Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu: là thực trạng hoạt động quản lý tài chính bệnh viện khi áp dụng cơ chế TCTC theo quy định của Chính phủ.. Như vậy, TCTC tại BVCL có thể hiểu l
Trang 1VÕ PHƯỚC TÂM
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH THEO HƯỚNG HIỆU QUẢ TẠI
BỆNH VIỆN PHỔI ĐỒNG THÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH -NĂM 2019
Trang 2VÕ PHƯỚC TÂM
GIẢI PHÁP THỰC HIỆN TỰ CHỦ TÀI CHÍNH THEO HƯỚNG HIỆU QUẢ TẠI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đề tài “Giải pháp thực hiện tự chủ tài chính theo hướng hiệu quả tại bệnh viện phổi Đồng Tháp” là nghiên cứu của chính tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Vũ Thị Minh Hằng Các số liệu và kết quả trong luận văn
là trung thực, có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Ngày 20 tháng 06 năm 2019
Tác giả
Võ Phước Tâm
Trang 4MỤC LỤC
TRANG BÌA
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
TÓM TẮT
ABSTRACT
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 4
1.6 Bố cục của luận văn 4
Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 6
2.1 Cơ sở lý thuyết 6
2.1.1 Bệnh viện công lập 6
2.1.2 Cơ chế TCTC tại BVCL 7
2.1.3 Vai trò, sự cần thiết của TCTC tại bệnh viện công lập 9
2.1.4 Điều kiện và nội dung thực hiện TCTC một phần tại BVCL 9
2.1.5 Ảnh hưởng của TCTC đối với BVCL 14
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế TCTC một phần tại BVCL 15
2.2 Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài 16
Trang 52.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài 17
2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 18
2.2.3 Đánh giá tổng quan tài liệu 20
Tóm tắt Chương 2 21
Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
3.1 Tổng quan về Bệnh viện Phổi Đồng Tháp 22
3.1.1 Lịch sử hình thành 22
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ 22
3.1.3 Cơ cấu tổ chức 23
3.1.4 Công tác chuẩn bị của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp để chuyển sang cơ chế TCTC 25
3.2 Kết quả thực hiện cơ chế TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016 - 2018 27
3.2.1 Các nội dung khám chữa bệnh tại bệnh viện 27
3.2.2 Các nguồn thu của bệnh viện 28
3.2.3 Các nguồn chi của bệnh viện 31
3.2.4 Tình hình thực hiện cơ chế phân phối chênh lệch thu chi 36
3.2.5 Các chỉ tiêu phản ánh khả năng TCTC một phần của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trong giai đoạn 2016- 2018 38
3.2.6 So sánh kết quả hoạt động của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trước và sau khi thực hiện TCTC một phần 39
3.2.7 Khả năng đạt TCTC toàn bộ tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trong thời gian tới 40
3.3 Thành tựu, thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của khó khăn khi triển khai cơ chế TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp 43
3.3.1 Một số thành tựu 43
3.3.2 Thuận lợi 44
3.3.3 Khó khăn của bệnh viện 45
3.3.4 Nguyên nhân của những khó khăn 45
Trang 6Tóm tắt Chương 3 46
Chương 4 KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH NHẰM HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TCTC TẠI BỆNH VIỆN PHỔI ĐỒNG THÁP 47
4.1 Cơ sở khuyến nghị chính sách 47
4.1.1 Định hướng của ngành y tế 47
4.1.2 Định hướng của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp 47
4.2 Khuyến nghị chính sách 48
4.2.1 Khai thác có hiệu quả các nguồn thu 48
4.2.2 Kiểm soát chặt chẽ các nguồn chi 49
4.2.3 Nâng cao trình độ quản lý tài chính cho cán bộ lãnh đạo 51
4.2.4 Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế 52
4.2.5 Chuẩn bị các điều kiện cần thiết để thực hiện TCTC toàn bộ 53
4.3 Kết luận 54
4.4 Hạn chế của đề tài 54
TÀI LIỆU THAM KHẢO 55 PHỤ LỤC 1: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
PHỤ LỤC 2: PHIẾU KHẢO SÁT CÁN BỘ NHÂN VIÊN CỦA BỆNH VIỆN PHỔI ĐỒNG THÁP
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ KHẢO SÁT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Kết quả sau cải cách ở BVCL tại Nhật Bản 18
Bảng 3.1: Nguồn nhân lực của bệnh viện giai đoạn 2016 - 2018 24
Bảng 3.2: Hoạt động khám bệnh về điều trị giai đoạn 2016 - 2018 27
Bảng 3.3: Nguồn thu của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016- 2018 29
Bảng 3.4: Nguồn chi của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016- 2018 32
Bảng 3.5: Khoản chi lương tăng thêm cho người lao động giai đoạn 2016 - 2018 37
Bảng 3.6: Chỉ tiêu phản ánh khả năng TCTC một phần giai đoạn 2016 - 2018 38
Bảng 3.7: Thay đổi trong kết quả hoạt động sau khi thực hiện cơ chế TCTC một phần 40 Bảng 3.8: Ước lượng mức độ TCTC của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp 2019 - 2023 41
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Phổi Đồng Tháp 23
Hình 3.2: Tỷ lệ chuyển viện và tỷ lệ tử vong giai đoạn 2016 - 2018 28
Hình 3.3: Nguồn kinh phí do NSNN cấp giai đoạn 2016 - 2018 30
Hình 3.4: Nguồn thu SNYT và thu khác giai đoạn 2016 - 2018 31
Hình 3.5: Cơ cấu nguồn chi thường xuyên của Bệnh viện giai đoạn 2016 - 2018 33
Hình 3.6: Kết quả khảo sát về khả năng và thời điểm đạt TCTC toàn bộ 42
Trang 10Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1 Lý do chọn đề tài
Nghị quyết số 46 - NQ/TW ngày 23/02/2005 của Bộ chính trị đã nêu rõ “Bảo
vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân là hoạt động nhân đạo, trực tiếp bảo đảm nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, là một trong những chính sách ưu tiên hàng đầu của Đảng và Nhà nước Đầu tư cho lĩnh vực này
là đầu tư phát triển, thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ Phải đổi mới và hoàn thiện
hệ thống y tế theo hướng công bằng, hiệu quả và phát triển, nhằm tạo cơ hội thuận lợi cho mọi người dân được bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ với chất lượng ngày càng cao, phù hợp với sự phát triển kinh tế- xã hội của đất nước Thực hiện xã hội hoá các hoạt động chăm sóc sức khoẻ gắn với tăng cường đầu tư của Nhà nước, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển các dịch vụ trong lĩnh vực này”
Năm 2006, Nghị định số 43/2006/NĐ-CP quy định quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính đối với đơn vị
sự nghiệp công lập được ban hành Nghị định này đã tạo ra cơ sở pháp lý để các đơn
vị sự nghiệp thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm Trong các nội dung tự chủ, tự chịu trách nhiệm thì tự chủ tài chính (TCTC) luôn là vấn đề trọng tâm cần được nghiên cứu và thực hiện một cách khoa học, sáng tạo nhất
Đối với các bệnh viện công lập (BVCL), việc thực hiện nội dung trong Nghị định 43/2006/NĐ-CP là một nhiệm vụ cấp thiết, là bước ngoặt lớn trong lĩnh vực tài chính bệnh viện BVCL được TCTC sẽ chủ động trong sử dụng nguồn ngân sách và các nguồn thu để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn và sử dụng hiệu quả nguồn tài chính Nếu hoạt động tốt, các nguồn thu ngày càng tăng thì một phần chênh lệch thu chi dôi dư sẽ được sử dụng để tăng thu nhập cho cán bộ quản lý, bác sĩ, nhân viên y
tế Điều này sẽ khuyến khích họ làm việc hiệu quả hơn, tích cực học tập nâng cao trình độ chuyên môn, cải thiện chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh cho người dân (Bộ Y tế, 2011)
Trang 11Căn cứ vào mức độ đảm bảo kinh phí hoạt động, mức độ TCTC tại BVCL được được phân thành 3 loại Trong đó, loại 1 là BVCL tự đảm bảo kinh phí hoạt động thường xuyên, kinh phí đầu tư phát triển (gọi tắt là TCTC toàn bộ); Loại 2 là
tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên (gọi tắt là TCTC một phần); Loại 3 là do ngân sách nhà nước (NSNN) đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động thường xuyên (Chính phủ, 2015)
Tại tỉnh Đồng Tháp, đến cuối năm 2018, trong số 26 BVCL được giao quyền TCTC thì chỉ có 3 bệnh viện tự đảm bảo chi thường xuyên, 23 bệnh viện còn lại mới chỉ tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên (Sở Y tế tỉnh Đồng Tháp, 2019) Như vậy, đa số các BVCL trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp thuộc loại TCTC một phần
Bệnh viện Phổi Đồng Tháp bắt đầu triển khai TCTC từ đầu năm 2016 theo loại hình TCTC một phần Qua thời gian 3 năm (2016 - 2018), Bệnh viện Phổi Đồng Tháp đã đổi mới quản lý tài chính, tích cực cân đối thu chi nhằm phục vụ tốt
sự nghiệp y tế (SNYT) Tuy nhiên, quá trình thực hiện TCTC đã gặp phải nhiều khó khăn liên quan chủ yếu đến cơ chế, chính sách làm cho hoạt động của Bệnh viện chưa đạt như mong muốn (Bệnh viện Phổi Đồng Tháp, 2018)
Câu hỏi đặt ra là, cơ chế TCTC một phần có thực sự giúp cải thiện kết quả hoạt động của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp hay không? Và xu thế Bệnh viện Phổi Đồng Tháp có khả năng đạt TCTC toàn bộ trong những năm tới hay không? Trở
nên hết sức cấp thiết.Từ những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Giải pháp thực hiện tự chủ tài chính theo hướng hiệu quả tại bệnh viện phổi Đồng Tháp”
Trang 121.2.2 Mục tiêu cụ thể
Đề tài được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu sau:
Mục tiêu 1: Phân tích kết quả thực hiện TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016 - 2018
Mục tiêu 2: Tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn vướng mắc và nguyên nhân khó khăn vướng mắc khi triển khai TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp Mục tiêu 3: Khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế TCTC tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp hướng đến TCTC toàn bộ trong thời gian tới
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
TCTC một phần ảnh hưởng như thế nào đến kết quả hoạt động của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp?
Những thuận lợi, khó khăn vướng mắc trong thực hiện TCTC một phần tại Bệnh viện phổi Đồng Tháp là gì? Và nguyên nhân khó khăn vướng mắc này là gì? Cần có những chính sách gì để hoàn thiện cơ chế TCTC hướng đến TCTC toàn bộ tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: là thực trạng hoạt động quản lý tài chính bệnh viện khi
áp dụng cơ chế TCTC theo quy định của Chính phủ
Đối tượng khảo sát: Là cán bộ, nhân viên của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Về nội dung: Đề tài chỉ tập trung phân tích vấn đề về TCTC, các nội dung khác liên quan đến tổ chức nhân sự, kỹ thuật chuyên môn của Bệnh viện không thuộc nội dung nghiên cứu trong đề tài này
Về không gian: Thực hiện tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp
Về thời gian của dữ liệu: Thu thập những dữ liệu thứ cấp trong 4 năm 2018) Số liệu sơ cấp liên quan đến đối tượng khảo sát được thu thập ở thời điểm năm 2019 Số liệu sơ cấp được thu thập từ tháng 04/2019 đến tháng 05/2019
Trang 13(2015-1.5 Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp thống kê, phương pháp khảo sát và phương pháp so sánh được sử dụng tùy theo từng mục tiêu nghiên cứu Cụ thể:
Phương pháp thống kê là sử dụng để biểu diễn các giá trị trung bình, tỷ lệ phần trăm đối với các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trong giai đoạn 2016 - 2018
Phương pháp so sánh: Sử dụng để so sánh sự tăng, giảm các chỉ tiêu về kết quả hoạt động của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trong giai đoạn 2016 - 2018 và để so sánh kết quả hoạt động của Bệnh viện sau khi áp dụng cơ chế TCTC một phần (năm 2018) với trước khi áp dụng cơ chế TCTC một phần (năm 2015)
Phương pháp khảo sát sử dụng bảng câu hỏi để thu thập thông nhằm tìm hiểu những khó khăn, vướng mắc và nguyên nhân của khó khăn vướng mắc trong giai đoạn triển khai cơ chế TCTC tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp; Đánh giá khả năng bệnh viện đạt được TCTC toàn bộ; Do hạn chế về thời gian và khả năng thu thập số liệu ở quy mô lớn, tác giả chọn số lượng khảo sát như sau: Đối với cán bộ, nhân viên của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp: khảo sát 20 người Tiêu chuẩn: Lãnh đạo Bệnh viện và cán bộ, nhân viên tại các Khoa, phòng, ban trực tiếp liên quan đến công tác quản lý TCTC
1.6 Bố cục của luận văn
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu Giới thiệu sự cần thiết nghiên cứu; Mục tiêu, đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu trước Trình bày cơ sở lý thuyết
về TCTC ở BVCL; Điều kiện thực hiện TCTC một phần tại BVCL; Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế TCTC ở BVCL; Lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài
Chương 3: Kết quả nghiên cứu Giới thiệu tổng quan về Bệnh viện Phổi Đồng Tháp; Phân tích kết quả thực hiện TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016 - 2018; Những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của khó khăn khi thực hiện cơ chế TCTC một phần tại Bệnh viện phổi Đồng Tháp Xu thế TCTC toàn
Trang 14bộ tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trong những năm tiếp theo
Chương 4: Khuyến nghị chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế TCTC tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp
Trang 15Chương 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
BVCL là một trong số các loại hình của đơn vị sự nghiệp công lập Như vậy,
có thể hiểu BVCL là những bệnh viện do cơ quan nhà nước thành lập hoặc ra quyết định thành lập BVCL chịu trách nhiệm cung cấp dịch vụ công về y tế cho người dân và chịu sự quản lý của cơ quan nhà nước(Chính phủ 2012)
2.1.1.2 Đặc điểm của BVCL
Thứ nhất, BVCL được thành lập do quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền (Bộ Y tế, UBND cấp tỉnh) Do vậy, các BVCL phải tuân theo quy định của Nhà nước và cơ quan chủ quản
Thứ hai, BVCL cung cấp DVYT công nhằm đáp ứng lâu dài những lợi ích chung cho xã hội Việc cung ứng DVYT không nhằm mục đích sinh lời Thông qua các đơn vị SNYT, trong đó có BVCL, Nhà nước cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh, phòng dịch bệnh nhằm định hướng hoạt động chăm sóc sức khỏe cho người dân Để đảm bảo hoạt động, BVCL được phép thu các loại phí, lệ phí, viện phí để đáp ứng một phần hay toàn bộ chi thường xuyên, đồng thời Nhà nước cũng khuyến khích các BVCL hoạt động hiệu quả, giảm bớt gánh nặng chi NSNN
Thứ ba, hoạt động của BVCL chủ yếu tạo ra DVYT công, phục vụ quá trình
Trang 16tái sản xuất một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong xã hội Dịch vụ công là những dịch vụ mang tính chất không cạnh tranh và không loại trừ, mọi người đều có khả năng sử dụng và không người nào có thể gây ảnh hưởng đối với việc sử dụng dịch
vụ công của người khác
Thứ tư, hoạt động của BVCL luôn gắn liền và bị chi phối bởi các chương trình phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước Các BVCL hoạt động dưới sự quản lý của các cơ quan Nhà nước chủ quản Các chương trình mục tiêu quốc gia như: dân số kế hoạch hóa gia đình, sức khỏe sinh sản, phòng chống HIV/AIDS, phòng chống tác hại của bệnh lao phổi, của Chính phủ đều được thực hiện thông qua các BVCL
2.1.1.3 Vai trò của BVCL
Trong kinh tế thị trường, BVCL có vai trò chủ yếu ở một số điểm sau:
BVCL đảm nhận nhiệm vụ chính trong việc cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh cho người dân, góp phần tích cực vào việc bảo tồn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ cho các phát triển kinh tế xã hội
Góp phần thực hiện tốt an sinh xã hội thông qua việc ưu tiên khám chữa bệnh cho người nghèo, các đối tượng thuộc diện chính sách
Giúp Nhà nước phát triển hệ thống các cơ sở y tế theo đúng định hướng Trong đó, BVCL giữ vai trò chủ đạo, thực hiện hỗ trợ và định hướng cho các cơ sở
y tế tư nhân trong hoạt động, tạo điều kiện cho các cơ sở y tế tư nhân đóng góp tích cực vào việc cung cấp DVYT cho người dân
BVCL sẽ tự đảm bảo một phần hoặc toàn bộ chi phí thường xuyên, giảm gánh nặng cho NSNN Từ đó, huy động một phần nguồn lực từ NSNN cho các mục tiêu quan trọng khác
2.1.2 Cơ chế TCTC tại BVCL
2.1.2.1 Khái niệm TCTC tại BVCL
Nhu cầu khám chữa bệnh của người dân tăng do áp lực gia tăng dân số, trong điều kiện hạn hẹp của nguồn thu NSNN, khả năng chi của NSNN không thể đáp ứng đầy đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh của người dân Nhiều nước trên thế giới đã bỏ bao cấp của Nhà nước trong lĩnh vực y tế, khám chữa bệnh
Trang 17Preker (2003) cho rằng tự chủ bệnh viện là việc giảm thiểu sự kiểm soát trực tiếp của Chính phủ (từ quan chức ngành y tế hoặc các cấp Chính phủ) lên các BVCL và sự thay đổi trong việc ra quyết định từ hệ thống phân cấp sang đội ngũ quản lý bệnh viện
Theo Chính phủ (2006), TCTC là quyền tự quyết định, tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn tài chính nhằm giúp các đơn
vị sự nghiệp công lập duy trì hoạt động và phát triển
Theo Chính phủ (2015), cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công là các quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, nhân sự và tài chính của đơn vị sự nghiệp công
Như vậy, TCTC tại BVCL có thể hiểu là có chế quản lý tài chính bệnh viện dựa trên nền tảng các BVCL được quyền tự quyết định việc huy động, phân bổ và
sử dụng các nguồn tài chính, đảm bảo cân đối thu chi tích cực, không ngừng mở rộng và phát triển hoạt động, thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ được giao
2.1.2.2 Nội dung của cơ chế TCTC
Nhà nước giao quyền TCTC cho từng nhóm BVCL cụ thể, theo các quy định
về tài chính bệnh viện Những quy định này tạo cơ sở pháp lý để BVCL thực hiện
tự chủ đối với các khoản thu, mức thu và sử dụng nguồn tài chính cho chi hoạt động thường xuyên
Theo Chính phủ (2006), quyền tự chủ về khoản thu, mức thu bao gồm:Thu khám bệnh, chữa bệnh và thanh toán thể BHYT theo khung giá do Bộ Y tế quy định Khung giá được điều chỉnh theo lộ trình, tiến tới tính đúng, tính đủ, có tích lũy hợp lý các yếu tố chi phí trong khung giá; Thu các khoản lệ phí, phí theo quy định của Nhà nước về mức thu, đối tượng thu; Thu phí các hàng hoá, dịch vụ do Nhà nước đặt hàng theo mức giá quy định của cơ quan Nhà nước; Thu đối với các hoạt động dịch vụ, liên doanh, liên kết theo hợp đồng với các cá nhân, tổ chức
Trong quá trình sử dụng nguồn chi hoạt động thường xuyên: căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ của mình, BVCL được quyền chủ động chi hoạt động thường xuyên; các hoạt động dịch vụ, thu phí, lệ phí đều được chủ động chi; TSCĐ được
Trang 18thu khấu hao để bệnh viện chi duy tu, bảo dưỡng, đầu tư máy móc, thiết bị chuyên môn Còn thu khấu hao TSCĐ từ nguồn vốn vay được sử dụng để chi trả cả gốc và lãi tiền vay; Các khoản chi cho chuyên môn, chi quản lý thì bệnh viện được quyết định mức chi có thể cao hơn hoặc thấp hơn quy định căn cứ vào tình hình tài chính thực tế của đơn vị; Người đứng đầu bệnh viện quyết định kinh phí chi thường xuyên
sẽ được sử dụng một phần để nâng cao chuyên môn thông qua tập huấn, đào tạo, mua sắm trang thiết bị, nâng cao năng lực để phục vụ người bệnh (Chính phủ 2006) Trong năm tài chính bệnh viện sử dụng phần chênh lệch thu - chi để trích lập các quỹ: quỹ khen thưởng, phúc lợi; quỹ phát triển sự nghiệp; quỹ thu nhập tăng thêm và dự phòng ổn định thu nhập (Chính phủ, 2006)
2.1.3 Vai trò, sự cần thiết của TCTC tại bệnh viện công lập
Cơ chế TCTC là yêu cầu tất yếu khi thực hiện cơ chế thị trường (Trần Thế Cương, 2016) Cơ chế TCTC tạo hành lang pháp lý cho quá trình hoạt động BVCL
Nó bao gồm hệ thống các Nghị định,Thông tư, Quyết định và các văn bản luật khác v.v tạo cho các đơn vị công lập có cơ sở hoạt động
Thông qua cơ chế TCTC, Nhà nước sử dụng các nguồn tài chính đáp ứng duy trì hoạt động và phát triển của đơn vị, thúc đẩy các đơn vị sử dụng kinh phí tiết kiệm và hiệu quả
Cơ chế TCTC làm tăng tính chủ động và ý thức tự chịu trách nhiệm trong hoạt động của các đơn vị BVCL Khi thực hiện TCTC, BVCL sẽ chú trọng vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh Do đó, kích thích sự sáng tạo trong cách nghĩ và cách làm của từng cán bộ, nhân viên Đồng thời, thủ trưởng đơn vị cần phải phát huy khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân để hoàn thành nhiệm vụ chung Tuy nhiên, trao quyền tự chủ không đồng nghĩa với trao quyền tự do Quyền hạn đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm Cơ chế TCTC còn bao hàm vai trò kiểm tra, giám sát của các cơ quan Nhà nước đối với các BVCL Các cơ quan chức năng xử
lý vi phạm căn cứ vào các quy định về kiểm tra, giám sát vì nó giúp mỗi BVCL hình thành ý thức tự chịu trách nhiệm
2.1.4 Điều kiện và nội dung thực hiện TCTC một phần tại BVCL
Trang 19Phân loại đơn vị sự nghiệp căn cứ vào mức tự bảo đảm chi phí hoạt động như sau (Chính phủ, 2016):
BVCL tự bảo đảm toàn bộ kinh phí thường xuyên, chi đầu tư (gọi tắt là TCTC toàn bộ): Là cơ sở có khoản thu tự đảm bảo toàn bộ cho chi thường xuyên và chi đầu tư, NSNN không phải cấp thêm kinh phí hoạt động cho BVCL, mức tự đảm bảo chi phí hoạt động bằng hoặc lớn hơn 100%
BVCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên (gọi tắt là TCTC một phần) do chưa kết cấu đủ chi phí từ giá, phí dịch vụ sự nghiệp công nên đây là cơ sở mà nguồn thu sự nghiệp chưa tự trang trải toàn bộ chi phí hoạt động thường xuyên, mức tự đảm bảo chi thường xuyên của BVCL từ 10% đến dưới 100%
BVCL do NSNN tài trợ chi phí hoạt động: là đơn vị không có nguồn thu SNYT Do đó, nếu mức tự đảm bảo chi thường xuyên từ 10% trở xuống thì sẽ đảm bảo toàn bộ kinh phí hoạt động từ NSNN
Công thức xác định mức độ TCTC của BVCL (Bộ Tài chính, 2006):
Mức độ TCTC = Tổng thu SNYT x 100% (2.1)
Tổng chi hoạt động thường xuyên Như vậy, BVCL được xem là TCTC một phần khi thỏa mãn điều kiện mức độ
tự bảo đảm chi thường xuyên trên 10% đến dưới 100%
Theo Chính phủ (2015), đối với TCTC một phần, thì nguồn tài chính của BVCL được sử dụng như sau:
Về nguồn thu và tạo nguồn thu của BVCL
Đối với nguồn thu của BVCL, mức độ tự chủ cũng khác nhau tùy thuộc vào việc BVCL được xếp vào nhóm nào trong 4 nhóm đã phân tích ở trên Theo Điều
12 NĐ 16, nguồn thu của ĐVSNCL tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên và nguồn thu của ĐVSNCL tự bảo đảm chi thường xuyên bao gồm:
Một là, nguồn thu từ hoạt động dịch vụ sự nghiệp công, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước đặt hàng cung cấp dịch vụ sự nghiệp công theo giá tính đủ chi phí Đây được xem là nguồn thu chủ yếu, quan trọng nhất, thể hiện rõ bản chất ĐVSNCL Tuy nhiên, nguồn thu này đòi hỏi phải xác định được mức độ cung cấp
Trang 20dịch vụ y tế và chi phí thực hiện theo đơn giá do nhà nước quy định
Hai là, nguồn thu phí theo pháp luật về phí, lệ phí được để lại chi theo quy định (phần được để lại chi thường xuyên và chi mua sắm, sửa chữa lớn trang thiết
bị, tài sản phục vụ công tác thu phí) Đây cũng là nguồn thu quan trọng, nhưng chỉ mang tính chất bù đắp cho hoạt động tổ chức thu viện phí theo quy định của pháp luật
Ba là, nguồn thu khác theo quy định của pháp luật (nếu có) Ví dụ các khoản thu có được từ việc thực hiện các dịch vụ kèm theo dịch vụ y tế, bán thuốc và những hoạt động khác Nếu BVCL có khả năng mở rộng các loại hình dịch vụ để phục vụ người bệnh, trên cơ sở đảm bảo thực hiện tốt chức năng khám bệnh, chữa bệnh theo quy định, thì đây sẽ là một nguồn thu đáng kể dành cho bệnh viện
Bốn là, nguồn ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao v.v
Năm là, nguồn vốn vay, viện trợ, tài trợ theo quy định của pháp luật Đối với BVCL tự đảm bảo cả chi đầu tư và chi thường xuyên, nguồn thu này có vai trò quan trọng để đổi mới, nâng cao chất lượng dịch vụ y tế phục vụ người bệnh Ban lãnh đạo bệnh viện sẽ có cơ hội và trách nhiệm thu hút những nguồn thu này và đồng thời sử dụng chúng một cách có hiệu quả nhất Theo Điều 9 NĐ 85, những nguồn thu này bao gồm:
- Vốn tín dụng đầu tư của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy định về tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu của Nhà nước
- Vốn vay các tổ chức tín dụng khác theo quy định của pháp luật;
- Vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và phi chính phủ nước ngoài (NGO) theo quyết định của cấp có thẩm quyền (nếu có);
Trang 21- Vốn huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật: Đơn vị chỉ được huy động để đầu tư cho các dự án đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt theo phương thức trả lãi với lãi suất thỏa thuận tối đa không quá 150% mức lãi suất
cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm vay;
- Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp của đơn vị;
- Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật;
- Vốn nhà nước hỗ trợ khi cần khuyến khích phát triển kỹ thuật, công nghệ mới mà đơn vị được yêu cầu tham gia thực hiện và hỗ trợ vốn đầu tư theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt Tài sản sau khi kết thúc dự án được Nhà nước giao cho đơn vị quản lý, sử dụng theo quy định pháp luật quản lý, sử dụng tài sản nhà nước
Về nhiệm vụ chi thường xuyên:
Đối với chi thường xuyên của BVCL tự bảo đảm một phần chi thường xuyên, đơn vị cũng sử dụng nguồn tương tự như đối với bệnh viện nhóm 1 và nhóm 2 để chi:
- Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định; trường hợp còn thiếu, ngân sách nhà nước cấp bổ sung
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Căn cứ vào nhiệm vụ được giao và khả năng nguồn tài chính, đơn vị được quyết định mức chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý, nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Đối với chi thường xuyên của BVCL do nhà nước bảo đảm một phần chi thường xuyên, nguồn để chi và nội dung chi theo quy định của NĐ 16 cũng hạn hẹp hơn, theo đó đơn vị được sử dụng nguồn tài chính giao tự chủ gồm nguồn ngân sách nhà nước cấp chi thường xuyên trên cơ sở số lượng người làm việc và định mức phân bổ dự toán được cấp có thẩm quyền phê duyệt và nguồn thu khác (nếu có) để chi, cụ thể như sau:
Trang 22- Chi tiền lương: Đơn vị chi trả tiền lương theo lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp do Nhà nước quy định đối với đơn vị sự nghiệp công Khi Nhà nước điều chỉnh tiền lương, đơn vị tự bảo đảm tiền lương tăng thêm từ các nguồn theo quy định, bao gồm cả nguồn ngân sách nhà nước cấp bổ sung;
- Chi hoạt động chuyên môn, chi quản lý: Đơn vị được quyết định mức chi nhưng tối đa không vượt quá mức chi do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định
Đối với chi không thường xuyên, pháp luật cũng có quy định khác nhau về quyền tự chủ Về nguyên tắc, hoạt động chi không thường xuyên phải tuân theo các quy định của pháp luật có liên quan như Luật Ngân sách nhà nước, Luật Đầu tư công, Luật Đấu thầu, v.v
Đối với bệnh viện tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên thì hoạt động chi không thường xuyên bao gồm chi đầu tư và chi không thường xuyên khác Khoản 2 Điều 12 NĐ 16 quy định, bệnh viện tự bảo đảm chi đầu tư và chi thường xuyên được chi đầu tư từ Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp, ngu ngân sách nhà nước cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), nguồn vốn vay và các nguồn tài chính hợp pháp khác
Nguồn NSNN cấp cho các nhiệm vụ không thường xuyên (nếu có), gồm: Kinh phí thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với đơn vị không phải là tổ chức khoa học công nghệ); kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia; chương trình, dự án, đề án khác; kinh phí đối ứng thực hiện các dự án theo quyết định của cấp có thẩm quyền; vốn đầu tư phát triển; kinh phí mua sắm trang thiết bị phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt; kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cơ quan có thẩm quyền giao
Căn cứ nhu cầu đầu tư và khả năng cân đối các nguồn tài chính, đơn vị chủ động xây dựng danh mục các dự án đầu tư, báo cáo cơ quan có thẩm quyền phê duyệt Trên cơ sở danh mục dự án đầu tư đã được phê duyệt, đơn vị quyết định dự
án đầu tư, bao gồm các nội dung về quy mô, phương án xây dựng, tổng mức vốn, nguồn vốn, phân kỳ thời gian triển khai theo quy định của pháp luật về đầu tư Đơn
Trang 23vị sự nghiệp công được vay vốn tín dụng ưu đãi của Nhà nước hoặc được hỗ trợ lãi suất cho các dự án đầu tư sử dụng vốn vay của các tổ chức tín dụng theo quy định Bên cạnh đó, căn cứ yêu cầu phát triển của đơn vị, nhà nước xem xét bố trí vốn cho các dự án đầu tư đang triển khai, các dự án đầu tư khác theo quyết định của cấp có thẩm quyền
Về phân phối kết quả tài chính (chênh lệch thu - chi):
- Trích tối thiểu 15% cho quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Quỹ bổ sung thu nhập được trích lập theo quy định Nhà nước không quá 2 lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ và các khoản phụ cấp lương;
- Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi được trích lập không quá 2 tháng tiền lương, tiền công thực hiện trong năm của đơn vị;
- Quỹ khác được trích lập theo quy định;
- Sau khi đã trích lập các quỹ thì phần chênh lệch thu lớn hơn chi còn lại (nếu có) được bổ sung vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp
Trong trường hợp chênh lệch thu - chi bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương ngạch, bậc, chức vụ thực hiện trong năm, BVCL được quyết định sử dụng nguồn tiền theo trình tự sau: Trích Quỹ bổ sung thu nhập; Quỹ phát triển hoạt động
sự nghiệp, Quỹ khen thưởng phúc lợi, Quỹ khác (nếu có)
2.1.5 Ảnh hưởng của TCTC đối với BVCL
2.1.5.1 Mặt tích cực
Một là, BVCL được chủ động lập dự toán thu chi tài chính, tự chịu trách nhiệm về tài chính, kiểm soát kịp thời tất cả các khoản thu chi, không còn xin điều chỉnh kế hoạch, hay xin thêm NSNN Từ đó, thay đổi tư duy quản lý kinh tế sang cơ chế hạch toán kinh tế Chủ động mở thêm nhiều loại DVYT, làm tăng nguồn thu SNYT, chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong tổng thu Từ đó làm giảm nguồn kinh phí do NSNN cấp
Hai là, để đảm bảo cân đối thu - chi, các BVCL phải tính toán chặt chẽ, tiết kiệm các khoản chi Đồng thời, tạo nguồn đầu tư phát triển và bổ sung thu nhập, nâng cao đời sống cho đội ngũ cán bộ quản lý, bác sĩ, nhân viên y tế tại bệnh viện
Trang 24Ba là, TCTC đi kèm với việc minh bạch, công khai tài chính giúp tăng cường
sự giám sát của tập thể người lao động đối với quản lý tài chính bệnh viện Từ đó, giúp tiết kiệm chi phí, chống lãng phí thất thoát và kết quả cuối cùng là nâng cao hiệu quả tài chính bệnh viện
2.1.5.2 Mặt tiêu cực
Dưới áp lực phải đảm bảo cân đối thu - chi ngày càng tăng, bệnh viện có thể lạm dụng các DVYT giá trị cao Từ đó, gây lãng phí cho bệnh nhân và xã hội do làm tăng chi phí khám, điều trị
Bệnh viện ở tuyến trên, có quy mô lớn, chuyên môn cao sẽ mở rộng thêm các DVYT chuyên sâu, có nguồn thu lớn, dễ dàng đảm bảo chi hoạt động thường xuyên
và đầu tư phát triển, nâng cao thu nhập cho người lao động, dễ thu hút được thầy thuốc giỏi, chuyên môn cao Ngược lại, các BVCL ở các tuyến dưới không có khả năng thực hiện TCTC, tiếp tục phụ thuộc vào NSNN, cơ sở vật chất yếu kém, người lao động có thu nhập thấp, không yên tâm công tác
Một số BVCL cắt giảm các khoản chi bằng những biện pháp tiêu cực, chẳng hạn như hạn chế sinh viên thực tập, cho xuất viện sớm đối với các trường hợp BHYT thanh toán thấp, hoặc cắt giảm chi nghiên cứu, ứng dụng y học tiên tiến Từ
đó, dẫn đến giảm chất lượng DVYT
2.1.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế TCTC một phần tại BVCL
Thực hiệnTCTC một phần tại BVCL chịu ảnh hưởng các nhân tố tác động từ bên ngoài và nhân tố bên trong Cụ thể:
Một là, chủ trương, chính sách của Nhà nước về đổi mới cơ chế tài chính trong lĩnh vực y tế Chăm sóc, nâng cao sức khoẻ người dân là quốc sách hàng đầu Nghề
y là nghề đặc biệt cần tuyển chọn, chính sách và đãi ngộ đặc biệt Đổi mới tài chính BVCL theo cơ chế TCTC nhưng phải phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao, đồng thời tăng cường vai trò quản lý Nhà nước về giá cả và chất lượng DVYT Hai là, pháp luật liên quan đến TCTC đối với BVCL Hệ thống pháp luật liên quan đến TCTC gồm có bảo hiểm y tế, khám chữa bệnh, quy định về quyền TCTC, giá dịch vụ khám, chữa bệnh tại các BVCL Hệ thống pháp luật càng hoàn chỉnh,
Trang 25càng khả thi thì hiệu lực thực thi quyền TCTC của BVCL càng cao
Ba là, sự phát triển của thị trường DVYT Thị trường DVYT là loại thị trường đặc biệt Trước hết nó cũng như các loại thị trường khác là có người mua (người sử dụng DVYT) người bán (người cung cấp DVYT), có quan hệ cung - cầu, cạnh tranh
và giá cả DVYT Quan hệ trao đổi giữa người cung cấp DVYT và người sử dụng không giống quan hệ mua bán hàng hoá thông thường ở chỗ là bản thân người cung cấp và người sử dụng không biết chắc chắn dịch vụ đó có đáp ứng nhu cầu hay không Vì vậy, người thầy thuốc làm việc không chỉ là trách nhiệm đối với xã hội
mà quan trọng hơn là đạo đức lương tâm nghề nghiệp Do vậy, thị trường DVYT bắt buộc phải có sự quản lý, kiểm soát chặt chẽ của Nhà nước
Bốn là, năng lực quản lý nhà nước trong lĩnh vực tài chính BVCL Giao quyền TCTC cho BVCL thực chất là tách chức năng quản lý nhà nước về tài chính y tế ra khỏi quản trị tài chính của BVCL Nhà nước tạo cơ chế, chính sách để BVCL thực hiện quyền TCTC của mình Nhà nước thực hiện chức năng giám sát, kiểm tra quá trình BVCL thực hiện cơ chế TCTC Nhờ vậy, có thể kịp thời phát hiện những mặt còn bất cập, thiếu hoàn thiện và chưa chấp hành đầy đủ những quy định của pháp luật, để tiếp tục sửa đổi, bổ sung và hoàn chỉnh mở rộng TCTC đối với BVCL Năng lực quản lý Nhà nước tác động trực tiếp đến định hướng, mục tiêu, kết quả, lộ trình thực hiện mở rộng TCTC của BVCL
Năm là, khả năng thực hiện TCTC và trình độ quản trị của BVCL Các BVCL đều thuộc sở hữu Nhà nước, được quản lý chuyên môn thống nhất từ trung ương đến địa phương Thực hiện TCTC để hoạt động của BVCL tuân theo cơ chế thị trường, theo mô hình quản trị doanh nghiệp Tuy mục đích hoạt động không vì lợi nhuận, nhưng là đơn vị kinh tế tự chủ thì BVCL phải mở rộng quy mô và nâng cao chất lượng DVYT, tăng thêm nguồn thu, hạ thấp hợp lý chi phí nhằm tăng thu nhập cho bệnh viện và tăng thu nhập cho đội ngũ cán bộ quản lý, bác sĩ, nhân viên của bệnh viện Như vậy, khả năng thực hiện TCTC và trình độ quản trị của BVCL là các nhân tố bên trong có ảnh hưởng đáng kể đến TCTC tại BVCL
2.2 Các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài
Trang 262.2.1 Các nghiên cứu ở nước ngoài
Kumar và cộng sự (2011), đã tiến hành nghiên cứu tài chính bệnh viện ở Ấn
Độ Kết quả cho thấy, hệ thống tài chính y tế yếu kém là nguyên nhân làm trầm trọng thêm các thách thức về sự bất bình đẳng trong lĩnh vực y tế, dịch vụ y tế chất lượng kém và tốn kém Chi tiêu công không đủ dẫn đến chi phí do bệnh nhân tự trả tại Ấn Độ thuộc hàng cao nhất trên thế giới với chỉ 10% dân số có BHYT Giải pháp cho vấn đề này là kết hợp đồng thời việc tăng chi tiêu công cho lĩnh vực chăm sóc sức khỏe từ NSNN với việc giao quyền TCTC cho các BVCL Điều này giúp cải thiện hiệu suất hoạt động của hệ thống BVCL
Isnurini (2012), nghiên cứu về tính bền vững tài chính tại các BVCL đã áp
dụng TCTC ở Indonesia Mục tiêu là phân tích lợi ích của sự TCTC đối với hiệu quả tài chính và tính bền vững của BVCL bao gồm sự độc lập của BVCL đối với NSNN Các tỷ số tài chính để đo lường hiệu suất và tính bền vững của BVCL trong giai đoạn 2006-2010 Các chỉ số tài chính được sử dụng là tỷ suất hoạt động, tỷ số thanh toán hiện hành, tỷ lệ tiền mặt, tỷ lệ vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản, tỷ lệ vòng quay tổng tài sản và tỷ lệ vòng quay tài sản cố định
Kết quả cho thấy, triển khai cơ chế TCTC đã cung cấp cho BVCL sự linh hoạt trong quản lý tài chính, cho phép bệnh viện sử dụng nguồn thu từ hoạt động mà không cần phải nộp vào NSNN Tuy nhiên, kết quả cho thấy, cơ chế TCTC không giúp bệnh viện cải thiện hiệu quả tài chính cũng như tính bền vững tài chính
Ying và cộng sự (2012), đã tiến hành nghiên cứu về sự tăng lên của chi phí y
tế ở Trung Quốc Kết quả cho thấy, sự thay đổi trong triết lý từ phúc lợi xã hội và hàng hóa công cộng sang hàng hóa thị trường đã thiết lập một nền tảng cho những thay đổi chính sách quan trọng trong chăm sóc sức khỏe Sự sụt giảm mạnh trợ cấp của chính phủ về chăm sóc sức khỏe và việc áp dụng BHYT theo cơ chế thị trường
đã dẫn đến tăng vọt trong chi tiêu y tế Các bệnh viện hướng đến lợi nhuận, cùng với sự thiếu các quy định hiệu quả của chính phủ trong cả y tế và thị trường dược phẩm, đã tạo ra sự thiếu hiệu quả to lớn trong hệ thống chăm sóc sức khỏe
Theo Ying và cộng sự (2012), tăng cường vai trò của chính phủ trong tài trợ y
Trang 27tế và cải cách các cơ chế thị trường hiện tại là những giải pháp quan trọng TCTC tại các BVCL cần xác định lộ trình khác nhau cho các cấp độ và loại bệnh viện khác nhau Trong một số trường hợp, NSNN cần hỗ trợ để các BVCL không phụ thuộc vào doanh thu dựa trên DVYT để doanh thu đủ bù đắp chi phí
Chen (2013), nghiên cứu về TCTC tại BVCL ở Trung Quốc BVCL ở Trung
Quốc được phân thành 3 loại: bệnh viện phụ thuộc vào NSNN; bệnh viện tự chủ; bệnh viện hợp tác công tư Mỗi loại bệnh viện có mức độ TCTC khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy, quá trình TCTC ở Trung Quốc diễn ra trong giai đoạn từ 1978
- 2008, đã làm thay đổi cơ cấu tài chính y tế giữa chi y tế của cá nhân, chi cho y tế của Chính phủ, chi cho y tế của xã hội tại Trung Quốc, đã làm tăng quyền quyết định, khả năng tiếp cận thị trường, trách nhiệm và chức năng xã hội của bệnh viện
Sự dịch chuyển theo hướng chuyển đổi từ bệnh viện phụ thuộc vào NSNN sang bệnh viện tự chủ, bệnh viện kết hợp công tư và bệnh viện tư nhân
Ikegami (2013), nghiên cứu về TCTC đối với bệnh viện tại Nhật Bản Kết quả
nghiên cứu cho thấy, BVCL đã hoạt động hiệu quả hơn sau khi thực hiện TCTC, thể hiện ở các tiêu chí về nhân sự, ngân sách, lợi nhuận đều tăng trưởng (Bảng 2.1)
Bảng 2.1: Kết quả sau cải cách ở BVCL tại Nhật Bản
Tiêu chí Trước cải cách Sau cải cách
Số lượng nhân sự Cơ quan Nhà nước Cơ quan Nhà nước và có sự
linh hoạt Mức lương Dựa vào thâm niên Dựa vào thành tích, kết quả
công việc Thuê nhân sự Bộ Y tế phê duyệt Quyết định của Giám đốc
bệnh viện Kinh phí hoạt
động
Tất cả nguồn thu về Nhà nước, Nhà nước cấp lại kinh phí cho bệnh viện
Tất cả nguồn thu do bệnh viện quản lý, không có trợ cấp của Nhà nước
Quyết định đầu tư Bộ phê duyệt Hội đồng quản trị, Giám đốc
Lợi nhuận Thua lỗ Có lợi nhuận
Nguồn: Ikegami (2013)
2.2.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Trang 28Nguyễn Trường Giang (2003), nghiên cứu về cơ chế quản lý chi NSNN
trong lĩnh vực y tế theo nguyên tắc thị trường Kết quả nghiên cứu đã làm rõ được tính chất hàng hoá công cộng của các hoạt động y tế dự phòng; đảm bảo phúc lợi xã hội thông qua chính sách hỗ trợ người dân trong việc tiếp cận dịch vụ khám chữa bệnh; quyền được tiếp cận những DVYT cơ bản đối với bênh nhân nghèo và các bệnh nhân thuộc diện chính sách - xã hội
Trên cơ sở đánh giá được những đặc điểm, điều kiện đặc thù của hoạt động y
tế trong nền kinh tế thị trường (bao gồm cả y tế dự phòng và khám chữa bệnh), tác giả đã làm rõ được bản chất của vấn đề vì sao cần phải có chính sách để Nhà nước quản lý và can thiệp, không thả nổi cho thị trường Đồng thời, đã đi sâu nghiên cứu
về quỹ bảo hiểm y tế, là một định chế tài chính trung gian - công cụ rất quan trọng
để Nhà nước can thiệp vào lĩnh vực tài chính y tế, nhằm phát huy hết các nguồn lực phát triển SNYT, đảm bảo ngày càng tốt hơn yêu cầu nâng cao chất lượng công tác phòng, khám và chữa bệnh phục vụ người dân
Ngân hàng thế giới (2011), nghiên cứu về TCTC tại Bệnh viện ở Việt Nam
Khảo sát với mẫu 18 BVCL, gồm 3 đơn vị TCTC toàn bộ chi phí thường xuyên, 14 bệnh viện thực hiện TCTC một phần và 1 bệnh viện dựa hoàn toàn vào NSNN Kết quả cho thấy, cơ chế TCTC đã mang lại những thay đổi tích cực, bao gồm:
Nguồn thu của các bệnh viện tăng nhanh (nguồn thu năm 2008 tăng 1,8 lần so với năm 2005 tại bệnh việnTCTC toàn bộ; tăng 3,0 lần tại bệnh viện tuyến trung ương; tăng 2,9 lần tại bệnh viện tuyến tỉnh và 2,5 lần ở bệnh viện tuyến huyện) NSNN cấp cho chi thường xuyên của các bệnh viện giảm 2,7 lần
Tăng công suất (so năm 2008 so với năm 2005: tăng 25% tại các bệnh việnTCTC toàn bộ, tại bệnh viện tuyến trung ương tăng 17%, tại bệnh viện tuyến tỉnh tăng 14%, và tăng 16% tại tuyến huyện) Thu nhập người lao động ở bệnh viện tuyến trung ương tăng 1,7 lần; ở các bệnh viện tuyến tỉnh tăng 3 lần và ở bệnh viện tuyến huyện tăng 3,5 lần
Tuy nhiên, thực hiện TCTC đã làm xuất hiện một số tác động tiêu cực gồm: Nguồn nhân lực dịch chuyển từ bệnh viện tuyến dưới lên tuyến trên, từ nông thôn
Trang 29lên thành thị ngày càng trầm trọng dẫn đến thiếu hụt cán bộ y tế ở khu vực nông thôn Tình trạng quá tải bệnh viện ngày càng tăng cao
Nguyễn Thị Hồng Hạnh (2013), nghiên cứu về TCTC một phần tại Bệnh
viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc giao quyền TCTC một phần cho Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Ninh phù hợp với xu thế phát triển Bệnh viện đã chủ động trong việc tăng thu SNYT và các nguồn thu hợp pháp khác Bệnh viện chủ động điều chỉnh một số khoản chi, nâng cao hiệu quả chi tiêu phù hợp Mặt khác, việc tiết kiệm chi được tiến hành mạnh mẽ đã hạn chế được tình trạng lãng phí Bệnh viện có điều kiện phát huy khả năng của mình, tăng thu, tiết kiệm chi, CBNV được chi trả thu nhập tăng thêm nên đã góp phần gia tăng động lực làm việc, hoàn thành tốt chuyên môn
Trần Thế Cương (2016), nghiên cứu về mở rộng TCTC đối với BVCL ở Việt
Nam Nghiên cứu đã sử dụng các tiêu chí định lượng liên quan đến biến đổi cơ cấu nguồn thu (tỷ lệ kinh phí NSNN/Tổng nguồn thu; tốc độ giảm kinh phí NSNN hàng năm; tỷ lệ thu SNYT/ Tổng nguồn thu; Tốc độ tăng nguồn thu từ SNYT qua các năm) và tiêu chí liên quan đến cơ cấu chi (Tỷ lệ giữa chi phí thường xuyên/Tổng các khoản chi hàng năm của bệnh viện; Tốc độ tăng chi phí hoạt động thường xuyên qua các năm) để đánh giá TCTC của BVCL
Nghiên cứu đã khảo sát tại 15 BVCL tại thành phố Hà Nội gồm: 2 bệnh viện TCTC toàn bộ; 10 bệnh việnTCTC một phần; và 3 bệnh viện phụ thuộc hoàn toàn vào NSNN Kết quả cho thấy, TCTC đã làm thay đổi cơ cấu nguồn thu theo hướng giảm nguồn kinh phí NSNN cấp cho hoạt động của các bệnh viện Sử dụng có hiệu quả, tiết kiệm các nguồn kinh phí để phát triển hoạt động sự nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động
2.2.3 Đánh giá tổng quan tài liệu
Trên cơ sở lược khảo các nghiên cứu trước có liên quan, tác giả có một số nhận xét như sau:
Một là, cơ chế TCTC giúp cho các BVCL năng động hơn trong cung cấp DVYT cho người dân Từ đó, làm tăng nguồn thu, giảm bớt phụ thuộc vào NSNN,
Trang 30tăng công suất khai thác, tăng thu nhập cho cán bộ y tế và nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh
Hai là, cơ chế TCTC là một hướng đi đúng đắn nhưng dẫn đến xung đột lợi ích giữa các bên và kết quả của nó phụ thuộc rất lớn vào việc thực thi và cấu trúc chính sách (Doshmangir và cộng sự, 2015) Ảnh hưởng tiêu cực của cơ chế TCTC
là làm cho bệnh viện tuyến trên quá tải và tình trạng lạm dụng các kỹ thuật điều trị Điều này làm cho chi phí y tế tăng cao, Trung Quốc là một ví dụ điển hình (Ying và cộng sự, 2012)
Ba là, để đo lường ảnh hưởng của cơ chế TCTC đến kết quả hoạt động của BVCL, kỹ thuật so sánh giữa thời điểm trước khi tham gia và thời điểm sau khi tham gia cơ chế TCTC (so sánh trước - sau) thường được sử dụng (Ngân hàng Thế giới, 2011; Trần Thế Cương, 2016) Các chỉ tiêu định lượng được sử dụng thường được sử dụng gồm có: nguồn thu, cơ cấu nguồn thu, thu nhập của cán bộ y tế (Ngân hàng Thế giới, 2011; Trần Thế Cương, 2016); Biến động về nhân sự (Ngân hàng Thế giới, 2011; Trần Thế Cương, 2016)
Tóm tắt Chương 2
Chương 2 trình bày các nội dung liên quan đến BVCL, cơ chế TCTC tại BVCL và những nhân tố ảnh hưởng hưởng TCTC một phần tại BVCL Chương này cũng lược khảo một số nghiên cứu ở Việt Nam và những nghiên cứu có liên quan ở ngoài nước để làm căn cứ quan trọng đưa ra một số nhận xét, làm cơ sở cho việc phân tích kết quả áp dụng cơ chế TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp ở chương tiếp theo
Trang 31Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 3.1 Tổng quan về Bệnh viện Phổi Đồng Tháp
3.1.1 Lịch sử hình thành
Bệnh viện phổi Đồng Tháp trực thuộc Sở Y tế Đồng Tháp, trụ sở đóng tại xã
Mỹ Thọ, huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp Bệnh viên có với quy mô 100 giường bệnh, diện tích chiếm đất 22.600m2 Trước năm 1989 - 1990: Khoa nội tổng hợp Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp có 5 giường dành riêng cho bệnh nhân lao Năm
1990 Khoa lao được thành lập với 7 giường
Cuối năm 1991 - 1996: Khoa lao được chuyển về Bệnh viện đa khoa tỉnh Đồng Tháp Số lượng giường tăng từ 15 giường tăng đến 35 giường Nhân sự: 10, Bác sĩ: 2, Y sĩ: 01, Điều dưỡng: 05, hộ lý: 02.Năm 1996 - 2011: Từ 35 giường tăng lên 80 giường bệnh Nhân sự: 13, Bác sĩ: 2, Điều dưỡng: 08, hộ lý: 03 Đến tháng
09 năm 2011: Thành lập Bệnh viện Phổi Đồng Tháp
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ
Bệnh viện Phổi Đồng Tháp có chức năng nhiệm vụ sau:
Cấp cứu - khám bệnh - chữa bệnh: Tiếp nhận cấp cứu, điều trị nội trú hoặc ngoại trú cho bệnh nhân từ các tuyến khác chuyển đến hoặc trực tiếp từ ngoài vào; thực hiện theo quy định của Nhà nước về việc tổ chức khám và chứng nhận sức khỏe; Bệnh viện chịu trách nhiệm giải quyết bệnh tật trong phạm vi nội tỉnh; Thực hiện chuyển người bệnh lên tuyến trên theo quy định Bệnh viện tổ chức giám định pháp y, khám giám định sức khỏe khi có yêu cầu từ các cơ quan Nhà nước;
Đào tạo cán bộ y tế: cán bộ y tế ở các bậc học sẽ được đào tạo, thực hành tại bệnh viện; Liên tục đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn cho các CBNV tại bệnh viện và các tuyến dưới
Nghiên cứu các đề tài y học cấp Nhà nước, cấp tỉnh hoặc cấp cơ sở Nghiên cứu kết hợp y học hiện đại với y học cổ truyền và điều trị bằng các phương pháp không sử dụng thuốc; Chăm sóc sức khỏe cộng đồng; Phát triển kỹ thuật thông qua liên kết với các bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện tuyến trung ương
Trang 32Chỉ đạo bệnh viện tuyến dưới phát triển kỹ thuật chuyên môn; Kết hợp với bệnh viện tuyến dưới trong phạm vi tỉnh Đồng Tháp nhằm thực hiện các chương trình về chăm sóc sức khỏe ban đầu
Phòng bệnh: thường xuyên phối hợp với các cơ sở y tế dự phòng thực hiện phòng trừ dịch bệnh
Hợp tác quốc tế: Hợp tác với các tổ chức, cá nhân ở ngoài nước theo quy định của Nhà nước
3.1.3 Cơ cấu tổ chức
Bệnh viện Phổi Đồng Tháp được xây dựng theo mô hình: Ban Giám đốc bệnh viện là cấp cao nhất; khoa là cấp quản lý chuyên môn; Các phòng ban là bộ phận tham mưu cho ban Giám đốc bệnh viện về công tác kế hoạch đào tạo, chỉ đạo tuyến, nghiên cứu khoa học và các mặt quản lý khác
Hình 3.1: Sơ đồ tổ chức Bệnh viện Phổi Đồng Tháp
Nguồn: Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (2018)
Bệnh viện có 11 khoa lâm sàng, cận lân sàng và 4 phòng chức năng.Theo bảng 3.1, nguồn nhân lực của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp khá ổn định, năm 2016 toàn bệnh viện có tất cả 160 cán bộ nhân viên, năm 2017 có 158 người và năm 2018 có
162 người
Theo hợp đồng lao động: Năm 2016 toàn bệnh viện có 121 viên chức nhà nước, 4 lao động theo hợp đồng, 35 lao động theo hợp đồng chuyên môn khác; Năm
Trang 332017 có 119 viên chức nhà nước, 13 lao động theo hợp đồng, 26 lao động theo hợp đồng chuyên môn khác; Năm 2018 có 126 viên chức nhà nước, 17 lao động theo hợp đồng, 19 lao động theo hợp đồng chuyên môn khác
Bảng 3.1: Nguồn nhân lực của bệnh viện giai đoạn 2016 - 2018
Nguồn: Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (2016, 2017, 2018)
Theo trình độ: Năm 2016 có 6 người trình độ sau đại học, 30 người trình độ đại học, 10 người trình độ cao đẳng, 97 người trình độ trung cấp, 8 người trình độ
sơ cấp; 1 hộ lý và 8 người trình độ khác; Năm 2017, trình độ cán bộ nhân viên có sự nâng cấp rõ rệt cụ thể có 7 người sau đại học, 34 người đại học Năm 2018, cán bộ nhân viên tiếp tục nâng cấp lên các trình độ cao hơn cụ thể có 7 người trình độ sau đại học, 44 người trình độ đại học, 14 người trình độ cao đẳng
Trang 34Theo giới tính: Năm 2016 có 62 cán bộ nhân viên nam, 98 cán bộ nhân viên nữ; Năm 2017 có 65 cán bộ nhân viên nam, 93 cán bộ nhân viên nữ; Năm 2018 có
67 cán bộ nhân viên nam, 95 cán bộ nhân viên nữ
Theo thâm niên: Năm 2016 có 27 người có thâm niên dưới 5 năm, có 79 người
có thâm niêm từ 5 đến dưới 10 năm và có 54 người có thâm niên trên 10 năm; Năm
2017 có 29 người có thâm niên dưới 5 năm, có 76 người có thâm niêm từ 5 đến dưới 10 năm và có 53 người có thâm niên trên 10 năm; Năm 2018 có 48 người có thâm niên dưới 5 năm, có 62 người có thâm niêm từ 5 đến dưới 10 năm và có 52 người có thâm niên trên 10 năm
3.1.4 Công tác chuẩn bị của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp để chuyển sang
Quá trình chuẩn bị các điều kiện cần thiết để chuyển sang TCTC tại tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp khá tốt, thể hiện như sau:
Thứ nhất, Sở Y tế đã giao tự chủ tài chính cho Bệnh viện theo loại hình tự đảm bảo một phần kinh phí hoạt động thường xuyên, phù hợp với khả năng tài chính của đơn vị trong điều kiện giá, phí dịch vụ khám, chữa bệnh chưa kết cấu đủ chi phí, được Nhà nước giao nhiệm vụ cung cấp dịch vụ khám, chữa bệnh chuyên khoa về lao, phổi cho người dân tỉnh Đồng Tháp và các tỉnh lân cận
Căn cứ Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/04/2006, Nghị định số 16/2015/NĐ-CP ngày 14/2/2015 của chính phủ; Thông tư hướng dẫn số 71/2006/TT-BTC ngày 09/08/2006 của Bộ Tài chính về TCTC đối với đơn vị sự
Trang 35nghiệp công lập, các văn bản quy định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, chuẩn mực của người lao động đã được Bệnh viện Phổi Đồng Tháp đã ban hành.
Thứ hai, về cơ sở vật chất Bệnh viện Phổi Đồng Tháp đã được xây dựng trụ
sở làm việc, phòng khám bệnh khang trang từ năm 2011 Trang thiết bị của bệnh viện đã được đầu tư mới, khá đồng bộ, phù hợp với quy mô bệnh viện tuyến tỉnh
Đủ đáp ứng cho nhu cầu của người dân tại tỉnh Đồng Tháp và các tỉnh lân cận Hàng năm, căn cứ vào tình hình thực tế, cơ sở vật chất, số lượng CBNV hiện có, Bệnh viện tiến hành xây dựng kế hoạch hoạt động phù hợp với thực tế
Thứ ba, về nguồn nhân lực tại đơn vị Đội ngũ quản lý của Bệnh viện đã có nhiều năm kinh nghiệm, được đào tạo chuyên sâu về tài chính Nhân sự làm công tác tài chính, kế toán, kế hoạch tổng hợp đều có bằng tốt nghiệp đại học chuyên ngành kế toán, kiểm toán, kinh tế Bệnh viện thực hiện quản lý tài chính theo hướng gọn nhẹ, hiệu quả Bệnh viện ban hành văn bản hướng dẫn cho CBNV về các quy trình thanh toán và thường xuyên cập nhật khi không còn phù hợp Bệnh viện đã đầu tư trang thiết bị và phần mềm kế toán áp dụng thống nhất Công tác hạch toán
kế toán được thực hiện theo Quyết định số 19/2006/QĐ-BTC về việc ban hành Chế
độ kế toán hành chính sự nghiệp
Thứ tư, về xây dựng và thực hiện chi tiêu nội bộ Bệnh viện luôn nhắm đến tính hiệu quả trong việc xây dựng quy chế chi tiêu nội bộ Nội dung của quy chế thể hiện rõ tiêu chuẩn, định mức các khoản chi tiền lương, phụ cấp và phúc lợi Định mức chi cho công tác quản lý, chi nghiệp vụ chuyên môn, chi mua sắm sửa chữa và trích lập các quỹ cũng được quy định cụ thể Ngoài ra, bệnh viện cũng xây dựng rất nhiều nội dung chi tiêu theo quy định hiện hành của nhà nước Các khoản chi tiêu đều được quản lý chặt chẽ, chỉ được thanh toán khi có đủ chứng từ, chữ ký, đúng định mức và quy chế chi tiêu nội bộ
Tiền lương, tiền công đều dựa trên bảng chấm công của từng khoa phòng đối chiếu với bảng chấm công Bảng kê chi phí khám chữa bệnh của bệnh nhân điều trị nội trú, ngoại trú tại các khoa phòng đều được nhân viên của Phòng TCKT kiểm tra chặt chẽ trước khi bệnh nhân thanh toán nhằm hạn chế tối đa sai sót Hoạt động
Trang 36kiểm soát tài chính được thực hiện thông qua cơ chế tự kiểm tra của nhân viên phòng tài chính kế toán, kế toán tổng hợp, kế toán trưởng, Ban Giám đốc Hiện tại, quy trình quản lý nguồn thu viện phí, BHYT dựa trên việc đối chiếu tay ba giữa kế toán tiền mặt, kế toán tổng hợp viện phí và kế toán ấn chỉ nên đã hạn chế hầu hết sai sót Thủ tục mua sắm tài sản, vật tư của từng phần hành kế toán cũng có sự kiểm tra của kế toán ngân hàng trước khi chuyển hồ sơ xuống kho bạc thanh toán Công tác giám sát tài chính còn được tiến hành định kỳ hoặc bất thường của ban thanh tra nhân dân Do vậy, các khoản chi tiêu đều bảo đảm công khai, minh bạch, có sự giám sát chặt chẽ
3.2 Kết quả thực hiện cơ chế TCTC một phần tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016 - 2018
3.2.1 Các nội dung khám chữa bệnh tại bệnh viện
Số lần khám bệnh trung bình tại Bệnh viện Phổi Đồng Tháp trong năm 2016 là 32.476 lần, năm 2017 là 30.662 lần và năm 2018 là 34.487 lần Điều trị ngoại trú năm 2016 là 494 người, năm 2017 là 130 người, và năm 2018 là 131 người
Bảng 3.2: Hoạt động khám bệnh về điều trị giai đoạn 2016 - 2018
1 Số lần khám bệnh (lần) 32.476 30.662 34.487
2 Số BN điều trị ngoại trú (người) 494 130 131
3 Số BN điều trị nội trú (người) 2.838 3.504 4.192
4 Tổng số ngày nằm viện (ngày) 29.799 56.064 58.688
5 Số ngày nằm viện TB 1 BN (ngày) 11 16 14
6 Năng suất sử dụng giường (ngày) 101 124 134
7 Số lượng giường bệnh (giường) thực kê 179 191 161
Nguồn: Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (2016, 2017, 2018)
Bệnh nhân điều trị nội trú chiếm số lượng rất lớn và tăng nhanh theo thời gian
Cụ thể, trong năm 2016 có 2.838 bệnh nhân điều trị nội trú tại bệnh viện; năm 2017
có 3.504 bệnh nhân và năm 2018 có 4.192 bệnh nhân Tổng số ngày nằm viện trong năm 2016 là 29.799 ngày, năm 2017 là 56.064 ngày và trong năm 2018 là 58.688 ngày
Trang 37Số ngày nằm viện trung bình của mỗi bệnh nhân là 11 ngày trong năm 2016,
16 ngày trong năm 2017, 14 ngày trong năm 2018
Công suất sử dụng giường bệnh tăng dần: năm 2016 là 101 ngày, năm 2017 là
124 ngày, năm 2018 là 134 ngày Số giường bệnh thực kê năm 2016 là 179 giường, trong năm 2017 là 191 giường và trong năm 2018 là 161 giường
Hình 3.2 cho thấy tỷ lệ chuyển viện là rất thấp và có xu hướng giảm, năm
2016 và 2017 là 9,7% và năm 2018 là 8,7% Tỷ lệ này càng thấp thể hiện rằng bệnh viện có năng lực chữa trị tốt để có thể chữa khỏi bệnh cho bệnh nhân mà không cần chuyển bệnh lên các tuyến trên
Tỷ lệ tử vong tại bệnh viện rất thấp, chỉ ở mức 0,20% trong 2016, năm 2017 là 0,10%, năm 2018 là 0,15% Điều này chứng tỏ Bệnh viện có khả năng điều trị tốt, ít
có trường hợp tử vong tại bệnh viện
Hình 3.2: Tỷ lệ chuyển viện và tỷ lệ tử vong giai đoạn 2016 - 2018
Nguồn: Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (2016, 2017, 2018)
3.2.2 Các nguồn thu của bệnh viện
Bảng 3.3 cho thấy nguồn thu của bệnh viện tăng dần qua các năm Năm 2016, tổng nguồn thu đạt 31.771 triệu đồng, trong đó nguồn thu từ NSNN đạt 9.452 triệu đồng (chiếm 29,8%) và các nguồn thu sự nghiệp, thu khác đạt 22.319 triệu đồng (chiếm 70,2%)
Năm 2017, tổng nguồn thu trong năm này cao hơn so với năm 2016, đạt 41.882 triệu đồng, trong đó nguồn thu từ NSNN đạt 8.558 triệu (chiếm 20,4%) và các nguồn thu sự nghiệp, thu khác đạt 33.324 triệu đồng (chiếm 79,6%)
Trang 38Năm 2018, tổng nguồn thu tăng nhẹ hơn so với năm trước đạt 44.655 đồng, trong đó nguồn thu từ NSNN đạt 6.515 triệu đồng (chiếm 14,6%) và các nguồn thu
sự nghiệp, thu khác đạt 38.140 triệu đồng (chiếm 85,4%)
Bảng 3.3: Nguồn thu của Bệnh viện Phổi Đồng Tháp giai đoạn 2016- 2018
Đvt: Triệu đồng
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Số tiền
Tỷ trọng (%)
Nguồn: Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (2016, 2017, 2018)
Nguồn thu từ kinh phí NSNN cấp: Căn cứ theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP thì nguồn kinh phí NSNN cấp cho các đơn vị y tế bao gồm nguồn kinh phí thường xuyên và kinh phí không thường xuyên Từ khi thực hiện theo chính sách TCTC thì nguồn kinh phí do NSNN cấp giảm đi rất nhiều Theo Hình 3.3, năm 2016, nguồn kinh phí thường xuyên được cấp là 8.743 triệu đồng và nguồn kinh phí không thường xuyên được cấp là 709 triệu đồng Năm 2017, nguồn kinh phí thường xuyên chỉ còn 7.903 triệu đồng và kinh phí không thường xuyên chỉ còn 655 triệu đồng Đến năm 2018, nguồn kinh phí từ NSNN tiếp tục giảm mạnh, nguồn kinh phí thường xuyên chỉ còn 5.000 triệu đồng nhưng nguồn kinh phí không thường xuyên thì có tăng đạt 1.515 triệu đồng
Trang 39Hình 3.3: Nguồn kinh phí do NSNN cấp giai đoạn 2016 - 2018
Nguồn: Bệnh viện Phổi Đồng Tháp (2016, 2017, 2018)
Đối với nguồn kinh phí được giao để thực hiện TCTC thì Bệnh viện sẽ được chủ động chi theo định mức Phần chênh lệch thu chi chưa sử dụng hết trong năm được phép chuyển sang năm sau để tiếp tục sử dụng, trích lập các nguồn quỹ và dành để chi trả thu nhập tăng thêm cho cán bộ nhân viên Nguồn kinh phí này chủ yếu là các khoản chi cho người lao động Đối với nguồn kinh phí không được giao thực hiện TCTC thì bệnh viện không được phép tự chuyển số dư sang năm sau, trong trường hợp muốn chuyển sang năm sau thì phải có sự chấp thuận của Sở Y tế, không được trích lập các quỹ và trả thu nhập tăng thêm cho người lao động Các nội dung từ nguồn kinh phí không thường xuyên bắt buộc phải thực hiện theo dự toán phê duyệt Bệnh viện Phổi Đồng Tháp là đơn vị TCTC một phần, do đó việc chuyển dịch cơ cấu nguồn kinh phí sẽ giúp kiểm soát chặt chẽ các nguồn thu chi, tiết kiệm các khoản chi không cần thiết để có nguồn tăng lương, thưởng cho người lao động Nguồn thu SNYT và thu khác: Từ khi áp dụng cơ chế TCTC một phần, Bệnh viện Phổi Đồng Tháp đã tích cực hơn trong hoạt động tăng cường huy động các nguồn thu sự nghiệp từ việc cung ứng DVYT cho cộng đồng Nguồn thu này ngày càng tăng sẽ đảm bảo cho bệnh viện có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong