Theo kết quả điều tra bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2009 do Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn thành phố TT.NSH-VSMTN
Trang 1Từ Minh Đức
ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH GIÁ NƯỚC SINH HOẠT
Ở KHU VỰC NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 2CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
Từ Minh Đức
ĐIỀU CHỈNH CHÍNH SÁCH GIÁ NƯỚC SINH HOẠT
Ở KHU VỰC NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 603114
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS TRẦN TIẾN KHAI
TP Hồ Chí Minh – Năm 2011
Trang 30LỜI CẢM ƠN
Thật hạnh phúc khi được nhiều người ủng hộ và giúp đỡ
Việc học ở Fulbright là niềm mơ ước từ khi tôi còn là một sinh viên mới ra trường, bắt đầu bước vào nghiệp công chức Hai năm ở đây là niềm vinh dự và là trải nghiệm có ý nghĩa rất lớn đối với tôi
Hai năm ở Fulbright tôi đã nhận được rất nhiều thứ, mà nếu so sánh thì chi phí cơ hội chỉ là hạt lúa trên cánh đồng đang cho thu hoạch Tôi nhận được kiến thức từ những thầy
cô giỏi, nhiệt tình, cảm nhận được tấm lòng của họ đối với việc giảng dạy cũng như tâm huyết đối với sự nghiệp phát triển đất nước Tôi được làm việc chung, học hỏi nhiều điều
từ bạn bè, là chuyên gia trong các lĩnh vực, khu vực và ở mọi miền đất nước Tôi đã rút ra được phương pháp làm việc hiệu quả trong môi trường đầy áp lực; cách đánh giá sự việc một cách khách quan nhất có thể, là đức tính quan trọng đối với những người làm chính sách công Quan trọng hơn cả là tình bạn và những mối quan hệ trong một tập thể gắn bó
và đoàn kết Tôi vẫn nhớ lời của cô Trang Ngân khi bảo rằng đừng xem khóa học này là điều khó khăn mà hãy thưởng thức nó bởi đây sẽ là khoảng thời gian hạnh phúc trong cuộc sống
Chính vì vậy, tôi biết ơn mọi người đã ủng hộ và giúp đỡ tôi đạt được những điều này Tôi cảm ơn các bạn bè, đồng nghiệp tại cơ quan đã hỗ trợ tôi trong thời gian qua Nhất
là các anh chị cùng phòng Họ đã thông cảm và gánh vác phần lớn công việc của tôi Cảm
ơn cơ quan đã hỗ trợ về thu nhập, để tôi an tâm học tập Cảm ơn các bạn đồng nghiệp ở các đơn vị đã chia sẻ hiểu biết của mình về lĩnh vực mà tôi nghiên cứu và giúp tôi thu thập các phiếu khảo sát cho luận văn của mình
Tôi cảm ơn thầy Nguyễn Hữu Lam, nếu không vô tình nghe được câu nói của thầy, tôi
đã không có can đảm để tiếp tục luận văn này, “Đừng sợ, chưa làm mà đã sợ thì sẽ chẳng
làm được gì” Những kỹ năng về quản lý và lãnh đạo từ môn học của thầy đã giúp tôi tranh
thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ của mọi người
Tôi cảm ơn thầy Trần Tiến Khai, giảng viên hướng dẫn chính Thầy rất nhiệt tình, đã
hỗ trợ về mặt phương pháp luận và các hướng phân tích, khiến nội dung đề tài gắn kết và
Trang 4có trọng tâm Thầy cũng đã nhờ các giảng viên khác giúp đỡ tôi về mặt lý thuyết và kỹ thuật chạy mô hình ước lượng để nâng cao tính thuyết phục của đề tài Đây là điều mà tôi rất trân trọng ở thầy
Tôi cảm ơn anh Phùng Thanh Bình, giảng viên Khoa Kinh tế phát triển của Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, đã giới thiệu cho tôi hai quyển sách rất hay về cơ sở lý thuyết của xác định giá trị kinh tế Cảm ơn anh đã sắp xếp thời gian, hướng dẫn tôi chạy mô hình định lượng, một nội dung quan trọng mà nếu thiếu nó thì sẽ không đánh giá được tính khả thi của chính sách đề xuất
Tôi cảm ơn ba má và những người thân trong gia đình Sự quan tâm và động viên của
họ là động lực giúp tôi luôn cố gắng
Và còn rất nhiều người mà tôi không thể kể hết sự giúp đỡ của họ
Cảm ơn mọi người đã giúp tôi đạt được ước mơ của mình
Trang 51LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Người viết cam đoan
Từ Minh Đức
Trang 62TÓM TẮT
Thành phố Hồ Chí Minh là đô thị lớn của cả nước, có kinh tế, xã hội phát triển Tuy nhiên đến nay, tại khu vực nông thôn vẫn còn nhiều người chưa được sử dụng nước sạch từ các nhà máy mà phải dùng nước giếng hoặc mua nước với giá cao Thiếu nước sạch là một cản trở đối với việc nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, kéo dài khoảng cách giữa nông thôn và thành thị
Đề tài này nghiên cứu về chính sách giá nước ở nông thôn, cụ thể là giá nước mà Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn, đơn vị chịu trách nhiệm chính trong việc đảm bảo nhu cầu nước sinh hoạt của người dân nông thôn, đang áp dụng
Trong suốt một thời gian dài, từ năm 1995 đến hết năm 2010, giá nước sinh hoạt nông thôn vẫn giữ nguyên đã làm lợi nhuận từ hoạt động cấp nước của Trung tâm ngày càng giảm và
bị lỗ, khiến Trung tâm không thể mở rộng mạng lưới cấp nước đến mọi người dân
Đến đầu năm 2011, thành phố đã ban hành giá nước mới, qua quá trình tính toán, đề tài đã xác định rằng giá nước hiện hành chỉ có thể giúp Trung tâm có lời trong hai năm 2011,
2012, nguồn thu trong những năm về sau không đủ để Trung tâm có thể mở rộng mạng lưới cấp nước của mình một cách bền vững và đã ước tính mức giá tiêu thụ bình quân đảm bảo mở rộng hoạt động cấp nước của Trung tâm
Đề tài cũng đã tiến hành khảo sát một số hộ dân ở nông thôn về sử dụng nước sinh hoạt nhằm ước lượng mức sẵn lòng chi trả của người dân nông thôn đối với nước sinh hoạt Kết quả ước lượng cho thấy người dân sẵn lòng trả cao hơn mức giá nước hiện hành và mức giá tiêu thụ bình quân đảm bảo mở rộng hoạt động cấp nước
Trên cơ sở đó, đề tài đã kiến nghị với Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh một số giải pháp, trọng tâm là xem xét, thẩm định lại giá bán nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn theo hướng tính đúng, tính đủ các khoản chi phí và lợi nhuận, đảm bảo một tỉ lệ lợi nhuận giữ lại phục vụ cho việc mở rộng mạng lưới cấp nước, giảm gánh nặng cho ngân sách Bên cạnh đó cần thúc đẩy tiến độ đầu tư, mở rộng mạng lưới cấp nước để tận dụng lợi thế theo qui mô và nghiên cứu, có chính sách hỗ trợ hộ nghèo tiếp cận với nước sạch
Trang 81 01.3 Mục tiêu nghiên cứu 5 04
1 11.4 Nội dung, phương pháp thực hiện và nguồn thông tin 5 14
1 21.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5 25
1 31.6 Kết cấu luận văn: gồm 6 chương, trong đó 5 35
1 4CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN 5 47
1 52.1 Các nghiên cứu trước về ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch 5 57
1 62.2 Cơ sở lý thuyết về ước lượng mức sẵn lòng chi trả 5 68
1 72.3 Phương pháp hồi qui logistic (logit) 5 710
1 82.4 Khung phân tích 5 812
Ở VÙNG NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 5 913
2 03.1 Tình hình chung 6 013
2 13.2 Về cung cấp và sử dụng nước máy 6 1143.3 Nhận xét, đánh giá 18
Trang 92 3CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH GIÁ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN 6 321
2 44.1 Giới thiệu chung về Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn 6 421
2 54.2 Cơ chế tài chính và các nguồn thu của Trung tâm Nước sinh hoạt và
vệ sinh môi trường nông thôn 6 521
2 64.3 Tình hình hoạt động cấp nước của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn 6 622
2 74.4 Chính sách giá nước ở khu vực nông thôn từ trước tháng 3/2011 6 724
2 84.5 Chính sách giá nước hiện hành (hiệu lực từ tháng 3/2011) 6 828
2 9CHƯƠNG 5: ĐỀ XUẤT GIÁ NƯỚC MỚI 6 933
3 05.1 Kết quả ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch 7 033
3 15.2 Đề xuất giá nước sinh hoạt ở nông thôn 7 134
3 25.3 Đánh giá tính khả thi của giá nước mới 7 235
3 3CHƯƠNG 6: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH 7 337
3 4KẾT LUẬN 7 440
TÀI LIỆU THAM KHẢO
CÁC PHỤ LỤC
Trang 10
4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, TỪ VIẾT TẮT
Bộ NN-PTNT : Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn
SAWACO : Tổng công ty cấp nước Sài Gòn
Sở NN-PTNT : Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn
TT.NSH-VSMTNT : Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn
Trang 115DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1 Dự kiến kết quả kinh doanh nước sạch giai đoạn 2011 – 2015 của
TT.NSH-VSMTNT 30
Bảng 5.1 Thống kê mô tả về WTP của người dân nông thôn đối với nước sinh hoạt 33 Bảng 5.2 So sánh các mức giá 34
Bảng 5.3 Mức giá đề xuất 35
6DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ Hình 2.1 Đường bàng quan của một cá nhân 8
Hình 2.2 Khung phân tích 12
Hình 3.1 Tình hình sử dụng nước sinh hoạt ở nông thôn (theo hộ dân) 14
Hình 3.2 Tình hình cung cấp nước máy ở khu vực nông thôn 15
Hình 3.3 Tỉ lệ nước máy được cung cấp so với nhu cầu 15
Hình 3.4 Các nguồn cung cấp nước máy 16
Hình 3.5 Tình hình cung cấp nước máy tại khu vực nông thôn 17
Hình 3.6 Tình hình sử dụng giếng tại khu vực nông thôn 18
Hình 4.1 Tình hình cung cấp nước máy hàng năm 23
Hình 4.2 Kết quả hoạt động của các trạm cấp nước trong 2 năm 2009, 2010 25
Trang 127CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU CHUNG
Bên cạnh đó, nước giếng được sử dụng ở nông thôn có chất lượng không đảm bảo Theo kết quả điều tra bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2009 do Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn thành phố (TT.NSH-VSMTNT) thực hiện, trong số 165 mẫu nước được thu thập ngẫu nhiên tại các
hộ dân (sử dụng nước giếng là nguồn nước chính) và tiến hành xét nghiệm, chỉ có 17,6%
số mẫu đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt1
Thứ hai, vì phần lớn nước giếng không đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt nên sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người dân và vệ sinh môi trường ở khu vực nông thôn, dẫn đến một loạt các vấn đề thu nhập, chi tiêu, hạn chế phát triển kinh tế, xã hội ở khu vực nông thôn, đồng thời kéo dài khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị
1 Khu vực nông thôn ở TP.HCM bao gồm địa bàn 5 huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè, Cần Giờ.
2 Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt do Bộ Y tế ban hành.
3 Nước sạch trong phạm vi nghiên cứu này được hiểu là nước đạt tiêu chuẩn chất lượng nước sinh hoạt theo quy định của Bộ Y tế Bao gồm nước máy; nước giếng hoặc các nguồn nước khác nếu được lọc và xử lý đạt tiêu chuẩn
Trang 13Do đó, nhà nước cần phải can thiệp để người dân nông thôn được cung cấp đầy đủ nước sạch với giá bán phù hợp thu nhập
1.2 1 5Bối cảnh chính sách
Hiện tại, cấp nước sinh hoạt trên địa bàn TP.HCM được phân thành hai khu vực đô thị
và nông thôn Trong đó, cấp nước ở đô thị (địa bàn các quận) được giao cho Tổng công ty cấp nước Sài Gòn (SAWACO) với các công ty cấp nước thành viên; cấp nước ở nông thôn (địa bàn các huyện) được giao cho ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, trực tiếp là TT.NSH-VSMTNT3
4 Qua hơn 20 năm hoạt động, đến năm 2010, Trung tâm đã xây dựng được mạng lưới 118 trạm cấp nước tập trung4
5, trong đó khu vực nông thôn có 63 trạm, cung cấp nước sinh hoạt cho 25.568 hộ (7,3% số hộ ở nông thôn)
Bên cạnh TT.NSH-VSMTNT, SAWACO cũng tham gia một phần vào hoạt động cấp nước ở nông thôn Đến năm 2010, đã gắn được 9.765 đồng hồ nước (tương đương 9.765
hộ - 2,8% số hộ nông thôn) trên địa bàn 3 huyện Bình Chánh, Hóc Môn và Nhà Bè
Trong các năm qua, mặc dù thành phố không ngừng kêu gọi nhưng có rất ít doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cung cấp nước sạch ở nông thôn Đến nay, tại khu vực nông thôn chỉ mới có 1 doanh nghiệp tư nhân tham gia vào cung cấp nước sạch là Công ty cổ phần Đặng Đoàn Nguyễn xây dựng nhà máy xử lý nước lợ Cần Giờ, đặt tại xã Tam Thôn Hiệp Giá nước sản xuất tại nhà máy ở mức cao (10.000 – 12.000 đồng/m3) nên thành phố
đã giao Công ty DVCI huyện mua nước từ nhà máy và bán lại cho người dân theo giá thấp hơn do thành phố qui định (ngân sách thành phố cấp bù phần chênh lệch giá nước mua từ nhà máy với giá bán cho dân)
Mặc dù liên tục được mở rộng nhưng mạng lưới của TT.NSH-VSMTNT và SAWACO chỉ mới đáp ứng được một phần nhu cầu về nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn, đến nay ở nông thôn vẫn còn nhiều hộ sử dụng nước giếng, nước mưa, nước sông, hồ là nguồn nước
4 Cấp nước sinh hoạt nông thôn được tổ chức thành hệ thống ngành dọc, từ TT.NSH-VSMTNT quốc gia (cơ quan trực thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) đến các TT.NSH-VSMTNT tại các tỉnh, thành phố (trực thuộc Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn các tỉnh, thành phố).
5 Các trạm cấp nước được xây dựng tại các huyện từ những năm 1990, trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đến nay thành phố đã chia tách, thành lập mới một số quận ven từ địa bàn các huyện cũ nên hiện tại các trạm cấp nước của TT.NSH-VSMTNT được phân bố trên địa bàn các huyện và quận ven (Quận 2, quận 9, Thủ Đức, Bình Tân).
Trang 14chính (trong đó có khoảng 170.000 hộ có giếng riêng - 48,3% số hộ), còn lại là mua nước
từ các hộ cung cấp nước nhỏ lẻ (tập trung tại những vùng chưa có mạng lưới của VSMTNT hay SAWACO và những khu vực bị phèn mặn, người dân không thể khoan giếng lấy nước)
TT.NSH-Xét về chất lượng, nước được cung cấp từ TT.NSH-VSMTNT và SAWACO được sản xuất theo qui mô công nghiệp, thông qua hệ thống xử lý và kiểm tra định kỳ theo tiêu chuẩn nước sinh hoạt của Bộ Y tế Đối với nước giếng do các hộ dân tự khoan hoặc nước mưa, nước sông hồ và nước mua từ các hộ dân (có thể lấy từ nước máy hoặc nước giếng) thì không thể khẳng định chất lượng đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt Như vậy, trong các nguồn cung cấp chỉ có nước từ TT.NSH-VSMTNT và SAWACO là đảm bảo đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt5
8 (gọi
là chính sách giá nước cũ); từ tháng 3/2011 áp dụng giá bán nước mới, theo đó giá bán đối với hộ dân là 3.100 đồng/m3 (trong định mức 4 m3/người/tháng), thay đổi theo số lượng và đối tượng sử dụng8
9 (gọi là chính sách giá nước hiện hành)
Mặc dù số lượng khách hàng và lượng nước cung cấp tăng lên hàng năm, nhưng việc giữ nguyên một mức giá bán, bên cạnh đó giá cả các loại nguyên vật liệu đầu vào đều tăng cùng với việc phát sinh những chi phí mới (thuế tài nguyên, phí khai thác giếng khoan, chi phí xét nghiệm …) đã khiến mức tăng doanh thu của TT.NSH-VSMTNT thấp hơn so mức tăng chi phí, khiến lợi nhuận từ hoạt động cấp nước giảm dần và bắt đầu bị lỗ từ 2009
Trang 15Năm 2008, tổng số 118 trạm còn lời 742 triệu đồng, sang năm 2009 bị lỗ 2,1 tỉ đồng, năm
và phải bù chéo từ hoạt động cấp nước đô thị
Các câu hỏi chính sách được đặt ra:
1 Có phải chính sách giá nước cũ là nguyên nhân hạn chế việc mở rộng mạng lưới cấp nước của TT.NSH-VSMTNT ?
2 Chính sách giá nước hiện hành (được áp dụng từ tháng 3/2011) có giúp VSMTNT mở rộng được mạng lưới cấp nước trong thời gian tới không ?
TT.NSH-3 Trong trường hợp chính sách giá nước hiện hành không thể giúp TT.NSH-VSMTNT
mở rộng mạng lưới cấp nước thì chính sách giá nước sinh hoạt cho khu vực nông thôn của TP.HCM nên được điều chỉnh như thế nào để đảm bảo mở rộng mạng lưới cấp nước ?
1.3 1 6Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này được thực hiện nhằm chứng minh chính sách giá nước cũ là nguyên nhân hạn chế việc mở rộng mạng lưới cấp nước sinh hoạt ở nông thôn, kế đến xem xét khả năng mở rộng việc cung cấp nước sạch của TT.NSH-VSMTNT với chính sách giá nước hiện hành và xác định mức sẵn lòng chi trả đối với nước sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn để làm cơ sở đề xuất UBND thành phố điều chỉnh chính sách giá nước, phục vụ việc mở rộng mạng lưới cấp nước của TT.NSH-VSMTNT, giúp nhiều người dân ở khu vực nông thôn TP.HCM được sử dụng nước sạch
1.4 1 7Nội dung, phương pháp thực hiện và nguồn thông tin
Nghiên cứu bắt đầu từ việc phân tích, đánh giá tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt ở nông thôn; tình hình hoạt động, quản lý mạng lưới cung cấp nước sinh hoạt, cơ chế tài chính và chính sách giá nước áp dụng tại TT.NSH-VSMTNT, đơn vị được giao nhiệm vụ đảm bảo nhu cầu về nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn, trong đó chứng minh
Trang 16chính sách giá nước cũ đã hạn chế khả năng mở rộng mạng lưới cấp nước của VSMTNT Phần này sẽ được thực hiện bằng cách tổng hợp thông tin từ nhiều nguồn tài liệu (các báo cáo tài chính hàng năm của TT.NSH-VSMTNT; số liệu trong Niên giám thống kê và các cuộc tổng điều tra của Cục Thống kê TP.HCM, đồng thời tham khảo ý kiến một số chuyên gia đang công tác tại TT.NSH-VSMTNT) và phân tích định tính
TT.NSH-Kế đến, nghiên cứu sẽ xem xét, đánh giá khả năng mở rộng mạng lưới cấp nước của Trung tâm với chính sách giá nước hiện hành Cụ thể, ước lượng doanh thu và chi phí sản xuất 1 m3 nước sạch của Trung tâm trong giai đoạn 2011 – 2015 theo nhiều kịch bản; ước tính giá tiêu thụ bình quân đảm bảo lợi nhuận để mở rộng mạng lưới cấp nước Các chỉ tiêu này được tính toán trên cơ sở hướng dẫn của Liên Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn (Bộ NN-PTNT)
Cuối cùng, nghiên cứu tiến hành điều tra, phỏng vấn và ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sinh hoạt của người dân ở khu vực nông thôn, so sánh mức sẵn lòng chi trả với chi phí, giá bán 1 m3 nước sinh hoạt theo chính sách giá nước hiện hành và giá tiêu thụ bình quân, đồng thời kết hợp với các nội dung phân tích ở trên đề xuất UBND thành phố điều chỉnh chính sách giá nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn
1.5 1 8Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Hoạt động cung cấp nước sinh hoạt của TT.NSH-VSMTNT, với tư cách là đơn vị cung cấp chính ở khu vực nông thôn
Tình hình sử dụng nước của các hộ gia đình khu vực nông thôn (địa bàn 5 huyện, bao gồm những hộ đã có nước máy, chưa có nước máy và sử dụng nước từ các nguồn khác) và mức sẵn lòng chi trả của họ đối với nước sinh hoạt
1.6 1 9Kết cấu luận văn: gồm 6 chương, trong đó
Chương 1 giới thiệu chung về đề tài nghiên cứu, bao gồm bối cảnh chính sách, câu hỏi chính sách, mục tiêu nghiên cứu và phương pháp thực hiện
Chương 2 tổng quan về tài liệu và phương pháp luận, trong đó trình bày một số phương pháp điều tra, khảo sát và ước lượng mức sẵn lòng chi trả
Chương 3 trình bày và đánh giá tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn TP.HCM
Trang 17Chương 4 phân tích và đánh giá tình hình hoạt động của TT.NSH-VSMTNT, chứng minh chính sách giá nước cũ đã hạn chế khả năng mở rộng mạng lưới cấp nước của Trung tâm; đánh giá chính sách giá nước hiện hành và tính toán giá tiêu thụ bình quân đảm bảo
mở rộng mạng lưới cấp nước
Chương 5 trình bày kết quả ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sinh hoạt của người dân khu vực nông thôn, đề xuất và đánh giá tính khả thi của chính sách giá nước mới
Chương 6 kết hợp những phân tích, đánh giá từ các chương trước để khuyến nghị về chính sách giá nước
Cuối cùng là kết luận
Trang 188CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP LUẬN
2.1 2 0Các nghiên cứu trước về ước lượng mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch
Trên thế giới, vấn đề giá trị kinh tế của tài nguyên thiên nhiên nói chung và nước sạch nói riêng đã được nghiên cứu từ lâu Trong đó Dale Whittington, giáo sư Đại học Bắc Carolina là một trong những tác giả nổi tiếng và được trích dẫn phổ biến trong nhiều nghiên cứu về giá trị kinh tế của nước Ông có nhiều nghiên cứu về nước sạch tại nhiều nước, đặc biệt là những nước đang phát triển ở Châu Á, dùng các phương pháp định giá ngẫu nhiên (contingent valuation), mô hình chọn lựa rời rạc (discrete choice model) … để ước lượng nhu cầu, mức sẵn lòng chi trả đối với nước sạch hoặc đối với việc cải thiện tình hình sử dụng nước …
Nghiên cứu về giá trị kinh tế của nước sạch tại Việt Nam đến nay chưa nhiều, chủ yếu
do các tổ chức quốc tế tài trợ và viết bằng tiếng Anh, chưa có nghiên cứu về mức sẵn lòng chi trả đối với nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn TP.HCM Nghiên cứu gần đây về mức
sẵn lòng chi trả đối với nước sạch ở TP.HCM là nghiên cứu Household Demand for
Improved Water Services in Ho Chi Minh City: A Comparison of Contingent Valuation and Choice Modeling Estimates do hai tác giả Phạm Khánh Nam và Trần Võ
Hùng Sơn cùng thực hiện vào năm 2005
Nghiên cứu này đã áp dụng hai phương pháp (định giá ngẫu nhiên và mô hình chọn lựa) để đánh giá mức sẵn lòng chi trả của người dân đối với việc cải thiện dịch vụ cung cấp nước sinh hoạt (cụ thể là tăng áp lực và chất lượng nước), nghiên cứu trên hai đối tượng: những hộ đã và chưa kết nối với đường ống nước Kết quả là đối với phương pháp định giá ngẫu nhiên, trung bình mỗi hộ sẵn lòng chi trả lần lượt 108.000 đồng/tháng và 94.000 đồng/tháng đối với hộ đã có kết nối và hộ chưa có kết nối (giá trị trung vị lần lượt là 148.000 đồng/tháng và 154.000 đồng/tháng)9
10
10 Pham Khanh Nam and Tran Vo Hung Son (2005) [37]
Trang 192.2 2 1Cơ sở lý thuyết về ước lượng mức sẵn lòng chi trả
Ý tưởng về mức sẵn lòng chi trả (willingess to pay – WTP) được giải thích bằng đường bàng quan trong kinh tế học phúc lợi
Trên hình 2.1, đường bàng quan I thể hiện sở thích của một cá nhân cho trước Trục hoành thể hiện tiêu dùng một hàng hóa (ví dụ trong trường hợp của nghiên cứu này là nước sinh hoạt, đơn vị tính là m3/tháng) Trục tung thể hiện chi tiêu cho những hàng hóa còn lại, qui ra tiền, đơn vị tính là đồng/tháng Những điểm trên đường bàng quan I thể hiện sự kết hợp chi tiêu giữa nước sinh hoạt với các hàng hóa còn lại mà mang lại cùng một mức độ thỏa dụng cho cá nhân
Tại điểm A, tương ứng với tình trạng sử dụng nước ban đầu, cá nhân tiêu dùng x0 nước sinh hoạt và chi tiêu y0 cho những hàng hóa còn lại Tại điểm B, cá nhân cải thiện tình trạng sử dụng nước của mình bằng cách tăng tiêu dùng nước sinh hoạt từ x0 lên x1, nhưng chi tiêu cho các hàng hóa khác phải giảm từ y0 xuống y1 Vì A và B có cùng độ thỏa dụng nên giá trị y0 – y1 (đoạn AC) chính là mức sẵn lòng chi trả cho lượng nước sinh hoạt tiêu dùng tăng thêm
Hình 2.1 Đường bàng quan của một cá nhân
Nguồn: Bateman và các đồng tác giả, Economic Valuation with Stated Preference Techniques: a Manual (2002, p 24-25) [34]
Trang 20Mức sẵn lòng chi trả (WTP) có thể được ước lượng bằng một trong hai phương pháp:
sở thích được phát biểu (stated preference) hoặc sở thích được bộc lộ (revealed preference)10
11
Điểm cơ bản phân biệt hai phương pháp này là phương pháp sở thích được phát biểu ước lượng WTP dựa trên phát biểu về sở thích của các cá nhân trong những tình huống giả thiết: “Ông/bà sẵn lòng trả bao nhiêu tiền cho nước sạch ?” hoặc “Ông/bà có sẵn lòng trả A đồng cho nước sạch không?” Phương pháp sở thích được bộc lộ ước lượng WTP dựa trên thông tin từ những quan sát và bằng chứng thực tế (bằng những phương pháp như chi phí
du hành - travel cost method, đánh giá hưởng thụ - hedonic price …)
Do không thể thu thập được những bằng chứng thực tế về việc tiêu thụ nước sạch ở nông thôn (hóa đơn tiền nước hàng tháng, chi phí sử dụng nước đối với những hộ không dùng nước máy …) nên nghiên cứu này áp dụng phương pháp sở thích được phát biểu để ước lượng WTP đối với nước sạch
Vấn đề lớn nhất khi áp dụng phương pháp sở thích được phát biểu là tính chất giả định của những câu hỏi và độ chính xác của những câu trả lời Kết quả thu được là mức giá mà người ta sẵn lòng chi trả chứ không phải là mức giá mà họ đã thanh toán thật sự Tuy nhiên đây cũng là phương pháp tiếp cận gần nhất đến giá trị của hàng hóa bởi nó thu thập thông tin trực tiếp từ khách hàng, thông qua phát biểu về mong muốn Mấu chốt là cách thiết kế nghiên cứu và đặt câu hỏi để người trả lời hiểu rõ về giá trị của hàng hóa, từ đó xác định được mức sẵn lòng chi trả thực sự của cá nhân, đồng thời loại bỏ những câu trả lời không nghiêm túc, nói giảm hoặc nói quá mức sẵn lòng chi trả thực sự của cá nhân
Trong phương pháp sở thích được phát biểu có hai phương pháp: định giá ngẫu nhiên (contingent valuation) và mô hình chọn lựa (choice modelling), trong đó phương pháp định giá ngẫu nhiên thường được dùng để ước tính giá trị kinh tế của cả hàng hóa, mô hình chọn lựa được dùng để tính toán giá trị kinh tế của một thuộc tính trong hàng hóa (ví dụ như giá trị của sự cải thiện chất lượng nước) Phương pháp định giá ngẫu nhiên được sử dụng lần đầu vào năm 1963 để ước lượng giá trị của việc săn bắn thú lớn ở Maine, Mỹ11
12 và sau đó
11 Theo Bateman và các đồng tác giả (2002) [34]
12 Theo Champ và các đồng tác giả (2003, trang 111) [35]
Trang 21được sử dụng phổ biến để ước lượng giá trị của những hàng hóa phi thị trường và dùng trong những trường hợp không thể áp dụng phương pháp sở thích được bộc lộ
Nghiên cứu này sẽ áp dụng phương pháp định giá ngẫu nhiên để ước lượng WTP của người dân nông thôn TP.HCM đối với nước sinh hoạt
2.3 2 2Phương pháp hồi qui logistic (logit)
Nghiên cứu về WTP đối với nước sạch thường đi liền với việc ước lượng xác suất xảy
ra một biến cố nào đó, ví dụ như xác suất người dân muốn cải thiện tình hình sử dụng nước hay xác suất người dân chấp nhận một mức giá cho trước … Vì đây là biến phụ thuộc mang tính nhị phân, chỉ có hai giá trị: muốn/không muốn, chấp nhận/không chấp nhận … nên mô hình thường được áp dụng để ước lượng là mô hình hồi qui logistic (logit)
Đề tài này nghiên cứu về WTP của người dân đối với nước sạch để đề xuất giá nước mới, một trong những chỉ tiêu để đánh giá tính khả thi của chính sách giá nước là xác suất
hộ dân ủng hộ giá nước mới Một hộ dân bất kỳ sẽ có một giá trị WTP nào đấy đối với nước sạch, nếu giá nước mới thấp hơn hoặc cao hơn WTP thì hộ dân sẽ ủng hộ hoặc không ủng hộ giá nước mới (giả thiết rằng hộ dân sẽ ủng hộ nếu giá nước thấp hơn hoặc bằng giá trị WTP và ngược lại) WTP phụ thuộc vào nhiều yếu tố như kinh tế, xã hội và nhân khẩu học (độ tuổi, trình độ, giới tính của chủ hộ, số lượng nhân khẩu, thu nhập bình quân của hộ
…), tình trạng sử dụng nước hiện tại … Như vậy, xác suất hộ dân ủng hộ giá nước mới sẽ
là một hàm số phụ thuộc vào các yếu tố trên và có dạng như sau:
(2.1)
Nguồn: Cao Hào Thi, Nguyễn Trọng Hoài, Bài giảng môn Các phương pháp định lượng: Biến phụ thuộc định tính [10]
Trong đó:
Pi là xác suất hộ dân thứ i ủng hộ giá nước mới (luôn nằm trong khoảng từ 0 đến 1)
X2i, X3i … Xki là những yếu tố tác động đến xác suất hộ dân thứ i ủng hộ giá nước mới Biến đổi phương trình (2.1)
Trang 22
Lấy log 2 vế sẽ được phương trình (2.2):
(2.2)
Áp dụng phương pháp thích hợp cực đại để ước lượng các hệ số hồi qui
Gọi Odds là tỉ lệ giữa xác suất hộ dân ủng hộ giá nước mới với xác suất hộ dân không ủng hộ giá nước mới, tạm gọi là khả năng ủng hộ giá nước mới Ví dụ: một hộ dân có xác suất ủng hộ giá nước mới là 60%, Odds sẽ bằng 0,6/(1-0,6) = 1,5
Ở các giá trị ban đầu
Khi tăng biến Xk thêm 1 đơn vị, giữ nguyên các biến còn lại
Như vậy, , còn gọi là Odds ratio (tỉ lệ khả năng)
Đây là ý nghĩa của hệ số , được giải thích rằng khi các yếu tố khác không đổi, nếu
Xk tăng thêm 1 đơn vị thì tỉ lệ khả năng ủng hộ giá nước mới của hộ sẽ tăng một khoảng
Trang 232.4 2 3Khung phân tích
Đối với TT.NSH-VSMTNT,
nguồn thu cho hoạt động đến từ 3
nguồn chính: thu tiền sử dụng
nước, ngân sách trung ương,
ngân sách thành phố và nguồn
khác Trong đó nguồn thu đầu
tiên là chủ yếu, phụ thuộc vào
chính sách giá nước; hai nguồn
thu còn lại phụ thuộc vào cơ chế
tài chính của đơn vị, cả chính
sách giá nước lẫn cơ chế tài chính
của hai đơn vị này đều do UBND
thành phố qui định
Nghiên cứu tập trung tìm hiểu
tác động của hai chính sách giá
giá bán nước ở nông thôn và
thành thị) để tính toán giá tiêu thụ
bình quân; đồng thời ước lượng
mức sẵn lòng chi trả đối với nước
sạch của người dân nông thôn; từ
4 Mức sẵn lòng chi trả
5 Đề xuất chính sách giá nước mới
Hình 2.2 Khung phân tích
Trang 249CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH CUNG CẤP VÀ SỬ DỤNG NƯỚC SINH HOẠT Ở VÙNG NÔNG THÔN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1 2 4Tình hình chung
Đến năm 2010, mạng lưới cấp nước sinh hoạt chưa phủ kín toàn bộ thành phố, chỉ mới
có khoảng 850.000 hộ (gần 50% số hộ toàn thành) được gắn đồng hồ nước (trong đó SAWACO: 789.000 hộ - 41,5%, TT.NSH-VSMTNT: 50.000 hộ - 2,6%)12
13 Tại khu vực nông thôn, tỉ lệ này thấp hơn, chỉ đạt 51.707 hộ - 14,7% số hộ nông thôn
Bên cạnh nước máy, tại một số khu vực có nguồn nước ngầm, người dân tự khoan giếng lấy nước Năm 2010, khu vực nông thôn có khoảng 169.555 hộ sử dụng nước giếng
là nguồn nước chính - 48,1% số hộ nông thôn, trong đó nhiều nhất là ở Củ Chi (73.600 giếng - 43,4% tổng số giếng), kế đến là Hóc Môn (64.400 giếng - 38%)13
14
Như vậy, ngoài 62,8% hộ dân được sử dụng nước máy1 4
15 và nước giếng, khu vực nông thôn vẫn còn 37,2% hộ dân phải sử dụng nước từ các nguồn khác như nước sông, hồ, nước mưa, mua nước từ người khác (Hình 3.1)
13 Số hộ được cung cấp nước máy trong thực tế có thể cao hơn nếu tính thêm các đơn vị khác (các trạm cấp nước của các đơn vị quốc phòng, các khu chế xuất, khu công nghiệp, khu dân cư … cung cấp nước sinh hoạt phục vụ nhu cầu nội bộ) nhưng tỉ lệ này không đáng kể Ngoài ra còn có trường hợp phổ biến là nhiều hộ gia đình dùng chung một đồng hồ nước.
14 Đây là số liệu ước tính, được làm tròn trên cơ sở số liệu thu thập từ kết quả điều tra bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2009 do TT.NSH-VSMTNT thực hiện.
15 Hộ dân sử dụng nước máy trong phạm vi nghiên cứu này được hiểu là hộ dân được cung cấp nước máy ổn định thông qua mạng lưới đường ống (có thể có đồng hồ nước riêng hoặc dùng chung đồng hồ nước với các
hộ gia đình khác hay đồng hồ nước công cộng).
Trang 25Nguồn: tổng hợp từ Cục Thống kê TP.HCM, Niên giám thống kê năm 2010 [14], Số liệu sơ
bộ về tổng điều tra dân số 2009 [15]; TT.NSH-VSMTNT, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [26]; Tổng công ty cấp nước Sài Gòn, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [19]
3.2 2 5Về cung cấp và sử dụng nước máy
Tại khu vực nông thôn, nước máy chủ yếu do TT.NSH-VSMTNT, SAWACO và Công
ty dịch vụ công ích (DVCI) huyện Cần Giờ cung cấp Năm 2010, ba đơn vị này đã cung cấp 15,3 triệu m3 nước máy cho 51.707 hộ - 14,7% số hộ ở nông thôn, trong hai năm 2009,
2010, bình quân mỗi năm lượng nước cung cấp tăng 27,2%/năm, số hộ được cung cấp tăng 4,9%/năm (Hình 3.2) So với nhu cầu về nước sinh hoạt ở nông thôn khoảng 29,3 triệu
m3/năm thì lượng cung cấp chỉ mới đáp ứng được 52,1% nhu cầu15
16 (Hình 3.3)
16 Nhu cầu về nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn năm 2010 được ước lượng bằng cách lấy dân số khu vực nông thôn (2010) * 365 ngày * 0,06 m 3 /người/ngày (nhu cầu tối thiểu đảm bảo sức khỏe, theo chỉ tiêu phấn đấu trong Chiến lược quốc gia về nước sạch và vệ sinh nông thôn đến năm 2020) Nhu cầu tối thiểu này thấp hơn nhiều so với định mức 4 m 3 /người/tháng trong giá bán nước hiện hành (tương đương 0,13
m 3 /người/ngày)
Trang 26Nguồn: tổng hợp từ Cục Thống kê TP.HCM, Niên giám thống kê năm 2010 [14], Số liệu sơ
bộ về tổng điều tra dân số 2009 [15]; TT.NSH-VSMTNT, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [26]; Tổng công ty cấp nước Sài Gòn, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [19]
Xét về cơ cấu, TT.NSH-VSMTNT chiếm tỉ lệ chủ yếu với 49,4% số hộ dân (49,4% lượng nước), cung cấp cho 4 huyện Củ Chi, Bình Chánh, Hóc Môn, Nhà Bè; SAWACO chiếm tỉ lệ 18,9% số hộ dân (33,5% lượng nước), cung cấp cho Bình Chánh, Nhà Bè và bắt đầu cung cấp cho Hóc Môn từ năm 2010; phần còn lại do Công ty DVCI huyện Cần Giờ cung cấp và chỉ phục vụ cho địa bàn huyện16
17 (Hình 3.4)
17 Tại huyện Cần Giờ, do điều kiện tự nhiên, nước ngầm bị nhiễm mặn, nước giếng không sử dụng được, đồng thời mạng lưới đường ống của SAWACO chưa mở rộng đến nên nước sinh hoạt ở đây do Công ty DVCI huyện chuyên chở bằng sà lan từ các chi nhánh của SAWACO trong nội thành và bán lại cho người dân (ngân sách thành phố có trợ giá một phần trong giá bán này).
Trang 27Hình 3.4 Các nguồn cung cấp nước máy
Nguồn: tổng hợp từ Cục Thống kê TP.HCM, Niên giám thống kê năm 2010 [14], Số liệu sơ
bộ về tổng điều tra dân số 2009 [15]; TT.NSH-VSMTNT, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [26]; Tổng công ty cấp nước Sài Gòn, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [19]
Năm 2010, trong số 51.107 hộ được cung cấp nước máy tại khu vực nông thôn, chủ yếu là ở Bình Chánh, Cần Giờ và Nhà Bè; Bình Chánh có 16.485 hộ (13,7% số hộ của huyện), được cung cấp 5,6 triệu m3, Cần Giờ có 16.374 hộ (93% số hộ của huyện) được cung cấp 2,6 triệu m3, Nhà Bè có 11.736 hộ (45,8% số hộ của huyện) được cung cấp 4,9 triệu m3 Hóc Môn có 5.511 hộ, Củ Chi chỉ có 1.601 hộ dùng nước máy (Hình 3.5)
Hình 3.5 Tình hình cung cấp nước máy tại khu vực nông thôn
Trang 28Nguồn: tổng hợp từ Cục Thống kê TP.HCM, Niên giám thống kê năm 2010 [14], Số liệu sơ
bộ về tổng điều tra dân số 2009 [15]; TT.NSH-VSMTNT, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [26]; Tổng công ty cấp nước Sài Gòn, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [19]
Cùng là khu vực nông thôn nhưng ba huyện Bình Chánh, Nhà Bè và Cần Giờ có nhiều người dùng nước máy hơn hẳn hai huyện còn lại Đặc điểm địa chất những huyện này là vùng đất phèn mặn, nước giếng bị nhiễm phèn và mặn không thể dùng cho ăn uống được Nước giếng ở một số nơi tại Bình Chánh và Nhà Bè có thể dùng được nhưng tại Cần Giờ gần như là không thể Nước ngọt tại Cần Giờ rất khan hiếm, toàn huyện chủ yếu dựa vào nguồn nước vận chuyển từ nội thành do ngân sách thành phố trợ giá, lượng cung rất hạn chế, mặc dù số lượng hộ được cấp nước xấp xỉ Bình Chánh nhưng lượng cung cấp chưa đến 50% lượng nước cung cấp cho Bình Chánh
Củ Chi và Hóc Môn có ít hộ dùng nước máy Người dân dùng nước giếng rất nhiều Huyện Củ Chi và Hóc Môn có trên 70% số hộ dùng nước giếng là nguồn nước chính (Hình 3.6)
Hình 3.6 Tình hình sử dụng giếng tại khu vực nông thôn
Trang 29Nguồn: tổng hợp từ Cục Thống kê TP.HCM, Niên giám thống kê năm 2010 [14], Số liệu sơ bộ về tổng điều tra dân số 2009 [15]; TT.NSH-VSMTNT, Báo cáo kết quả điều tra
bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2009 [24]
3.3 2 6Nhận xét, đánh giá
Tóm lại, hiện nay tại khu vực nông thôn chỉ mới có 14,7% số hộ được cung cấp nước máy, 48,1% số hộ sử dụng nước giếng là nguồn nước sinh hoạt chính, 37,2% hộ dân còn lại phải dùng nước từ các nguồn khác như nước sông, hồ, nước mưa và mua nước từ người khác
Nước máy được cung cấp từ mạng lưới của TT.NSH-VSMTNT, SAWACO và Công ty DVCI huyện Cần Giờ, trong đó TT.NSH-VSMTNT là chủ yếu Lượng nước máy chỉ mới đáp ứng được 52,1% nhu cầu Trong số 14,7% hộ được cung cấp nước máy có 10,1% hộ được gắn đồng hồ nước (của TT.NSH-VSMTNT và SAWACO), 4,6% số hộ được mua nước từ Công ty DVCI Những hộ này được dùng nước với giá bán do thành phố qui định, giá nước của TT.NSH-VSMTNT là 3.100 đồng/m3 (dưới 4 m3/người/tháng) và 4.700 đồng/m3 (từ 4 – 6 m3/người/tháng); giá nước của SAWACO lần lượt là 4.400 đồng/m3 và 8.300 đồng/m3 với định mức tương tự như trên Các hộ được cung cấp nước máy chủ yếu ở Bình Chánh, Cần Giờ và Nhà Bè Củ Chi có rất ít hộ dùng nước máy
Trang 30Các hộ dùng nước giếng là nguồn nước chính chủ yếu ở hai huyện Củ Chi và Hóc Môn, ở Nhà Bè và Cần Giờ có rất ít hộ dùng nước giếng bởi nước giếng ở đây bị nhiễm mặn, không thể dùng cho ăn uống hay sinh hoạt
Đối với các hộ dân còn lại, phải sử dụng nước từ nhiều nguồn, vì không mua được trực tiếp từ các đơn vị cấp nước trên nên sẽ phải mua lại từ những người bán nước tư nhân hoặc câu nhờ đồng hồ nước của các hộ khác Giá mua nước thường là cao hơn nhiều so giá bán thành phố qui định Tình trạng này rất phổ biến ở khu vực huyện Nhà Bè, Cần Giờ và tại một số nơi ở huyện Bình Chánh bởi khu vực này bị nhiễm mặn, người dân không thể đào giếng để lấy nước
Như vậy, nước sạch là nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày nhưng tại khu vực nông thôn TP.HCM hiện nay lượng cung nước sinh hoạt từ những nguồn đảm bảo chất lượng (SAWACO, TT.NSH-VSMTNT) không đủ, chỉ mới đáp ứng được khoảng 52,1% nhu cầu Điều này dẫn đến một loạt các vấn đề sau:
Thứ nhất, vì lượng cung từ những nguồn đảm bảo chất lượng không đủ nên người dân phải đào giếng Nước giếng tại một số khu vực tuy có chất lượng cảm quan là tốt (nước trong, không có mùi vị lạ) nhưng vì không được xử lý theo phương pháp công nghiệp như đối với nước máy của SAWACO hay TT.NSH-VSMTNT nên chất lượng không thể đảm bảo đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt
Thứ hai, những hộ không đào giếng được sẽ phải mua nước của những người cung cấp
tư nhân với giá bán cao hơn rất nhiều so với mức giá thành phố qui định Đây là một gánh nặng, đặc biệt đối với những hộ có thu nhập thấp Họ sẽ dùng nước rất hạn chế, có thể dưới mức nhu cầu cần thiết Yếu tố này cùng với việc sử dụng nước giếng, nước sông, hồ, ao chất lượng không đảm bảo sẽ ảnh hưởng xấu đến sức khỏe và tình trạng vệ sinh môi trường nông thôn, dẫn đến nhiều hệ lụy, kìm hãm phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn
Thứ ba, việc các hộ dân tự đào giếng, khai thác nước ngầm một cách tự do, không theo quy hoạch có thể làm giảm mực nước ngầm, gây nên tình trạng sụt lún, ảnh hưởng xấu đến kết cấu hạ tầng khu vực nông thôn nói riêng và ảnh hưởng chung cho toàn thành phố Ngoài ra hiện nay có một vấn đề về cách nhìn nhận và đánh giá tình hình sử dụng nước sinh hoạt khu vực nông thôn ở góc độ của UBND thành phố Hiện nay, trong các báo cáo
Trang 31của UBND thành phố, tình hình sử dụng nước sinh hoạt khu vực nông thôn được thể hiện bằng chỉ tiêu phần trăm hộ dân nông thôn được cung cấp nước sạch Nước sạch trong chỉ tiêu này được xác định theo tiêu chí của Bộ NN-PTNT1 7
18, đánh giá chất lượng bằng cảm quan, không qua xét nghiệm, vì vậy nước giếng nếu trong và không có mùi vị lạ thì vẫn được xem là nước sạch Do vậy, tỉ lệ hộ dân được cung cấp nước sạch được xét theo tiêu chí này là rất cao, trên 80-90%, trong khi nếu dựa vào tiêu chuẩn của Bộ Y tế, đảm bảo an toàn sức khỏe, thì tỉ lệ này có thể rất thấp18
19
Mặt khác, chỉ tiêu này xét tất cả những hộ dân được cung cấp nước sạch, từ những hộ được mua nước trực tiếp từ các công ty cấp nước với giá bán do thành phố qui định cho đến những hộ dân chưa có đồng hồ nước riêng, phải dùng chung đồng hồ hoặc mua lại nước của những người bán nước tư nhân với giá cao Do đó không phản ánh được bản chất tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt ở khu vực nông thôn
Việc đánh giá lạc quan hơn so với thực tế, đồng thời không phản ánh đúng bản chất tình hình cung cấp và sử dụng nước sinh hoạt sẽ gây ra những ngộ nhận trong đánh giá của lãnh đạo thành phố về tình hình nước sinh hoạt nông thôn, dễ dẫn đến sai lệch trong chỉ đạo, điều hành hoạt động cấp nước
18 Theo qui định trong Bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn được ban hành kèm theo Quyết định số 51/2008/QĐ-BNN ngày 14/4/2008 của Bộ NN-PTNT, nước hợp vệ sinh là nước được sử dụng trực tiếp hoặc sau lọc thỏa mãn các yêu cầu chất lượng: không màu, không mùi, không vị
lạ, có thể dùng để ăn uống sau khi đun sôi (những yếu tố này được đánh giá dựa trên quan sát – không qua xét nghiệm) Bao gồm các nguồn: nước máy, giếng đào hợp vệ sinh, giếng khoan hợp vệ sinh và các nguồn nước hợp vệ sinh khác.
19 Theo kết quả điều tra bộ chỉ số theo dõi và đánh giá nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn năm 2009
do TT.NSH-VSMTNT thực hiện, trong số 165 mẫu nước được thu thập ngẫu nhiên tại các hộ dân (sử dụng nước giếng là nguồn nước chính) và tiến hành xét nghiệm, chỉ có 17,6% số mẫu đạt tiêu chuẩn nước sinh hoạt (Theo Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 02:2009/BYT về chất lượng nước sinh hoạt).
Trang 321 0CHƯƠNG 4: CHÍNH SÁCH GIÁ NƯỚC SINH HOẠT NÔNG THÔN
Hiện tại khu vực nông thôn có ba đơn vị cung cấp nước máy chủ yếu, mỗi đơn vị có các mức giá khác nhau và đều do UBND thành phố qui định Không tính đến trường hợp của Công ty DVCI huyện Cần Giờ (vận chuyển nước từ mạng lưới của SAWACO và bán lại cho dân cư trên địa bàn huyện với mức giá có trợ cấp từ ngân sách thành phố) Giá bán của SAWACO được xây dựng trên cơ sở phục vụ cho khu vực đô thị, giá bán của TT.NSH-VSMTNT được xây dựng phục vụ cho khu vực nông thôn Do đó chính sách giá nước sinh hoạt nông thôn trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này là chính sách giá mà TT.NSH-VSMTNT đang áp dụng
4.1 2 7Giới thiệu chung về Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông
thôn
Trung tâm có tiền thân là Ban quản lý các chương trình viện trợ trực thuộc Sở Lao động thành phố, được thành lập từ năm 1987 Đến năm 1992 được đổi tên thành Ban quản
lý chương trình viện trợ về nước sinh hoạt nông thôn trực thuộc Sở Lao động thương binh
và xã hội thành phố Năm 1999, được tổ chức lại thành Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi trường nông thôn trực thuộc Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành phố với nhiệm vụ chính là đảm bảo việc cung cấp nước sinh hoạt cho người dân ở khu vực nông thôn của thành phố và hoạt động cho đến nay
Trải qua hơn 20 năm hoạt động, hoạt động của Trung tâm ngày càng được mở rộng, từ một ban quản lý các chương trình viện trợ với nhiệm vụ ban đầu là tiếp nhận và tổ chức thực hiện các chương trình viện trợ của UNICEF về cung cấp nước sinh hoạt ngoại thành, dần dần đã được cấp ngân sách để xây dựng các giếng khoan, đầu bơm nước để phục vụ lâu bền, đến nay đã phát triển thành hệ thống các trạm cấp nước tập trung có qui mô lớn cung cấp nước sinh hoạt cho các khu vực dân cư ở nông thôn
4.2 2 8Cơ chế tài chính và các nguồn thu của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh
môi trường nông thôn
Trung tâm là đơn vị sự nghiệp có thu, hoạt động theo chế độ tự chủ tài chính, tự đảm bảo hoàn toàn chi phí hoạt động thường xuyên
Trang 33Kinh phí hàng năm của Trung tâm bao gồm ba nguồn chính: thu tiền sử dụng nước từ
hộ dân, ngân sách thành phố và ngân sách trung ương Trong đó, thành phố chỉ cấp ngân sách cho công tác đầu tư xây dựng cơ bản (xây mới, nâng cấp các trạm cấp nước, mua sắm máy móc, thiết bị, trung bình 2 – 3 năm xây mới 1 trạm với mức đầu tư khoảng 30 tỉ đồng)
và một số hoạt động sự nghiệp; ngân sách trung ương chiếm tỉ lệ rất ít (thông qua chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn, khoảng 100 – 300 triệu đồng/năm), do đó kinh phí hoạt động của Trung tâm (quản lý, khai thác, vận hành, duy tu, bảo dưỡng các trạm cấp nước) chủ yếu dựa vào thu tiền sử dụng nước của hộ dân Sau khi trừ các khoản chi phí, trích khấu hao và thực hiện nghĩa vụ với ngân sách (thuế, các khoản phải nộp khác), phần còn lại sẽ được đưa vào tổng thu nhập chung và phân phối cho cán bộ công chức của Trung tâm Năm 2010, thu tiền nước từ 118 trạm đang hoạt động đạt 41,6 tỉ đồng nhưng chi phí khai thác, vận hành lên đến 47,1 tỉ đồng, Trung tâm bị lỗ 5,5
tỉ đồng
4.3 2 9Tình hình hoạt động cấp nước của Trung tâm Nước sinh hoạt và vệ sinh môi
trường nông thôn
Đến năm 2010, Trung tâm đang quản lý 118 trạm cấp nước tập trung tại 66 xã phường của 11 quận huyện, cung cấp nước sinh hoạt cho 49.784 hộ (280.546 nhân khẩu) với tổng lượng nước cung cấp đạt 14,9 triệu m3; trong đó khu vực nông thôn có 63 trạm phục vụ cho 25.568 hộ (7,3% số hộ ở nông thôn) với 142.518 nhân khẩu (10,7% dân số nông thôn), lượng nước cung cấp là 7,5 triệu m3
Các trạm cấp nước ở khu vực nông thôn có tổng công suất thiết kế là 23.920 m3/ngày đêm, bình quân mỗi trạm đạt 400 m3/ngày đêm, nếu tính theo định mức 4 m3/người/tháng thì các trạm này chỉ có thể phục vụ được 179.400 nhân khẩu, tương đương 13,4% dân số nông thôn Đa số các trạm được xây dựng trong giai đoạn 1995 – 2005 nên có công suất tương đối thấp, từ 200 – 500 m3/ngày đêm, có khả năng phục vụ từ 1.500 – 3.800 người (theo định mức 4 m3/người/tháng), những trạm được xây dựng sau này có công suất cao hơn, từ 1.000 – 1.800 m3/ngày đêm Năm 2010, tổng lượng nước cung cấp cho khu vực nông thôn là 7,5 triệu m3, mức sử dụng bình quân đạt 4,3 m3/người/tháng, tương đương 144,9 lít/người/ngày
Trang 34Ngoại trừ huyện Cần Giờ, các huyện còn lại đều có mạng lưới của Trung tâm, trong đó Bình Chánh có 30 trạm, tổng công suất (theo thiết kế) là 12.840 m3/ngày đêm, cung cấp cho 13.464 hộ (4,3 triệu m3 – năm 2010), kế đến là Hóc Môn (13 trạm, tổng công suất 5.941 m3/ngày đêm), cung cấp cho 5.369 hộ (1,3 triệu m3); Nhà Bè (13 trạm, tổng công suất 3.346 m3/ngày đêm), cung cấp cho 5.134 hộ (1,6 triệu m3), Củ Chi (7 trạm, tổng công suất 1.793 m3/ngày đêm), cung cấp cho 1.601 hộ (0,3 triệu m3) (Hình 4.1)
Hình 4.1 Tình hình cung cấp nước máy hàng năm
Nguồn: TT.NSH-VSMTNT, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [26]
Trang 354.4 3 0Chính sách giá nước ở khu vực nông thôn từ trước tháng 3/2011
Những năm 1990, tình hình nước sạch cho sinh hoạt ở nông thôn còn rất khó khăn, người dân sử dụng nước giếng là chủ yếu (giếng đào), nước máy xử lý theo phương pháp công nghiệp gần như không có, chỉ có các giếng khoan lắp bơm tay và một số giếng khoan dùng máy bơm do UNICEF và các tổ chức quốc tế tài trợ Bắt đầu từ các chương trình tài trợ của nước ngoài, thành phố đã thành lập Ban quản lý các chương trình viện trợ, theo dõi
về việc cung cấp nước sinh hoạt, dần dần nâng cấp và đổi tên thành TT.NSH-VSMTNT
Từ năm 1995, thành phố duyệt giá bán nước cho khu vực ngoại thành là 2.500 đồng/m3(trong định mức 5 m3/người/tháng) và 3.500 đồng/m3 đối với lượng nước vượt định mức1 9
20 Đơn giá này được xây dựng trên cơ sở đơn giá bình quân 3.000 đồng/m3 và đã bao gồm thuế giá trị gia tăng (VAT) Mặc dù đã có trợ giá một phần từ ngân sách, nhưng mức giá 2.500 đồng/m3 tại thời điểm đó vẫn còn cao, cao hơn gấp đôi so với giá nước mà SAWACO cung cấp cho khu vực nội thành (1.000 đồng/m3 và 1.500 đồng/m3, tương ứng với trong và ngoài định mức 6 m3/người/tháng) Thành phố duyệt mức giá như thế là do khi đó mật độ dân cư tại khu vực nông thôn chưa cao, chỉ đạt 724 người/km2, bằng 2,9%
so với khu vực thành thị20
21, không thể tận dụng lợi thế theo qui mô để giảm chi phí xuống thấp hơn Bên cạnh đó, số cơ sở hoạt động sản xuất kinh doanh còn ít, chủ yếu là hộ gia đình sinh sống và sản xuất nông nghiệp, nước sạch cung cấp chủ yếu phục vụ nhu cầu sinh hoạt của người dân nên giá bán không phân biệt đối tượng sử dụng
Suốt một thời gian dài từ năm 1995 đến 2010, trong khi SAWACO đã điều chỉnh giá bán nước sinh hoạt 4 lần2 1
22, thì TT.NSH-VSMTNT chỉ áp dụng duy nhất một mức giá bán tại khu vực nông thôn Mặc dù số lượng khách hàng và lượng nước cung cấp tăng lên hàng năm, nhưng việc giữ nguyên một mức giá bán, bên cạnh đó giá cả các loại nguyên vật liệu đầu vào đều tăng cùng với việc phát sinh những chi phí mới (thuế tài nguyên, phí khai thác giếng khoan, chi phí xét nghiệm …) đã khiến mức tăng doanh thu thấp hơn so mức tăng chi phí, khiến lợi nhuận từ hoạt động cấp nước giảm dần và bắt đầu bị lỗ từ 2009 Năm
20 Theo UBND thành phố (1995) [27]
21 Nguồn: Cục Thống kê TP.HCM, Niên giám thống kê năm 1996 [13]
22 Giá nước được điều chỉnh qua các năm 1996, 2000, 2004, 2010 Từ năm 2010 đến 2013 thì mỗi năm giá bán tăng 10% so năm trước.
Trang 362008, tổng số 118 trạm còn lời 742 triệu đồng, sang năm 2009 bị lỗ 2,1 tỉ đồng, năm 2010
bị lỗ 5,5 tỉ đồng
Tính riêng 63 trạm cấp nước khu vực nông thôn, năm 2009, 15 trạm có lời, 47 trạm bị
lỗ, 1 trạm hòa vốn; các trạm bị lỗ tổng cộng 3,1 tỉ, bình quân mỗi trạm bị lỗ 48,5 triệu, trong đó trạm bị lỗ nhiều nhất là 960 triệu, trạm có lời cao nhất là 202 triệu
Năm 2010, có 15 trạm có lời, 48 trạm bị lỗ; tổng mức lỗ cao hơn, lên đến 4,2 tỉ, bình quân mỗi trạm lỗ 65,7 triệu, trong đó trạm bị lỗ nhiều nhất là 912 triệu, trạm có lời cao nhất là 245 triệu
Hình 4.2 thể hiện kết quả cung cấp nước và kết quả kinh doanh của các trạm trong 2 năm 2009 và 2010, hình này chỉ đưa vào 48 trạm mở rộng được mạng lưới và tăng lượng nước cung cấp (các trạm còn lại do đang duy tu, sửa chữa lớn, giảm lượng cung cấp hoặc không có đủ thông tin nên không đưa vào) Các trạm được sắp xếp theo thứ tự lượng cung cấp tăng thêm (của năm 2010 so với năm 2009) theo hướng tăng dần này
Hình 4.2 Kết quả hoạt động của các trạm cấp nước trong 2 năm 2009, 2010
Trang 37Nguồn: TT.NSH-VSMTNT, Số liệu về cung cấp nước sinh hoạt 2008, 2009, 2010 [26]
Nhìn chung, tại các trạm cấp nước khi mở rộng cung cấp thì doanh thu và chi phí đều tăng Mức tăng doanh thu của các trạm không đều, có một số trạm khi tăng lượng nước thì doanh thu lại giảm, điều này là do sự khác biệt về số lượng khách hàng, lượng nước sử dụng bình quân từng người (khác nhau theo từng trạm) và giá bán theo định mức Ví dụ như nếu trạm mở rộng thật nhiều khách hàng trong khi khả năng công suất có giới hạn thì
Trang 38mức sử dụng bình quân của mỗi khách hàng sẽ giảm, có thể thấp hơn định mức và chỉ bán được với giá 2.500 đồng/m3 Nhưng nếu trạm có ít khách hàng hơn, mỗi khách hàng sử dụng nhiều và vượt định mức, như các cơ quan, đơn vị, ngoài ra cũng có trường hợp cơ quan, đơn vị hoặc hộ gia đình lấy nước của Trung tâm bán lại cho những người có nhu cầu, khi đó có thể bán với giá 3.500 đồng/m3 2 2
23 Như vậy, cùng một mức tăng lượng cung cấp nhưng trạm nào có mức sử dụng bình quân từng người cao hơn thì doanh thu sẽ tăng nhiều hơn Bình Chánh có 5 trạm có mức sử dụng bình quân từng người trên 8 m3/người/tháng (An Phú Tây 1, An Phú Tây 4, Lê Minh Xuân 2, Tân Kiên 1 và Tân Kiên 2), Nhà Bè có trạm Phước Kiển 3 có mức sử dụng bình quân lên đến 12,2 m3/người/tháng
Cùng tăng lượng cung cấp nhưng chi phí tăng không đều là do giá trị khấu hao tại mỗi trạm khác nhau tùy theo qui mô và nguyên giá của trạm Nhưng các trạm có một điểm chung là khi tăng lượng cung cấp thì mức tăng của doanh thu thấp hơn so mức tăng của chi phí23
24 Điều đó khiến lợi nhuận từ hoạt động cấp nước bị giảm
Ở đây có một điểm bất hợp lý là trong khi hàng năm thành phố đều cấp ngân sách cho xây dựng cơ bản, chủ yếu phục vụ xây mới, nâng cấp và trang bị máy móc, thiết bị cho các trạm thì nguồn thu tiền nước lại không đủ để quản lý, vận hành, khai thác các trạm để cấp nước cho dân
Bên cạnh việc giữ nguyên giá bán trong suốt thời gian dài, việc chỉ có 2 mức giá (trong
và vượt định mức), không phân biệt đối tượng sử dụng cũng hạn chế việc mở rộng cấp nước đến mọi người Mặc dù chưa có số liệu thống kê đầy đủ, nhưng thực tế tại nông thôn
có nhiều hộ sống bằng nghề đổi nước, đa số ở Bình Chánh và Nhà Bè, là những vùng khó khăn về nguồn nước, nước giếng không sử dụng được, những hộ được cấp nước từ Trung tâm sẽ bán lại cho những hộ chưa vào được đồng hồ dưới nhiều hình thức (bán theo thùng
20 lít, cho hộ khác câu nhờ …) Vì sử dụng nhiều nước nên họ dùng máy bơm, hút nước lên bồn chứa, làm giảm áp lực và nguồn nước cung cấp cho các hộ còn lại trong cùng đường ống, đồng thời hạn chế khả năng mở rộng phạm vi phục vụ của trạm Do chỉ thống
Trang 39kê số lượng nhân khẩu theo hộ đăng ký sử dụng nước chính thức, không thống kê được số lượng những người dùng nước thứ cấp nên mức độ sử dụng bình quân từng người tại những hộ này rất cao Một số trạm ở Bình Chánh và Nhà Bè có mức sử dụng bình quân đầu người rất cao, Bình Chánh có 15/30 trạm có mức sử dụng bình quân trên 5
m3/người/tháng, trong đó có 5 trạm có mức sử dụng bình quân trên 8 m3/người/tháng; Nhà
Bè 7/13 trạm sử dụng trên 5 m3/người/tháng, đặc biệt trạm Phước Kiển 3 có mức sử dụng bình quân lên đến 12,2 m3/người/tháng, trong khi Củ Chi và Hóc Môn lần lượt chỉ có 1 và
3 trạm sử dụng trên 5 m3/người/tháng
Nếu xem xét ở góc độ mở rộng người dùng nước sạch, việc các hộ lấy nước của Trung tâm và bán lại cho những người có nhu cầu cũng có ý nghĩa tích cực nếu như họ bán lại với một mức giá phải chăng, bù đắp được chi phí vận chuyển, là một kênh để mở rộng nguồn nước đến những hộ chưa có điều kiện gắn đồng hồ nước, nhưng nếu bán lại với mức giá cao thì nó sẽ là gánh nặng đối với các hộ gia đình ở nông thôn Thực tế, theo kết quả khảo sát hộ gia đình về sử dụng nước sinh hoạt, thì mức giá đổi nước ở nông thôn thường là rất cao, dao động từ 20.000 đến 1.000.000 đồng/m3 Mặt khác, nó còn là sự bất bình đẳng trong việc thụ hưởng phúc lợi của nhà nước, cụ thể ở đây là trợ giá của ngân sách đối với việc sử dụng nước sạch của người dân nông thôn
Như vậy, sau hơn 15 năm áp dụng, đến nay chính sách giá nước này đã bộc lộ các hạn chế Thứ nhất, không đảm bảo được doanh thu để quản lý, vận hành, duy tu, bảo dưỡng cũng như mở rộng mạng lưới cấp nước của TT.NSH-VSMTNT Thứ hai, không đảm bảo tính công bằng trong việc phân phối phúc lợi của nhà nước đến người dùng nước sạch ở nông thôn Trong đó hạn chế đầu tiên là quan trọng nhất bởi nó tác động trực tiếp đến việc
sử dụng nước, đến tình trạng vệ sinh môi trường và sức khỏe của người dân nông thôn và một loạt các vấn đề kinh tế, xã hội có liên quan khác, kìm hãm phát triển kinh tế xã hội khu vực nông thôn, kéo dài khoảng cách với thành thị
4.5 3 1Chính sách giá nước hiện hành (hiệu lực từ tháng 3/2011)
Ngày 28/2/2011, UBND thành phố ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-UBND về điều chỉnh giá nước sinh hoạt khu vực nông thôn trên địa bàn TP.HCM Khung giá được ban hành theo Quyết định này được xây dựng trên cơ sở khung giá mà SAWACO đang áp dụng, trong đó giá bán có phân biệt theo các đối tượng sử dụng (hộ dân cư; cơ quan hành
Trang 40chính sự nghiệp, đoàn thể; đơn vị sản xuất; đơn vị kinh doanh - dịch vụ) Giá bán cho hộ dân cư được phân theo định mức sử dụng, cụ thể: 3.100 đồng/m3 - dưới 4 m3/người/tháng; 4.700 đồng/m3 – trên 4 m3 đến 6 m3/người/tháng và 6.900 đồng/m3 – trên 6
m3/người/tháng
Điểm mới của chính sách giá nước lần này là nó khuyến khích những khách hàng có hệ thống đường ống nội bộ, mua sỉ nước sạch và phân phối lại cho những hộ khác trong hệ thống đường ống nội bộ khi họ được giảm 10% đơn giá nếu mua sỉ nước sạch Tuy nhiên
nó lại không qui định mức giá mà những khách hàng mua sỉ được phép bán lại cho những
hộ khác do đó sẽ không tránh khỏi tình trạng hộ dân phải mua lại nước với giá cao
Một vấn đề khác là mức giá này cố định, áp dụng cho nhiều năm Trong hoàn cảnh lạm phát tại Việt Nam trong những năm qua luôn ở mức cao, điều đó có khả năng làm chi phí tăng nhanh hơn doanh thu, làm lợi nhuận của Trung tâm bị giảm hoặc bị lỗ
Trên cơ sở hướng dẫn của Liên Bộ Tài chính, Bộ Xây dựng và Bộ NN-PTNT tại Thông
tư liên tịch số 95/2009/TTLT-BTC-BXD-BNN ngày 19/5/2009 về hướng dẫn nguyên tắc, phương pháp xác định và thẩm quyền quyết định giá tiêu thụ nước sạch tại các đô thị, khu công nghiệp và khu vực nông thôn và số liệu thực tế về chi phí sản xuất nước sạch qua các năm từ 2008 – 2010; dự kiến kết quả sản xuất nước sạch của TT.NSH-VSMTNT trong giai đoạn 2011 – 2015 như sau:
- Lượng nước sản xuất: theo dự kiến của TT.NSH-VSMTNT, trong giai đoạn 2011 –
2015, mỗi năm Trung tâm đều tiến hành nâng cấp các trạm, khả năng tăng lượng nước sản xuất khoảng 500.000 m3/năm, tương đương với lượng cung cấp (lượng nước đến được đồng hồ tại hộ dân) tăng khoảng 480.000 m3/năm (vì có hao hụt) Lượng nước sản xuất đạt
từ 20,1 – 22,1 triệu m3 Đây là kịch bản cơ sở, trong trường hợp đẩy nhanh được tiến độ nâng cấp, mở rộng các trạm thì Trung tâm có khả năng tăng lượng sản xuất lên 1.000.000
m3/năm
- Giá thành toàn bộ sẽ dao động trong khoảng 53,7 – 81,1 tỉ đồng, tương đương giá thành sản xuất 1 m3 nước sạch từ 2.668 – 3.666 đồng/m3
- Khi áp mức giá nước theo qui định mới thì doanh thu trong giai đoạn 2011 – 2015
sẽ đạt 56,5 – 63,7 tỉ đồng Đây là doanh thu thuộc về TT.NSH-VSMTNT, không bao gồm VAT và phí bảo vệ môi trường (BVMT) vì đó là những khoản chuyển giao