1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nâng cao hiệu quả đầu tư chứng khoán tại Việt Nam thông qua hoạt động quản lý danh mục đầu tư

84 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua thị trường chứng khoán, Thị trường tài chính có thể huy động vốn trung và dài hạn trong dân cư, nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và tất cả các bộ phận khác trong nền kin

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGÔ MINH DIỆU MY

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2004

Trang 2

LỜI MỞ ĐẦU

1 TÍNH CẤP THIẾT VÀ Ý NGHĨA KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI:

Việt Nam đang từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới, thị trường chứng khoán ra đời đáp ứng nhu cầu tất yếu của quá trình tư hữu hóa bộ phận kinh tế doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp Việt Nam trong quá trình hội nhập Thị trường chứng khoán còn là một bộ phận không thể tách rời của Thị trường tài chính Thông qua thị trường chứng khoán, Thị trường tài chính có thể huy động vốn trung và dài hạn trong dân cư, nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp và tất cả các bộ phận khác trong nền kinh tế để đưa vào đầu tư và tái đầu tư thực Cùng với sự ra đời và trưởng thành của thị trường chứng khoán Việt Nam, Nhà nước đã nuôi dưỡng và hỗ trợ để thị trường chứng khoán trở thành một sản phẩm hoàn thiện của Thị trường tài chính Đem lại cho nhà đầu tư một sản phẩm đầu tư mới có sức quyến rủ hơn và ngược lại, khi thu hút được các nhà đầu tư là những tổ chức và cá nhân có trình độ chuyên môn cao, khả năng tài chính tốt cũng chính là điều kiện cần để thúc đẩy thị trường chứng khoán Việt Nam phát triển mạnh

Tất cả các quyết định đầu tư đều được cân nhắc dưới góc độ rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi và những tác động của chúng trên giá chứng khoán cũng như kết quả tài chính cuối cùng đạt được trong quyết định đầu tư Ở một số quốc gia có Thị trường chứng khoán phát triển, từ rất lâu nhà đầu tư đã biết áp dụng nguyên tắc “không bỏ trứng vào cùng một rổ”, thông qua mô hình quản lý danh mục đầu tư hiệu quả kết hợp lý luận có liên quan đến rủi ro và tỷ suất sinh lợi mong đợi (CAMP) và lý thuyết định giá chênh lệch (APT) để lựa chọn tập hợp chứng khoán hiệu quả nhất

Sau hơn 4 năm đi vào hoạt động, Thị trường chứng khoán vẫn chưa phát huy được vai trò tổ chức tài chính của nền kinh tế Trong điều kiện hàng hóa trên Thị trường chứng khoán vẫn rất mới mẽ; văn bản pháp lý hướng dẫn chưa thông thoáng, rõ ràng; môi trường đầu tư chưa đủ sức thu hút nhà đầu tư và các tổ chức đầu tư tài chính chuyên nghiệp Các chủ thể tham gia vào thị trường chỉ mang tính chất thăm dò, nhà đầu tư chưa thể phát huy hết năng lực vốn có của mình, việc áp dụng tất cả những nguyên tắc lựa chọn danh mục đầu tư chứng khoán hiệu quả chưa được quan tâm phát triển Xuất phát từ lý do đó, tác giả

nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư chứng khoán tại Việt

Nam thông qua hoạt động quản lý danh mục đầu tư”

2 PHẠM VI VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU:

Từ thực tiễn kết hợp với các công trình nghiên cứu của các chuyên gia phân tích và đầu tư chứng khoán trên thế giới, phạm vi nghiên cứu của đề tài là

Trang 3

vấn đề ứng dụng Lý thuyết “danh mục đầu tư chứng khoán hiệu quả”, Lý luận về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất lợi nhuận CAPM và Lý thuyết kinh chênh lệch giá APT tại Việt Nam nhằm nâng cao tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư và cũng là nhân tố thúc đẩy chất lượng hoạt động của thị trường chứng khoán Việt Nam

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Đề tài được nghiên cứu theo phương pháp lịch sử kết hợp với phương pháp khảo sát, so sánh, thống kê và phân tích Theo đó, các tài liệu và số liệu thu thập được phân tích và đánh giá rồi đưa ra các giải pháp trên cơ sở kết quả đã phân tích được

4 BỐ CỤC CỦA ĐỀ TÀI:

Nội dung của đề tài được thể hiện trong 03 chương:

• Chương 1: Cơ sở lý luận về thiết lập và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán hiệu quả

• Chương 2: Thực trạng về môi trường hoạt động và vấn đề quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại Việt Nam

• Chương 3: Giải pháp hoàn thiện thị trường chứng khoán Việt Nam để nhà đầu tư có thể thực hiện đầu tư bằng việc áp dụng mô hình quản lý danh mục đầu tư chứng khoán hiệu quả

Trang 4

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ VÀ QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU

TƯ CHỨNG KHOÁN 1.1 Khái niệm đầu tư chứng khoán:

Đầu tư là một sự ký thác tiền hoặc các nguồn lực kinh tế khác với hy vọng sẽ thu được lợi nhuận trong tương lai Bản chất của đầu tư chính là sự hy sinh giá trị chắc chắn ở thời điểm hiện tại để đổi lấy hy vọng sau này được hưởng lợi từ sự hy sinh đó

Đầu tư gồm có: đầu tư tài chính và đầu tư thực Khác với đầu tư thực, đầu tư tài chính không làm gia tăng năng lực sản xuất của doanh nghiệp, nó chỉ bao gồm các hoạt động sau: cho vay, đầu tư chứng khoán, cho thuê tài chính

Cho vay là hình thức cho người khác mượn tiền với hy vọng sẽ đem lại một số tiền lớn hơn với một mức lãi suất nhất định trong suốt thời gian cho vay Có thể cho vay là hoạt động ít rủi ro nhưng lợi nhuận thấp và ít hấp dẫn đối với nhà đầu tư, do đó, khi nói đến đầu tư tài chính người ta nghĩ ngay đến một lĩnh

vực đầy hấp dẫn hứa hẹn lợi nhuận cao đó là đầu tư chứng khoán Vậy đầu tư

chứng khoán là nhà đầu tư góp vốn vào các công ty cổ phần qua việc mua chứng khoán để được chia lợi tức từ công ty cổ phần và tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán

1.2 Sự cần thiết của đầu tư chứng khoán:

1.2.1 Đầu tư chứng khoán góp phần đẩy nhanh tốc độ chu chuyển vốn của nền kinh tế

Trong quá trình phát triển của nền kinh tế, tất yếu sẽ tồn tại các doanh nghiệp làm ăn rất hiệu quả Đồng vốn dư thừa của họ sẽ có xu hướng chảy vào những lĩnh vực đầu tư hấp dẫn hơn Đầu tư chứng khoán ra đời để giải quyết nhu cầu đó Khi đầu tư vào lĩnh vực chứng khoán, nhà đầu tư có thể đầu tư cùng một lúc vào nhiều sản phẩm khác nhau chứ không nhất thiết họ phải phụ thuộc vào một vài sản phẩm cố định như khi họ đầu tư thực Đầu tư chứng khoán không chỉ làm mở rộng môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư mà tự thân nó len lõi vào từng ngõ ngách trong nền kinh tế thu hút đầu tư dòng vốn cực nhỏ cho đến nguồn lực dồi dào nhất Ví dụ: ở các nước có thị trường chứng khoán hoạt động tốt, mọi người dân trong xã hội đều tham gia vào hoạt động đầu tư thông qua việc mua bán cổ phiếu của các công ty

Ở Việt Nam, một tập quán vẫn còn tồn tại trong dân chúng đó là thói quen giữ tiền, đồng thời thị trường chứng khoán ở Việt Nam chưa đủ mạnh để thu hút một số thành viên trong xã hội có vốn nhỏ Tất cả những điều này góp phần tạo ra một sự mâu thuẫn đó là lượng tiền nằm trong tay dân chúng còn

Trang 5

nhiều nhưng hiện tượng thiếu vốn vẫn còn nặng nề tại các doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, nó đã làm hạn chế sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam so với những nước trong khu vực và những nước tiến bộ khác

1.2.2 Đầu tư chứng khoán thúc đẩy quá trình cổ phần hóa của doanh nghiệp

Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước đã và đang diễn ra nhưng xét cho cùng hiệu quả mang lại chưa cao và tốc độ còn chậm Khi đi vào phân tích, các nhà tài chính cho rằng nguyên nhân sâu xa vẫn là vấn đề cổ phiếu chưa có tính thanh khoản cao, tức là chưa hấp dẫn các nhà đầu tư chứng khoán Như vậy, hoạt động đầu tư chứng khoán phát triển sẽ góp phần đẩy nhanh tốc độ cổ phần hóa cũng như hiệu quả của quá trình ấy

1.2.3 Đầu tư chứng khoán góp phần phát huy mọi nguồn lực vốn trong doanh nghiệp

Đối với một nền kinh tế phát triển, các khoản đầu tư chứng khoán gia tăng sẽ tạo điều kiện thúc đẩy đầu tư thực Tiền lãi từ hoạt động đầu tư chứng khoán sẽ đóng góp vào quỹ phát triển của doanh nghiệp Các khoản đầu tư chứng khoán của bộ phận kinh tế này sẽ là các khoản đầu tư thực của bộ phận kinh tế khác Ví dụ như: doanh nghiệp A mua cổ phiếu hay trái phiếu của doanh nghiệp B và doanh nghiệp B dùng số tiền đó để mua máy móc thiết bị, nguyên vật liệu dùng cho hoạt động sản xuất

1.2.4 Đầu tư chứng khoán đem lại các khoản lợi nhuận cao cũng là một yếu tố để các nhà đầu tư xem xét

Nếu nhà đầu tư có thể phân tích và dự báo được giá trị của công ty, họ sẽ tạo ra một khoản lợi nhuận lớn trong thời gian ngắn thông qua việc mua bán chứng khoán trên thị trường Bên cạnh đó, nhà đầu tư chỉ việc cân nhắc, lựa chọn đối tượng đầu tư thật kỹ càng thì sau đó hàng kỳ có thể ung dung hưởng lợi từ hoạt động đầu tư của mình, điều này thật sự giúp cho nhà đầu tư giảm bớt chi phí quản lý

Tất cả những lập luận trên cho ta thấy đầu tư chứng khoán là một hoạt động hết sức cần thiết và mang tính thời sự Nó không chỉ là kết quả tất yếu của xu hướng phát triển của xã hội mà nó còn phù hợp với một nước đang trong quá trình mở cửa và giao lưu quốc tế như Việt Nam

1.3 Các loại rủi ro khi đầu tư chứng khoán

Có rất nhiều loại rủi ro khiến cho lợi nhuận dự kiến không xảy ra đúng như dự đoán của nhà đầu tư

Trang 6

1.3.1 Rủi ro lãi suất

Rủi ro lãi suất là khả năng biến động của lợi nhuận do những thay đổi của lãi suất trên thị trường gây ra Ta có công thức tính hiện giá của cổ phiếu như sau:

Trongđó: dt: lợi tức của cổ phiếu r: lãi suất thị trường

Qua công thức trên ta thấy biến động của lãi suất trên thị trường đã ảnh hưởng như thế nào đến giá trị của các khoản đầu tư Nếu lãi suất thị trường tăng thì giá trị của các khoản đầu tư sẽ giảm và ngược lại Khả năng biến động của lợi nhuận tính được chính là rủi ro lãi suất Rủi ro lãi suất ảnh hưởng đến giá trái phiếu, cổ phiếu, ngoài ra còn ảnh hưởng đến bất động sản và các khoản đầu tư khác

1.3.2 Rủi ro sức mua

Trái phiếu, các khoản tiền gửi tiết kiệm và rất nhiều công cụ tiền tệ khác được xếp vào loại tài sản tài chính Các khoản trả lãi và vốn gốc, theo hợp đồng với người sở hữu các chứng khoán đó, là những số tiền cố định không tăng theo lạm phát Kết quả là, nếu lạm phát xảy ra, chủ sở hữu các loại chứng khoán đó được trả số tiền có sức mua thấp hơn so với số tiền được đầu tư vào chứng khoán Khoản thiệt hại có thể có về sức mua đối với sản phẩm vật chất này là rủi ro sức mua Rủi ro sức mua thường lớn hơn các mức mà nhà đầu tư nhận biết vì lạm phát và các tiềm ẩn của lạm phát không được cảnh báo trước

Lãi suất thực = Lãi suất danh nghĩa – Lạm phát Rủi ro sức mua làm giảm thu nhập thực sự của nhà đầu tư, nó giống như một khoản thuế tiềm ẩn, có tác dụng chuyển của ải từ chủ nợ sang con nợ và ngược lại Nếu con nợ phải trả khoản lãi suất danh nghĩa thấp hơn tỷ lệ lạm phát, lạm phát làm cho con nợ được hưởng lợi trong khi chủ nợ bị thiệt hại Do vậy, các nhà đầu tư trái phiếu là những chủ nợ thật sự không cho phép mình không xem xét rủi ro sức mua gắn liền với lạm phát

Trang 7

1.3.3 Rủi ro thị trường lên – xuống

Rủi ro thị trường lên – xuống phát sinh từ khả năng biến động của lãi suất thị trường do các lực lượng thị trường luân phiên lên xuống Khi một chỉ

so chứng khoán tăng rõ rệt dần dần từ một điểm thấp trong một kỳ thời gian thì

xu hướng đi lên này gọi là thị trường lên Thị trường lên kết thúc khi chỉ số thị trường đạt đến đỉnh điểm và bắt đầu có xu hướng xuống Thời kỳ mà thị trường giảm xuống điểm thấp kế tiếp gọi là thị trường xuống

Trong những thập niên gần đây, các thị trường xuống thường kéo dài từ

1 tháng đến 3 năm, bình quân khoảng 1 năm Một số thị trường như S&P 500 đã giảm ít nhất là 8%, cao nhất là 85%, với mức sụt giảm bình quân khoảng 25% trong những thời kỳ sụt giảm đó

Trong thời kỳ thị trường xuống ít, chỉ có khoảng một nửa số cổ phiếu yết giá ở Sở giao dịch chứng khoán New York (NYSE) tồn tại với giá thấp hơn so với giá của chúng vào thời kỳ đầu sụt giảm, nhưng ở lúc khác đến 99% cổ phiếu rớt trước khi kết thúc kỳ sụt giảm Khoảng 85% cổ phiếu kết thúc thị trường xuống bình thường với giá thấp hơn Tuy nhiên, thị trường xuống thường tiếp theo thị trường lên và thường làm cho gia tăng nhanh đủ để đền bù cho những thiệt hại khi thị trường xuống Thị trường luân phiên lên xuống là nguyên nhân thường xuyên của rủi ro đầu tư

1.3.4 Rủi ro quản lý

Dù nhiều Hội đồng quản trị được hưởng các khoản thù lao như “ông hoàng”, sử dụng các văn phòng trang bị hiện đại, sang trọng và nắm giữ nhiều quyền lực rất lớn trong các tổ chức của họ, họ vẫn là những con người và vẫn có khả năng sai lầm khi ra các quyết định Hơn nữa, những lầm lẫn mà nhà quản trị gây ra có thể làm thiệt hại những người đầu tư vào các doanh nghiệp đó

1.3.5 Rủi ro phá sản

Một công ty không thể đáp ứng các khoản thanh toán nợ bắt buộc vì tài khoản thanh toán đã bội chi thì bị xem là mất khả năng thanh toán về mặt nghiệp vụ Đôi lúc cả những công ty có lợi nhuận cao cũng mất khả năng thanh toán về mặt nghiệp vụ Nếu giá trị công ty xuống thấp hơn các khoản nợ thì công ty bị xem như mất khả năng thanh toán theo nghĩa phá sản: đây là hình thức mất khả năng thanh toán trầm trọng hơn Nếu công ty mất khả năng thanh toán không thể lên được lịch thanh toán tiền lãi hoặc vốn gốc của một món nợ, công ty này được xem là trên đà phá sản và lúc này rủi ro phá sản là rất cao Khi một công ty phá sản thì các cổ đông thường thường sẽ là những người nhận các khoản còn sót lại sau khi tài sản của công ty được trả cho án phí, tiền thiếu

Trang 8

của công nhân, các khoản nợ của nhà nước và tư nhân, do đó, khi một công ty có rủi ro phá sản thì giá chứng khoán của công ty đó trên thị trường sẽ phản ứng tức thì Đây là điều mà các nhà đầu tư quan tâm hơn là sự phá sản thật sự, nó là nguyên nhân gây thiệt hại chính cho họ

Hầu như các khoản thiệt hại mà nhà đầu tư phải chịu vì rủi ro phá sản không phải là sự phá sản thật sự Thiệt hại của nhà đầu tư từ rủi ro phá sản do giá chứng khoán giảm vì tính toàn vẹn về tài chính của công ty bị suy yếu (bao gồm những khoản lỗ và sẽ lỗ) Như vậy, thiệt hại việc phá sản chỉ là một phần nhỏ của tổng các thiệt hại do quá trình suy giảm về tài chính gây ra

1.3.6 Rủi ro thanh khoản

Rủi ro thanh khoản là phần lợi nhuận có thể biến động của phần tài sản

do khoản chiết khấu hoặc hoa hồng bán hàng chi ra để tài sản bán được nhanh

Tài sản có tính luân chuyển hoàn hảo có thể bán được nhanh vì không phải chịu khoản chi phí thanh toán nào Tài sản có tính luân chuyển thấp, khó bán thì hoặc phải chiết khấu giá bán hoặc phải chi tiền hoa hồng bán hàng hoặc cả hai để tìm được một nhà đầu tư mới cho tài sản đó Tài sản càng khó bán, khoản chiết khấu giá hoặc hoa hồng mà người bán đưa ra càng lớn để tạo ảnh hưởng cho tài sản bán được nhanh

1.3.7 Rủi ro tổ chức phát hành mua lại chứng khoán đã phát hành

Một số trái phiếu và cổ phiếu ưu đãi được phát hành với điều khoản là nhà phát hành sẽ được quyền mua lại chúng Các nhà phát hành thích điều khoản mua lại này vì nó cho phép họ mua lại cổ phiếu ưu đãi và trái phiếu đang lưu hành bằng số tiền của lần phát hành mới, nếu lãi suất thị trường đã giảm tới mức thấp hơn mức trả cho các chứng khoán lưu hành Nhưng những gì mà công ty phát hành nhận được qua việc mua lại chứng khoán lại là thiệt hại của những nhà đầu tư có chứng khoán bị mua lại đó Các nhà đầu tư có thể xem điều khoản mua lại như một sự đe dọa sẽ tước đoạt của họ khoản đầu tư tốt vào lúc mà đồng vốn của họ chỉ có thể tái đầu tư với lãi suất thấp hơn Phần lợi nhuận có thể bị biến đổi của một loại chứng khoán vì khả năng chứng khoán bị mua lại gọi là rủi ro mua lại Rủi ro bị mua lại có bao hàm khoản thưởng rủi ro mà thể hiện dưới hình thức lãi suất bình quân có phần cao hơn Phần lợi nhuận bổ sung này tăng khi rủi ro chứng khoán bị mua lại tăng

1.3.8 Rủi ro ngành

Một ngành được xem là tập hợp các công ty cạnh tranh lẫn nhau để bán một loại sản phẩm duy nhất Rủi ro ngành là phần lợi nhuận có thể biến đổi của một khoản đầu tư do những sự kiện ảnh hưởng đến sản phẩm mà các doanh

Trang 9

nghiệp trong ngành đó gây ra Các yếu tố như giai đoạn chu kỳ sống của ngành, hàng rào thuế quan quốc tế, quota về các sản phẩm do ngành sản xuất, thuế sản phẩm và các thuế liên quan đến ngành v.v… tác động qua lại và gây ảnh hưởng đến tất cả các doanh nghiệp trong cùng một ngành Kết quả là giá chứng khoán phát hành bởi các doanh nghiệp cùng ngành có xu hướng cùng tăng, cùng giảm

1.4 Tính tất yếu của việc quản lý danh mục chứng khoán tại Việt Nam:

Sự sụp đỗ của Ngân hàng Baring do quyết định sai lầm trong đầu tư chứng khoán, sự thành công và giàu có của Nhà tỷ phú Lý Gia Thành với tài sản trên 10 tỷ USD bắt đầu từ ý tưởng có nguồn vốn cổ phần tài trợ hoạt động kinh doanh đã minh chứng rất rõ tầm quan trọng và sự cần thiết trong việc xây dựng và kiểm soát các quyết định đầu tư nhất nhất là với việc đầu tư chứng khoán

Trong thực tiễn đã chỉ ra rằng, sự thành công hay thất bại trong đầu tư phần lớn phụ thuộc vào vấn đề huy động vốn, sử dụng vốn, đầu tư vào đâu, đầu

tư như thế nào, và mục đích đầu tư là gì?

Trong đó, môi trường đầu tư ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả đầu tư, tuy nhiên quyết định đầu tư là nguyên nhân chính tác động đến kết quả đầu tư cuối cùng Vì vậy, vấn đề lập ra mục tiêu, xây dựng kế hoạch, chiến lược đầu tư là rất cần thiết để nhà đầu tư đưa ra các quyết định đầu tư

Tuy nhiên, nhìn chung nền kinh tế Việt Nam vẫn rất nghèo nàn và lạc hậu, chính sách pháp luật vẫn trong giai đoạn xây dựng và hoàn thiện… đây chính là lực cản rất lớn cho sự phát triển kinh tế Việt Nam nói chung và Thị trường tài chính tiền tệ và nhất là Thị trường chứng khoán nói riêng Mặc dù Thị trường chứng khoán Việt Nam đã đi vào hoạt động hơn 4 năm, nhưng hiệu quả hoạt động và vai trò chủ đạo điều tiết vốn trong nền kinh tế vẫn chưa được phát huy

Sự non nớt và phát triển chậm chạp của Thị trường chứng khoán Việt Nam không chỉ không phát huy được vai trò của mình trong nền kinh tế mà còn gây ảnh hưởng lớn đến hiệu quả đầu tư và quyền lợi của nhà đầu tư Chính vì vậy, việc lập danh mục và quản lý danh mục đầu tư là rất cần thiết đối với nhà đầu tư và nhất là quyết định đầu tư trong giai đoạn thị trường chứng khoán Việt Nam đang định hình và chưa phát triển hoàn hảo như hiện nay

1.5 Lý thuyết về xây dựng và quản lý danh mục đầu tư chứng khoán:

Thuở ban đầu, người ta chỉ biết đến đầu tư chứng khoán thông qua việc mua bán các loại chứng khoán một cách riêng lẻ Dần dần với kinh nghiệm của

Trang 10

mình, các nhà đầu tư đã tìm ra một hướng đầu tư hiệu quả hơn thông qua đầu tư theo danh mục

Như vậy, danh mục đầu tư là một tập hợp các loại chứng khoán được kết hợp với nhau theo tỷ lệ xác định nhằm đạt được mục tiêu tăng lợi nhuận và giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu tư

1.5.1 Quyền số của danh mục đầu tư chứng khoán

Khi nhà đầu tư sử dụng vốn của mình cho một danh mục đầu tư tập hợp nhiều loại chứng khoán khác nhau hẳn nhiên nhà đầu tư sẽ có một tỷ lệ đầu tư cho mỗi loại chứng khoán khác nhau là nhất định Tỷ lệ này được xác định bằng mức tương đối giữa khoản tiền đầu tư cho cổ phiếu A với tổng số vốn đầu

tư của danh mục đầu tư Tỷ lệ này được gọi là quyền số của danh mục đầu tư

Gọi a là quyền số của danh mục đầu tư của cổ phiếu A

tưđầumụcdanhvàotưđầutiềnsốTổng

Aphiếucổ

vàotưđầutiềnSố

a =

Với tổng các quyền số danh mục bằng 0

Trong trường hợp bán khống cổ phiếu X nghĩa là không phải bỏ ra một khoản tiền nào để đầu tư vào cổ phiếu X nhưng lại được sử dụng số vốn của cổ phiếu X cho mục đích tìm kiếm lợi nhuận, vì vậy, quyền số trong trường hợp bán khống cổ phiếu X sẽ mang dấu trừ

Vì tổng quyền số của các chứng khoán trong danh mục bằng 100%, nếu ghi giảm quyền số của chứng khoán X là chứng khoán được bán khống thì lại được sử dụng số tiền đó để đầu tư vào chứng khoán A thì có nghĩa là đã làm tăng quyền số của chứng khoán A lên bằng đúng với quyền số âm của chứng khoán X, do đó, vẫn đảm bảo rằng tồng quyền số của danh mục đầu tư là 100%

1.5.2 Rủi ro và lợi nhuận ước tính của danh mục đầu tư chứng khoán

a Lợi nhuận ước tính của danh mục đầu tư Lợi nhuận luôn là mục tiêu hàng đầu của các nhà đầu tư nên khi xây dựng danh mục đầu tư họ đều ước tính lợi nhuận của danh mục đó Lợi nhuận ước tính của một danh mục đầu tư là tổng mức lợi nhuận của các chứng khoán trong danh mục đầu tư Để so sánh giữ các danh mục đầu tư với nhau thì ta sử dụng lãi suất ước tính của danh mục đầu tư Đó là tỷ lệ giữa lợi nhuận ước tính danh mục và số tiền đầu tư vào danh mục đó Lãi suất ước tính của danh mục được tính bằng số bình quân gia quyền của các lãi suất các chứng khoán trong danh mục đó

Trang 11

Nếu ta gọi:

E(rp): lãi suất ước tính của danh mục đầu tư

E(rj): lãi suất ước tính trung bình của các chứng khoán trong danh mục

xj: quyền số của các chứng khoán trong danh mục

Trong đó:

Nếu xj > 0: tức là đang mua chứng khoán j

Nếu xj < 0: tức là đang bán khống chứng khoán j

Như vậy, khi đầu tư vào danh mục, nhà đầu tư có thể có 2 nguồn để đầu

tư như sau:

- Đầu tư bằng số tiền thực

- Đầu tư bằng việc bán khống

Nếu dùng số tiền thực, lãi suất ước tính của danh mục sẽ ở trong phạm vi giữa lãi suất ước tính của các chứng khoán Hãy xét ví dụ sau: Một danh mục đầu tư gồm 3 loại cổ phiếu A, B, C với lãi suất ước tính và quyền số danh mục như sau:

Cổ phiếu Lãi suất ước tính

Trang 12

Cổ phiếu Lãi suất ước tính

b Rủi ro của danh mục đầu tư:

Cũng như các loại rủi ro khác, rủi ro trong đầu tư chứng khoán là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra lợi nhuận Ứng với từng tình trạng kinh tế khác nhau sẽ cho ta một tỷ lệ lãi suất khác nhau Nếu các tỷ lệ lãi suất này biến động mạnh so với tỷ suất sinh lợi mong đợi trung bình của danh mục sẽ tạo ra rủi ro lớn cho danh mục Để theo dõi mức biến động này ta sử dụng độ lệch tiêu chuẩn Độ lệch tiêu chuẩn của một danh mục đầu tư là thước đo độ phân tán của các tỷ lệ lãi suất ở từng tình trạng kinh tế của danh mục xoay quanh tỷ suất sinh lợi mong đợi trung bình của danh mục Khi độ lệch tiêu chuẩn càng lớn thì độ phân tán của các tỷ lệ lãi suất ở từng tình trạng kinh tế so với tỷ suất sinh lợi mong đợi trung bình của danh mục càng cao, và do đó rủi ro càng cao

Độ lệch tiêu chuẩn của danh mục được xây dựng dựa trên ma trận tương quan biến thiên như sau:

Cov(rB, rB A) Cov(rB, rB B) Cov(rB, rB C)

Cov(rC, rA) Cov(rC, rB) Cov(rC, rC)

Trang 13

Trong đó:

- σ 2 (rj): là độ lệch tiêu chuẩn của cổ phiếu j

- Cov(rA, rB): tương quan biến thiên giữa 2 loại cổ phiếu

Gọi:

- rA, i: là lãi suất của cổ phiếu A ở tình huống I

- hi: xác suất ở tình huống i

=

m 1

))E(r -))(rE(r -(rh = Cov(rB, rB A)

Do đó, các phần tử đối xứng nhau qua đường chéo của ma trận sẽ bằng nhau

Cũng như vậy, ta chứng minh được tất cả các con số nằm trên đường chéo của ma trận là các độ biến thiên của các chứng khoán cá thể

= ∑

=

m 1 i

2 A A

i(r E(r ))h

= σ 2(rA )Như vậy, ma trận tương quan biến thiên được viết lại là:

2

σCov(rA, rB) Cov(rA, rC)

Cov(rB, rB A)

)(rB

2

σCov(rB, rB C)

Cov(rC, rA) Cov(rC, rB)

)(rC

2

σ

Trang 14

Dựa vào ma trận tương quan biến thiên, ta có độ biến thiên của danh mục:

),cov(

2

),cov(

2),cov(

2)(x)(x)(x

)

C 2

2 B 2

C

C B C

B B

A B

A C

B A

r r x

x

r r x

x r

r x

x r

r r

+

++

++

Gọi: rA B là hệ số tương quan của 2 cổ phiếu A, B

Ta có:

B

Aσσ

)r,Cov(r

=

B A

Với rAB ∈[−1,1]

Về mặt ý nghĩa: hệ số tương quan cho ta biết mối quan hệ cùng hướng hay ngược hướng về tỷ suất sinh lợi của 2 loại chứng khoán riêng lẽ khi kết hợp lại tạo thành một tập hợp các chứng khoán

- Trường hợp 1: rA B = -1: việc kết hợp các chứng khoán sẽ giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất Lúc này độ lệch tiêu chuẩn bằng 0 (vì rủi

ro khi đầu tư vào cổ phiếu A tăng lên bao nhiêu thì rủi ro của cổ phiếu B giảm đi bấy nhiêu)

- Trường hợp 2: rA B = 1: việc kết hợp các chứng khoán sẽ không giảm thiểu rủi ro

Tóm lại, giảm thiểu rủi ro luôn luôn là vấn đề đặt ra đối với các nhà đầu tư Trong đó, phương thức tốt nhất là phải đa dạng hóa đầu tư bằng cách thiết lập một danh mục đầu tư Muốn giảm thiểu rủi ro đến mức thấp nhất, thậm chí bằng 0, chúng ta phải lựa chọn một danh mục có hệ số tương quan bằng –1 Điều này vẫn có thể xảy ra nếu ta đầu tư vào một số lượng lớn các loại chứng khoán trên thị trường chứng khoán

Trang 15

1.5.3 Lựa chọn danh mục tối ưu

Ở trên, chúng ta đã tìm hiểu về việc kết hợp các cổ phiếu với nhau để tạo ra một danh mục đầu tư còn có thể đa dạng hóa hơn nữa thông qua việc kết hợp đầu tư cổ phiếu với trái phiếu tạo nên danh mục đầu tư tổng thể Về mặt lý thuyết, ta xây dựng danh mục đầu tư tổng thể tối ưu dựa trên danh mục cổ phiếu được kết hợp với danh mục đầu tư trái phiếu được giả định là tín phiếu Kho bạc (tài sản phi rủi ro)

Hình 1.1: Đường cong hiệu quả danh mục đầu tư gồm nhiều loại chứng khoán

Danh mục đầu tư đạt được khi tỷ lệ kết hợp giữa hai loại tài sản hiệu quả tối ưu với người đầu tư Hiệu quả tối ưu đối với người đầu tư nghĩa là danh mục đạt được lợi nhuận ước tính cao nhất tương xứng với mức độ rủi ro mà người đầu tư có thể chịu đựng

Hình 1.2: Điểm xác định danh mục đầu tư hiệu quả

Trang 16

Danh mục cổ phiếu hiệu quả được kết hợp bởi nhiều loại chứng khoán mà nằm trong vùng giới hạn Danh mục hoàn chỉnh của chúng ta kết hợp bởi tài sản phi rủi ro (tín phiếu kho bạc, trái phiếu chính phủ…) và danh mục chứa nhiều tài sản rủi ro (cổ phiếu của các công ty cổ phần, trái phiếu công ty, các công cụ chứng khoán phái sinh…) Ta có thể quan sát thấy các danh mục hoàn chỉnh theo hình vẽ Tương tự như trường hợp của các danh mục đầu tư chứa nhiều loại tài sản rủi ro, danh mục hoàn chỉnh có thể nằm ở vị trí số 1, 2 hay 3 tùy theo tỷ lệ kết hợp giữa tài sản phi rủi ro và danh mục các tài sản rủi ro

Trong các danh mục trên, không có danh mục nào nằm trên CAL1 là danh mục tốt nhất hay danh mục tối ưu cả Bởi vì trên CAL2 có những danh mục có cùng độ lệch chuẩn với các danh mục trên CAL1 nhưng lại mang đến lợi nhuận ước tính cao hơn

Điểm A đại diện cho một trong những danh mục của các tài sản rủi ro Đường CAL2 xuyên qua A là đường tập hợp những danh mục đầu tư hoàn chỉnh kết hợp những danh mục hoàn chỉnh kết hợp tài sản phi rủi ro và danh mục đầu tư tài sản rủi ro Vì CAL2 tiếp xúc với đường biên hiệu quả của các danh mục đầu tư của các tài sản rủi ro, nên CAL2 là đường thẳng tốt nhất chứa các danh mục hoàn chỉnh và A là danh mục tốt nhất vì A là điểm tiếp xúc giữa hai đường

Những điểm nằm trên CAL2 trong đoạn từ tài sản phi rủi ro đến A đại diện cho sự phân bổ tài sản của người đầu tư giữa tài sản rủi ro và tài sản phi rủi ro Các điểm nằm trên CAL2, nhưng phía trên điểm A nghĩa là người đầu tư đã vay thêm tiền ở mức lãi suất phi rủi ro, người đầu tư chọn tỷ lệ kết hợp tương ứng với các vị trí khác nhau trên hình vẽ mà chúng ta quan sát Đương nhiên, người đầu tư không thể chọn danh mục nằm phía trên vùng giới hạn, cũng chẳng ai muốn chọn danh mục nằm dưới hoặc trong vùng giới hạn Nếu người đầu tư có mức độ ngại rủi ro trung bình, người đó có thể chọn các danh mục nằm trong đoạn CAL2 từ rf đến A Những người ít ngại rủi ro hơn có thể chọn danh mục gần A hoặc cao hơn A như trường hợp danh mục số 3 trong hình vẽ

Các kết quả trên cho ta kết luận quan trọng về danh mục tối ưu: khi tạo danh mục tối ưu, người đầu tư phải thực hiện 02 bước độc lập:

• Tính độ lệch chuẩn, phương sai, hệ số tích sai của từng cặp chứng khoán trong danh mục đầu tư có rủi ro

• Xác định đường cong hiệu quả của danh mục Trên hình vẽ ta thấy đường cong này chính là đoạn XAY

Trước hết, cần xác định danh mục cổ phiếu tối ưu để kết hợp đưa vào danh mục tổng thể Điểm tiếp xúc giữa đường biên hiệu quả với đường CAL là

Trang 17

danh mục cổ phiếu tối ưu Danh mục A trên hình vẽ là danh mục cổ phiếu tối

ưu cho tất cả mọi nhà đầu tư bất kể người đó có mức ngại rủi ro như thế nào

Do vậy danh mục này được xác định đơn thuần bằng việc tính toán tỷ lệ phân bổ các tài sản trong danh mục và hoàn toàn không có liên quan đến các yếu tố chủ quan của người đầu tư như tính cách riêng hay mức độ chịu đựng rủi ro Về mặt lý thuyết thì mô hình CAPM cho rằng danh mục cổ phiếu tối ưu nhất là danh mục thị trường và khi đó đường CAL – Capital Allocation Line – trở thành CML – Capital Market Line Tuy nhiên, trên thực tế không tồn tại một danh mục thị trường hoàn hảo và người ta coi chỉ số S&P 500 là danh mục thị trường

Tiếp theo, danh mục hoàn chỉnh được xác định bằng cách kết hợp danh mục đầu tư các tài sản rủi ro (cổ phiếu) với tài sản phi rủi ro (tín phiếu Kho bạc) Tùy theo tỷ lệ kết hợp giữa hai loại tài sản trên, các danh mục hoàn chỉnh sẽ phân bổ trên đường CAL Tại giai đoạn này, người đầu tư phải căn cứ vào khả năng chấp nhận rủi ro của mình để lựa chọn điểm thích hợp cho danh mục đầu tư của mình trên đường CAL đó Ở bước thứ nhất, người đầu tư đã chọn được danh mục cổ phiếu tối ưu (danh mục A) Vậy phải kết hợp danh mục A với tín phiếu Kho bạc với tỷ lệ sao cho phù hợp với mức độ chịu đựng rủi ro của từng người đầu tư Điểm tối ưu nhất ứng với mỗi người đầu tư chính là điểm tiếp xúc giữa đường CAL với đường cong bàng quan của chính người đó

Hình 1.3: Đường bàng quan thể hiện thái độ của người đầu tư

Nếu người đầu tư có mức ngại rủi ro cao (tức là chỉ chấp nhận những tài sản có mức rủi ro thấp) thì bàng quan của người này sẽ nằm ở khu vực trước điểm A, do vậy danh mục tối ưu của người này sẽ nằm trước điểm A trên đường CAL Có nghĩa nhà đầu tư đầu tư một phần vào danh mục cổ phiếu A và

1 phần vào tín phiếu Kho bạc Nếu trường hợp ngược lại thì người đầu tư sẽ lựa chọn danh mục nằm sau điểm A, có nghĩa là vay thêm tiền (giả định vay theo

Trang 18

lãi suất Tín phiếu kho bạc) để đầu tư toàn bộ vào danh mục cổ phiếu A Hình vẽ sau cho thấy chúng ta sẽ kết hợp các yếu tố chủ quan để chọn danh mục đầu

tư tốt nhất thích hợp với mình, danh mục đó chưa chắc là danh mục trùng với A

1.6 Lý thuyết về mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi (CAPM):

Để đạt được mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận của danh mục, nhà đầu tư phải đánh giá dựa trên hai yếu tố quan trọng đó là rủi ro và tỷ suất sinh lợi Tất cả các quyết định đầu tư đều dựa trên hai yếu tố này và những tác động của chúng đối với vốn đầu tư

Rủi ro được xem như là khả năng xuất hiện các khoản thiệt hại về tài chính Những chứng khoán nào có khả năng xuất hiện những khoản lỗ lớn được xem như có rủi ro cao hơn chứng khoán có khả năng xuất hiện những khoản lỗ thấp hơn Vì vậy, rủi ro được mô tả bằng sự biến đổi của các tỷ suất sinh lợi của chứng khoán đó trong thời kỳ nghiên cứu

Hình 1.4: Đồ thị biểu diễn độ biến thiên tỷ suất sinh lợi của chứng khoán

Một trong những chỉ tiêu thống kê chuẩn đo lường sự biến thiên là phương sai và độ lệch chuẩn

- Phương sai của tỷ suất sinh lợi của chứng khoán theo thị trường là bình phương khoản cách chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi thực tế và giá trị tỷ suất sinh lợi kỳ vọng của nhà đầu tư:

2 _ 1

2 p (X i X)

N

i i

Trang 19

Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán và giá của các loại chứng khoán biến động không cùng chiều với nhau, vì vậy các yếu tố ảnh hưởng làm thay đổi tỷ suất sinh lợi của chứng khoán được chia thành hai thành phần: các yếu tố xảy

ra không thể tránh được gọi là rủi ro thị trường hay rủi ro hệ thống; các nguy cơ rủi ro có thể loại bỏ hoàn toàn bằng đa dạng hóa đầu tư gọi là rủi ro không hệ thống

Hình 1.5: Rủi ro của danh mục đầu tư

Nếu nhà đầu tư chỉ đầu tư vào một loại chứng khoán thì rủi ro không hệ thống của chứng khoán rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến lợi suất của vốn đầu tư Tuy nhiên, nếu nhà đầu tư sở hữu một danh mục gồm 20 loại chứng khoán hoặc nhiều hơn nữa thì rủi ro không hệ thống sẽ dần bị triệt tiêu, chỉ còn lại rủi ro thị trường là đáng kể

Rủi ro thị trường của chứng khoán được xác định bằng cách đo lường độ nhạy cảm của chứng khoán đó đối với các biến động của thị trường Độ nhạy

cảm này gọi là beta ( β )

i X X X X p

m i Cov

1

_ _

))(

()

,(

Beta ( β ) của chứng khoán i là:

2

),(

m i

m i Cov

δ

β =

Beta ( β ) của thị trường = 1

Tỷ suất sinh lợi của chứng khoán có mối tương quan xác định với hệ số Beta của chứng khoán Đường thị trường chứng khoán là đồ thị biểu diễn mối

Trang 20

quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi của chứng khoán với hệ số beta của chứng khoán trong danh mục đầu tư

β = 0, tương ứng với lãi suất sinh lợi phi rủi ro Xf

β = 1, tương ứng với lãi suất sinh lợi của thị trường Xm

Hình 1.6: Mối quan hệ giữa tỷ suất sinh lợi và β của chứng khoán

Vậy, tỷ suất sinh lợi của chứng khoán chính là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro cộng thêm phần chênh lệch giữa tỷ suất sinh lợi của thị trường với lãi suất phi

rủi ro sau khi được đều chỉnh bởi hệ số beta của chứng khoán. Được biểu diễn bằng công thức sau:

Tỷ suất sinh lợi mong đợi = Xf + β x (Xm – Xf) Trong đó, β x (Xm – Xf) được gọi là phần bù rủi ro chứng khoán

1.7 Lý thuyết kinh doanh chênh lệch giá APT:

Như đã trình bày ở trên, tỷ suất sinh lợi của chứng khoán chịu tác động của rất nhiều yếu tố đa rủi ro, những yếu tố này có thể bị triệt tiêu hoàn toàn thông qua việc kết hợp danh mục đầu tư hiệu quả với nhiều chứng khoán được gọi là rủi ro không hệ thống, phần lợi nhuận mong đợi để bù đắp cho loại rủi ro này chính là phần bù rủi ro chứng khoán β x (Xm – Xf) Loại rủi ro không thể triệt tiêu được gọi là rủi ro hệ thống, phần lợi nhuận mong đợi tương ứng với loại rủi ro này chính là tỷ suất sinh lợi phi rủi ro Xf

Thập niên 1970 S.A Ross đã triển khai mô hình APT và cho rằng tỷ suất

sinh lợi của chứng khoán là một hàm số tuyến tính của tập hợp các yếu tố có

khả năng xảy ra rủi ro đến chứng khoán Mô hình nhân tố (factor model) được

diễn rả như sau:

Tỷ suất sinh lợi mong đợi của chứng khoán = Xf + α1F1 +α2F2 + +αn F n

Trang 21

Với αi F ilà yếu tố thứ i có khả năng xảy ra rủi ro cho chứng khoán

ε đặc trưng đối với từng chứng khoán riêng biệt và không liên quan gì đến ε

của các chứng khoán khác

1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến danh mục đầu tư chứng khoán:

1.8.1 Lạm phát

Trong nền kinh tế, đầu tư chứng khoán chịu rủi ro lạm phát gây ra khá lớn Lạm phát là hiện tượng cung tiền lớn hơn cầu tiền Lạm phát xảy ra làm cho khối lượng tiền trong nền kinh tế trở nên dư thừa, hàng hóa trong nước trở nên mắc hơn, đời sống của người dân trở nên khó khăn hơn Để giải quyết tình trạng này chính phủ và hệ thống ngân hàng tại quốc gia đó sẽ áp dụng nhiều biện pháp nhằm mục đích làm giảm khối lượng tiền trong lưu thông, đưa nó vào sản xuất để làm giảm khan hiếm hàng hóa, tăng việc làm và cải thiện đời sống của người lao động Đối với một nền kinh tế, nếu có bất cứ một bất thường nào xảy ra đều mang lại “bệnh tật” cho nền kinh tế đó Vì vậy, lạm phát quá cao gây ra mất ổn định cho nền kinh tế Nếu lạm phát xảy ra kéo dài nhưng nền kinh tế đó vẫn không khắc phục được thì sẽ đem lại một tâm lý bất ổn cho nhà đầu tư Kết quả là họ sẽ rút vốn ra khỏi quốc gia đó và dòng chu chuyển vốn sẽ chảy vào một quốc gia khác, thường là các quốc gia lân cận

Ngoài ra, lạm phát còn ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của nhà đầu

tư Như đã nói ở trên:

Tỷ suất thực tế = tỷ suất danh nghĩa – tỷ lệ lạm phát Theo công thức này, đối với các khoản đầu tư chứng khoán mà có lãi suất ổn định theo thời gian, nếu lạm phát quá cao sẽ làm giảm lãi suất thực tế của loại chứng khoán đó Vì vậy, cầu về chứng khoán có lãi suất ổn định sẽ giảm Để đảm bảo mức sinh lời chiết khấu, loại chứng khoán có lãi suất ổn định theo thời gian phải đảm bảo cao hơn tỷ lệ lạm phát Nếu lạm phát quá cao mà lãi suất không thể tăng điều tất yếu sẽ làm cho lợi nhuận của loại chứng khoán đó trở thành số âm, điều này dẫn đến cầu về chứng khoán mất đi

Còn đối với các loại chứng khoán có lãi suất thay đổi theo tốc độ lạm phát, lãi suất của loại chứng khoán này trên lý thuyết thì không ảnh hưởng đến lợi nhuận thực tế của nhà đầu tư Nhưng trên thực tế lạm phát xảy ra thì lãi suất chứng khoán khó có thể thay đổi sao cho không ảnh hưởng đến lợi nhuận thực tế, thông thường nhà đầu tư vẫn là người hứng chịu thiệt thòi Thêm vào đó, khi có lạm phát thì những yếu tố khác như lãi suất thị trường (lãi suất danh nghĩa) tăng do chính sách tiền tệ sẽ làm giá của chứng khoán giảm, gây bất lợi cho nhà đầu tư vì mục đích chính của nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận từ chênh lệch giá chứng khoán

Trang 22

1.8.2 Tỷ giá hối đoái

Trong quá trình giao lưu vốn trên toàn cầu, các luồng vốn chu chuyển giữa các quốc gia bằng các hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), viện trợ không hoàn lại Để luồng vốn chảy vào một quốc gia thì tỷ gia hối đoái không thể là vấn đề không kể đến Khi một nhà đầu tư nước ngoài quyết định đầu tư vào trong nước, nhà đầu tư cần phải cân nhắc và xem xét kỹ chính sách điều hành tỷ giá hối đoái của hính phủ nước đó vì nó cho thấy khi đầu tư vào trong nước và khi rút vốn, lãi về thì nhà đầu tư có lợi hay không nếu giả sử như ông

ta dùng số tiền đó đem đầu tư vào một quốc gia khác Mặc dù theo lý thuyết ngang giá sức mua và hiệu ứng Fisher quốc tế thì tỷ giá hối đoái của 2 đồng tiền 2 quốc gia sẽ không thay đổi theo mức chênh lệch của lạm phát hay lãi suất để cân bằng mức giá giữa 2 nước nhưng đây là điều kiện lý tưởng Trong thực tế, điều này vẫn không luôn đúng, do đó, dự báo tỷ giá hối đoái trong tương lai không là vấn đề dễ dàng nhưng nó sẽ giúp cho nhà đầu tư có quyết định đúng đắn và lựa chọn loại tiền tệ để đầu tư thích hợp

Khi tỷ giá hối đoái được điều hành không theo nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thì sẽ dẫn đến tình trạng khủng hoảng giống như ở Thái Lan năm

1997 Lúc đó Thái Lan và một số nước khác như Inđônêxia, Malaysia… gần như thắt chặt đồng tiền của mình theo đồng USD, sử dụng một cách cứng nhắc chính sách tỷ giá hối đoái cố định theo USD Trong tình hình USD lên giá liên tục, thì việc thực thi chính sách như vậy đã làm cho các quốc gia này chịu nhiều rủi ro, tổn thất Tính đến thời điểm khủng hoảng, USD lên giá 25% gây bất lợi cho những quốc gia có nền thương mại phụ thuộc quá nhiều vào USD Ví dụ như Thái Lan, mức độ đánh giá quá cao đồng Bath (so với giá trị thực) ngày một tăng đã làm suy yếu nhanh chóng khả năng cạnh tranh hàng xuất khẩu của nước này, đồng thời làm tăng tương ứng mức nợ USD (do USD lên giá mà đồng Bath không trượt giá) gây ra nạn đầu cơ tiền tệ, kích thích nhu cầu ngoại tệ giả tạo, tăng các khoản nợ quốc tế ngắn hạn, nhập khẩu gia tăng, mở rộng thêm khoảng cách thâm hụt cán cân thương mại và dẫn đến thâm hụt cán cân thanh toán vãng lai Đến lúc này, các nhà đầu tư cảm thấy không yên tâm về một nền kinh tế như vậy nên đổ xô mua USD để chuyển vốn về nước làm cho áp lực cầu USD tăng mạnh, gây ra khủng hoảng tiền tệ Vậy chính phủ cần có một chính sách tỷ giá hối đoái thích hợp để làm yên tâm các nhà đầu tư, khuyến khích nguồn vốn từ nước ngoài chảy càng nhiều vào trong nước

1.8.3 Thị trường chứng khoán

Để hoạt động đầu tư chứng khoán mang lại hiệu quả bên cạnh một tỷ lệ lạm phát được kiểm soát ở mức nhất định, một tỷ giá hối đoái hợp lý thì cần phải có một thị trường chứng khoán hoạt động hiệu quả Một thị trường chứng

Trang 23

khoán hoạt động hiệu quả thì bên cạnh các yếu tố về khung pháp lý, cơ sở vật chất kỹ thuật… cần phải có hàng hóa có chất lượng cao Điều này có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động đầu tư chứng khoán Ta thử xem xét một số loại hàng hóa để thấy được nó tác động như thế nào đến hoạt động đầu tư

a Cổ phiếu:

Khi đầu tư vào cổ phiếu, nhà đầu tư được chi cổ tức định kỳ hàng năm và được hưởng lợi do chênh lệch giá cổ phiếu khi tiến hành mua, bán cổ phiếu trên thị trường Lợi ích mang lại sẽ khác nhau ở những công ty khác nhau Nếu công ty làm ăn phát đạt, lợi nhuận cao sẽ thu hút các nhà đầu tư mua cổ phiếu Điều này sẽ tác động làm cho giá cổ phiếu tăng lên Ngược lại, nếu công ty làm ăn thua lỗ hay chỉ cần những thông tin không tốt về công ty sẽ làm cho giá cổ phiếu xuống Tác động tất yếu đối với nhà đầu tư là hành động bán đi hoặc không đầu tư vào loại cổ phiếu đó

b Trái phiếu Không như cổ phiếu, trái phiếu công ty thuộc loại chứng khoán ít rủi ro hơn nhưng lại ít hấp dẫn nhà đầu tư vì lợi ích mang lại gần giống như tiền tiết kiệm và mua kỳ phiếu Nếu người đầu tư mua trái phiếu thì thời hạn trái phiếu càng dài, lãi suất càng cao Ngoài ra, mua trái phiếu có mục đích của chính phủ hay của chính quyền địa phương thì người đầu tư có thể được miễn thuế thu nhập Trong khi đó, người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu sẽ không được hưởng khoản lợi này

Mặt khác, khoản sinh lợi lớn nhất đối với nhà đầu tư đó là việc đầu tư do chênh lệch giá cổ phiếu, nhưng đối với trái phiếu thì chênh lệch giá chỉ có thể có khi có chính sách lãi suất thả nổi hoặc khi ngân hàng trung ương thay đổi lãi suất Cụ thể là khi lãi suất trên thị trường tăng thì giá trái phiếu giảm và khi lãi suất trên thị trường giảm thì giá trái phiếu tăng

Một yếu tố nữa mà các nhà đầu tư quan tâm đó là khi cần tiền sở hữu chủ có thể bán chứng khoán đi một cách dễ dàng và có lãi không ? Điều này phụ thuộc vào cung cầu của chứng khoán đó trên thị trường Mà cung cầu chứng khoán phụ thuộc vào nhiều yếu tố: tình hình ổn định chính trị, tình hình phát triển của nên kinh tế Tuy nhiên, nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến giá chứng khoán vẫn là uy tín kinh doanh của công ty phát hành

Thực tế cho thấy, phần lớn số trái phiếu đã phát hành chưa quán triệt yếu tố thị trường Trái phiếu dài hạn và trung hạn có lãi suất lại thấp hơn lãi suất tiền gửi tiết kiệm và trái phiếu ngắn hạn

Gần đây, một số ngân hàng Việt Nam có phát hành loại trái phiếu lãi suất chiết khấu và lãi suất thả nổi Nhưng những trái phiếu này cũng khó mua bán trên thị trường

Trang 24

Tóm lại, bên cạnh những yếu tố vĩ mô ảnh hưởng đến đầu tư chứng khoán thì chất lượng các chứng khoán cũng như tính thanh khoản của nó sẽ ảnh hường không ít đến quyết định đầu tư của nhà đầu tư

1.8.4 Lãi suất thị trường

Lãi suất là một công cụ rất hữu hiệu của chính sách tiền tệ, là một trong những công cụ điều chỉnh kinh tế rất hiệu quả trong cơ chế kinh tế thị trường và rất nhạy cảm trong việc điều hành nền kinh tế vĩ mô Việc đưa ra một mức lãi suất như thế nào có tác dụng rất lớn (hoặc kìm hãm, hoặc thúc đẩy đầu tư, tăng trưởng) đối với hệ thống ngân hàng nói riêng và toàn bộ nền kinh tế nói chung

Lợi tức tín dụng có độ lớn và được biểu hiện thông qua tỷ suất lợi tức hay lãi suất Lãi suất là tỷ lệ giữa tổng số lợi tức thu được với tổng số vốn đã cho vay trong một thời gian nhất định Lãi suất là một phạm trù kinh tế tổng hợp có liên quan đến nhiều mặt trong đời sống kinh tế Vì vậy, sự hình thành khung lãi suất chịu tác động bởi nhiều yếu tố sau:

- Quan hệ cung cầu về vốn tín dụng trong từng thời kỳ nhất định Nguồn cung vốn tín dụng phụ thuộc vào lượng vốn tiền tệ nhà rỗi trong dân cư, quy mô của các doanh nghiệp trong nền kinh tế, tình hình cán cân ngân sách Nguồn cầu vốn tín dụng phụ thuộc vào mục tiêu mở rộng sản xuất, đầu tư của các doanh nghiệp, tình hình thâm thủng cán cân ngân sách, thu nhập của dân cư… Nếu cung vốn tín dụng lớn hơn cầu vốn tín dụng thì lãi suất sẽ giảm Ngược lại, nếu cung vốn tín dụng nhỏ hơn cầu vốn tín dụng thì lãi suất sẽ tăng

- Tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế Sự hình thành lãi suất không thể bỏ qua mối quan hệ của nó với tình hình lưu thông tiền tệ, cụ thể là tỷ lệ lạm phát trong nền kinh tế Đây là mối quan hệ đã được kiểm chứng qua thực tiễn các nước theo hướng: lãi suất sẽ tăng cao trong các thời kỳ có tốc độ lạm phát tăng cao

- Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh Nếu xét trên góc độ vốn tín dụng phục vụ cho nhu cầu vốn đầu tư của các doanh nghiệp thì về mặt lý thuyết lãi suất sẽ nằm trong khoảng giới hạn sau:

quânbìnhnhuậnlợi

suất tỷsuất Lãi

Như vậy, lợi nhuận ròng của doanh nghiệp có liên quan mật thiết với lãi suất, động cơ kích thích doanh nghiệp mở rộng sản xuất hay không hoàn toàn tùy thuộc vào lợi nhuận mà họ có thể được hưởng

Một là, lãi suất thực cao là nguyên nhân chính của việc giảm tỷ lệ tăng trưởng kinh tế Lãi suất cho vay của các ngân hàng thương mại cao so với tỷ suất lợi nhuận bình quân của các doanh nghiệp sẽ làm cho nhiều doanh nghiệp

Trang 25

không còn dám tiếp tục vay vốn (nguồn vay nợ chủ yếu một khi thị trường tài chính còn trong tình trạng phôi thai) để đầu tư, phát triển sản xuất nữa Hậu quả là các ngân hàng bị ứ đọng vốn do tốc độ cho vay thấp hơn nhiều so với tốc độ tăng tiền gửi

Hai là, lãi suất thực cao sẽ làm cho chi tiêu ngày càng trì trệ Phần lớn các hộ gia đình đều đang cố gắng cắt giảm chi tiêu, các doanh nghiệp có vốn tạm thời nhàn rỗi đem tiền gửi tiết kiệm như một nghề kinh doanh lâu dài, ít rủi

ro và có lợi tức không đổi

Ba là, tình trạng tài chính của doanh nghiệp và chính phủ ngày càng khó khăn Trong hầu hết các doanh nghiệp, khoảng 50% - 80% vốn kinh doanh là vay từ ngân hàng Lãi suất thực cao làm cho việc trả lãi ngân hàng trở thành gánh nặng đối với các doanh nghiệp Nhiều doanh nghiệp rơi vào tình trạng nợ nần chồng chất do lãi mẹ đẻ lãi con từ nhiều năm nay Chính điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp làm giảm lợi nhuận và cổ tức hàng năm

Tóm lại, yếu tố lãi suất là một trong những yếu tố có tác động rất hữu hiệu đối với nền kinh tế nói chung và đầu tư chứng khoán nói riêng Để thực sự kích cầu, khuyến khích đầu tư và đưa tỷ lệ tăng trưởng tăng cao thì chính phủ cần mạnh dạn hơn trong việc giảm lãi suất theo hướng ưu tiên cho người đầu tư hơn là cho người gửi tiền tiết kiệm

1.8.5 Yếu tố thu nhập

Khi quyết định đầu tư vào lĩnh vực nào đó, câu hỏi đầu tiên đặt ra cho tất cả các nhà đầ tư là vấn đề lợi nhuận Trong đầu tư chứng khoán cũng vậy thu nhập của chứng khoán có ý nghĩa quan trọng đối với nhà đầu tư Tại sao người ta lại rất thích mua cổ phiếu của công ty này nhưng lại thờ ơ với những công ty khác Thu nhập của cổ phiếu tồn tại dưới nhiều hình thức khác nhau, chẳng hạn lợi tức đối với trái phiếu, cổ tức đối với cổ phiếu, chênh lệch giá cổ phiếu trên thị trường và chênh lệch giá cổ phiếu do quá trình tích lũy vốn của công ty cũng như sự xuất hiện của tài sản vô hình

Do đó để đánh giá được mức thu nhập trong hoạt động đầu tư, nhà đầu tư không chỉ quan tâm tới mức lãi suất hoặc cái lợi hiện hành hay vấn đề chi trả cổ tức mà còn chú ý nhiều hơn đến triển vọng phát triển của công ty phát hành và những thay đổi về số cổ đông vì trên thực tế giá thị trường của cổ phiếu chịu ảnh hưởng lớn bởi thu nhập của mỗi cổ phần

1.8.6 Yếu tố về khả năng chuyển đổi thành tiền của thị trường chứng

khoán

Trang 26

Như chúng ta đã biết, đầu tư tài chính đặc biệt là đầu tư chứng khoán luôn chứa đựng những rủi ro Chính những rủi ro đó đã tạo ra nhiều điều bất ngờ cho các nhà đầu tư, khiến cho họ có nhu cầu chuyển đổi chứng khoán sang tiền mặt Có nhiều nguyên nhân khiến cho nhà đầu tư muốn hoán chuyển chứng khoán:

Đối với công ty: có thể do một số thông tin đã ảnh hưởng không tốt đến tình hình hoạt động như bị kiện cáo, lĩnh vực hoạt động của công ty không còn phù hợp với xã hội… đã làm cho uy tín của công ty sụt giảm trên thương trường, dẫn đến sự mất lòng tin của nhà đầu tư đối với công ty Do đó, mà các nhà đầu

tư lúc này có ý định chuyển chứng khoán sang tiền mặt càng sớm càng tốt

Đối với nhà đầu tư: vì hầu hết nhà đầu tư không phải lúc nào cũng tính trước được những nhu cầu tiêu dùng và đáp ứng đầy đủ những nhu cầu tiêu dùng nên hành động bán chứng khoán xảy ra là tất yếu Đặc biệt đối với cổ phiếu, ngoài nguyên nhân dẫn đến nhu cầu bán chứng khoán ở trên còn có một nguyên nhân cơ bản là phần lợi nhuận chủ yếu có được trong hoạt động đầu tư cổ phiếu là lợi nhuận thu được sau khi bán cổ phiếu

Chính vì những lý do trên mà các nhà đầu tư khi phân tích để đi đến quyết định mua chứng khoán luôn tính đến tính hoán tệ của chứng khoán đó Trên thực tế, khả năng hoán tệ của chứng khoán phụ thuộc vào những yếu tố sau:

a Tỷ trọng cổ phiếu: Việc nắm giữ số cổ phiếu nào đó càng lớn thì càng khó hoán chuyển vì thế người mua muốn đa dạng hóa danh mục đầu tư của mình bằng nhiều loại chứng khoán khác và mỗi loại một ít Do đó nếu so cổ phiếu đó càng nhiều thì thời gian để bán lại cổ phiếu sẽ lâu hơn

b Ngoại hối: Sau khi tiến hành bán cổ phiếu, các nhà đầu tư nước ngoài thường chuyển tiền bán kể cả lợi nhuận ra tiền nước họ Vì thế, nếu thủ tục chuyển đổi ngoại tệ phức tạp, thời gian thanh toán kéo dài sẽ làm giảm đi tính hoán tệ của chứng khoán và do đó là một nhân tố cản trở các nhà đầu tư nước ngoài

c Chi phí môi giới (hay còn gọi là chi phí giao dịch): Các nhà môi giới và kinh doanh chứng khoán với vai trò trung gian trên thị trường luôn nhận được những khoản thu nhập do chênh lệch giá chứng khoán Vì thế các nhà đầu

tư luôn phải trả một khoản chi phí nào đó khi thực hiện hoạt động mua bán chứng khoán Nếu khoản chi phí là hợp lý, nhà đầu tư dễ dàng bán luôn chứng khoán đó để đáp ứng nhu cầu của họ Còn trong trường hợp chi phí quá cao, nhà đầu tư có thể không chấp nhận bán chứng khoán đó và như vậy thời gian bán chứng khoán kéo dài, tính toán tệ của chứng khoán đó giảm

Trang 27

Kết luận chương I:

Ở chương I, đề tài đưa ra các lý thuyết để xây dựng danh mục đầu tư như: lý thuyết quản lý danh mục đầu tư, mối quan hệ giữa rủi ro và tỷ suất sinh lời của chứng khoán CAPM và mô hình kinh doanh chênh lệch giá APT Trong bối cảnh hiện nay, Thị trường chứng khoán Việt Nam đã xây dựng được những cái

gì và nhà đầu tư có thể thực hiện được những điều gì từ những lý thuyết trên Chúng ta tiếp tục nghiên cứu quá trình hình thành và phát triển của Thị trường chứng khoán Việt Nam ở phần tiếp theo sau đây

Trang 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ DANH MỤC ĐẦU TƯ CHỨNG

KHOÁN TẠI VIỆT NAM

2.1 Tổng quan về thị trường chứng khoán Việt Nam:

2.1.1 Bối cảnh ra đời:

Ở Việt Nam, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, quy luật cung cầu… tất yếu sẽ phải hình thành thị trường chứng khoán Chính vì vậy, Uûy Ban Chứng Khoán Việt Nam được thành lập theo Nghị định 75/CP ngày 28/11/199 nhưng mãi đến năm 2000 thì Sở giao dịch chứng khoán đầu tiên mới được khai trương tại Thành phố Hồ Chí Minh

Việc thành lập Sở giao dịch chứng khoán là thành công sau nhiều năm nghiên cứu Thị trường chứng khoán của Việt Nam được tổ chức và định chế từng bước theo hệ thống luật pháp riêng của Việt Nam, đảm bảo và thu hút được các nhà đầu tư quốc tế, đồng thời khuyến khích các đại đa số dân chúng đầu tư vốn nhàn rỗi vào thị trường chứng khoán mới mẽ, đầy tiềm năng này

2.1.2 Các chủ thể tham gia thị trường:

Đứng đầu là Cơ quan quản lý Nhà nước: là Uûy Ban Chứng Khoán Nhà Nước và Trung Tâm Giao Dịch Chứng Khoán Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 29

SƠ ĐỒ TỔ CHỨC

ĐĂNG KÝ-THANH TOÁN BÙ TRỪ-LƯU KÝ CHỨNG KHOÁN

QUẢN LÝ THÀNH VIÊN QUẢN LÝ NIÊM YẾT

NGHIÊN CỨU VÀ THÔNG TIN THỊ TRƯỜNG HÀNH CHÁNH NHÂN SỰ

TTGDCK HCM

Trang 30

Trước đây, theo Nghị định số 75/CP về thành lập Uûy Ban Chứng Khoán Nhà Nước, bộ máy giúp việc của các cơ quan này là các Vụ: Vụ Phát triển thị trường chứng khoán, Vụ Quản lý phát hành chứng khoán, Vụ Quản lý kinh doanh chứng khoán, Vụ Quan hệ quốc tế, Vụ Tổ chức cán bộ và đào tạo,… nay chuyển thành các Ban

Các tổ chức sự nghiệp trực thuộc Uûy Ban Chứng Khoán gồm những trung tâm: Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội và TP.HCM; Trung tâm nghiên cứu khoa học và đào tạo chứng khoán; Trung tâm tin học và Thống kê; Tạp chí chứng khoán;

Dự kiến từ nay đến năm 2007, Trung tâm giao dịch Chứng khoán Hà Nội sẽ tổ chức giao dịch chứng khoán chưa niêm yết theo cơ chế đăng ký giao dịch, đồng thời thực hiện đấu giá cổ phiếu, đấu thầu tài sản tài chính Cơ chế giao dịch tập trung được thay bằng cơ chế báo giá tập trung Sau năm 2007, Trung tâm Giao dịch chứng khoán Hà Nội sẽ thành thị trường phi tập trung quy mô lớn

Các tổ chức kinh doanh trên thị trường chứng khoán:

Tính đến thời điểm 31/09/2004, thị trường chứng khoán Việt Nam có 13 Công ty chứng khoán thành viên, được thực hiện một trong số các nghiệp vụ chính như: bảo lãnh phát hành, môi giới, tự doanh, quản lý quỹ đầu tư và tư vấn đầu tư chứng khoán Để được thực hiện mỗi nghiệp vụ, mỗi Công ty chứng khoán cần phải đảm bảo một số vốn nhất định cho mỗi nghiệp vụ tương ứng, ví dụ:

Môi giới chứng khoán: 3 tỷ đồng Việt Nam

Tự doanh chứng khoán: 12 tỷ đồng Việt Nam Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán: 3 tỷ đồng Việt Nam

Bảo lãnh phát hành chứng khoán: 22 tỷ đồng Việt Nam

Tư vấn tài chính và đầu tư chứng khoán: 33 tỷ đồng Việt Nam Danh sách Công ty chứng khoán và các nghiệp vụ hoạt động cho từng Công ty cụ thể như sau:

Trang 31

Bảng 2.1: Danh sách các Công ty chứng khoán

THAM GIA

VỐN ĐIỀU LỆ

CÁC NGHIỆP VỤ

01 Công ty CP Chứng Khoán Bảo

Việt

19/07/2000 43 tỷ Tất cả các

nghiệp vụ

02 Công ty TNHH Chứng Khoán

Ngân hàng Đầu Tư – Phát triển

19/07/2000 100 tỷ Tất cả các

nghiệp vụ

03 Công ty CP Chứng Khoán Sài

Gòn 19/07/2000 25 tỷ doanh, quản Môi giới, tự

lý danh mục đầu tư và tư vấn tài chính-đầu tư chứng khoán

04 Công ty CP Chứng Khoán Đệ

Nhất 19/07/2000 43 tỷ Tất cả các nghiệp vụ

05 Công ty CP Chứng Khoán Thăng

Long 19/07/2000 43 tỷ Tất cả các nghiệp vụ

Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát

Triển Nông Thôn

04/05/2001 100 tỷ Tất cả các

nghiệp vụ

09 Công TNHH Chứng Khoán Ngân

hàng Ngoại Thương Việt Nam 24/04/2002 60 tỷ Tất cả các nghiệp vụ

TP.HCM 29/04/2000 50 tỷ Tất cả các nghiệp vụ

12 Công ty CP Chứng Khoán Hải 21/10/2003 21,750 Môi giới, tự

Trang 32

Phòng tỷ doanh, quản

lý danh mục đầu tư và tư vấn tài chính-đầu tư chứng khoán

13 Công ty CP Chứng Khoán Đông Á 21 tỷ Môi giới, tự

doanh, quản lý danh mục đầu tư và tư vấn tài chính-đầu tư chứng khoán

Nhà đầu tư chứng khoán:

Thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động chỉ có 500 tài khoản giao

dịch được mở tại các Công ty chứng khoán Tuy nhiên, đến cuối tháng 05/2004

đã có khoảng 18.777 tài khoản, trong đó:

• Cá nhân: 18.000 tài khoản (cá nhân trong nước: 17.888 tài khoản, cá

nhân nước ngoài: 112 tài khoản)

• Tổ chức: 170 tài khoản (tổ chức trong nước: 165 tài khoản, tổ chức nước

ngoài: 5 tài khoản)

Các nhà đầu tư cá nhân thường là những người có vốn nhàn rỗi tạm thời,

tham gia mua bán trên thị trường chứng khoán với mục đích tìm kiếm lợi

nhuận Chính vì vậy, các nhà đầu tư cá nhân thường đầu tư trên thị trường

chứng khoán với phương thức đầu tư ngắn hạn, chủ yếu là kinh doanh chênh

lệch giá vì họ luôn phải lựa chọn các hình thức đầu tư phù hợp với khả năng

cũng như mức độ chấp nhận rủi ro của mình

Mặc dù chỉ có khoảng 170 tài khoản là các nhà đầu tư là tổ chức, các tổ

chức này là những nhà đầu tư có giao dịch chứng khoán thường xuyên với số

lượng lớn Là các quỹ đầu tư và các tổ chức có năng lực tài chính dồi dào và

một số là các tổ chức tài chính chuyên nghiệp là các Công ty đầu tư, Công ty

bảo hiểm, các quỹ lương hưu và các quỹ bảo hiểm xã hội khác Các tổ chức

này thường có bộ phận chức năng được quản lý bởi nhiều chuyên gia có kinh

nghiệm để đưa ra quyết định đầu tư, họ thường đầu tư theo danh mục bao gồm

nhiều loại chứng khoán khác nhau

Trang 33

2.2 Số lượng chứng khoán:

2.2.1 Số lượng chứng khoán đang giao dịch tại Trung Tâm Giao Dịch

Chứng Khoán TP.HCM:

Phiên giao dịch chứng khoán đầu tiên ngày 20/07/2000 giao dịch 11 loại

chứng khoán, trong đó có 5 cổ phiếu của 5 Công ty cổ phần và 6 loại trái phiếu

Chính Phủ Sau hơn 04 năm hoạt động, thị trường chứng khoán có 25 cổ phiếu

của 25 Công ty niêm yết và 171 loại trái phiếu đang được giao dịch tại

TTGDCK TP.HCM:

a Cổ phiếu

Bảng 2.2: Danh sách Công ty niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng

khoán Tp.Hồ Chí Minh

Khối lượng cổ phiếu niêm yết

01 AGF Cty CP XNK An Giang 02/05/02 4.179.130

02 BBC Cty CP Bánh Kẹo Biên Hòa 19/12/01 5.600.000

03 BBT Cty CP Bông Bạch Tuyết 15/03/04 6.840.000

04 BPC Cty CP Bao Bì Bỉm Sơn 11/04/02 3.800.000

05 BT6 Cty CP Bê Tông 20 Châu Thới 18/04/02 5.882.690

06 BTC Cty CP Cơ Khí và Xây Dựng Bình Triệu 21/01/02 1.261.345

07 CAN Cty CP Đồ Hộp Hạ Long 22/01/01 3.500.000

10 GIL Cty CP SXKD và XNK Bình Thạnh 02/01/02 2.550.000

11 GMD Cty CP Đại Lý Liên Hiệp Vận Chuyển 22/04/02 17.178.455

12 HAP Cty CP Giấy Hải Phòng 04/08/00 2.008.000

13 HAS Cty CP Xây Lắp Bưu Điện Hà Nội 19/12/02 1.200.000

14 KHA Cty CP Xuất Nhập Khẩu Khánh Hội 19/08/02 2.090.000

15 LAF Cty CP Chế Biến Hàng Xuất Khẩu Long 15/12/00 1.909.840

Trang 34

An

16 PMS Cty CP Cơ Khí Xăng Dầu 04/11/03 3.200.000

17 REE Cty CP Cơ Điện Lạnh 28/07/00 22.500.000

18 SAM Cty CP Cáp và Vật Liệu Bưu Chính Viễn

19 SAV Cty CP Hợp Tác Kinh Tế và XNK

SAVIMEX

09/05/02 4.500.000

20 SGH Cty CP Khách Sạn Sài Gòn 16/07/01 1.766.300

21 TMS Cty CP Kho Vận Giao Nhận Ngoại Thương 04/08/00 2.200.000

22 TRI Cty CP Nước Giải Khát Sài Gòn 28/12/01 4.548.360

23 TS4 Cty CP Thủy Sản 04 08/08/02 1.500.000

25 SFC Cty CP Nhiên Liệu Sài Gòn 21/09/04 1.700.000

b Trái phiếu:

Sàn giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh hiện đang thực hiện giao

dịch 171 loại trái phiếu, trong đó:

• 02 trái phiếu do Ngân hàng đầu tư –Phát triển phát hành

• 56 trái phiếu do Bộ Tài Chính Phát Hành

• Và 113 trái phiếu do Quỹ Hỗ Trợ và Phát Triển phát hành

Với tổng trị giá trái phiếu niêm yết 19.337.038.000.000 đồng

Vậy, tổng giá trị chứng khoán niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng

khoán Tp.Hồ Chí Minh là 20.585.026.000.000 đồng

Trong thời gian tới, để tạo thêm hàng hóa trên TTGD chính thức, Việt

Nam sẽ có những chính sách khuyến khích các Công ty Cổ phần làm ăn hiệu

quả đăng ký niêm yết chứng khoán giao dịch tại sàn

Hơn nữa, từ kết quả của quá trình cổ phần hóa Doanh nghiệp Nhà nước

thành Công ty cổ phần, xu hướng tất yếu của các Công ty Cổ phần là cổ phiếu

của Công ty được giao dịch chính thức tại sàn do đó số lượng Công ty Cổ phần

Trang 35

đăng ký niêm yết chứng khoán sẽ tăng lên, thị trường chứng khoán sẽ có nhiều hàng hóa hơn cho các nhà đầu tư lựa chọn

2.2.2 Số lượng chứng khoán giao dịch ngoài sàn:

Thị trường chứng khoán là nơi diễn ra hoạt động trao đổi, mua bán, chuyển nhượng các loại chứng khoán Vì vậy, thật là sai lầm khi chúng ta chỉ xem Trung tâm giao dịch chứng khoán là chợ mà để quên một cái chợ tự phát (OTC) rất lớn đang giao dịch mua bán các loại cổ phiếu ở bên ngoài

Ở Việt Nam và thậm chí là ở các nước có Thị trường chứng khoán phát triển khác trên thế giới, số lượng chứng khoán giao dịch ngoài sàn giao dịch chính thức luôn diễn ra sôi động với sự có mặt của hàng ngàn chứng khoán của các Công ty khác nhau và sự tham gia của tất cả các thành phần trong nền kinh tế

Theo số liệu của Ban chỉ đạo phát triển doanh nghiệp, tính đến nay đã có 1.700 doanh nghiệp được cổ phần hóa với tổng số vốn khoảng 15.000 tỷ đồng (Vốn bình quân: 8 tỷ đồng/doanh nghiệp) Trong đó, một phần lớn doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối và phần còn lại là phân phối cho người lao động và nhà đầu tư

Dự kiến, từ nay đến cuối năm 2005, Việt Nam sẽ tiếp tục cổ phần hóa thêm 2.000 doanh nghiệp với tổng vốn khoảng 41.000 tỷ đồng Trong đó:

• Số doanh nghiệp có vốn nhỏ hơn 10 tỷ đồng: 1.680 doanh nghiệp

• Số doanh nghiệp có vốn lớn hơn 10 tỷ đồng: 320 doanh nghiệp

Đồ thị 2.1: Doanh nghiệp được Cổ phần hóa đến hết năm 2005

1680

320

DN có vốn < 10 tỷ đồng

DN có vốn < 10 tỷ đồng

Theo kế hoạch, Việt Nam sẽ đưa thêm 200 doanh nghiệp (trong tổng số

320 doanh nghiệp sẽ cổ phần hóa có vốn điều lệ trên 10 tỷ đồng) niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh thì số lượng Công ty có cổ

Trang 36

phiếu giao dịch ngoài sàn là 3.500 doanh nghiệp với tổng giá trị khoảng 36.000 tỷ đồng

Ngoài ra, Thị trường giao dịch phi tập trung còn giao dịch số lượng lớn trái phiếu của Chính phủ, các Đơn vị và Doanh nghiệp vay vốn

Qua đó, ta thấy rằng, với tổng số cổ phiếu của 1.700 doanh nghiệp (giá trị 15.000 tỷ đồng) hiện nay và 3.500 doanh nghiệp (giá trị 36.000 tỷ đồng) đến năm 2005 trên tổng số 40.000 tỷ đồng giá trị cổ phiếu giao dịch tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh năm 2005 Thì, Việt Nam cũng cần quan tâm phát triển một cái chợ để phân phối, giao dịch, mua bán số cổ phiếu này

2.3 Sự hình thành và phát triển danh mục đầu tư chứng khoán:

Đầu tư chứng khoán chứa đựng nhiều rủi ro, nhất là đầu tư mua chứng khoán của các công ty Việt Nam phát hành Rủi ro không chỉ mang đến từ tổ chức phát hành mà nhà đầu tư còn chịu rủi ro tác động từ thị trường chứng khoán Việt Nam Thiết lập và quản lý danh mục đầu tư nhằm giảm thiểu rủi ro, đem đến lãi suất danh mục mong đợi là mối quan tâm hàng đầu Tuy nhiên, với số lượng chứng khoán còn rất ít, quy mô hoạt động của tổ chức phát hành còn rất nhỏ, nhà đầu tư chứng khoán tham gia với riêng lẻ, chỉ mang tính chất tìm hiểu thị trường và mức độ chuyên nghiệp chưa cao Vì vậy, quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại Việt Nam chưa được quan tâm phát triển, hoạt động này chỉ tồn tại một cách đơn điệu trong các hoạt động sau:

2.3.1 Quản lý danh mục đầu tư của các công ty chứng khoán trong hoạt động tự doanh:

Như đã đề cập ở trên, Thị trường chứng khoán Việt Nam có sự tham gia của 13 Công ty Chứng khoán, trong đó có 10 Công ty đăng ký hoạt động nghiệp vụ tự doanh với tổng vốn điều lệ đăng ký nghiệp vụ tự doanh là 120 tỷ đồng

Trên thực tế, trong quản lý vốn của các Công ty Chứng khoán, để đảm bảo cho tất cả các nghiệp vụ theo chức năng hoạt động của một Công ty chứng khoán, các Công ty này có số vốn điều lệ đăng ký tương đối lớn, nhưng họ chỉ sử dụng một lượng vốn rất nhỏ để đầu tư tài sản cố định như: văn phòng, sàn giao dịch, máy móc thiết bị; một phần dùng để duy trì mức vốn khả dụng để đảm bảo khả năng thanh toán cho người đầu tư… phần còn lại được sử dụng đầu

tư vào Thị trường tài chính – tiền tệ như: mua bán chứng khoán niêm yết trên sàn, mua bán chứng khoán giao dịch ngoài sàn, cho thuê tài chính, góp vốn liên doanh, tiền gửi ngân hàng…

Trang 37

Chính vì vậy, nguồn lực tài chính thực sự để thực hiện nghiệp vụ kinh doanh chứng khoán không chỉ dừng lại ở mức vốn 12 tỷ đồng mà ở mỗi thời điểm khác nhau, mỗi Công ty có chính sách sử dụng vốn kinh doanh khác nhau và có thể sử dụng toàn bộ vốn hoạt động vào hoạt động này

Là một tổ chức chuyên doanh chứng khoán, các Công ty Chứng khoán là nơi tập trung đa số các nhà tư vấn và kinh doanh chứng khoán chuyên nghiệp, họ thường đưa ra các quyết định đầu tư theo danh mục đầu tư chứng khoán

Tuy nhiên, thị trường chứng khoán còn nhỏ hẹp, số lượng chứng khoán còn ít, rủi ro đầu tư chứng khoán còn cao Hơn nữa, thu nhập từ hoạt động môi giới và tư vấn đầu tư vẫn còn thấp, nên để bảo đảm an toàn vốn và hiệu quả hoạt động trên vốn, các Công ty chứng khoán vẫn rất dè dặt trong việc xây dựng đầu tư và giá trị đầu tư vào danh mục chứng khoán vẫn còn rất hạn chế

2.3.2 Nghiệp vụ Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán của các Công

ty chứng khoán

Đây là nghiệp vụ tư vấn của Công ty chứng khoán ở mức độ cao Trên

cơ sở Khách hàng ủy thác cho Công ty chứng khoán thay mặt mình quyết định đầu tư theo một chiến lược hay những nguyên tắc đã được Khách hàng chấp thuận, và Công ty Chứng khoán sẽ cam kết một mức lợi nhuận tối thiểu phải trả cho Khách hàng trên phần vốn được ủy thác

Nghiệp vụ này cũng được hầu hết các Công ty Chứng khoán đăng ký hoạt động, nhưng hiện chỉ có Công ty Chứng khoán Ngân hàng đầu tư – phát triển (BSC) đã triển khai từ đầu năm 2003, với mức lợi nhuận đầu tư cam kết trả cho Khách hàng trên phần vốn ủy thác tối thiểu là 8,8%/năm (cao hơn so với lãi suất huy động tiết kiệm) và tỷ lệ lãi suất vượt hơn là 60%, phần còn lại 40% BSC sẽ hưởng như phần thưởng cho việc quản lý hiệu quả vốn đầu tư Tuy nhiên, cho đến nay nghiệp vụ này vẫn tiếp tục giậm chân tại chỗ, doanh số giao dịch không cao, nhà đầu tư vẫn rất dè dặt, BSC chỉ mang tính tập dượt

Đến cuối năm 2004, một số Công ty Chứng khoán như: Công ty Chứng khoán Ngân hàng Công Thương, Công ty chứng khoán Ngân hàng Đông Á cũng đang nghiên cứu triển khai nghiệp vụ này, dự kiến trong năm 2005 Công

ty chính thức công bố hoạt động và huy động các nhà đầu tư bên ngoài tham gia

Trên thực tế, các Công ty Chứng khoán như: Công ty Chứng khoán Ngân hàng Đầu tư và Phát Triển, Công ty Chứng khoán Bảo Việt, Công ty Chứng khoán Thăng Long từ khi mới bắt đầu hoạt động, các Công ty Chứng khoán này đã ký hợp đồng Quản lý danh mục đầu tư với giá trị rất lớn cho một hoặc một số tổ chức kinh doanh tài chính lớn như Ngân hàng, Công ty Bảo hiểm, Quỹ đầu tư tài chính…., sang năm 2004 đã có thêm Công ty Chứng khoán ACB,

Trang 38

Công ty Chứng khoán Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tiếp tục triển khai nghiệp vụ này với các hợp đồng quản lý giá trị lớn với các Công

ty Mẹ hay tổ chức tài chính có vốn cổ phần chiếm đa số như:

Bảng 2.3: Nghiệp vụ quản lý danh mục đầu tư của các Công ty chứng khoán

Việt

02 Công ty TNHH Chứng Khoán Ngân hàng

Đầu Tư – Phát triển

Ngân hàng Đầu tư – Phát triển

03 Công ty CP Chứng Khoán Sài Gòn

04 Công ty CP Chứng Khoán Đệ Nhất

05 Công ty CP Chứng Khoán Thăng Long

07 Công ty TNHH Chứng Khoán Ngân hàng

Công Thương Việt Nam

Ngân hàng Công thương Việt Nam

08 Công ty TNHH Chứng Khoán Ngân hàng

Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn Ngân hàng Nông nghiệp – Phát triển Nông thôn

09 Công TNHH Chứng Khoán Ngân hàng

10 Công ty CP Chứng Khoán MêKông

11 Công ty CP Chứng Khoán TP.HCM

12 Công ty CP Chứng Khoán Hải Phòng

2.3.3 Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán thông qua các Công ty Quản lý quỹ

Việc đầu tư thông qua Công ty Quản lý quỹ có thể tiết kiệm một khối lượng thời gian và công sức đáng kể, vì hầu như toàn bộ hoạt động liên quan đến hiệu quả đầu tư đã được giao phó cho người quản lý quỹ Tuy nhiên, không

Trang 39

ai có thể thay thế bản thân trong việc đưa ra các quyết định lựa chọn quỹ, lựa chọn thời điểm… vì điều đó liên quan đến những thông số cá nhân

Sự ra đời của các Công ty Quản lý quỹ đem lại tính chuyên nghiệp trong hoạt động đầu tư chứng khoán Các nhà đầu tư chứng khoán riêng lẻ sẽ tham gia vào thị trường chứng khoán thông qua các Công ty Quản lý quỹ Cho đến nay, Việt Nam cũng chỉ mới có 03 Công ty Quản lý quỹ được cấp phép đi vào hoạt động: Vinacapital, Dragoncapital và VFM (VietFund- Liên doanh giữa Ngân hàng Sacombank và Công ty Dragon Capital) Các Công ty quản lý quỹ này đã và đang thực hiện quản lý các Quỹ sau:

VF1 (Vietnam Fund Ltd) là Quỹ đầu tư đầu tiên được niêm yết tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Tp.Hồ Chí Minh, do Công ty liên doanh quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Việt Nam (VFM) quản lý, Ngân hàng Ngoại Thương thực hiện chức năng lưu ký, giám sát tài sản, và Ernst&Young đảm nhận nhiệm vụ kiểm toán độc lập

VF1 vừa là một loại hàng hóa, vừa đi mua hàng hóa VF1 sẽ sử dụng vốn để mua các loại cổ phiếu theo danh mục đầu tư, tức là đầu tư hộ nhà đầu

tư Qua đó tạo sự sôi động cho thị trường chứng khoán Đồng thời, VF1 sẽ niêm yết giống như một công ty cổ phần và nhà đầu tư có thể mua “cổ phiếu VF1” để đa dạng hóa giỏ hàng đầu tư

Với kinh nghiệm của Dragon danh mục cổ phiếu của VF1 được đảm bảo quỹ có mức tăng trưởng cao nhất Nhà đầu tư vào quỹ có thể yên tâm về sự sinh lời của đồng vốn, cụ thể bằng tỷ lệ cổ tức chia sau hàng năm

Theo giấy phép được thành lập, Quỹ sẽ được phép huy động vốn 300 tỷ đồng theo hình thức phát hành chứng chỉ quỹ ra công chúng; tuy nhiên, khả năng tham gia của nhà đầu tư trong nước và đã nhận được cam kết tới trên 400 tỷ đồng Và theo cam kết, Quỹ sẽ dành tối thiểu 60% vốn để đầu tư vào các loại chứng khoán đã và sẽ niêm yết

Ngoài ra, còn có các Công ty Quản lý Quỹ và các Quỹ đầu tư hoạt động như:

Quỹ PXP (Phanxipang Vietnam Fund): do Dragon Capital quản lý; Tổng giá trị 10 triệu USD, chuyên kinh doanh các loại chứng khoán đang giao dịch trên sàn Tuy nhiên, do số lượng chứng khoán niêm yết trên sàn còn hạn chế, PXP tiếp tục đầu tư vào các Công ty cổ phần hóa và doanh nghiệp khác

Quỹ VOF (Vietnam Opportunities Fund): do Công ty quản lý quỹ VinaCapital quản lý Được cấp giấy phép hoạt động từ tháng 9/2003, VOF là một dạng quỹ mở, vốn ban đầu 10 triệu USD, dự kiến hết năm 2005 sẽ tăng vốn lên 50 triệu USD VOF tập trung đầu tư vào thị trường mua bán công ty tại Việt Nam, danh mục đầu tư gồm các đối tượng là doanh nghiệp có vốn đầu tư

Trang 40

của nước ngoài đang hoạt động không hiệu quả tại Việt Nam và các công ty cổ phần hóa hay cổ phần tư nhân trong nước Tháng 07/2003, VOF đã kết hợp với Công ty CP Kinh Đô mua lại toàn bộ thương hiệu và quy trình sản xuất sản phẩm kem Wall của Công ty Đa quốc gia Unilever

Quỹ VFF (Vietnam Frontier Fund): tham gia vào thị trường Việt Nam từ tháng 07/1994, với tổng vốn ban đầu 50 triệu USD quỹ tập trung chủ yếu vào các dự án có vốn đầu tư nước ngoài, đến nay VFF đã tạm ngừng hoạt động và đang cố gắng thực hiện lại

Quỹ đầu tư VEIL (Vietnam Enterprise Investment Keppel): do Dragon Capital quản lý

Đây là các Công ty quản lý quỹ có sự tham gia của các quỹ đầu tư nước ngoài, tính chuyên nghiệp cao và giá trị đầu tư rất lớn Tuy nhiên, do số lượng chứng khoán giao dịch tại sàn quá ít, tỷ lệ tham gia được phép còn hạn chế; số chứng khoán của các Công ty Cổ phần mới được Cổ phần hóa chưa thật sự hấp dẫn nhà đầu tư nên các Quỹ đầu tư này chưa thể phát huy hết chức năng và những ưu điểm vốn có của nó

2.4 Thuận lợi và khó khăn khi thực hiện quản lý danh mục đầu tư chứng khoán tại Việt Nam:

Danh mục đầu tư của các Công ty bảo hiểm thường rất đa dạng Nó có thể là cổ phiếu, trái phiếu công ty, trái phiếu đô thị, chứng chỉ cổ đông, hợp đồng quyền chọn, các chứng chỉ có giá khác…

Công ty New York Life Asset Managerment là một trong những công ty con của New York Life International hiện đang quản lý một loạt quỹ đầu tư trên 1.116 tỷ USD, còn lại là nguồn vốn kinh doanh bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm chăm sóc y tế dài hạn và hưu trí

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:04

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w