Mục tiêu nghiên cứu: Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng tình hình hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua về phía cơ quan quản lý
Trang 1 -
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
NGUYỄN THOẠI BA
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG
HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA
NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế tài chính ngân hàng
Mã số:60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN: PGS.TS NGUYỄN NGỌC ĐỊNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – 2011
Trang 2CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI…… 1
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI… 1
1.1.1 Khái niệm……… ……… 1
1.1.2 Đặc điểm……….… ……… 2
1.2 CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI……… 3
1.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh……… 3
1.2.2 Doanh nghiệp liên doanh……… 4
1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài………4
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN NƯỚC CHỦ ĐẦU TƯ……… 5
1.3.1 Tác động tích cực….……….5
1.3.1.1 Nâng cao vị thế quốc gia……… ………5
1.3.1.2 Khai thác lợi thế so sánh của quốc gia……… ……… 5
1.3.1.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư………… ……… 6
1.3.1.4 Tạo thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định…… ………7
1.3.2 Tác động tiêu cực……….7
1.4 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
Trang 31.4.1.2 Hoạt động khuyến khích đầu tư ra nước ngoài…… ……… 9
1.4.1.3 Sức mạnh về khoa học kỹ thuật… ……… 10
1.4.2 Môi trường ở nước nhận đầu tư……… ……….11
1.4.2.1 Sự ổn định về kinh tế chính trị……… ……….11
1.4.2.2 Môi trường pháp luật minh bạch……… ……… 11
1.4.2.3 Cơ sở hạ tầng hiện đại, điều kiện tự nhiên thuận lợi……… …………12
1.4.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực cao……… ……… 13
1.4.3 Rủi ro quốc gia………14
1.4.3.1 Định nghĩa rủi ro quốc gia……….14
1.4.3.2 Những yếu tố tác động đến rủi ro quốc gia………15
1.4.3.3 Đánh giá rủi ro quốc gia……….…17
1.5 XU HƯỚNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN……… ……….18
1.5.1 Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng tăng………19
1.5.2 Lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng đa dạng……… 20
1.5.3 Địa bàn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng mở rộng……… 20
1.6 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NƯỚC……… ………21
Trang 4CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA
NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM……….…26
2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM……… ……… 26
2.1.1 Quan điểm của Đảng về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài………… ………26
2.1.2 Khung pháp lý điều chỉnh……… ……… 26
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM……….29
2.2.1 Quy mô đầu tư……… ………30
2.2.2 Lĩnh vực đầu tư……… ……… 35
2.2.3 Nước nhận đầu tư……… ………… ………42
2.2.4 Hình thức đầu tư……… 48
2.2.5 Phân tích kết quả phỏng vấn trực tiếp doanh nghiệp ……… 49
2.3 ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM……….…54
2.3.1 Thành tựu……… ……… ……….54
2.3.1.1 Hệ thống pháp luật, công tác quản lý của nhà nước………… ………54
2.3.1.2 Về phía doanh nghiệp Việt Nam………57
2.3.2 Hạn chế……… ……… 58
Trang 52.3.3 Nguyên nhân……… ……… 63
2.3.3.1 Nguyên nhân chủ quan ……… ……….63
2.3.3.2 Nguyên nhân khách quan ……… 67
CHƯƠNG III GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM………65
3.1 TRIỂN VỌNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM……….70
3.1.1 Cơ sở dự báo……… ……… 70
3.1.2 Triển vọng 72
3.1.2.1 Đầu tư trong khu vực các nước Đông Á……… ……… 72
3.1.2.2 Đầu tư vào các nước phát triển…… ……… 75
3.1.2.3 Đầu tư vào các thị trường mới và tiềm năng……….……… 75
3.2 GIẢI PHÁP…….……….76
3.2.1 Đối với nhà nước……….……….76
3.2.1.1 Xây dựng và hoàn thiện hành lang pháp lý quốc tế nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp thâm nhập thị trường các nước……… 76
3.2.1.2 Hoàn thiện cơ chế và ban hành nhiều chính sách hỗ trợ ưu đãi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài……… 78
3.2.1.3 Nâng cao vai trò và năng lực hoạt động của các tổ chức liên quan đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài………85
Trang 63.2.2.2.Đa dạng hoá hình thức đầu tư, mở rộng lĩnh vực và địa bàn đầu tư… 92 3.2.2.3 Nghiên cứu kỹ môi trường đầu tư trong và ngoài nước ………95 3.2.2.4 Xây dựng chiến lược kinh doanh lâu dài……… ………….96 3.2.2.5 Khai thác tối đa các ngành hàng, sản phẩm đã là lợi thế so sánh của Việt Nam……… ………96 3.2.2.6 Nhóm giải pháp khác………… ……… ………97
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 71 Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu:
Toàn cầu hóa là sự gia tăng các dòng chảy xuyên biên giới về con người, dịch
vụ, vốn, thông tin và văn hóa Toàn cầu hóa loại bỏ sự cô lập, tăng sự giàu có và tự do, giúp nâng cao tiềm năng và kiến thức của con người trên toàn thế giới Đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài là một trong những hoạt động kinh tế thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa diễn ra nhanh hơn, tới mọi nơi trên toàn thế giới Như bất kỳ hoạt động đầu tư nào khác, đầu tư ra nước ngoài không chỉ trực tiếp làm tăng thu nhập cho mỗi doanh nghiệp, mà nó còn có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế quốc dân
Việt Nam đã đến ngưỡng cửa của hội nhập toàn diện, không thể chỉ dừng lại ở việc tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp từ nước ngoài Đầu tư ra nước ngoài đã trở thành một xu thế tất yếu, do đó các doanh nghiệp Việt Nam cần phải chủ động, tranh thủ thời cơ để thâm nhập vào thị trường thế giới
Dự án đầu tiên của các doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài vào năm
1989 Ngày 14/4/1999, Nghị định số 22/NĐ-CP của Chính phủ về đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam được ban hành, cùng một số văn bản pháp luật liên quan đã tạo nên một khung pháp lý duy nhất cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam tính đến năm 2005 Nhưng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam còn nhiều những hạn chế, như thiếu chiến lược dài hạn, vốn đầu tư ít, quy mô còn nhỏ bé, các doanh nghiệp còn thiếu kinh nghiệm kinh doanh quốc tế Thêm vào
đó, cơ chế chính sách của Nhà nước chậm đổi mới, thiếu nhiều chính sách để tạo môi trường thuận lợi khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài
Để nhìn nhận một cách cụ thể hơn về hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua, đồng thời góp phần bổ sung cơ sở lý luận và thực tiễn để nâng cao hiệu quả đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trước quá
trình hội nhập kinh tế quốc tế Em đã quyết định chọn đề tài: “MỘT SỐ GIẢI PHÁP
Trang 8nghiệp Việt Nam Đồng thời xem xét và đánh giá các chính sách của Việt Nam và thực trạng hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua, từ đó đưa ra một số giải pháp thiết thực nhằm tăng cường, nâng cao hiệu quả hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
2 Mục tiêu nghiên cứu:
Mục tiêu nghiên cứu của luận án là phân tích thực trạng tình hình hoạt động đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian qua về phía cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp nhằm tìm ra những khó khăn và hạn chế đang cản trở sự phát triển của hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài; Trên cơ sở đó đánh giá triển vọng và đề xuất các giải pháp để đẩy mạnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là những vấn đề liên quan đến đầu tư trực tiếp
ra nước ngoài của Việt Nam
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu những vấn đề lý luận của đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tìm hiểu thực trạng, khó khăn, hạn chế và đưa ra một số giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong thời gian tới
4 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp định tính: Nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đã xuất bản trong các tạp chí khoa học trong nước, các bài báo, tài liệu hội thảo, hội nghị, các tài liệu nghe nhìn; kết quả từ thảo luận nhóm mục tiêu;… Đồng thời, sử dụng các phương pháp truyền thống gồm: phân tích, tổng hợp, thống kê, mô tả và so sánh
Trang 9định chính sách có giải pháp điều chỉnh chónh sách và hoàn thiện các giải pháp xúc tiến đầu tư phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế Việt Nam theo yêu cầu hội nhập quốc tế và khu vực
6 Điểm mới của luận văn:
Một là, trình bày một bức tranh toàn cảnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam hơn 20 năm qua;
Hai là, chỉ ra những hạn chế thuộc về chính sách, pháp luật, công tác quản lý nhà nước; và những khó khăn từ phía doanh nghiệp cần phải nhanh chóng khắc phục;
Ba là, đề ra các giải pháp có tính khả thi để đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam trong tương lai
7 Kết cấu của luận văn:
Ngoài phần lời nói đầu, kết luận, mục lục, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của đề tài gồm ba chương:
Chương I: Tổng quan về đầu tư trực tiếp nước ngoài
Chương II: Thực trạng hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Chương III: Giải pháp tăng cường hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam
Mặc dù đã rất cố gắng, song những hạn chế về kiến thức cũng như hạn chế về thời gian và nguồn tài liệu nên đề tài khó tránh khỏi những thiếu sót, kính mong nhận được sự đóng góp của Quý thầy cô
Trang 10CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC
NGOÀI
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
1.1.1 Khái niệm:
Đối với nhiều nước trên thế giới, nguồn vốn đầu tư luôn đóng vai trò quan trọng và là
điều kiện thiết yếu để tăng trưởng kinh tế Đây là nguồn lực to lớn để các nước khai thác
nhằm đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới và nâng cao sức mạnh kinh tế
của mình
Cho tới nay, khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài trở nên phổ biến và được các nhà
kinh tế cũng như các tổ chức kinh tế quan tâm
Theo Quỹ tiền tệ quốc tế định nghĩa đầu tư trực tiếp nước ngoài là số vốn đầu tư được
thực hiện nhằm thu lợi lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động ở một nền kinh tế khác
với nền kinh tế của nhà đầu tư Ngoài mục đích lợi nhuận, nhà đầu tư mong muốn tìm
được chỗ đứng trong quản lý doanh nghiệp
Về thực chất, khái niệm này khẳng định tính lâu dài trong hoạt động đầu tư và động
cơ của các nhà đầu tư là tìm kiếm lợi nhuận, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp và
mở rộng thị trường
Theo Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) định nghĩa đầu tư trực tiếp nước
ngoài phản ánh những lợi ích khách quan lâu dài mà một thực thể kinh tế tại một nước
(nhà đầu tư) đạt được thông qua một cơ sở kinh tế tại một nền kinh tế khác với nền kinh tế
thuộc đất nước của nhà đầu tư Lợi ích lâu dài bao gồm sự tồn tại của mối quan hệ giữa
nhà đầu tư và doanh nghiệp đầu tư cũng như nhà đầu tư giành được ảnh hưởng quan trọng
và có hiệu quả trong việc quản lý doanh nghiệp đó Đầu tư trực tiếp bao hàm sự giao dịch
ngay từ đầu và tất cả những giao dịch vốn tiếp theo sau giữa hai thực thể (nhà đầu tư –
doanh nghiệp đầu tư) và các doanh nghiệp liên kết (doanh nghiệp trong nước và doanh
nghiệp nước ngoài)
Trang 11Khái niệm đầu tư trực tiếp ở đây bao hàm những giao dịch về vốn xuyên suốt quá trình đầu tư và động cơ chủ yếu của đầu tư trực tiếp nước ngoài là phần vốn được sử dụng
ở nước ngoài gắn liền với việc tạo ra ảnh hưởng trực tiếp hoặc phục vụ việc kiểm soát các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tiếp nhận vốn Đây cũng là mục đích chủ yếu khi các doanh nghiệp tiến hành hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Theo Báo cáo đầu tư thế giới năm 1999 của UNCTAD định nghĩa thì đầu tư trực tiếp nước ngoài là hoạt động đầu tư bao gồm mối quan hệ dài hạn, phản ánh lợi ích và quyền kiểm soát lâu dài của một thực thể thường trú ở một nền kinh tế (nhà đầu tư nước ngoài hoặc công ty mẹ nước ngoài) trong một doanh nghiệp thường trú ở một nền kinh tế khác với nền kinh tế của nhà đầu tư nước ngoài (doanh nghiệp đầu tư trực tiếp nước ngoài, doanh nghiệp liên doanh hoặc chi nhánh nước ngoài)
Theo Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 09/08/2006 của Chính phủ thì đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn đầu tư ra nước ngoài để thực hiện hoạt động đầu tư và trực tiếp quản lý hoạt động đầu tư đó ở nước ngoài
Qua việc nghiên cứu các khái niệm về đầu tư trực tiếp nước ngoài ở các quốc gia khác nhau, chúng ta thấy nổi bật lên một đặc điểm: đầu tư trực tiếp nước ngoài là hình thức đầu
tư quốc tế, cho phép các nhà đầu tư tham gia điều hành hoạt động đầu tư ở nước tiếp nhận đầu tư tùy theo mức góp vốn của nhà đầu tư Trong đầu tư trực tiếp, quyền sở hữu gắn liền với quyền sử dụng tài sản đầu tư, nghĩa là nhà đầu tư sẽ thu được nhiều lợi nhuận hơn khi hoạt động đầu tư có lãi và chịu rủi ro hơn khi đầu tư thua lỗ Điều này cũng có nghĩa
là nhà đầu tư trong phương thức đầu tư trực tiếp sẽ hoàn toàn chủ động trong kinh doanh
có lãi cũng như chịu trách nhiệm khi công ty thua lỗ
1.1.2 Đặc điểm:
Các yếu tố đầu tư di chuyển ra khỏi biên giới quốc gia
Chủ sở hữu đầu tư là người nước ngoài, vốn đầu tư được tính bằng ngoại tệ Chủ đầu
tư nước ngoài điều hành toàn bộ hoạt động đầu tư nếu là doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc tham gia điều hành doanh nghiệp liên doanh tùy theo tỷ lệ góp vốn của mình
Trang 12Lợi nhuận của chủ đầu tư nước ngoài thu được phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Lời và lỗ được chia theo tỷ lệ góp vốn pháp định sau khi nộp thuế cho nước chủ nhà (nước nhận đầu tư)
Thông qua đầu tư trực tiếp nước ngoài chủ nhà có thể tiếp nhận được công nghệ, kỹ thuật tiên tiến, học hỏi kinh nghiệm quản lý gọi chung là chuyển giao công nghệ Đây
là một trong những mục tiêu mà hình thức đầu tư gián tiếp không thể có được
Nguồn vốn đầu tư không chỉ bao gồm nguồn vốn ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định, mà trong quá trình hoạt động, nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai hoặc mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư từ lợi nhuận thu được Đầu tư trực tiếp nước ngoài có ưu điểm hơn so với đầu tư gián tiếp ở chỗ chủ đầu tư
có thể chủ động trong việc lựa chọn và quyết định lĩnh vực, quy mô đầu tư Bên cạnh đó, chủ đầu tư được tự mình điều hành kinh doanh, nên có thể giám sát chặt chẽ hơn hoạt động của doanh nghiệp Tuy nhiên, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài cũng có những nhược điểm nhất định như: mức độ mạo hiểm và rủi ro lớn, phụ thuộc chặt chẽ vào tình hình kinh tế, chính trị, chính sách của nước nhận đầu tư
Mặc dù vậy, xét trên mục đích tìm kiếm lợi nhuận, đầu tư trực tiếp ra nước ngoài vẫn
là hình thức đầu tư được nhiều doanh nghiệp yêu thích và lựa chọn vì khoản lợi nhuận thu được chắc chắn sẽ cao hơn so với các hình thức đầu tư khác
1.2 CÁC HÌNH THỨC CHỦ YẾU CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI 1.2.1 Hợp đồng hợp tác kinh doanh
Hợp đồng hợp tác kinh doanh là văn bản được ký kết giữa một chủ đầu tư nước ngoài
và một chủ đầu tư trong nước (nước nhận đầu tư) để tiến hành một hoặc nhiều hoạt động sản xuất kinh doanh ở nước nhận đầu tư trên cơ sở quy định về trách nhiệm và phân phối kết quả kinh doanh mà không thành lập một công ty, xí nghiệp hay hình thành một tư cách pháp nhân mới nào Hình thức đầu tư này có đặc điểm:
Thứ nhất, cả hai bên cùng hợp tác kinh doanh trên cơ sở văn bản hợp đồng đã ký thỏa
thuận về trách nhiệm, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên
Trang 13Thứ hai, không thành lập một pháp nhân mới
Thứ ba, thời hạn của hợp đồng hợp tác kinh doanh do hai bên thỏa thuận phù hợp với
tính chất hoạt động kinh doanh và sự cần thiết để hoàn thành mục tiêu của hợp đồng
Thứ bốn, vấn đề vốn kinh doanh không nhất thiết phải được đề cập trong văn bản hợp
đồng hợp tác kinh doanh
1.2.2 Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh là hình thức đầu tư do các cá nhân hoặc công ty đầu tư góp vốn với một hoặc nhiều chủ đầu tư nước ngoài để lập ra cơ sở sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ tại nước nhận đầu tư Đặc điểm cơ bản của doanh nghiệp liên doanh là:
Thứ nhất, các bên thành lập một pháp nhân mới ở nước nhận đầu tư
Thứ hai, các bên tham gia có trách nhiệm góp vốn, được hưởng lợi nhuận và chia sẻ
rủi ro theo tỷ lệ góp vốn
Doanh nhiệp liên doanh là loại hình được nước nhận đầu tư yêu thích vì hầu hết các doanh nghiệp liên doanh khi đầu tư kinh doanh ở nước nhận đầu tư thường phải mang theo các thiết bị khoa học kỹ thuật tiên tiến, kinh nghiệm quản lý hiện đại
1.2.3 Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài
Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài là hình thức mà cá nhân hoặc công ty đầu tư ra nước ngoài bỏ vốn để thành lập công ty hoặc xí nghiệp ở nước nhận đầu tư Đặc điểm của hình thức đầu tư này là:
Thứ nhất, nhà đầu tư nước ngoài phải bỏ vốn 100% để thành lập công ty, xí nghiệp
mới mang pháp nhân của nước nhận đầu tư
Thứ hai, nhà đầu tư có quyền điều hành toàn bộ doanh nghiệp theo quy định của nước
nhận đầu tư, tự quản lý và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh của mình, chịu sự kiểm soát của pháp luật nước nhận đầu tư
Ngoài ra, còn có các hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài khác áp dụng cho các công trình xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật như: Hợp đồng xây dựng – kinh doanh –
Trang 14chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng – chuyển giao – kinh doanh (BTO), hợp đồng xây dựng – chuyển giao (BT)
1.3 TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN NƯỚC CHỦ ĐẦU TƯ
1.3.1 Tác động tích cực
1.3.1.1 Nâng cao vị thế quốc gia
Trong thực tế, những nước có lượng vốn đầu tư ra nước ngoài lớn có nhiều cơ hội quảng bá hình ảnh, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao vị thế đất nước của mình Các chính sách mà chủ đầu tư áp dụng sẽ phần nào phản ánh nét đặc trưng của mỗi quốc gia và có ảnh hưởng nhất định đến người lao động ở nước nhận đầu tư Nhờ đó, đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp người dân ở nước nhận đầu tư hiểu sâu hơn về phong tục, văn hóa của nước chủ đầu tư Nếu như trước đây, dòng vốn đầu tư trực tiếp chủ yếu từ các nước công nghiệp phát triển, có tiềm lực kinh tế thì ngày nay, các quốc gia đang phát triển như Trung Quốc, Ấn Độ, Hàn Quốc,… cũng nhận thấy tầm quan trọng của hoạt động này và không ngừng đẩy mạnh đầu tư sang các nước khác
Thực tế cho thấy, thành công của các công ty khi đầu tư sang các nước khác sẽ có tác động rất lớn đến quốc gia đó Một khi các quốc gia đã chiếm lĩnh thị trường thế giới thì
đó không chỉ là nhân tố đóng góp vào sự phát triển kinh tế quốc gia mà còn giúp nâng cao tiếng nói chính trị trên trường quốc tế, giúp quốc gia thâm nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, thúc đẩy nhanh tiến trình hội nhập; Đồng thời, đa dạng hóa nguồn thu ngoại tệ, góp phần cải thiện cán cân thanh toán quốc tế
1.3.1.2 Khai thác lợi thế so sánh của quốc gia
Để khai thác lợi thế của mình, mỗi quốc gia ngoài sản xuất trong nước và xuất khẩu còn có thể tiến hành đầu tư trược tiếp ra nước ngoài Thông qua đầu tư ra nước ngoài, nước chủ đầu tư sẽ khai thác nguồn tài nguyên phong phú, nguồn lao động, chính sách ưu đãi của nước nhận đầu tư Qua đó, chủ đầu tư sẽ cắt giảm chi phí sản xuất, nâng cao năng
Trang 15lực cạnh tranh của hàng hóa Hầu hết các doanh nghiệp đều mang máy móc thiết bị, công nghệ không còn tiên tiến ở nước mình sang nước nhận đầu tư để kéo dài vòng đời sản phẩm trong khi tiếp tục phát triển các ngành công nghiệp mới với các sản phẩm có hàm lượng kỹ thuật cao trong nước Điều này giúp nhà đầu tư khai thác hiệu quả lợi thế so sánh, thu được lợi nhuận tuyệt đối và góp phần làm tăng tổng sản phẩm quốc dân của nước mình Mặt khác, chủ đầu tư được chuyển về nước phần lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh sau khi thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với nước nhận đầu tư Điều này giúp nước đầu tư thu được lượng ngoại tệ lớn từ hoạt động đầu tư ra nước ngoài
1.3.1.3 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Tích tụ và tập trung tư bản ngày càng phát triển, giúp các nước tích lũy vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh trong nước Tuy nhiên, khi quá trình này đạt tới mức cao sẽ khiến các nước dư thừa vốn, hoạt động sản xuất kinh doanh trong nước sẽ trở nên chật hẹp, cản trở khả năng phát huy hiệu quả đầu tư Sự dư thừa vốn này chỉ mang tính tương đối tức là doanh nghiệp không tìm thấy nơi đầu tư nào trong nước thu được lợi nhuận cao Đây được coi là động lực lớn thúc đẩy các doanh nghiệp chuyển vốn của mình đầu tư ra nước ngoài Điều này giúp nhà đầu tư đảm bảo tính hiệu quả của việc sử dụng vốn, tránh được hàng rào thương mại (hầu hết các quốc gia trên thế giới đều sử dụng thuế quan, hạn ngạch và các hình thức phi thuế quan khác để kiểm soát việc xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ), góp phần quan trọng vào thành công của doanh nghiệp, đồng thời góp phần tạo
ra đội ngũ thương nhân năng động, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế Lợi ích này không chỉ dành cho các nhà đầu tư từ các nước công nghiệp phát triển mà còn cho các nhà đầu tư nói chung, ở đây không có sự phân biệt các nước có trình độ phát triển khác nhau Kết luận này đưa ra dựa trên cơ sở lợi ích tương đối của mỗi nước Tuy là nước đang phát triển nhưng họ cũng có thế mạnh riêng trong từng lĩnh vực cụ thể và tạo ra giá trị gia tăng thích đáng cho hoạt động đầu tư của mình Nhận thức được điều này, trong những năm gần đây, Việt Nam cũng như nhiều nước khác đã ban hành chính sách khuyến khích đầu
tư ra nước ngoài Thông qua hoạt động đầu tư, chúng ta không chỉ thu được lợi ích về mặt
Trang 16kinh tế, mà còn củng cố và mở rộng quan hệ đối ngoại với các nước trong khu vực và trên thế giới, thực hiện thành công chủ trương “đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại” Yếu tố này sẽ góp phần đẩy nhanh quá trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới của Việt Nam
1.3.1.4 Tạo thị trường cung cấp nguyên liệu ổn định
Một trong những yếu tố khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài chính là nguồn nguyên liệu dồi dào của nước nhận đầu tư Thông qua hình thức đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, nước chủ đầu tư sẽ dễ dàng khai thác được lợi thế về nguồn nguyên liệu phong phú, yếu tố này giúp nhà đầu tư giảm chi phí và yên tâm về tính ổn định của yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất Trong thực tế, phần lớn nguồn tài nguyên của các nước nhận đầu tư chưa được khai thác hiệu quả hoặc việc khai thác đòi hỏi vốn đầu tư ban đầu lớn, do vậy nguồn vồn đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ giúp các nước khai thác tài nguyên hiệu quả
1.3.2 Tác động tiêu cực:
Khi đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, chủ đầu tư phải chấp nhận mạo hiểm và rủi ro do môi trường đầu tư vượt khỏi biên giới quốc gia, bất kỳ sự thay đổi chính sách theo hướng bất lợi cho nhà đầu tư nước ngoài sẽ gây khó khăn cho hoạt động kinh doanh của nhà đầu
tư Do vậy, đòi hỏi nhà đầu tư phải nghiên cứu kỹ môi trường đầu tư ở nước ngoài cũng như khả năng dự đoán những thay đổi về chính sách của nước nhận đầu tư để hạn chế rủi
ro Như vậy, bên cạnh những yếu tố chủ quan, sự thành công của nhà đầu tư còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế, chính trị, chính sách, pháp luật của nước nhận đầu
Trang 17tư ra nước ngoài vẫn rất lớn cho cả nước đầu tư và nước nhận đầu tư, cho nên hoạt động này vẫn phát triển và ngày càng khẳng định vai trò đối với quá trình toàn cầu hóa, và Việt Nam không phải là ngoại lệ
1.4 CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
Môi trường đầu tư là tập hợp tất cả các yếu tố về tự nhiên, kinh tế, chính trị, xã hội, pháp luật,… của nước nhận đầu tư có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạt động của chủ đầu tư nước ngoài
Không chỉ chính sách của nước nhận đầu tư mà ngay cả những quy định của nước chủ đầu tư cũng ảnh hưởng lớn đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp
1.4.1 Môi trường ở nước đầu tư
1.4.1.1 Chính sách kinh tế
Chính sách kinh tế được đề cập ở đây bao gồm chính sách tài chính, tiền tệ, các quy định về xuất nhập khẩu và quản lý ngoại hối Đây được xem là một trong những nhân tố tác động mạnh mẽ đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Sự thay đổi chính sách ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả sử dụng vốn của chủ đầu tư Thực tế cho thấy, nếu hiệu quả đầu tư trong nước càng cao thì càng ít doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài; nếu khả năng xuất khẩu hàng hóa trong nước càng khó thì càng khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài vì khi đó họ dễ dàng thâm nhập thị trường nước khác; nếu khả năng nhập khẩu hàng ngoại càng dễ thì các doanh nghiệp càng có xu hướng chuyển hoạt động sản xuất ra nước ngoài sau đó nhập khẩu trở lại trong nước Như vậy, các doanh nghiệp sẽ xem xét chính sách của nước mình để từ đó đưa ra quyết định đầu tư
ra nước ngoài, vì nó quyết định mức lợi nhuận mà nhà đầu tư nhận được
Đối với chính sách tài chính tiền tệ: sự thay đổi chính sách tiền tệ từ thắt chặt sang nới lỏng hay ngược lại đều có tác động đến quyết định đầu tư ra nước ngoài của chủ đầu tư Nếu nước chủ đầu tư thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ sẽ làm lãi suất của nước này
Trang 18tăng lên vì khi đó cầu tiền luôn lớn hơn cung tiền, điều này sẽ không khuyến khích đầu tư
ra nước ngoài Mặt khác, thay đổi chính sách tài chính tiền tệ còn ảnh hưởng trực tiếp đến lạm phát Khi lạm phát ở mức cao sẽ làm đồng nội tệ mất giá, khi đó cùng một lượng tiền
tệ, đồng nội tệ mua được ít hàng hóa ở nước ngoài hơn, điều này sẽ làm giảm dòng vốn đầu tư ra nước ngoài vì nhà đầu tư phải bỏ nhiều vốn hơn Ngược lại, khi đồng nội tệ của nước đầu tư lên giá, thì lại khuyến khích doanh nghiệp trong nước đầu tư ra nước ngoài Các chính sách xuất nhập khẩu cũng có ảnh hưởng đến hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Theo đó, nếu nước đầu tư dễ dàng xuất khẩu hàng hóa sang các nước khác thông qua các hiệp định thương mại, thì hoạt động đầu tư ra nước ngoài không mấy hấp dẫn Mặt khác, nếu nước đầu tư thực hiện chính sách khuyến khích nhập khẩu hàng hóa thì sẽ thúc đẩy các công ty đầu tư ra nước ngoài để khai thác điều kiện thuận lợi từ nước nhập khẩu và mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm, sau đó tái nhập thành phẩm Chính sách quản lý ngoại hối ở nước đầu tư đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đầu tư sang nước khác Nếu thực hiện nới lỏng quản lý ngoại hối theo hướng tự do hóa thị trường vốn thì nhà đầu tư được quyền tự do chuyển vốn ra nước ngoài Khi đó, doanh nghiệp được khuyến khích chuyển vốn ra nước ngoài để thực hiện hoạt động kinh doanh của mình Tuy nhiên, ở một số nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, tức là khi chuyển vốn ra nước ngoài, doanh nghiệp phải được
cơ quan quản lý chức năng cho phép Điều này làm doanh nghiệp mất nhiều thời gian, thực hiện nhiều thủ tục để được phép chuyển ngoại tệ sang nước khác Chính yếu tố này kìm hãm các doanh nghiệp triển khai dự án đầu tư ra nước ngoài
1.4.1.2 Hoạt động khuyến khích đầu tư ra nước ngoài
Quan điểm của chính phủ mỗi nước về đầu tư ra nước ngoài là khác nhau, đóng vai trò quan trọng, quyết định sự thành công của doanh nghiệp nước đó Thông qua ban hành và thực thi các chính sách cụ thể sẽ giúp doanh nghiệp trong nước định hướng hoạt động của mình khi đầu tư ra nước ngoài Các hoạt động khuyến khích đầu tư ra nước ngoài của nhà nước thường thấy như: ký kết các hiệp định song phương, đa phương, hiệp định tránh
Trang 19đánh thuế hai lần, cung cấp thông tin môi trường đầu tư ở nước ngoài thông qua việc xúc tiến thương mại và thành lập các tổ chức hỗ trợ đầu tư ở nước ngoài (ví dụ như ở Đức có KFW, ở Nhật có MITI, JICA,…), hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp,… Những hoạt động này tạo điều kiện thuận lợi và là cơ sở pháp lý cho nhà đầu tư triển khai dự án ở nước ngoài Đây là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến thành công của doanh nghiệp khi mang vốn sang thị trường nước khác
Bên cạnh đó, ở một số nước hoạt động đầu tư ra nước ngoài được khuyến khích nhằm tiếp cận thị trường và giảm xung đột thương mại, ví dụ như Nhật hay bị Hoa Kỳ hay các nước Châu Âu phàn nàn do Nhật có thặng dư thương mại còn các nước kia bị thâm hụt trong quan hệ song phương Để đối phó, Nhật đã tăng cường đầu tư vào các thị trường đó
Họ sản xuất và bán ô tô ngay tại Hoa Kỳ, Châu Âu, để giảm xuất khẩu các sản phẩm từ Nhật sang Họ còn đầu tư vào các nước thứ ba, từ đó xuất khẩu sang thị trường Bắc Mỹ
và Châu Âu
1.4.1.3 Sức mạnh về khoa học kỹ thuật
Lợi thế về khoa học, kỹ thuật hiện đại là một trong những nhân tố tác động mạnh đến nhà đầu tư vì nó khuyến khích chuyển giao công nghệ sang nước khác Thực tế cho thấy, những nước có tỷ trọng cung cấp công nghệ cao là những nước đầu tư nhiều sang nước khác, vì họ muốn tiêu thụ công nghệ của nước mình và tận dụng lợi thế so sánh của nước nhận đầu tư
Trình độ nghiên cứu và phát triển công nghệ luôn là một lợi thế quan trọng của nước đầu tư Một nước có trình độ công nghệ cao thường tạo ra công nghệ nguồn, có vai trò quyết định giá cả trong thị trường công nghệ quốc tế Các công nghệ nguồn sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh độc quyền và cần sản xuất với quy mô lớn Đây là yếu tố quyết định thành công của các công ty khi muốn mở rộng kinh doanh ra nước ngoài
Mặc dù vậy, không phải FDI chỉ đi theo hướng từ nước phát triển sang nước kém phát triển hơn, mà với mục tiêu khai thác chuyên gia và công nghệ, chiều ngược lại thậm chí còn mạnh mẽ hơn nữa Nhật là nước tích cực đầu tư trực tiếp vào Hoa Kỳ để khai thác đội
Trang 20ngũ chuyên gia ở Hoa Kỳ Không chỉ Nhật tích cực đầu tư vào Hoa Kỳ, các nước công nghiệp phát triển khác cũng có chính sách tương tự Trung Quốc gần đây cũng đẩy mạnh đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, trong đó có Hoa Kỳ
1.4.2 Môi trường ở nước nhận đầu tư
Môi trường đầu tư nước ngoài là tổng hợp các yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến dòng vốn đầu tư của nhà đầu tư nước ngoài Do vậy, khi đưa ra quyết định đầu tư chủ đầu tư phải nghiên cứu kỹ chính sách của nước tiếp nhận vốn
1.4.2.1 Sự ổn định về kinh tế - chính trị
Đây được xem là yếu tố quan trọng hàng đầu đối với nhà đầu tư khi hoạt động kinh doanh ở nước khác Những bất ổn về kinh tế, chính trị của nước nhận đầu tư sẽ làm nhà đầu tư nước ngoài khó kiểm soát hoạt động của mình, đồng thời phải chấp nhận rủi ro ở mức rất cao
Trong thực tế, tình hình chính trị ổn định sẽ đảm bảo chính phủ nước sở tại thực hiện cam kết về quyền sở hữu vốn đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư và định hướng phát triển hoạt động sản xuất trong nước Do vậy, nhà đầu tư không lo ngại tình trạng cơ sở sản xuất kinh doanh của mình bị trưng dụng khi nước nhận đầu tư có bất kỳ xung đột nào trong nước hay khu vực Đây được coi là yếu tố nhạy cảm, tác động tiêu cực đến tâm lý, suy nghĩ của chủ đầu tư, đồng nghĩa với việc lợi ích của chủ đầu tư nước ngoài không được đảm bảo; cũng như ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình cải cách chính sách của nước nhận đầu tư
1.4.2.2 Môi trường luật pháp minh bạch
Đối với mỗi quốc gia, hệ thống pháp luật là thành phần quan trọng của môi trường đầu tư, phản ánh chính sách mở cửa, chiến lược hội nhập kinh tế thế giới Các quy định của nước nhận đầu tư thường là về thủ tục hành chính đối với nhà đầu tư nước ngoài trong việc đi lại, xin giấy phép đầu tư, giải quyết các khiếu nại,…Nếu nước nhận đầu tư ban hành chính sách, thủ tục rắc rối, gây phiền hà cho nhà đầu tư nước ngoài thì rất khó
Trang 21thu hút được họ đến và ngược lại Bộ máy hành chính hiệu quả không chỉ quyết định thành công trong việc thu hút vốn mà còn quyết định hiệu quả sử dụng nguồn vốn đó Do vậy, để phù hợp với yêu cầu của toàn cầu hóa, các nước đều hướng đến xây dựng bộ máy hành chính gọn nhẹ, thủ tục pháp lý đơn giản, công khai và nhất quán
Ngoài thủ tục hành chính, nhà đầu tư nước ngoài cũng quan tâm đến tính thống nhất, minh bạch của các văn bản pháp luật cũng như tính hiệu lực trong việc thực hiện chính sách Nếu các chính sách điều chỉnh hoat động đầu tư không có tính hiệu lực thì chứng tỏ
sự yếu kém trong bộ máy quản lý, dẫn đến làm mất lòng tin đối với nhà đầu tư nước ngoài
Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của từng nước mà hệ thống pháp luật của mỗi nước có sự hấp dẫn khác nhau Nếu hệ thống pháp luật càng rõ ràng, chặt chẽ, phù hợp với thông lệ quốc tế thì khả năng thu hút được vốn đầu tư nước ngoài rất cao Nhận thức được tầm quan trọng của hệ thống luật pháp trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, hầu hết các nước đều chú trọng hoàn thiện thệ thống luật pháp của mình, sẵn sàng điều chỉnh, bổ sung cho phù hợp với tình hình thực tế, nhằm tăng tính hấp dẫn cho môi trường đầu tư, góp phần phát triển kinh tế đây là nỗ lực tất yếu trong bối cảnh hội nhập kinh tế thế giới ngày càng sâu rộng
1.4.2.3 Cơ sở hạ tầng phát triển, điều kiện tự nhiên thuận lợi
Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài đòi hỏi phải có hạ tầng kỹ thuật phát triển, tương xứng với nhu cầu đầu tư của các doanh nghiệp Cơ sở hạ tầng tốt sẽ tạo điều kiện cho nhà đầu tư nước ngoài nhanh chóng triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh
Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm hệ thống giao thông vận tải, thông tin liên lạc, điện, nước,… Để hấp dẫn nhà đầu tư, việc nâng cấp cơ sở hạ tầng là yếu tố quan trọng; Hay nói cách khác, trình độ phát triển của ngành bưu chính viễn thông, vận tải hàng không, vận tải biển, điện,…cũng là yếu tố quan trọng hấp dẫn nhà đầu tư Bởi lẽ, khi đó hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà đầu tư sẽ hiệu quả hơn do những tiện ích của cơ sở hạ tầng mang lại
Trang 22Bên cạnh đó, điều kiện tự nhiên cũng là yếu tố quan trọng đối với chủ đầu tư Điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố về địa lý, nguồn tài nguyên thiên nhiên Các biến cố về khí hậu có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của một số hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp, dịch vụ Quỹ tài nguyên thiên nhiên cũng là một lợi thế, trong đó chủ yếu là các nước đang phát triển Đa số nhà đầu tư nước ngoài có tham vọng biến những nước này thành công trường khai thác tài nguyên, khoáng sản chuyên nghiệp và thu lợi nhuận cao Mặc dù, hiện nay điều kiện tự nhiên không còn giữ vai trò quyết định như trước Nếu chỉ dựa vào nguồn tài nguyên dồi dào của mình để thu hút đầu tư thì khó có thể thành công Do đó, các nước cần nỗ lực kết hợp với cải thiện các yếu tố khác của môi trường đầu tư Những nỗ lực đó sẽ giúp xã hội sử dụng tốt nhất nguồn lực tự nhiên của mình bao gồm cả nguồn lực vật chất lẫn nguồn nhân lực
1.4.2.4 Chất lượng nguồn nhân lực
Chất lượng nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công của doanh nghiệp Doanh nghiệp chỉ tồn tại và phát triển khi có đội ngũ nhân viên
có chuyên môn và năng lực Đây sẽ là những người trực tiếp tham gia triển khai và quản
lý dự án đầu tư Vì vậy chất lượng nguồn nhân lực có tác động lớn đến khả năng thu hút vốn, kể cả những nước nghèo Chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ dẫn đến khả năng tiếp cận công nghệ tiên tiến hạn chế, trình độ quản lý yếu kém, giảm năng lực cạnh tranh của quốc gia đó
Ngược lại, các quốc gia có nguồn nhân lực tương đối, sẽ góp phần thu hút tốt dòng vốn nước ngoài Bởi xét cho cùng, chính người lao động ở nước nhận đầu tư là người trực tiếp tham gia sản xuất, với trình độ tay nghề cao sẽ giúp họ vận hành máy móc thuận tiện, đóng góp ý kiến quan trọng cho ban lãnh đạo cũng như đưa ra sáng kiến cải tiến trong quá trình làm việc
Hiện nay, nền kinh tế tri thức đang hình thành và phát triển mạnh mẽ ở các nước, do vậy việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực không chỉ có ý nghĩa quan trọng cho sự
Trang 23phát triển kinh tế mà còn đóng vai trò tích cực trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
Hiện nay, xu hướng phát triển dòng vốn đầu tư đã có nét thay đổi quan trọng Nếu như trước đây, yếu tố quyết định đối với đầu tư trực tiếp nước ngoài là lao động giá rẻ thì ngày nay tuy lao động vẫn đóng vai trò chủ yếu trong đầu tư nước ngoài nhưng lại là lao động lành nghề giá rẻ chứ không phải là lao động giản đơn giá rẻ, điều này hoàn toàn phù hợp với xu hướng đầu tư trực tiếp nước ngoài phát triển theo chiều sâu
Nhận thức sâu sắc được vai trò của chất lượng nguồn nhân lực trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài, các nước đã thực hiện nhiều chính sách ưu tiên phát triển giáo dục, tạo môi trường học tập trong dân chúng, qua đó tỷ lệ thất nghiệp cũng giảm theo thời gian Như vậy, ưu tiên phát triển giáo dục đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là hoạt động không thể thiếu được trong sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, đặc biệt trong môi trường cạnh tranh để thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng khốc liệt
Tóm lại, nhà đầu tư nước ngoài sẽ ưu tiên đầu tư vào những nước có nền kinh tế - chính trị- xã hội ổn định; hệ thống pháp luật đầu tư hoàn thiện, minh bạch, chính sách đầu
tư linh hoạt, hấp dẫn, cơ sở hạ tầng đồng bộ, lao động có trình độ Các tiêu chí này không phải nhất thời đạt được, đòi hỏi các nước phải dành thời gian và có chiến lược phù hợp để nhanh chóng hoàn thiện môi trường đầu tư
1.4.3 Rủi ro quốc gia
1.4.3.1 Định nghĩa rủi ro quốc gia
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ như hiện nay thì rủi ro không chỉ đơn thuần được xem xét trong phạm vi một lĩnh vực bên trong một quốc gia mà nó được mở rộng ra phạm vi một quốc gia và lớn hơn đó
là phạm vi toàn cầu Chính vì vậy, cần phải xem xét rủi ro ở tầm quốc gia, tức là rủi
ro quốc gia, khi tiến hành hoạt động đầu tư
Rủi ro quốc gia đề cập đến rủi ro mà một quốc gia sẽ không thể thực hiện hay
Trang 24không sẵn sàng thực hiện các cam kết tài chính, nghĩa vụ nợ của mình đối với người cho vay hoặc nhà đầu tư nước ngoài Khi mà một quốc gia không hoàn thành được nhiệm vụ đề ra thì nó sẽ gây hại đến hoạt động của tất cả các công cụ tài chính khác trong quốc gia đó như cổ phiếu, trái phiếu, quỹ tương hỗ, quyền chọn và hợp đồng tương lai Loại rủi ro này hầu hết thường được thấy tại các thị trường mới nổi hay các quốc gia
bị thâm hụt cán cân thương mại nghiêm trọng
Rủi ro quốc gia là một định nghĩa rộng hơn của rủi ro tín dụng và cho vay xuyên biên giới Nếu rủi ro này được xem xét từ khía cạnh một danh mục cho vay thì nó bao gồm cả các yếu tố hệ thống (rủi ro không thể đa dạng hóa) và các yếu tố phi hệ thống (rủi ro có thể đa dạng hóa) Rủi ro hệ thống cũng có thể xem như là rủi ro không thể tránh được hay rủi ro không thể đa dạng hóa
Rủi ro chính trị có thể được mô tả như là rủi ro phi hệ thống và có thể đa dạng hóa Rủi ro phi hệ thống có thể được giảm thiểu một cách đáng kể khi các chứng khoán được
đa dạng hóa tốt
Như vậy, thuật ngữ rủi ro quốc gia được xem là phụ thuộc vào các hình thức đầu tư nước ngoài, là cái mà các nhà đầu tư có thể gặp phải khi đầu tư vào một quốc gia cụ thể Cùng với khả năng cân bằng giữa rủi ro và thu nhập, thì nhà đầu tư sẽ kỳ vọng cho mình một tỷ suất sinh lợi khi tiến hành đầu tư vào một quốc gia nào đó
Như vậy, thuật ngữ rủi ro quốc gia được xem là phụ thuộc vào các hình thức đầu tư nước ngoài, là cái mà các nhà đầu tư có thể gặp phải khi đầu tư vào một quốc gia cụ thể Cùng với khả năng cân bằng giữa rủi ro và thu nhập, thì nhà đầu tư sẽ kỳ vọng cho mình một tỷ suất sinh lợi khi tiến hành đầu tư vào một quốc gia nào đó
Các loại rủi ro quốc gia: rủi ro thị trường, rủi ro tín dụng, rủi ro lạm phát, rủi ro lãi suất, rủi ro chính trị/chính sách của chính phủ, rủi ro thanh khoản
1.4.3.2 Những yếu tố tác động đến rủi ro quốc gia
Rủi ro quốc gia chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố như: hệ thống chính sách và pháp luật, quy mô và cấu trúc nợ nước ngoài trong mối quan hệ với nền kinh tế, tài khoản vãng lai,
Trang 25vai trò của các nguồn vốn nước ngoài trong việc đáp ứng nhu cầu tài trợ vốn của một quốc gia và một số yếu tố kinh tế vĩ mô khác
- Hệ thống chính sách và pháp luật của quốc gia: Hệ thống này sẽ là “cột sống” cho mọi hành vi đầu tư của bất kỳ nhà đầu tư nào Yếu tố này tác động đến nhiều yếu tố khác như chế độ tỷ giá hối đoái, cơ cấu hàng hóa xuất nhập khẩu… từ đó sẽ tác động đến rủi ro quốc gia
- Quy mô và cấu trúc của nợ nước ngoài trong mối quan hệ với nền kinh tế của một quốc gia
- Khi xem xét quy mô và cấu trúc nợ nước ngoài thì vấn đề đặt ra là quy mô vay nợ nước ngoài là bao nhiêu, tỷ lệ nợ ngắn hạn và dài hạn sẽ ra sao Để trả lời cho câu hỏi này thì cần quan tâm đến những lưu ý như: (1) Quy mô nợ ngắn hạn (trong tổng nợ nước ngoài) cao thì sẽ đưa tới khả năng tiềm tàng của khủng hoảng khả năng thanh toán, mặc dù rằng việc vay nợ ngắn hạn thì dễ dàng hơn
so với nợ dài hạn; (2) Quy mô nợ nước ngoài của khu vực công (nợ của chính phủ và các công ty thuộc sở hữu nhà nước) sẽ đòi hỏi khả năng của chính phủ để tạo ra đủ thu nhập (từ thuế và các nguồn khác) nhằm đáp ứng các nghĩa vụ nợ
- Tài khoản vãng lai của quốc gia Tài khoản vãng lai của một quốc gia phản ánh tình hình thu chi các dòng vốn ngắn hạn của một quốc gia cho nên nó ảnh hưởng đến rủi ro quốc gia (rủi ro tài chính) Khi xem xét tài khoản vãng lai tác động thế nào đến rủi ro quốc gia thì cần xem xét các thành phần sau: (1) Mức
độ dự trữ của một quốc gia thông qua chỉ tiêu mức dự trữ tính theo tuần nhập khẩu (dự trữ quốc tế của quốc gia) Yếu tố này cho thấy khả năng đối phó của chính phủ khi xảy ra những dấu hiệu cũng như khi quốc gia rơi vào khủng hoảng tài chính - tiền tệ; (2) Cơ cấu hàng hóa xuất khẩu của một quốc gia sẽ tác động đến thu nhập của chính phủ Bằng việc xem xét cơ cấu hàng hóa xuất khẩu thì có thể đánh giá mức độ rủi ro quốc gia vì thu nhập từ xuất khẩu sẽ bị biến động khi thị trường các hàng hóa trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu biến động hay là sự
Trang 26biến động giá cả của các hàng hóa trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu đó; (3) Sự biến động của tỷ giá hối đoái Khi tỷ giá hối đoái biến động thì sẽ tác động lên giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu của một quốc gia, điều này ảnh hưởng lên số ngoại tệ thu được hay chi ra, từ đó tác động lên khả năng tài chính của quốc gia
1.4.3.3 Đánh giá rủi ro quốc gia
Đánh giá rủi ro quốc gia là việc sử dụng các dữ liệu thống kê quốc gia, hay các phân tích định tính hoặc kết hợp cả hai theo một mô hình cụ thể nhằm đưa
ra một xếp hạng hoặc phân loại cho từng quốc gia ứng với mức độ rủi ro quốc gia của quốc gia đó Đánh giá rủi ro quốc gia được dùng để dự báo các điều kiện tương lai đối với việc đầu tư vào một quốc gia Đánh giá rủi ro quốc gia đo lường các nhân tố kinh tế, tài chính, chính trị và các tác động qua lại giữa các nhân tố này nhằm xác định rủi ro gắn liền với một quốc gia cụ thể
Thông qua việc đánh giá rủi ro quốc gia (chính phủ tự đánh giá hay thông qua các cơ quan xếp hạng tín nhiệm) thì các chính phủ có thể nhận biết được thực trạng nền kinh tế, những yếu kém và triển vọng của quốc gia Từ đó, các nhà lãnh đạo có thể đề ra các chính sách, biện pháp mang tính vĩ mô nhằm khắc phục để dần nâng cao mức tín nhiệm trên trường quốc tế, thu hút nhiều hơn vốn đầu tư quốc tế để đạt được mục tiêu tăng trưởng kinh tế Thêm vào đó, với việc cải thiện mức độ rủi ro quốc gia của mình thì chính phủ một quốc gia sẽ giảm thiểu được chi phí vay mượn trên thị trường quốc tế vì nguyên tắc tài chính cơ bản chỉ ra rằng rủi ro càng cao thì phần bù rủi ro càng cao
Đánh giá rủi ro quốc gia được thực hiện bởi nhiều phương pháp, trong đó phương pháp xếp hạng rủi ro quốc gia được sử dụng thường xuyên vì phương pháp này dễ tạo ra ảnh hưởng trực quan tức thời đối với người sử dụng báo cáo nhất đồng thời cũng tương đối đơn giản và dễ so sánh độ rủi ro giữa các quốc gia với nhau Việc đánh giá rủi ro quốc gia thông qua xếp hạng rủi ro quốc gia
Trang 27đem lại những tác động rất quan trọng, cụ thể:
- Thứ nhất, xếp hạng rủi ro quốc gia ảnh hưởng đến mức lãi suất mà quốc gia phải gánh chịu để có thể đạt được một khoản tín dụng trên thị trường quốc tế: xếp hạng cao (tức là mức độ rủi ro thấp) thì lãi suất sẽ thấp và ngược lại;
- Thứ hai, xếp hạng rủi ro quốc gia cũng ảnh hưởng đến xếp hạng tín dụng của các ngân hàng và các công ty ở quốc gia đó, đồng thời tác động đến khả năng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài mà ảnh hưởng thông qua việc đánh giá chi phí kinh doanh Như vậy, xếp hạng rủi ro quốc gia được gọi là “điểm then chốt của tất cả các mức xếp hạng khác của quốc gia” Tương tự, trong quá khứ các tổ chức xếp hạng luôn biểu hiện sự miễn cưỡng trong việc xếp hạng cao một công ty
đa quốc gia ở quốc gia mà công ty đó hoạt động;
- Thứ ba, các định chế đầu tư thường giới hạn mức rủi ro mà họ có thể chấp nhận, nghĩa là họ không thể đầu tư vào các khoản nợ hoặc đầu tư cổ phần bị xếp hạng thấp hơn một mức đã định
1.5 XU HƯỚNG ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NƯỚC ĐANG PHÁT TRIỂN
Trong xu thế toàn cầu hóa, cùng với việc thu hút vốn đầu tư từ bên ngoài, đầu tư
ra nước ngoài là hoạt động quan trọng giúp một quốc gia thực hiện chính sách mở cửa kinh tế, tạo thế chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Quá trình phân công lao động và quốc tế hóa nền kinh tế thế giới diễn ra ngày càng sâu rộng, giúp các quốc gia phát huy lợi thế so sánh cũng như khắc phục các mặt hạn chế về công nghệ và năng lực quản lý của mình Điều này góp phần tăng hiệu quả hoạt động sản xuất trong nước Đây là cơ sở quan trọng để các quốc gia đang phát triển đầu tư theo cả hai chiều (thu hút đầu tư trực tiếp vào trong nước và thúc đẩy đầu tư
ra nước ngoài) thay cho khuynh hướng đơn phương (chỉ biết nhận vốn đầu tư của nước khác) Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp ở các nền kinh tế mới nổi đã nỗ lực
Trang 28đầu tư ra nước ngoài để tìm kiếm nguồn tài nguyên thiên nhiên, thị trường và các tài sản có tính chiến lược trong đó có cả thương hiệu và công nghệ
1.5.1 Lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng tăng
Trong những năm gần đây, lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày một tăng, điều này góp phần thúc đẩy quan hệ hợp tác giữa các quốc gia và Châu lục Theo thống kê của UNTACD, lượng vốn đầu tư ra nước ngoài trong năm 2006 của các nước đang phát triển trong tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu tăng từ 8% lên 15% Riêng trong năm 2005, các nước đang phát triển đã đầu tư khoảng 117 tỷ USD, tăng 4% so với năm 2004 chiếm 17% tổng lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu Xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng rõ rệt một phần là do quan hệ thương mại và đầu tư giữa các nước trong khu vực không ngừng được tăng cường Mặt khác, một
số doanh nghiệp lớn của của các nước này, trong quá trình đổi mới nền kinh tế, đã thành công trong hoạt động kinh doanh, dần tích lũy vốn để đầu tư ra nước ngoài Mặc dù trong những năm vừa qua, đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển gặt hái được nhiều thành công, song lượng vốn đầu tư còn nhiều hạn chế, chủ yếu đầu tư vào các nước có cùng địa lý, mang tính chất chuyển giao một số ngành,
cơ sở kinh tế sang các nền kinh tế kém phát triển hơn, chưa tương xứng với lượng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thu hút từ bên ngoài
Một số các nước đang phát triển giờ đây đã trở thành những nhà đầu tư quốc tế
có uy tín như Trung Quốc, Singapore, Hồng Kông, Đài Loan, Hàn Quốc,…Chính phủ các nước này cũng đã đưa ra nhiều chính sách khuyến khích hoạt động đầu tư
ra nước ngoài như: đối với Trung Quốc, chính phủ khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài nhằm mục tiêu tận dụng “hai thị trường, hai nguồn nguyên liệu”; Malaysia thì giảm thuế lợi tức gởi về nước, khấu trừ chi phí đầu tư dự án;
Trang 29Hàn Quốc thì miễn thuế thu nhập trong ba năm cho doanh nghiệp khi đầu tư ra nước ngoài và nới lỏng quy định đầu tư vào bất động sản ở nước khác
Như vậy, có thể thấy rằng, hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển đang có chiều hướng gia tăng Nó thể hiện các nước đang phát triển giờ đây đã và đang nỗ lực phát triển, muốn được góp tiếng nói của mình vào lĩnh vực đầu tư quốc tế mà xưa nay vốn chỉ dành cho các nước phát triển
1.5.2 Lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng đa dạng
Cùng với nỗ lực tăng vốn đầu tư, các nước đang phát triển từng bước đa dạng hóa lĩnh vực đầu tư ra nước ngoài Theo báo cáo đầu tư thế giới của UNCTAD, các nước đang phát triển đã mở rộng đầu tư vào lĩnh vực viễn thông, công nghệ,… thay
vì lĩnh vực khai thác tài nguyên như trước đây
Trong những năm gần đây, lĩnh vực đầu tư đáng chú ý nhất của các nước đang phát triển là bất động sản, viễn thông, dịch vụ tài chính vì nó đòi hỏi doanh nghiệp phải có nhiều vốn và kinh nghiệm lâu năm Đối với các ngành công nghiệp sản xuất, các nước đang phát triển chủ yếu đầu tư vào sản xuất hàng điện tử, chế biến khoáng sản, cao su, nhựa Trong tương lai, xu hướng đầu tư ra nước ngoài vào các ngành có hàm lượng công nghệ cao của các nước đang phát triển ngày càng rõ rệt cùng với sự lớn mạnh không ngừng mở rộng quy mô hoạt động của mình sang các nước khác
1.5.3 Địa bàn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của các nước đang phát triển ngày càng mở rộng
Nhìn chung trong năm 2006, phần lớn lượng vốn đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển đổ vào các nước khác trong khu vực, đặc biệt giữa các nước trong khu vực Châu Á với nhau nhằm chuyển giao một số ngành, cơ sở kinh tế có năng suất lao động thấp sang các nước kém phát triển hơn Nguyên nhân nữa của
Trang 30việc các nước đang phát triển chủ yếu đầu tư lẫn nhau là các quốc gia này có vị trí địa lý gần nhau nên thuận tiện cho việc đi lại, nền kinh tế nước này đang trong giai đoạn phát triển nên nhu cầu về tiêu dùng và xây dựng lớn Điển hình như Trung Quốc, trong năm 2006 đã có 65 dự án mới đầu tư vào các nước ASEAN, tăng 25%
so với năm 2003, tổng giá trị đầu tư mới là 225 triệu USD, tăng 238,86% so với năm 2003, chiếm 10,7% tổng giá trị đầu tư ra nước ngoài Trung Quốc trở thành nước cung cấp vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài quan trọng đối với khu vực Hầu hết các quốc gia khu vực Châu Á đều có chính sách thu hút vốn đầu tư hấp dẫn thông qua việc tham gia ký kết các Hiệp định đầu tư song phương, đa phương Mặt khác, mối quan hệ sâu sắc về chính trị, kinh tế của các nước này được thiết lập và củng cố trong nhiều năm qua đã tạo thuận lợi rất nhiều cho các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Bên cạnh việc đầu tư sang các nước khác trong khu vực, các nước đang phát triển cũng dần mở rộng địa bàn đầu tư sang các nước ở Châu lục khác Theo Báo cáo của UNCTAD, Châu Phi là thị trường mới nổi, thu hút sự chú ý của nhiều nhà đầu tư ở các nước đang phát triển Trong tương lai, xu hướng đầu tư ra nước ngoài của các nước đang phát triển vẫn ưu tiên tập trung đầu tư vào các nước đang phát triển khác Đồng thời nhiều nước sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư sang các nước phát triển với mục đích mở rộng địa bàn đầu tư, học hỏi kinh nghiệm Đây là tín hiệu tốt mang tính chiến lược của các nước đang phát triển trong nỗ lực thâm nhập thị trường thế giới
1.6 KINH NGHIỆM ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA CÁC NƯỚC
1.6.1 Kinh nghiệm của Trung Quốc
Với chủ trương: “hai khối thị trường trong nước và nước ngoài đều phải quan tâm: cả sản xuất, thương mại, dịch vụ, đầu tư tài chính…”sẽ tạo được bước đi vững chắc cho sự phát triển kinh tế Trung Quốc Từ chỗ nhận thức đúng vai trò đầu tư ra
Trang 31nước ngoài, Chính phủ Trung Quốc đã xây dựng thể chế chính sách, đẩy mạnh hoạt động ngoại giao để tạo môi trường đầu tư thuận lợi, mới có những biện pháp hỗ trợ tài chính cho các nhà đầu tư ra nước ngoài
Coi trọng công tác đào tạo, huấn luyện
Chính phủ Trung Quốc thông qua các tổ chức của mình hoặc cung cấp nguồn tài chính cho các hiệp hội ngành hàng, các trường đào tạo để mở ra các lớp như: đào tạo các nhà quản trị có khả năng điều hành công ty quốc tế hoạt động trong môi trường quốc tế mang tính cạnh tranh cao; mở ra các lớp đào tạo nguồn nhân lực theo hướng chuyên sâu vào khu vực như lớp đào tạo doanh nhân hoạt động ở Châu
Á, Châu Âu, Châu Phi,… cung cấp những kiến thức về môi trường kinh doanh, luật
lệ, tình hình kinh tế và cạnh tranh, văn hóa giao tiếp ; Đưa ôn kỹ thuật đầu tư quốc
tế vào giảng dạy trong các trường đào tạo quản trị kinh doanh, quan hệ quốc tế, kinh
tế đối ngoại
Đẩy mạnh hoạt động ngoại giao để hỗ trợ các công ty đầu tư ra nước ngoài
Để thúc đẩy hoạt động đầu tư ra nước ngoài, các cơ quan ngoại giao của Trung Quốc được giao nhiệm vụ:
Cung cấp thông tin cho các tổ chức trong nước (cơ quan xúc tiến đầu tư, hiệp hội doanh nghiệp,…) về môi trường đầu tư, hệ thống pháp luật có liên quan đến đầu tư,
cơ sở hạ tầng , nếp sống văn hóa, hoạt động tài chính để giúp cho các doanh nghiệp chưa cần đầu tư ra nước ngoài cũng có thể nhận thức rõ ràng thị trường mà mình cần hướng tới
Xây dựng các cẩm nang, chỉ dẫn về thị trường
Hỗ trợ tìm kiếm các cơ hội đầu tư ở nước ngoài
Hỗ trợ doanh nghiệp trong nước gặp gỡ đối tác, gặp gỡ với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi họ khảo sát thị trường
Trang 32Liên hệ với các cơ quan có thẩm quyền ở nước sở tại giúp các doanh nghiệp đầu
tư ra nước ngoài tháo gỡ những khó khăn vướng mắc có liên quan đến thủ tục và triển khai dự án đầu tư
Công khai khên thưởng các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài làm tốt cng6 tác hỗ trợ đầu tư và thâm nhập thị trường
Phát triển đầu tư ra nước ngoài kèm theo chính sách di dân
Trung Quốc chiếm 20% dân số toàn cầu, nhưng đất canh tác chỉ là 7%, với thực trang đất chật người đông nên Trung Quốc có chính sách phát triển đầu tư ra nước ngoài sử dụng nhân công Trung Quốc
Nhà nước có chính sách tín dụng ưu đãi đối với dự án đầu tư ra nước ngoài
Sự hỗ trợ mạnh mẽ của Trung Quốc về tài chính đã giúp cho các doanh nghiệp tăng tiềm lực trong hoạt động đầu tư ra nước ngoài Riêng ở Châu Phi, Trung Quốc trở thành nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài số 1
1.6.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là một nước đất hẹp, người đông, tài nguyên nghèo nàn, nhưng gần 40 năm qua, Nhật Bản là cường quốc số hai trên thế giới, có nhiều nguyên nhân để nước này đạt được vị trí trên, nhưng nguyên nhân quan trọng nhất là hoạt động đầu
tư ra nước ngoài Nhật Bản đầu tư trực tiếp nhiều vào các nước Hoa Kỳ, EU, Trung Quốc, Ấn Độ, Thái Lan, Malaysia,…Riêng tại Việt Nam, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn thứ ba với trên 1000 dự án đang hoạt động Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản nổi bật với bốn đặc điểm sau:
Thứ nhất, hoạt động đầu tư ra nước ngoài là một chiến lược chủ yếu trong hoạt động kinh tế đối ngoại
Thứ hai, Chính phủ Nhật hỗ trợ các nước tiếp nhận đầu tư cải thiện môi trường đầu tư để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhật Bản
Trang 33Thứ ba, khuyến khích hỗ trợ các nhà kinh doanh Nhật Bản thành lập hiệp hội ở nước ngoài
Thứ bốn, Chính phủ Nhật hoạch định chính sách kinh tế trong nước gắn với hoạt động đầu tư ra nước ngoài
1.6.3 Kinh nghiệm đầu tư ra nước ngoài của các nước ASEAN
Nửa thế kỷ trước, các nước ASEAN là những nước nghèo, đều từng là nước thuộc địa Thời kỳ ban đầu xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, các nước ASEAN
áp dụng chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài Và thời kỳ tiếp theo, cùng với việc đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ, các nước ASEAN đều chủ trương phát triển đầu tư ra nước ngoài, coi đây là xu hướng tất yếu để tham gia vào quá trình toàn cầu hóa Một số kinh nghiệm rút ra:
Thứ nhất, xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi mang tính cạnh tranh cao
để thu hút các tập đoàn kinh tế đến đầu tư và để từ đây sẽ tổ chức đầu tư đi các nước trong khu vực Đây là kinh nghiệm của Singapore: trong 20 năm trở lại đây Singapore tuy là nước nhỏ về diện tíc, người không đông, hầu như không có tài nguyên, nhưng với quyết tâm xây dựng môi trường kinh doanh tốt đã thu hút trên 10.000 công ty trên thế giới đến lập trụ sở và từ đây có hàng vạn dự án đầu tư ra nước ngoài
Thứ hai, thành lập hội đồng xúc tiến đầu tư ra nước ngoài, ví dụ như Singapore thành lập hội đồng phát triển kinh tế, Thái Lan có hội dồng xúc tiến đầu tư ra nước ngoài, Malaysia có cơ quan khuyến khích đầu tư ra nước ngoài
Thứ ba, hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đầu tư ra nước ngoài Như chính phủ Singapore đã từng nêu: Chính phủ cần tạo điều kiện để các doanh nghiệp Singapore đầu tư ra nước ngoài nhằm tạo chiếc bánh thứ hai cho nền kinh tế Singapore Để thực hiện mục tiêu này, Chính phủ đã xây dựng chuông trình
“con đường quốc tế hóa” để hỗ trợ về tài chính cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ khi đầu tư ra nước ngoài Với chường trình này, các công ty đầu tư ra nước ngoài
Trang 34được vay một phần vốn ưu đãi, được tài trợ đến 70% chi phí thuê chuyên viên tư vấn có uy tín để phát triển đầu tư ở nước ngoài
Thứ tư, tích cực sử dụng nhà quản trị của địa phương nơi đến của vốn đầu tư nhằm giảm chi phí nguồn nhân lực và tiếp cận nhanh hơn với môi trường đầu tư mới
KẾT LUẬN CHƯƠNG I
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài là một phương thức kinh doanh quốc tế quan trọng đưa nền kinh tế của một nước thâm nhập sâu vào thị trường thế giới và trở thành xu hướng trong quá trình toàn cầu hóa về kinh tế
Đầu tư ra nước ngoài chẳng những giúp cho các nước giàu có mà còn giúp cho các nước đang phát triển với tư cách là nhà đầu tư nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, phát triển những cơ hội kinh doanh mới, nâng cao trình độ công nghệ và năng lực cạnh tranh, phân tán rủi ro về kinh tế, né tránh được rào cản thương mại ngày càng tinh vi, phức tạp gây khó khăn cho quá trình thâm nhập dưới hình thức xuất khẩu
Việt Nam đang trong quá trình hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới, hoạt động đầu tư ra nước ngoài là xu hướng và là phương pháp giúp chúng ta phát triển nhanh, mạnh, nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu của quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra nhanh chóng Để hỗ trợ cho sự phát triển của lĩnh vực này, nước ta đã, đang hoàn thiện cơ chế chính sách đầu tư ra nước ngoài
Trang 35CHƯƠNG II THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC
TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
2.1 CƠ SỞ PHÁP LÝ CHO HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
2.1.1 Quan điểm của Đảng về đầu tư trực tiếp ra nước ngoài
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ góp phần xây dựng và thúc đẩy quan
hệ thương mại – đầu tư giữa các nước mà còn nâng cao vị thế, hình ảnh của nước chủ đầu tư trên trường quốc tế Nhận thức vai trò to lớn đó, Đảng và Nhà nước luôn khuyến khích doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế đầu tư ra nước ngoài, cũng như thực hiện các chính sách hỗ trợ công dân Việt Nam kinh doanh hợp pháp
ở nước ngoài Mặt khác, trong phương hướng phát triển kinh tế giai đoạn
2006-2010, Đảng cũng khẳng định Việt Nam cần tăng cường đầu tư ra nước ngoài và Nhà nước nhanh chóng tạo khuôn khổ pháp lý nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài để phát huy lợi thế so sánh của đất nước
Trong những năm qua, Nhà nước luôn khuyến khích các tổ chức kinh tế tại Việt Nam đầu tư ra nước ngoài đối với lĩnh vực xuất khẩu nhiều lao động, phát huy có hiệu quả các ngành nghề truyền thống của Việt Nam, mở rộng thị trường, khai thác nguồn tài nguyên thiên nhiên tại nước nhận đầu tư, tăng khả năng xuất khẩu, thu ngoại tệ Như vậy, với quan điểm ủng hộ và hỗ trợ đầu tư ra nước ngoài của Đảng, chắc chắn trong tương lai sẽ có nhiều nhà đầu tư Việt Nam gặt hái thành công, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng đất nước và thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
2.1.2 Khung pháp lý điều chỉnh
Trang 36Những năm đầu thập niên 90, lượng vốn ĐTNN vào Việt Nam tăng mỗi năm, số các doanh nghiệp ĐTNN trong sản xuất hàng dệt may tăng cao nên số lượng quota xuất khẩu hàng năm không đáp ứng đủ năng lực sản xuất Bên cạnh đó, chính sách
“đóng cửa rừng”, cấm khai thác đánh bắt gần bờ để bảo vệ tài nguyên, môi trường cũng tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của một số doanh nghiệp trong công nghiệp chế biến sản xuất hàng tiêu dùng Vì vậy, nhằm bù đắp các “thiếu hụt trên” đã có một số doanh nghiệp ĐTNN chuyển mục tiêu hoạt động hoặc tìm kiếm
cơ hội đầu tư tại một số nước láng giềng trong khu vực Trong số các doanh nghiệp
đi tiên phong trong ĐTRNN còn phải kể tới một số doanh nghiệp tư nhân của một
số địa phương tại vùng biên giới với một số nước bạn (Lào, Campuchia) đã thực hiện dự án đầu tư tại nước bạn theo thỏa thuận hợp tác song phương giữa chính quyền địa phương hai nước
Trước thực tế đó, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 quy định ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam để hướng dẫn và quản lý hoạt động ĐTRNN Như vậy, có thể nói sau hơn 10 năm thực thi Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam pháp luật về ĐTRNN tại Việt Nam bắt đầu hình thành, mở đường cho các hoạt động ĐTRNN sau này Mặc dù hành lang pháp lý cho ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam mới được ban hành đầu năm 1999, nhưng trước thời điểm này một số doanh nghiệp Việt Nam đã tiến hành hoạt động ĐTRNN
Để triển khai Nghị định 22/1999/NĐ-CP nói trên, các Bộ, ngành liên quan đã ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam (Thông tư số 05/2001/TT-BKH ngày 30/8/2001 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư; Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ban hành Thông tư số 01/2001/TT-NHNN ngày 19/01/2001 hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam) Những văn bản nêu trên cùng với các văn bản pháp luật khác đã tạo nên một khung pháp lý cần thiết cho hoạt động ĐTRNN
Trang 37Việc ban hành Nghị định số 22/1999/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn đã đánh dấu mốc quan trọng trong việc hình thành cơ sở pháp lý cho hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam, tạo điều kiện cho việc ra đời nhiều dự án ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam hoạt động đạt hiệu quả nhất định Đồng thời là minh chứng cho sự trưởng thành về nhiều mặt của các doanh nghiệp Việt Nam từng bước hội nhập đời sống kinh tế khu vực và thế giới Tuy nhiên, qua thực tế cho thấy hoạt động ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn khi triển khai thực hiện, bộc lộ một số hạn chế đòi hỏi cần được hoàn thiện Chẳng hạn, các quy định còn thiếu cụ thể, đồng bộ, nhất quán, có một số điều khoản đến nay không còn phù hợp, không bao quát được sự đa dạng của các hình thức ĐTRNN Thủ tục hành chính nhìn chung vẫn còn phức tạp, rườm rà, không ít quy định của
cơ quan quản lý can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp Quy trình đăng ký và thẩm định cấp Giấy chứng nhận đầu tư ra nước ngoài còn phức tạp, thủ tục điều chỉnh Giấy chứng nhận đầu tư chưa được rõ ràng Thiếu các chế tài cụ thể về cơ chế báo cáo, cung cấp thông tin về triển khai dự án đầu tư ở nước ngoài và chưa có cơ chế kiểm soát hoạt động ĐTRNN Cơ chế phối hợp quản lý đối với ĐTRNN chưa được quy định cụ thể, rõ ràng Ngoài ra, văn bản pháp lý về ĐTRNN mới dừng lại ở cấp Nghị định của Chính phủ nên hiệu lực pháp
lý chưa cao
Từ thực tế nêu trên, năm 2005 Chính phủ đã trình Quốc hội luật hóa hoạt động ĐTRNN và được Quốc hội đã thông qua Luật Đầu tư năm 2005 (có hiệu lực vào tháng 7/2006), trong đó có các quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam Sau một thời gian ngắn, Nghị định 78/2006/NĐ-CP của Chính phủ quy định về ĐTRNN của doanh nghiệp Việt Nam được ban hành ngày 09/9/2006 nhằm hướng dẫn thi hành Luật Đầu tư năm 2005 với 4 mục tiêu chủ đạo là (i) phù hợp với thực tiễn hoạt động; (ii) quy định rõ ràng, cụ thể hơn; (iii) tăng cường hiệu quả của quản
lý nhà nước và (iv) đơn giản hóa thủ tục hành chính Đồng thời, kế thừa và phát huy
Trang 38có chọn lọc những mặt tích cực, cũng như khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật hiện hành về ĐTRNN nhằm mở rộng và phát triển quyền tự chủ, tự do kinh doanh của doanh nghiệp Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định các nhà đầu
tư và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, trong đó có doanh nghiệp có vốn ĐTNN, đều có quyền ĐTRNN, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong hoạt động kinh doanh, được lựa chọn hay thay đổi hình thức tổ chức quản lý nội bộ, hình thức đầu tư thích ứng với yêu cầu kinh doanh và được pháp luật Việt Nam bảo hộ Giảm thiểu các quy định mang tính “xin-cho” hoặc “phê duyệt” bất hợp lý, không cần thiết, trái với nguyên tắc tự do kinh doanh, gây phiền hà cho hoạt động đầu tư, đồng thời, có tính đến với lộ trình cam kết trong các thoả thuận đa phương và song phương trong hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là các nguyên tắc đối xử quốc gia và tối huệ quốc Bên cạnh đó, Nghị định 78/2006/NĐ-CP còn quy định rõ về trách nhiệm, các quan hệ giữa cơ quan nhà nước đối với nhà đầu tư và doanh nghiệp, về việc thực hiện các mối quan hệ đó cũng như chế tài khi có những vi phạm từ hai phía (nhà đầu tư và cơ quan, công chức nhà nước) nếu không thực hiện đúng các quy định của pháp luật
Như vậy, khuôn khổ pháp lý của hoạt động ĐTRNN đã dần dần được hoàn thiện hơn thông việc ban hành Luật Đầu tư năm 2005, đồng thời, Nghị định số 78/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 quy định về ĐTRNN đã thay thế Nghị định số 22/1999/NĐ-CP ngày 14/4/1999 và thủ tục đầu tư ra nước ngoài đã được hướng dẫn
cụ thể, rõ ràng, đơn giản tại Quyết định số 1175/2007/QĐ-BKH ngày 10/10/2007 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư
2.2 TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP RA NƯỚC NGOÀI CỦA VIỆT NAM
Nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, đã có thêm nhiều doanh nghiệp Việt Nam có khả năng tài chính cũng như kinh nghiệm để đầu tư ra nước ngoài Mặt khác, các
Trang 39doanh nghiệp Việt Nam cũng nhận thức được lợi ích của việc ĐTRNN (tận dụng được nguồn nguyên liệu tại chỗ, lao động tại chỗ, giảm chi phí vận chuyển sản phẩm, thâm nhập vào thị trường của nước sở tại v.v.) trong bối cảnh hội nhập sâu vào đời sống kinh tế khu vực và quốc tế Nhất là khi Việt Nam chính thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) cũng tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hoạt động đầu tư, thương mại của doanh nghiệp, trong đó có hoạt động đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Việt Nam
2.2.1 Quy mô đầu tư
Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam bắt đầu từ năm 1989 với một dự án có vốn đầu tư 563.380 USD vào Nhật (thành lập công ty liên doanh Gemasa- dịch vụ hàng hải) Trước năm 1998, mỗi năm Việt Nam có rất ít dự án đầu
tư trực tiếp ra nước ngoài, năm nhiều nhất có 5 dự án (năm 1993) Đặc biệt trong giai đoạn 1995-1997, cả nước không có dự án đầu tư ra nước ngoài nào Hoạt động đầu tư trong giai đoạn này không ổn định, tăng giảm thất thường, chủ yếu là những
dự án nhỏ, mang tính thử nghiệm nên vốn đầu tư trung bình của một dự án rất thấp, chỉ đạt trung bình 760.726 USD/dự án Kể từ năm 1999, khi Chính phủ ban hành Nghị định 22/1999/NĐ-CP về một số biện pháp khuyến khích đầu tư ra nước ngoài thì hoạt động đầu tư của Việt Nam ra nước ngoài có sự thay đổi về chất Số lượng
dự án tăng qua các năm, năm 1999 có 10 dự án tăng lên 15 dự án vào năm 2000 và tăng trưởng đều đặn về số lượng dự án từ đó đến nay Điều này chứng tỏ các doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng mở rộng hoạt động kinh doanh sang các nước khác
và hưởng ứng phong trào đầu tư ra nước ngoài do Chính phủ khuyến khích
Tuy nhiên, số vốn thực hiện của các dự án thấp hơn nhiều so với vốn đăng ký
Ví dụ, năm 2002 có tới 15 dự án được cấp phép đầu tư ra nước ngoài với số vốn đăng ký là 191.459.576 USD, nhưng vốn thực hiện chỉ đạt 37.618.572 USD, nguyên nhân của tình trạng này là do nhà đầu tư Việt Nam khi mới đầu tư ra bên
Trang 40ngoài đã lựa chọn lĩnh vực chưa phù hợp, khi triển khai thấy chưa thể có lợi nhuận nên đã lưỡng lự, chần chừ thậm chí chấm dứt dự án đầu tư
Bảng 2.1 Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được cấp giấy phép thời kỳ 1989-2009
Đơn vị tính: Triệu USD