1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAY ĐỔI VỐN CHỦ S HU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN  VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2017

71 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài nghiên cứu xem xét sự tác động của yếu tố Vốn chủ sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần tại Việt Nam nhằm mục đích xác định được những ngân hàng nào hoạt động có

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

HUỲNH MINH NHẬT

TÁC ĐỘNG CỦA SỰ THAY ĐỔI VỐN CHỦ SỞ HỮU ĐẾN HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG TẠI MỘT SỐ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN Ở VIỆT

NAM TRONG GIAI ĐOẠN 2008-2017

CHUYÊN NGÀNH: TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG (HƯỚNG ỨNG DỤNG)

MÃ SỐ: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGUỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS PHÙNG ĐỨC NAM

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là Huỳnh Minh Nhật, học viên lớp Cao học khóa K27, chuyên ngành Tài Chính, trường Đại Học Kinh Tế thành phố Hồ Chí Minh

Tôi cam đoan rằng luận văn “Tác động của sự thay đổi vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động tại một số ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017” là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ giáo viên hướng dẫn là TS Phùng Đức Nam

Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Những dữ liệu nghiên cứu trong các bảng biểu được tác giả ghi nguồn gốc rõ ràng Nếu có gian dối tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TÓM TẮT

ABSTRACT

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Nguồn dữ liệu 3

1.5 Kết cấu đề tài 3

CHƯƠNG 2: KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT 5

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng 5

2.2 Mối quan hệ giữa Vốn và Lợi nhuận 12

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, CÁC BIẾN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 14

3.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 14

3.2 Các biến trong mô hình 15

3.3 Thống kê mô tả 19

3.3.1 Tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân 19

3.3.2 Quy mô tổng tài sản 20

3.3.3 Vốn và tỉ lệ an toàn vốn 21

3.3.4 Chi phí hoạt động 21

3.3.5 Nợ xấu và trích lập dự phòng 23

3.3.6 Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng 24

3.3.7 Tốc độ tăng trưởng GDP và tỉ lệ lạm phát 25

3.3.8 Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan 26

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 28

4.1 Kết quả hồi quy của phương trình (1) 28

4.2 Kết quả hồi quy với phương trình (2) 33

4.3 So sánh hai mô hình hồi quy 35

CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN 37 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

Bảng 2.1 Tổng kết các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng (nguồn: tác giả tổng

hợp từ lý thuyết) 10

Bảng 3.1 Thống kê mô tả các biến quan sát 26

Bảng 3.2 Ma trận hệ số tương quan 27

Bảng 4.1 Kết quả hồi quy mô hình tác động cố định và tác động ngẫu nhiên cho phương trình (1) 28

Bảng 4.2 Kết quả kiểm định Hausman cho mô hình (1) 29

Bảng 4.3 Chuẩn đoán đa cộng tuyến Collin cho các biến phương trình (1) 30

Bảng 4.4 Kết quả hồi quy mô hình sai số chuẩn mạnh đối với phương trình (1) 31

Bảng 4 5 Chuẩn đoán đa cộng tuyến Collin cho các biến phương trình (2) 33

Bảng 4.6 Kết quả hồi quy mô hình sai số chuẩn mạnh cho phương trình (2) 34

Bảng 4.7 So sánh kết quả hồi quy 2 mô hình 35

Trang 6

Hình 3.1 Tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân và Tỷ lệ thu nhập lãi thuần tính trung bình năm của các NHTM từ năm 2008-2017 19 Hình 3.2 Phân bố tỷ lệ ROAA của các NHTM trong 10 năm 20 Hình 3.3 Thay đổi tổng tài sản các NHTM trong giai đoạn 2008-2017 20 Hình 3.4 Vốn và tỉ lệ an toàn vốn trung bình hàng năm trong vòng 10 năm 2008-

2017 21 Hình 3.5 Mối quan hệ giữa Chi phí hoạt động và Tỷ suất sinh lợi 22 Hình 3.6 Mối tương quan giữa tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng và ROAA 23 Hình 3.7 Chỉ số ROAA so với thay đổi chỉ số tập trung thị trường Herfindahl-

Hirschman (HHI) 24 Hình 3.8 So sánh tỷ lệ lạm phát, tốc độ tăng trưởng GDP với ROAA 25

Trang 7

Bài nghiên cứu xem xét sự tác động của yếu tố Vốn chủ sở hữu đối với hiệu quả hoạt động của các NHTM cổ phần tại Việt Nam nhằm mục đích xác định được những ngân hàng nào hoạt động có hoạt động hiệu quả hơn sau khi các quy định về an toàn vốn

có hiệu lực Tác giả tiếp cận vấn đề nghiên cứu bằng cách tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng để lợi nhuận ngân hàng để xây dựng mô hình hồi quy, sử dụng các mô hình hồi quy gộp để lựa chọn mô hình ước lượng phù hợp Kết quả ước lượng cho thấy tỷ

lệ vốn chủ sở hữu tác động tích cực đến lợi nhuận trong khi tỷ lệ an toàn vốn biểu hiện điều ngược lại Bài nghiên cứu chưa đầy đủ về các biến giải thích cũng như số lượng ngân hàng được khảo sát, nhưng có thể giúp tác giả nhận diện được yếu tố nào

là quan trọng khi xem xét đầu tư vào các chứng kho+án ngành ngân hàng

Từ khóa: Vốn chủ sở hữu, Lợi nhuận ngân hàng, Tỷ lệ an toàn vốn

Trang 8

The paper examines the impact of capital factor on the performance of joint-stock commercial banks in Vietnam in order to determine which banks operate more effectively after the effective capital safety regulations The author approaches the research problem by synthesizing the influencing factors for bank profits to build regression models, using lumped regression models to select the appropriate estimation model The estimation results show that equity ratio has a positive impact

on profitability while capital adequacy ratio indicates the opposite The paper is incomplete about the explanatory variables as well as the number of banks surveyed, but can help the author identify which factors are important when considering investment in banking stocks

Keywords: Equity, Bank profitability, Capital adequacy ratio

Trang 9

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU

1.1 Đặt vấn đề

Năm 2018 là khoảng thời gian ngành ngân hàng Việt Nam trải qua nhiều biến động lớn Từ những tác động của Thông tư 41/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quy định tỷ lệ an toàn vốn đối với ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài có hiệu lực từ ngày 01/01/2020 đã tạo những áp lực tăng vốn đáng kể lên toàn bộ hệ thống Thông tư 41 định hướng theo những quy định về

an toàn vốn của Ủy ban Basel trong các tài liệu về Basel II Theo đó đảm bảo hoạt động của các ngân hàng với lượng vốn an toàn hơn đủ để phòng ngừa các rủi ro chính bao gồm rủi ro thị trường, rủi ro hoạt động và rủi ro tín dụng

Quy định về tỷ lệ an toàn vốn được áp dụng cho các NHTM tại Việt Nam đã được triển khai từ năm 1999 tại Quyết định số 297/1999/QĐ-NHNN ngày 25/8/1999 theo tiêu chuẩn của Basel I Từ đó đã được sửa đổi nhiều lần qua các quyết định của Ngân hàng nhà nước Quyết định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19/4/2005 quy định

tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu là 8% được thực hiện kéo dài trong 3 năm Sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu giai đoạn 2007-2008, Ngân hàng nhà nước đã quyết định nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 9% qua Thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/5/2010 Đến 20/11/2014, Ngân hàng nhà nước đã ban hành bổ sung Thông tư 36/2014/TT-NHNN với nhiều cách tiếp cận tiệm cận với những điều khoản mà Basel II quy định

Cụ thể Thông tư này điều chỉnh chỉ số CAR xuống trở lại 8% nhưng yêu cầu vốn cho rủi ro thị trường và rủi ro hoạt động, những điểm mới trong Basel II

Trở lại với Thông tư 41/2016/TT-NHNN, khi Thông tư này được đưa vào áp dụng vào ngày 01/01/2020, tỷ lệ an toàn vốn của các ngân hàng bị sụt giảm đáng kể

do Tổng tài sản nhạy cảm với rủi ro, phần mẫu số trong công thức tính CAR, phải bao gồm tất cả các tài sản nhạy cảm với rủi ro, đặc biệt là rủi ro hoạt động Từ đó, để

Trang 10

đáp ứng được hệ số an toàn vốn, buộc các NHTM, mà trước tiên là 10 ngân hàng thí điểm phải đạt được mức vốn tối thiểu cao hơn bằng nhiều cách

Từ những lập luận trên, tác giả đặt giả thuyết liệu khi Thông tư 41 được áp dụng, đồng loạt các ngân hàng bằng mọi cách phải tăng hệ số an toàn vốn Theo cách thông thường, điều đầu tiên mà các NHTM nghĩ đến tăng vốn cổ phần thường bằng cách phát hành thêm cổ phiếu Vấn đề đặt ra là liệu tăng vốn, hay rộng hơn là tăng tỷ

lệ an toàn vốn sẽ ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của NHTM?

1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Để đánh giá được tác động của một chính sách vĩ mô, cụ thể là Thông tư 41 đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng là một đề tài phức tạp, yêu cầu nghiên cứu nhiều khía cạnh khác nhau

Nghiên cứu này được thực hiện chỉ nhằm mục tiêu đánh giá tác động của sự

thay đổi vốn chủ sở hữu đến hiệu quả hoạt động tại các NHTM cổ phần ở Việt Nam trong giai đoạn 2008-2017 Từ đó định hướng và cung cấp thêm thông tin cho

các quyết định đầu tư vào các cổ phiếu ngành ngân hàng trong tương lai

Với mục tiêu trên, nghiên cứu nhằm trả lời các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Thứ nhất, việc tăng vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng như thế nào đến hiệu quả

hoạt động, cụ thể là lợi nhuận của NHTM

- Thứ hai, thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và thay đổi tỷ lệ an toàn vốn có tác

động như thế nào đối với lợi nhuận

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu này dựa vào dữ liệu của hệ thống các NHTM cổ phần trong nước, bao gồm 31 ngân hàng theo thống kê tại website của Ngân hàng nhà nước Việt Nam

Trang 11

vào ngày 31/12/20181 Tuy nhiên, vì lý do dữ liệu một số ngân hàng không có sẵn

để thu thập nên dữ liệu thống kê chỉ còn 26 ngân hàng theo danh sách tại Phụ lục 1

Việc ra đời và áp dụng Basel II của các NHTM xuất phát từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2007-2008 Khi đó, các quy định của Basel I đã không dự báo được cuộc khủng hoảng Do đó, phạm vi nghiên cứu của đề tài này được bắt đầu từ năm 2008 đến năm 2017

1.4 Nguồn dữ liệu

Nguồn dữ liệu phục vụ cho các biến làm thước đo cho đặc điểm ngân hàng được thống kê từ các báo cáo tài chính qua các năm công bố tại website thông tin tài chính VietstockFinance2 và nguồn dữ liệu mua từ CTCP Dữ Liệu Kinh Tế Việt Nam- Vietdata 3

Các dữ liệu đại diện cho biến vĩ mô được thu thập từ nguồn dữ liệu Các chỉ số phát triển của Ngân hàng thế giới 4

1.5 Kết cấu đề tài

Các nghiên cứu trước đây về các yếu tố tác động đến lợi nhuận được trình bày ở Chương 2 Cũng tại chương này, tác giả tìm hiểu về mối quan hệ giữa Vốn và Lợi nhuận của ngân hàng trên phương diện lý thuyết Từ những khuôn khổ lý thuyết, trình bày về dữ liệu và mô hình nghiên cứu được thực hiện trong Chương 3 Kết quả nghiên cứu được trình bày ở Chương 4 và thảo luận trong Chương 5

1 https://www.sbv.gov.vn/webcenter/portal/vi/menu/fm/htctctd/nh/nhtm/nhtmcp?_afrLoop=1513732880 7227577#%40%3F_afrLoop%3D15137328807227577%26centerWidth%3D80%2525%26leftWidth%3D20%2 525%26rightWidth%3D0%2525%26showFooter%3Dfalse%26showHeader%3Dfalse%26_adf.ctrl-

state%3D11l673kwue_4

2 https://finance.vietstock.vn/

3 https://finance.vietdata.vn/ExtAppCommon/Home/BCTC1

4 https://databank.worldbank.org/data/source/world-development-indicators

Trang 12

Bài nghiên cứu này kỳ vọng nhận diện được mối quan hệ giữa Vốn chủ sở hữu, Tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động với quy mô mẫu là các NHTM tại Việt Nam

Trang 13

CHƯƠNG 2: KHUÔN KHỔ LÝ THUYẾT

2.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng

Lợi nhuận của các NHTM bị tác động như thế nào từ các yếu tố trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như các tác động từ nền kinh tế trong nước và thế giới? Vấn đề này là một chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu kinh tế trên thế giới quan tâm Có rất nhiều nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng, một số nghiên cứu tại các ngân hàng trong phạm vi một quốc gia cụ thể, một

số tập hợp các dữ liệu chéo trên nhiều quốc gia như châu Âu, các nước thuộc Đông Nam Á, hay dữ liệu từ các nền kinh tế mới nổi Bourke (1989) sử dụng phương pháp chuỗi thời gian gộp để ước lượng phương trình tuyến tính, hồi quy các thước đo hiệu quả hoạt động dựa trên nhiều yếu tố nội bộ (tỷ lệ vốn chủ sở hữu, chi phí nhân viên, tính thanh khoản) và các yếu tố bên ngoài (tỷ lệ tập trung, sở hữu chính phủ, lãi suất, tăng trưởng thị trường và lạm phát) để ước lượng lợi nhuận ngân hàng

Để kết luận được các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng, Short (1979)

đã phát triển nhiều mô hình dưới dạng các hàm khác nhau và đi đến kết luận rằng hàm tuyến tính là lựa chọn phù hợp để ước lượng Mô hình tuyến tính đi đến kết luận

có ba nhóm yếu tố có ảnh hưởng đến lợi nhuận Thứ nhất là biến giả đại diện cho mức độ sở hữu của chính phủ, đại diện cho yếu tố ảnh hưởng từ chính sách nhà nước Thứ hai là mức độ tập trung thị trường ngân hàng tại 12 nước trong nghiên cứu này Biến thứ ba, Short (1979) xác định là sự thay đổi của dòng vốn được đại diện là lãi suất chiết khấu và lãi suất trái phiếu chính phủ dài hạn Nghiên cứu kết luận về sự biến động tài sản không có ít nghĩa thống kê trong mô hình của Short (1979) Ba nhóm yếu tố này đã tạo tiền đề cho các nghiên cứu sau này Các yếu tố tác động đến lợi nhuận trong mô hình của Short (1979) đã được phát triển trong những nghiên cứu

về sau Bourke (1989) mở rộng các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng bao gồm các yếu tố bên trong và bên ngoài

Trang 14

Molyneux và Thornton (1992) kế thừa mô hình của Bourke (1989) xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận ngân hàng gồm các yếu tố bên trong: lương nhân viên, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, tính thanh khoản và các yếu tố bên ngoài gồm: tỷ lệ tập trung, sở hữu chính phủ, lãi suất, tốc độ tăng trưởng và lạm phát Nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992) có một số kết luận trái ngược với những phát hiện của Short (1979) nhưng lại phù hợp với kết luận của Bourke (1989), đặc biệt là mối tương quan giữa lợi nhuận và sở hữu chính phủ Molyneux và Thornton (1992) cũng đã phát hiện rằng tỉ lệ vốn chủ sở hữu tác động thuận chiều đối với lợi nhuận, mặc dù mối quan hệ này bị giới hạn chỉ đối với những ngân hàng thuộc sở hữu nhà nước Ngoài

ra, Molyneux (1993) cũng nhận thấy mối quan hệ tương quan đồng biến giữa chi phí tiền lương và lợi nhuận Điểm cần chú ý trong nghiên cứu này là khi quan sát các biến về vốn cần chú ý đến ngân hàng sở hữu chính phủ vì các ngân hàng này có xu hướng duy trì tỷ lệ an toàn vốn thấp hơn khu vực tư nhân

Quy mô tài sản quan hệ nghịch biến với hai biến số khác: tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản và tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản (Boyd và Runkle, 1993) Quy mô tài sản ngân hàng lớn có xu hướng lợi nhuận trên tổng tài sản cao do tận dụng được lợi thế quy mô cũng như các gói bảo hiểm của chính phủ lớn hơn để tránh bị phá sản Tương

tự, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản có tỷ lệ cao đối với các ngân hàng này Boyd và Runkle (1993) lập luận rằng những khoản nợ xấu không thể hiện trên báo cáo tài chính nên sử dụng giá trị thị trường của cổ phẩn để ước tính tài sản Tuy nhiên, các khoản nợ phải trả thường là ngắn hạn nên có thể dùng giá trị sổ sách Từ đó ước lượng

tỷ suất sinh lợi của ngân hàng thông qua giá trị thị trường của cổ phiếu và cổ tức

Berger (1995) phân tích mối quan hệ giữa tỷ lệ lợi nhuận trên vốn tự có và tỷ

lệ an toàn vốn ở một số ngân hàng Mỹ từ năm 1983-1992 nhận thấy mối quan hệ đồng biến không đổi trong những năm 1980 nhưng thay đổi từ những năm đầu thập niên 1990

Demirgüç¸-Kunt và Huizinga (1999) xem xét dữ liệu của 80 quốc gia từ năm 1988-1995 để nghiên cứu các yếu tố quyết định đến biên lãi ròng và lợi nhuận ngân

Trang 15

hàng Các yếu tố tác động gồm: đặc điểm ngân hàng, điều kiện kinh tế vĩ mô, thuế (bao gồm cả thuế “ngầm”), quy định bảo hiểm tiền gửi, cấu trúc tài chính và chính sách nhà nước Thu nhập hoạt động trước thuế được dùng làm thước đo hiệu quả, chỉ

số này bao gồm lợi nhuận từ chênh lệch lãi suất cộng với lợi nhuận từ tài sản không sinh lãi trừ đi chi phí và các khoản trích lập dự phòng Kết quả hồi quy cho thấy yếu

tố cơ bản về đặc điểm ngân hàng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, có mối quan

hệ đồng biến với lợi nhuận ngân hàng và biên lãi ròng

Chiuri, Feeri và Majnoni (2002) kiểm tra một bảng dữ liệu cho 572 ngân hàng ở 15 quốc gia đang phát triển Nghiên cứu này tìm thấy bằng chứng giống nhau rằng việc áp dụng quy định tỷ lệ an toàn vốn đã gây ra giảm nguồn cung cho vay và do đó, trong tổng vốn vay ở các quốc gia này Tuy nhiên, các yêu cầu về vốn lại không ảnh hưởng đáng kể đến lợi nhuận ngân hàng Các yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến lợi nhuận là quy mô ngân hàng và hiệu quả trong quản lý chi phí hoạt động

Nhưng với bất kỳ áp lực tăng tỷ lệ an toàn vốn phần nào đồng nghĩa với việc vốn chủ sở hữu tăng lên, và do đó tỷ suất lợi nhuận ròng trên vốn chủ sỡ hữu (ROE) lại giảm, cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa vốn chủ sở hữu và ROE Berger (1995) đã tranh luận điều ngược lại rằng lợi nhuận của NHTM có thể đạt hiệu quả tích cực nếu ngân hàng tăng vốn chủ sở hữu bằng lợi nhuận giữ lại thay vì phát hành

cổ phần mới Đối tượng nghiên cứu là các ngân hàng ở Mỹ vào cuối thập niên 1980

Nghiên cứu của Demirgüç-Kunt và cộng sự (2003) phân tích tác động của các quy định ngân hàng cũng như các yếu tố quyết định nội bộ khác, bao gồm sự tập trung

và thể chế, đối với tỷ suất lợi nhuận của ngân hàng Nghiên cứu phân tích dữ liệu từ các ngân hàng trên 72 quốc gia đồng thời kiểm soát một loạt các đặc điểm kinh tế vĩ

mô, tài chính và của từng ngân hàng cụ thể

Doliente (2005) điều tra các yếu tố quyết định tỷ suất lợi nhuận ròng của các ngân hàng ở bốn quốc gia Đông Nam Á Biên lãi ròng được giải thích bởi các yếu tố

Trang 16

đặc thù ngân hàng, cụ thể là chi phí hoạt động, chất lượng cho vay vốn, tài sản thế chấp và tài sản lưu động

Barth, Caprio và Levine (2004) sử dụng cơ sở dữ liệu mới dựa trên các quy định và giám sát của ngân hàng tại 107 quốc gia để đánh giá mối quan hệ giữa thực tiễn quản lý và giám sát cụ thể và phát triển, hiệu quả và sự mong manh của ngành ngân hàng Kết quả đưa ra một nhận định thận trọng liên quan đến các chính sách của chính phủ phụ thuộc quá mức vào sự giám sát và điều tiết trực tiếp của chính phủ đối với các hoạt động của ngân hàng

Những quy định về hệ số an toàn vốn có tác dụng tích cực, đóng vai trò là biện pháp thận trọng giúp giảm thiểu ảnh hưởng tiêu cực của những khủng hoảng kinh tế trong tương lai đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng và cả kinh tế vĩ mô Mặt khác, các quy định quá mức có thể làm tăng chi phí trung gian và làm giảm lợi nhuận của ngành ngân hàng Đồng thời, khi các ngân hàng trở nên hạn chế hơn, khả năng mở rộng tín dụng và đóng góp cho tăng trưởng kinh tế sẽ bị cản trở trong điều kiện nền kinh tế bình thường Naceur và Kandil (2009) phân tích ảnh hưởng của an toàn vốn đối với hai chỉ số hiệu suất cụ thể: chi phí trung gian và lợi nhuận Nghiên cứu cho thấy rằng việc tăng vốn chủ sở hữu làm tăng chi phí trung gian và dẫn đến khả năng sinh lợi cao hơn của tài sản và vốn với những tác động không bền vững trong dài hạn

Mô hình của Witowschi và Luca (2016) dựa trên số liệu của 68 NHTM tại Châu Âu trong khoảng thời gian từ năm 2006 đến năm 2011 đã chỉ ra có mối quan

hệ đồng biến giữa vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động Nghiên cứu này cũng chỉ

ra mối quan hệ giữa tỷ lệ an toàn vốn và hiệu quả hoạt động của ngân hàng Ngoài nghiên cứu các biến về vốn chủ sở hữu và hiệu quả hoạt động, bài nghiên cứu còn tập trung vào tác động của vốn đến rủi ro, cũng như các tài sản nhạy cảm với rủi ro ở các ngân hàng có trụ sở tại các nước châu Âu

Brahmaiah và Ranajee (2018) nhận diện các yếu tố ảnh hưởng đến lợi nhuận của các ngân hàng tại Ấn Độ Mô hình nghiên cứu xem xét 10 biến số đại diện cho

Trang 17

đặc điểm ngân hàng gồm: quy mô, vốn chủ sở hữu, chi phí hoạt động, năng suất lao động, trích lập dự phòng, chi phí huy động vốn, thu nhập từ lãi, tỷ lệ nợ xấu, chủ sở hữu và tỷ lệ các khoản cho vay ưu tiên áp dụng đối với các ngân hàng Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy vốn chủ sở hữu là yếu tố quan trọng nhất tác động đến lợi nhuận Trong khi đó, do mức độ canh tranh cao tại Ấn Độ nên mối quan hệ giữa quy

mô và lợi nhuận không đáng kể

Trang 18

Bảng 2.1 Tổng kết các yếu tố tác động đến lợi nhuận ngân hàng (nguồn: tác giả tổng hợp từ lý thuyết)

Các biến độc lập đại diện đặc điểm từng ngân hàng

Trang 20

2.2 Mối quan hệ giữa Vốn chủ sở hữu và Lợi nhuận

Molyneux (1993) kết luận rằng với một Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tài sản thấp hơn cho thấy một vị thế rủi ro, cổ đông sẽ mong đợi một phần lợi nhuận cao hơn tương ứng với rủi ro cao, tức là mối tương quan nghịch giữa 2 biến này Mặc dù vậy, trong trường hợp mức vốn chủ sở hữu cao cho thấy chi phí của vốn tương đối rẻ và

do đó biến này có thể có tác động tích cực đến lợi nhuận Vốn chủ sở hữu được kết luận có mối quan hệ đồng biến với lợi nhuận (Berger, 1995; Jacques và Nigro, 1997; Demirgüç-Kunt và Huizinga, 2000; Rime, 2001; và Iannotta và cộng sự, 2007)

Vốn chủ sở hữu được xem là một nguồn lực không tốn chi phí trung gian, Revell (1980) ghi nhận mối quan hệ nghịch đảo giữa tỷ lệ vốn chủ sở hữu và chi phí trung gian Theo Athanasoglou và cộng sự (2008), ngân hàng có vị thế vốn tốt sẽ thu hút được nhiều cơ hội kinh doanh hơn và có nhiều thời gian cũng như linh hoạt trong việc xử lý các khoản thua lỗ không mong đợi Tỷ lệ vốn chủ sở hữu cao cũng giảm chi phí phá sản, từ đó giảm chi phí huy động vốn tạo lợi nhuận tốt hơn (Pasiouras và Kosmidou, 2007)

Ngược lại, Altunbas và cộng sự (2007) thấy rằng các ngân hàng châu Âu kém hiệu quả dường như nắm giữ nhiều vốn chủ sở hữu hơn Goddard và cộng sự (2004) chứng minh rằng mối quan hệ giữa tỷ lệ tài sản vốn và lợi nhuận là cùng chiều trong sáu khu vực ngân hàng lớn của châu Âu trong giai đoạn 1992-1998 Tuy nhiên, Goddard và cộng sự (2013) khám phá rằng mối quan hệ ngược chiều giữa tỷ lệ vốn trên và lợi nhuận phản ánh quá trình tiêu chuẩn hóa các nguyên tắc đánh đổi rủi ro và lợi nhuận của tám quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu từ năm 1992 đến 2007 Delis và Staikouras (2011) cũng cho rằng các quy định về giám sát ngân hàng là cơ chế quan trọng trong việc giảm rủi ro cho ngân hàng, thay vì chỉ yêu cầu tỷ lệ vốn tối thiểu, tỷ lệ an toàn vốn đã được chứng minh là khá vô ích trong việc kiểm soát rủi ro

Nghiên cứu trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế thế giới của Dietrich và Wanzenried (2011) nhận thấy rằng vốn chủ sở hữu không có tác động có ý nghĩa đến

Trang 21

lợi nhuận trong khoảng thời gian trước khủng hoảng Tuy nhiên, vốn chủ sở hữu có ảnh hưởng mạnh đến lợi nhuận ngân hàng theo hướng bất lợi trong thời kỳ khủng hoảng Giải thích việc này, Dietrich và Wanzenried (2011) lập luận rằng khi ngân hàng càng an toàn về vốn càng thu hút lượng tiền gửi trong thời kỳ khủng hoảng

Hầu hết các nghiên cứu đều cho ra kết quả nghịch biến giữa lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu với tỷ lệ vốn chủ sở hữu Điều này là hợp lý vì vốn chủ sở hữu càng cao càng làm giảm tỷ lệ đòn bẫy Đồng thời, với nguồn vốn vay thấp không tận dụng được lá chắn thuế khi tính trên lợi nhuận sau thuế

Trang 22

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU, CÁC BIẾN VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

3.1 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm

Một trong những vấn đề chính trong việc đánh giá các yếu tố ảnh hưởng lợi nhuận của ngân hàng là đặc tính nội sinh tiềm tàng của các yếu tố quyết định nhất định Ví dụ, các ngân hàng có lợi nhuận cao hơn có thể có nhiều nguồn lực hơn để tăng vốn chủ sở hữu của họ; họ cũng có thể thấy dễ dàng hơn để tăng cơ sở khách hàng của mình thông qua ngân sách nhiều hơn cho quảng cáo và do đó nâng cao lợi nhuận Mối quan hệ nhân quả thậm chí có thể theo hướng ngược lại; ví dụ: lợi nhuận ngân hàng cao hơn có thể cần đến nhiều nhân viên hơn và hiệu quả thấp hơn (García-Herrero và cộng sự, 2009) Ngoài ra, một số đặc điểm của các ngân hàng ảnh hưởng đến lợi nhuận của họ rất khó đo lường hoặc xác định trong một phương trình Nếu các đặc điểm đó không được tính đến, có thể dẫn đến tự tương quan giữa một số hệ

số của các biến giải thích và các lỗi làm sai lệch các hệ số này

Theo nghiên cứu của Brahmaiah và Ranajee (2018), Witowschi và Luca (2016), Trujillo-Ponce (2013), Pasiouras và Kosmidou (2007) và Short (1979), tác giả tổng hợp và sử dụng 2 mô hình sau để ước lượng:

ROAAit = α + β1CARit + β2lnAssetit + β3NIMit + β4CIRit + β5LLPit + β6NPLit +

Trang 23

3.2 Các biến trong mô hình

Biến phụ thuộc: Các nghiên cứu trước đây đều đo lường khả năng sinh lời

bằng cách sử dụng tỷ lệ hoàn vốn của tài sản (ROA) và lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) ROA phản ánh khả năng quản lý của ngân hàng tạo ra lợi nhuận từ tổng tài sản, trong khi chỉ số ROE chỉ ra lợi nhuận cho cổ đông trên vốn chủ sở hữu và bằng ROA nhân với tỷ lệ tổng tài sản trên vốn chủ sở hữu ROE bỏ qua các rủi ro liên quan đến đòn bẩy cao và các quy định về tỷ lệ dự trữ Witowschi và Luca (2016), Trujillo-Ponce (2013), Dietrich và Wanzenried (2011) và Pasiouras và Kosmidou (2007) xem xét tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân để đo lường hiệu quả hoạt động Nghiên cứu dựa vào giá trị tài sản trung bình để hiểu được những thay đổi về quy mô tài sản trong năm tài chính Như Golin (2013) chỉ ra rằng ROAA là một chỉ số quan trọng

để để đánh giá lợi nhuận của ngân hàng và trở thành thước đo phổ biến nhất về lợi nhuận của ngân hàng trong tài liệu nghiên cứu Do dó, bài nghiên cứu này sử dụng tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân ROAA là đại diện cho lợi nhuận ngân hàng Biến ROAA được đo lường bằng tỷ số giữa Lợi nhuận sau thuế chia cho Tổng tài sản bình quân (trung bình cộng giữa số liệu ghi nhận tài sản đầu năm và cuối năm)

Biến độc lập:

1 Vốn Yếu tố này được chú ý nhất từ mục tiêu chính của đề tài nghiên cứu

Do đó, tác giả sử dụng 2 chỉ tiêu để tính vốn để trả lời cho các câu hỏi nghiên cứu

a Thứ nhất, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản (EA) để đánh giá

những thay đổi về vốn ảnh hưởng thế nào đến ROAA Các nghiên cứu của Molyneux và Thornton (1992); Demirguç-Kunt và Huizinga (1999); và Naceur (2003) đều cho kết quả tỷ lệ thuận giữa vốn chủ sở hữu và tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản ROA Dấu kỳ vọng của biến này đối với biến phụ thuộc là dấu dương

b Thứ hai, tỷ lệ an toàn vốn CAR Mối quan hệ thuận chiều giữa vốn

và lợi nhuận không phải là một phát hiện mới bởi suy cho cùng vốn

Trang 24

có thể tăng lên cũng do bởi lợi nhuận tăng lên từ hoạt động kinh doanh Tuy nhiên, vấn đề ở đây chính là việc tăng vốn là yêu cầu bắt buộc về quy định tỷ lệ an toàn vốn Witowschi và Luca (2016) phát hiện ra rằng trong các điều kiện thị trường khác nhau, quy định

an toàn vốn là một công cụ giám sát hiệu quả, nghiên cứu xác nhận rằng sự gia tăng nhu cầu vốn dường như làm giảm rủi ro của các ngân hàng, nên có khả năng hạn chế phần nào lợi nhuận từ mang lại

từ những tài sản rủi ro cao

2 Tác giả sử dụng giá trị tổng tài sản dưới dạng lnAsset để kiểm soát yếu tố quy mô Ảnh hưởng của quy mô đối với lợi nhuận đã được phân tích từ

những nghiên cứu của Alexiou và Sofoklis (2009), Pasiouras và Kosmidou (2007) và Demirguç-Kunt và Huizinga (1999) Đối với các ngân hàng trở nên cực kỳ lớn, ảnh hưởng của quy mô có thể là tiêu cực do quan liêu và các lý do khác Hiệu quả không rõ ràng Một mặt, các ngân hàng với quy

mô lớn hơn có thể giảm chi phí từ các nền kinh tế có quy mô và phạm vi Mặt khác, một số ý kiến cho rằng các ngân hàng nhỏ có thể đạt được quy

mô kinh tế bằng cách tăng quy mô của họ đến một điểm nhất định trong đó việc tăng thêm quy mô sẽ dẫn đến sự không hiệu quả về quy mô Vì vậy, không có kỳ vọng trước về tác động của biến này đến lợi nhuận của ngân hàng

3 Tỷ lệ thu nhập lãi thuần (NIM): cho biết khả năng của một ngân hàng trong

việc trang trải các chi phí trung gian Biên độ thấp có thể phản ánh chi phí cao với lãi suất do phụ thuộc vào các khoản nợ ngắn hạn và thái độ thận trọng của ngân hàng dẫn đến thu nhập lãi thấp hơn Giá trị cao của chỉ số này có thể là kết quả nếu có sự chênh lệch lãi suất đáng kể giữa lãi suất thưởng của các nguồn vốn và lãi cho các khoản vay Ngoài ra, tỷ lệ thu nhập lãi thuần cao có thể là kết quả của việc tăng khối lượng cho vay, được phản ánh trong phần thu nhập lãi cao hơn Trong trường hợp này, chúng ta

có thể giả định rằng các ngân hàng áp dụng một hành vi rủi ro 3 Tỷ lệ

Trang 25

thu nhập lãi thuần (NIM) được đo lường bằng tỷ số giữa Thu nhập lãi thuần chia cho Tổng tài sản có sinh lời bình quân Tác giả kỳ vọng biến NIM có mối quan hệ thuận chiều với biến ROAA

4 Tỷ lệ chi phí hoạt động so với thu nhập hoạt động (CIR) cho biết khả năng

của các ngân hàng trong việc kiểm soát chi phí hoạt động Giá trị của CIR càng thấp, lợi nhuận được tạo ra càng cao, kỳ vọng biến CIR có hệ số âm Biến CIR được tính bằng tỷ lệ phần trăm so sánh giữa Chi phí hoạt động

và Thu nhập từ hoạt động

5 Dự phòng rủi ro tín dụng (LLP) Bản chất của chi phí trích lập dự phòng

rủi ro (trong đó, phần lớn là trích lập dự phòng rủi ro tín dụng) là một chi phí không chi bằng tiền mặt của ngân hàng và chỉ đơn thuần được tạo lập bởi một nghiệp vụ kế toán Vì thế dòng tiền của ngân hàng không bị ảnh hưởng bởi chi phí này Mục tiêu của các khoản dự phòng là để bù đắp rủi

ro của các khoản vay có xu hướng không thu hồi được Một ưu điểm khác của khoản dự phòng này là nó được khấu trừ khởi thu nhập của năm hiện tại giúp giảm một phần thuế thu nhập doanh nghiệp Tỷ lệ LLP là tỷ lệ phần trăm giữa khoản Dự phòng rủi ro tín dụng so với Tổng dự nợ Tỷ lệ này được quy định dành cho các khoản nợ xấu, nợ thuộc nhóm 3, 4, và 5

6 Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ (NPL) phản ánh chất lượng các khoản nợ hay

có thể nói là chất lượng tài sản ngân hàng vì cho vay là hoạt động chính

Tỷ lệ này thấp cho thấy ngân hàng phân phối rủi ro của các khoản cho vay tốt, đảm bảo được các khoản lợi nhuận trong tương lai Biến NPL và LLP

là hai biến đại diện cho thước đo rủi ro Tác giả kỳ vọng lợi nhuận tỷ lệ nợ xấu càng thấp tạo nên lợi nhuận cao, hệ số mang dấu âm

7 Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) Tăng trưởng kinh tế, thể hiện qua tăng

trưởng GDP, có nhiều tác động đối với các chủ thể trong nền kinh tế Các doanh nghiệp này đều là khách hàng của hệ thống các tổ chức tín dụng Khi nhu cầu vay và gửi tiền cao, hoạt động của các ngân hàng trở nên tấp nập hơn Các nhà nghiên cứu cho rằng nó có tác động tích cực đến lợi

Trang 26

nhuận của ngân hàng do thực tế là nhu cầu cho vay tăng lên trong các đợt tăng trưởng theo chu kỳ Tăng tiền gửi ngân hàng và các khoản vay có tác động tích cực đến lợi nhuận của ngân hàng Khi hoạt động kinh tế giảm, nhu cầu cho vay và tiền gửi giảm và ảnh hưởng tiêu cực đến lợi nhuận

8 Lạm phát (INF) là một yếu tố vĩ mô khác quan trọng quyết định hiệu quả

hoạt động được xem xét trong hầu hết các nghiên cứu trước đây

9 Tập trung thị trường (HHI) đại diện cho đặc điểm ngành ngân hàng trong

các nghiên cứu của Short (1979), Bourke (1989), Dietrich và Wanzenried (2011) đo lường bằng Chỉ số Herfindahl-Hirschman Index Chỉ số HHI được tính bằng công thức Tổng bình phương thị phần về doanh thu của 26 ngân hàng trong bài nghiên cứu Theo thông lệ quốc tế, các cơ quan quản

lý cạnh tranh thường phân loại các thị trường theo cơ sở sau:

a HHI < 1.000: Thị trường không mang tính tập trung

b 1.000 ≤ HHI ≤ 1.800: Thị trường tập trung ở mức độ vừa phải

c HHI > 1.800: Thị trường tập trung ở mức độ cao

Trang 27

3.3 Thống kê mô tả

3.3.1 Tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân

Hình 3.1 Tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân và Tỷ lệ thu nhập lãi thuần tính trung bình năm của các NHTM từ năm 2008-2017 (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)

Hình 3.1 cho thấy tỷ suất sinh lợi tài sản bình quân theo xu hướng giảm mạnh

từ sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu và có dấu hiệu phục hồi từ năm 2015 nhờ

nỗ lực tái cấu trúc toàn hệ thống ngân hàng Trong 4 năm trở lại đây, tỷ số ROAA của các NHTM có xu hướng ổn định, năm sau cao hơn năm trước, tăng từ mức 0.48% (năm 2015) lên 0.71% (năm 2017) Khảo sát giá trị trung bình của toàn bộ mẫu quan sát trong 10 năm đạt 0.96% với độ lệch chuẩn là 1.08%, phân bố tỷ suất sinh lợi trong Hình 3.2 cho thấy sự ít biến động trong tỷ số này trong 10 năm qua cũng như chênh lệch về hiệu quả hoạt động giữa các NHTM

Trang 28

Hình 3.2 Phân bố tỷ lệ ROAA của các NHTM trong 10 năm (nguồn: tổng hợp

từ dữ liệu)

3.3.2 Quy mô tổng tài sản

Hình 3.3 Thay đổi tổng tài sản các NHTM trong giai đoạn 2008-2017 (nguồn:

tổng hợp từ dữ liệu)

Trang 29

Quy mô tổng tài sản các NHTM tăng mạnh trong 10 năm qua thể hiện Hình 3.3, đạt hơn 7 triệu tỷ đồng (tương đương 306 tỷ đô la Mỹ) vào cuối năm 2017, tăng 467% so với năm 2008 Từ đó cho thấy hệ thống ngân hàng đã phát triển mở rộng theo cấp số nhân thông qua việc thành lập thêm nhiều chi nhánh và phòng giao dịch trong cả nước Song song với mở rộng quy mô, các NHTM đã duy trì mức lợi nhuận

ổn định trong những năm qua

3.3.3 Vốn chủ sở hữu và tỉ lệ an toàn vốn

Hình 3.4 Vốn chủ sở hữu và tỉ lệ an toàn vốn trung bình hàng năm trong vòng

10 năm 2008-2017 (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)

Từ công thức tính hai chỉ số Tỷ lệ an toàn vốn và Tỷ lệ vốn chủ sỡ hữu trên tổng tài sản, tác giả nhận thấy hai biến số này có mối tương quan cao với nhau Kiểm chứng lại dữ liệu đã thu thập trên biểu đồ tại Hình 3.4 nhận thấy rõ mối tương quan thuận chiều này

3.3.4 Chi phí hoạt động

Tỷ lệ CIR thể hiện được mối tương quan giữa chi phí hoạt động so với thu nhập của ngân hàng đó Tỷ lệ này cho nhà đầu tư 1 cái nhìn rõ hơn về hiệu quả hoạt động của tổ chức; tỷ lệ càng nhỏ thì ngân hàng đó càng hoạt động hiệu quả Chi phí

Trang 30

hoạt động có mối tương quan rõ ràng là nghịch chiều với lợi nhuận của ngân hàng thể hiện trong Hình 3.5

Hình 3.5 Mối quan hệ giữa Chi phí hoạt động và Tỷ suất sinh lợi (nguồn: tổng

hợp từ dữ liệu)

Trang 31

3.3.5 Nợ xấu và trích lập dự phòng

Hình 3.6 Mối tương quan giữa tỷ lệ nợ xấu, trích lập dự phòng và ROAA

(nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)

Bản chất của chi phí trích lập dự phòng rủi ro (trong đó, phần lớn là trích lập

dự phòng rủi ro tín dụng) là một chi phí không chi bằng tiền mặt của ngân hàng và chỉ đơn thuần được tạo lập bởi một nghiệp vụ kế toán Vì thế dòng tiền của ngân hàng không bị ảnh hưởng bởi chi phí này Mặt khác, trích lập dự phòng rủi ro là một khoản chi phí bắt buộc theo quy định của các ngân hàng nhằm xử lý nợ xấu Và xử lý nợ xấu từ dự phòng là phương án khả thi nhất bởi nó là tiền thật của chính ngân hàng Khi ngân hàng xử lý được khoản nợ xấu (thu hồi được một phần hoặc toàn bộ khoản nợ), số tiền trích lập dự phòng sẽ được hoàn nhập vào dự phòng hoặc hạch toán trực tiếp vào thu nhập bất thường Do đó, nếu các ngân hàng cố trích lập dự phòng nhiều

để "giấu lãi" thì sớm hay muộn khoản chi phí này cũng sẽ quay trở lại và làm tăng lợi nhuận tính thuế trong tương lai

Dưới góc độ của các nhà đầu tư và cổ đông các ngân hàng, rõ ràng trích lập

dự phòng rủi ro là một "gánh nặng", vì trích càng nhiều thì lợi nhuận càng "teo tóp" thì không còn lại gì để chia cổ tức Cùng với đó, lợi nhuận trên báo cáo suy giảm thì trong ngắn hạn, sức hấp dẫn của cổ phiếu nhà băng đó cũng sẽ giảm theo Những

Trang 32

ngân hàng có tỉ lệ bao phủ nợ xấu ở mức cao đồng nghĩa khả năng được hoàn nhập chi phí dự phòng của các ngân hàng này cũng cao hơn nhiều Do đó, tác động của trích lập dự phòng đối với lợi nhuận ngân hàng rất khó để dự báo

3.3.6 Mức độ tập trung thị trường của ngành ngân hàng

Hình 3.7 Chỉ số ROAA so với thay đổi chỉ số tập trung thị trường

Herfindahl-Hirschman (HHI) (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)

Chỉ số Herfindahl-Hirschman (HHI) được sử dụng để nhận biết mức độ cạnh tranh của thị trường là hoàn hảo hay độc quyền cao Bộ Tư pháp Mỹ sử dụng chỉ số này để đánh giá mức độ độc quyền giữa các ngân hàng trong hoạt động mua bán, sáp nhập (M&A) HHI xác định bằng tổng bình phương thị phần của mỗi ngân hàng trong toàn hệ thống Short (1979) đã tìm ra bằng chứng hỗ trợ cho quan điểm rằng mức độ tập trung thị trường cao hơn sẽ dẫn đến tỷ suất sinh lợi tốt hơn, nhưng hệ số này nhỏ, cần một sự thay đổi thật sự lớn mới ảnh hưởng đến một điểm phần trăm tỷ suất sinh lợi

Chỉ số HHI của ngành ngân hàng tính theo thị phần thu nhập hoạt động trong

10 năm qua ở mức thấp, dưới 1000 điểm, cho thấy hệ thống ngân hàng Việt Nam vẫn đảm bảo được mức độ cạnh tranh trung bình Nghiên cứu của Nguyễn Thế Bính

Trang 33

(2015) kết luận rằng sau quá trình M&A, chỉ số tập trung của ngành ngân hàng có xu hướng tăng nhưng ở mức vừa phải, ngay cả đối với nhóm ngân hàng lớn Phạm Minh Điển và cộng sự (2017) kết luận chỉ số HHI không có ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTM

Dựa vào dữ liệu đã thu thập, tác giả trình bày trong biểu đồ Hình 3.7 cho thấy chỉ số HHI không biến động nhiều qua các năm và không có mối tương quan với tỷ

Trang 34

Tỷ lệ lạm phát trong giai đoạn 2012-2015 đều cao hơn tương đối so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Khi đặt mối quan hệ giữa ROAA và tăng trưởng GDP trong một mối quan hệ tương quan với một biến vĩ mô khác là tỷ lệ lạm phát (INF), có thể giải thích được phần nào mối quan hệ ngược với kỳ vọng này

3.3.8 Thống kê mô tả và ma trận hệ số tương quan

Bảng 3.1 dưới đây cho thấy thống kê mô tả từ dữ liệu của 26 NHTM Tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản bình quân (ROAA) của các NHTM dao động từ mức thấp là -5.99% tới mức cao nhất là 11.9% và ROAA trung bình đạt 0.96% Tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản dao động mạnh từ 3.46% đến 46.24% cho thấy sự chênh lệch lớn giữa các ngân hàng

Chỉ số HHI đo lường sự tập trung của thị trường đạt giá trị từ 757 – 1072 và

độ lệch chuẩn là 88.92 Theo thông lệ quốc tế, các giá trị này đều ở mức hợp lý để xác định thị trường các NHTM ở Việt Nam không mang tính tập trung

Quy mô giữa các NHTM có sự chênh lệch rất lớn với độ lệch chuẩn là 1.24 Rủi ro tín dụng dao động từ 2.86% tới 0.55% với giá trị trung bình là 1.42% và độ lệch chuẩn là 0.54% Chi phí hoạt động dao động từ 0.32% tới 5.2% tỷ lệ chi phí hoạt động của các NHTM đều đang được kiểm soát tốt

Bảng 3.1 Thống kê mô tả các biến quan sát (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)

Tên

biến

Số quan sát

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

Trang 35

Tên

biến

Số quan sát

Giá trị trung bình

Độ lệch chuẩn

Giá trị nhỏ nhất

Giá trị lớn nhất

Bảng 3.2 Ma trận hệ số tương quan (nguồn: tổng hợp từ dữ liệu)

Kết quả phân tích tương quan giữa các biến độc lập của Bảng 3.2 cho thấy hệ

số tương quan giữa biến EA và CAR khá cao là >87% Hệ số tương quan cao cho thấy có hiện tượng đa cộng tuyến tính tồn tại trong dữ liệu nghiên cứu mà cụ thể là giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản và hệ số an toàn vốn Điều này cũng phù hợp với công thức tính toán của hai chỉ số này Để tránh gặp phải hiện tượng đa cộng tuyến, tác giả lựa chọn sử dụng cả hai mô hình hồi quy (1) và (2) để chạy hồi quy và

so sánh kết quả Mục đích của việc này cũng là để trả lời câu hỏi nghiên cứu thứ hai: thay đổi tỷ lệ vốn chủ sở hữu và thay đổi tỷ lệ an toàn vốn có tác động như thế nào

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:05

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm