- ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á - BHLĐ: Bảo hiểm lao động - CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa - CT-UBND: Chỉ thị - Ủy ban nhân dân - GDI: Chỉ số đánh giá sự bình đẳng về
Trang 1
NGUYỄN THỊ THANH HƯƠNG
PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC ĐÁP ỨNG
YÊU CẦU CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
Ở THÀNH PHỐ HỒ CHI MINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2013
Trang 2MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 6
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN 6
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực 6
1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực 9
1.1.3 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa 10
1.2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 14
1.2.1 Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình CNH, HĐH 14
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội 15
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 17
1.3.1 Dân số, giáo dục - đào tạo 17
1.3.2 Hệ thống các chỉ số ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực 21
1.3.3 Thị trường sức lao động 22
1.3.4 Những nhân tố bên trong ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực 24
1.3.4.1 Dân số và lực lượng lao động trong xã hội 24
1.3.4.2 Pháp luật của Nhà nước 24
1.3.4.3.Văn hóa xã hội 24
1.3.4.4 Khoa học kỹ thuật 25
1.3.4.5 Đối thủ cạnh tranh 25
1.3.5 Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực 25
1.3.5.1 Toàn cầu hóa kinh tế với vấn đề việc làm và thất nghiệp 26
1.3.5.2 Toàn cầu hóa kinh tế với vấn đề thu nhập, đời sống và ổn định xã hội 27
1.3.5.3 Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam 28
1.4 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH 31
Trang 31.4.2 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam 32
1.4.3 Những bài học kinh nghiệm đối với thành phố Hồ Chí Minh 36
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2001 – 2011 38
2.1 ĐẶC ĐIỂM, ĐIỀU KIỆN ẢNH HƯỞNG ĐẾN NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 38
2.1.1 Những đặc điểm về tự nhiên 38
2.1.2 Những đặc điểm về kinh tế - xã hội 38
2.1.3 Về văn hóa xã hội 42
2.2 KHÁT QUÁT TÌNH HÌNH NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH NĂM 2005 - 2011 43
2.2.1 Tình hình nguồn nhân lực cho quá trình CNH, HĐH ở thành phố Hồ Chí Minh trong những năm qua 43
2.2.1.1 Qui mô và tốc độ tăng nguồn nhân lực 43
2.2.1.2 Chất lượng nguồn nhân lực 48
2.2.2 Tình hình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh 55
2.2.2.1 Đầu tư cho giáo dục cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông 55
2.2.2.2 Đào tạo chuyên nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh 56
2.2.3 Một số nhận xét về đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh 59
2.2.3.1 Những thành tựu đã đạt được 59
2.2.3.2 Một số tồn tại và thách thức trong công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh 61
2.2.3.3 Nguyên nhân chủ yếu của tồn tại trên 63
Trang 4THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 64
3.1 PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2011 – 2015 64
3.1.1 Phân tích thực trạng cung và cầu lao động ở thành phố Hồ Chí Minh 64
3.1.1.1 Phân tích cung lao động ở thành phố Hố Chí Minh 64
3.1.1.2 Phân tích cầu lao động ở thành phố Hố Chí Minh 65
3.1.1.3 Phân tích cung – cầu lao động ở thành phố Hồ Chí Minh 66
3.1.2 Phân tích xu hướng nhu cầu lao động ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2015 68
3.1.2.1 Xu hướng nhu cầu nhân lực theo ngành nghề Hồ Chí Minh giai đoạn 2011- 2015 69
3.1.2.2 Xu hướng nhu cầu nhân lực theo trình độ chuyên môn ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2011 - 2015 72
3.2 ĐỊNH HƯỚNG, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TỪ NAY ĐẾN NĂM 2020 72
3.2.1 Định hướng phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 73
3.2.2 Mục tiêu phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh 75
3.3 GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ĐẾN NĂM 2020 76
3.3.1 Giải pháp về đầu tư cho giáo dục đào tạo 76
3.3.2 Cơ sở vật chất và định mức chi phí đào tạo 86
3.3.3 Gắn đào tạo với sử dụng 87
3.3.4 Phát triển thị trường sức lao động 88
3.3.5 Thu hút và nâng cao hiệu quả sử dụng nhân tài 89
3.3.6 Hỗ trở các doanh nghiệp phát triển sản xuất, thu hút nhiều lao động nhằm giảm tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động 90
Trang 53.3.9 Nhóm giải pháp ở phía các Doanh nghiệp 93
3.4 KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI CHÍNH PHỦ, CÁC BỘ, NGÀNH LIÊN QUAN VÀ ỦY BAN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ 94
3.4.1 Đối với Chính phủ 94
3.4.2 Đối với Thành phố 95
KẾT LUẬN 97
TÀI LIỆU THAM KHẢO 99
Trang 6Bảng 1: Chỉ tiêu cơ cấu GDP ngành giai đoạn 2005 – 2011 40 Bảng 2: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh 41 Bảng 3: Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên phân theo nhóm tuổi ở thành phố
Hồ Chí Minh 48 Bảng 4: Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành phố
Hồ Chí Minh 2011 53 Bảng 5: Nhu cầu tìm việc theo trình độ ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 64 Bảng 6: Chỉ số nhu cầu nhân lực theo trình độ chuyên môn năm 2011-2012 65
DANH MỤC CÁC BIỂU
Biểu 1: Tỉ lệ GDP từng ngành so với thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2011 39 Biểu 2: Lao động làm việc trong các ngành kinh tế ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2012 39 Biểu 3: Dân số và tỷ lệ phát triển dân số ở thành phố Hồ Chí Minh 44 Biểu 4: Dân số trung bình phân theo giới tính ở thành phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 2005-2011 44 Biểu 5: Dân số phân theo thành thị và nông thôn ở thành phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 2005 – 2011 45 Biểu 6:Dân số và lao động đang làm việc trong ngành kinh tế quốc dân ở
thành phố Hồ Chí Minh 48 Biểu 7: Nhu cầu tìm việc theo trình độ ở thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 65 Biểu 8: Chỉ số nhu cầu nhân lực theo trình độ chuyên môn năm 2011-2012 66 Biểu 9: Nhu cầu nhân lực theo ngành nghề thành phố Hồ Chí Minh
giai đoạn 2012 – 2015 71
Biểu10: Nhu cầu trình độ nghề ở thành phố hồ chí minh giai đoạn 2012 -2015 72
Trang 7- ASEAN: Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á
- BHLĐ: Bảo hiểm lao động
- CNH, HĐH: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- CT-UBND: Chỉ thị - Ủy ban nhân dân
- GDI: Chỉ số đánh giá sự bình đẳng về cơ hội phát triển giữa phụ nữ và nam giới
- GD - ĐT: Giáo dục – đào tạo
- KCN: Khu công nghiệp
- OCDE: Tổ chức hợp tác phát triển kinh tế Châu Âu
- ODA (Official Development Assistance): Hỗ trợ phát triển chính thức
- UBND: Ủy ban nhân dân
- UNIDO: Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc
- XHCN: Xã hội chủ nghĩa
- FDI:Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
- WHO (World Health Organization): Tổ chức Y tế Thế giới
Trang 82 Tổng GDP tốc độ phát triển phân theo các ngành kinh tế của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2011
3 Tỉ lệ GDP từng ngành so với thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2011
4 Giá trị sản xuất của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2001 – 2011
5 Lao động các ngành trong nền kinh tế quốc dân ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2005 - 2012
6 Dân số và tỷ lệ phát triển dân số ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2011
7 Dân số trung bình phân theo giới tính ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2001 - 2011
8 Dân số phân theo thành thị và nông thôn ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005-2011
9 Tốc độ tăng nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 -2012
10 Dân số và lao động đang làm việc trong ngành kinh tế quốc dân của thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005 – 2012
11 Số cơ sở y tế và cán bộ y tế ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005- 2011
12 Hệ thống trường, lớp, giáo viên mẫu giáo ở thành phố Hồ Chí Minh
13 Hệ thống trường, lớp, giáo viên tiểu học ở thành phố Hồ Chí Minh
14 Hệ thống trường, lớp, giáo viên trung học cơ sở ở thành phố Hồ Chí Minh
15 Hệ thống trường, lớp, giáo viên trung học phổ thông ở thành phố Hồ Chí Minh
16 Hệ thống đào tạo chuyên nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2005- 2011
17 Xu hướng nhu cầu nhân lực theo trình độ chuyên môn 2011 - 2015
18 Xu hướng nhu cầu nhân lực theo ngành nghề ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn
2012 - 2015
19 Xu hướng nhu cầu nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2012 - 2015
20 Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động thành phố Hồ Chí Minh 2012
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Một nền kinh tế muốn phát triển cần có các nguồn lực: Vốn, khoa học - công nghệ, tài nguyên và nguồn nhân lực; muốn tăng trưởng nhanh và bền vững cần dựa vào ba yếu tố cơ bản là áp dụng công nghệ mới, phát triển kết cấu hạ tầng hiện đại và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
Sự phát triển kinh tế - xã hội phụ thuộc vào nhiều yếu tố, nhiều điều kiện, nhưng chủ yếu nhất vẫn là phụ thuộc vào yếu tố con người, nếu so sánh các nguồn lực với nhau thì nguồn nhân lực có ưu thế hơn cả Do vậy, hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực luôn chiếm vị trí trung tâm và đóng vai trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
Việc khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực là vấn đề hết sức quan trọng, nguồn nhân lực cần phát huy tính đa dạng, phong phú về truyền thống văn hóa phương Đông như: hiếu học, trọng nhân tài, trọng tri thức, khoa học…Tuy nhiên cho đến nay, những tiềm năng quan trọng này vẫn chưa được chú ý khai thác đầy đủ, đúng mức và có thể sử dụng chưa hiệu quả về nguồn nhân lực
Ngày nay, khi thế giới bước vào nền kinh tế tri thức thì vấn đề nhân tài đang thực
sự là vấn đề cấp thiết, vì nhân tài là hạt nhân của nền kinh tế tri thức Tuy rằng, nhân tài thời nào cũng quý cũng quan trọng nhưng ngày nay lại càng quan trọng hơn Muốn
đi tắt, đón đầu trong phát triển thì phải có nguồn nhân lực tiên tiến, không để lãng quên nhân tài và không để lãng phí nguồn nhân lực Do vậy, các quốc gia cần phải chủ động quy hoạch, tạo nguồn, đào tạo và bồi dưỡng để nguồn nhân lực phát huy đạt hiệu quả cao nhất
Để đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - văn hoá - xã hội trong tình hình mới, Đảng và Nhà nước ta đã đặt ra những yêu cầu cơ bản trước mắt và lâu dài trong việc
sử dụng nguồn nhân lực có hiệu quả nhất, khai thác tiềm năng trí tuệ, phát huy những yếu tố tinh thần gắn với truyền thống văn hóa dân tộc Xây dựng mối quan hệ gắn bó chặt chẽ giữa khai thác, sử dụng với việc đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao nguồn nhân
Trang 10lực; coi chất lượng nguồn nhân lực là một tiền đề cơ bản để nâng cao hiệu quả kinh tế
- xã hội của đất nước
Các Nghị quyết của Đảng và chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước
đã đặt con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, con người và nguồn nhân lực là những nhân tố quan trọng hàng đầu, quyết định sự phát triển nhanh, hiệu quả và bền vững của đất nước Con người Việt Nam có trình độ công nghệ tiên tiến hướng tới nền kinh tế tri thức với hàm lượng chất xám (trí lực) cao và hiệu quả là tiền đề quan trọng để Việt Nam trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
Chiến lược phát triển nguồn nhân lực đã trở thành một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mỗi tổ chức, doanh nghiệp và mỗi quốc gia trên thế giới Nhiều quốc gia đã đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển và đề ra các chiến lược phát triển nguồn nhân lực nhằm phục vụ tốt các yêu cầu phát triển trước mắt và lâu dài của mình
Trong những thập kỷ gần đây, một số nước trong khu vực đã có những bước phát triển quan trọng, thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu về “Sự thần kỳ Đông Á” đều nhấn mạnh tới vai trò của
nguồn nhân lực - vì nó có ý nghĩa to lớn quyết định trong việc đưa các nước này từ
chỗ kém phát triển, nghèo khổ, khan hiếm về tài nguyên và kiệt quệ sau chiến tranh đã trở thành những nước công nghiệp mới, tạo ra sự tăng trưởng kinh tế cao và bền vững, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới
Chất lượng nguồn nhân lực hoặc nguồn nhân lực chất lượng cao là nguồn nhân lực với những con người lao động có tri thức tốt, có kỹ năng cao và có tính nhân văn sâu sắc Kinh nghiệm cho thấy, sự cất cánh và phát triển thành công của một nước là gắn chặt với chính sách và chiến lược phát triển nguồn nhân lực Có thể nói toàn bộ bí quyết thành công của một quốc gia xét cho cùng, đều nằm trong chiến lược đào tạo và phát triển con người
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và định hướng phát triển kinh tế
- xã hội từ nay đến năm 2020 của thành phố, tôi đã chọn đề tài: “Phát triển nguồn
Trang 11nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chi Minh
từ nay đến năm 2020 ” để nghiên cứu và xây dựng đề tài này; mục đích của đề tài là:
Thứ nhất, góp phần phân tích đánh giá tính khách quan, những khó khăn, thuận
lợi và vai trò của nguồn nhân lực đối với sự phát triển của thành phố
Thứ hai, phân tích những bài học kinh nghiệm trong chính sách đào tạo nguồn
nhân lực của thành phố nhằm đáp ứng yêu cầu nguồn nhân lực cho các doanh nghệp
Thứ ba, trên cơ sở đó, tìm hiểu thực trạng, đề xuất một số chính sách thu hút và
đào tạo nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020
2 Mục đích nghiên cứu Đề tài
Thành phố Hồ Chí Minh là một thành phố lớn ở Việt Nam thuộc khu vực Đông Nam Bộ có dân số đông, kinh tế phát triển mạnh so với các thành phố trong khu vực
và cả nước, việc phát triển kinh tế - xã hội đã được cấp ủy, chính quyền của thành phố đặc biệt quan tâm và đặt lên hàng đầu, đã có những biện pháp tích cực để khơi dậy những tiềm năng nhằm phát huy thế mạnh của thành phố đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao đời sống người dân trong thành phố
Trên cơ sở chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, thành phố đã quy hoạch các vùng đất để thành lập các khu công nghiệp với những chính sách hấp dẫn để thu hút các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài đến sản xuất - kinh doanh, phát triển kinh tế, làm phong phú và đa dạng những hàng hóa được sản xuất có thương hiệu đẩy mạnh xuất khẩu, tăng thu ngoại tệ, tăng việc làm, giảm thất nghiệp, tăng thu nhập, cải thiện đời sống của người lao động
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nguồn nhân và phát triển nguồn nhân lực ở
thành phố Hồ Chí Minh, dưới góc độ kinh tế chính trị Đối tượng nghiên cứu được đặt trong mối quan hệ với sự phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh CNH, HĐH ở thành phố
Hồ Chí Minh và xu thế toàn cầu hóa kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển
kinh tế tri thức Phạm vi nghiên cứu của luận văn: Đề tài được nghiên cứu ở địa bàn
thành phố Hồ Chí Minh, cụ thể là các đơn vị, các trường đại học, các trường dạy nghề,
các doanh nghiệp, các tổ chức nghiên cứu, ứng dụng và phát triển nhân lực Thời gian
Trang 12nghiên cứu của luận văn: phân tích, đánh giá thực trạng đối tượng nghiên cứu năm
2011 và định hướng phát triển đến năm 2020
4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài của Luận văn thuộc chuyên ngành Kinh tế chính trị nên phương pháp sử dụng sử dụng chủ yếu là phương pháp duy vật biện chứng của Chủ nghĩa Mác-Lênin; Bên cạnh đó, trong quá trình nghiên cứu tác giả còn sử dụng các phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp nội suy, thu thập số liệu, những thông tin thực tế đã và đang diễn ra tại thành phố Hồ Chí Minh để xây dựng Luận văn Mặt khác, trên cơ sở những kiến thức đã học, những kinh nghiệm trong quá trình công tác của bản thân để đề xuất những giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thành mục tiêu nghiên cứu
5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Đề tài
Việc nghiên cứu và thực hiện đề tài “Phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu
công nghiêp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020” là
việc làm cần thiết và có ý nghĩa quan trọng, giúp cho các cấp chính quyền của tỉnh có những thông tin cần thiết để xây dựng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh; ý nghĩa khoa học và tính thực tiễn của đề tài thể hiện qua các nội dung sau đây:
Một là, hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về hoạch định chiến lược đào
tạo nguồn nhân lực ở Việt Nam nói chung và nguồn nhân lực cho thành phố Hồ Chí Minh Nói riêng
Hai là, bằng các số liệu chứng minh, luận văn phân tích và làm sáng tỏ hiện trạng
việc đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực tại các doanh nghiệp ở thành phố Hồ Chí Minh; từ đó, rút ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho việc hoạch định chiến lược đào tạo nguồn nhân lực cho ở thành phố
Ba là, vạch ra chiến lược phát triển, dự báo nhu cầu nguồn nhân lực cho các
doanh nghiệp đến năm 2020, xây dựng chiến lược đào tạo và giải pháp cơ bản để đạt được mục tiêu tạo nguồn nhân lực cho thành phố
Trang 13Bốn là, với các số liệu chứng minh về nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh
sẽ giúp cho các cấp chính quyền, các cơ quan, ban ngành của thành phố nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước trên địa bàn thành phố nhằm xây dựng chính sách phù hợp để xây dựng chiến lược tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của thành phố nói chung và các doanh nghiệp nói riêng
Ngoài ra, đề tài còn chỉ ra những kết quả đạt được những hạn chế và những nguyên nhân đào tạo, quản lý, sử dụng nguồn nhân lực và thông qua đó đề xuất những giải pháp để thu hút, đào tạo, sử dụng nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp giai đoạn đến năm 2020 ngày càng tốt hơn
6 Những điểm mới của Luận văn
Luận văn được nghiên cứu độc lập, những nội dung của Đề tài hoàn toàn mới; với kết quả nghiên cứu sẽ góp phần nâng cao nhận thức về nguồn nhân lực và giúp cho các nhà quản lý của thành phố xem xét khi quyết định chiến lược phát triển nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội nói chung và phát triển nguồn nhân lực cho các doanh nghiệp nói riêng trong giai đoạn từ nay tới năm 2020
7 Kết cấu của Luận văn
- Ngoài mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, về nội dung luận văn gồm 3 giai đoạn kết cấu như sau:
Chương 1: Cơ sở lý luận cơ bản về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Chương 2: Thực trạng nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2001 - 2013
Chương 3: Định hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực ở thành phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2020
Trang 14CHƯƠNG 1
CƠ SƠ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC VÀ PHÁT TRIỂN
NGUỒN NHÂN LỰCTRONG QUÁ TRÌNH CNH, HĐH
1.1 CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN
1.1.1 Khái niệm nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực là một trong những vấn đề cốt lõi của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội ở mỗi quốc gia Đặc biệt, trong thời đại ngày nay, đối với các nước đang phát triển giải quyết vấn đề này đang là yêu cầu được đặt
ra hết sức bức xúc, nó vừa mang tính thời sự, vừa mang tính chiến lược xuyên suốt trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của mỗi nước
Nguồn nhân lực là một mục tiêu quan trọng trong chiến lược phát triển con người Đứng về phương diện xã hội thì toàn bộ chiến lược phát triển con người cuối cùng cũng trở thành nguồn nhân lực
Ở đây, con người xuất hiện với tư cách là động lực của sự phát triển kinh tế - xã hội: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người làm yếu tố cơ bản chỉ đạo toàn bộ sự phát triển đất nước” (Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VIII, 1997) Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX, Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia, năm 2001 thì lấy con người và nguồn nhân lực là một trong ba khâu đột phá đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước: “Phát triển Giáo dục và Đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa là điều kiện để phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội; tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”
Trang 15Nếu xét theo nghĩa rộng, toàn bộ tổng thể nền kinh tế được coi là một nguồn lực thì nguồn lực con người (Human Resources) là một bộ phận của các nguồn lực trong nền sản xuất xã hội Chẳng hạn nguồn lực vật chất (Physical Resources), nguồn lực tài chính (Financial Resources)…
* Theo quan điểm của tổ chức Liên Hiệp Quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành nghề, kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống, sức khỏe con người hiện có, thực
tế hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế xã hội trong một cộng đồng
* Đại từ điển kinh tế thị trường, nguồn nhân lực là nhân khẩu có năng lực lao động tất yếu, thích ứng được với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội Nhân lực là chỉ tổng nhân khẩu xã hội, là nguồn tài nguyên Tài nguyên nhân lực là tiền đề vật chất của tái sản xuất
xã hội Tài nguyên nhân lực vừa là động lực vừa là chủ thể của sự phát triển, có tính năng động trong tái sản xuất xã hội Chính vì lẽ đó khi phân tích về nguồn tài nguyên nhân lực, phải xem xét nó trong mối quan hệ với tốc độ tăng dân số, sự phát triển của giáo dục đào tạo, nâng cao phẩm chất của người dân, và những điều kiện vật chất cần thiết đảm bảo tái sản xuất sức lao động, tái sản xuất nguồn lực cho xã hội (Nguyễn Hữu Quỳnh, 1998)
Có ý kiến cho rằng: nguồn lao động bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động Như vậy, nguồn nhân lực rộng hơn nguồn lao động; bởi nguồn nhân lực bao gồm cả những người ngoài tuổi lao động thực tế có tham gia lao động Tuy nhiên, “Ở chừng mực nào đó, có thể coi nguồn lao động hay nguồn nhân lực, đồng nhất về số lượng, cả hai cùng bao gồm những người trong độ tuổi lao động,
có khả năng lao động, cũng như cả người ngoài tuổi lao động có nhu cầu và khả năng tham gia lao động” (Phạm Thành Nghị, 2004)
Nguồn nhân lực là tổng hợp tiềm năng lao động của con người trong một quốc gia, một vùng, một khu vực, một địa phương trong một thời điểm cụ thể nhất định Tiềm năng của nguồn nhân lực bao gồm thể lực, trí lực và tâm lực (đạo đức, lối sống, nhân cách và truyền thống, lịch sử, văn hóa, dân tộc) của bộ phận dân số có thể tham gia vào các hoạt động kinh tế xã hội “Chúng tôi hiểu sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong
Trang 16một con người đang sống, và được người đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một
giá trị sử dụng nào đó” (Các Mác,1988)
Đề cao vai trò của yếu tố con người cũng là nét nổi bật trong tư tưởng kinh tế của Karl Marx với tư tưởng chủ đạo: chỉ có lao động mới tạo ta giá trị nguồn gốc duy nhất của mọi của cải trong xã hội Tư tưởng này có ý nghĩa quan trọng; nó cho thấy tiến bộ
kỹ thuật không hề làm giảm ý nghĩa của yếu tố con người mà ngược lại, cùng với quá trình áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất con người cùng với tiềm năng trí tuệ có vai trò ngày càng quan trọng
* Theo quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”, đó là “người lao động có trí tuệ cao, tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một nền khoa học hiện đại” (ĐCS Việt Nam, 1997)
Ngoài ra, một số tác giả khác khi nghiên cứu các đề tài về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực Việt Nam cũng đã đưa ra những quan điểm khác nhau về nguồn nhân lực; theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu một cách ngắn gọn
là nguồn lực con người Điều đó, cũng có nghĩa là khái niệm nguồn nhân lực cần tập trung phản ánh những vấn đề sau đây :
Một là, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người - yếu tố quyết
định sự phát triển của xã hội; hai là, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng,
trong đó mặt chất lượng thể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và
sự kết hợp giữa các yếu tố đó; ba là, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển
nguồn nhân lực nhất thiết phải gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại
Từ sự phân tích trên theo tôi, khái niệm nguồn nhân lực nên được hiểu đầy đủ như sau:
Theo nghĩa rộng thì nguồn nhân lực bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên
thực tế đang làm việc (gồm những người trong độ tuổi lao động và những người trên
độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong gia đình), cộng với
Trang 17nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trong các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…)
Điều đó có nghĩa là, số lượng và chất lượng nguồn nhân lực được nghiên cứu trên các khía cạnh quy mô, tốc độ tăng nguồn nhân lực, sự phân bố theo vùng, khu vực và
lãnh thổ; trong đó, trí lực thể hiện ở trình độ dân trí, trình độ chuyên môn, là yếu tố trí
tuệ, tinh thần, là cái nói lên tiềm lực sáng tạo ra các giá trị vật chất, văn hóa, tinh thần của con người, vì thế nó đóng vai trò quyết định trong sự phát triển nguồn nhân lực
Sau trí lực là thể lực hay thể chất, bao gồm không chỉ sức khỏe cơ bắp mà còn là
sự dẻo dai của hoạt động thần kinh, bắp thịt, là sức mạnh của niềm tin và ý trí, là khả năng vận động của trí lực Thể lực là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện tất yếu để chuyển tải tri thức vào hoạt động thực tiễn, để biến tri thức vào sức mạnh vật chất Do đó, sức mạnh trí tuệ chỉ có thể phát huy được lợi thế khi thể lực con người được phát triển
Ngoài ra, nói đến nguồn nhân lực cần xét đến các yếu tố nhân cách, thẩm mỹ, quan điểm sống Đó là, sự thể hiện nét văn hóa của người lao động, được kết tinh từ một loạt các giá trị: Đạo đức, tác phong, tính tự chủ và năng động, kỷ luật và tinh thần trách nhiệm trong công việc khả năng hợp tác, làm việc theo nhóm, khả năng hội nhập với môi trường đa văn hóa, đa sắc tộc và các tri thức khác về giá trị của cuộc sống Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Có đức mà không có tài, làm việc gì cũng khó; nhưng có tài mà không có đức là người vô dụng”; bởi vậy, sẽ không đầy đủ khi nói đến nguồn nhân lực mà không đề cập đến sự phối hợp hài hòa giữa ba yếu tố trí lực, thể lực và nhân cách thẩm mỹ, vì nó là điều kiện tạo nên sức mạnh trong mỗi con người, trong cộng đồng và cũng là để hướng cho người lao động phát triển toàn diện
1.1.2 Khái niệm phát triển nguồn nhân lực
Từ khái niệm về nguồn nhân lực, chúng ta có thể hiểu về phát triển nguồn nhân lực là gia tăng giá trị cho con người trên các mặt đạo đức, trí tuệ, kỹ năng lao động, thể lực, tâm hồn… Để họ có thể tham gia vào lực lượng lao động, thực hiện tốt quá trình sản xuất và tái sản xuất tạo ra nhiều sản phẩm, góp phần làm giàu cho đất nước làm giàu cho xã hội
Trang 18Phát triển nguồn nhân lực được xem xét trên hai mặt chất và lượng Về chất phát triển nguồn nhân lực phải được tiến hành trên cả ba mặt: phát triển nhân cách, phát triển trí tuệ, thể lực, kỹ năng và tạo môi trường thuận lợi cho nguồn nhân lực phát triển; về lượng là gia tăng số lượng nguồn nhân lực, điều này tùy thuộc vào nhiều nhân
tố trong đó dân số là nhân tố cơ bản
Bất kỳ quá trình sản xuất nào cũng có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động
và tư liệu lao động Do vậy, phát triển nguồn nhân lực chính là đầu tư vào các các yếu
tố của quá trình sản xuất Cần lưu ý rằng trong tất cả các yếu tố đầu tư thì đầu tư vào con người, đầu tư cho nguồn nhân lực là đầu tư quan trọng nhất Đầu tư cho con người được thể hiện ở nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn: giáo dục tại nhà trường, đào tạo nghề nghiệp tại chỗ, chăm sóc y tế…
Phát triển nguồn nhân lực dưới góc độ của một đất nước là quá trình tạo dựng một lực lượng lao động năng động, thể lực và sức lực tốt, có trình độ lao động cao, có
kỹ năng sử dụng, lao động có hiệu quả Xét ở góc độ cá nhân thì phát triển nguồn nhân lực là việc nâng cao kỹ năng, năng lực hành động và chất lượng cuộc sống nhằm nâng cao năng suất lao động Tổng thể phát triển nguồn nhân lực là các hoạt động nhằm nâng cao thể lực, trí lực của người lao động, đáp ứng tốt hơn nhu cầu sản xuất Trí lực
có được nhờ quá trình đào tạo và tiếp thu kinh nghiệm Thể lực có được nhờ vào chế
độ dinh dưỡng, rèn luyện thân thể và chăm sóc y tế, môi trường làm việc…
1.1.3 Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa
- Khái niệm CNH, HĐH: Là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt
động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý từ sử dụng sức lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến, hiện đại dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội cao
-Mục tiêu CNH, HĐH ở Việt Nam mục tiêu cơ bản: Cải biến thành một nước
công nghiệp có cơ sở vật chất kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, mức sống vật chất
Trang 19và tinh thần cao, quốc phòng-an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh
- Mục tiêu cụ thể: Đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế tri thức để
sớm đưa Việt Nam ra khỏi tình trạng kém phát triển, tạo nền tảng đến năm 2020 đưa Việt Nam cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại Từ nay đến giữa thế kỷ XXI, ra sức phấn đấu xây dựng Việt Nam trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
+ Các quan điểm công nghiệp hóa
Quan điểm đơn gian nhất về công nghiệp hóa cho rằng “công nghiệp hóa là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động; trang bị (cho một vùng, một nước) các nhà máy, các loại công nghiệp ” (Nguyễn Thanh, 2004) Quan niệm này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình lịch sử công nghiệp hóa ở các nước Tây Âu và Bắc Mỹ Năm 1993, Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên Hiệp Quốc (UNIDO) đã đưa
ra định nghĩa sau: “Công nghiệp hóa là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân động viên để phát triển kinh tế, trong quá trình này một bộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân động viên để phát triển kinh tế, trong quá trình này toàn bộ để phát triển chế biến luôn thay đổi để sản xuất ra những tư liệu sản xuất và hàng tiêu dùng, có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế - xã hội” (Nguyễn Thanh, 2004)
Trong điều kiện hiện nay, quan điểm về công nghiệp hóa dù trên góc độ nào cũng cũng không đồng nhất quá trình phát triển công nghiệp Công nghiệp hóa là quá trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao hàm trên các mặt sau đây:
Thứ nhất, công nghiệp hóa là quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ hiện
đại cho tất cả các ngành kinh tế quốc dân, trước hết là các ngành chiếm vị trí trọng yếu Thực hiện công nghiệp hóa trong điều kiện cách mạng khoa học - kỹ thuật ngày nay, quá trình trang bị và trang bị lại công nghệ cho các ngành phải gắn liền với quá trình hiện đại hóa ở các phần cứng và phần mềm của công nghệ Quá trình này đồng thời là quá trình xây dựng xã hội văn minh công nghiệp và cải biến các ngành kinh tế, làm cho nhịp độ tăng trưởng kinh tế - xã hội nhanh ổn định, cải thiện đời sống vật chất
Trang 20và tinh thần của các tầng lớp dân cư, thu hẹp dần chênh lệch trình độ kinh tế - xã hội của các nước đó với các nước phát triển
Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa không chỉ liên quan đến phát triển công
nghiệp mà là quá trình bao trùm tất cả các ngành, các lĩnh vực hoạt động đất nước Đó
là tất yếu vì nền kinh tế của mỗi nước là một hệ thống thống nhất, các ngành, các lĩnh vực hoạt động có quan hệ tương đối với nhau Sự thay đổi kinh tế, lĩnh vực hoạt động này sẽ kéo theo sự thay đổi thích ứng của các ngành, lĩnh vực khác
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở các nước đang phát triển trong quá trình công nghiệp hóa, diễn ra theo xu hướng sau:
- Nông nghiệp trong giai đoạn đầu giữ vững vị trí hàng đầu, là hoạt động kinh tế
cơ bản của người dân, tạo ra những hàng hóa tiêu dùng thiết yếu cho người dân và bảo đảm một số điều kiện quan trọng cho phát triển nông nghiệp
- Công nghiệp trong nhận thức được coi là ngành quan trọng, nhưng trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở các nước đang phát triển chỉ có lực lượng công nhiệp nhỏ bé sản tiêu dùng đơn giản và khai thác các sản phẩm thô từ tài nguyên thiên nhiên
- Các hoạt động dịch vụ sản xuất và dịch vụ đời sống là điều kiện để phát triển kinh tế và cải thiện đời sống dân cư Không thề có quá trình công nghiệp hóa nhanh bằng hệ thống dịch vụ, đặc biệt là hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế lạc hậu được
Như vậy, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các nước trong quá trình công nghiệp hóa sẽ trải qua hai giai đoạn: từ cơ cấu nông nghiệp - công nghiệp - dịch vụ - chuyển sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ
Thứ ba, quá trình công nghiệp hóa trong bất kỳ giai đoạn nào cũng đều vừa là
quá trình kinh tế - kỹ thuật, vừa là quá trình kinh tế xã hội Việc thực hiện có kết quả quá trình công nghiệp hóa sẽ thủ tiêu tình trạng lạc hậu về kỹ thuât, thấp kém về kinh
tế, đưa đất nước thoát khỏi “vòng luẩn quẩn” Ngoài ra nó còn thủ tiêu tình trạng lạc hậu về xã hội, nâng cao trình độ dân trí, nâng cao mức sống của dân cư, đưa xã hội đến trình độ văn minh công nghiệp
Trang 21Thứ tư, quá trình công nghiệp hóa cũng đồng thời là quá trình mở rộng quan hệ
kinh tế quốc tế, phân công lao động quốc tế và quốc tế hóa đời sống kinh tế trở thành
xu thế phát triển mạnh mẽ Mỗi quốc gia cần phải xây dựng hệ thống kinh tế mở, tăng cường quan hệ thương mại quốc tế, tham gia tích cực vào quá trình cạnh tranh và liên kết kinh tế quốc tế
Thứ năm, công nghiệp hóa không phải là mục đích tự thân mà là phương thức
có tính phổ biến để thực hiện mục tiêu của mỗi quốc gia Đó là xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hiện đại, khai thác có hiệu quả nguồn lực của đất nước, đảm bảo nhịp độ phát triển kinh tế xã hội nhanh và ổn định, cải thiện đời sống vật chất tinh thần cùa người dân
+ Các quan điểm hiện đại hóa
Thứ nhất, hiện đại hóa là một quá trình, một xu hướng khách quan, đã và đang
diễn ra hầu hết các nước trên thế giới
Thứ hai, lý luận hiện đại hóa đã ra đời với tư cách là lý luận về con đường phát
triển của các xã hội truyền thống (“thế giới thứ ba”, “các nước đang phát triển”)
Thứ ba, bản thân thuật ngữ “hiện đại” có rất nhiều nghĩa khác nhau, do vậy, mục
đích của hiện đại hóa cũng được hiểu rất khác nhau, thì lý luận, các chiến lược hiện đại hóa cũng rất khác nhau
Các lý luận hiện đại hóa là lý luận trên cơ sở thay thế tính đồng nhất bằng tính hiện đại của xã hội Các lý luận hiện đại hóa không phải là phương thức duy nhất để
lý giải những chuyển biến của xã hội
Khái niệm hiện đại hóa được nói ở đây là toàn bộ các quá trình, các dạng cải
biến, các bước quá độ kinh tế, xã hội khác nhau đang tồn tại lên trình độ mới, cao hơn, đựa trên những thành tựu của khoa học kỹ thuật nhằm phục vụ tốt hơn cho sự phát triển toàn diện của con người và tiến bộ xã hội Quan niệm hiện đại hóa xã hội như vậy không những chỉ ra khả năng mới của các quốc gia trong thời đại cách mạng khoa học
- kỹ thật có thể xuất phát từ các trình độ kinh tế xã hội khác nhau, dù là rất thấp, tận dụng điều kiện quốc tế mới và các thành quả của cách mạng khoa học - kỹ thuật để
“tiến thẳng” lên trình độ xã hội cao mà các nước phát triển cao khác đang hướng đến,
Trang 22thông qua những bước trung gian ngắn với thời gian một vài thế hệ có thể đuổi kịp các quốc gia “hiện đại”
1.2 VAI TRÒ CỦA NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.2.1 Vai trò của nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Một quốc gia muốn phát triển thì cần phải có các nguồn lực của sự phát triển kinh tế như: tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học - công nghệ, con người … Trong các nguồn lực đó thì nguồn lực con người là quan trọng nhất, có tính chất quyết định trong sự tăng trưởng và phát triển kinh tế của mọi quốc gia từ trước đến nay Một nước cho dù có tài nguyên thiên nhiên phong phú, máy móc kỹ thuật hiện đại nhưng không
có những con người có trình độ, có đủ khả năng khai thác các nguồn lực đó thì khó có khả năng có thể đạt được sự phát triển như mong muốn
Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và ngày nay trong công cuộc hội nhập và phát triển nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, Đảng ta luôn xác định: Nguồn lao động dồi dào, con người Việt Nam
có truyền thông yêu nước, cần cù, sáng tạo, có nền tảng văn hoá, giáo dục, có khả năng nắm bắt nhanh khoa học và công nghệ là nguồn lực quan trọng nhất - nguồn năng lực nội sinh Con người được coi là một '' tài nguyên đặc biệt '', một nguồn lực của sự phát triển kinh tế Bởi vậy việc phát triển con người, phát triển Nguồn nhân lực trở thành vấn đề chiếm vị trí trung tâm trong hệ thống phát triển các nguồn lực Chăm lo đầy đủ đến con người là yếu tố bảo đảm chắc chắn nhất cho sự phồn vinh, thịnh vượng của mọi quốc gia Đầu tư cho con người là đầu tư có tính chiến lược , là cơ sở chắc chắn nhất cho sự phát triển bền vững
Có quan điểm cho rằng: Phát triển nguồn nhân lực: là gia tăng giá trị cho con người, cả giá trị vật chất và tinh thần, cả trí tuệ lẫn tâm hồn cũng như kỹ năng nghề nghiệp, làm cho con người trở thành người lao động có những năng lực và phẩm chất mới, cao hơn, đáp ứng được những yêu cầu to lớn và ngày càng tăng của sự phát triển kinh tế - xã hội
Trang 23Ngày nay, trước sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ thông tin, sự giao lưu trí tuệ và tư tưởng liên minh kinh tế giữa các khu vực trên thế giới Sự ra đời của nhiều công ty xuyên quốc gia đã tạo ra tốc độ tăng trưởng chưa từng thấy Trước tình hình đó đã dẫn đến sự quốc tế hóa kinh tế thế giới, gây nên những đảo lộn về chính trị xã hội sâu sắc mang tính toàn cầu hóa và đang đi đến thiết lập một trật tự thế giới mới Trong bối cảnh đó khu vực châu Á - Thái Bình Dương dang nổi lên là khu vực kinh tế năng động nhất Một trong những yếu tố chủ chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế nhanh chóng là vai trò của nguồn nhân lực Việc áp dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật - công nghệ vào trong sản xuất cần phải có nguồn nhân lực phát triển Do vậy muốn phát triển nguồn nhân lực về mặt chất lượng cần phải quan tâm đầu tư cho giáo dục và đào tạo
Nhà kinh tế học người Mỹ: Ông Garry Backer người được giải Nobel về kinh tế năm 1992, đã khẳng định: “Không có đầu tư nào mang lại nguồn lợi lớn như đầu tư cho giáo dục” Nhờ có sự đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực mà nhiều nước chỉ trong một thời gian ngắn đã nhanh chóng trở thành nước công nghiệp phát triển
Việt Nam là nước đang phát triển, đang từng bước thực hiện quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, do vậy phải bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người Với tư cách là mục tiêu và động lực phát triển, con người có vai trò to lớn không những trong đời sống kinh tế mà còn trong lĩnh vực hoạt động khác Bởi vậy, phải quan tâm, nâng cao chất lượng con người, không chỉ với tư cách là người lao động sản xuất, mà với tư cách là công dân trong xã hội, một cá nhân trong tập thể, một thành viên trong cộng đồng nhân loại không thể thực hiện được công nghiệp hóa, hiện đại hóa nếu không có đội ngũ đông đảo những công nhân lành nghề, những nhà khoa học kỹ thuật tài năng, giỏi chuyên môn nghiệp vụ, những nhà doanh nghiệp tháo vát, những nhà lãnh đạo, quản lý tận tụy biết nhìn xa trông rộng
1.2.2 Vai trò của nguồn nhân lực đối với quá trình phát triển kinh tế - xã hội
Phát triển kinh tế không chỉ là sự tăng lên về số lượng, chủng loại và chất lượng sản phẩm mà còn làm thay đổi cả cơ cấu kinh tế Dưới góc độ đó, những nhân tố liên quan đến phát triển kinh tế có những đặc điểm riêng của nó Nhân tố đóng vai trò quan
Trang 24trọng đối với phát triển kinh tế trước hết đó là phát triển lực lượng sản xuất trong đó nhân tố cốt lõi là nguồn lao động V.I Lênin cho rằng: “Lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại là người công nhân, là người lao động” (Lênin toàn tập, 1899) Như vậy nguồn lực con người không chỉ có ý nghĩa đối với tăng trưởng kinh tế
mà còn đóng vai trò quyết định đối với phát triển kinh tế Nguồn lực con người không chỉ có ý nghĩa trong việc kết hợp các yếu tố tự nhiên, mà còn cải tạo tự nhiên để tạo ra của cải có ích cho con người và xã hội Chính vì vậy sự phát triển của một quốc gia về kinh tế, chính trị, xã hội đều do con người và lấy con người là nhân tố trung tâm của
sự phát triển nhanh và bền vững
Nhân tố thứ hai liên quan đến phát triển kinh tế là quan hệ sản xuất Như chúng
ta biết quan hệ sản xuất là quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất thể hiện tính chất tốt xấu về mặt xã hội của những quá trình sản xuất đó Quan hệ sản xuất được thể hiện trên ba nội dung quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất, quan hệ về tổ chức quá trình sản xuất xã hội hay trao đổi kết quả lao động cho nhau và quan hệ phân phối sản phẩm Trong ba mặt của quan hệ sản xuất thì quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất là quan trọng nhất; sở dĩ như vậy vì khi tư liệu sản xuất nằm trong tay ai thì người đó trực tiếp tổ chức quá trình sản xuất và người đó trực tiếp chi phối sản phẩm
Hơn thế, nguồn lực con người không chỉ là nhân tố quyết định về phát triển kinh
tế mà còn quyết định cả về mặt xã hội Như chúng ta đều biết tổng thể các mặt của quan hệ sản xuất hợp thành cơ sở hạ tầng của một hình thái kinh tế - xã hội, nó quyết định mối quan hệ giữa người và người Do vậy nguồn lực con người, chất lượng nguồn nhân lực càng cao thì ý thức xã hội càng phát triển, càng làm cho quan hệ giữa người với người càng tốt hơn thúc đẩy sự phát triển nhanh của xã hội
Nhân tố thứ ba quyết định sự phát triển kinh tế, phát triển xã hội thuộc về kiến trúc thượng tầng Kiến trúc thượng tầng có tác động đến sự phát triển kinh tế Kiến trúc thượng tầng bao gồm nhiều bộ phận cấu thành, mỗi một bộ phận có sự tác động nhất định đến sự phát triển kinh tế Các yếu tố thuộc về tư tưởng đạo đức có tác động gián tiếp đến phát triển kinh tế còn các nhân tố khác như thể chế, thiết chế, thể chế
Trang 25chính trị, pháp luật lại có tác động trực tiếp thúc đẩy kinh tế, khi các chính sách kinh
tế phù hợp và ngược lại
Cũng cần lưu ý rằng sự tác động của kiến trúc thượng tầng đến sự phát triển kinh
tế theo các chiều hướng khác nhau: sự tác động đó nếu phù hợp với sự phát triển lực lượng sản xuất sẽ thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, phát huy nội lực nền kinh tế phát triển nhanh và ngược lại Trong thực tiễn xây dựng và phát triển kinh tế cho ta thấy rõ các chính sách kinh tế khi phù hợp sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng nhanh và ngược lại
1.3 NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.3.1 Dân số, giáo dục - đào tạo
Như chúng ta đều biết bất kỳ một quá trình sản xuất xã hội nào cũng cần có 3 yếu tố: sức lao động, đối tượng lao động và tư liệu lao động; trong đó sức lao động là yếu
tố chủ thể của quá trình sản xuất; nó không chỉ làm “sống lại” các yếu tố của quá trình sản xuất mà còn có khả năng sáng tạo ra các yếu tố của quá trình sản xuất Điều đó chứng tỏ vai trò của nguồn nhân lực có ý nghĩa cực kỳ quan trọng Trong các nguồn nhân lực sẵn có thì chất lượng nguồn nhân lực có ý nghiã đặc biệt quan trọng Như đã phân tích trên để cải biến đối tượng lao động thông qua tư liệu lao động phải sử dụng lao động chân tay, song để sáng tạo ra các đối tượng lao động và tư liệu lao động mới tất yếu cần đến đội ngũ lao động trí óc
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực trước hết phải kể đến là sức khỏe của nguồn nhân lực Đây là một yêu cầu tất yếu, tiên quyết và không thể thiếu Bởi sức khỏe là nhân tố quyết định để duy trì sự tồn tại, là cơ sở cốt yếu để tiếp nhận, duy trì và phát triển trí tuệ Hơn thế, chỉ có sức khỏe mới là cơ sở cho giáo dục đào tạo tốt hơn, mới hình thành được nguồn nhân lực có sức khỏe tốt không chỉ về thể trạng mà cả nội dung bên trong của nó nguồn nhân lực có chất lượng cao
Ngày nay với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học công nghệ thì vai trò của đội ngũ trí thức, lao động chất xám ngày càng tăng và càng có ý nghĩa quyết định Điều này đã được Karl Marx dự báo khoa học về vai trò của lao động trí
Trang 26tuệ: đến một trình độ nào đó, tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp Sự tiên đoán của Karl Marx đã trở thành hiện thực trong điều kiện ngày nay khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Trí tuệ - lao động trí tuệ là nhân tố quan trọng hàng đầu đội ngũ nguồn nhân lực trong điều kiện phát triển kinh tế xã hội ngày nay Trí tuệ của nguồn nhân lực được thể hiện thông qua tri thức Tuy nhiên, tri thức chỉ thực sự trở thành nguồn lực khi nó được con người tiếp thu, làm chủ và sử dụng chúng Hơn nữa dù máy móc công nghệ hiện đại đến đâu mà không có phẩm chất và năng lực cao, có tri thức khoa học thì không thể vận hành để làm “sống lại” nó chứ chưa nói đến việc phát huy tác dụng của
nó thông qua hoạt động của con người
Việc phân tích nhân tố trên đây cho thấy vai trò của nguồn nhân lực nói chung đặc biệt là nguồn lao động chất xám lao động trí tuệ là hết sức cần thiết, nhân tố đóng vai trò quyết định đối với nguồn nhân lực của xã hội, đánh dấu bước phát triển của một
xã hội nhất định trong điều kiện quốc tế hóa, toàn cầu hóa hiện nay Để có được nguồn nhân lực có chất lượng cao không có cách nào khác hơn đó là sự tác động sự quyết định của giáo dục đào tạo Sự nghiệp giáo dục đào tạo góp phần quan trọng nhất tạo nên sự chuyển biến căn bản về chất lượng của nguồn nhân lực
Phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam là luôn tu dưỡng học tập nâng cao trình độ; trong đó hiếu học là không thể thiếu được: “Hiếu học, trọng học là một truyền thống quan trọng của người Việt Nam 99,12% số người được hỏi bày tỏ lòng mong muốn con cái mình được học hành, 78,13% mong muốn con cái họ có trình độ đại học và trên đại học…” (Phạm Minh Hạc, 1996) Gắn liền với truyền thống hiếu học, trọng học là vấn
đề tôn sư trọng đạo Đây là giá trị truyền thống đang chi phối giá trị cuộc sống của con người Việt Nam hiện nay
Trong các quan hệ cộng đồng thì gia đình là tế bào của xã hội Đối với con người Việt Nam hiện đại, cuộc sống gia đình hòa thuận theo quan niệm truyền thống là nhân
tố quan trọng chi phối tâm thức của họ Đối với một số quy phạm đạo đức truyền thống như đạo hiếu, lối sống thanh bạch, trong sạch, lòng nhân ái, sẵn sàng tương trợ
Trang 27người khác trong những lúc gặp khó khăn hoạn nạn là những nhân tố cần phát huy và
có ý nghĩa nhất định đối với chất lượng nguồn nhân lực
Cũng cần lưu ý rằng, cuộc sống theo cơ chế thị trường thời mở cửa cũng có không ít những tác động làm biến đổi những giá trị truyền thống những nhân tố tác động “Trong cuộc điều tra xã hội học của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm tìm hiểu mục đích của sinh viên cho thấy 92,8% trả lời rằng: phấn đấu để có được địa vị xã hội là mục đích gần với mong muốn của họ nhất Xếp thứ hai trong bảng giá trị là làm giàu (87,2%) Trong khi đó mục đích phấn đấu để thành đạt trong chuyên môn đứng ở vị trí gần cuối bảng (62,8%)” (Phạm Minh Hạc, 1996)
Bên cạnh những tác động của giá trị truyền thống đối với chất lượng nguồn nhân lực cũng có những tác động ngược chiều đáng suy nghĩ Trước hết, đó là thực trạng thái độ thờ ơ, thiếu quan tâm, chưa thấy được sự kế thừa cần thiết với những di sản văn hóa dân tộc, công trình văn hóa, di tích lịch sử, các loại hình nghệ thuật truyền thống, số người ham thích, yêu mến rất khiêm tốn… Tác động đó cũng ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam trong kinh tế thị trường Chất lượng nguồn nhân lực, được phân tích làm sáng tỏ trên các mặt cơ cấu nguồn nhân lực hiện có, trình độ học vấn, số năm đi học bình quân Tình trạng thể lực nguồn nhân lực về tình trạng sức khỏe, trọng lượng, chiều cao, tình trạng bệnh tật… Chất lượng nguồn nhân lực gắn với nghề nghiệp chuyên môn nhất định Như vậy, “có thể phân loại tất cả lực lượng lao động ra 5 loại: lao động tri thức, lao động quản lý, lao động dữ liệu, lao động cung cấp dịch vụ và lao động sản xuất hàng hóa Nồng độ tri thức, trí tuệ cao hay thấp trong sản phẩm lao động phụ thuộc chủ yếu vào đóng góp
của lực lượng lao động tri thức” (Phạm Thành Nghị, 2004)
Trình độ trí lực và kỹ năng của nguồn nhân lực, trình độ học vấn của dân số trong độ tuổi lao động, số năm học văn hóa phổ thông, số năm đào tạo nghề Trình độ văn hoá tốt nghiệp trung học cơ sở, trung học phổ thông, trình độ chuyên môn nghề nghiệp, lao động kỹ thuật được đào tạo chính qui, phân bổ giữa các vùng Trình độ lao động được đào tạo trung cấp, cao đẳng, đại học, trên đại học Cơ cấu nguồn lao động được đào tạo và sử dụng… Người công nhân có trình độ cao là người lao động theo
Trang 28phương pháp tiên tiến, giỏi nghề chính và biết thêm nghề khác, thâm nhập nhanh để vận hành được máy móc
Về chất lượng nguồn nhân lực, đặc trưng nguồn nhân lực Việt Nam có trình độ học vấn khá, thông minh, cần cù, chịu khó, sáng tạo có khả năng nắm bắt nhanh những thành tựu mới của khoa học công nghệ trên nhiều ngành nhiều lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân, thích ứng với kinh tế thị trường Nguồn nhân lực đã qua đào tạo từ nhiều địa chỉ ở nhiều nước khác nhau trên thế giới Đây là nguồn lực cơ bản cần thiết cho trước mắt và tương lai để tiến hành lao động sản xuất đạt hiệu quả cao
Ở nước ta lao động nông nghiệp chiếm phần lớn trong tổng số lực lượng lao động Do đó trong tiến trình phát triển, cơ cấu lao động phải được chuyển dịch theo hướng tăng lao động công nghiệp, lao động dịch vụ, lao động tri thức theo yêu cầu của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở Việt Nam
Nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực không chỉ là trí tuệ mà còn là sức khỏe Một yêu cầu không thể thiếu để đảm bảo cho chất lượng nguồn nhân lực Sức khỏe là điều kiện tiên quyết để duy trì và phát triển trí tuệ, là phương tiện chủ yếu để chuyển tải tri thức, biến tri thức thành sức mạnh vật chất Sở dĩ như vậy, bởi các bộ phận cấu thành sức lao động đó là sức dốc, sức bắp thịt, sức thần kinh của một con người… Chỉ có sức khỏe tốt, mới có điều kiện để tiếp thu tri thức của nhân loại, mới có khả năng xử lý các thông tin, ứng dụng tri thức của nhân loại vào thực tiễn Truyền thống lịch sử, thói quen, tập quán, văn hóa, đạo đức, lối sống, là những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực Trong những biểu hiện về thái độ của những người hiện đại với những di sản truyền thống thì ý thức tự tôn dân tộc và lòng tự hào về những giá trị truyền thống là yếu tố rất cơ bản, có ý nghĩa xuyên suốt Đây là một trong những tiêu chí quan trọng để nhận ra mức độ ảnh hưởng của truyền thống lên cuộc sống của con người hiện đại
Phần lớn người Việt Nam nói chung và đội ngũ nguồn nhân lực nói riêng truyền thống là niềm tự hào chân chính, thôi thúc suy nghĩ và hành động của họ “Trong bảng điều tra có câu hỏi thăm dò thái độ ứng xử của người được hỏi trong tình huống giả định về nguy cơ độc lập Tổ quốc bị đe dọa, ở những mức độ và hình thức khác nhau
Trang 2997,28% số người trả lời đã biểu thị thái độ trách nhiệm và ý thức tự giác cao trước vận mệnh của Tổ quốc như sẵn sàng tình nguyện nhập ngũ” Tinh thần truyền thống ấy có
ý nghĩa nhất định với tri thức của mỗi người Việt Nam nhất là khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO
1.3.2 Hệ thống các chỉ số ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nhân lực
Có nhiều chỉ số đánh giá chất lượng nguồn nhân lực, song chỉ số quan trọng nhất mà
Tổ chức Liên Hiệp quốc đưa ra là chỉ số phát triển con người (Human Development Index (HDI) để đo lường kết quả và đánh giá thành tựu phát triển con người Đây là một tiêu chí đánh giá sự tiến bộ và phát triển của mỗi quốc gia về con người Chỉ số HDI được xây dựng với ba chỉ tiêu cơ bản là: tuổi thọ bình quân, số năm sống bình quân của mỗi người dân ở một quốc gia từ khi sinh ra đến khi chết (tuổi thọ bình quân) Thành tựu giáo dục, được tính bằng trình độ học vấn của người dân và số năm đi học bình quân của mỗi người dân tính từ tuổi đi học (mặt bằng dân trí) Mức thu nhập bình quân đầu người
Theo đánh giá của Liên hợp quốc, xét về tỷ lệ nhập học và hoàn tất ở các cấp học phổ thông cũng như đào tạo đại học, Việt Nam đã có những tiến bộ lớn về giáo dục Tỷ
lệ người biết chữ là 97% và tỷ lệ nhập học ở cấp trung học cơ sở, trung học phổ thông khá cao, chiếm 88% và 65% của năm 2012
Trong những năm đổi mới, giáo dục - đào tạo cũng đạt được những thành tựu đáng
kể, góp phần nâng cao chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam từ 0,456 vào năm
1990 (xếp thứ 121/174 nước) lên 0,664 vào năm 1999 và tiếp tục tăng lên 0,709 vào năm
2007 (xếp thứ 109/177 nước), 0,728 năm 2011 (xếp thứ 128/187 nước) Đây là bước tiến
bộ đầy ấn tượng, phản ánh những thành tựu to lớn của Việt Nam về tăng trưởng kinh tế và nâng cao mức sống; tuổi thọ bình quân năm 2011 là 73 tuổi Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể cả về tăng trưởng kinh tế và tuổi thọ trung bình HDI được tính toán dựa trên 3 chỉ số thành phần là: thu nhập (GDP bình quân đầu người tính theo ngang giá sức mua), tuổi thọ trung bình và giáo dục (tỷ lệ người lớn biết chữ và tỷ lệ nhập học chung) Việt Nam đạt được những tiến bộ mạnh mẽ về GDI, phản ánh những thành tựu chung về bình đẳng giới ở cấp quốc gia GDI đã tăng 12%, từ 0,650 năm 1999 lên 0,728
Trang 30năm 2008 Khoảng cách giữa các tỉnh có giá trị cao nhất và thấp nhất đã giảm từ 65% năm 1999 xuống còn 51% năm 2008 (Nguồn: Liên Hiệp Quốc năm 2011)
Chỉ số đói nghèo con người (HPI) năm 2008 là 10,93%, thấp hơn tỷ lệ nghèo tiền
tệ là 14,5% Trong giai đoạn 1999-2009, HPI của tất cả các tỉnh đều giảm và chỉ số HPI của quốc gia đã giảm 48,3% Tuy nhiên, khoảng cách về HPI giữa các tỉnh giàu nhất và nghèo nhất của Việt Nam chỉ giảm nhẹ trong giai đoạn 1999-2008 Rõ ràng vẫn còn tồn tại sự chênh lệch dai dẳng về mức sống giữa các tỉnh giàu nhất và nghèo nhất Bất bình đẳng lớn và dai dẳng nhất trong HPI là tiếp cận với nước sạch, trong khi trong chỉ số đói nghèo đa chiều, những thiếu thốn về nhà kiên cố, tiếp cận nước sạch và vệ sinh là lớn nhất Đây cũng là một trong những chỉ số thể hiện nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; bởi giải quyết tốt vấn đề này sẽ là cơ sở để sản xuất và tái sản xuất sức lao động
Trên đây là những tiêu chí cơ bản đánh giá chất lượng nguồn nhân lực; ngoài ra còn có các chỉ tiêu cụ thể đánh giá từng lĩnh vực, từng khía cạnh cụ thể của đời sống xã hội như: y tế, giáo dục, dinh dưỡng, nước sạch, dân số, môi trường, văn hóa, tội phạm… Tuy nhiên, cũng cần phải thấy rằng mỗi chỉ tiêu riêng lẻ chỉ đánh giá trên từng khía cạnh
cụ thể, để thấy hết ý nghĩa của nó cần phải có sự phối hợp tổng thể với các chỉ tiêu khác như: HDI, GDI, HPI… mới đánh giá một cách đầy đủ và chính xác nhất về chỉ số phát triển con người, chất lượng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia, trong từng giai đoạn cụ thể theo yêu cầu sự phát triển của kinh tế xã hội
1.3.3 Thị trường sức lao động
Đề cập về phát triển nguồn nhân lực trong kinh tế thị trường, không thể không đề cập đến thị trường sức lao động Đây là một trong những đặc điểm làm thay đổi về chất và lượng việc phát triển nguồn nhân lực gắn với trạng thái chuyển đổi nền kinh tế
từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập kinh tế quốc tế là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới WTO
Nâng cao tính linh hoạt của thị trường sức lao động, tức là tránh những quy định
xơ cứng mà cần phải để cho giá cả sức lao động, số lượng, chất lượng sức lao động, cơ cấu lao động tự thích ứng với những thay đổi của thị trường, nâng cao tính linh hoạt
Trang 31của tổ chức sản xuất, chế độ làm việc, phương thức hợp đồng thuê mướn nhân công, trình tự và nội dung thương lượng thỏa thuận giữa giới chủ và giới thợ
Như chúng ta đều biết thị trường sức lao động ra đời gắn liền với sự ra đời và vận động của một loại hàng hóa đặc biệt hàng hóa sức lao động Các yếu tố cơ bản trên thị trường sức lao động trước hết và quan trọng hơn hết là hàng hóa sức lao động, là cung cầu, giá cả sức lao động
Nguồn cung và cầu về sức lao động thực chất là cung và cầu về nguồn nhân lực được hình thành từ các yếu tố khác nhau Nguồn cung về nhân lực được hình thành từ các cơ sở đào tạo như các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề và các cơ sở đào tạo khác Nguồn cung còn được thể hiện từ những người đang tìm việc làm, từ các doanh nghiệp,
cơ quan, tổ chức hoặc nguồn cung còn được thể hiện từ nguồn lao động nhập khẩu Một nguồn cung khác được bổ sung thường xuyên từ những người đến độ tuổi lao động Đối với nước ta đây là nguồn cung rất lớn với đặc điểm Việt Nam dân số trẻ
Nguồn cầu về lao động được hình thành từ các doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc từ nhu cầu lao động nhập khẩu của nước ngoài Sự tác động qua lại của cung cầu hình thành nên giá cả sức lao động, khoản thù lao mà người lao động nhận được phản ánh trạng thái cân bằng trên thị trường sức lao động
Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X chỉ rõ: “Phát triển thị trường sức lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và tìm việc làm Có chính sách ưu đãi các doanh nghiệp thu hút nhiều lao động, nhất là ở khu vực nông thôn Đẩy mạnh xuất khẩu lao động, đặc biệt là xuất khẩu lao động đã qua đào tạo nghề, lao động nông nghiệp Hoàn thiện cơ chế, chính sách tuyển chọn và sử dụng lao động trong khu vực kinh tế nhà nước và bộ máy công quyền” (Văn kiện Hội nghị lần thứ 2 BCHTWƯ khoá VIII, 1997)
Hệ thống các chính sách xã hội cũng là một trong những nhân tố liên quan đến nguồn nhân lực, đến thị trường sức lao động Hệ thống các chính sách xã hội nhằm vào mục tiêu vì con người, phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nguồn nhân lực trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, với phương hướng phát huy nhân tố con người trên
Trang 32cơ sở đảm bảo công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân, giải quyết tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần, giữa đáp ứng các nhu cầu trước mắt với việc chăm lo lợi ích lâu dài, giữa cá nhân với tập thể và cộng đồng xã hội
1.3.4 Những nhân tố bên trong ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực 1.3.4.1 Dân số và lực lượng lao động trong xã hội
Lao động xã hội bao gồm những người có khả năng lao động, đang có hoặc chưa
có việc làm Cơ cấu lao động được thể hiện qua tuổi tác, giới tính, trình độ dân trí, sự hiểu biết của các tầng lớp dân cư, trình độ học vấn và chuyên môn tay nghề cũng như các nguồn lao động bổ sung…số lượng và cơ cấu lao động xã hội ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực trong doanh nghiệp
Nước ta đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của nhà nước Nền kinh tế mới chỉ thoát khỏi lạc hậu chứ chưa phát triển mạnh để trở thành một nước công nghiệp mới Trong khi đó dân số phát triển rất nhanh Lực lượng lao động hàng năm cần làm việc ngày càng ra tăng Đó cũng là một vấn đề lớn mà các doanh nghiệp cần phải quan tâm
1.3.4.2 Pháp luật của Nhà nước
Luật lệ của nhà nước hay còn gọi là môi trường pháp lý bao gồm các văn bản pháp luật có liên quan đến vấn đề lao động, sử dụng lao động, đây là khung pháp lý cho các doanh nghiệp giải quyết tốt mối quan hệ giữa người lao động và người sử dụng lao động, là tiền đề cho các doanh nghiệp xây dựng các tiêu chuẩn pháp lý khi hình thành, củng cố và phát triển nguồn nhân lực
1.3.4.3 Văn hóa xã hội
Các truyền thống, tập quán, thói quen, lễ nghi, các quy phạm tư tưởng và đạo đức…tạo nên lối sống văn hoá và môi trường hoạt động xã hội của con người nói chung và người lao động trong doanh nghiệp nói riêng Trong một nền văn hoá xă hội có quá nhiều đẳng cấp, nấc thang giá trị xã hội không theo kịp đà phát triển của thời đại sẽ kìm hãm, không cung cấp nhân tài cho tổ chức Chính cung cách văn hoá
xã hội tạo ra bầu không khí văn hoá của doanh nghiệp
Trang 33Sự thay đổi các giá trị văn hoá của một nước sẽ tạo ra các thử thách cho công tác quản nguồn nhân lực Nếu quản lý nguồn nhân lực tốt sẽ quyết định sự thành công của doanh nghiệp và ngược lại
1.3.4.4 Khoa học kỹ thuật
Sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật là yếu tố khách quan ảnh hưởng mạnh mẽ đến nguồn nhân lực, cho phép các doanh nghiệp lựa chọn chính sách sử dụng ít hay nhiều
lao động, từ đó ảnh hưởng đến quy mô, chất lượng và cơ cấu nguồn nhân lực
Chúng ta đang sống trong thời đại công nghiệp hoá hiện đại hoá với sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật Để đủ sức cạnh tranh trên thị tường, các doanh nghiệp Việt Nam phải cải tiến khoa học kỹ thuật, cải tiến thiết bị Sự thay đổi này ảnh hưởng mạnh mẽ đến nguồn nhân lực của tổ chức Các doanh nghiệp cần phải đào tạo, bồi dưỡng nhân viên của mình theo kịp với đà phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật hiện đại
Khoa học kỹ thuật thay đổi, một số công việc, kỹ năng không cần thiết nữa Do công ty một mặt phải đào tạo lại lực lượng lao động hiện tại của mình tuyển mộ thêm những người mới có năng lực, mặt khác cũng phải tinh giảm biên chế, sắp xếp lại lực lượng lao động dư thừa
1.3.4.5 Đối thủ cạnh tranh
Nguồn nhân lực là tài nguyên vô cùng qu y giá Để tồn tại và đứng vững, phát triển các công ty tìm mọi biện pháp để thu hót, duy trì và phát triển nguồn nhân lực Các công
ty đưa ra các chính sách nhân sự hợp lý lãnh đạo, động viên và khen thưởng hợp lư, tạo
ra bầu không khí doanh nghiệp gắn bó…đồng thời thường xuyên cải tiến môi trường làm việc, cải tiến các chính sách phúc lợi Nhà quản lý nhân lực cần phải biết cách quản
lư nhân viên có hiệu quả
1.3.5 Những nhân tố bên ngoài ảnh hưởng đến phát triển nguồn nhân lực
Toàn cầu hóa kinh tế có những tác động hết sức sâu sắc tới đời sống kinh tế - chính trị - xã hội của từng nước cũng như các mối quan hệ quốc tế Tuy nhiên, sự đánh giá tác động này là rất khác nhau giữa các nước, nhóm nước và các nhóm xã hội trong mỗi nước, chủ yếu tùy thuộc vào nhận thức và lợi ích mà họ đã hưởng hoặc mất đi
Trang 34trong quá trình này Có thể đề cập tới một vài tác động của quá trình toàn cầu hóa kinh
tế trong lĩnh vực lao động, việc làm, thu nhập và ổn định xã hội như sau:
1.3.5.1 Toàn cầu hóa kinh tế với vấn đề việc làm và thất nghiệp
Có những quan điểm khác nhau về tác động của toàn cầu hóa kinh tế đối với vấn
đề việc làm và thất nghiệp
Có những người phản đối toàn cầu hóa lo ngại rằng toàn cầu hóa sẽ làm tăng nguy
cơ thất nghiệp, thậm chí có ý kiến cho rằng toàn cầu hóa là nguyên nhân chính gây ra tình trạng thất nghiệp gia tăng trong một nước Những người theo quan điểm này lập luận rằng:
Thứ nhất, sự cạnh tranh khốc liệt trong quá trình toàn cầu hóa làm cho hàng loạt
doanh nghiệp gặp khó khăn phải thu hẹp sản xuất, chuyển đổi kinh doanh hoặc phá sản
và ngừng sản xuất, khiến cho nhiều người mất việc làm
Thứ hai, cùng với sự phát triển của toàn cầu hóa, sự gia tăng các luồng di chuyển
nhân công giữa các nước càng làm cho những người lao động kém thuận lợi (kém năng lực, ít được đào tạo hoặc không có điều kiện để tiếp cận sự đào tạo), đứng trước nguy cơ bị mất việc cho những người có khả năng cạnh tranh cao hơn và ngày càng khó khăn để kiếm được những việc làm mới
Thứ ba, tự do hóa thương mại và đầu tư tạo điều kiện làm gia tăng các luồng đầu
tư ra nước ngoài và như vậy làm cho những người lao động trong nước mất bớt cơ hội
có việc làm Nhiều người lao động ở các nước phát triển tham gia biểu tình chống toàn cầu hóa chia sẻ quan điểm này
Có những người ủng hộ toàn cầu hóa lại cho rằng toàn cầu hóa kinh tế không phải là nguyên nhân làm cho nạn thất nghiệp gia tăng mà trái lại nó góp phần tạo thêm nhiều việc làm hơn, bởi vì:
Thứ nhất, quá trình này thúc đẩy sự cơ cấu lại nền kinh tế hợp lý hơn, nâng cao
hơn năng lực cạnh tranh và phát triển thêm nhiều ngành - lĩnh vực mới, thu hút lực lượng lao động vào những ngành mới này
Trang 35Thứ hai, quá trình này làm cho những người lao động có cơ hội kiếm được việc
làm phù hợp hơn với năng lực và thế mạnh của mình trên những thị trường quốc gia và quốc tế nhờ tính “lưu động” của thị trường rộng lớn
Thứ ba, tự do hóa thương mại và đầu tư làm cho việc sử dụng các nguồn lực hiệu
quả và thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế tốt hơn, giúp tăng ngân sách cho các chính phủ đầu tư cho việc đào tạo, tái đào tạo và giúp người lao động kiếm việc làm thuận lợi hơn Cho đến nay, các nghiên cứu về vấn đề này chưa khẳng định được tính thuyết phục của quan điểm cho rằng toàn cầu hóa là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng tình trạng thất nghiệp ở các nước Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa có nhiều nhân tố gây ra hoặc làm trầm trọng thêm tình trạng thất nghiệp ở các nước Việc đánh giá tác động của toàn cầu hóa đối với vấn đề này cần được xem xét trong mối quan hệ tổng thể của nhiều yếu tố chính trị - kinh tế - xã hội ở mỗi nước và nhiêu yếu tố quốc tế có liên quan
1.3.5.2 Toàn cầu hóa kinh tế với vấn đề thu nhập, đời sống và ổn định xã hội
Các nhà kinh tế hiện nay đều cho rằng toàn cầu hóa kinh tế không phải lúc nào cũng là nguyên nhân của mọi sự bất ổn trong xã hội và bảo hộ mậu dịch không phải là đối sách thích hợp để giải quyết vấn đề này Tuy nhiên, cũng không thể bác bỏ được
xu thế toàn cầu hóa và tự do thương mại - đầu tư sẽ đẩy nhanh sự thay đổi xã hội, làm giảm sự ổn định về việc làm và ở một chừng mực có thể khiến cho vị trí tương đối của những người lao động có kỹ năng bị xấu đi; có những lý do như sau:
Thứ nhất, toàn cầu hóa thúc đẩy sự di chuyển nhanh của tư bản, công nghệ, tri
thức, kinh doanh v.v, nhưng lao động thì lại di chuyển rất ít (luồng đầu tư trực tiếp trên thế giới vào năm 2012 đạt 13.013 tỷ USD, giảm 2.343 tỷ USD, tương đương giảm 15,26% so với cùng kỳ năm 2011 Trong đó, các dự án có vốn đầu tư nước ngoài được giải ngân ước đạt 10.460 tỷ USD, chiếm khoảng 80,38% nguồn FDI đăng ký và giảm 4,91% so với cùng kỳ năm ngoái trong khi số người di cư từ nước này sang nước khác vào thời điểm này cũng chỉ tăng trung bình 2,8% mỗi năm và mới chỉ chiếm 3,1% dân
số thế giới) (Nguồn: Niêm giám thống kê 2012)
Trang 36Như vậy, lao động hầu như có xu hướng cố định tại một nước, trong khi các yếu tố sản xuất khác thì di chuyển nhanh với tốc độ ngày càng cao Với sự phát triển của khoa học - kỹ thuật, ngày càng ra đời nhiều sản phẩm - công nghệ mới rút ngắn chu kỳ sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, do đó các cơ sở sản xuất cũng di chuyển nhanh từ nước này sang nước khác Điều này, cũng có nghĩa là lợi thế so sánh của một quốc gia luôn bị đặt trong trạng thái bất ổn định
Thứ hai, thời đại toàn cầu hóa đi liền với sự phát triển của công nghệ thông tin và
kinh tế tri thức, làm cho thị trường lao động thay đổi lớn về chất, trong đó ngày càng thiếu hụt lao động có trình độ cao về công nghệ thông tin và tri thức nói chung, trong khi lao động giản đơn, lao động không được tiếp cận với công nghệ thông tin thì ngày càng dư thừa Tư liệu của World Bank (WB) cho thấy chênh lệch tiền lương của giới lao động lành nghề và lao động không lành nghề tại một số nước trên thế giới từ cuối thập niên 1980 đến nay đã có những khoảng cách đáng kể
Vấn đề cần quan tâm đó là khả năng thích ứng của lao động trong thời đại toàn cầu hóa, các mạng lưới an sinh xã hội; các cơ hội về giáo dục và đào tạo có tầm quan trọng then chốt trong việc thực hiện mục tiêu này Giáo dục, đào tạo và đào tạo lại có tác dụng nâng cao khả năng đối phó với sự thay đổi của các cá nhân
1.3.5.3 Tác động của Hội nhập kinh tế quốc tế với phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam
Hội nhập tích cực vào nền kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu mà bất kỳ một quốc gia nào trên thế giới đều phải lựa chọn để phát triển Chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế tạo cơ hội cho các nước có khả năng tiếp cận với thị trường thế giới, với những công nghệ hiện đại, với những thành tựu mới trong quản lý, nhờ đó có cơ hội phát triển tăng tốc và rút ngắn được thời gian công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo điều kiện cho các quốc gia kết hợp tốt nhất sức mạnh dân tộc với sức mạnh quốc tế, phát huy được nội lực và mọi tiềm năng sáng tạo; đồng thời, tranh thủ được tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ cho phát triển
Tác động của xu thế toàn cầu hóa kinh tế đối với việc điều chỉnh và lựa chọn chiến lược phát triển của các quốc gia là rất mạnh mẽ và sâu sắc Chỉ có quốc gia nào
Trang 37thích ứng nhanh nhạy với xu thế này, sớm tìm được mô hình - chiến lược phát triển phù hợp và vận dụng sáng tạo - có hiệu quả vào hoàn cảnh cụ thể của nước mình thì khả năng tăng trưởng và phát triển nhanh, cải thiện được vị thế của mình trong nền kinh tế thế giới
- Mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng, tăng cường nguồn lực cho giáo dục, thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và Hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia còn phải hướng đến việc đào tạo những con người thích ứng với thời đại cạnh tranh ồ
ạt và khốc liệt để phát triển Việc đào tạo một thế hệ mới các doanh nhân - những người lao động có tri thức - khoa học - công nghệ hiện đại, tri thức - năng lực kinh doanh - năng lực cạnh tranh để dẫn dắt doanh nghiệp dành phần thắng trong cuộc cạnh tranh kinh tế trong và ngoài nước, phải là mục tiêu cơ bản trong chính sách giáo dục - đào tạo của các quốc gia trong bối cảnh toàn cầu hóa
Việc sử dụng tiếng Anh trong giáo dục và đào tạo là một yêu cầu thực tế mà các quốc gia phải hướng tới trong thời đại toàn cầu hóa
Tiếng Anh được coi là ngôn ngữ toàn cầu, thứ tiếng của doanh nghiệp, của chính trị, của ngoại giao, là tiếng “mẹ đẻ” của ngôn ngữ máy tính và Internet Sự phổ biến của tiếng Anh là sự thật không thể phủ nhận; hiện nay, có khoảng 200 triệu người đang
sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ nhất, 2/3 dân số thế giới dùng như ngôn ngữ thứ hai và 1/6 dân số thế giới đang học tiếng Anh Theo dự báo thì có khoảng 1/2 dân số thế giới sẽ ít nhiều thông thạo tiếng Anh vào trước năm 2050 Muốn hội nhập kinh tế thế giới, tham gia vào quá trình toàn cầu hóa thì phải biết sử dụng tiếng Anh; dĩ nhiên, việc phổ biến tiếng Anh trong giáo dục và đào tạo ở các quốc gia không có nghĩa là làm suy giảm vị thế của tiếng mẹ đẻ Các hiệu quả để chống lại sự lạm dụng tiếng Anh
là cổ súy cho việc sử dụng tiếng mẹ đẻ Nhưng ngăn chặn tiếng Anh là điều không bao giờ làm được trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay
Trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế và dưới tác động của cuộc cách mạnh khoa học – công nghệ, nhu cầu và khả năng thực hiện sự hợp tác quốc tế về phát triển và sử dụng nguồn nhân lực ngày càng trở nên tất yếu và rõ nét Nhiều nước coi đây là con
Trang 38đường cơ bản để rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ phát triển với khu vực
và thế giới Việc cử cán bộ, chuyên gia, học sinh ra nước ngoài học tập, công tác được nhiều nước quan tâm và trở thành phương thức chủ yếu để phát triển nguồn nhân lực ở mỗi nước
Việc sử dụng lao động cũng ngày càng mang tính quốc tế hóa rộng rãi Xu hướng đầu tư trực tiếp ngày càng gia tăng và sự di chuyển ồ ạt các nguồn lực sản xuất giữa các nước làm cho quy mô của lao động tổng thể được sử dụng vượt ra khỏi phạm vi quốc gia, lãnh thổ Trên thực tế, sự di chuyển nguồn nhân lực giữa các nước hiện đã trở thành hiện tượng phổ biến trong đời sống kinh tế - xã hội quốc tế
Giáo dục và Đào tạo, cùng với khoa học công nghệ phải thực sự là quốc sách hàng đầu, phải coi đầu tư cho giáo dục là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho giáo dục đi trước và phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội Đa dạng hoá các loại hình đào tạo, huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp sức xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của Nhà nước Xã hội hoá giáo dục là tạo ra và phát triển phong trào toàn dân học tập; toàn xã hội làm giáo dục Thực hiện xã hội hoá không có nghĩa là khoán trắng cho nhà trường và giảm nhẹ trách nhiệm của Đảng và Nhà nước
Nhà nước quy định cơ chế cho các doanh nghiệp đầu tư vào giáo dục và đào tạo Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước giúp đỡ phát triển giáo dục - đào tạo
Phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại
Dành một tỷ lệ ngân sách thoả đáng để cử những người giỏi và có phẩm chất tốt
đi đào tạo và bồi dưỡng về những ngành nghề và lĩnh vực then chốt ở những nước có nền khoa học, công nghệ phát triển; sử dụng một phần vốn vay và viện trợ của nước ngoài để xây dựng cơ sở vật chất cho giáo dục và đào tạo
Trang 39- Xây dựng một xã hội học tập
Dưới tác động của xu thế toàn cầu hóa kinh tế, việc đào tạo nguồn nhân lực cần phải được đầu tư phát triển theo một phương châm mới, đó là đào tạo thường xuyên - đào tạo suốt đời
Giáo dục và đào tạo sẽ liên quan đến toàn bộ cuộc đời chứ không phải chỉ ở tuổi trẻ Giáo dục phổ thông và chuyên nghiệp giúp con người có thể học thường xuyên - học suốt đời và giáo dục sẽ chuẩn bị cho con người về nội dung và phương pháp để học thường xuyên - học suốt đời Học thường xuyên - học suốt đời là đặc trưng cơ bản của một nền giáo dục - đào tạo từ thấp lên cao và mang tính toàn cầu; vì thế, hệ thống đào tạo cũng dần được điều chỉnh, đổi mới căn bản toàn diện với những chương trình,
kỹ năng đổi mới để đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học - công nghệ trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
1.4 KINH NGHIỆM CÁC NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI VỀ PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC TRONG QUÁ TRÌNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA
1.4.1 Kinh nghiệm của Nhật Bản về phát triển nguồn nhân lực trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Ở những nước tiên tiến, họ xác định đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển; cho nên, chính sách nguồn nhân lực luôn là một trong những bộ phận cấu thành chủ chốt trong hầu hết các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của các nước trên thế giới Nhật Bản coi nguồn nhân lực là yếu tố quyết định tương lai của đất nước; cho nên, từ đầu thập niên 1980, Nhật Bản đã đề ra mục tiêu: đào tạo những thế hệ mới có tính năng động, sáng tạo có kiến thức chuyên môn sâu, có khả năng suy nghĩ và làm việc độc lập, khả năng giao tiếp quốc tế để đáp ứng những đòi hỏi của thế giới, với sự tiến bộ không ngừng của khoa học và xu thế cạnh tranh - hợp tác toàn cầu Qua nghiên cứu trong phụ lục số 1 thì từ năm 2005 - 2012, dân số trong độ tuổi từ 15 trở lên thì năm sau tăng hơn năm trước nhưng lực lượng lao động và tỷ lệ tham gia lao động thì
có giảm nhưng không nhiều, điều này cho thấy mức ổn định về lực lượng lao động đã tạo cho ổn định về nguồn nhân lực trong xã hội Nhật Bản
Trang 40Luật Giáo dục của Nhật Bản chỉ rõ giáo dục được coi là nhiệm vụ của quốc gia và
là quyền cơ bản của mọi người dân Nhật Bản Giáo dục ở Nhật Bản được ưu tiên đầu tư trên tất cả các cấp học; các điều luật thành lập hệ thống giáo dục mới nêu rõ rằng các gia đình phải có nhiệm vụ đặt việc học tập của con cái mình lên trên hết Sự đầu tư còn được thấy rõ các nguồn tài trợ phát triển giáo dục, các khoản chi phí cho giáo dục và đào tạo thường chiếm từ 5-6% ngân sách hằng năm của chính phủ Trung ương
Nhật Bản còn là một quốc gia phát triển vượt trội về khoa học kỹ thuật và giáo dục Thực tế, tỷ lệ mù chữ của người dân Nhật Bản gần như bằng không, có hơn 70% học sinh học lên đến bậc Đại học, Cao đẳng và Trung học chuyên nghiệp Bên cạnh hơn 1.000 trường Đại học và , Cao đẳng chính phủ Nhật Bản còn chú trọng đầu tư vào
hệ thống giáo dục trung học chuyên nghiệp, trung học chuyên tu và các trường chuyên môn với mạng lưới dày đặc hơn 3.000 trường
Bộ Giáo dục và Khoa học Nhật Bản đang tiến hành mở các khóa học dành cho người lớn tuổi về hưu, các phụ nữ có con nhỏ, nâng cao tay nghề cho những người đã
đi làm Bên cạnh đó là việc trợ cấp các khóa học dành cho việc phát triển chương trình giáo dục nâng cao tay nghề dành cho người thất nghiệp trẻ tuổi, người không có nghề nghiệp
Hàng năm, chính phủ Nhật Bản cũng dành một số học bổng cho học sinh nước ngoài muốn theo học các bậc học này tại Nhật Tại nhiều trường dạy tiếng Nhật cũng
có chương trình ôn thi vào các trường trung học chuyên nghiệp, chuyên tu dành cho học sinh nước ngoài Thí sinh có thể nộp hồ sơ và được xét tuyển trực tiếp vào các trường nói trên mà không cần phải sang Nhật để dự thi
1.4.2 Những bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam
Việt Nam là dân tộc có truyền thống hiếu học, khả năng học tập của học sinh Việt Nam không hề thua kém học sinh các nước khác trên thế giới; song nhìn chung,
do phương tiện đào tạo còn nghèo nàn, trường lớp và cơ sở vật chất lạc hậu, ngân sách đầu tư cho giáo dục và đào tạo cao chiếm từ 13% - 20% ngân sách nhà nước nhưng qui
mô còn thấp, đội ngũ giáo viên còn có tỷ lệ chưa chuẩn đạt cao, chương trình và phương pháp dạy - học chưa được cải tiến, đời sống người giáo viên còn nhiều khó