1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng TMCP Việt Nam

117 73 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,61 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỒ CHÍ MINH --- NGUYỄN KIM CHI PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng... LỜI CAM ĐOA

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

NGUYỄN KIM CHI

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2014

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

- NGUYỄN KIM CHI

PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN

HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG

THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM

Chuyên ngành : Tài chính - Ngân hàng

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn thạc sĩ kinh tế: “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu độc lập và nghiêm túc cùng với sự hướng dẫn của

TS Thân Thị Thu Thủy

Các thông tin, số liệu trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, đáng tin cậy và được xử lý khách quan và trung thực Tôi xin cam đoan không sao chép của người khác, chỉ sử dụng tài liệu, số liệu tham khảo từ các bài nghiên cứu, sách, giáo trình, báo cáo, tạp chí và các nguồn từ internet Kết quả nghiên cứu luận văn trung thực và chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Tác giả

Nguyễn Kim Chi

Trang 4

MỤC LỤC

Trang bìa phụ

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục từ viết tắt

Danh mục bảng

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài 1

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Kết cấu của luận văn 2

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 4

1.1 Hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 4

1.1.1 Khái niệm 4

1.1.2 Đo lường hệ số an toàn vốn 4

1.1.3 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn 5

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 6 1.2.1 Các yếu tố vĩ mô 6

1.2.1.1 Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước 6

1.2.1.2 Môi trường pháp lý 7

1.2.2 Các yếu tố vi mô 8

1.2.2.1 Quy mô tài sản của ngân hàng thương mại 8

1.2.2.2 Tiền gửi của khách hàng 9

1.2.2.3 Tiền cho vay đối với khách hàng 9

1.2.2.4 Dự phòng các khoản cho vay khó đòi 10

1.2.2.5 Khả năng thanh khoản 10

Trang 5

1.2.2.7 Hệ số đòn bẩy 11

1.3 Sự cần thiết phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 11

1.4 Các nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 12

1.4.1 Nghiên cứu của Ahmet Büyüksalvarcı1 and Hasan Abdioğlu2 (2011) 12

1.4.2 Nghiên cứu của Mohammed T Abusharba, Iwan Triyuwono, Munawar Ismail và Aulia F Rahman (2012) 12

1.4.3 Nghiên cứu của Ijaz Hussain Bokhari và Syed Muhamad Ali (2009) 13

1.4.4 Nghiên cứu của Farah Margaretha và Diana Setiyaningrum (2011) 13

1.5 Kinh nghiệm về nâng cao hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng thế giới và bài học đối với các NHTM Việt Nam 14

1.5.1 Kinh nghiệm của một số ngân hàng trên thế giới 14

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam 16

Kết luận chương 1 17

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 19

2.1 Giới thiệu các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 19

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển 19

2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu 20

2.1.3 Kết quả hoạt động kinh doanh 21

2.2 Thực trạng hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 28

2.2.1 Quy định về hệ số an toàn vốn 28

2.2.2 Thực trạng hệ số an toàn vốn 31

2.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 34

2.3.1 Quy mô tài sản 34

2.3.2 Quy mô vốn chủ sở hữu 36

2.3.3 Hoạt động nhận tiền gửi và cho vay đối với khách hàng 39

Trang 6

2.3.5 Dự phòng rủi ro tín dụng 46

2.3.6 Khả năng sinh lời 49

2.4 Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 54

2.4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 54

2.4.2 Mô tả các biến trong mô hình 55

2.4.3 Mô hình nghiên cứu 55

2.4.4 Kết quả nghiên cứu 58

2.4.4.1 Thống kê mô tả các biến trong mô hình 58

2.4.4.2 Ma trận hiệp phương sai 59

2.4.4.3 Các kiểm định sử dụng trong mô hình 60

2.4.4.4 Kết quả hồi quy 61

2.5 Đánh giá sự tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 63

Kết luận chương 2 .67

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 68

3.1 Định hướng nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 68

3.2 Giải pháp nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam 69

3.2.1 Tăng vốn chủ sở hữu 69

3.2.2 Nâng cao chất lượng tín dụng 70

3.2.3 Đẩy mạnh hoạt động nhận tiền gửi của khách hàng 73

3.2.4 Nâng cao khả năng sinh lời 75

3.2.5 Xây dựng thương hiệu 76

3.2.6 Tăng cường năng lực quản trị điều hành 77

3.2.7 Xây dựng, phát triển và tối đa hoá giá trị nguồn nhân lực 78

3.2.8 Đầu tư phát triển công nghệ 79

3.3 Giải pháp hỗ trợ 79

3.3.1 Đối với Chính phủ 79

Trang 7

Kết luận chương 3 81 KẾT LUẬN 83 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

ACB : Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu

ABBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần An Bình

ASEAN : Hiệp hội các quốc gia khu vực Đông Nam Á

BCTC : Báo cáo tài chính

BIDV :Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và Phát triển Việt Nam CAR : Hệ số an toàn vốn

DONGABANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Á

SAIGONBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Công Thương

SHB : Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội

SEABANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Đông Nam Á

MARITIMEBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải

MBBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Quân đội

OCB : Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Đông

OCEANBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Đại Dương

PNB : Ngân hàng thương mại cổ phần Phương Nam

NVB : Ngân hàng thương mại cổ phần Nam Việt

NH : Ngân hàng

NHNN : Ngân hàng Nhà nước

NHNNg : Ngân hàng nước ngoài

NHTM : Ngân hàng thương mại

NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần

NHTMNN : Ngân hàng thương mại nhà nước

OECD : Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

WTO : Tổ chức thương mại thế giới

TCTD : Tổ chức tín dụng

Trang 9

TECHCOMBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương

ROA : Khả năng sinh lời trên tổng tài sản

ROE : Khả năng sinh lời trên vốn chủ sở hữu

VCB : Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam VCSH : Vốn chủ sở hữu

VIETCOMBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam VIETINBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam VIETCAPITALBANK: Ngân hàng thương mại cổ phần Bản Việt

VIB : Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc tế

VND : Việt Nam đồng

VPBANK : Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam Thịnh vượng

Trang 10

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Số lượng các NHTM Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 19

Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 22

Bảng 2.3: Dư nợ tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 24

Bảng 2.4: Tốc độ tăng/giảm dư nợ tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 25

Bảng 2.5: Lợi nhuận sau thuế tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013 27 Bảng 2.6: CAR tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 31

Bảng 2.7: Tổng tài sản của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 – 2013 35

Bảng 2.8: Quy mô vốn chủ sở hữu của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 37

Bảng 2.9: Số dư tiền gửi của khách hàng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 40

Bảng 2.10: Dư nợ cho vay đối với khách hàng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 43

Bảng 2.11: Hệ số thanh khoản của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 45

Bảng 2.12: Tình hình trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 47

Bảng 2.13: Lợi nhuận trước thuế tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 50

Bảng 2.14: ROA tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 - 2013 53

Bảng 2.15: Mô tả các biến được sử dụng trong mô hình hồi quy 55

Bảng 2.16: Mô tả các biến trong mô hình 58

Bảng 2.17: Ma trận hiệp phương sai 59

Bảng 2.18: Hệ số tương quan tuyến tính (VIF) của các biến trong mô hình 60

Trang 11

FEM, REM, FGLS và GMM 62 Bảng 2.20: Kết quả hồi quy 63

Trang 12

LỜI MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hệ thống ngân hàng là mạch máu của nền kinh tế, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển Trong thời gian qua, chúng ta chứng kiến sự phát triển ngày càng hoàn thiện và lớn mạnh của hệ thống ngân hàng trong nước, tuy nhiên, chính sự bùng nổ hoạt động cả về quy mô và mức độ đa dạng của

hệ thống ngân hàng trong thời gian ngắn vừa qua đã tiềm ẩn những rủi ro và nguy

cơ lớn tác động trực tiếp đến sự an toàn và lành mạnh của hệ thống NHTM Để ngăn chặn sự đổ vỡ của ngân hàng và bảo vệ lợi ích của người gửi tiền các nhà quản

lý ngành ngân hàng phải duy trì và nhấn mạnh tầm quan trọng của hệ số an toàn vốn trong hoạt động ngân hàng theo tiêu chuẩn Basel Đây là một trong các chỉ tiêu rất quan trọng trong việc đảm bảo an toàn trong hoạt động của các NHTM Tỉ lệ này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được tỉ lệ này tức là nó đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền

Chính vì lý do trên việc tìm hiểu các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn của ngân hàng là hết sức cần thiết, cho chúng ta một bằng chứng cụ thể để có những biện pháp nhằm ổn định hoạt động của hệ thống NHTM, qua đó góp phần phát triển kinh tế Chính vì vậy tác giả chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số

an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam

- Đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố lên hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam

- Đưa ra các giải pháp phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm nâng cao hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam

Trang 13

Để đạt được những mục tiêu nêu trên, nội dung đi vào trả lời những câu hỏi nghiên cứu sau đây:

- Những yếu tố nào ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam?

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đối với hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam như thế nào?

- Để phát huy những yếu tố tích cực, hạn chế những yếu tố tiêu cực nhằm nâng cao hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam thì cần phải làm gì?

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: sự ảnh hưởng của các yếu tố đến hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam

- Phạm vi nghiên cứu: tính đến thời điểm 31/12/2013 có 37 NHTMCP, tuy nhiên

do thời gian nghiên cứu có hạn và một số ngân hàng chưa công bố số liệu nên chỉ nghiên cứu được trong phạm vi 22 NHTMCP Việt Nam

- Thời gian nghiên cứu trong giai đoạn từ năm 2007 đến năm 2013

4 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng các phương pháp:

- Phương pháp nghiên cứu định tính: thu thập, tổng hợp, phân tích các số liệu và đánh giá hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu định lượng: sử dụng phần mềm Stata 11, phân tích dữ liệu bảng (panel data) với các phương pháp: Phương pháp random effects (REM), Phương pháp fixed effects (FEM), Phương pháp pooled OLS, phương pháp FGLS và phương pháp GMM, trên cơ sở đó có thể so sánh và có sự lựa chọn tối ưu nhất cho mô hình nghiên cứu đưa ra để phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 –

2013

5 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, kết cấu của luận văn bao gồm 3 chương :

Chương 1: Tổng quan về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại

Trang 14

Chương 2: Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

Chương 3: Giải pháp nâng cao hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ

phần Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ

AN TOÀN VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Hệ số an toàn vốn tại NHTM

1.1.1 Khái niệm

Hệ số an toàn vốn (Capital Adequacy Ratio – CAR) tại NHTM là một thước đo

về vốn của ngân hàng đối với tổng tài sản có quy đổi rủi ro, biểu thị sức mạnh tài chính của ngân hàng Hệ số này thường được dùng để bảo vệ những người gửi tiền trước rủi ro của ngân hàng và tăng tính ổn định cũng như hiệu quả của hệ thống tài chính toàn cầu Bằng hệ số này người ta có thể xác định được khả năng của ngân hàng thanh toán các khoản nợ có thời hạn và đối mặt với các loại rủi ro khác như rủi

ro tín dụng, rủi ro vận hành Hay nói cách khác, khi ngân hàng đảm bảo được hệ số này tức là đã tự tạo ra một tấm đệm chống lại những cú sốc về tài chính, vừa tự bảo

vệ mình, vừa bảo vệ những người gửi tiền

CAR cho ý nghĩa tương tự như tỷ lệ đòn bẩy Hệ số này giúp xác định khả năng đáp ứng các nghĩa vụ của ngân hàng với khả năng tự vệ từ vốn tự có và đánh giá khả năng thích ứng các rủi ro tín dụng, rủi ro hoạt động…Xem xét hệ số này cũng giúp tạo ra công bằng khi đánh giá rủi ro trong hoạt động giữa các ngân hàng Ngân hàng trung ương các nước thường quy định CAR tối thiểu để bảo vệ người gửi tiền, người cho vay và qua đó giúp đảm bảo an toàn hệ thống tài chính

Trang 16

cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất như: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại Khái niệm chung là như vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nước lại có những qui định cụ thể riêng về những công cụ tài chính cụ thể nào có thể được tính vào vốn cấp I

- Vốn cấp II bao gồm: lợi nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp

-Tài sản điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản

lý thường là ngân hàng trung ương đưa ra Hầu hết các ngân hàng trung ương đều theo chuẩn của ngân hàng Thanh toán Quốc tế để đặt ra những trọng số này

1.1.3 Ý nghĩa của hệ số an toàn vốn

Hệ số an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng được nhắc tới khi đánh giá hoạt động của NHTM, đây cũng là chỉ tiêu được bàn luận nhiều nhằm đưa ra cách xác định hệ số này một cách hợp lý nhất Từ đó có thể thấy tầm quan trọng của

hệ số này trong việc đánh giá hoạt động của các ngân hàng Quả thực trong xu hướng quốc tế hoá và nền kinh tế thị trường ngày nay, các NHTM luôn phải đối mặt với hai vấn đề lớn đó là năng lực cạnh tranh và rủi ro trong hoạt động kinh doanh

Hệ số an toàn vốn là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng của một ngân hàng trước hai vấn đề trên

- Hệ số an toàn vốn là chỉ tiêu đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng: CAR được cấu thành bởi hai thành phần rất quan trọng đó là vốn tự có và tài sản có rủi ro quy đổi Nếu như vốn tự có phản ánh khả năng của một ngân hàng trong việc giảm rủi ro phá sản đồng thời đảm bảo khả năng sinh lời thì tài sản có rủi ro quy đổi lại phản ánh hoạt động sử dụng vốn và mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà ngân hàng đó cấp cho nền kinh tế Vì vậy CAR chính là chỉ tiêu thể hiện khả năng chống đỡ của ngân hàng nếu có rủi ro xảy ra Một ngân hàng có CAR đạt tiêu chuẩn theo quy định nghĩa là ngân hàng có khả năng đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh tiền gửi

- Thực hiện đúng chỉ tiêu hệ số an toàn giúp tăng uy tín cho NHTM Kinh doanh tiền gửi là một loại hình kinh doanh đặc biệt mà trong đó uy tín của ngân hàng đóng

Trang 17

vai trò hết sức quan trọng quyết định đến sự thành bại của ngân hàng Một ngân hàng có hệ số an toàn đạt tiêu chuẩn không đơn thuần là việc ngân hàng đã chấp hành đúng quy định của ngân hàng trung ương đặt ra mà bản thân ngân hàng sẽ tạo được uy tín đối với khách hàng Tạo được uy tín đối với khách hàng cũng đồng nghĩa với khả năng tăng sức cạnh tranh so với các ngân hàng khác

Ngoài ra CAR còn là công cụ để thanh tra ngân hàng trung ương thực hiện giám sát việc bảo toàn và phát triển vốn, tức là kiểm tra việc đảm bảo vốn thực có so với vốn đăng ký ghi trong giấy phép khi thành lập và so với vốn pháp định, kiểm tra quỹ dự phòng rủi ro có chấp hành theo quy định, kiểm tra chỉ tiêu an toàn và hiệu quả sử dụng và bảo toàn vốn của các NHTM Vì nếu các ngân hàng không chấp hành quy định về hệ số an toàn vốn sẽ có thể rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán dẫn đến phá sản điều này có thể gây nguy hại cho toàn bộ hệ thống tài chính của cả quốc gia

1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại 1.2.1 Các yếu tố vĩ mô

1.2.1.1 Môi trường kinh tế, chính trị, xã hội trong và ngoài nước

Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian với vị trí là mạch máu của nền kinh tế, vì vậy những biến động của môi trường kinh tế, chính trị và xã hội có những ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của ngân hàng Nếu môi trường kinh tế, chính trị và xã hội ổn định sẽ tạo được những điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các NHTM Khi nền kinh tế tăng trưởng cao và ổn định, các khu vực trong nền kinh tế đều có nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh sẽ giúp các NHTM dễ dàng hơn trong việc thúc đẩy và mở rộng các hoạt động tín dụng từ

đó gia tăng lợi nhuận Tốc độ tăng trưởng kinh tế thể hiện qua tổng sản phẩm quốc nội Tốc độ tăng trưởng GDP ảnh hưởng đến cung cầu tín dụng và lượng tiền gửi của các tổ chức và cá nhân trong nền kinh tế Khi nền kinh tế tăng trưởng cao từ đó nhu cầu tín dụng cũng tăng cao xuất phát từ nhu cầu mở rộng hoạt động sản xuất, kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế, vì vậy các NHTM có nhiều lựa chọn hơn trong việc lựa chọn những khách hàng tốt, đủ tiêu chuẩn, đủ năng lực tài chính

để tiến hành cho vay và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng Bên cạnh đó khi

Trang 18

lượng tiền gửi trong dân cư tăng cao cũng là một yếu tố góp phần đảm bảo an toàn trong hoạt động của NHTM

Ngược lại khi môi trường kinh tế, chính trị và xã hội bất ổn lại là một nhân tố tác động tiêu cực đến hoạt động của NHTM nói chung và hệ số an toàn vốn nói riêng Khi đó nhu cầu vay vốn giảm sút, hoạt động tín dụng của NHTM ẩn chứa đầy rủi ro với nguy cơ nợ quá hạn, nợ xấu gia tăng đồng thời chi phí dự phòng rủi ro cũng tăng cao, điều này sẽ tác động tiêu cực đến sự an toàn trong hoạt động của NHTM

Hơn nữa, hiện nay toàn cầu hóa và quá trình hội trình hội nhập kinh tế quốc

tế đang diễn ra ngày càng sâu và rộng đặc biệt trong lĩnh vực tài chính ngân hàng Điều này đòi hỏi các NHTM phải tự nâng cao sức mạnh tài chính, hoàn thiện sao cho phù hợp với các tiêu chuẩn theo thông lệ quốc tế về hệ số an toàn vốn thì mới

có thể cạnh tranh được với những tập đoàn tài chính đầy tiềm lực về vốn, công nghệ

và năng lực quản lý

1.2.1.2 Môi trường pháp lý

Môi trường pháp lý bao gồm tính đồng bộ và đầy đủ của hệ thống pháp luật, các văn bản dưới luật và việc chấp hành luật Nếu hệ thống pháp luật được xây dựng không phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế thì sẽ là rào cản lớn cho hoạt động kinh tế nói chung và hoạt động của NHTM nói riêng

Có thể nói, tình hình phát hành, lưu thông và giá trị của tiền tệ có ảnh hưởng sâu rộng đến tổng thể nền kinh tế, hơn nữa, đặc điểm của lĩnh vực kinh doanh ngân hàng là mang tính lan truyền, tính hệ thống cao hơn hẳn những lĩnh vực kinh doanh khác Do đó, một mặt đòi hỏi phải có sự quản lý nghiêm ngặt của các cơ quan quản

lý nhà nước nhằm thực thi chính sách tiền tệ quốc gia, nhằm bảo vệ sự an toàn của

hệ thống tài chính ngân hàng, bảo vệ quyền lợi của người gửi tiền và người đầu tư Mặt khác, để bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh ngân hàng cũng như để

có thể tạo ra các dịch vụ toàn diện cho ngân hàng, luôn đòi hỏi phải duy trì tính ràng buộc theo hệ thống trong quá trình hoạt động của các ngân hàng, bao gồm cả những ràng buộc về mặt kỹ thuật và về mặt tổ chức, có thể do các ngân hàng tự thiết lập hay do các yêu cầu của cơ quan quản lý nhà nước Tính hệ thống không chỉ đơn thuần là do yêu cầu có sự thống nhất về kỹ thuật nghiệp vụ trên phạm vi ngày càng

Trang 19

rộng mà còn được bổ sung bởi nhu cầu phải hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngân hàng về thanh khoản, vốn khả dụng, về chia sẻ rủi ro để đảm bảo sự an toàn của cả hệ thống ngân hàng và nền kinh tế

Hoạt động kinh doanh của các ngân hàng luôn được đặt trong một môi trường pháp lý nghiêm ngặt, bị chi phối rất mạnh bởi tác động của chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia Hoạt động kinh doanh của mỗi ngân hàng có được ở mức

độ nào cũng luôn là kết quả không chỉ những nỗ lực của bản thân ngân hàng mà còn

lệ thuộc chặt chẽ vào khả năng liên kết của ngân hàng với các ngân hàng khác và với thị trường tài chính Như vậy, rõ ràng môi trường pháp lý có vai trò quan trọng,

là tiền đề giúp cho hoạt động của ngân hàng ngày càng an toàn, phát triển nhanh và bền vững

1.2.2 Các yếu tố vi mô

1.2.2.1 Quy mô tài sản của NHTM

Quy mô được thể hiện thông qua tổng tài sản hiện có của NHTM Tổng tài sản ngày một gia tăng chứng tỏ ngân hàng đang trong giai đoạn mở rộng quy mô, điều này ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng, trong đó có sự ảnh hưởng đến hệ số

an toàn vốn của ngân hàng Sự ảnh hưởng này được minh chứng thông qua các nghiên cứu trước đây của các nhà kinh tế học Jim Wong, Ka-fai Choi và Tom Fong (2005) khi nghiên cứu các yếu tố tác động hệ số an toàn vốn của ngân hàng ở Hong Kong đã chỉ ra rằng quy mô ngân hàng quan hệ tỷ lệ nghịch với CAR bởi vì ngân hàng càng lớn thì càng nắm giữ nhiều tài sản rủi ro hơn so với ngân hàng nhỏ Cùng quan điểm đó, Gropp and Heider (2007) và Shrieves and Dahl (1992) cũng cho rằng quy mô tài sản của ngân hàng rất quan trọng và có tương quan nghịch với CAR Điều đó có nghĩa là ngân hàng càng lớn thì CAR càng nhỏ Tuy nhiên một nghiên cứu của Jackson và các tác giả (2002) lại cho rằng ngân hàng càng lớn sẽ có xu hướng giữ CAR càng lớn do dự trữ vốn vượt quá sự mong đợi của thị trường Như vậy dù đứng trên phương diện nghiên cứu nào đi nữa thì cũng nhận thấy có một mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng với CAR, mối tương quan này có thể tương quan thuận hay tương quan nghịch

Trang 20

1.2.2.2 Tiền gửi của khách hàng

Hoạt động huy động vốn là một trong những hoạt động cơ bản, thường xuyên của NHTM giúp ngân hàng có thể hoạt động một cách bình thường Trong số các hình thức huy động vốn thì nhận tiền gửi của khách hàng là hình thức chủ yếu nhất Lượng tiền gửi của khách hàng tăng chứng tỏ ngân hàng đang có chiến lược huy động vốn hợp lý, thương hiệu ngày càng được khẳng định thông qua niềm tin

và sự lựa chọn của khách hàng Tiền gửi khách hàng cũng là một yếu tố tác động đến CAR của NHTM Theo nghiên cứu của Kleff and Weber (2003), nhìn chung vốn từ tiền gửi khách hàng có chi phí thấp hơn là chi phí đi vay các công cụ tài chính khác như trái phiếu hay các chứng khoán vốn khác Khi tiền gửi khách hàng tăng lên, ngân hàng sẽ có nhiều quy định hơn cũng như kiểm soát để đảm bảo quyền lợi người gửi tiền, đảm bảo tính thanh khoản cho ngân hàng Nếu người gửi tiền không thể xác định được sự ổn định của ngân hàng mà họ gửi tiền thì ngân hàng sẽ duy trì CAR thấp hơn tỷ lệ vốn tối ưu với tỷ lệ vốn tối ưu là hệ số an toàn vốn mà ngân hàng duy trì khi mà người gửi tiền đánh giá khả năng tài chính của ngân hàng một cách chính xác Nhưng nếu người gửi tiền có thể biết chính xác ngân hàng mà họ gửi tiền có khả năng tài chính mạnh thì ngân hàng sẽ có thể duy trì khả năng vững mạnh về nguồn vốn từ đó người gửi tiền sẽ chấp nhận lãi suất tiền gửi thấp hơn, Asarkaya and Özcan (2007) đã tìm thấy mối tương quan nghịch giữa hệ

số tiền gửi khách hàng và hệ số an toàn vốn

1.2.2.3 Tiền cho vay đối với khách hàng

Hoạt động cho vay của ngân hàng cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến CAR, thể hiện thông qua hệ số tiền cho vay của ngân hàng là tỷ lệ giữa tổng khối lượng tiền cho vay và tổng tài sản của ngân hàng Đây là hệ số rất quan trọng

vì cho thấy mối quan hệ giữa một bên là đa dạng hóa và một bên là thiết lập các cơ hội đầu tư, đo lường tác động của các khoản cho vay với danh mục tài sản vốn Khi rủi ro tăng lên người gửi tiền sẽ được bù đắp cho những mất mát vì vậy hệ số an toàn vốn cũng tăng lên Trong nghiên cứu của Mpuga (2002) đã chỉ ra rằng giữa hệ

số tiền cho vay và CAR có mối quan hệ cùng chiều nghĩa là khi hệ số tiền cho vay tăng lên thì CAR cũng tăng lên và ngược lại

Trang 21

1.2.2.4 Dự phòng các khoản cho vay khó đòi

Dự phòng các khoản cho vay khó đòi được định nghĩa là giá trị dự trữ cho những mất mát có thể xảy ra trong tổng số tiền cho vay của ngân hàng trên bảng cân đối kế toán, đại diện cho tổng số tiền ước tính đủ trang trải cho các thiệt hại ước tính trong khoản mục cho vay Hệ số dự phòng các khoản cho vay khó đòi của NHTM được xác định bằng tỷ lệ giữa tổng giá trị dự phòng cho các mất mát trong danh mục cho vay trên tổng số tiền cho vay Hệ số này được xem xét như là một trong các yếu tố xác định rủi ro của ngân hàng Chúng ta có thể nhận thấy có mối tương quan ngược chiều giữa hệ số dự phòng các khoản cho vay khó đòi và CAR nghĩa là những khó khăn tài chính của ngân hàng sẽ dẫn đến nhiều khó khăn trong việc tăng CAR Ngược lại một tác động tích cực có thể báo hiệu rằng ngân hàng có thể tăng vốn chủ sở hữu đến mức độ lớn hơn để khắc phục những tình huống xấu có thể gặp phải Nghiên cứu của Blose (2001) chỉ ra rằng việc dự phòng các khoản cho vay khó đòi sẽ gây ra sự suy giảm về CAR Còn Hassan (1992) và Chol (2000) cũng lập luận mối tương quan nghịch giữa hệ số dự phòng các khoản cho vay khó đòi và CAR

1.2.2.5 Khả năng thanh khoản

Khả năng thanh khoản của NHTM được thể hiện thông qua hệ số giữa lượng tiền mặt và các khoản tương đương tiền với tổng tài sản mà ngân hàng nắm giữ, khả năng thanh khoản cao có nghĩa là ngân hàng có thể chuyển đổi tài sản thành tiền mặt nhanh chóng để đáp ứng các nhu cầu tài chính khác Khả năng thanh khoản cũng được xem là một yếu tố tác động đến CAR Nghiên cứu của Angbazo (1997) nói rằng tỷ lệ vốn đầu tư vào tiền mặt hoặc tương đương tiền tăng sẽ làm giảm rủi

ro thanh khoản dẫn đến phí bảo hiểm thanh khoản thấp hơn lợi nhuận ròng Vì vậy,

sự gia tăng tính thanh khoản ngân hàng có thể có một tác động tích cực đến CAR

1.2.2.6 Lợi nhuận

Lợi nhuận là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến CAR của NHTM Hầu hết các ngân hàng khi muốn tăng lợi nhuận đều có xu hướng tăng nắm giữ tài sản rủi ro Gropp và Heider (2007) khi nghiên cứu các ngân hàng ở Châu Âu thấy rằng

Trang 22

lợi nhuận có xu hướng giữ lại để tăng vốn và đầu tư vào tài sản Vì vậy, họ cho rằng

có mối quan hệ tích cực giữa lợi nhuận và CAR

1.2.2.7 Hệ số đòn bẩy

Yếu tố đòn bẩy được đo bằng tổng vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản của NHTM Cổ đông sẽ tìm thấy ngân hàng có đòn bẩy cao sẽ có nhiều rủi ro hơn so với các ngân hàng khác Các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao để tăng vốn chủ sở hữu do chi phí vốn chủ sở hữu cao Cuối cùng các ngân hàng sử dụng đòn bẩy cao

sẽ có vốn chủ sở hữu thấp hơn vốn do đòn bẩy tạo ra Vì vậy có mối quan hệ cùng chiều giữa hệ số đòn bẩy và CAR

1.3 Sự cần thiết phải nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại

Trong hoạt động của ngân hàng có rất nhiều khía cạnh có thể được phân tích Trong đó, hệ số an toàn vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng để xác định tính

an toàn trong hoạt động của NHTM qua đó giúp ban lãnh đạo ngân hàng đề ra những quyết định quản lý vừa nâng cao hiệu quả vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động kinh doanh Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại NHTM là một việc cần thiết, nhất là trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập như hiện nay Bởi vì:

Sự tăng lên hay giảm xuống của CAR có thể do nhiều yếu tố ảnh hưởng Do

đó, nếu có một sự biến động bất thường, ban lãnh đạo ngân hàng sẽ cần biết được lí

do biến động và sự biến động đó theo chiều hướng tốt hay xấu, trong một khoảng thời gian ngắn hay kéo dài Khi biết được các yếu tố ảnh hưởng thì ban lãnh đạo sẽ

đề ra được những giải pháp hữu hiệu hơn, từ đó phát huy được những yếu tố tích cực và hạn chế được những yếu tố tiêu cực

Ngoài các yếu tố thuộc về đặc điểm ngân hàng thì các yếu tố vĩ mô như tình hình kinh tế, chính sách của nhà nước đều có tác động đến CAR tại NHTM Mọi thay đổi trong các chính sách, quy định đều ảnh hưởng đến ngân hàng trong từng thời kì Việc này đòi hỏi ban quản trị ngân hàng phải có những chiến lược cũng như phản ứng kịp thời để có thể giúp ngân hàng hoạt động ổn định và hạn chế rủi ro thấp nhất các ảnh hưởng không tốt đến CAR Do đó, nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến CAR là cơ sở để các nhà quản trị ngân hàng hoạch định các chiến lược

Trang 23

kinh doanh phù hợp theo từng giai đoạn nhằm đảm bảo CAR cũng như nâng cao niềm tin của khách hàng với ngân hàng

1.4 Các nghiên cứu trên thế giới về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại ngân hàng thương mại

1.4.1 Nghiên cứu của Ahmet Büyüksalvarcı1 and Hasan Abdioğlu2 (2011)

Nghiên cứu này với mục đích là tìm ra các yếu tố quyết định đến CAR của các NHTM Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2006 – 2010, mô hình nghiên cứu được xây dựng với biến phụ thuộc là CAR và 9 biến độc lập được đưa vào mô hình là quy mô ngân hàng (SIZE), hệ số tiền gửi trên tổng tài sản (DEP), hệ số tiền cho vay trên tổng tài sản (LOA), dự phòng khoản cho vay khó đòi (LLR), hệ số thanh khoản (LIQ), lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ròng (NIM) và hệ số đòn bẩy (LEV) Mô hình được xác định như sau: CAR = β0 + β1SIZE + β2DEP + β3LOA + β4LLR + β5LIQ + β6ROA + β7ROE + β8NIM + β9LEV + ε

Với việc sử dụng dữ liệu bảng và phương pháp hồi quy OLS thông thường, kết quả của nghiên cứu chỉ ra rằng trong số các biến độc lập chỉ có hệ số cho vay (LOA), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và hệ số đòn bẩy (LEV) có tác động

âm lên CAR trong khi đó dự phòng khoản cho vay khó đòi (LLR) và lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) tác động dương Các biến còn lại không có ý nghĩa về mặt thống

Trang 24

CAR it = β0 + β1 (ROAit) + β2 (NPFit) + β3 (DEPit) + β4 (FDRit) + β5 (OEO it) + εit

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng là lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA) và tỷ lệ tổng số tiền ngân hàng cho vay trên tổng số tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng (FDR) có mối tương quan dương và đáng kể lên CAR Tỷ lệ nợ xấu (NPL) có mối

tương quan âm với CAR Các biến còn lại không có ý nghĩa về mặt thống kê

1.4.3 Nghiên cứu của Ijaz Hussain Bokhari và Syed Muhamad Ali (2009)

Nghiên cứu này xác định các yếu tố quyết định đến CAR tại các NHTM ở Pakistan đó là danh mục đầu tư rủi ro (PR), tỷ lệ an toàn vốn trung bình ngành (ACAR), tiền gửi của khách hàng (DEP), lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE), tốc

độ tăng trưởng kinh tế (GDP) Nghiên cứu sử dụng các phân tích thống kê mô tả được tiến hành để đo lường các yếu tố quyết định đến CAR tại các NHTM ở Pakistan với số liệu lấy từ 12 NHTM giai đoạn 2005-2009 Mô hình nghiên cứu được xác định như sau:

CAR it = β0 + β1 (PRit) + β2 (ACARit) + β3 (DEPit) + β4 (ROEit) + β5 (GDPit) + εit

Nghiên cứu sử dụng phương pháp hồi quy OLS thông thường Kết quả cho thấy có mối tương quan mạnh giữa tiền gửi, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, danh mục đầu tư rủi ro với CAR

1.4.4 Nghiên cứu của Farah Margaretha và Diana Setiyaningrum (2011)

Mục đích của nghiên cứu này là để xác định những tác động rủi ro, chất lượng quản lý ngân hàng, quy mô ngân hàng và tính thanh khoản có ảnh hưởng đến CAR, mô hình đưa ra với biến phụ thuộc là CAR và 6 biến độc lập là nợ xấu (X1), chỉ số đánh giá rủi ro (X2), tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ròng (X3), quy mô ngân hàng (X4), hệ số giữa tài sản ngắn hạn trên tổng tiền gửi của khách hàng (X5) và hệ số giữa vốn chủ sở hữu trên tổng nợ phải trả (X6) Nghiên cứu lấy mẫu là các NHTM niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Indonesia và có báo cáo tài chính trong thời gian từ 2003-2008 Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng trong nghiên cứu này hồi quy OLS thông thường và hồi quy cố định tác động (Fix effects) Mô hình nghiên cứu như sau:

Y = £ο + β1X1 + β2X2 + β3X3 +β4X4 + β5X5 + β6X6 + εί

Trang 25

Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng chỉ số đánh giá rủi ro, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên ròng và hệ số giữa tài sản ngắn hạn trên tổng tiền gửi của khách hàng có một ảnh hưởng tiêu cực và đáng kể lên CAR Trách nhiệm thanh khoản nhìn thấy từ vốn chủ sở hữu/tổng nợ phải trả có một ảnh hưởng tích cực và quan trọng đến CAR

1.5 Kinh nghiệm về nâng cao hệ số an toàn vốn của một số ngân hàng thế giới

và bài học đối với các NHTM Việt Nam

1.5.1 Kinh nghiệm của một số ngân hàng trên thế giới

- Kinh nghiệm của Singapore

Singapore đặt ra tỷ lệ vốn áp dụng với các ngân hàng cao hơn so với mức tối thiểu của toàn cầu để củng cố uy tín cho vị thế trung tâm tài chính Cơ quan quản tiền tệ Singapore (MAS) xác định mỗi ngân hàng tại Singapore đều mang tầm quan trọng đối với hệ thống, tỷ lệ vốn cao hơn giúp hoạt động của các ngân hàng vững vàng hơn trong các điều kiện căng thẳng Ngày 28/12/2011, MAS đã ra thông cáo sửa đổi Thông tư số 637 của MAS về yêu cầu vốn rủi ro đối với các ngân hàng tại Singapore để thực hiện Basel III Tỷ lệ an toàn vốn cổ phần thường (common equity tier 1- CET1) tối thiểu phải đạt 6,5% năm 2019 cao hơn 2% so với tỷ lệ CET1 của

Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking supervision - BCBS) MAS cũng yêu cầu các ngân hàng Singapore đáp ứng yêu cầu an toàn vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế từ ngày 01/01/2013, sớm hơn 2 năm so với yêu cầu của BCBS Cách tiếp cận tăng tốc như vậy cũng có nghĩa là từ ngày 01/01/2013, các ngân hàng Singapore sẽ đáp ứng một tỷ lệ an toàn vốn cổ phần thường tối thiểu

là 4,5%, tỷ lệ an toàn vốn cấp 1 tối thiểu là 6,0%, và CAR tối thiểu là 8,0% Phù hợp với các yêu cầu của BCBS, MAS cũng sẽ đưa ra một tấm đệm bảo toàn vốn là 2,5% trên các yêu cầu an toàn vốn tối thiểu, tỷ lệ đòn bẩy là 3,0%, cũng như một số điều chỉnh và các khoản khấu trừ khác: Lợi thế thương mại (goodwill) và các tài sản

vô hình khác cũng như tài sản thuế thu nhập hoãn lại (deferred tax assets- DTA) được khấu trừ khỏi CET1 thay vì vốn cấp 1 Do đó, 2,0% sẽ được tính vào tổng hệ

số CAR, nâng tỷ lệ này lên thành 10,0% để có thể chống đỡ cho các rủi ro hệ thống Dần dần tấm đệm bảo tồn vốn sẽ nâng tỷ lệ này lên đến 12,5% vào năm 2019

Trang 26

- Kinh nghiệm của Hàn Quốc

Hàn Quốc là một quốc gia đã tuân thủ theo Basel trong hoạt động của các NHTM Năm 2004 có 7 ngân hàng lớn ở Hàn Quốc bắt đầu chuẩn bị Basel II trong

đó có Ngân hàng Exchange Hàn Quốc (KEB); sau 5 năm, đến ngày 31/12/2008 các ngân hàng bắt đầu tính các chỉ số BIS dựa trên Basel II, 2 nhiệm vụ quan trọng nhất

để triển khai Basel II đó là “Dữ liệu” và “Đào tạo” Dữ liệu là cốt lõi quan trọng nhất, cần có mối quan hệ mật thiết giữa bộ phận quản lý rủi ro và công nghệ thông tin Sự hiểu biết của người quản lý là rất cần thiết, ở Hàn Quốc cơ quan giám sát tài chính (FSS) kêu gọi cần phải đào tạo cho các nhà điều hành về Basel II, thực hiện các bài kiểm tra và cho điểm với từng giám đốc điều hành Đối với các nhân viên ở các bộ phận liên quan về tài chính (quản trị vốn), cho vay (định giá khoản vay, quản

lý danh mục đầu tư), công nghệ (kho dữ liệu), kiểm toán (kiểm định mô hình) đều phải được đào tạo Đến năm 2013 các ngân hàng Hàn Quốc được tiếp cận Basel III

và đến ngày 31/12/2013 thì bắt đầu áp dụng “Tỷ lệ thanh khoản”, “Tỷ lệ đảm bảo thanh khoản” và “Tỷ lệ tài trợ ổn định thuần” của Basel III

- Kinh nghiệm của Philippines

Bangko Sentral of Philipinas (BSP) - NHTW và là cơ quan điều tiết của ngành công nghiệp dịch vụ tài chính Philippines, đã ban hành một dự thảo về các yêu cầu của Basel III đối với các ngân hàng thương mại, bao gồm các công ty con trong tháng 01/2012 Theo BSP, tỷ lệ CET1 tối thiểu sẽ được thiết lập 6,0%, tổng vốn cấp

1 sẽ là 7,5%, và tổng hệ số CAR à 10% Bảo tồn vốn đệm 2,5% sẽ được áp dụng, sẽ đưa tổng số CAR lên 12,5% Có hai điểm đặc biệt của giai đoạn hiện tại trong việc thực hiện Basel III ở Philippines: (1) Định nghĩa vốn cấp 2; và (2) một khấu trừ cụ thể của các khoản đầu tư vốn cổ phần trong các tổ chức phi tài chính Trong khi xác định vốn cấp 2, BSP đã chọn và quy định rõ cổ phiếu ưu đãi là loại công cụ duy nhất, cho phép thuộc thể loại này Đây là định nghĩa hẹp hơn so với định nghĩa được đề xuất trong các yêu cầu của BCBS BSP cũng yêu cầu các ngân hàng xem xét các khoản đầu tư vốn cổ phần đặc biệt trong “các tổ chức phi tài chính liên kết

và không liên kết” và khấu trừ chúng hoàn toàn ra khỏi tỷ lệ an toàn vốn cổ phần thường Lý do chính cho việc tiếp cận nghiêm ngặt như vậy là vì các ngân hàng lớn của Phiippines liên kết với một số công ty cổ phần mẹ lớn nhất của nước này Điều

Trang 27

này không phải là không phổ biến cho các ngân hàng như vậy để có các khoản đầu

tư khác (phi tài chính) vào các công ty cổ phần Các khoản đầu tư này có thể là nguồn gốc của rủi ro hệ thống

- Kinh nghiệm của Malaysia

Ngân hàng Negara Maaysia (BNM) hỗ trợ đầy đủ việc thực hiện Basel III để tăng cường các tiêu chuẩn về vốn và tính thanh khoản cho các tổ chức ngân hàng trong nước Cơ quan quản lý đã chọn để thực hiện gói cải cách phù hợp với thông lệ quốc tế theo đúng lộ trình thực hiện, với từng giai đoạn bắt đầu từng bước từ năm

2015 cho đến năm 2019 Các hướng dẫn về việc thực hiện Basel III, được ban hành trong tháng 12/2011, đã đưa ra những định nghĩa chặt chẽ hơn về vốn và tăng cường chất lượng của nó, cũng như thực hiện các tỷ lệ đòn bẩy và thanh khoản Tỷ

lệ CET1 tối thiểu sẽ đạt 4,5%, trong khi tổng vốn cấp 1 sẽ được cố định ở mức 6,0%, và tổng số CAR ở mức 8% vào năm 2015 Như vậy, dần dần bộ đệm bảo toàn vốn sẽ mang lại tổng CAR mục tiêu cho các ngân hàng Malaysia là 10,5% vào năm

2019 Cơ quan quản cũng sẽ làm rõ các quy trình giám sát và các yêu cầu quản rủi

ro hiện tại trước khi các yêu cầu mới được thực hiện

1.5.2 Bài học kinh nghiệm cho các NHTM Việt Nam

Trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, tự do hóa và hội nhập tài chính đã trở thành một bộ phận chủ yếu, ảnh hưởng đến quá trình phát triển kinh tế tài chính của mỗi quốc gia Đúng trước thách thức của quá trình cải cách và mở cửa buộc các ngân hàng phải không ngừng đổi mới, nâng cao năng lực cạnh tranh của mình tuy nhiên vẫn phải đảm bảo an toàn trong hoạt động Việc từng bước tiếp cận và áp dụng các quy định về an toàn vốn theo chuẩn quốc tế Basel là một việc làm cần thiết trong điều kiện hiện nay Một số kinh nghiệm rút ra về hệ số an toàn vốn tại các NHTM trên thế giới như sau:

- Tăng cường năng lực tài chính cho các NHTM, tạo sức mạnh để các NHTM trong nước vừa có thể cạnh tranh được với các NHNNNg vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng

- Nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những yếu tố quyết định thành công trong hoạt động của các NHNNg Đây lại là một trong những khó khăn khi xem xét việc ứng dụng Hiệp ước Basel vào công tác quản trị rủi ro tại các

Trang 28

NHTM Việt Nam Sự thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề chung đối với tất cả các NHTM và đối với cơ quan giám sát NHTM như NHNN Các chuyên gia trong lĩnh vực quản trị, giám sát ngân hàng và nhân viên phụ trách phải có một tầm hiểu biết nhất định, giỏi về ngoại ngữ lẫn kiến thức toán học và kiến thức quản trị Ngoài ra, các kỹ năng phân tích, dự báo cũng là những kỹ năng không thể thiếu Đây thực sự là những yêu cầu cao đối với các chuyên gia ngân hàng Việt Nam tại thời điểm này Mặc dù, nhân lực ngành ngân hàng không hề thiếu, nhưng để đáp ứng được những yêu cầu khắt khe này thì số lượng có thể đáp ứng rất ít Ngoài ra, cũng có nhiều chuyên gia giỏi đang đảm nhiệm những vị trí cấp cao trong các NHTM, nhưng do không có điều kiện hoặc không đủ thời gian để được đào tạo và tiếp cận những kiến thức mới này nên cũng chưa có khả năng vận dụng vào công việc thực tế Chính vì vậy việc đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng cao là việc làm rất cần thiết

- Thành lập những tổ chức xếp hạng tín nhiệm chuyên nghiệp, thực tế ở Việt Nam, hiện tại đã có một số tổ chức được xem là chuyên nghiệp nhất hoạt động trong lĩnh vực xếp hạng tín nhiệm nhưng vẫn chưa được tổ chức quốc tế công nhận và chưa thực hiện đúng chức năng của một tổ chức đánh giá hệ số tín nhiệm Theo Basel các NHTM phải dựa vào rất nhiều yếu tố để có thể xác định

hệ số rủi ro theo từng khoản mục tài sản liên quan đến từng nhóm đối tượng khác nhau, mà một trong những yếu tố này là kết quả xếp hạng tín nhiệm của các tổ chức xếp hạng độc lập Hiện nay thực tế là mỗi ngân hàng đang từng bước xây dựng hệ thống xếp hạng tín nhiệm cho từng nhóm đối tượng khách hàng Tuy nhiên, việc xếp hạng tín nhiệm này chủ yếu phục vụ quá trình thẩm định, ra quyết định cho vay của ngân hàng, rất ít được chia sẻ thông tin hay phổ biến rộng rãi bên ngoài Vì thế, kết quả đánh giá còn mang nặng yếu tố chủ quan

Kết luận chương 1

Chương 1 của luận văn đề cập đến một số nội dung lý luận về hệ số an toàn vốn tại NHTM, các yếu tố tác động đến hệ số an toàn vốn và các bài nghiên cứu của các tác giả nước ngoài về các yếu tố ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại NHTM

Từ đó tạo tiền đề quan trọng để có thể phân tích, đánh giá và nghiên cứu các yếu tố

Trang 29

ảnh hưởng đến hệ số an toàn vốn tại các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam trong chương 2

Trang 30

CHƯƠNG 2: PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HỆ SỐ AN TOÀN VỐN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN VIỆT NAM 2.1 Giới thiệu các Ngân hàng thương mại cổ phần Việt Nam

và tiềm năng phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam đối với các nhà đầu tư trong nước và cả các nhà đầu tư nước ngoài Từ năm 1991-1993, số lượng NHTMCP nhảy vọt từ 4 lên 41 và đạt đỉnh điểm là 51 vào năm 1997 Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, một số ngân hàng do kinh doanh không hiệu quả, bị phá sản hoặc bị rút giấy phép hoạt động nên con số này đã giảm Theo công bố của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tính đến thời điểm ngày 31/12/2013, hệ thống các NHTM nước ta bao gồm: 1 NHTMNN, 37 NHTMCP, 51 chi nhánh NHNNg, 4 NH liên

NH 100% vốn nước ngoài và việc loại bỏ dần các hạn chế đối với hoạt động của chi

Trang 31

nhánh ngân hàng đã khiến mức độ cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, buộc các ngân hàng Việt Nam phải tái cấu trúc để tiếp tục phát triển Các NHTMNN đã và đang trong lộ trình thực hiện cổ phần hóa và chính thức hoạt động theo mô hình đa

sở hữu Các NHTMCP một mặt đang cấu trúc lại, có sự tham gia của các nhà đầu tư chiến lược nước ngoài cùng lộ trình tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu là 3.000 tỉ VND theo Nghị định số 141/2006/NĐ-CP về việc ban hành danh mục mức vốn pháp định của các TCTD Tất cả các động thái này nhằm hướng tới sự phát triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, thực tế trong suốt thời gian qua

kể từ khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO) chúng ta đã được chứng kiến sự phát triển ngày càng lớn mạnh của hệ thống các NHTM trong nước, đặc biệt phải kể đến khối các NHTMCP Các NHTMCP cũng có sự bứt phá trong việc tăng năng lực tài chính thông qua việc góp vốn của các cổ đông chiến lược trong, ngoài nước Trong thời gian vừa qua, chúng ta cũng đã chứng kiến rất nhiều những thương vụ sáp nhập và hợp nhất của các NHTMCP nằm trong “Đề án tái cơ cấu hệ thống các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” Chương trình tái cấu trúc ngành ngân hàng bắt đầu được khởi động từ năm 2011 Dưới sự bảo trợ của BIDV, 3 ngân hàng cổ phần là Ficombank, Tinghiabank và SCB đã hợp nhất với tên gọi mới là SCB và sau đó rất nhiều những thương vụ sáp nhập và hợp nhất của các NHTM trong nước Điều này cho thấy các NHTMCP đang ngày càng tự hoàn thiện mình, phát triển ngày càng lớn mạnh cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, ngày càng chiếm ưu thế về thị phần hoạt động, sức mạnh tài chính cũng như khả năng đáp ứng các sản phẩm dịch vụ cho khách hàng

2.1.2 Các hoạt động kinh doanh chủ yếu

- Huy động vốn: Hoạt động huy động vốn bao gồm nhận tiền gửi của khách hàng

bằng nội tệ và ngoại tệ; phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động nguồn vốn; vay từ các định chế tài chính trong

và ngoài nước; vay từ NHNN và các hình thức vay vốn khác theo quy định của

NHNN

- Hoạt động tín dụng: Các hoạt động tín dụng bao gồm cho vay bằng nội tệ và

ngoại tệ, hoạt động bảo lãnh, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, cho

vay thấu chi, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu và các hình thức cấp tín dụng khác

Trang 32

- Hoạt động đầu tư: Các hoạt động đầu tư được thực hiện thông qua việc tham

gia vào thị trường liên ngân hàng và thị trường vốn Tài sản đầu tư bao gồm trái phiếu chính phủ, tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, trái phiếu đô thị, trái phiếu

do NHTM phát hành, trái phiếu doanh nghiệp Ngoài ra các ngân hàng còn góp vốn mua cổ phần của các doanh nghiệp trong và ngoài nước và góp vốn liên

doanh với các tổ chức nước ngoài

- Dịch vụ thanh toán và ngân quỹ: Các NHTMCP tập trung cung cấp dịch vụ

thanh toán và ngân quỹ cho khách hàng bao gồm thanh toán trong nước và quốc

tế, thu chi hộ khách hàng, thu chi bằng tiền mặt và séc

- Các hoạt động khác: Bên cạnh các hoạt động kinh doanh chính, các

NHTMCP cung cấp một số dịch vụ bổ sung cho khách hàng bao gồm các hoạt động trên thị trường tiền tệ, kinh doanh giấy tờ có giá bằng VNĐ và ngoại tệ, chuyển tiền trong nước và quốc tế, chuyển tiền kiều hối, kinh doanh ngoại hối, các hoạt động đại lý và ủy thác, bảo hiểm, các hoạt động chứng khoán thông qua các công ty con, dịch vụ tư vấn tài chính, dịch vụ quản lý vốn, dịch vụ thấu chi, dịch vụ thẻ, gửi và giữ tài sản, dịch vụ ngân hàng qua điện thoại, dịch vụ

Trang 33

Bảng 2.2: Nguồn vốn huy động tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 –

Vietinbank 151,459 174,905 220,436 339,699 420,212 460,082 551,670 Vietcombank 144,810 159,989 169,457 208,320 241,700 303,942 467,459 ACB 74,943 91,174 134,502 183,132 234,503 159,500 150,988 Eximbank 22,914 32,331 46,989 70,705 72,777 85,519 82,650 Sacombank 55,692 58,635 86,335 126,204 111,513 123,753 140,770 Quân đội 17,785 27,163 39,978 65,741 85,594 152,358 159,690 SHB 9,949 11,769 24,647 45,031 62,126 104,131 130,951 Nam Việt 9,026 9,574 16,746 11,410 15,082 17,079 20,504 Đông Á 21,656 29,797 36,714 47,756 48,120 61,690 67,421 Techcombank 35,150 51,895 62,347 80,551 88,648 111,462 119,978 Hdbank 12,456 7,772 17,119 30,494 39,684 60,602 76,304 Bản Việt 1,257 2,265 2,190 6,076 13,290 17,103 19,604 BIDV 141,857 181,048 203,297 251,924 244,838 331,116 372,156 ABBank 6,981 7,245 15,001 25,947 25,489 33,358 40,608 Maritimebank 15,478 29,877 59,287 41,865 49,122 66,864 65,249 Vpbank 15,448 15,609 24,444 48,719 71,059 91,372 83,844 Saigonbank 8,579 9,429 9,607 12,972 11,776 11,668 10,932 VIB 19,225 23,958 34,210 59,564 87,084 40,062 43,239 Seabank 20,249 16,730 24,644 39,685 81,616 62,817 69,945 SouthernBank 5,828 9,539 19,785 31,267 35,338 69,540 72,495 OCB 9,877 8,262 10,046 13,431 20,870 22,400 28,514 Oceanbank 12,337 12,436 31,190 50,427 57,378 59,398 62,068

Trang 34

(Nguồn: Báo cáo thường niên của 22 NHTMCP) Doanh số huy động vốn của các ngân hàng tăng trưởng qua mỗi năm, đặc biệt

ở một số NHTMCP như Vietcombank, Vietinbank, ACB, Sacombank, Eximbank, MB đây là những ngân hàng có lợi thế về mạng lưới, thương hiệu nên nguồn vốn huy động tăng mạnh, ngược lại một số NHTMCP quy mô nhỏ như SHB, NVB, Bản Việt hoạt động huy động vốn gặp nhiều khó khăn, chính vì vậy các ngân hàng này phải tìm nhiều giải pháp đẩy mạnh công tác huy động vốn mới có thể cạnh tranh được với các ngân hàng trong nước cũng như các NHNNg Trong thời gian qua, các NHTMCP không ngừng nghiên cứu và đưa ra nhiều sản phẩm huy động vốn mới kết hợp với nhiều kỳ hạn linh hoạt, lãi suất ưu đãi, với các hoạt động khuyến mại, trúng thưởng nhằm đẩy mạnh huy động vốn Bên cạnh đó, với thủ tục đơn giản, phong cách phục vụ ân cần, chăm sóc khách hàng thân thiết, chào mời khách hàng tiềm năng ngày càng được các NHTM quan tâm, nhằm mục đích thu hút khách hàng và thúc đẩy tăng trưởng huy động vốn

Trang 35

(Nguồn: Báo cáo thường niên của 22 NHTMCP) Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động chủ yếu, đem lại nguồn thu nhập chính cho ngân hàng Đây được xác định là hoạt động mang tính chủ lực Vì vậy các NHTM luôn chú trọng và xem đây là phần trọng tâm trong chiến lược kinh

Trang 36

doanh Dư nợ tín dụng tại 22 NHTMCP Việt Nam hầu hết luôn tăng trưởng liên tục

qua các năm, cá biệt có một số ngân hàng có mức tăng trưởng tín dụng âm

Bảng 2.4: Tốc độ tăng/giảm dư nợ tín dụng tại các NHTMCP Việt Nam giai

Vietinbank 20.17 35.13 43.53 25.29 38.27 13.39 Vietcombank 15.65 25.56 24.85 18.44 15.16 15.42 ACB 9.50 79.02 39.83 17.91 0.01 4.07 Eximbank 15.07 81.71 61.65 19.72 0.35 18.06 Sacombank -1.04 70.41 38.27 -2.36 19.61 14.49 Quân đội 35.50 87.98 64.92 21.00 26.14 17.81 SHB 46.31 105.17 91.57 18.66 95.25 34.37 Nam Việt 25.46 81.93 8.10 19.95 -0.22 4.58 Đông Á 41.60 35.65 10.81 14.48 15.11 9.47 Techcombank 31.99 59.79 25.74 19.88 7.58 2.95 Hdbank -30.71 33.30 42.49 18.08 52.72 108.20 Bản Việt 23.31 81.71 55.54 19.57 77.67 28.94 BIDV 21.77 29.06 27.75 15.64 15.65 15.03 ABBank -4.67 97.05 55.39 0.53 15.61 1.64 Maritimebank 71.72 112.95 33.34 18.61 -24.41 -3.95 Vpbank -2.53 21.77 60.15 15.24 26.45 42.19 Saigonbank 7.36 22.77 7.54 6.95 -2.88 -1.76 VIB 18.68 38.32 52.57 4.23 -21.98 3.84 Seabank -14.67 43.37 -15.91 -2.71 -15.00 25.36 SouthernBank 63.68 107.42 58.03 13.02 23.47 -0.77 OCB -13.02 19.81 13.27 27.71 17.65 18.73 Oceanbank 26.00 71.57 73.04 8.83 36.76 8.54 Trung bình 22

NHTMCP 18.51 60.97 39.66 14.49 19.04 17.30

(Nguồn: Báo cáo thường niên của 22 NHTMCP)

Trang 37

Tốc độ tăng trưởng tín dụng trung bình tại 22 NHTMCP cao nhất vào năm 2009, với mức tăng so với năm 2008 là 60.97% sau đó giảm dần qua các năm và thấp nhất vào năm 2011 với mức tăng so với năm 2010 là 14.49%

Một trong số những nguyên nhân khiến tốc độ tăng trưởng tín dụng chững lại đó là

do ngân hàng có chiến lược chuyển dịch cơ cấu hoạt động sang kinh doanh dịch vụ, phù hợp với thông lệ quốc tế và hoạt động của ngân hàng hiện đại Mặt khác những bài học về nợ xấu đã khiến các ngân hàng nhận thức rõ việc quản trị rủi ro trong hoạt động cho vay và điều hành hoạt động tín dụng sát hơn với các quy định quốc tế

và các quy định của NHNN về quản trị rủi ro, phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi

ro, các quy định về giới hạn tín dụng, về đảm bảo tỷ lệ an toàn trong hoạt động, hướng đến nâng cao chất lượng tín dụng

Trang 38

- Kết quả hoạt động kinh doanh

Bảng 2.5: Lợi nhuận sau thuế tại các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2007 –

2013

Đvt: tỷ đồng Ngân hàng 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013

Vietinbank 1,147 1,827 2,818 3,449 6,294 6,126 5,813 Vietcombank 2,394 2,591 3,753 4,109 4,273 4,323 4,307 ACB 1,595 1,921 2,129 2,327 3,152 782 777 Eximbank 472 727 1,150 1,784 3,042 2,138 621 Sacombank 1,187 833 1,631 1,920 2,078 1,026 2,221 Quân đội 457 646 1,129 1,716 1,969 2,318 2,261 SHB 132 202 311 494 751 1,369 750 Nam Việt 77 56 143 157 167 2 18 Đông Á 341 527 591 644 942 583 323 Techcombank 533 1,212 1,690 2,058 3,166 764 659 Hdbank 126 60 191 263 425 320 180 Bản Việt 76 5 54 56 270 204 101 BIDV 1,521 1,763 2,704 3,470 3,165 2,543 3,968 ABBank 173 49 310 496 302 396 139 Maritimebank 180 328 754 1,139 778 191 308 Vpbank 236 149 287 497 798 640 1,016 Saigonbank 177 166 209 653 302 295 171 VIB 320 173 461 788 637 526 61 Seabank 307 179 450 622 118 52 150 SouthernBank 190 102 233 399 186 92 14

Oceanbank 101 47 226 518 482 233 174

(Nguồn: Báo cáo thường niên của 22 NHTMCP)

Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh hiệu quả kinh doanh cũng như để đánh giá

sự phát triển bền vững của một ngân hàng Các NHTMCP Việt Nam cũng ra sức

Trang 39

phát triển hoạt động kinh doanh, đa dạng hóa danh mục sản phẩm, dịch vụ cung cấp nhằm phục vụ tốt nhất cho những nhu cầu của khách hàng và đem lại hiệu quả cao nhất trong hoạt động của ngân hàng Thu nhập của ngân hàng bao gồm các khoản thu nhập lãi, thu từ hoạt động dịch vụ, thu từ hoạt động kinh doanh ngoại hối và các khoản thu nhập khác Tuy nhiên thu nhập về lãi vẫn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng thu nhập, do vậy khi dư nợ tín dụng sụt giảm sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến tổng nguồn thu của ngân hàng Chính vì vậy việc đẩy mạnh phát triển dịch vụ chính

là xu thế của các NHTM hiện nay

Vietcombank, Vietinbank, BIDV là những ngân hàng gia tăng lợi nhuận đều qua các năm với mức tăng trưởng tương đối cao, ngoại trừ năm 2013 có một sự sụt giảm mạnh về lợi nhuận không chỉ riêng các ngân hàng này mà ở hầu hết các NHTM khác Nguyên nhân của sự sụt giảm này là do hoạt động tín dụng khó khăn khiến nguồn thu của các ngân hàng giảm mạnh, bên cạnh đó là những quy định về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng, về trích lập dự phòng rủi ro làm tăng chi phí hoạt động và giảm lợi nhuận Việc tối đa hóa lợi nhuận trong giai đoạn kinh tế khó khăn đòi hỏi các nhà quản lý ngân hàng cần thận trọng, xây dựng chiến lược kinh doanh hợp lý để vừa gia tăng lợi nhuận vừa đảm bảo an toàn trong hoạt động

Trên thế giới, một số các quốc gia áp dụng hệ thống chuẩn mực đánh giá an toàn ngân hàng theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng (BCBS) Hiệp ước Basel ban đầu được xây dựng để giải quyết yêu cầu cấp bách về việc tạo dựng một thị trường tài chính an toàn, ổn định hơn; tạo một mặt bằng chung cho các ngân hàng cạnh tranh trên quy mô quốc tế Phiên bản đầu tiên của Basel là Basel I ra đời năm

1988, do Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng soạn thảo Hiệp ước này ban đầu chỉ

Trang 40

nhằm áp dụng đối với các ngân hàng hoạt động trên quy mô quốc tế, nhưng đã được rất nhiều quốc gia chào đón và áp dụng rộng rãi ở các ngân hàng hoạt động ở cấp quốc gia Qua 3 phiên bản Hiệp ước Basel, các tiêu chuẩn cao hơn và chặt chẽ hơn

đã dần được áp dụng Từ Basel I ban đầu chỉ chú trọng đến rủi ro tín dụng, đến Basel II, với ba cột trụ đưa ra các quy định không chỉ về quản trị rủi ro tín dụng, rủi

ro hoạt động, rủi ro thị trường, mà còn tập trung cả về hệ thống kiểm soát nội bộ và giám sát của ngân hàng, các nguyên tắc thị trường và công bố thông tin Cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2007 - 2009 xảy ra cho thấy, Basel II, mặc dù đã cải tiến rất nhiều so với Basel I, song vẫn còn hạn chế Do đó, ở phiên bản mới nhất, Basel III, hàng loạt quy định về rủi ro thanh khoản, mức vốn tối thiểu và các quy định khác đều đã được nâng cấp so với Basel II

Tính đến thời điểm hiện tại, Việt Nam vẫn chưa phải là một thành viên của BCBS, do đó không bị ràng buộc bởi thời hạn phải tuân thủ Basel II Tuy nhiên, trong thời gian qua, NHNN Việt Nam đã dần tiếp cận với Basel II bằng cách ban hành nhiều văn bản luật và quy định theo định hướng Basel II Đối với hệ số an toàn vốn, quy định cụ thể có liên quan đầu tiên là Quyết định 297/1999/QÐ-NHNN quy định về các tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng thương mại Tại quy định này, hệ số an toàn vốn tối thiểu được xác định là 8% nhưng phương pháp tính đơn giản và chưa phản ánh chính xác và tuân thủ Basel I Ðến năm 2005, NHNN đã ban hành Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN với hệ số an toàn vốn tối thiểu vẫn là 8% nhưng phương pháp tính toán đã tiếp cận tương đối toàn diện Basel

I Năm 2010, NHNN ban hành Thông tư số 13/TT-NHNN thay thế Quyết định 457/2005/QÐ-NHNN, nâng hệ số an toàn vốn tối thiểu lên 9% và phương pháp tính toán đã từng bước tiếp cận Basel II

Phương pháp tính CAR tại các NHTMCP Việt Nam hiện nay được tính toán theo Thông tư 13/2010/TT – NHNN của NHNN Việt Nam với công thức cụ thể như sau:

Tỷ lệ an toàn vốn riêng lẻ = Vốn tự có (1.2)

Tổng tài sản Có rủi ro

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w