1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

71 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,52 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tôi cam đoan rằng Luận văn Thạc sĩ kinh tế với đề tài: “Phân tích tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang”đây

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

_

TRƯƠNG VĂN TUẤN EM

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ LÊN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ CANH TÁC MỘT VỤ TÔM, MỘT VỤ LÚA

TẠI HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

TRƯƠNG VĂN TUẤN EM

PHÂN TÍCH TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ LÊN THU NHẬP CỦA NÔNG HỘ CANH TÁC MỘT VỤ TÔM, MỘT VỤ LÚA

TẠI HUYỆN AN MINH TỈNH KIÊN GIANG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN NGỌC VINH

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

Tôi cam đoan rằng Luận văn Thạc sĩ kinh tế với đề tài: “Phân tích tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang”đây là công trình nghiên cứu của riêng

tôi Các số liệu, nội dung nghiên cứu, kết qủa nghiên cứu, đảm bảo tính khách quan, các nguồn trích dẫn được chú thích nguồn gốc rõ ràng, trung thực Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan này./

TP Hồ Chí Minh, ngày 05 tháng 6 năm 2017

Học viên thực hiện

Trương Văn Tuấn Em

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

TÓM TẮT LUẬN VĂN

CHƯƠNG 1 1

GIỚI THIỆU NGHIÊN CỨU 1

1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 1

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU 2

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN 3

CHƯƠNG 2 5

CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 5

2.1 KHUNG KHÁI NIỆM 5

2.1.1 Nông hộ 5

2.1.2 Thu nhập và thu nhập của hộ gia đình 5

2.1.3 Chi phí 6

2.1.4 Năng suất sản xuất 6

2.1.5 Doanh thu và lợi nhuận 7

2.2.6 Mô hình một vụ tôm, một vụ lúa 8

Trang 5

2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 8

2.2.1.Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất 8

2.2.2.Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất 9

2.2.3 Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí 10

2.2.4 Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận 12

2.3.5 Hàm sản xuất Cobb – Doulags 13

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 14

2.4.1 Nghiên cứu ngoài nước 14

2.4.2 Nghiên cứu trong nước 15

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 18

CHƯƠNG 3 19

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU 19

3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU 19

3.3 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU 21

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 24

CHƯƠNG 4 25

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 25

4.1 TỔNG QUAN VỀ HUYỆN AN MINH 25

4.1.1 Điều kiện tự nhiên, đất đai 25

4.1.2 Định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp của huyện An Minh 27

4.2 THỐNG KÊ MÔ TẢ MẪU KHẢO SÁT 29

4.3 KẾT QUẢ HỒI QUY 35

4.3.1 Hệ số tương quan 35

4.3.2 Kết quả hồi quy các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình trong năm 36

4.3.3 Kiểm định sự khác biệt giữa các nhóm đối với thu nhập 41

KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 43

CHƯƠNG 5 44

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 44

Trang 6

5.1 KẾT LUẬN 44 5.2 HÀM Ý CHÍNH SÁCH 45 5.2.1 Hàm ý chính sách đối với chính quyền địa phương 45 5.2.2 Hàm ý chính sách đối với hộ tham gia mô hình một vụ tôm, một vụ…46 5.3 HẠN CHẾ CỦA ĐỀ TÀI VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO 47

TÀI LIỆU THAM KHẢO

BẢNG CÂU HỎI

PHỤ LỤC SỐ LIỆU

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1: Hiện trạng sử dụng đất huyện An Minh 2010 – 2015 26

Bảng 4.2: Phát triển thủy sản huyện An Minh đến năm 2020 29

Bảng 4.6: Ma trận tương quan giữa các biến độc lập 36

Bảng 4.7: Kết quả ước lượng mô hình hồi quy ảnh hưởng đến thu nhập 37

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Trang 10

TÓM TẮT LUẬN VĂN

Trong điều kiện, tác động của biến đổi khí hậu đến hệ thống canh tác, việc quy hoạch vùng nuôi trồng nhằm thích ứng với những thay đổi do biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn là cần thiết Mô hình luân canh tôm - lúa ở ĐBSCL được xem là mô hình sản xuất nông nghiệp “thông minh” do có thể trồng lúa vào mùa mưa và nuôi tôm vào mùa khô Nó có vị trí hết sức quan trọng đối với kinh tế của vùng, tạo công ăn việc làm, thu nhập và phát triển kinh tế - xã hội

Bằng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, tác giả chọn mẫu khảo sát gồm 180

hộ gia đình đang sinh sống trên địa bàn huyện An Minh Tiến hành thống kê mô tả các đặc trưng của chủ hộ, của hộ gia đình để có cái nhìn khái quát về mẫu nghiên cứu

Phân tích hồi quy bội bằng phương pháp OLS xác định các nhân tố ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình trong năm Kết quả hồi quy cho thấy, có 8 biến độc lập ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người trong năm bao gồm giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ, số người tham gia sản xuất, kinh nghiệm sản xuất, diện tích, tín dụng, hội nông dân, hộ trợ sản xuất, trong đó biến diện tích có ảnh hưởng mạnh nhất đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình Chưa có bằng chứng để khẳng định có hay không sự ảnh hưởng của học vấn chủ hộ, số nhân khẩu và chi phí sản xuất trong năm ảnh hưởng đến thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình trong năm Kết quả trên là cơ sở để tác giả đề tài

đề xuất các chính sách góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, cải thiện thu nhập, nâng cao đời sống hộ gia đình nông thôn, góp phần phát triển kinh tế - xã hội địa phương

Trang 12

Đồng bằng sông Cửu Long được xem là vựa lúa và vựa thủy sản của cả nước; là một trong những nơi sản sinh ra những mô hình nông nghiệp kết hợp luân canh với các đối tượng nuôi thuỷ sản khác nhau Năm 2014, ĐBSCL có 558.74 ha nuôi tôm mặn lợ, trong đó mô hình luân canh một vụ tôm, một vụ lúa chiếm khoảng 25% (Sở NN&PTNT các tỉnh ĐBSCL, 2015) Tổng diện tích mô hình một vụ tôm, một vụ lúa ở ĐBSCL biến động nhiều qua các năm do tình hình thị trường tiêu thụ tôm, lúa, dịch bệnh trên tôm cũng như thời tiết hăng năm Tuy nhiên, hiện nay chưa có mô hình nghiên cứu cụ thể nào về các bộ giống lúa có khả năng thích ứng với các vùng sinh thái nhiễm mặn, nhiễm phèn chuyên biệt và các giải pháp thiết kế, canh tác nuôi tôm nhằm ổn định năng suất

và sản lượng tôm và lúa cho từng vùng sinh thái chuyên biệt khác nhau

Nuôi tôm sú kết hợp với trồng lúa phát triển rất nhanh và hiện là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện An Minh Đến nay, trong toàn huyện có 11/11 xã, thị trấn thực hiện mô hình canh tác một vụ tôm, một vụ lúa với diện tích thả nuôi trên 26 ngàn ha So với trước đây chỉ thực hiện mô hình trồng lúa chưa kết hợp nuôi tôm thì mô hình này đem lại lợi nhuận kinh tế rất cao Qua thực hiện mô hình này đời sống vật chất, tinh thần của nông dân trên địa bàn huyện được cải thiện, bộ mặt nông thôn có chiều hướng khởi sắc theo hướng văn minh hiện đại

Vì vậy, diện tích và sản lượng tôm - lúa trên địa bàn huyện gia tăng nhanh chóng theo từng năm tốc độ này chưa có dấu hiệu dừng lại, đây là mô hình canh tác bền vững của huyện trong hiện tại và những năm tiếp theo Chính vì thế, việc

Trang 13

phân tích tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa sẽ góp phần đánh giá chính xác hơn bản chất của việc tạo ra thu nhập của các nông hộ

Với mong muốn cung cấp cho các hộ nông dân và các nhà làm công tác chuyên môn, quản lý trên địa bàn huyện có thêm tư liệu làm cơ sở tham khảo về năng suất và lợi nhuận của các hộ canh tác mô hình nuôi tôm kết hợp trồng lúa trên địa bàn để người dân có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả và lợi ích của

mô hình; Đồng thời để các nhà chuyên môn quản lý có những định hướng và chính sách hỗ trợ phù hợp cho các hộ nuôi tôm kết hợp trồng lúa Chính vì thế,

học viên chọn ý tưởng làm luận văn tốt nghiệp “Phân tích tác động của các yếu

tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang”

1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu chung

Phân tích tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một

vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang; qua đó gợi ý các chính sách nhằm giúp nông hộ tại địa bàn áp dụng mộ hình ngày càng hiệu quả hơn

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu này được thực hiện với các mục tiêu cụ thể là:

- Xác định các yếu tố tác động lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa

- Đánh giá mức độ tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa

- Gợi ý các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế cho các hộ tham gia sản xuất theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa

1.3 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này dự kiến sẽ trả lời cho 3 câu hỏi sau:

- Các yếu tố tác động lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một

vụ lúa?

Trang 14

- Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố tác động lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa như thế nào?

- Các chính sách nào nhằm nâng cao thu nhập cho các hộ tham gia sản xuất theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang?

1.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các nhân tố tác động lên thu nhập của nông hộ canh tác mô hình một vụ tôm, một vụ lúa

1.4.2 Phạm vi nghiên cứu

Giới hạn vùng nghiên cứu: Huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

Giới hạn thời gian: Các số liệu, dữ liệu nghiên cứu, thông tin sử dụng trong đề tài được giới hạn trong khoảng thời gian 3 năm từ 2013 đến 2015

1.5 KẾT CẤU LUẬN VĂN

Ngoài phần phụ lục và các vấn đề có liên quan thì bố cục chính của đề tài bao gồm 5 chương, được chia như sau:

Chương 1 Giới thiệu Chương này trình bày tổng quan về đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và

bố cục đề tài

Chương 2 Tổng quan lý thuyết Chương này trình bày cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất trong nông nghiệp, lược khảo một số tài liệu nghiên cứu có liên quan đến đề tài

Chương 3 Phương pháp và mô hình nghiên cứu Chương này nêu phương pháp nghiên cứu của đề tài bao gồm phương pháp chọn vùng nghiên cứu, thiết

kế nghiên cứu, thiết kế bảng câu hỏi điều tra, phương pháp thu thập dữ liệu, cỡ mẫu và mô hình phân tích định lượng

Chương 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận Chương này trình bày tổng quan về mẫu nghiên cứu, so sánh hiệu quả tài chính và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và lợi nhuận mô hình một vụ tôm, một vụ lúa của hộ nông dân

Trang 15

Chương 5 Kết luận và kiến nghị chính sách Chương này tổng hợp kết quả nghiên cứu, đề xuất các chính sách nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế của hộ sản xuất theo mô hình một vu tôm, một vụ lúa Đồng thời, đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 16

nó có mối liên hệ chặt chẽ với các đơn vị khác và với hệ thống kinh tế quốc dân Khai thác đầy đủ những khả năng và tiềm lực của nông hộ sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng nền kinh tế quốc dân Hộ nông dân là hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh trong nông, lâm, ngư nghiệp, bao gồm một nhóm người có cùng huyết tộc hoặc quan hệ huyết tộc sống chung trong một mái nhà, chung một nguồn thu nhâp, tiến hành các hoạt động sản xuất nông nghiệp với mục đích chủ yếu phục vụ cho nhu cầu của các thành viên trong hộ

2.1.2 Thu nhập và thu nhập của hộ gia đình

Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa về thu nhập như sau:

Thu nhập là tổng số tiền mà một người hay một gia đình kiếm được trong 1

ngày, 1 tuần hay 1 tháng, hay nói cụ thể hơn là tất cả những gì mà người ta thu được khi bỏ công sức lao động một cách chính đáng được gọi là thu nhập

Thu nhập bình quân đầu người 1 tháng được tính bằng cách chia tổng thu

nhập trong năm của hộ gia đình cho số nhân khẩu của hộ và chia cho 12 tháng Theo Singh và Strauss (1986) cho rằng thu nhập của hộ gia đình gồm thu nhập chính từ nông nghiệp và thu nhập từ phi nông nghiệp

Theo Tổng Cục Thống kê (2010) định nghĩa như sau: Thu nhập của hộ gia đình là toàn bộ số tiền và giá trị hiện vật quy thành tiền sau khi đã trừ chi phí sản xuất mà hộ gia đình và các thành viên của hộ nhận được trong một thời gian

Trang 17

nhất định, thường là 1 năm, bao gồm (1) thu từ tiền công, tiền lương, (2) thu từ sản xuất nông, lâm, nghiệp, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (3) thu từ ngành nghề phi nông, lâm, thủy sản (đã trừ chi phí sản xuất và thuế sản xuất), (4) thu khác được tính vào thu nhập (không tính tiền từ tiết kiệm, bán tài sản, vay thuần túy, thu nợ và các khoản chuyển nhượng vốn nhận được)

2.1.3 Chi phí

Chi phí nói chung là sự hao phí thể hiện bằng tiền trong quá trình kinh doanh với mong muốn mang về một sản phẩm dịch vụ hoàn thành hoặc một kết quả kinh doanh nhất định Chi phí phát sinh trong các hoạt động sản xuất của nông hộ nhằm đến việc đạt được mục tiêu cuối cùng là doanh thu và lợi nhuận (Nguyễn Tấn Bình, 2005)

Chi phí biến đổi là những chi phí tăng tỷ lệ về khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ Với một công nghệ đã xác định, biến phí tính cho một đơn vị sản phẩm thường không đổi, tuy nhiên khi công nghệ sản xuất thay đổi hoặc quy trình tổ chức sản xuất thay đổi thì biến phí trên một đơn vị sản phẩm sẽ thay đổi Chi phí biến đổi trên một đơn vị sản phẩm có xu hướng giảm khi qui trình công nghệ sản xuất càng hiện đại

2.1.4 Năng suất sản xuất

Khái niệm năng suất được nhà kinh tế học Adam Smith (1776) đưa ra trong một bài báo bàn về vấn đề hiệu quả sản xuất phụ thuộc vào số lượng lao động và khả năng sản xuất Theo đó khái niệm năng suất là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực vì trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất

Theo khái niệm năng suất cổ điển thì năng suất có nghĩa là năng suất lao động hoặc hiệu suất sử dụng các nguồn lực Vì khái niệm năng suất xuất hiện trong giai đoạn đầu sản xuất công nghiệp, yếu tố lao động là yếu tố được coi trọng nhất Ở giai đoạn này, người ta thường hiểu năng suất đồng nghĩa với năng suất lao động Qua một thời kỳ phát triển, các nguồn lực khác như vốn, năng lượng và nguyên vật liệu cũng được xét đến trong khái niệm năng suất để phản ánh tầm quan trọng và đóng góp của

nó trong doanh nghiệp Quan điểm này đã thúc đẩy việc phát triển các kỹ thuật nhằm

Trang 18

giảm bớt lãng phí và nâng cao hiệu quả sản xuất Năng suất ở giai đoạn này có nghĩa là sản xuất “nhiều hơn” với “chi phí thấp hơn” Đây là thời điểm Adam Smith và Frederick Taylor tập trung vào việc phân chia lao động, xác định và tiêu chuẩn hoá các phương pháp làm việc tốt nhất để đạt được hiệu suất làm việc cao hơn Tuy nhiên, quan điểm năng suất như vậy mới chỉ dừng lại ở năng suất nguồn lực và đó chỉ là một khía cạnh của năng suất

Năng suất là mối quan hệ (tỷ số) giữa đầu ra và đầu vào được sử dụng để hình thành đầu ra đó Theo cách định nghĩa này thì nguyên tắc cơ bản của tăng năng suất là thực hiện phương thức để tối đa hoá đầu ra và giảm thiểu đầu vào Thuật ngữ đầu vào, đầu ra được diễn giải khác nhau theo sự thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội Đầu

ra thường được gọi với những cụm từ như tập hợp các kết quả Đối với các doanh nghiệp, đầu ra được tính bằng tổng giá trị sản xuất - kinh doanh, giá trị gia tăng hoặc khối lượng hàng hoá tính bằng đơn vị hiện vật Ở cấp vĩ mô thường sử dụng Tổng giá trị sản phẩm quốc nội (GDP) là đầu ra để tính năng suất Đầu vào trong khái niệm này được tính theo các yếu tố tham gia để sản xuất ra đầu ra như lao động, nguyên vật liệu, vốn, thiết bị máy móc, năng lượng, kỹ năng quản lý

Như vậy, nói về năng suất, nhất thiết phải đề cập tới 2 khía cạnh, khía cạnh đầu vào và đầu ra Khía cạnh đầu vào thể hiện hiệu quả sử dụng các nguồn lực Khía cạnh đầu ra thể hiện giá trị sản phẩm và dịch vụ Tuy nhiên, những cách tiếp cận mới gần đây nhấn mạnh hơn vào khía cạnh đầu ra của năng suất để đáp ứng được với những thách thức của môi trường cạnh tranh và những mong đợi của xã hội.

2.1.5 Doanh thu và lợi nhuận

Tổng doanh thu (TR): được tính bằng tổng các loại sản phẩm nhân với

đơn giá tương ứng loại sản phẩm tương ứng

1Trong đó:

i

P: số lượng sản phẩm thứ i

i

Q: giá đơn vị sản phẩm thứ i

Lợi nhuận (P): được tính bằng tổng doanh thu trừ đi tổng chi phí trong

quá trình sản suất kinh doanh

Trang 19

TC TR

P 

Trong đó: TC là tổng chi phí

Tỉ suất lợi nhuận trên chí phí :

% 100

TC

P PCR

PCR: tỉ suất lợi nhuận trên chi phí %

P: lợi nhuận trên một đơn vị diện tích

TC: tổng chi phí trên một đơn vị diện tích

2.2.6.Mô hình một vụ tôm, một vụ lúa

Hệ thống nuôi tôm bán thâm canh một vụ tôm, một vụ lúa phát triển vào đầu những năm 2010 từ hệ thống nuôi tôm-lúa quảng canh cải tiến với mật độ thấp Xuất phát từ mong muốn có năng suất, lợi nhuận cao từ nuôi tôm, người dân đã chuyển đổi sang nuôi bán thâm canh Mô hình bán thâm canh tôm-lúa có

ở hầu hết các tỉnh vùng ĐBSCL, tuy nhiên ở các tỉnh Sóc Trăng, Trà Vinh mô hình nuôi tôm bán thâm canh phổ biến hơn các tỉnh khác Do đặc điểm diện tích của các hộ nuôi tại Sóc Trăng, Trà Vinh tương đối nhỏ (< 2 ha/hộ), nên người nuôi có xu hướng tăng mật độ thả nuôi nhằm tăng lợi nhuận trong quá trình sản xuất tôm-lúa Trong mô hình này, tôm được thả nuôi từ tháng 1 đến tháng 8, lúa được trồng (sạ hoặc cấy) từ tháng 9 đến tháng 12 Đặc điểm chung của mô hình nuôi này là sử dụng nước mặn vào mùa khô để nuôi tôm; sử dụng nước ngọt từ nguồn sông Hậu và nước mưa trực tiếp để canh tác lúa

2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.2.1.Hành vi ra quyết định của nông hộ trong sản xuất

Trích theo Trần Thị Mộng Thúy (2016), hành vi ra quyết định của nông

sộ trong sản xuất được hiểu như sau:

Học thuyết này bắt nguồn từ người nông dân là một cá nhân quyết định các vấn đề như: sử dụng bao nhiêu lao động cho một vụ sản xuất, có nên sử dụng vật tư nông nghiệp cho sản xuất hay không, nên trồng loại cây nào v.v…Học thuyết này nhấn mạnh vào quan điểm là những người nông dân có thể thay đổi mức độ và chủng loại của các vật tư và sản phẩm nông nghiệp

Trang 20

Người ta thừa nhận ba mối quan hệ giữa nguồn lực và sản phẩm nông nghiệp và ba mối quan hệ này cũng phù hợp với ba giai đoạn xây dựng học thuyết về xí nghiệp sản xuất nông nghiệp Ba mối quan hệ đó là:

(1) Mức độ thay đổi của sản lượng phù hợp với mức độ thay đổi của nguồn lực sử dụng trong sản xuất Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ yếu tố - sản phẩm hay là mối quan hệ giữa nguồn lực - sản lượng (input và output)

(2) Thay đổi sự kết hợp của hai hay nhiều loại nguồn lực khác nhau để sản xuất ra một sản lượng nhất định (như sự kết hợp giữa đất đai và lao động theo các cơ cấu khác nhau để tạo ra một sản lượng lúa như nhau)

(3) Sản lượng hoặc sản phẩm khác nhau có thể thu được từ một tập hợp các nguồn tài nguyên (như các mức sản lượng sắn hoặc đậu khác nhau có thể thu được trên cùng một đơn vị diện tích) Mối quan hệ này gọi là mối quan hệ sản phẩm - sản phẩm

Học thuyết cơ bản của nền sản xuất nông dân bao gồm hàng loạt các mục đích có thể đạt được và một số hạn chế như không đề cập đến phương tiện tiêu dùng của gia đình nông dân Tìm hiểu một mục đích duy nhất có thể đạt được tối

đa hóa lợi nhuận trong thời gian ngắn hạn Chỉ có nông dân là người duy nhất được phép ra quyết định trong nền sản xuất của nông dân Những giả định khác bao gồm sự cạnh tranh trên các thị trường về sản phẩm, vật tư nông nghiệp và vấn đề mua vật tư phục vụ sản xuất

2.2.2.Hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất

Trích theo Trần Thị Mộng Thúy (2016), hành vi tối đa hóa sản lượng và hàm sản xuất được hiểu như sau:

Hàm sản xuất xác định mối quan hệ vật chất giữa sản lượng Y và bất kỳ nguồn lực nông nghiệp (đầu tư cho sản xuất) x1,x2, ,x n Hàm sản xuất có dạng tổng quát:

x x x n

f

Y  1, 2, , (2.1) Đặc biệt, điều liên quan là chỉ với một hoặc nhiều biến số nguồn lực (đầu

vào), còn các đầu tư khác và tình trạng công nghệ là bất biến, được viết như sau:

Trang 21

x x x m x n m

f

Y  1, 2, , /  (2.2) Với x1,x2, ,x m là các biến số nguồn lực (đầu vào) Phương trình chính xác của hàm sản xuất phụ thuộc vào sự phản ứng của sản lượng đối với nguồn lực dưới dạng nghiên cứu và mức độ trừu tượng qua thực tiễn sản xuất Tuy nhiên, tất cả các hàm sản xuất phải thỏa mãn hai điều kiện để đảm bảo ý nghĩa kinh tế: sản phẩm tới hạn phải là dương và phải giảm dần Để thỏa mãn được các điều kiện này thì đạo hàm thứ nhất phải là dương và dY/dX 0và đạo hàm cấp hai phải là âmdy2/dX2 0 có nghĩa là sự phản ứng của sản lượng đối với các mức độ gia tăng chi phí các nguồn lực phải được tăng lên, song mức tăng phải giảm dần

2.2.3 Hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí

Trích Trần Thị Mỹ Dung (2015), hành vi tối thiểu hóa chi phí và hàm chi phí được thể hiện như sau:

Mức độ hiệu quả nhất của một biến chi phí đầu tư phụ thuộc vào mối quan hệ giữa giá cả của các loại nguồn lực đó và giá sản phẩm Mức độ kinh tế tối ưu của việc chi phí nguồn lực đạt được khi giá trị sản phẩm biên tế của nguồn lực bằng giá của nguồn lực đó Mức tối ưu của một nguồn lực đơn có thể được biểu thị bằng một vài phương pháp khác nhau:

PX = giá của từng đơn vị nguồn lực X (tức là MFC)

PY = giá của từng đơn vị sản lượng Y

MVP: giá trị biên tế của sản phẩm

MPP: sản phẩm hiện vật tới hạn

Vậy MVPX = MPPX * PY có nghĩa là giá trị sản phẩm biến tế của nguồn lực bằng sản phẩm tới hạn nhân với giá sản phẩm Vì vậy, có 3 cách để xác định điểm tối ưu:

- Điểm tối ưu kinh tế sẽ đạt được khi mức tiền lãi tăng thêm bằng chi phí tăng thêm MVPX = PX Nếu MVPX> PX thì nông dân sử dụng quá ít nguồn lực

và nếu Nếu MVPX< PX thì lại chứng tỏ nông dân sử dụng quá nhiều nguồn lực

Trang 22

- Điểm tối ưu cũng có thể biểu thị bằng MVPX/PX = 1 là tỷ lệ của giá trị biên tế của sản phẩm đối với giá vật tư bằng 1 Các dạng biểu thị điều kiện tối

ưu này thường được dùng trong các tạp chí liên quan tới nghiên cứu về hiệu quả kinh tế của người nông dân và vấn đề nêu lên là tỷ lệ này có thể là một con số khác 1 được không và nếu vậy thì theo hướng nào Trả lời cho vấn đề này là nếu

tỷ lệ đó lớn hơn 1 tức là MVPX/PX> 1 thì không đạt tối ưu người nông dân sử dụng quá ít nguồn lực còn nếu MVPX/PX< 1 cũng không được vì tỷ lệ này biểu thị người nông dân dùng quá nhiều nguồn lực

- Vì MVPX = MPX * PY nên điều kiện tối ưu cũng có thể được biểu thị bằng MPPX = PX/PY Sản phẩm tới hạn bằng tỷ lệ nghịch đảo của giá cả (yếu tố - sản phẩm)

Sự kết hợp tối ưu của các nguồn lực trong khía cạnh kinh tế được xác định bởi tỷ giá của chúng Các mức giá của các nguồn lực khác nhau xác định khối lượng mỗi loại nguồn lực cần mua với tổng chi phí nhất định cho sản xuất Cách phối hợp hiệu quả nhất các nguồn lực là sử dụng nguồn lực ít nhất với các mức giá khác nhau cho một sản phẩm xác định Nói cách khác, ở đây vấn đề tối

ưu hóa được xem như vấn đề tối thiểu hóa chi phí chứ không phải là tối đa hóa lợi nhuận

Đối với mỗi sản lượng nhất định, sự kết hợp chi phí ít nhất của các vật tư xảy ra tại điểm tiếp tuyến giữa đường đồng mức sản lượng và đường đồng mức chi phí để tạo thành một đường tiếp tuyến Bất kỳ một điểm khác nào nằm ở bên trái hoặc bên phải của điểm đó trên đường đồng mức sản lượng sẽ nằm trên đường đồng mức chi phí tiếp tuyến với các đường đồng mức sản lượng này Tại bất kỳ điểm nào của đường tiếp tuyến, độ nghiêng của hai đường cong là bằng nhau Tỷ lệ thay thế tới hạn bằng tỷ lệ nghịch của giá các nguồn lực

Như trong trường hợp điểm tối ưu của hàm sản xuất, một số công thức toán học đơn giản đã giúp chúng ta tìm hiểu hàm ý của kết luận này Trước hết,

ở đây chúng ta xem xét một hàm sản xuất có hai biến nguồn lực có công thức chung:

Trang 23

2.2.4 Hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận

Trích Trần Thị Mỹ Dung (2015), hành vi tối đa hóa lợi nhuận và hàm lợi nhuận được thể hiện như sau:

Giả thuyết người nông dân hiệu quả thường gắn với với việc nông hộ đẩy mạnh tối đa hóa lợi nhuận Hiệu quả và tối đa hóa lợi nhuận là hai mặt của một vấn đề: ở cấp một đơn vị sản xuất cá thể, người ta không thể chí có cái này mà không có cái kia Một định nghĩa chính xác về hiệu quả kinh tế cũng cần phải kể đến một thị trường cạnh tranh, vì vậy cũng không có một đơn vị (hoặc một ngành sản xuất) cá thể nào có thể đạt được hiệu quả nếu như những người sản xuất phải đương đầu với các giá cả khác nhau hoặc nếu một số tác nhân kinh tế này có thể làm ảnh hưởng giá cả và thu nhập của các tác nhân kinh tế khác

Giả thuyết tối đa hóa lợi nhuận không yêu cầu phải có lợi nhuận bằng một khoản tiền Điều mà giả thuyết yêu cầu là phải điều chỉnh đầu vào hoặc đầu ra của sản xuất sao cho các nông hộ đạt một khoản thu nhập ròng cao hơn dù bằng tiền mặt hay bằng hiện vật và điều này được áp dụng như nhau đối với các hộ

Trang 24

gia đình nghèo cũng như khá giả Đối với việc điều tra thực tế thì nguồn lực và sản phẩm phải được ấn định theo giá thị trường và các giá ấn định này là đặc trưng cho các điều kiện của thị trường cạnh tranh

Theo quan điểm tân cổ điển đúng đắn, thậm chí nếu bản chất của nền kinh

tế nông dân hạn chế việc đạt hiệu quả thì điều đó không có nghĩa là trong điều kiện có nhiều mục tiêu và hạn chế đối với hộ gia đình nông dân lại không có được một tính toán kinh tế Thực sự, sự tính toán như vậy thực sự là tiền đề của hầu hết các chính sách nông nghiệp ở các nước chậm phát triển Vì thế, tối đa hóa lợi nhuận từng phần hay tối đa hóa có giới hạn vẫn có thể xảy ra cả khi nền kinh tế thực sự không có hiệu quả

Giả thuyết về người nông dân hiệu quả theo nghĩa tân cổ điển về tối đa hóa lợi nhuận không đơn thuần được chứng minh là các giả thuyết chung, cũng không phải là các giả thuyết sâu sắc về sự khác nhau và các nguyên nhân gây ra trong nền kinh tế nông dân Cần phải có các giả định đúng đắn về tính đồng nhất của các điều kiện sản xuất và các nguồn lực mà tất cả mọi nông dân trong mô hình mẫu phải chịu, cũng như về tính cạnh tranh của các thị trường có các nông trại hoạt động Nhưng điều này dường như ít khi gắn với dân số nông dân trong vùng chọn làm điểm mô hình mẫu Do có sự khác nhau không rõ ràng về các nguyên nhân giữa các nông trại nên cũng gây khó khăn cho việc phân tích kinh

tế người nông dân: nếu người người nông dân trung bình là nông dân hiệu quả thì các vấn đề của các nông hộ xuất phát từ mức bình quân đã được xem xét Cuối cùng, sự theo đuổi mục đích người nông dân trung bình đạt hiệu quả là bất hòa với khái niệm về nền kinh tế nông dân liên quan đến các dạng phức tạp của mối quan hệ qua lại giữa các hộ gia đình của các tình trạng kinh tế khác nhau trong các thị trường không hoàn thiện

2.3.5 Hàm sản xuất Cobb – Doulags

Theo (Ramu Ramanathan, 2002), dạng hàm sản xuất thích hợp nhất ứng dụng phân tích nguồn gốc tăng trưởng trong thực tiễn là dạng hàm Cobb – Douglas Nếu Q : là số lượng đầu ra của một quá trình sản xuất

Trang 25

K: là số lượng vốn đầu vào

L : là số lượng lao động đầu vào

Phương trình hàm sản xuất như sau: Q = F (K,L)

Hàm Cobb – Douglas thông thường có dạng sau:

𝑄𝑡 = 𝑐𝐾𝑡𝛼𝐿𝛽𝑡Với c, α, β là những thông số chưa biết

Lấy Logarit hai vế và thêm vào số hạng sai số, ta có hàm kinh tế lượng:

𝛽1 = 𝑙𝑛𝐶 𝑙𝑛𝑄𝑡 = 𝛽1+ 𝛼𝑙𝑛𝐾𝑡+ 𝛽𝑙𝑛𝐿𝑡 + 𝑢𝑡Trong đó:

𝛽1 là hệ số tăng trưởng tự định Hiện nay còn được gọi là năng suất các yếu tố tổng hợp Yếu tố tổng hợp này chủ yếu là yếu tố công nghệ Nếu chỉ thay đổi K và L giữ không đổi

α độ co giãn đầu ra theo vốn

β độ co giãn đầu ra theo lao động

ut: sai số

2.4 CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

2.4.1 Nghiên cứu ngoài nước

Yang (2007) đã sử dụng phương pháp phân tích tổng hợp để nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả đất canh tác trong nông nghiệp ở Trung Quốc Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra, tăng trưởng kinh tế nhanh đã tạo ra sự bùng

nổ về nhu cầu đối với nông sản, nhưng chủ trương dành đất tự nhiên cho các lĩnh vực sản xuất khác đã làm giảm diện tích đất canh tác Tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích bao dữ liệu (DEA) và hồi quy để xác định các yếu tố có ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả sử dụng đất canh tác Kết quả hồi quy cho thấy, các thảm họa tự nhiên và nhân tạo (lũ lụt, hạn hán và ô nhiễm) là tác nhân chính dẫn đến sự kém hiệu quả trong sử dụng đất nông nghiệp Ngược lại, các sáng kiến, hoạt động đa dạng hóa sản xuất và vốn đầu tư nước ngoài là các yếu tố có

Trang 26

tác động tích cực và đáng kể với hiệu quả sử dụng đất canh tác của các nông hộ

ở Trung Quốc

Kachroo & cộng sự (2010) nghiên cứu hiệu quả kỹ thuật và các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của nông hộ trồng lúa ở những vùng đất khô hạn và trong điều kiện được tưới tiêu ở Ấn Độ trong năm 2006 Hàm sản xuất biên ngẫu nhiên đã được sử dụng để ước lượng hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ nơi đây Ở những điều kiện khác nhau, hiệu quả kỹ thuật có khác biệt Hiệu quả kỹ thuật trung bình của nông hộ trồng lúa trong điều kiện khô hạn là 0,84 và trong điều kiện tưới tiêu là 0,88 Theo nghiên cứu này, các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả kỹ thuật của các nông hộ được khảo sát là trình độ học vấn và giới tính của người tham gia sản xuất

2.4.2 Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Trương Thanh Hải (2015) về nghiên cứu hiệu quả kinh tế hình thức nuôi tôm đất – lúa, tôm càng xanh – lúa và tôm biển quảng canh - nuôi xen canh trên địa bàn huyện Thạnh Phú tỉnh Bến Tre Các yếu tố như học vấn, tuổi, kinh nghiệm, điều kiện giao thông và tổ chức xã hội tham gia không ảnh hưởng đến việc lựa chọn mô hình nuôi tôm của nông hộ Việc lựa chọn mô hình nuôi tôm ảnh hưởng bởi các yếu tố khác nhau, kết quả nghiên cứu cho thấy đối với mô hình nuôi tôm đất – lúa có 3 yếu tố ảnh hưởng xếp theo thứ tự từ ảnh hưởng nhiều nhất đến thấp nhất loại đất, diện tích, kỹ thuật Đối với mô hình nuôi tôm càng xanh – lúa có 4 yếu tố ảnh hưởng xếp theo thứ tự từ ảnh hưởng nhiều nhất đến thấp nhất loại kỹ thuật, diện tích, môi trường, loại đất Đối với

mô hình nuôi tôm biển có 4 yếu tố ảnh hưởng xếp theo thứ tự từ ảnh hưởng nhiều nhất đến thấp nhất loại loại đất, kỹ thuật, môi trường, loại đất

Nghiên cứu của Trang Tú Ngoan (2013) về phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật của cây lúa ở Hậu Giang Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất và hiệu quả kỹ thuật của cây lúa từ đó đề ra các biện pháp cải thiện Đề tài này sử dụng phương pháp ước lượng hàm sản xuất và hàm hiệu quả kỹ thuật được ước lượng theo phương pháp một bước

Trang 27

(one-stage estimation) bằng frontier 4.1 của Tim Coelli (2007) Qua kết quả điều tra cho thấy sản lượng trung bình mà hộ đạt được là 9.306,131kg/ha, lợi nhuận trung bình của các hộ là 21.026,25 nghìn đồng/ha Hiệu quả kỹ thuật trung bình của các hộ sản xuất lúa của toàn bộ mẫu khảo sát là 91,35% so với sản lượng tối

đa, hầu hết các hộ đều đạt hiệu quả kỹ thuật từ 70% trở lên Các yếu tố về phân đạm, phân lân, chi phí thuốc BVTV, loại giống có ý nghĩa trong mô hình đã đóng góp tích cực vào tăng trưởng sản lượng của các hộ trong năm 2012 yếu tố tuổi chủ hộ, trình độ học vấn, kinh nghiệm, lao động gia đình, khoảng cách xa, gần từ nhà đến mảnh ruộng, tham gia tập huấn, tham gia hội, tín dụng, chương trình 1 phải 5 giảm có ý nghĩa trong mô hình Còn lại các biến chương trình 3 giảm 3 tăng, mô hình IPM, phương pháp sạ hàng, luân canh, tỷ lệ đất thuê, nguồn gốc đất, quy mô đất, lao động thuê, giới tính không có ý nghĩa trong mô hình

Nghiên cứu của tác giả Lê Nguyễn Đoan Khôi và Nguyễn Ngọc Vàng (2012) với đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả tố chức sản xuất tiêu thụ lúa gạo

- Trường hợp cánh đồng mẫu lớn tại An Giang” Mục tiêu nghiên cứu là so sánh hiệu quả sản xuất và các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của nông hộ trồng lúa

từ đó nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất lúa tại địa bàn nghiên cứu Với quy mô

120 mẫu quan sát được điều tra các nông hộ tham gia cánh đồng mẫu lớn tác giả

đã sử dụng phương pháp phân tích chi phí (CBA) và dùng hàm lợi nhuận để phân tích biến phụ thuộc lợi nhuận chịu ảnh hưởng bởi những yếu tố nào thông qua công cụ hồi qui tương quan Bài nghiên cứu cho thấy các nông hộ trong mô hình cánh đồng mẫu lớn có hiệu quả sản xuất cao và ổn định hơn so với các nông hộ ngoài mô hình, làm tăng thu nhập, lợi nhuận và giảm rủi ro sản xuất cho nông hộ Các yếu tố như diện tích, trình độ học vấn, chi phí phân, chi phí thuốc, giá bán là những nhân tố đã tác động đến lợi nhuận và chi phí lao động, kinh nghiệm, chi phí giống là yếu tố không có ý nghĩa trong mô hình Từ kết quả trên, tác giả đã đề ra những giải pháp về phía nhà nước, nhà khoa học, doanh nghiệp và nông dân nhằm định hướng phát triển mô hình trong tương lai ở nông

Trang 28

thôn Do vị trí địa bàn nghiên cứu là nơi có nhiều kênh đào tuy nhiên đa số là kênh nhỏ chưa được nạo vét, điều này có tác động như thế nào đến lợi nhuận của nông hộ trong quá trình canh tác nên tác giả đã bổ sung thêm yếu tố chi phí bơm tưới vào mô hình nhằm tìm hiểu thêm, cũng như làm rõ mối quan hệ giữa các biến

Nghiên cứu của Nguyễn Công Thành và cộng sự (2011) về phân tích những rủi ro và hạn chế của mô hình luân canh tôm lúa đang áp dụng trên vùng bán đảo Cà Mau Nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 05 đến 11/2011 thông qua khảo sát 170 hộ nhằm phân tích hiện trạng kỹ thuật và kinh tế-xã hội của mô hình sản xuất Tôm sú - Lúa (TL) ở các huyện giáp biển của ba tỉnh Bạc Liêu, Cà Mau và Kiên Giang Kết quả cho thấy năng suất tôm nuôi đạt 172,82 kg/ha/vụ với tổng chi phí trung bình 17,3 tr.đ/ha/vụ, thu nhập từ thủy sản đạt 37,2 tr.đ/ha/vụ (tôm nuôi chiếm 69,1%), mang lợi nhuận đạt 19,88 tr.đ/ha/vụ và 77,65% số hộ có lời từ thủy sản Năng suất lúa trung bình đạt 1,21 tấn/ha gieo sạ/vụ với tỷ lệ thất mùa tới 36,7% trong khi tổng chi phí sản xuất lúa bình quân

là 8,14 tr.đ/ha/vụ, đạt lợi nhuận khoảng 0,44 tr.đ/ha/vụ và chỉ có 40,29% số hộ

có lời Tổng hợp toàn mô hình T-L với 139 hộ có đầy đủ thông tin cho thấy: bình quân mỗi ha hằng năm thu được 181,8 kg tôm và 848,5 kg lúa Nuôi tôm cần tới 75,40% tổng chi phí sản xuất, mang lại 82,05% tổng thu nhập và 97,44% tổng lợi nhuận của toàn mô hình T-L Khó khăn chính đối với tôm nuôi trong

mô hình này là: (1) khó quản lý nước; (2) dịch bệnh nhiều; và (3) chất lượng tôm giống chưa đảm bảo yêu cầu Đối với lúa, các trở ngại chính gồm: (1) đất nhiễm mặn; (2) sức chịu mặn và kháng bệnh chưa tốt của các loại giống lúa; và (3) nguồn nước tưới cho lúa còn phụ thuộc nhiều thời tiết Những giải pháp cơ bản được quan tâm gồm có: (1) tăng cường tập huấn kỹ thuật nuôi tôm và trồng lúa; (2) cung cấp và sử dụng giống tôm/lúa có chất lượng tốt hơn; (3) tăng cường sự liên kết/hợp tác giữa các hộ sản xuất; và (4) làm tốt hơn nữa khâu cải tạo ruộng/ao trước khi xuống/thả giống

Trang 29

Tóm lại, các nghiên cứu trên của các tác giả chỉ ra cơ sở lý luận cho việc phát triển sản xuất theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất của mô hình tôm lúa; đồng thời cũng tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất của các mô hình này Việc đánh giá hiệu quả sản xuất theo

mô hình 1 vụ tôm, 1 vụ lúa giúp tìm ra giải pháp giúp hộ lựa chọn mô hình sản xuất phù hợp, góp phần nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống của hộ gia đình

Trang 30

CHƯƠNG 3

MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU

Quy trình nghiên cứu được thực hiện theo sơ đồ sau:

Sơ đồ 3.1: Quy trình nghiên cứu

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

3.2 DỮ LIỆU NGHIÊN CỨU

Để thực hiện đề tài này, tác giả sử dụng dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp:

Số liệu thứ cấp: Trên cơ sở dữ liệu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (PTNT), Phòng Nông nghiệp huyện An Minh Thông tin và các số liệu từ các website, tạp chí có liên quan đến vấn đề nghiên cứu Thông tin và số liệu được thu thập chủ yếu như vị trí địa lý, đặc điểm tự nhiên - xã hội, tình hình phát

Nhận diện vấn đề nghiên cứu

Tổng hợp lý thuyết và các tài liệu có liên quan

Xây dựng mô hình và các giả thiết nghiên cứu

Thiết kế bảng câu hỏi và khảo sát số liệu

Phân tích số liệu và kiểm định các kết quả nghiên cứu

Thảo luận các kết quả nghiên cứu

Viết báo cáo

Chưa đạt

Trang 31

triển kinh tế - xã hội, tình hình sản xuất nông nghiệp, tình hình sản xuất theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang

Số liệu sơ cấp: Số liệu sơ cấp trong bài nghiên cứu này được thu thập trực tiếp từ phỏng vấn các hộ nuôi tôm theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa được thực hiện qua các bước sau:

Bước 1: Thiết lập bảng câu hỏi khảo sát

Bảng câu hỏi khảo sát (phụ lục) được xây dựng trên cơ sở các nghiên cứu trước đây và dựa vào các biến trong mô hình nghiên cứu Các chỉ tiêu thu thập thông tin thể hiện qua bảng câu hỏi khảo sát gồm các nội dung sau:

- Đặc điểm chủ hộ bao gồm các thông tin tên chủ hộ, tuổi chủ hộ, giới tính chủ hộ, dân tộc chủ hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, tổng số thành viên trong gia đình

- Năng suất tôm bao gồm các thông tin về sản lượng tôm trong một năm, tổng diện tích của hộ đang sử dụng để thực hiện mô hình một vụ tôm, một vụ lúa

- Các chi phí bao gồm chi phí phân bón, chi phí thuốc BVTV, chi phí lao động thuê, chi phí bơm bước

- Vốn đầu tư cho sản xuất

- Các thông tin khác bao gồm chất lượng con giống, chất lượng nguồn nước, hỗ trợ kỹ thuật của chính quyền địa phương và ý kiến của hộ về chính sách phát triển mô hình một vụ tôm, một vụ lúa

Bước 2: Chọn mẫu điều tra

Huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang là vùng có diện tích sản xuất theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa lớn nhất trong toàn tỉnh, có khoảng trên 60% diện tích nông nghiệp của huyện thực hiện theo mô hình này (Báo cáo của Phòng NTPTNT huyện An Minh, 2015) Huyện có 10 xã và 01 thị trấn, trong đó 4 xã gồm Đông Hưng, Tân Thạnh, Đông Thạnh và Đông Hòa có số hộ tham gia mô hình một vụ tôm, một vụ lúa chiếm trên 58% toàn huyện Tác giả đề tài chọn 4

Trang 32

xã trên làm điểm nghiên cứu Mẫu điều tra được chọn theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên, được thực hiện theo các bước sau:

- Lập danh sách các hộ đang sản xuất theo mô hình một vụ tôm, một vụ lúa trên địa bàn từng xã thuộc huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Tổng số hộ được chọn trong 4 xã trên là 200 hộ

hộ phỏng vấn được để làm dữ liệu nghiên cứu

3.3 MÔ HÌNH VÀ GIẢ THIẾT NGHIÊN CỨU

Sử dụng phương pháp hồi quy đa biếnphân tích tác động của các yếu tố lên thu nhập của nông hộ canh tác một vụ tôm, một vụ lúa tại huyện An Minh, tỉnh Kiên Giang Biến tín dụng được xem là biến tác động chính của mô hình

Mô hình hồi quy đa biến theo phương pháp OLS được cho bởi công thức tổng quát sau:

𝑌 = 𝛽0+ ∑ 𝛽𝑖𝑋𝑖 + 𝑢

𝑛

𝑖=1

Trong đó,

Trang 33

Y: là thay đổi thu nhập và chi tiêu bình quân đầu người trong năm của hộ gia đình

Xi:là các yếu tố tác động đến nghèo ( i=1…n)

u: là phần dư

Để cụ thể, ta xét hai mô hình dưới đây:

thunhap=0+ 1*gioitinh+  2*tuoi+ 3*hocvan+ 4* sonhankhau

+ 5* songuoisx +6* kinhnghiem + 7*dientich + 8* chiphi

+ 9* tindung + 10*hoind+ 11* hotrosx +εi

Biến thu nhập (thunhap): được định nghĩa là thu nhập bình quân đầu

người của hộ trong năm (đơn vị tính: triệu đồng/người/hộ)

Bảng 3.2: Giải thích các biến độc lập

vị

Căn cứ chọn biến

Kỳ vọng

gioitinh

Giới tính chủ hộ, nhận giá trị 1 nếu chủ hộ là nam, nhận giá trị 0 nếu chủ hộ là nữ

Bổ sung

+

Trang Tú Ngoan

hocvan

Trình độ học vấn của chủ hộ, thể hiện bằng số năm đi học của chủ

hộ

Năm

Lê Nguyễn Đoan Khôi

và Nguyễn Ngọc Vàng (2012),

Trang Tú Ngoan

(2013)

+

Trang 34

sonhankhau Số nhân khẩu trong hộ Người

Trương Thanh Hải

songuoisx Số người tham gia sản xuất tôm lúa

Trang Tú Ngoan

kinhnghiem

Kinh nghiệm chủ hộ, nhận giá trị tương ứng bằng số năm tham gia sản xuất theo mô hình một vụ tôm một vụ lúa

Năm

Trương Thanh Hải

dientich

Diện tích sản xuất, thể hiện bằng số diện tích hộ đang sản xuất theo mô hình một vụ tôm một vụ lúa

1000

m2

Lê Nguyễn Đoan Khôi

và Nguyễn Ngọc Vàng (2012)

+

chiphi

Chi phí sản xuất, thể hiện bằng số tiền bỏ ra để chi phí cho sản xuất của hộ trong một năm, được thể hiện:

1 Dưới 10 triệu đồng/ha/vụ

2 Từ 10 đến 20 triệu đồng/ha/vụ

3 Trên 20 triệu đồng/ha/vụ

Triệu đồng

Lê Nguyễn Đoan Khôi

và Nguyễn Ngọc Vàng (2012)

-

tindung

Tiếp cận tín dụng là biến giả nhận giá trị 1 nếu chủ hộ có vay vốn chính thức và nhận giá trị 0 nếu hộ

Trang Tú Ngoan

(2013)

+

Trang 35

không có vay vốn chính thức

hoind

Tham gia hội nông dân là biến giả nhận giá trị 1 nếu tham gia các Hộinông dân và nhận giá trị 0 nếu không tham gia Hội nông dân

Trang Tú Ngoan

hotrosx

Hỗ trợ sản xuất là biến giả nhận giá trị 1 nếu hộ được hỗ trợ sản xuất và nhận giá trị 0 nếu hộ không được

hỗ trợ sản xuất

Trang Tú Ngoan

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w