là tổng giá trị kinh tế của tài nguyên môi trường

UV: là giá trị sử dụng

NUV: là giá trị không sử dụng

Giá trị sử dụng (UV) là giá trị rút ra từ hiệu quả sử dụng thực của tài nguyên môi trường Chẳng hạn, người dân vào rừng lấy củi, gỗ để đun nấu; đi ngắm nhìn các danh lam thắng cảnh Hay nói cách khác, đây chính là giá trị mà các cá nhân gắn với việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ tài nguyên môi trường cung cấp (Koop và Smith, 1993)

Trang 19

Giá trị không sử dụng (NUV) là thành phần giá trị của nguồn tài nguyên môi trường thu được không phải do việc tiêu dùng một cách trực tiếp hay gián tiếp các dịch vụ do nguồn tài nguyên cung cấp (Koop và Smith, 1993)

Là những giá trị mà không có trong tính toán và khó có khả năng lượng hoá Trong thực tế nó không biểu hiện rõ ràng, nó thường thể hiện các giá trị nằm trong bản thân hàng hoá môi trường gọi là giá trị tuỳ thuộc, nghĩa là phụ thuộc vào mục đích chi tiêu của con người cho nó là có giá trị Bao gồm giá trị của chức năng bảo tồn văn hoá làng xã truyền thống, bảo tồn tài nguyên sinh học, giữ gìn cảnh quan đẹp Ví dụ, sự tồn tại giá trị của những người không có điều kiện đến thăm quan nhưng rất hạnh phúc để biết về sự tồn tại của quần thể thực vật và hệ động vật vô danh trong vùng đầm lầy thông qua những bức tranh hoặc những thước phim Hay người ta có thể hài lòng khi biết rằng mưa rừng tồn tại trong lưu vực sông Amazon

Như vậy, đặc thù về giá trị của hàng hoá môi trường nên phương pháp đánh giá tác động môi trường khác biệt với đánh giá kinh tế khác Sự khuyết tật của kinh

tế thị trường thể hiện trong việc xác định giá trị sử dụng và các giá trị (chẳng hạn lợi ích) của môi trường tự nhiên đã không biểu hiện trong hệ thống tài khoản quốc gia Hay giá trị phi sử dụng, có khi dương, có khi âm không bao giờ được đề cập đến trong hệ thống này

Học thuyết kinh tế hiện nay thật sự đã nhận thấy tầm quan trọng của giá trị phi sử dụng ngày càng tăng lên Việc xây dựng một con đập hoặc sự cải tạo vùng đầm lầy hoặc gây ra sự tuyệt chủng của quần thể thực vật, động vật, hoặc giảm bớt chức năng tự nhiên của hệ sinh thái hay những con sông bị ô nhiễm bởi rác thải từ công nghiệp Tất cả những chi phí của sự huỷ hoại môi trường cần thiết được biết đến Theo Munasinghe (1992) đã phân loại tổng giá trị kinh tế của tài nguyên theo hợp phần như sau:

Trang 20

Sơ đồ 2.1: Phân loại tổng giá trị kinh tế của tài nguyên

Nguồn: trích từ Lê Thị Liên, 2015 Giá trị sử dụng trực tiếp (Direct Use Value - DUV) là giá trị của tài sản, tài nguyên có thể dùng hoặc tiêu thụ trực tiếp Người ta thường phân loại giá trị này như là hàng hoá hữu hình

Giá trị sử dụng gián tiếp (Indirect Use Value - IUV) là lợi ích mang lại một cách gián tiếp cho người sử dụng Ví dụ: Du lịch sinh thái, chống xói mòn, bơi lội, bơi thuyền, dã ngoại là những hoạt động mà tài nguyên thiên nhiên mang lại gián tiếp cho con người

Giá trị lựa chọn (Option Value - OV) được hình thành khi một cá nhân có thể

tự đánh giá cách lựa chọn để lựa chọn các nguồn tài nguyên môi trường trong tương lai Đó chính là giá trị môi trường mà lợi ích trong tương lai đang tiềm ẩn và giá trị

đó sẽ thực sự được sử dụng trong hiện tại Chẳng hạn như khi cá nhân đó đối mặt

Trang 21

với sự không chắc chắn về vấn đề môi trường có được đảm bảo hay không, đó chính là giá trị sử dụng trong tương lai

Giá trị để lại (Bequest Value - BV) chính là phần giá trị thu được từ sự mong muốn sẽ bảo tồn các nguồn tài nguyên môi trường cho thế hệ hiện tại và tương lai Đối với nhiều nguồn tài nguyên môi trường thì tổng giá trị phi sử dụng có thể lớn hơn rất nhiều so với tổng giá trị của tài nguyên môi trường

Giá trị tồn tại (Existence Value - EV) là thành phần hiện có trong nội tại bản thân các tài nguyên môi trường, hay những giá trị này có được qua các cá nhân nhận biết được sự tồn tại của tài nguyên môi trường

Đối với nhiều nguồn tài nguyên môi trường thì tổng giá trị phi sử dụng có thể lớn hơn rất nhiều so với tổng giá trị của tài nguyên môi trường

Từ đó biểu thức (2.1) có thể viết lại như sau:

TEV = DUV + IUV + OV + BV + EV (2.2)

Trong đó:

DUV: Giá trị sử dụng trực tiếp IUV: Giá trị sử dụng gián tiếp

OV (Option Value): Giá trị lựa chọn được hình thành khi một cá nhân có thể

tự đánh giá cách lựa chọn để giành các nguồn tài nguyên môi trường trong tương lai

BV (Bequest Value): Giá trị lưu truyền chính là phần giá trị có được từ sự mong muốn bảo tồn

EV (Existense Value): Giá trị tồn tại hay giá trị hiện hữu là giá trị của bản thân sự tồn tại của nguồn tài nguyên môi trường được nhận biết bởi một cá nhân

Giá trị không sử dụng có thể nhận được bằng cách lấy tổng giá trị tài nguyên trừ đi giá trị sử dụng của nó:

NUV = TEV – UV (2.3)

2.2.2 Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên

2.2.2.1 Nội dung phương pháp

Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) dùng các kỹ thuật phỏng vấn cá nhân để định giá loại hàng hóa hay dịch vụ môi trường vốn không có thị trường

Trang 22

Phương pháp CVM là một hình thức nghiên cứu thị trường, ở đó “sản phẩm” là sự thay đổi trong môi trường CVM khác với nghiên cứu thị trường chung là ở chỗ nó

đề cập đến một sự kiện mang tính giả thiết (Phan Thị Giác Tâm, 2008)

Phương pháp CVM bao gồm các cuộc phỏng vấn cá nhân, các cuộc điều tra bằng thư và các cuộc điều tra điện thoại để biết được WTP của người tiêu dùng về các hàng hóa không có trên thị trường dựa trên một kịch bản giả định để đo lường các giá trị liên quan đến các hàng hóa không có mặt trên thị trường như chất lượng nước, săn bắn, sự giải trí, chất lượng không khí và chất thải độc hại Theo Carson và cộng sự (1994), đã có hơn 1.600 nghiên cứu sử dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên Do đó, các nhà nghiên cứu CVM có một nền tảng vững chắc để nghiên cứu CVM chính xác hơn

Ưu điểm của CVM: ít tốn chi phí hơn so với phương pháp thử nghiệm thực

tế thị trường (Misra và cộng sự, 1991), không cần dựa vào nguồn dữ liệu thứ cấp như các phương pháp khác (Anderson và Bishop 1986, Cummings và cộng sự, 1986) và CVM có thể áp dụng cho giá trị sử dụng (chất lượng nước, nhìn thấy những động vật hoang dã, hưởng thụ trực tiếp cảnh quan) và những giá trị không sử dụng (giá trị tồn tại) (Phan Thị Giác Tâm, 2008)

Nhược điểm của CVM: Khi sử dụng phương pháp CVM, kết quả điều tra phụ thuộc vào các điều kiện của thị trường giả định, cách đặt vấn đề của người điều tra, cách chọn mẫu làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với giá trị thực Theo Turner (1995) có một số trở ngại tiềm ẩn đối với nhà phân tích thiếu thận trọng sẽ làm sai lệch:

(1) Nói ít đi WTP: cho rằng bản chất giả thuyết của phương pháp CVM làm cho câu trả lời của các cá nhân không đúng với sự thật, có xu hướng nói bớt đi cái giá mà người ta sẽ thực sự trả Tuy vậy phần bớt này tương đối nhỏ nên không phải vấn đề nghiêm trọng

(2) WTP hay WTA: Bạn sẵn lòng trả bao nhiêu WTP để có tài sản môi trường này hoặc bạn sẵn lòng nhận bao nhiêu WTA để bồi thường cho việc từ bỏ tài sản môi trường này Khi đem so sánh giữa WTP và WTA bao giờ WTA cũng cao

Trang 23

hơn WTP rất nhiều

Theo Turner, Pearce, Bateman (1995) khi đem so sánh 2 dạng trên các nhà phân tích cho rằng WTA cao hơn WTP rất nhiều, trên lý thuyết WTP và WTA có giá trị tương đương nhưng thực tế khác nhau hoàn toàn (trích theo Phan Thị Giác Tâm, 2008)

WTP được thể hiện mức độ ưa thích của một cá nhân về một mặt hàng nào

đó Ở đây mặt hàng đó là dịch vụ thu gom RTSH, là một mặt hàng mà chỉ khi cá nhân nhận thức được hậu quả của việc ô nhiễm môi trường; lợi ích của việc hưởng thụ không khí trong lành, để đánh giá người dân về WTP bao nhiêu tiền để được hưởng những lợi ích khi dịch vụ thu gom RTSH được triển khai

Còn WTA là ngược lại khi họ không thích một điều gì đó, họ cũng sẽ sẵn lòng trả một mức giá nào đó để tránh nó hoặc sẵn lòng chấp nhận mức đền bù nào

đó để chịu đựng điều mà họ không thích

So sánh khi hỏi về WTP, người được hỏi thường trả lời WTP tối thiểu, nhưng khi hỏi về WTA họ sẽ trả lời mức chấp thuận tối đa, vì WTP chịu ảnh hưởng bởi giới hạn thu nhập của người được phỏng vấn còn WTA thì không bị ảnh hưởng Điều này có thể được giải thích rằng sự ưa thích là lựa chọn của con người không hoàn toàn giống nhau

Phương pháp phỏng vấn trực tiếp thường được áp dụng nhiều trong tất cả các nghiên cứu, nhất là trong phương pháp định giá ngẫu nhiên, nó giúp người điều tra

và người được phỏng vấn gần gũi thân thiện dễ dàng trao đổi các thông tin, đưa ra nhiều tình huống giả định, đồng thời kết hợp nhiều dẫn chứng, minh họa để chứng minh tình huống nào tốt nhất để người được hỏi so sánh lựa chọn, kết quả chất lượng cuộc phỏng vấn được tốt hơn Hạn chế của phương pháp này đòi hỏi người đi điều tra phải nắm vững chuyên môn yêu cầu mục đích của việc điều tra, các tình huống giả định để phân tích, tốn nhiều thời gian, chi phí và công sức

(3) Thiên lệch một phần - toàn phần: Nếu người lần đầu tiên được hỏi WTP cho một phần tài sản và sau đó được hỏi đánh giá cho toàn bộ thì số tiền được phát biểu là như nhau vì tổng ngân sách của họ ổn định, do đó dễ sai lệch khi hỏi quy mô

Trang 24

rộng lớn

(4) Thiên lệch điểm khởi đầu: Do ban đầu gợi ý cho người trả lời đưa ra mức trả khởi đầu từ thấp đến cao hoặc từ cao xuống thấp, thì việc lựa chọn mức khởi đầu này sẽ ảnh hưởng đến sự trả lời WTP của họ Ở đây ta hỏi từ mức cao xuống mức thấp và mức khởi đầu đã được tính toán trên phương tiện đầu tư và cả khu vực

(5) Thiên lệch theo phương tiện: Khi xây dựng câu hỏi WTP người thiết kế điều tra phải xác định rõ phương tiện đóng góp Với mỗi phương tiện đóng góp khác nhau như: bằng tiền mặt, bằng tài khoản thì mức WTP cũng khác nhau Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể mà chúng ta xác định phương tiện đóng góp hay sử dụng nhất để tránh trở ngại này

2.2.2.2 Các bước thực hiện CVM

Bước 1: Xác định các mục tiêu cụ thể

Xây dựng các công cụ cho điều tra gồm các phương tiện mà dựa trên nguyên

lý để tìm ra WTP/WTA của các cá nhân và để thực hiện các việc đó cần:

- Thiết kế một kịch bản giả thuyết

- Nên hỏi câu hỏi WTP hay WTA bởi vì trong mỗi hoàn cảnh khác nhau thì phương cách trả lời khác nhau

- Tạo ra một kịch bản để người phỏng vấn sẽ thuận tiện nhất trong việc trả lời WTP hay WTA Ví dụ: Những người có nhận thức cao, những người có hiểu biết cao thì cách thức tiếp cận của chúng ta là hỏi trực tiếp, trả lời thẳng bằng tiền Những người nghèo, thu nhập thấp có trình độ thấp nhưng vẫn hiểu được giá trị của hàng hoá môi trường, chúng ta hỏi có sẵn sàng đóng góp bằng ngày công lao động không, thì họ sẽ đồng ý, từ đóng góp đó sẽ quy được ra tiền

Bước 2: Thiết kế câu hỏi

Bước này là bước quyết định ban đầu của cuộc điều tra, bao gồm cách tiến hành điều tra bằng gửi thư điện tử, gọi điện hay điều tra trực tiếp người dân; kích thước mẫu tiến hành điều tra bao nhiêu, đối tượng điều tra là ai và các thông tin liên quan khác trong bảng hỏi Câu trả lời cho những vấn đề này là dựa vào những thông tin khác nhau như tầm quan trọng của vấn đề định giá, tổng hợp các câu hỏi được

Trang 25

hỏi, và chi phí tiến hành điều tra

Bản thân cuộc phỏng vấn nhìn chung ảnh hưởng bởi tổng hợp các câu hỏi vì

nó thường dễ dàng hơn để giải thích xung quanh thông tin được yêu cầu trả lời Người phỏng vấn thường phải tiến hành điều tra trong thời gian dài do người được hỏi thiếu thông tin về vấn đề nghiên cứu Trong một số trường hợp, những sự giúp

đỡ cần thiết là cung cấp video hay tranh ảnh màu cho đối tượng hỏi để họ hiểu được điều kiện giả định mà họ sẽ định giá

Trong quá trình điều tra thì phỏng vấn là quan trọng nhất Tuy nhiên, quá trình điều tra bằng gửi thư điện tử với mục đích tỉ lệ trả lời cao có thể cũng khá đắt Điều tra bằng cách gọi điện hoặc gửi thư điện tử rất ngắn gọn Điều tra bằng cách gọi điện thoại có thể chi phí thấp hơn nhưng thông thường rất khó để hỏi những câu hỏi CVM đối với đối tượng hỏi bởi vì giới hạn số lượng xung quanh thông tin yêu cầu

Trong trường hợp giả định tiến hành bằng gửi thư điện tử thì người điều tra muốn khảo sát một mẫu rộng, trên nhiều vùng địa lý và hỏi những câu hỏi về vị trí

cụ thể và lợi ích của nó; cái mà dễ dàng được miêu tả trong bài viết

Bước 3: Thiết kế mẫu điều tra thực tế

Phần 1 THÔNG TIN HỘ GIA ĐÌNH

Trang 26

 Công nhân, làm thuê

8 Khu vực sinh sống:

 Trung tâm xã, phường, thị xã

 Nông thôn

9 Số thành viên đang sinh sống trong hộ gia đình:……… người

10 Số lao động tạo ra thu nhập:……….người

11 Số người không tạo ra thu nhập:………người

12 Thuộc diện:

 Hộ nghèo  Không phải hộ nghèo

13 Tổng thu nhập bình quân đầu người hàng tháng của hộ:………….(nghìn đồng/người)

Trang 27

Bước 5: Phân tích khả năng sẵn lòng chi trả

Sử dụng mô hình hồi quy Binary Logistic để phân tích khả năng sẵn lòng chi trả cho việc sử dụng NSNT của hộ gia đình tại thị xã Hà Tiên

2.2.3 Mô hình lý thuyết hàm hữu dụng gián tiếp và WTP

Theo lý thuyết kinh tế, hàm hữu dụng gián tiếp thường dùng để mô tả mức hữu dụng tối đa của hộ gia đình (cá nhân) sẽ đạt được do phải chi một phần thu nhập (Y), cho sự cung ứng của một hàng hóa nào đó từ mức độ hiện nay (E0) đến mức trong tương lai (E1) và ứng với giá cả hàng hóa nhất định (P) Trong trường hợp nghiên cứu này, hàng hóa là chất lượng môi trường và nó không có thị trường Ngoài ra, mức hữu dụng của hộ gia đình (cá nhân) còn được giả định là phụ thuộc vào các yếu tố kinh tế và xã hội khác (S) đại diện cho sự ưu thích của hộ gia đình Với những định nêu trên, hàm hữu dụng gián tiếp của hộ gia đình có thể viết dưới dạng tổng quát như sau (Bateman và cộng sự, 2002; Hanemann, 1994):

Trang 28

U0(Y, P, S, E0, εi) < U1(Y, P, S, E1, εi) Trong nghiên cứu đánh giá ngẫu nhiên (CVM), câu hỏi về giá sẳn lòng trả (WTP) cho biết số tiền tối đa mà hộ gia đình sẽ sẳn lòng trả để được thụ hưởng một mức độ thay đổi về chất lượng môi trường Trong mô hình mức hữu dụng này, hộ gia đình được giả định là họ sẽ so sánh mức hữu dụng hiện tại với mức hữu dụng sẽ

có được sau khi môi trường được cải thiện Vì hộ gia đình có mức hữu dụng cao hơn U1 với chất lượng môi trường E1, lý thuyết kinh tế giả định rằng hộ gia đình sẽ sẳn sàng bỏ ra một số tiền nào đó để có được chất lượng môi trường E1 Nói cách khác WTP được mô tả là số tiền tối đa mà hộ gia đình sẽ chi trả để đảm bảo là mức hữu dụng của mình tại mức chất lượng môi trường cao ngang bằng (tương tự) với mức hữu dụng của mình tại mức chất lượng môi trường thấp trước đây

U0(Y, P, S, E0, εi) = U1(Y-WTP, P, S, E1, εi) WTP = U0(Y, P, S, E0, εi) - U1(Y, P, S, E1, εi) Với WTP trong hai phương trình trên là giá trị thay đổi đền bù Hicksian dùng để đo lường sự thay đổi trong phúc lợi (Bateman và cộng sự, 2002) Do đó, ta có thể biểu diễn dưới dạng sau:

WTP = WTP( E0, E1,Y,P,S,εi) (*) Trong đó, E0, E1 là chất lượng môi trường trước và sau khi cải thiện; Y là thu nhập của hộ, P là giá của hàng hóa; và S là vectơ các biến số kinh tế xã hội Theo lý thuyết kinh tế, có một điểm khác cần lưu ý là mức WTP cao nhất trong phương trình (*) mà hộ có thể chi trả bị giới hạn bởi khả năng chi trả của họ Biến số thu nhập thích hợp cho trường hợp nghiên cứu WTP là thu nhập còn lại của hộ (Y1) sau khi chi tiêu cho các khoản cần thiết (ăn, mặc, ở, đi lại, giải trí, ) Nói cách khác là WTP của hộ chỉ có thể bằng hoặc thấp hơn thu nhập còn lại của hộ và phải lớn hơn hoặc bằng 0 Đối với hàng hóa môi trường, giá trị WTP âm là vô nghĩa, vì nếu hàng hóa đó không mang lại gì thêm gì cho mức hữu dụng của hộ gia đình thì không cần phải cung cấp

Trang 29

2.3 CÁC NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN

2.3.1 Trên thế giới

Nghiên cứu của Kaliba Norman và Chang (2003) về “Nghiên cứu mức sẳn lòng chi trả nhằm cải thiện việc cung cấp nước cho những vùng nông thôn thuộc vùng Trung bộ Tanzania Châu Phi và những gợi ý chính sách” Nghiên cứu mức sẳn lòng chi trả nhằm mục đích để cải thiện và khả năng phát triển bền vững cho những ngành dịch vụ công cộng về nước nông thôn Đề tài đã khảo sát cộng đồng tại các vùng Dodoma và Singida thuộc khu vực miền Trung Tanzania, bằng cách sử dụng các hàm logit đa thức Kết quả phân tích cho thấy, dân trong vùng khảo sát đồng tình với việc cải tiến loại hình dịch vụ cấp nước và việc chứng thực mức sẳn lòng chi trả cho việc cải thiện này, các biến có ý nghĩa thống kê về mặt tích cực là quy mô hộ gia đình và sự hài lòng trong việc thực thi các hoạt động trong dự án; các biến có ý nghĩa thống kê về mặt tiêu cực là độ tuổi, tài sản và các khoảng đóng tiền mặt

Nghiên cứu của Shion Guha (2007) về “Trong việc thẩm định giá cung cấp nước sạch qua phương pháp sẵn sàng chi trả trong một quốc gia đang phát triển - trường hợp nghiên cứu ở Calcutta, Ấn Độ” Nghiên cứu này điều tra mức bình quân

về sự sẵn sảng chi trả của người dân cho nước sạch ở Calcutta và đưa ra các giải pháp khả thi Một nửa trong số 202 người được khảo sát trong nghiên cứu này là những cư dân khu ổ chuột trong khi một nửa còn lại là những cư dân khu chung cư Cuộc khảo sát được tiến hành theo phương pháp định giá ngẫu nhiên (CVM), để ước tính việc sẵn sàng chi trả của họ dành cho nước uống được tiến hành trong các tòa nhà chung cư tại Dhakuria, Calcutta Những người trong nhóm thu nhập thấp và trung bình chủ yếu sống trong chung cư này

Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy 5 nhân tố xác định ảnh hưởng bao gồm thu nhập hộ gia đình, tuổi tác của người trả lời, năm học của người trả lời,

số trẻ em trong gia đình, và số thành viên trong hộ gia đình của người trả lời

Nghiên cứu của Churai Tapvong và Jittapatr Kruavan (2003) xác định giá trị ngẫu nhiên cải thiện chất lượng nước của sông Chao Phraya của Thái Lan do bị ô

Trang 30

nhiễm môi trường Nghiên cứu này sử dụng phương pháp giả định ngẫu nhiên (CVM) trong phân tích chính sách để đánh giá cư dân ở Bangkok có sẵn sàng chi trả cho việc cải thiện chất lượng nước của sông Chao Phraya của Thái Lan Ước tính mức sẵn sảng trả theo phương pháp định lượng xây dựng mô hình hồi quy tuyến tính bằng cách sử dụng phương pháp OLS, số liệu sẵn lòng trả được xem như

là một biến phụ thuộc, để xác định các yếu tố chi phối số tiền lệ phí một cá nhân sẵn sảng trả cho việc xứ lý từng loại chất lượng nước Kết quả đã tìm ra biến giáo dục, biến tầm quan trọng, thu nhập, tình trạng cảm nhận về chất lượng nước hiện có, việc sinh sống gẩn sông, các biến phí trưng cầu dân ý là những biến có ý nghĩa thống kê

2.3.2 Ở Việt Nam

Võ Thành Danh (2008) khi nghiên cứu mức sẵn lòng chi trả cho việc bảo vệ tài nguyên nước ngầm không bị ô nhiệm, áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên với việc sử dụng mô hình Probit và mô hình OLS để xác định sử sẵn lòng chi trả WTP của các hộ gia đình Kết quả thu được từ mô hình Probit các biến ngoại sinh gồm thu nhập của hộ gia đình, trình độ học vấn là các yếu tố quan trọng của mô hình Các biến nội sinh gồm nhu cầu nước ngầm, sự đánh giá của đáp viên trong vấn đề môi trường và mức độ quan tâm đối với những ảnh hưởng của việc sử dụng nước ngầm đến sức khỏe là biến có ý nghĩa thống kê quyết định mức sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Song và cộng sự (2011) về “Xác định mức sẵn lòng chi trả của các hộ nông dân về dịch vụ thu gom, quản lý và xử lý chất thải rắn sinh hoạt ở địa bàn huyện Gia Lâm, Hà Nội” Sự phát triển kinh tế nhanh của huyện Gia Lâm trong vài năm gần đây dẫn đến sự gia tăng về lượng chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH) Việc thu gom, quản lý, xử lý CTRSH ngày càng trở nên khó khăn bởi vì ngân sách Nhà nước phải bù đắp một khoản tiền rất lớn cho công tác này trong khi

sự đóng góp của người dân còn rất nhỏ Thông qua quan sát, thu thập số liệu thứ cấp và điều tra 116 hộ nông dân trên địa bàn thị trấn Trâu Quỳ và xã Kiêu Kỵ, sử dụng phương pháp tạo dựng thị trường (CVM), nghiên cứu đã nêu được thực trạng công tác quản lý CTRSH và xác định mức sẵn lòng chi trả để thu gom và xử lý rác

Trang 31

thải ở huyện Gia Lâm Nghiên cứu đã đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao dịch

vụ môi trường trên địa bàn Gia Lâm

Nghiên cứu của Nguyễn Văn Ngãi và cộng sự (2012) về WTP của người dân thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp đối với dịch vụ cấp nước sạch Tác giả đã áp dụng CVM với câu hỏi đóng (đặt ra các mức giá sẵn cho người dân chọn lựa) Qua kết quả khảo sát 172 mẫu ngẫu nhiên đối với các hộ không có sử dụng nước sạch từ

hệ thống cấp nước sạch thành phố, chạy mô hình hồi quy tuyến tính với phương pháp OLS xác định các yếu tố ảnh hưởng đến WTP của hộ gia đình và sử dụng phần mềm SPSS 16.0 để phân tích đánh giá Kết quả tìm được 7 biến độc lập có tác động, ảnh hưởng đến biến phụ thuộc WTP gồm trình độ học vấn, quy mô hộ, tổng thu nhập, địa chỉ chủ hộ, số người đi làm, nguồn nước sử dụng và nhận thức môi trường WTP bình quân của các hộ được khảo sát cho 1m3 nước sạch là 4.956 đồng Nghiên cứu này rất có ý nghĩa cho việc xem xét, quyết định đầu tư mở rộng phạm vi cấp nước cho khu vực

Nghiên cứu của Lê Thị Phương Dung và cộng sự (2015) về “Mức sẵn lòng chi trả của hộ dân để cải thiện môi trường nước ở làng nghề gỗ Đồng Kỵ, Bắc Ninh” Mỗi năm, làng nghề chế biến gỗ Đồng Kỵ của tỉnh Bắc Ninh đã tạo ra giá trị sản phẩm đạt khoảng 500 tỷ đồng với 65% các sản phẩm xuất khẩu Trong những năm gần đây, tổng giá trị sản xuất tăng hơn 17%/năm Tuy nhiên, tình trạng

ô nhiễm môi trường của làng bây giờ rất nghiêm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước, đất và không khí Các chỉ số BOD, TSS, Sunfua vượt chuẩn cho phép nhiều lần Nghiên cứu này sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên (CVM) để khảo sát

dữ liệu từ 150 hộ gia đình đồng thời sử dụng phân tích hồi quy để tìm ra những yếu

tố ảnh hưởng đến mức độ sẵn lòng chi trả (WTP) Kết quả cho thấy, trung bình, mỗi người sẵn sàng trả 27.000 đồng/người/tháng tương đương số vốn ước tính là 394 triệu đồng/tháng cho dự án để cải thiện chất lượng nước ở làng Đồng Kỵ Như vậy, tổng quỹ mỗi năm có thể đạt được 4,7 tỷ đồng để phục hồi các nguồn nước ô nhiễm trong khu vực Các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến sự sẵn lòng chi trả của các hộ gia đình để cải thiện chất lượng nước là thu nhập hộ gia đình và nghề nghiệp

Trang 32

lao động Điều này cho thấy vai trò quan trọng của các chính sách nhằm cải thiện thu nhập và kiến thức của cộng đồng

Nghiên cứu của Nguyễn Bá Huân (2017) về “Ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho sử dụng nước sạch của người dân tại huyện Chương Mỹ, thành phố Hà Nội” Huyện Chương Mỹ là địa phương có tỷ lệ dân số sử dụng nước sạch theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về chất lượng nước ăn uống của Bộ Y tế thấp nhất khu vực ngoại thành Hà Nội Phần lớn dân cư vẫn đang chủ yếu sử dụng nước giếng khoan chưa đảm bảo an toàn Ước lượng mức sẵn lòng chi trả cho sử dụng nước sạch của người dân làm cơ sở khoa học quan trọng trong việc đề xuất các giải pháp nhằm tăng tỷ lệ sử dụng nước sạch nông thôn trong bối cảnh nguồn nước này càng bị ô nhiễm nghiêm trọng Bằng việc sử dụng phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, kết quả khảo sát 360 hộ gia đình ở 4 xã đại diện huyện Chương Mỹ cho thấy mức WTP bình quân là 5.310 đồng/m3

nước sạch Đồng thời, kết quả hồi quy cũng chỉ ra rằng các yếu tố: nghề nghiệp, thu nhập, trình độ học vấn, tuổi, giới tính và sự tham gia tổ chức môi trường của hộ là những yếu tố ảnh hưởng lớn nhất

Trang 33

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày tổng quan lý thuyết của đề tài Tác giả trình bày các khái niệm về tài nguyên nước, khái niệm về nước sạch và mức sẵn lòng chi trả Tổng hợp các lý thuyết kinh tế gồm lý thuyết về tổng giá trị kinh tế, phương pháp đánh giá ngẫu nhiên, mô hình lý thuyết hàm hữu dụng gián tiếp và mức sẵn lòng chi trả Lược khảo các nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Các lý thuyết và nghiên cứu thực nghiệm nêu ở chương 2 là cơ sở để tác giả luận văn đưa ra khung phân tích và mô hình nghiên cứu ở chương 3

Trang 34

Sơ đồ 3.1: Khung phân tích

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Từ Sơ đồ 3.1 cho thấy, khả năng chi trả cho việc sử dụng nước sạch bị ảnh hưởng bởi 2 nhóm nhân tố gồm đặc điểm chủ hộ, đặc điểm hộ gia đình

Trang 35

3.2 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU

Phân tích hồi quy trong kinh tế lượng nhằm tìm ra mối quan hệ giữa biến phụ thuộc và biến độc lập Thông thường chúng ta thường gặp các biến phụ thuộc ở dạng liên tục hoặc không liên tục Tuy nhiên, trong thực tế xảy ra nhiều trường hợp

mà biến phụ thuộc không phải là một biến liên tục, nó là biến định tính Biến định tính nhận hai giá trị như: có đồng ý/không đồng ý, có ý định/không ý định, có đóng góp/không đóng góp Các biến này được gọi là biến nhị nguyên Các phương pháp phân tích như mô hình hồi quy tuyến tính không thể áp dụng được cho các loại biến phụ thuộc định tính Theo Ramu Ramanathan (2000), đối với loại biến này, các loại

mô hình rời rạc như mô hình xác suất tuyến tính, mô hình đơn vị xác suất (mô hình Probit), mô hình Logit sẽ rất phù hợp

Sử dụng phương pháp hồi quy Binary Logistic phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến khả năng chi trả cho việc sử dụng nước sạch nông thôn của hộ gia đình trên địa bàn TX Hà Tiên Mô hình hồi quy tổng quát có dạng:

Biến phụ thuộc Y là biến giả, quyết định sự sẵn sàng chi trả cho dịch vụ nước sạch, nhận giá trị 1 khi người được phỏng vấn đồng ý chi trả và nhận giá trị 0 khi người phỏng vấn không đồng ý chi trả

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:25

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w