26 Chương II: Đánh giá ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam trong các công ty niêm yết Việt Nam..... Mặc dù vậy, do qu
Trang 1BÙI THỊ MỸ NGÂN
ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ,CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI
VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS VŨ HỮU ĐỨC
TP Hồ Chí Minh – Năm 2012
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và không sao chép từ bất kỳ công trình khác
Bùi Thị Mỹ Ngân
Trang 3MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan i
Mục lục ii
Danh mục các chữ viết tắt vii
Danh mục các bảng viii
Danh mục các biểu đồ, đồ thị xi
Phần mở đầu 1
I Lý do chọn đề tài 1
II Mục tiêu của đề tài 1
III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 2
IV Phương pháp nghiên cứu đề tài 2
V Kết cấu của đề tài 2
Chương I: Tổng quan chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống thuế Việt Nam 4
1.1 Tổng quan chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam 4
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển 4
1.1.1.1 Lịch sử hình thành kế toán 4
1.1.1.2 Vài nét quá trình phát triển của kế toán thế giới 4
1.1.1.3 Quá trình phát triển của kế toán Việt Nam 6
1.1.1.3.1 Giai đoạn từ năm 1954 trở về trước 6
1.1.1.3.2 Giai đoạn từ năm 1954 – 1975 6
1.1.1.3.3 Giai đoạn từ năm 1975 – 1995 6
1.1.1.3.4 Giai đoạn 1995 đến nay 7
1.1.2 Định nghĩa kế toán 9
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán 10
1.2 Tổng quan hệ thống thuế Việt Nam 11
Trang 41.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thuế 11
1.2.1.1 Lịch sử hình thành của Thuế 11
1.2.1.2 Sơ lược quá trình phát triển chung của thuế thế giới 11
1.2.1.3 Quá trình phát triển của thuế Việt Nam 12
1.2.1.3.1 Thời kỳ phong kiến 12
1.2.1.3.2 Thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1858 – 1945 12
1.2.1.3.3 Giai đoạn từ năm 1945 – 1954 12
1.2.1.3.4 Giai đoạn từ năm 1954 – 1975 13
1.2.1.3.5 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay 14
1.2.2 Định nghĩa thuế 15
1.2.3 Vai trò của thuế 15
1.3 Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp 16
1.3.1 Đặc điểm 16
1.3.2 Vài nét quá trình phát triển chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam 17
1.3.3 Căn cứ tính thuế 18
1.4 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế 20
1.4.1 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế trên thế giới 20
1.4.2 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế tại Việt Nam 22
Kết luận chương I 26
Chương II: Đánh giá ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam trong các công ty niêm yết Việt Nam 27
2.1 Mục đích nghiên cứu 27
2.2 Câu hỏi nghiên cứu và các biến đo lường 28
2.2.1 Câu hỏi thứ nhất 28
2.2.2 Câu hỏi thứ hai 28
2.2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu và xác định các biến 28
2.2.2.2 Mô tả các biến 30
Trang 52.2.2.2.1 Quy mô doanh nghiệp 30
2.2.2.2.2 Công ty kiểm toán 30
2.2.2.2.3 Đòn bẩy tài chính 31
2.2.2.2.4 Tính thanh khoản 31
2.2.2.2.5 Khả năng sinh lợi 32
2.2.2.2.6 Khả năng sinh lợi thêm 32
2.2.2.2.7 Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại 33
2.3 Phương pháp nghiên cứu 33
2.3.1 Thống kê mô tả 33
2.3.2 Kiểm định mối liên hệ 33
2.3.3 Mô hình hồi quy 34
2.3.3.1 Kiểm tra tính phân phối chuẩn của các biến 34
2.3.3.2 Mô hình hồi quy Binary Logistic 36
2.4 Mẫu nghiên cứu 37
2.5 Kết quả 37
2.5.1 Thống kê mô tả 37
2.5.2 Kiểm định mối liên hệ 40
2.5.2.1 Biến quy mô doanh nghiệp 40
2.5.2.1.1 Kiểm định tham số 40
2.5.2.1.2 Kiểm định phi tham số 42
2.5.2.2 Biến công ty kiểm toán 43
2.5.2.3 Biến đòn bẩy tài chính 44
2.5.2.3.1 Kiểm định tham số 44
2.5.2.3.2 Kiểm định phi tham số 46
2.5.2.4 Biến tính thanh khoản 47
2.5.2.4.1 Kiểm định tham số 48
2.5.2.4.2 Kiểm định phi tham số 49
2.5.2.5 Biến khả năng sinh lợi 50
2.5.2.5.1 Kiểm định tham số 50
Trang 62.5.2.5.2 Kiểm định phi tham số 52
2.5.2.6 Biến khả năng sinh lợi tăng thêm 53
2.5.2.6.1 Kiểm định tham số 53
2.5.2.6.2 Kiểm định phi tham số 54
2.5.3 Mô hình hồi quy Binary Logistic 55
2.5.3.1 Xem xét ma trận hệ số tương quan 55
2.5.3.2 Mô hình hồi quy Binary Logistic 57
2.5.3.2.1 Mô hình 1 57
2.5.3.2.2 Mô hình 2 59
Kết luận chương II 63
Chương III: Các kiến nghị, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 64
3.1 Một số kiến nghị nhằm cải thiện tình trạng áp dụng đúng chế độ, chuẩn mực kế toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam 64
3.1.1 Về việc ban hành chính sách thuế, chế độ, chuẩn mực kế toán 64
3.1.2 Về tổ chức thực hiện trong thực tế 65
3.1.2.1 Doanh nghiệp 65
3.1.2.2 Công ty kiểm toán 68
3.1.2.3 Ngân hàng 70
3.1.2.4 Cơ quan thuế: 71
3.2 Hạn chế của nghiên cứu 71
3.3 Đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 72
Kết luận chương III 74
Tài liệu tham khảo 75
Phụ lục Phụ lục 1: Bảng số liệu chênh lệch giữa LNKT và TNCT của 100 doanh nghiệp mẫu 77
Phụ lục 2: Biểu đồ với đường cong chuẩn của các biến 82
Phụ lục 3: Đồ thị Histogram biểu diễn các điểm thực tế và dự báo của
Trang 74 EU : Liên minh châu Âu ( Eropean Union)
5 GDP : Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
6 HNX : Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội
7 HoSE : Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
8 KH&CN : Khoa học và công nghệ
9 LNKT : Lợi nhuận kế toán
10 ROA : Tỷ suất sinh lời trên tài sản (Return on total assets)
11 ROE : Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu (Return on common equity)
12 TNCT : Thu nhập chịu thuế
13 TNDN : Thu nhập doanh nghiệp
14 TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
15 TPHCM : Thành phố Hồ Chí Minh
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 2.1 – Kí hiệu các biến 34
Bang 2.2 – Thống kê mô tả các biến độc lập (không kể biến Công ty kiểm toán) 35
Bảng 2.3 – Thống kê mô tả các biến độc lập đã được biến đổi 36
Bảng 2.4 – Chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế 38
Bảng 2.5 – Thống kê mô tả biến quy mô doanh nghiệp 40
Bảng 2.6 – Kết quả kiểm định Independent Samples Test 41
Bảng 2.7 – Thống kê mô tả biến quy mô doanh nghiệp 42
Bảng 2.8 – Kết quả kiểm định Mann-Whitney U 42
Bảng 2.9 – Thống kê mô tả biến công ty kiểm toán 43
Bảng 2.10 – Kết quả kiểm định Chi bình phương 44
Bảng 2.11 – Thống kê mô tả biến đòn bẩy tài chính 45
Bảng 2.12 – Kết quả kiểm định Independent Samples Test 45
Bảng 2.13 – Thống kê mô tả biến đòn bẩy tài chính 46
Bảng 2.14 – Kết quả kiểm định Mann-Whitney U 47
Bảng 2.15 – Thống kê mô tả biến tính thanh khoản 48
Bảng 2.16 – Kết quả kiểm định Independent Samples Test 48
Bảng 2.17 – Thống kê mô tả biến tính thanh khoản 49
Bảng 2.18 – Kết quả Mann-Whitney U 49
Bảng 2.19 – Thống kê mô tả biến khả năng sinh lợi 50
Bảng 2.20 – Kết quả kiểm định Independent Samples Test 51
Bảng 2.21 – Thống kê mô tả biến khả năng sinh lợi 52
Bảng 2.22 – Kết quả Mann-Whitney U 52
Bảng 2.23 – Thống kê mô tả biến khả năng sinh lợi tăng thêm 53
Bảng 2.24 – Kết quả kiểm định Independent Samples Test 54
Bảng 2.25 – Thống kê mô tả biến khả năng sinh lợi tăng thêm 55
Bảng 2.26 – Kết quả Mann-Whitney U 55
Trang 9Bảng 2.27 – Ma trận hệ số tương quan giữa các biến độc lập 56
Bảng 2.28 – Kiểm định độ phù hợp tổng quát 57
Bảng 2.29 – Độ phù hợp của mô hình 57
Bảng 2.30 – Bảng phân loại giá trị dự báo và giá trị thực tế 58
Bảng 2.31 – Kiểm định độ phù hợp của dự báo 58
Bảng 2.32 – Các biến trong mô hình 58
Bảng 2.33 – Kiểm định độ phù hợp tổng quát 59
Bảng 2.34 – Độ phù hợp của mô hình 59
Bảng 2.35 – Kiểm định độ phù hợp của dự báo 59
Bảng 2.36 – Bảng phân loại giá trị dự báo và giá trị thực tế 60
Bảng 2.37 – Các biến trong mô hình 60
Bảng 4.1 – Các biến trong mô hình thử nghiệm 1 92
Bảng 4.2 – Các biến có ý nghĩa trong mô hình thử nghiệm 1 92
Bảng 4.3 – Kiểm định độ phù hợp tổng quát 93
Bảng 4.4 – Độ phù hợp của mô hình 93
Bảng 4.5 – Kiểm định độ phù hợp của dự báo 93
Bảng 4.6 – Bảng phân loại giá trị dự báo và giá trị thực tế 93
Bảng 4.7 – Các biến trong mô hình thử nghiệm 2 94
Bảng 4.8 – Các biến có ý nghĩa trong mô hình thử nghiệm 2 94
Bảng 4.9 – Kiểm định độ phù hợp tổng quát 95
Bảng 4.10 – Độ phù hợp của mô hình 95
Bảng 4.11 – Kiểm định độ phù hợp của dự báo 95
Bảng 4.12 – Bảng phân loại giá trị dự báo và giá trị thực tế 95
Bảng 4.13 – Các biến trong mô hình thử nghiệm 3 96
Bảng 4.14 – Các biến có ý nghĩa trong mô hình thử nghiệm 3 96
Bảng 4.15 – Kiểm định độ phù hợp tổng quát 97
Bảng 4.16 – Độ phù hợp của mô hình 97
Bảng 4.17 – Kiểm định độ phù hợp của dự báo 97
Bảng 4.18 – Bảng phân loại giá trị dự báo và giá trị thực tế 97
Trang 10Bảng 4.19 – Các biến trong mô hình thử nghiệm 4 98
Bảng 4.20 – Các biến có ý nghĩa trong mô hình thử nghiệm 4 98
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, ĐỒ THỊ Trang Hình 2.1 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến Tongtaisan 82
Hình 2.2 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến Doanhthu 82
Hình 2.3 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến TSno_VCSH 83
Hình 2.4 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến TSnovay_TS 83
Hình 2.5 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến Tsthanhtoan 84
Hình 2.6 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến ROA 84
Hình 2.7 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến ROE 85
Hình 2.8 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến TangtruongLN 85
Hình 2.9 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnTongtaisan 86
Hình 2.10 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnDoanhthu 86
Hình 2.11 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnTSno_VCSH 87
Hình 2.12 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnTSthanhtoan 87
Hình 2.13 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnROA 88
Hình 2.14 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnROE 88
Hình 2.15 Biểu đồ với đường cong chuẩn – Biến LnTangtruongLN 89
Hình 3.1 Đồ thị Histogram biểu diễn các điểm thực tế và dự báo của biến phụ thuộc của mô hình 1 90
Hình 3.2 Đồ thị Histogram biểu diễn các điểm thực tế và dự báo của biến phụ thuộc của mô hình 2 91
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
Từ năm 2001 đến 2005, Bộ Tài Chính đã ban hành 26 chuẩn mực kế toán Việt
Nam dựa trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế Các chuẩn mực ra đời giúp cho thông tin trên báo cáo tài chính được minh bạch, trung thực, hợp lý, đặc biệt là đối với các công ty niêm yết Mặc dù vậy, do quá trình phát triển kế toán Việt Nam trong quá khứ chịu ảnh hưởng bởi các quy định về thuế nên câu hỏi đặt ra là liệu trên thực tế có còn tồn tại hay không ảnh hưởng của thuế đến kế toán Việt Nam, đặc biệt là trong việc lựa chọn các chính sách kế toán của nhà quản lý
Để cung cấp bằng chứng thực nghiệm cho việc trả lời câu hỏi trên, tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam trong các công ty niêm yết tại Việt Nam” để nghiên cứu
- Đánh giá mức ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc
áp dụng chuẩn mực, chế độ kế toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam dựa trên tỷ
lệ doanh nghiệp lựa chọn chính sách kế toán gần với quy định thuế Việc xác định doanh nghiệp có lựa chọn chính sách kế toán gần với quy định thuế hay không được căn cứ vào chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp
- Xác định những nhân tố tác động đến sự ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam trên cơ sở phân tích dữ liệu báo cáo tài chính bằng phương pháp phân tích định lượng
- Căn cứ kết quả nghiên cứu để đưa ra các kiến nghị nhằm hạn chế sự ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực
kế toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 12III Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề Tài:
Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Các công ty hoạt động trong lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, ngân hàng có đặc điểm kết cấu tài chính và kinh doanh riêng không được xem xét trong nghiên cứu này
IV Phương pháp nghiên cứu Đề Tài:
Đề tài được thực hiện theo phương pháp nghiên cứu thực nghiệm dựa trên áp dụng phương pháp phân tích định lượng bao gồm thống kê mô tả, kiểm định tương quan và mô hình hồi quy Binary Logistic theo cơ sở dữ liệu báo cáo tài chính năm
2011 của 100 doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam được lựa chọn ngẫu nhiên nhưng loại các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực tài chính, bảo hiểm, ngân hàng
Bên cạnh đó, đề tài sử dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp nhằm hệ thống hóa các lý luận và đề xuất các giải pháp
Ch ương I: “Tổng quan chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống thuế
Việt Nam” Trình bày định nghĩa, sơ lược lịch sử hình thành phát triển, nhiệm vụ, vai trò của chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam và hệ thống thuế Việt Nam; đặc điểm, quá trình phát triển và căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam; mối quan hệ giữa hai hệ thống thuế và kế toán
Ch ương II: ‘‘Đánh giá ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp
đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam trong các công ty niêm yết tại Việt Nam’’ Chương này thực hiện các thực nghiệm để giải quyết hai câu hỏi liệu trong thực tế có nhiều công ty niêm yết áp dụng chính sách kế toán gần với quy định thuế hay không và các nhân tố nào tác động đến sự lựa chọn này
Trang 13Ch ương III: ‘‘Các kiến nghị, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên
cứu tiếp theo’’ Từ kết quả thực nghiệm ở chương II, tác giả đưa ra một số kiến nghị nhằm cải thiện thực trạng ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán trong các công ty niêm yết tại Việt Nam Nghiên cứu có những hạn chế nhất định nên chắc chắn sẽ không đánh giá hết được mức độ ảnh hưởng, các nhân tố ảnh hưởng, vì vậy tác giả đề xuất những hướng nghiên cứu tiếp theo để đề tài này được nghiên cứu hoàn thiện hơn
Trang 14CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN CHẾ ĐỘ, CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM VÀ HỆ THỐNG
THUẾ VIỆT NAM 1.1 Tổng quan chế độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam:
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển:
1.1.1.1 Lịch sử hình thành kế toán:
Ngay từ thời cổ đại, khi xuất hiện hoạt động mua bán con người đã có nhu cầu ghi chép lại các chi tiết của giao dịch Việc ghi chép thời đó tuy đơn giản nhưng nó chính là tiền đề cho việc hoàn thiện phương pháp ghi chép kế toán Theo thời gian đã
có những phát triển về phương pháp ghi chép để phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội từng thời kỳ
1.1.1.2 Vài nét quá trình phát triển của kế toán thế giới:
Theo các tài liệu nghiên cứu về lịch sử kế toán, kế toán xuất hiện từ thời cổ đại Thung lũng Mesopotamia được xem là nơi xuất hiện những ghi chép cổ xưa nhất về hoạt động buôn bán Thời kỳ này công việc kế toán khá đơn giản Khi một giao dịch xảy ra, kế toán cần ghi chép các nội dung như tên của các bên tham gia giao dịch, loại hàng hoá, giá cả và các cam kết quan trọng khác Việc ghi chép được thực hiện trên đất sét sau đó hong khô để lưu trữ Lúc đó kế toán đã được xem là một nghề nghiệp
Ở Ai Cập cổ đại thì kế toán được ghi chép trên giấy cói và được lưu trữ vào kho sau khi được kiểm tra, soát xét nội bộ Thời này người ghi chép cũng có thể bị xử phạt nếu ghi chép không đúng các giao dịch Kế toán Ai Cập cổ đại cũng chỉ dừng lại ở hình thức ghi chép liệt kê mô tả đơn giản trong suốt thời kỳ tồn tại của nó, có lẽ là do tình trạng mù chữ và thiếu đồng tiền giao dịch thích hợp
Vào khoảng năm 600 trước Công Nguyên, người Hy Lạp đã sáng tạo ra tiền kim loại Hệ thống ngân hàng phát triển Điều này tác động rất lớn đến sự phát triển của kế
Trang 15toán bởi hai trong bảy điều kiện hình thành phương pháp ghi chép có hệ thống của kế toán đó là việc hình thành tiền tệ và việc hình thành các quan hệ tín dụng
Theo Đoàn Quang Thiệu (2008), thời kỳ trung đại đánh dấu một bước ngoặt lớn
về sự phát triển của kế toán, đó là sự ra đời của phương pháp ghi sổ kép mà cha đẻ của
nó là một nhà tu dòng Franciscain tên là Luca Pacioli Ông viết phương pháp ghi sổ kép khởi nguồn từ một bản thảo có mô tả ngắn gọn nhiều đặc tính của kế toán kép của Benedetto Cotrugli Năm 1494, Pacioli đã cho xuất bản một cuốn sách với nội dung là một bản tóm lược và kiến giải về toán học, kế toán chỉ là một trong số năm đề mục được đề cập đến với 36 chương Pacioli đưa ra hệ thống gồm các thành phần bản ghi, nhật ký, sổ cái Cuối kỳ kế toán thực hiện bảng cân đối thử Thời kỳ này kế toán đã đóng vai trò cung cấp thông tin tài chính cho Nhà nước và chủ doanh nghiệp
Đến thế kỷ 19, kế toán đã phát triển thành một nghề mang tính xã hội hoá và chuyên nghiệp hoá, các hiệp hội kế toán đã được hình thành Năm 1880 là Hiệp hội kế toán Anh và xứ Wales với số lượng thành viên ban đầu là 587 người và sau đó kết nạp thêm 606 thành viên mới Năm 1887 là Hiệp hội kế toán Mỹ, tiền thân của Hiệp hội Kế toán có giấy chứng nhận hành nghề Mỹ
Sang thế kỷ 20, với những thay đổi, phát triển về kinh tế, kế toán đã từng bước được hoàn thiện và phát triển mạnh mẽ Kế toán đã dần tách biệt thành hai hệ thống là
kế toán tài chính cung cấp thông tin cho nhiều đối tượng bên ngoài và kế toán quản trị cung cấp thông tin mang tính chất nội bộ cho người quản lý Đây cũng là kỷ nguyên đánh dấu sự ra đời của chuẩn mực kế toán quốc tế Khái niệm kế toán quốc tế đã xuất hiện, kế toán không còn nằm trong khuôn khổ một quốc gia nữa mà đã mở rộng ra môi trường toàn cầu Từ đó đến nay, Chuẩn mực kế toán quốc tế đã trải qua nhiều lần chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp với điều kiện kinh tế thế giới đổi mới và đã được nhiều nước trên thế giới áp dụng, tính đến cuối năm 2008 đã có trên 100 quốc gia
Trang 161.1.1.3 Quá trình phát triển của kế toán Việt Nam:
1.1.1.3.1 Giai đoạn từ năm 1954 trở về trước:
Thời kỳ trước, hình thức manh nha của kế toán Việt Nam là việc ghi chép mang tính liệt kê tài sản gia đình, để người chủ gia đình nắm được tình hình tài sản của mình Đến khi thực dân Pháp vào xâm chiếm nước ta, đi cùng với chính sách bóc lột là việc xây dựng các nhà máy, đồn điền và ở đó kế toán xuất hiện
1.1.1.3.2 Giai đoạn từ năm 1954 - 1975:
Đây là thời kỳ đánh dấu sự bắt đầu phát triển thực sự của kế toán Việt Nam với việc ban hành chế độ kế toán kép áp dụng thí điểm trong các xí nghiệp thuộc ngành công nghiệp và xây dựng vào năm 1957 Hệ thống tài khoản kế toán được xây dựng để
áp dụng chung cho tất cả các ngành theo Quyết định số 425-TC/CĐKT ngày 14/12/1970 Nhưng chế độ báo cáo lại được quy định riêng cho từng ngành, các đơn vị kinh tế thuộc ngành nội thương áp dụng chế độ báo cáo thống kê, kế toán định kỳ theo Quyết định số 299/TTg ngày 27/10/1971; các xí nghiệp công nghiệp thì áp dụng theo Quyết định số 233/CP ngày 01/12/1970 Tổng Cục thống kê cũng ban hành Quyết định số 212-TCKT ngày 03/11/1971 quy định chế độ báo cáo thống kê kế toán định kỳ đối với các đơn vị công ty, cửa hàng, thương nghiệp đã hạch toán kinh tế độc lập thuộc
Bộ Nội thương quản lý Như vậy có thể thấy thời kỳ này kế toán và thống kê đi đôi với nhau, có phân biệt trong chế độ báo cáo giữa các ngành, kế toán chủ yếu phục vụ cho quản lý Nhà nước về hoạt động sản xuất kinh doanh của kinh tế quốc doanh
1.1.1.3.3 Giai đoạn từ năm 1975 - 1995:
Sau ngày thống nhất đất nước, cả nước tập trung vào phát triển kinh tế ổn định
xã hội, kế toán cũng có những bước chuyển mình rõ rệt Nhà nước liên tục sửa đổi, bổ sung các quy định về kế toán cho phù hợp với bối cảnh kinh tế-xã hội mới Ngày 20/05/1988, Nhà nước đã ban hành Pháp lệnh kế toán và thống kê áp dụng chung trong
Trang 17nền kinh tế quốc dân Hệ thống tài khoản kế toán đã được xây dựng mới theo Quyết định số 212-TC/CĐKT ngày 15/12/1989, sau đó được thay thế bởi Quyết định số 1205-TC/CĐKT ngày 14/12/1994 Ngày 18/04/1990, Bộ Tài Chính ban hành Quyết định 224-TC/CĐKT quy định chế độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng thống nhất cho xí nghiệp công nghiệp quốc doanh Đến 14/12/1994, chế độ báo cáo kế toán định kỳ áp dụng chung cho các ngành nghề được ban hành theo Quyết định số 1206-TC/CĐKT
Có thể thấy thời gian đầu của giai đoạn này là nền kinh tế bao cấp, các thành phần kinh tế chỉ có quốc doanh, tập thể và cá thể mà giữ thành phần chủ đạo là thành phần kinh tế quốc doanh Các quy định kế toán còn có sự phân biệt giữa các ngành nghề Từ năm 1991 đến năm 1994, nền kinh tế thị trường nhiều thành phần định hướng
Xã Hội Chủ Nghĩa phát triển đã tác động lớn đến kế toán Lúc này đã có sự thống nhất
về kế toán cho các ngành nghề, tuy nhiên vẫn còn sự phân biệt giữa kinh tế quốc doanh
và ngoài quốc doanh Đây cũng là mốc thời gian cho sự xuất hiện của hoạt động kiểm toán độc lập giúp hỗ trợ kế toán phát triển Năm 1991, Bộ Tài Chính thành lập hai công
ty kiểm toán đầu tiên, và năm 1992 công ty kiểm toán nước ngoài đầu tiên đã được cấp phép hoạt động tại Việt Nam là Ernst & Young
1.1.1.3.4 Giai đoạn 1995 đến nay:
Giai đoạn này kinh tế Việt Nam phát triển mạnh, hòa nhập với kinh tế thế giới Công tác kế toán được chú trọng đúng mức nhằm cung cấp các thông tin kinh tế tài chính hữu ích Lúc này Nhà nước ban hành các quy định mang tính bao quát hơn, nhiều vấn đề được đưa vào cùng một văn bản pháp luật chứ không phải bằng nhiều văn bản rời rạc như trước đó Chế độ kế toán doanh nghiệp được ban hành theo Quyết định
số 1141-TC/QĐ/CĐKT ngày 01/11/1995 quy định cả hệ thống tài khoản, hệ thống báo cáo tài chính, chế độ sổ sách và chế độ chứng từ kế toán Chế độ kế toán doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng được ban hành theo Quyết định số 1177 TC/QĐ/CĐKT ngày 23/12/1997 Mặc dù vậy, hệ thống kế toán nói trên vẫn chịu ảnh hưởng nhiều của các
Trang 18quy định về thuế; ví dụ Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh vẫn dành riêng hai mục cung cấp số liệu về thuế của doanh nghiệp
Thời kỳ mở cửa nền kinh tế đất nước, kế toán cũng không còn phát triển một cách đơn lẻ mà đã có hệ thống và liên kết với thế giới Năm 1996, Hội kế toán Việt Nam (VAA) ra đời và trở thành thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) cũng như là thành viên của Liên đoàn kế toán các nước ASEAN (AFA) Việt Nam cũng tiếp cận và nghiên cứu chuẩn mực kế toán quốc tế Năm 1999, bắt tay vào soạn thảo chuẩn mực kế toán Việt Nam dựa trên cơ sở chuẩn mực kế toán quốc tế Đến tháng 12/2001, bốn chuẩn mực kế toán Việt Nam đầu tiên được ban hành theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31/12/2001 gồm các chuẩn mực số 02, 03, 04 và 14 Nhưng mãi đến ngày 09/10/2002, Bộ Tài Chính mới ban hành thông tư số 89/2002/TT-BTC hướng dẫn thực hiện bốn chuẩn mực này Tiếp đến ngày 31/12/2002, các chuẩn mực số
01, 06, 10, 15, 16 và 24 được ban hành theo Quyết định số 165/2002/QĐ-BTC Thông
tư hướng dẫn sáu chuẩn mực này được ban hành vào ngày 04/11/2003, số 105/2003/TT-BTC Đợt 3 ban hành tiếp sáu chuẩn mực gồm các chuẩn mực số 05, 07,
08, 21, 25 và 26 theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30/12/2003 Ngày 30/05/2005, Bộ Tài Chính ban hành thông tư hướng dẫn số 23/2005/TT-BTC Ngày 15/02/2005, ban hành sáu chuẩn mực kế toán đợt 4 gồm các chuẩn mực số 17, 22, 23,
27, 28 và 29 theo Quyết định số 12/2005/QĐ-BTC Thông tư hướng dẫn Quyết định này số 20/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 Đến ngày 28/12/2005, 26 chuẩn mực kế toán Việt Nam chính thức được hoàn thành với việc ban hành bốn chuẩn mực còn lại là chuẩn mực số 11, 18, 19 và 30 theo Quyết định số 100/2005/QĐ-BTC Thông tư hướng dẫn số 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 Ngày 31/12/2007, Bộ Tài Chính ban hành Thông tư số 161/2007/TT-BTC thay thế các thông tư hướng dẫn thực hiện mười sáu chuẩn mực kế toán ban hành đợt 1, 2 và 3 Việc ra đời của các chuẩn mực kế toán giúp cho kế toán tài chính phản ánh trung thực hơn bức tranh tài chính của doanh
Trang 19nghiệp, từ đó làm cho báo cáo tài chính trở nên hữu ích hơn trong việc ra các quyết định kinh tế của chủ doanh nghiệp, nhà đầu tư
Giai đoạn này cũng đánh dấu sự ra đời của Luật kế toán số 03/2003/QH11 ngày 17/06/2003, Quyết định 15/2006/QĐ-BTC ngày 20/3/2006 về chế độ kế toán doanh nghiệp và Quyết định 48/2006/QĐ-BTC ngày 14/9/2006 về chế độ kế toán doanh nghiệp nhỏ và vừa Các Quyết định này ban hành chế độ kế toán mới cập nhật các nội dung quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam và Luật kế toán năm 2003, nên việc
ra đời của chúng giúp cho quản lý kế toán được thống nhất, kế toán cung cấp thông tin trung thực, hợp lý đáp ứng được yêu cầu tổ chức, quản lý điều hành của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, tổ chức và cá nhân
Kế toán Việt Nam thuộc lớp kế toán non trẻ, phát triển sau do ảnh hưởng của
chiến tranh nhưng nhờ kế thừa khoa học kế toán đã phát triển trên thế giới, đặc biệt là
chuẩn mực kế toán quốc tế nên đã đạt được những thành tựu nhất định, cơ bản đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế trong từng thời kỳ Tuy nhiên, thực tế vẫn tồn tại những lúng túng trong xử lý các giao dịch, các hướng dẫn về chuẩn mực kế toán Việt Nam còn khá khó hiểu, khó áp dụng
1.1.2 Định nghĩa kế toán:
Có nhiều định nghĩa về kế toán, theo điều 4 Luật Kế toán do Quốc hội nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/6/2003: “Kế toán là việc thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin kinh tế tài chính dưới hình thức giá trị, hiện vật và thời gian lao động” Qua định nghĩa này ta có thể thấy được các công việc cụ thể của kế toán là thu thập, xử lý, kiểm tra, phân tích và cung cấp thông tin Kế toán sử dụng nhiều thước đo để phản ánh các thông tin kinh tế tài chính, trong
đó thước đo giá trị là thước đo chủ yếu
Trang 20Viện Kế toán công Hoa Kỳ (1953) định nghĩa: “Kế toán là một nghệ thuật ghi nhận, phân loại và tổng hợp các sự kiện kinh tế dưới hình thái tiền tệ theo một phương thức có ý nghĩa và giải thích các kết quả đó” Hiệp hội Kế toán Hoa Kỳ (1966) thì định nghĩa: “Kế toán là quá trình xác định, đo lường và cung cấp những thông tin kinh tế hữu ích cho việc phán đoán và ra quyết định”
Như vậy các định nghĩa đều nhằm vào việc nêu ra quá trình tổ chức công việc
để cung cấp thông tin kinh tế tài chính cho các đối tượng liên quan như chủ doanh nghiệp, nhà quản lý, nhà đầu tư, ngân hàng, các cơ quan quản lý nhà nước… Kế toán được sử dụng không chỉ trong các doanh nghiệp mà còn trong các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức khác có chi phí để thực hiện một mục tiêu nào đó
1.1.3 Nhiệm vụ của kế toán:
Luật kế toán quy định kế toán có 4 nhiệm vụ cơ bản:
- Thu thập, xử lý thông tin, số liệu kế toán theo đối tượng và nội dung công việc
kế toán, theo chuẩn mực và chế độ kế toán: Có thể nói đây là công việc kế toán nhập liệu, là nhiệm vụ đầu tiên của kế toán, là cơ sở để thực hiện các nhiệm vụ khác
- Kiểm tra, giám sát các khoản thu, chi tài chính, các nghĩa vụ thu, nộp, thanh toán nợ; kiểm tra việc quản lý, sử dụng tài sản và nguồn hình thành tài sản; phát hiện
và ngăn ngừa các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, kế toán: Đối với chủ doanh nghiệp, nhiệm vụ này là tối quan trọng
- Phân tích thông tin, số liệu kế toán; tham mưu, đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán: Đây là công việc
kế toán quản trị, phục vụ nhu cầu thông tin cho nhà quản lý và chủ doanh nghiệp
- Cung cấp thông tin, số liệu kế toán theo quy định của pháp luật: Đối tượng tiếp nhận thông tin, số liệu kế toán có thể là cơ quan Thuế, cơ quan Thống Kê…
Trang 211.2 Tổng quan hệ thống thuế Việt Nam
1.2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Thuế:
Như vậy có thể nói thuế hình thành, phát triển cùng với sự hình thành, phát triển của Nhà nước Thuế do Nhà nước ban hành nhằm thực hiện các mục tiêu của Nhà nước Về quan hệ giữa thuế và Nhà nước, Mác đã viết: “Thuế là cơ sở kinh tế của bộ máy Nhà nước, là thủ đoạn cơ bản để kho bạc thu được tiền hay sản vật mà người dân phải đóng góp để dùng vào mọi chi tiêu của Nhà nước” Ăng ghen cũng đã viết: “Để duy trì quyền lực công cộng cần phải có sự đóng góp của công dân cho Nhà nước, đó
là thuế”
1.2.1.2 Sơ lược quá trình phát triển chung của thuế thế giới:
Ở hình thái kinh tế xã hội chiếm hữu nô lệ và phong kiến, sắc thuế đơn giản, Nhà nước sử dụng thuế chủ yếu cho mục đích phi kinh tế là nuôi bộ máy Nhà nước và chi cho quốc phòng mà ít quan tâm đến chi tiêu cho việc phát triển kinh tế Sang hình thái kinh tế xã hội tư bản chủ nghĩa, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội Nhà nước cũng phát triển cả về lượng lẫn chất Quy mô (lượng) của Nhà nước càng lớn nhu cầu ngân sách càng nhiều dẫn đến sự ra đời của nhiều sắc thuế mới Trình độ (chất) của Nhà nước càng cao thuế càng trở nên sắc sảo hơn, phục vụ nhiều mục tiêu của Nhà nước hơn, tác động mạnh mẽ hơn vào sự phát triển kinh tế xã hội
Trang 22Thời kỳ đầu thuế chủ yếu được thu bằng hiện vật Khi kinh tế hàng hóa – tiền tệ phát triển thì thuế được thu chủ yếu bằng tiền
1.2.1.3 Quá trình phát triển của thuế Việt Nam:
1.2.1.3.1 Thời kỳ phong kiến:
Nhà nước đầu tiên của người Việt là Nhà nước Văn Lang Thời kỳ này thuế được thu bằng hiện vật, chủ yếu là lương thực, thực phẩm
Đến thời kỳ Bắc thuộc, dưới ách thống trị của phong kiến phương Bắc, hai hình thức tô, thuế cùng tồn tại tạo nên gánh nặng lớn cho người dân Tô là phần thặng dư nông dân phải nộp cho chủ đất khi sử dụng đất của họ Thuế là khoản bắt buộc người dân phải nộp cho Nhà Nước để duy trì hoạt động của Nhà Nước
Đến triều đại nhà Trần thì việc tổ chức hệ thống thuế mới được ghi chép, hai loại thuế chính là thuế đinh và thuế điền Việc thu thuế và chi tiêu công quỹ do vua chúa toàn quyền quyết định Qua các triều đại vua khác nhau, có thể tồn tại thêm các loại thuế khác nhau
1.2.1.3.2 Thời kỳ Pháp thuộc từ năm 1858 – 1945:
Ngay sau khi lập xong chế độ bảo hộ ở Việt Nam, chính phủ thuộc địa Pháp đặt
ra chế độ thuế khóa được áp dụng cho đến lúc Cách Mạng Tháng Tám năm 1945 của nhân dân Việt Nam thành công Chế độ thuế khóa thời kỳ này vô cùng nặng nề, gây bần cùng hóa cho nhân dân Hai loại thuế trực thu là thuế đinh và thuế điền vẫn được duy trì nhưng được định lại mức, ngạch Đây là hai loại thuế chủ lực, chiếm 50% thu ngân sách (Lê Thị Thanh Hà và cộng sự, 2007) Ngoài ra còn có các loại thuế trực thu khác như thuế môn bài, thuế tàu thuyền đi lại trên sông, thuế xe, thuế tài nguyên
Thuế gián thu nộp vào ngân sách chung Đông Dương, gồm các loại chủ yếu như thuế rượu, thuế muối, thuế thuốc phiện Ngoài ra còn có thuế hải quan và thương chính, thuế tiêu thụ diêm, thuế lưu hành thuốc lá, thuế xuất khẩu gạo, thuế tiêu thụ thuốc nổ, thuế sòng bạc, thuế cư trú, thuế mái hiên…
1.2.1.3.3 Giai đoạn từ năm 1945 - 1954:
Trang 23Khi Cách Mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa được thành lập, Chính phủ đã bãi bỏ hẳn sắc thuế phi nhân đạo là thuế đinh và miễn thuế điền ở các vùng bị bão lụt Ngày 10/9/1945, Chính phủ đã ban hành sắc lệnh
số 27/SL, đặt ra Sở thuế quan và thuế gián thu Ngày 25/3/1946 thành lập Nha thuế trực thu Việt Nam
Đến năm 1951, Nhà nước ban hành các sắc thuế gồm thuế nông nghiệp, thuế công thương nghiệp (gồm thuế doanh nghiệp và thuế thực lãi), thuế quán hàng, thuế hàng hóa, thuế buôn chuyến, thuế xuất nhập khẩu, thuế sát sinh, thuế trước bạ, thuế tem Thuế nông nghiệp thu bằng hiện vật theo biểu lũy tiến từ 6%-45%, các thuế khác thu bằng tiền Thuế nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất, trên 50% trong tổng thu về thuế
1.2.1.3.4 Giai đoạn từ năm 1954 – 1975:
Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Pháp, miền Bắc được giải phóng còn miền Nam vẫn phải chịu ách đô hộ của đế quốc Mỹ và chính quyền ngụy Sài Gòn Hệ thống thuế ở miền Bắc lúc này gồm 12 sắc thuế với nhiều mức thuế suất thay cho hệ thống thuế tương đối ít thuế suất trước đó: Thuế doanh nghiệp (thống nhất thuế doanh thu và quán hàng), thuế lợi tức doanh nghiệp (thay thế thuế thực lãi), thuế hàng hóa (mở rộng thêm mặt hàng), thuế sát sinh, thuế buôn chuyến, thuế thổ trạch, thuế kinh doanh nghệ thuật, thuế môn bài, thuế trước bạ, thuế muối, thuế rượu, thuế xuất, nhập khẩu và chế độ thu quốc doanh Thuế chỉ áp dụng đối với khu vực kinh tế tập thể và cá thể Các xí nghiệp quốc doanh không áp dụng thuế mà theo chế độ thu khác bởi theo quan điểm của Đảng và Nhà nước, các xí nghiệp quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước quản lý, cần phải tạo điều kiện cho kinh tế quốc doanh phát triển và giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế đất nước Chính sự phân biệt này đã làm mất đi tính công bằng của thuế, nguồn thu ngân sách Nhà nước thấp, Nhà nước xem nhẹ vai trò của thuế, làm cho các xí nghiệp quốc doanh ỷ lại, hoạt động không hiệu quả
Trang 24Ở miền Nam có hai chế độ chính quyền cách mạng và chính quyền ngụy Sài Gòn Nguồn thu của chính quyền cách mạng là sự quyên góp của quần chúng nhân dân, sự chi viện của Trung ương, thu từ sản xuất tự túc và thu chiến lợi phẩm Nguồn thu chính của chính quyền ngụy Sài Gòn là viện trợ của Mỹ, khoản thu từ thuế chỉ chiếm khoảng 20% ngân sách (Lê Thị Thanh Hà và cộng sự, 2007)
1.2.1.3.5 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay:
Từ ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước đến năm 1979, hệ thống thuế ở miền Bắc vẫn duy trì như trước năm 1975 Miền Nam tạm thời áp dụng có cải tiến một số sắc thuế của chính quyền Sài Gòn cũ như thuế lợi tức, thuế môn bài, thuế thổ trạch, thuế VAT, thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế lưu hành xe tự động, thuế trước bạ
Từ 1980, hệ thống thuế được thi hành thống nhất trên toàn quốc Mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với nền kinh tế thị trường nhưng hệ thống thuế lúc này vẫn còn nhiều khiếm khuyết, chưa thực sự trở thành công cụ điều tiết vĩ mô của Nhà nước
Đến năm 1990, Quốc hội khóa VIII và Hội đồng Nhà nước đã cho ban hành các luật thuế và pháp lệnh thuế áp dụng chung cho tất cả các thành phần kinh tế Quan điểm về thuế của Nhà nước đã thay đổi, Nhà nước đặt ra yêu cầu thuế phải là nguồn thu chủ yếu cho Ngân sách Nhà nước; là công cụ quản lý, điều tiết nền kinh tế của Nhà nước; thuế phải có tính pháp lý cao; phải đảm bảo bình đẳng giữa các thành phần kinh
tế Hệ thống thuế từ đó đến nay đã trải qua nhiều đợt cải cách nhằm đảm bảo phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường nhiều thành phần và hội nhập kinh tế thế giới Một quá trình đổi mới theo hướng thị trường chỉ trong vòng 20 năm gần đây nên thực tế thuế Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập, cả về chính sách lẫn thực hiện Hệ thống thuế ngày nay gồm các sắc thuế sau: Thuế giá trị gia tăng; thuế thu nhập doanh nghiệp; thuế thu nhập cá nhân; thuế xuất, nhập khẩu; thuế tiêu thụ đặc biệt; thuế môn bài; thuế nhà, đất; thuế tài nguyên; thuế chuyển quyền sử dụng đất; thuế sử dụng đất nông nghiệp Ngoài ra còn có các khoản phí và lệ phí có tính chất thuế
Trang 25thuyết về thuế” của Học Viện Tài Chính, năm 2008): “Thuế là một khoản đóng góp bắt
bu ộc từ các thể nhân và pháp nhân cho Nhà nước theo mức độ và thời hạn được pháp
lu ật qui định, nhằm sử dụng cho mục đích công cộng”
1.2.3 Vai trò của thuế:
* Thuế là công cụ huy động nguồn lực tài chính cho Nhà nước:
Có nhiều nguồn tài trợ cho các khoản chi tiêu của Nhà nước như thuế, thu từ hoạt động kinh tế của Nhà nước, nhận viện trợ, vay, phát hành tiền, các khoản thu khác Trong đó thuế là nguồn tài trợ có nhiều ưu điểm với phạm vi thu thuế rộng, nguồn thu ổn định, bền vững…
Ở các nước phát triển, tỷ lệ thuế trên GDP rất cao và tăng rất nhanh như ở Pháp năm 1975 là 37,4% và đến năm 1992 đã là 43,6%; ở Thụy Điển năm 1975 là 43,9% và đến năm 1992 thì lên mức 50% Tại Việt Nam, năm 2004 là 20,2%; năm 2005 là
21,1% và năm 2006 là 22,6% (Nguồn: Kinh tế 2005 – 2006 Việt Nam và thế giới, Thời
* Thuế là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế:
Trang 26Với vai trò điều tiết nền kinh tế, thuế góp phần hình thành cơ cấu ngành hợp lý trong từng giai đoạn; thuế góp phần bảo hộ nền sản xuất trong nước bằng hàng rào thuế quan ; điều chỉnh chu kỳ nền kinh tế thông qua việc tăng thuế khi nền kinh tế phát triển quá nóng hay chính sách thuế kích cầu khi nền kinh tế suy thoái; điều chỉnh tích luỹ tư bản trong doanh nghiệp để tạo nguồn vốn đầu tư
* Thuế là công cụ điều hòa thu nhập, thực hiện công bằng xã hội:
Nhà nước thông qua thuế đã rút bớt một phần thu nhập trong xã hội thu về Ngân sách Nhà nước Một phần trong Ngân sách được sử dụng để phục vụ lại lợi ích cho nhân dân qua các dịch vụ công; rút ngắn khoảng cách giàu nghèo qua các khoản trợ cấp
1.3 Chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp:
1.3.1 Đặc điểm:
Thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế tính trên thu nhập chịu thuế của các tổ chức kinh doanh trong kỳ tính thuế Nó có vai trò quan trọng trong hệ thống thuế Việt Nam, mang lại nguồn thu lớn cho ngân sách và tham gia điều tiết nền kinh tế, phân phối lại thu nhập trong xã hội Một số đặc điểm của thuế thu nhập doanh nghiệp:
Thứ nhất, thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu, đối tượng chịu thuế và nộp thuế là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ có thu nhập chịu thuế
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của doanh nghiệp, khi kết quả kinh doanh âm doanh nghiệp không phải nộp thuế
Thứ ba, thuế thu nhập doanh nghiệp được tính căn cứ vào cơ sở tính thuế chứ không theo giá trị ghi sổ của các khoản mục
Trang 271.3.2 Vài nét quá trình phát triển chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp Việt Nam:
Tiền thân của thuế thu nhập doanh nghiệp là khoản trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế thực lãi, sau là thuế lợi tức áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh trong giai đoạn từ 1951 đến 1989 Giai đoạn này có
sự phân biệt mức thuế suất áp dụng đối với các ngành nghề khác nhau, hình thức sở hữu khác nhau
Từ năm 1990 đến 1998, thuế lợi tức được áp dụng thống nhất cho mọi thành phần kinh tế thay cho chế độ trích nộp lợi nhuận áp dụng đối với khu vực kinh tế quốc doanh và thuế lợi tức doanh nghiệp áp dụng đối với khu vực kinh tế ngoài quốc doanh Mức thuế suất phổ thông là 30%, 40%, 50%; từ năm 1993 các mức thuế suất được giảm tương ứng là 25%, 35%, 45% Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài được
áp dụng thuế suất thấp hơn các doanh nghiệp trong nước
Từ ngày 1/1/1999, thuế thu nhập doanh nghiệp thay thế cho thuế lợi tức, áp dụng thống nhất cho mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế Chỉ còn một mức thuế suất phổ thông, lúc này là 32% đối với các doanh nghiệp trong nước và 25% đối với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài Như vậy với mục tiêu thu hút vốn đầu
tư nước ngoài, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài luôn được ưu đãi về thuế so với doanh nghiệp trong nước
Ngày 17/6/2003, đánh dấu sự ra đời của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 09/2003/QH11 có hiệu lực thi hành từ 1/1/2004 Luật ra đời giúp tăng tính pháp lý của thuế thu nhập doanh nghiệp, giúp sắc thuế đạt hiệu quả trong quản lý và hành thu thuế Ngày 22/12/2003, Chính phủ ban hành Nghị định số 164/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp và sau đó là thông tư hướng dẫn số 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003
Trang 28Qua nhiều đợt thay đổi, hiện nay các văn bản có hiệu lực về thuế thu nhập doanh nghiệp là Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 ngày 03/06/2008 thay thế Luật số 09/2003/QH11 Nghị định số 124/2008/NĐ-CP ngày 11 tháng 12 năm
2008 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp Thông tư hướng dẫn số 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008, thông tư sửa đổi, bổ sung số 18 /2011/TT-BTC ngày 10/02/2011 và các văn bản hướng dẫn khác
Phần trích lập quỹ KH&CN x
Thuế suất thuế TNDN
Thu nhập
tính thuế =
Thu nhập chịu thuế -
Thu nhập được miễn thuế +
Các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định
Thu nhập
chịu thuế =
Doanh thu -
Chi phí được trừ +
Các khoản thu nhập khác
Như vậy các yếu tố cấu thành thuế thu nhập doanh nghiệp trong kỳ tính thuế là thuế suất, doanh thu, thu nhập khác, thu nhập được miễn thuế, chi phí được trừ, phần trích lập quỹ khoa học công nghệ và các khoản lỗ được kết chuyển theo quy định Kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp là năm tài chính, năm tài chính có thể trùng với năm dương lịch hoặc không Sơ lược các yếu tố:
Trang 29Thứ nhất, thuế suất gồm có thuế suất phổ thông, thuế suất cho ngành nghề đặc biệt và thuế suất ưu đãi Thông qua ưu đãi về thuế suất, Nhà nước có thể thực hiện được các chính sách về kinh tế xã hội
Thứ hai, thuế thu nhập doanh nghiệp phải bao quát được mọi khoản doanh thu, thu nhập phát sinh trong hoạt động của các doanh nghiệp để đảm bảo nguyên tắc công bằng khi tính thuế Tuy nhiên, tùy vào các mục đích trong từng thời kỳ, Bộ Tài Chính
sẽ quy định cụ thể những khoản thu nhập được miễn thuế
Thứ ba, nguyên tắc để một khoản chi được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế
là khoản chi phải thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ hợp pháp theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, tùy vào yêu cầu quản lý, tình hình thực tế của từng thời kỳ mà có thể
có một số khoản chi đúng nguyên tắc nhưng không được trừ
Thứ tư, Việt Nam là quốc gia chưa phát triển về khoa học công nghệ, để khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ, Nhà nước cho phép các doanh nghiệp được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hằng năm để lập Quỹ phát triển khoa học và công nghệ Số tiền lập quỹ này sẽ được trừ ra khỏi thu nhập tính thuế khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp Tuy nhiên, các khoản chi phí về nghiên cứu, phát triển khoa học công nghệ sẽ được trích từ quỹ này và không được đưa vào chi phí được trừ Sau năm năm kể từ ngày trích lập quỹ, nếu doanh nghiệp sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích thì phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp cho phần không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích và lãi phát sinh từ số thuế đó Như vậy, Quỹ này không phải là một hình thức miễn thuế thu nhập doanh nghiệp mà chỉ là một chính sách ưu đãi về hoãn và giảm nộp thuế thu nhập doanh nghiệp mà mục tiêu là thúc đẩy phát triển khoa học công nghệ tại các doanh nghiệp
Trang 30Thứ năm, Bộ Tài Chính cho phép doanh nghiệp được chuyển lỗ trong vòng năm năm kể từ năm phát sinh lỗ Đây cũng là một sự hỗ trợ của Nhà nước đối với doanh nghiệp, khi doanh nghiệp kinh doanh có lãi có thể lấy lãi bù đắp khoản lỗ trước đó, sau khi bù lỗ mới phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Có thể thấy, thuế thu nhập doanh nghiệp là sắc thuế mà Nhà nước có thể sử dụng để tác động vào nền kinh tế ở nhiều khía cạnh Thêm vào đó, trong hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp phải nộp rất nhiều loại thuế nhưng chỉ duy nhất thuế thu nhập doanh nghiệp là thuế trực thu đối với doanh nghiệp, đánh vào chính thu nhập của doanh nghiệp Do đó, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp là chính sách thuế ảnh hưởng đến công tác kế toán của doanh nghiệp hơn các chính sách thuế khác
1.4 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế:
1.4.1 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế trên thế giới:
Mối quan hệ giữa kế toán và thuế ngày càng phát triển phức tạp Trên thế giới
có nhiều tác giả nghiên cứu vấn đề này, có thể kể đến Hoogendoor (1996) và Lamb, Nobes và Robert (1998)
* Hoogendoor (1996) nghiên cứu mối quan hệ giữa kế toán và thuế ở 13 nước Châu Âu và ông phân làm hai loại quan hệ độc lập và phụ thuộc
- Độc lập: Doanh nghiệp sử dụng các chính sách khác nhau cho kế toán tài chính và việc tính toán thuế Tuy nhiên không bao giờ có sự độc lập tuyệt đối Các quốc gia thuộc loại này là Anh, Cộng Hòa Séc, Đan Mạch, Ireland, Hà Lan, Na Uy và
Ba Lan
- Phụ Thuộc: tức là nguyên tắc thuế là cơ sở của kế toán hoặc thuế được xác định dựa trên kế toán Theo ông, cả hai trường hợp đều có thể dẫn đến số liệu thu nhập
Trang 31được ghi nhận sai lệch so với thực tế Các quốc gia thuộc loại này là Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Ý và Thụy Điển
* Lamb, Nobes và Robert (1998) lại có cách phân loại khác về mối quan hệ này Có 5 loại:
- Nguyên tắc của kế toán và thuế độc lập nhau
- Nguyên tắc của kế toán và thuế tương đồng nhau
- Nguyên tắc kế toán phục vụ cho cả mục đích kế toán lẫn thuế
- Nguyên tắc thuế phục vụ cho cả mục đích kế toán lẫn thuế
- Nguyên tắc kế toán không được quan tâm đến
* Ở Hồng Kông, Indonesia, Malaysia, Philipines, Thái Lan và Việt Nam thì bản tin thuế của Châu Á Thái Bình Dương (2002) đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa kế toán
và thuế bằng việc đăng các bài báo chuyên về tình hình hiện tại của các nước này
Xu hướng thế giới ngày càng hướng tới sự độc lập hơn giữa kế toán và thuế Theo bản tóm tắt các nghiên cứu về mối quan hệ giữa kế toán và thuế do Clinton Alley
và Simon James (2005) biên soạn, các nguyên nhân dẫn đến sự không hài hòa giữa kế
toán và thuế là:
- Mục tiêu của kế toán và thuế là khác nhau:
+ Mục tiêu của kế toán: Cung cấp những thông tin hữu ích cho các bên có liên quan như nhà quản lý, cổ đông, chủ nợ… nhằm giúp họ điều hành, kiểm soát và ra quyết định
+ Mục tiêu của thuế: tăng ngân sách và sử dụng thuế là công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trang 32- Khó khăn trong việc xác định khái niệm thu nhập: Rất nhiều nhà kinh tế xây
dựng khái niệm về thu nhập nhưng thật khó để xác định khái niệm phù hợp với cả kế toán và thuế Khái niệm về thu nhập của thuế hẹp hơn khái niệm về thu nhập của kế toán do mục tiêu của kế toán và thuế khác nhau (kim tự tháp về thu nhập của Holmes (1999))
- Sự phát triển liên tục của kế toán và thuế: Kế toán và thuế liên tục phát triển
nhưng chúng phát triển không cùng tốc độ, xu hướng và chúng có phương pháp khác nhau
- Yêu cầu về tính hiệu quả, khách quan và chính xác của hệ thống thuế: Trong
khi kế toán có thể được lập trên cơ sở ước tính, khả năng xảy ra và sự hợp lý thì thuế nhất thiết phải được tính toán trên cơ sở chính xác và có thể kiểm chứng được
1.4.2 Mối quan hệ giữa kế toán và thuế tại Việt Nam:
Thuế và kế toán là hai lĩnh vực có liên quan mật thiết với nhau Kế toán là công
cụ để quản lý và hành thu thuế thông qua chứng từ, sổ sách, báo cáo Ngược lại chính sách thuế cũng tác động đến việc xây dựng hệ thống kế toán, chẳng hạn hệ thống chứng từ, biểu mẫu Bất kỳ sự thay đổi nào của chính sách thuế cũng ảnh hưởng đến
hệ thống kế toán Khi nội dung của một sắc thuế thay đổi có thể tác động làm thay đổi
hệ thống tài khoản kế toán, hệ thống chứng từ Ví dụ, trước đây tài khoản 3334 có tên gọi là “Thuế lợi tức”, khi thuế thu nhập doanh nghiệp ra đời thay thế cho thuế lợi tức thì tài khoản 3334 đổi tên thành “Thuế thu nhập doanh nghiệp”
Kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, thông tin tài chính ngày càng quan trọng Để đáp ứng nhu cầu thông tin tài chính của đa dạng đối tượng trong nền kinh tế,
hệ thống kế toán cần được tổ chức khoa học hơn, khách quan hơn Báo cáo tài chính
cần phản ánh trung thực, khách quan tình hình tài chính của doanh nghiệp Trong điều
kiện kinh tế Việt Nam hội nhập kinh tế thế giới, kế toán Việt Nam cũng ngày càng hội
Trang 33nhập với kế toán quốc tế Bằng chứng là việc ra đời của 26 Chuẩn mực kế toán Việt Nam dựa trên Chuẩn mực kế toán quốc tế Trong khi đó, hệ thống thuế được xây dựng phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng quốc gia Do đó, có sự độc lập tương đối giữa hệ thống thuế và hệ thống kế toán Điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế Theo Freedmen (2004), toàn cầu hóa các chuẩn mực kế toán là một sự gợi ý để tách thuế và kế toán Theo tài liệu làm việc của nhân viên EU (2001), toàn cầu hóa các chuẩn mực kế toán là chất xúc tác cho việc phát triển hệ thống thuế hài hòa nhưng độc lập với kế toán
Do mục tiêu khác nhau, một bên hướng đến thông tin tài chính trung thực, hợp
lý còn một bên hướng đến thu ngân sách nên việc xây dựng chính sách của hai hệ thống thuế và kế toán có những khác biệt Những khác biệt này tạo nên chênh lệch giữa
số liệu ghi chép theo kế toán và ghi chép theo thuế, cụ thể là chênh lệch giữa lợi nhuận
kế toán và thu nhập chịu thuế Có hai loại chênh lệch là chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn
- Chênh lệch vĩnh viễn: là chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế phát sinh từ các khoản doanh thu, thu nhập khác, chi phí được ghi nhận vào lợi nhuận kế toán nhưng lại không được tính vào thu nhập, chi phí khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp Chênh lệch vĩnh viễn không làm phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại
Ví dụ: các khoản chi không có hóa đơn, chứng từ hợp lệ đối với kế toán là chi phí nhưng đối với thuế nó không được xem là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp; tương tự có chi phí quảng cáo, khuyến mại vượt quy định; chi phí khấu hao phần giá trị vượt 1,6 tỷ của ô tô chở người từ 9 chỗ ngồi trở xuống Về thu nhập thì có thu nhập từ cổ tức không được tính vào thu nhập chịu thuế khi xác định thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp
Trang 34- Chênh lệch tạm thời: là chênh lệch phát sinh do sự khác biệt về thời điểm doanh nghiệp ghi nhận thu nhập hoặc chi phí và thời điểm pháp luật về thuế quy định tính thu nhập chịu thuế hoặc chi phí được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế Có hai loại chênh lệch tạm thời là chênh lệch tạm thời chịu thuế và chênh lệch tạm thời khấu trừ:
+ Chênh lệch tạm thời chịu thuế: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh thu nhập chịu thuế khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong tương lai khi giá trị ghi sổ của các khoản mục tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay được thanh toán Chênh lệch tạm thời chịu thuế phát sinh khi giá trị ghi sổ của tài sản lớn hơn cơ sở tính thuế của tài sản đó hoặc giá trị ghi sổ của nợ phải trả nhỏ hơn cơ sở tính thuế của nó Chênh lệch tạm thời chịu thuế làm phát sinh thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại phải trả, lợi nhuận kế toán lớn hơn thu nhập chịu thuế
Ví dụ: Căn cứ theo thời gian sử dụng hữu ích của công cụ dụng cụ, kế toán phân
bổ chi phí cho một năm ít hơn chi phí phân bổ cơ quan thuế cho phép, dẫn đến lợi nhuận kế toán lớn hơn thu nhập chịu thuế
+ Chênh lệch tạm thời được khấu trừ: Là các khoản chênh lệch tạm thời làm phát sinh các khoản được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế thu nhập doanh nghiệp trong tương lai khi giá trị ghi sổ của các tài sản hoặc nợ phải trả liên quan được thu hồi hay được thanh toán Chênh lệch tạm thời được khấu trừ phát sinh khi giá trị ghi sổ của tài sản nhỏ hơn cơ sở tính thuế của tài sản đó và giá trị ghi sổ của nợ phải trả lớn hơn cơ sở tính thuế của nó Chênh lệch tạm thời được khấu trừ làm phát sinh thuế tài sản thu nhập doanh nghiệp hoãn lại, lợi nhuận kế toán nhỏ hơn thu nhập chịu thuế
Ví dụ: Ví dụ tiền cho thuê văn phòng nhận trước cho nhiều kỳ, xuất hóa đơn ngay toàn bộ số tiền thu được, kế toán chỉ ghi nhận doanh thu kỳ hiện tại và treo lại phần giá trị dịch vụ của các kỳ tiếp theo nhưng thuế tính vào doanh thu để tính thu nhập chịu thuế toàn bộ số tiền thu được, lợi nhuận kế toán của kỳ đầu tiên nhỏ hơn thu nhập chịu thuế
Trang 35Việc xử lý khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế được quy định trong Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 17 – Thuế thu nhập doanh nghiệp (VAS 17) ban hành theo Quyết định 12/2005/QĐ-BTC ngày 15/02/2005 và thông tư hướng dẫn số 20/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 Trước khi VAS 17 ra đời, mặc dù thực tế có xảy ra chênh lệch do khác biệt giữa chính sách thuế và chính sách kế toán nhưng không có hướng dẫn xử lý chênh lệch này nên các doanh nghiệp có xu hướng lập báo cáo tài
chính dựa vào nguyên tắc của thuế để không phát sinh chênh lệch
Trang 36KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Hệ thống thuế và kế toán Việt Nam phát triển có phần chậm so với các nước phát triển trên thế giới do ảnh hưởng của chiến tranh Khi chiến tranh qua đi, kinh tế ổn định và phát triển mới là môi trường cho kế toán và thuế phát triển Tiếp cận các thành tựu khoa học kế toán trên thế giới, đặc biệt thành tựu chuẩn mực kế toán quốc tế, kế toán Việt Nam đã dần hội nhập với kế toán quốc tế Hệ thống thuế cũng đã thay đổi rất nhanh để phù hợp với nền kinh tế thị trường, hội nhập với kinh tế thế giới Tuy nhiên,
cả thuế và kế toán đều tồn tại những bất cập không thể giải quyết trong một thời gian phát triển ngắn mà cần có sự đầu tư đúng mức trong công tác nghiên cứu
Thuế và kế toán tuy có liên quan mật thiết với nhau nhưng trên phương diện pháp lý, hai hệ thống kế toán Việt Nam và thuế Việt Nam độc lập tương đối với nhau, việc lập báo cáo tài chính được thực hiện theo chế độ, chuẩn mực kế toán và việc tính thuế thì thực hiện theo chính sách thuế Nói cách khác, chính sách thuế không tác động đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán Còn trên thực tế, liệu có hay không sự ảnh hưởng của chính sách thuế đến việc áp dụng chế độ, chuẩn mực kế toán ở doanh nghiệp Việt Nam Các phân tích, đo lường ở chương hai sẽ đưa ra câu trả lời cho vấn
đề này nhưng tập trung vào chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp và công ty niêm yết
Trang 37CHƯƠNG II:
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA CHÍNH SÁCH THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP ĐẾN VIỆC ÁP DỤNG CHẾ ĐỘ, CHUẨN MỰC KẾ TOÁN VIỆT NAM TRONG CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT TẠI VIỆT NAM
2.1 Mục đích nghiên cứu:
Trong thực tế thực hành kế toán, chúng ta có thể dễ dàng nhận thấy chính sách thuế có ảnh hưởng đến công tác tổ chức kế toán của doanh nghiệp từ công tác tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách đến việc lập báo cáo tài chính Chẳng hạn, chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp có quy định phần chi quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị vượt quá 10% chi phí được trừ (đối với doanh nghiệp mới thành lập trong ba năm đầu là 15%) sẽ không được tính là chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế Vì chính sách thuế này mà doanh nghiệp có thể sẽ tổ chức chứng từ, tài khoản, sổ sách, báo cáo tài chính liên quan đến nghiệp vụ chi tiền thuê dịch vụ quảng cáo như sau Chứng từ gốc - hóa đơn đầu vào, có thể doanh nghiệp sẽ yêu cầu nhà cung cấp ghi nội dung dịch
vụ khác đi thay cho nội dung đúng là quảng cáo, chứng từ ghi chép ban đầu cũng sẽ được ghi theo nội dung đã điều chỉnh; như vậy chứng từ đã không thể hiện đúng bản chất nghiệp vụ như chức năng vốn có của nó Về tài khoản, sổ sách thay vì hạch toán, theo dõi vào sổ tài khoản chi phí quảng cáo (ví dụ 64171) thì lại hạch toán, theo dõi vào sổ tài khoản khác (ví dụ 64172); lúc này có thể phải mở thêm tài khoản và sổ sách thì không phản ánh đúng số tiền phát sinh thực tế của các khoản mục Về báo cáo tài chính thì sẽ không xuất hiện chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế cho khoản mục này, các khoản mục chi phí có thể sẽ không phản ánh đúng số tiền thực
tế phát sinh Như vậy, chính sách thuế ảnh hưởng đến cả một quy trình kế toán từ chứng từ, tài khoản, sổ sách, phương pháp ước tính kế toán, báo cáo tài chính nhưng trong phạm vi nghiên cứu này không có điều kiện xem xét ảnh hưởng ở tất cả các khía cạnh cũng như ảnh hưởng của tất cả chính sách thuế Nghiên cứu này nhằm mục đích
Trang 38đánh giá ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp đến việc áp dụng chế
độ, chuẩn mực kế toán Việt Nam trong các công ty niêm yết tại Việt Nam thông qua chỉ tiêu chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế được thể hiện trên báo cáo tài chính Cụ thể là thu thập các bằng chứng thực nghiệm:
- Tỷ lệ doanh nghiệp áp dụng chính sách kế toán gần với quy định của thuế mà không theo đúng chế độ, chuẩn mực kế toán, căn cứ vào chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, bao gồm cả chênh lệch vĩnh viễn và chênh lệch tạm thời
- Các nhân tố tác động đến sự lựa chọn các chính sách kế toán gần với quy định thuế về thuế thu nhập doanh nghiệp mà không áp dụng theo đúng chế độ, chuẩn mực
kế toán Qua đó, sẽ làm rõ cách thức mà thuế tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán từ đó gợi ý những giải pháp giúp cho kế toán không chịu sự ảnh hưởng của chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp, theo đúng yêu cầu của chuẩn mực kế toán Việt Nam
2.2 Câu hỏi nghiên cứu và các biến đo lường:
2.2.1 Câu hỏi thứ nhất:
Liệu trong thực tế có nhiều công ty niêm yết áp dụng chính sách kế toán gần với quy định thuế hay không? Để trả lời cho câu hỏi này tác giả thu thập số liệu lợi nhuận
kế toán, thu nhập chịu thuế và chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại để xác định
có hay không chênh lệch tạm thời và chênh lệch vĩnh viễn giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế Chênh lệch càng nhỏ chứng tỏ chính sách kế toán càng gần giống quy định thuế Lợi nhuận kế toán là chỉ tiêu tổng lợi nhuận kế toán trước thuế mã số 50 trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Thu nhập chịu thuế được thu thập từ bảng thuyết minh báo cáo tài chính Chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại thể hiện ở bảng số liệu phụ lục 1 là giá trị tuyệt đối của chỉ tiêu chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp mã số 52 trên báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
2.2.2 Câu hỏi thứ hai:
2.2.2.1 Câu hỏi nghiên cứu và xác định các biến:
Trang 39Các nhân tố nào tác động đến sự lựa chọn chính sách kế toán gần với quy định thuế thu nhập doanh nghiệp trong các công ty niêm yết tại Việt Nam? Khi doanh nghiệp lựa chọn chính sách kế toán độc lập với quy định thuế thu nhập doanh nghiệp thì sẽ phát sinh chênh lệch vĩnh viễn và chênh lệch tạm thời, còn doanh nghiệp lựa chọn chính sách kế toán gần với quy định thuế thu nhập doanh nghiệp thì chênh lệch không phát sinh hoặc phát sinh nhỏ Vậy xác định các nhân tố tác động đến sự lựa chọn này đồng nghĩa với việc xác định các nhân tố tác động đến việc phát sinh các chênh lệch này Tuy nhiên, nghiên cứu này chỉ nghiên cứu các nhân tố tác động đến việc phát sinh chênh lệch tạm thời (được phản ánh bởi chỉ tiêu chi phí thuế TNDN hoãn lại), lý
do sẽ được phân tích ở phần 2.5.1 Để xác định các nhân tố tác động đến việc phát sinh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại ở doanh nghiệp, tác giả suy đoán doanh nghiệp sẽ có lợi như thế nào khi không áp dụng thuế hoãn lại Các lợi ích như:
- Giảm chi phí cho công tác kế toán, không phải sử dụng các phương pháp xử lý thuế hoãn lại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhân lực kế toán được đào tạo tốt cũng như việc giải trình những khác biệt giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế với cơ quan thuế
- Chính sách kế toán gần với quy định thuế sẽ cho kết quả lợi nhuận cao hơn chính sách kế toán theo chuẩn mực kế toán vì chính sách thuế thường hạn chế các chi phí dồn tích hay các khoản dự phòng (lưu ý nghiên cứu chỉ đang tính đến chênh lệch tạm thời, không xem xét chênh lệch vĩnh viễn) Nghĩa là lựa chọn này có thể mang lại một tỷ suất sinh lợi cao Điều này đặc biệt có ý nghĩa khi doanh nghiệp đang vay, nợ hoặc kinh doanh không thuận lợi
Ngoài ra, sự lựa chọn này cũng có thể chịu tác động của các nhân tố khác, ví dụ như công ty kiểm toán Một công ty kiểm toán uy tín sẽ không dễ thỏa hiệp với sự lựa chọn không theo đúng tinh thần của chuẩn mực kế toán Ta có công ty kiểm toán là một biến của nghiên cứu thực nghiệm này
Trang 40Về yếu tố chi phí công tác kế toán, ta có biến về quy mô doanh nghiệp Chi phí
kế toán tùy thuộc vào quy mô doanh nghiệp, doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ đầu tư chi phí kế toán cao, doanh nghiệp có quy mô nhỏ sẽ khó khăn trong việc đầu tư chi phí cho công tác kế toán
Về yếu tố lợi nhuận cao hơn, ta có biến về đòn bẩy tài chính, tính thanh khoản, khả năng sinh lợi và khả năng sinh lợi tăng thêm
2.2.2.2 Mô tả các biến:
2.2.2.2.1 Quy mô doanh nghiệp:
Giả thuyết đặt ra là các doanh nghiệp có quy mô lớn thì phát sinh chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại nhiều hơn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, nghĩa là chính sách kế toán của các doanh nghiệp quy mô lớn sẽ ít chịu ảnh hưởng của chính sách thuế Căn cứ đặt giả thuyết này là doanh nghiệp có quy mô lớn sẽ đầu tư chi phí kế toán cao nên có thể xử lý chênh lệch giữa lợi nhuận kế toán và thu nhập chịu thuế, doanh nghiệp có quy mô nhỏ thì ngược lại
Nghiên cứu này sử dụng hai chỉ tiêu doanh thu và tổng tài sản là biến cho nhân
tố quy mô doanh nghiệp Tổng tài sản là chỉ tiêu mã số 270 trên Bảng Cân Đối Kế Toán Doanh thu là chỉ tiêu doanh thu thuần mã số 10 trên Báo Cáo Kết Quả Hoạt Động Kinh Doanh Đơn vị tính là tỷ đồng
2.2.2.2.2 Công ty kiểm toán:
Giả thuyết đặt ra là các doanh nghiệp được kiểm toán bởi nhóm công ty kiểm toán Big4 sẽ có chi phí thuế thu nhập doanh nghiệp hoãn lại lớn hơn các doanh nghiệp được kiểm toán bởi Non-Big4 Căn cứ đặt giả thuyết, các công ty kiểm toán nhỏ bị phụ thuộc vào khách hàng, phải chiều theo khách hàng nên báo cáo kiểm toán không khách quan Các công ty kiểm toán lớn thì ngược lại vẫn giữ được sự độc lập nhất định đối