1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG VÀ VIỆC TRÌNH BÀY DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TRÊN BCTC TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

108 29 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 108
Dung lượng 1,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các kết quả nghiên cứu trên đều đưa ra các nhân tố tài chính và phi tài chính tác động đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng.. Việc đánh giá các nhân tố tác độn

Trang 1

-

PHẠM ĐÌNH TUẤN

CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN MỨC TRÍCH LẬP DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG

VÀ VIỆC TRÌNH BÀY DỰ PHÒNG RỦI RO TÍN DỤNG TRÊN BCTC TẠI CÁC NGÂN

HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Thị Thu Hiền

Trang 2

nghiên cứu của chính bản thân Nếu có gì gian dối, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP Hồ Chí Minh, ngày 19 tháng 02 năm 2014

Phạm Đình Tuấn

Trang 3

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ SƠ ĐỒ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 4

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4 Phương pháp nghiên cứu 5

5 Đóng góp của nghiên cứu 7

6 Kết cấu đề tài 7

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 8

1.1 Tiếp cận các nghiên cứu trên thế giới 8

1.1.1 Nghiên cứu của Larry D Wall và Ifterkhar Hasan (2003) 8

1.1.2 Nghiên cứu của Grace T Chen và các cộng sự ( 2005) 9

1.1.3 Nghiên cứu của Asokan Anvàarajan và các cộng sự (2005) 10

1.1.4 Nghiên cứu của Ruey-Dang Chang và các cộng sự (2008) 12

1.1.5 Nghiên cứu của Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011) 13

1.1.6 Nghiên cứu của Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011) 14

1.2 Tổng hợp các nhân tố trong các mô hình nghiên cứu trước đây 16

1.2.1 Quy mô ngân hàng 16

1.2.2 Lãi suất cho vay 17

Trang 4

1.2.5 Hệ số rủi ro tài chính 18

1.2.6 Tỷ lệ cho vay phi bất động sản trên bất động sản 18

1.2.7 Tỷ lệ vốn chủ trên tổng tài sản của năm trước 18

1.2.8 Khả năng thu hồi nợ xấu 19

1.2.9 Tỷ lệ cho vay và đầu tư trên tiền gửi khách hàng 19

CHƯƠNG II: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 20

2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng 20

2.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng 20

2.1.2 Khái niệm tín dụng, rủi ro tín dụng 20

2.1.3 Dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng 24

2.2 Cơ sở xác định rủi ro tín dụng 26

2.2.1 Xác định rủi ro tín dụng theo IAS 39 và Hiệp ước vốn Basel 26

2.2.1.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế 39 (IAS 39) 26

2.2.1.2 Hiệp ước vốn Basel 27

2.2.2 Căn cứ xác định rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam 29

2.2.2.1 Đánh giá theo định lượng 29

2.2.2.2 Đánh giá theo định tính 30

2.3 Căn cứ cho việc trình bày dự phòng rủi ro tín dụng trên BCTC tại các NHTM Việt Nam 31

2.4 Lý thuyết cơ sở cho việc trình bày dự phòng rủi ro tín dụng trên BCTC tại các NHTM Việt Nam 32

2.4.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 32

2.4.2 Lý thuyết tín hiệu 21

Trang 5

dụng tại các NHTM Việt Nam 22

2.3.1 Lý thuyết uỷ nhiệm (Agency theory) 22

2.3.2 Lý thuyết tín hiệu (Signalling theory) 33

CHƯƠNG III: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 38

3.1 Mô tả tổng thể và mẫu khảo sát 38

3.1.1 Mô tả tổng thể 38

3.1.2 Mô tả mẫu khảo sát 38

3.2 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu và xác định biến số nghiên cứu 40

3.2.1 Biến phụ thuộc – dự phòng rủi ro tín dụng (ALL) 40

3.2.2 Biến quy mô (SIZE) 41

3.2.3 Tỷ lệ vốn chủ trên tổng tài sản cuối năm trước 42

3.2.4 Biến nợ xấu (NP) 43

3.2.5 Biến thu nhập ròng trước thuế và dự phòng (CROA) 44

3.2.6 Hệ số rủi ro tài chính (CE) 46

3.3 Mô hình nghiên cứu 47

3.4 Quy trình thực hiện nghiên cứu 50

CHƯƠNG IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

4.1 Thực trạng dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay 53

4.1.1 Cơ sở pháp lý 53

4.1.1.1 Giai đoạn 2000 – 2005 53

4.1.1.2 Giai đoạn 2005 đến nay 54

4.1.2 Thực trạng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và trình bày rủi ro tín dụng trên BCTC trong ngân hàng thương mại tại Việt Nam 55

Trang 6

4.1.2.2 Kế toán dự phòng rủi ro tín dụng tại các NHTM Việt Nam 58

4.1.2.3 Trình bày dự phòng rủi ro tín dụng trên Báo cáo tài chính 61

4.2 Kết quả nghiên cứu 63

4.2.1 Thống kê mô tả 63

4.2.2 Ma trận hệ số tương quan 65

4.2.3 Kết quả nghiên cứu 66

4.2.3.1 Kiểm định Hausman 66

4.2.3.2 Kết quả hồi quy theo FEM 67

4.2.3.3 Ý nghĩa rút ra từ kết quả nghiên cứu 72

CHƯƠNG V: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 75

5.1 Kết luận 75

5.2 Kiến nghị 75

5.2.1 Bổ sung quy định về mức lập dự phòng rủi ro tín dụng cho các ngân hàng thương mại 75

5.2.2 Đối với nhà quản lý ngân hàng 77

5.2.3 Đối với kế toán ngân hàng 79

5.2.4 Trình bày rủi ro tín dụng trên BCTC của ngân hàng 80

5.2.5 Đối với công ty kiểm toán 81

5.2.6 Đối với đối tượng sử dụng báo cáo tài chính của ngân hàng 81

5.3 Hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo 82

5.3.1 Hạn chế 82

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 83

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu Asia Commercial Bank

BAV Ngân hàng Thương mại cổ phần Bản Việt VietCapital Commercial

Joint Stock Bank

BIDV Ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam Bank for Investment and

Development of Viet Nam CIC Trung tâm thông tin tín dụng Credit Information Center

DAB Ngân hàng Thương mại cổ phần Đông Á Dong A Commercial Joint

Stock Bank

EIB Ngân hàng Thương mại cổ phần Xuất nhập

khẩu Việt Nam

Vietnam Export Import Commercial Joint Stock Bank

FEM Mô hình nhân tố tác động cố định Fixed – Effects Model

GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross domestic product

HDB Ngân hàng Thương mại cổ phần Phát triển nhà

thành phố Hồ Chí Minh

Housing Development Commercial Joint Stock Bank

KLB Ngân hàng Thương mại cổ phần Kiên Long Kiên Long Commercial Joint

Stock Bank

Trang 8

MHB Ngân hàng phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu

PNB Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Nam SouthernCommercial Joint

Stock Bank

PTB Ngân hàng Thương mại cổ phần Phương Tây Western Commercial Joint

Stock Bank REM Mô hình nhân tố tác động ngẫu nhiên Random-Effects Model

SCB Ngân hàng Thương mại cổ phần Sai Gòn Saigon Commercial Joint

Trang 9

VAS Chuẩn mực kế toán Việt Nam

Trang 10

Bảng 2.1: Đối tượng xét rủi ro tín dụng trong NHTM 23

Bảng 3.1: Bảng phân bổ mẫu điều tra 39

Bảng 3.2: Tổng hợp các nhân tố nghiên cứu 49

Bảng 4.1: Mô tả tóm tắt các nhóm nợ 55

Bảng 4.2: Bảng xếp hạng tín dụng của ngân hàng Quân đội (MB) 57

Bảng 4.3: Tỷ lệ khấu trừ tài sản bào đảm 59

Bảng 4.4: Bảng thống kê mô tả 64

Bảng 4.5: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 66

Bảng 4.6: Kiểm định Hausman 67

Bảng 4.7: Kết quả hồi quy với mô hình tác động cố định 68

Trang 11

Trong thời gian qua, các ngân hàng thương mại tại Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ về cả số lượng, chất lượng và quy mô để từng bước hội nhập với kinh tế quốc tế, đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam Trong quá trình này, thông tin kế toán ngân hàng giữ vai trò quan trọng đối với bản thân các ngân hàng, các nhà đầu tư, khách hàng và các tổ chức tài chính khác Vì những thông tin này sẽ có tác động đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng, hoạt động mua bán, đầu tư của những cổ đông, nhà đầu tư, hoặc gửi, rút tiền của khách hàng

Với bản chất là tổ chức hoạt động chủ yếu thông qua cho vay và đi vay nên Ngân hàng không tránh khỏi việc phát sinh những khoản nợ xấu, điều này không những gây ảnh hưởng đến hoạt động, uy tín của bản thân ngân hàng nói riêng mà còn gây ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế quốc gia nói chung, đặc biệt khi nền kinh tế vẫn đang bị những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 Theo như Ngân hàng Nhà nước cho biết, đến cuối tháng 10/2012, nợ xấu của toàn

hệ thống chiếm khoảng 8,8 – 10% trên tổng dư nợ, có những ngân hàng tăng đến hơn 50 lần số nợ và có khả năng mất vốn, trong khi hầu hết các ngân hàng lớn thì

nợ xấu đều tăng gấp đôi Chính điều này dẫn đến hàng lọat các hoạt động sáp nhập giữa các ngân hàng hiện nay như: sự hợp nhất của SCB, TinNghiaBank và FicomBank từ cuối năm 2011 Điều này cho thấy nợ xấu đang gây khó khăn cho hoạt động của Ngân hàng, đặc biệt khi chúng chuyển thành những khoản rủi ro tín dụng mà Ngân hàng phải gánh chịu khi đối tượng mất khả năng thanh toán

Trang 12

Bản chất của rủi ro tín dụng là sự tổn thất tài chính trực tiếp hoặc gián tiếp xuất phát từ việc người đi vay không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn theo cam kết hoặc mất khả năng thanh toán Điều này đòi hỏi bên cho vay phải tìm mọi cách

để kiểm soát được khả năng trả nợ của người đi vay, phán đoán được mức độ rủi ro khi cho vay cũng như kiểm soát tốt mức độ rủi ro tín dụng của ngân hàng Và một trong những hoạt động góp phần vào việc kiểm soát các khoản tổn thất chính là công tác kế toán các khoản rủi ro tín dụng trong việc ghi nhận kịp thời, chính xác các khoản tổn thất cũng như lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ

Với các chức năng tạo tiền, trung gian và kinh doanh khiến hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều đặc thù khác với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh

và chịu sự điều hành, giám sát chặt chẽ của NHNN Chính vì vậy, kế toán các hoạt động ngân hàng nói chung và kế toán dự phòng rủi ro tín dụng ngân hàng nói riêng chịu sự chi phối không chỉ của hệ thống chuẩn mực kế toán mà còn phải tuân thủ các quy định của NHNN Trong đó, quan điểm của nhà lập quy với kế toán dồn tích yêu cầu kế toán ghi nhận tổn thất cho vay trên cơ sở các sự kiện xảy ra trong kỳ báo cáo cũng như các sự kiện dự kiến xảy ra khiến ảnh hưởng đến thu hồi các khoản cho vay Bên cạnh đó, các nhà điều hành ngân hàng (như NHNN) lại quan tâm nhiều hơn đến việc đảm bảo an toàn vốn, nên có quan điểm lập dự phòng rủi ro tín dụng nhiều hơn trong giai đoạn kinh doanh tốt để có nguồn bù đắp khi rủi ro thực

sự xảy ra (Wall & Koch, 2000) Như vậy cho thấy, thực hành kế toán dự phòng rủi

ro tín dụng tại các NHTM sẽ bị chi phối không chỉ bởi CMKT mà còn chịu ảnh hưởng của các quy định được ban hành của NHNN Hay nói cách khác, để đảm bảo ghi nhận, đo lường, trình bày và công bố thông tin về dự phòng rủi ro tín dụng không phải là điều dễ dàng vì sự tác động của các yếu tố bên trong và bên ngoài ngân hàng Như việc lập dự phòng rủi ro tổn thất của ngân hàng theo VAS luôn nhỏ hơn số dự phòng theo IAS do khó xác định được luồng tiền chiết khấu theo lãi suất thực tế hay không trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đối với các khoản vay theo chỉ định, kế hoạch của Nhà nước

Trang 13

Bên cạnh đó, việc ghi nhận các khoản dự phòng rủi ro tín dụng vào chi phí cũng khiến cho mục tiêu lợi nhuận cũng như những mục tiêu khác của ngân hàng bị ảnh hưởng Chính vì vậy, việc ghi nhận dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng còn có nhiều điểm không phù hợp với thực tế phát sinh Điều này dẫn đến nhiều trường hợp khi nợ xấu thật sự phát sinh thì ngân hàng không có những khoản dự phòng rủi ro để đảm bảo và khiến ngân hàng lâm vào tình trạng khó khăn và có nguy cơ sụp đổ, gây hệ quả nghiêm trọng Bên cạnh đó, các thông tin không chính xác về mức lập dự phòng so với nợ xấu mà ngân hàng đang gánh chịu đã khiến cho những nhà đầu tư, khách hàng và các tổ chức tài chính đã có cái nhìn sai lệch về hoạt động của ngân hàng, mức độ an toàn khi đầu tư vào ngân hàng

Với những biến động lớn trong lĩnh vực ngân hàng liên quan đến nợ xấu và các khoản rủi ro tín dụng thời gian qua đã tạo nên một nhu cầu cấp thiết cho những nghiên cứu về quản trị rủi ro tín dụng, giải quyết rủi ro trong ngân hàng, các biện pháp giúp ngân hàng giải quyết vấn đề nợ xấu, dự phòng rủi ro Hiện nay, có nhiều

đề tài nghiên cứu trên thế giới được công bố trên các tạp chí quốc tế về nhân tố ảnh hưởng đến lập dự phòng rủi ro tín dụng với mục tiêu là kế toán quản trị lợi nhuận và vốn bằng phương pháp định lượng như nghiên cứu của Ruey-Dang Chang và các cộng sự (2008), Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011), hoặc để xác định lý do tại sao việc trích lập dự phòng lại không được thực hiện đầy đủ, hợp lý và mong muốn chứng minh tính hữu ích cho người sử dụng BCTC ngân hàng trong việc đánh giá hoạt động ngân hàng như nghiên cứu của Grace T Chen và các cộng sự (

2005), Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011), hay với mục đích xác định điểm chung

và khác biệt về nhân tố tác động đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng giữa các nước khác nhau như nghiên cứu của Larry D Wall và Ifterkhar Hasan (2003) Các kết quả nghiên cứu trên đều đưa ra các nhân tố tài chính và phi tài chính tác động đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong lĩnh vực ngân hàng Tuy nhiên, các nhân tố tác động sẽ có thể giống hoặc khác nhau tùy theo vị trí địa lý, đất nước và

đặc điểm ngân hàng

Trang 14

Vì vậy, với sự khác biệt trong lĩnh vực ngân hàng giữa Việt Nam và các nước sẽ có những nhân tố khác biệt ảnh hưởng đến lập dự phòng rủi ro tín dụng, đặc biệt là ở Việt Nam với lĩnh vực ngân hàng còn non trẻ và tiềm tàng nhiều rủi ro

Việc đánh giá các nhân tố tác động đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng sẽ giúp cho kế toán ngân hàng có thể xác định được mức tăng hoặc giảm của khoản dự phòng dự phòng rủi ro tín dụng, tương ứng với sự tác động của các nhân tố đó Ngoài ra, nhà quản trị ngân hàng thông qua đó có thể nắm bắt về các khoản tổn thất

mà ngân hàng đã, đang và sẽ gánh chịu một cách chính xác, để từ đó đưa ra các quyết định quản trị về vốn hiệu quả nhất Đối với kiểm toán thì dựa vào các nhân tố tác động này có thể kiểm tra việc tăng hoặc giảm mức trích lập dự phòng trong từng năm có thật sự phù hợp hay không Còn nhà đầu tư sẽ có căn cứ đánh giá hoạt động của ngân hàng thông qua việc đánh giá tính chính xác của ngân hàng trong lập dự phòng rủi ro tín dụng

Xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn, tác giả đã xác định nội dung nghiên cứu

“Các nhân tố tác động đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng và việc trình bày

dự phòng rủi ro tín dụng trên BCTC tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”

2 Mục tiêu nghiên cứu

 Kiểm định mô hình lý thuyết về mối quan hệ giữa quy mô ngân hàng, lãi suất cho vay, nợ xấu, thu nhập trước thuế và dự phòng, tỷ lệ tổng dư nợ trên vốn chủ sở hữu với dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng thương mại Việt Nam

 Xác định xem các nhân tố trên ở Việt Nam có tác động tương tự như các kết quả nghiên cứu trước đây hay không

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của luận văn là về trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

- Phạm vi nghiên cứu: luận văn tiến hành nghiên cứu tại các ngân hàng thương mại Việt Nam trong khoảng thời gian 5 năm bắt đầu từ năm 2008 đến 2012

Trang 15

4 Phương pháp nghiên cứu

Với việc áp dụng phương pháp định lượng, đề tài sẽ suy diễn từ các nghiên cứu trước nhằm dự kiến mô hình lý thuyết sẽ kiểm định

Đề tài khảo sát các biến độc lập và biến phụ thuộc trong mô hình nghiên cứu

từ BCTC và các thông tin trên Báo cáo thường niên của 23 NHTM trong thời gian 5 năm, tức 115 BCTC của các ngân hàng khảo sát

Đề tài sử dụng kiểm định hồi quy với việc sử dụng phần mềm Stata để thực hiện hồi quy dữ liệu dạng bảng Việc sử dụng dữ liệu dạng bảng cách kết hợp chuỗi thời gian với các đơn vị chéo sẽ cho chúng ta biết được nhiều thông tin hữu ích hơn, tính biến thiên cao hơn, ít hiện tượng đa cộng tuyến giữa các biến Bên cạnh đó, đối với việc quan sát lập đi lập lại của các đơn vị chéo thì dữ liệu dạng bảng cho phép nghiên cứu động thái thay đổi theo thời gian của các đơn vị chéo này

 Thời gian nghiên cứu: Nghiên cứu được dự kiến thực hiện trong khoảng thời gian từ tháng 04/2013 đến tháng 11/2013

Cụ thể, quy trình chọn mẫu và các phương pháp thu thập, xử lý dữ liệu trong

đề tài như sau:

 Quy trình chọn mẫu:

Tiến hành thu thập dữ liệu phục vụ cho việc nghiên cứu thông qua điều tra chọn mẫu với kích cỡ mẫu là 23 ngân hàng thương mại Việt Nam công bố đầy đủ các báo cáo tài chính qua 5 năm, từ năm 2008 đến 2012

 Phương pháp thu thập:

Thu thập đầy đủ báo cáo thường niên, báo cáo tài chính của các ngân hàng trong thời gian 5 năm, bắt đầu từ 2008 đến năm 2012 thông qua Website của các ngân hàng và các Website liên quan

 Phương pháp phân tích dữ liệu:

Trang 16

Sử dụng các kỹ thuật phân tích thống kê mô tả, phân tích hệ số tương quan và phân tích các nhân tố tác động nhằm xác định nhân tố và mức độ tác động của các nhân tố đến mức trích lập dự phòng các khoản rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại Việt Nam

 Quy trình nghiên cứu: tác giả thực hiện nghiên cứu theo mô hình dưới đây nhằm thực hiện đầy đủ nội dụng và mục tiêu của đề tài

MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Mô hình đo lường các nhân tố tác động đến mức trích lập dự phòng

các khoản rủi ro tín dụng

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG

Thống kê mô tả Phân tích hệ số tương quan Thực hiện các hồi quy dữ liệu dạng bảng

Trang 17

5 Đóng góp của nghiên cứu

lý của các khoản dự phòng rủi ro tín dụng được trình bày trên BCTC của ngân hàng

Đối với người nghiên cứu:

Nghiên cứu hoàn thành sẽ giúp người nghiên cứu hoàn thiện khả năng nghiên cứu khoa học cùng với việc nâng cao kiến thức, kinh nghiệm trong lĩnh vực

kế toán các khoản rủi ro tín dụng tại ngân hàng thương mại

6 Kết cấu đề tài

Nội dung đề tài được chia làm 5 chương

Chương I: Tổng quan nghiên cứu

Chương II: Cơ sở lý thuyết

Chương III: Thiết kế nghiên cứu

Chương IV: Kết quả nghiên cứu

Chương V: Kết luận và kiến nghị

Trang 18

CHƯƠNG I TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Tiếp cận các nghiên cứu trên thế giới

Trong phần này, người nghiên cứu trình bày những nghiên cứu thực nghiệm cùng kết quả nghiên cứu đã được thực hiện trên thế giới

1.1.1 Nghiên cứu của Larry D Wall và Ifterkhar Hasan (2003)

Bài nghiên cứu phân tích các yếu tố quyết định đến dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng, với mẫu nghiên cứu được lựa chọn từ các ngân hàng Mỹ và các ngân hàng ngoài nước Mỹ bao gồm Canada, Nhật và một nhóm 21 quốc gia Tác giả sử dụng mô hình nhân tố tác động cố định (fixed effects) để xác định và đo lường mức độ tác động của các nhân tố đến mức trích lâp dự phòng rủi ro tín dụng Phương trình tính toán được tác giả sử dụng như sau:

LLAit =  1 + 2NPLit+ 3NCOit +4LOANit +1ERi,t-1+2RETNit + 1Yit + uit

Trong đó :

NPLit: tỷ lệ nợ xấu trên tổng tài sản tại thời điểm t

NCOit: tỷ lệ giá trị tổn thất ròng cả năm t trên tổng tài sản tại thời điểm t

LOANit: tỷ lệ tổng nợ trên tổng tài sản tại thời điểm t

ERi,t-1 :tỷ lệ vốn chủ trên tài sản cho ngân hàng i tại thời điểm kết thúc năm trước

RETNit : tỷ lệ thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản của ngân hàng i tại thời điểm t

Yit : biến tác động cố định theo năm được cho bằng 1 nếu quan sát bắt đầu từ năm t

và bằng 0 nếu không phải

Mô hình này được tác giả ứng dụng nghiên cứu cho các ngân hàng Mỹ (US banks) và những ngân hàng nước khác (non-US banks) Kết quả thể hiện các nhân

tố đều được xác định là có ảnh hưởng đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

Trang 19

nhưng có sự khác nhau về ý nghĩa thống kê giữa 2 khu vực Cụ thể là các ngân hàng

ở Mỹ có mức ý nghĩa thống kê thấp hơn các ngân hàng khác về LLA, NPL và NCO Tương tự như vậy, tác giả tiếp tục so sánh giữa Mỹ với Nhật Bản và Canada để thể hiện mức độ tác động khác nhau của các nhân tố đối với mức trích lập dự phòng tại những quốc gia khác nhau Qua đó, nghiên cứu cũng chỉ ra rằng một số biến theo suy nghĩ sẽ có tác động mạnh đối với ngân hàng nước này thì lại không phải là nhân

tố quan trọng trong các ngân hàng nước khác

1.1.2 Nghiên cứu của Grace T Chen và các cộng sự ( 2005)

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 200 ngân hàng trong giai đoạn 5 năm, từ năm 1995 đến 1999 Bài nghiên cứu nhận diện và kiểm tra mối quan hệ giữa các nhân tố và dự phòng rủi ro tín dụng Kết quả nghiên cứu chứng minh tính hữu ích cho người sử dụng báo cáo tài chính ngân hàng trong việc đánh giá hoạt động của ngân hàng một cách đầy đủ hơn

Nghiên cứu của nhóm tác giả đã xác định các nhân tố ảnh hưởng đến việc trích lập dự phòng các khoản rủi ro tín dụng Nhóm tác giả đã đưa ra được giả thuyết bao gồm các nhân tố tác động đến sự thay đổi mức trích lập dự phòng rủi ro như sau: Quy mô ngân hàng, các khoản nợ xấu, lãi suất cho vay, tỷ lệ cho vay của các khoản phi bất động sản trên bất động sản, tỷ lệ thu hồi nợ đã xóa, nợ ròng tổn thất trong kỳ Mối quan hệ giữa các biến độc lập với biến phụ thuộc được tác giả kiểm tra bằng hai cách là sử dụng biểu đồ để trình bày và sử dụng phân tích hồi quy Mô hình tác giả sử dụng cho nghiên cứu như sau:

ALLit = A0t + A1tNPLit+ A2tNRE/REit + A3tINTit + A4tCHAOFFit + A5tSIZEit

Trang 20

NRE/RE: là tỷ lệ cho vay phi bất động sản trên bất động sản

RECOV: là tổng thu hồi từ nợ đã xóa trên tổng nợ năm trước

CHAOFF: tỷ lệ mất vốn bình quân ba năm trên tổng nợ bình quân ba năm

SIZE: log của tổng tài sản

Kết quả nghiên cứu cho thấy tất cả những nhân tố nghiên cứu đều thể hiện sự tác động đến tỷ lệ trích dự phòng rủi ro tín dụng ngoại trừ nhân tố quy mô ngân hàng là không có ý nghĩa thống kê Những ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu tăng cao thì sẽ

có xu hướng tăng mức trích lập dự phòng rủi ro Những khoản cho vay càng rủi ro thì lãi suất cho vay sẽ càng cao, dẫn đến lãi suất cho vay có tương quan thuận với mức dự phòng rủi ro Các khoản cho vay bất động sản thì an toàn hơn là cho vay phi bất động sản, vì vậy tỷ lệ cho vay của các khoản phi bất động sản trên bất động sản tăng thì mức dự phòng sẽ tăng Tỷ lệ thu hồi nợ đã xoá có tác động thuận chiều với mức lập dự phòng, khi tỷ lệ này tăng cao thì ngân hàng có xu hướng tăng mức trích lập dự phòng Kinh nghiệm về tổn thất cho vay trong ngân hàng cũng có mối tương quan thuận với dự phòng rủi ro, ngân hàng có càng nhiều kinh nghiệm về tổn thất trong quá khứ thì mức dự phòng sẽ cao hơn những ngân hàng ít kinh nghiệm

1.1.3 Nghiên cứu của Asokan Anvàarajan và các cộng sự (2005)

Bằng cách thu thập đầy đủ các thông tin, báo cáo tài chính hàng năm của các ngân hàng thương mại Úc trong giai đoạn từ năm 1991 đến 2001, với số lượng bao gồm 50 ngân hàng thương mại, trong đó có 10 ngân hàng niêm yết và 40 ngân hàng chưa niêm yết Mục đích bài nghiên cứu nhằm xem xét việc liệu các ngân hàng Úc

có sử dụng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong việc quản trị thu nhập, vốn và phát tín hiệu hay không, và nếu có thì mức độ chi phí dự phòng được sử dụng cho mục đích này là bao nhiêu Tác giả sử dụng hồi quy OLS để phân tích mô hình sau:

12 EBT*POST + a

13 LISTED * MCAP * POST + a

14 LISTED * EBT * POST

Trang 21

Trong đó:

LLPR: chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trên dư nợ bình quân

ΔLLA = Chênh lệch tổn thất cho vay/ tổng tài sản

ΔGDP = Chênh lệch GDP, đại diện cho sự thay đổi trong tăng trưởng kinh tế

MCAP = tỷ lệ vốn tự có trước dự phòng rủi ro tín dụng vốn bắt buộc tối thiểu

EBT = thu nhập trước thuế và dự phòng/ tổng tài sản bình quân

LISTED = Biến giả (là 1 nếu ngân hàng thương mại niêm yết; 0 nếu ngân hàng thương mại chưa niêm yết)

POST = Biến giả (là 1 cho những năm sau Basel 1996-2001, và 0 cho những năm trước Basel 1991-1995)

TA = log (tổng tài sản)

CFEER = Thu nhập từ hoa hồng và phí trên tổng tài sản

LISTED *MCAP = tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với tỷ lệ an toàn vốn

LISTED * EBT = tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với thu nhập

MCAP * POST = tương tác giữa tỷ lệ an toàn vốn với biến giả POST

EBT * POST = tương tác giữa thu nhập với biến giả POST

LISTED*MCAP*POST = Tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với tỷ lệ an toàn vốn và biến giả POST

LISTED*EBT * POST = Tương tác giữa loại ngân hàng thương mại với thu nhập

và biến giả POST

Kết quả nghiên cứu cho thấy các ngân hàng tại Úc sử dụng dự phòng rủi ro

để quản lý các khoản thu nhập, các ngân hàng thương mại niêm yết thực hiện nhiều hơn các ngân hàng thương mại không niêm yết Đặc biệt hoạt động quản lý thu nhập là rõ rệt hơn sau khi thực hiện Hiệp ước Basel Tuy nhiên, bài nghiên cứu không tìm ra mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro và quản lý vốn Bên cạnh đó, bài nghiên cứu nhận thấy chi phí dự phòng rủi ro tín dụng không được xem trọng trong giai đoạn hậu Basel so với thời kỳ trước Basel Điều này cho thấy rằng các báo cáo thu nhập có lẽ không phản ánh đúng thực tế sự kiện kinh tế phát sinh dưới những con số

Trang 22

1.1.4 Nghiên cứu của Ruey-Dang Chang và các cộng sự (2008)

Với nguồn dữ liệu được lấy từ các ngân hàng niêm yết trên thị trường chứng khoán Đài Loan trong giai đoạn từ năm 1996 đến 2004 với 164 quan sát Nhóm tác giả tiến hành điều tra mối quan hệ giữa dự phòng rủi ro tín dụng và 6 chỉ số về hiệu suất hoạt động của ngân hàng trong giai đoạn 1996 – 2004 dưới sự kiểm soát về loại hình ngân hàng, tình trạng sở hữu và quy mô tài sản Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng điều tra xem liệu các nhà quản lý ngân hàng có ý định sử dụng dự phòng rủi ro tín dụng như một công cụ để quản lý thu nhập Tác giả thực hiện hồi quy các biến thu nhập trước thuế và dự phòng, thu nhập năm sau, nợ xấu, tỷ lệ nợ xấu, tỷ lệ dự phòng

nợ xấu và kiểm tra các giả thuyết thông qua mô hình sau:

DLLPt=γ0 + γ1GOVERNt + γ2CATAt + γ3lnASSET +γ4BP_EARNt + γ5EARNt+1

+ γ6BISt + γ7 R_NPL t+ γ8NPLt + γ9R_COVERt + εt

Trong đó:

DLLPt: chi phí dự phòng rủi ro tín dụng trong năm t

GOVERNt: là biến giả (bằng 1 khi là ngân hàng nhà nước, ngược lại là 0)

CATAt: là biến giả (bằng 1 khi là ngân hàng thương mại, ngược lại là 0)

lnASSETt: log (tổng tài sản)

BP_EARNt: thu nhập trước dự phòng

EARNt+1: thu nhập năm sau

BISt: tỷ lệ vốn (vốn của ngân hàng ít nhất bằng 8% rủi ro tín dụng)

dự phòng rủi ro tín dụng nhằm xóa nợ xấu cũng như giảm tỷ lệ nợ xấu Thu nhập

Trang 23

năm sau cũng có tương quan thuận cho thấy các nhà quản lý có sử dụng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng để cố ý nâng cao thu nhập năm sau lên Ngược lại, lnASSETt lại thể hiện tương quan nghịch, tức là quy mô ngân hàng càng lớn thì chi phí dự phòng rủi ro tín dụng càng nhỏ Biến NPLt có mối tương quan thuận với dự phòng rủi ro tín dụng, khi thấy nợ xấu gia tăng thì các nhà quản lý sẽ tăng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng Nhưng tỷ lệ nợ xấu lại không có ý nghĩa thống kê trong mô hình, tỷ lệ an toàn vốn cũng bị bác bỏ ảnh hưởng đến dự phòng rủi ro tín dụng Kết quả cũng không tìm thấy bằng chứng về ảnh hưởng của GOVERNt CATAt đến mức dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng.

1.1.5 Nghiên cứu của Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011)

Để thực hiện bài nghiên cứu này, nhóm tác giả đã tiến hành thu thập dữ liệu thứ cấp từ các báo cáo tài chính của 7 ngân hàng Palestine trong 5 năm từ năm 2006 đến năm 2010 với 35 quan sát Mục đích bài nghiên cứu nhằm kiểm tra liệu các nhà quản lý ngân hàng Palestine tham gia vào các quyết định quản lý cho vay và dự phòng rủi ro nhằm làm đẹp báo cáo thu nhập hoặc quản lý về vốn Để kiểm tra giả thuyết nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của các ngân hàng, khả năng điều chỉnh thu nhập, tỷ lệ nợ trên vốn và dự trữ pháp

lý, tác giả sử dụng mô hình hồi quy nhiều giai đoạn của Zoubi & Al-Khazali (2007) sau khi đã sửa đổi Mô hình có dạng như sau:

LLP = CROA + LD + DE + RD + LOGTA + CAR + TYPE

Trong đó:

LLP: mức trích lập dự phòng trên tổng nợ

CROA: thu nhập trước thuế và dự phòng trên tổng tài sản

LD: tỷ lệ cho vay và đầu tư trên tiền gửi của khách hàng

DE: tỷ lệ tổng dư nợ trên vốn chủ

RD: chênh lệch giữa dự trữ hiện tại của ngân hàng trừ đi dự trữ bắt buộc / vốn chủ

Trang 24

LOGTA: log (tổng tài sản)

CAR: tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng trừ đi tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu

TYPE: Biến giả (băng 1 nếu là ngân hàng Hồi giáo và ngược lại bằng 0)

Kết quả nghiên cứu cho thấy không có bằng chứng nào chứng tỏ là các nhà quản lý ngân hàng sử dụng dự phòng cho vay để làm đẹp báo cáo thu nhập của họ Kết quả cũng bác bỏ giả thuyết cho rằng tỷ lệ tổng dư nợ trên vốn chủ càng cao thì mức độ dự phòng rủi ro của ngân hàng càng thấp Tuy nhiên, kết quả chỉ ra rằng các nhà quản lý đã giảm dự phòng rủi ro cho vay khi có yêu cầu tăng dự trữ pháp lý cao hơn mức dự trữ hiện tại của ngân hàng Tương tự như vậy, tỷ lệ cho vay và đầu tư trên tiền gửi khách hàng có tương tác ngược chiều với dự phòng rủi ro, vì khi tỷ lệ này càng cao thì ngân hàng càng cần nhu cầu vốn bên ngoài Vì vậy, ngân hàng có động cơ để giảm dự phòng rủi ro tín dụng nhằm giảm nguy cơ nhận thức rủi ro từ khách hàng để thu hút vốn từ bên ngoài Ngoài ra, không có bằng chứng nào chứng minh sự khác biệt giữa ngân hàng Hồi giáo với ngân hàng thông thường

1.1.6 Nghiên cứu của Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011)

Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu của 12 ngân hàng được thu thập trong thời gian 14 năm, bắt đầu từ năm 1996 đến năm 2009 Tác giả nhận thấy rằng không có một tài liệu nào đề cập đến việc tìm hiểu lý do tại sao các ngân hàng thương mại Malaysia đã không thực hiện việc trích lập dự phòng đầy đủ và hợp lý các khoản rủi

ro tín dụng của họ trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế bắt đầu từ tháng 07 năm

1997 Vì vậy, tác giả tiến hành nghiên cứu điều tra các yếu tố tác động đến việc không trích lập dự phòng rủi ro tín dụng đầy đủ và hợp lý

Bài nghiên cứu sử dụng mô hình nhân tố tác động cố định (Fixed Effect Model) như sau:

LLPit = B0 + B1NPLit + B2RCit + B3IIit + B4NPit + B5LAit + B6GDPit+ eit

Trong đó:

LLP: Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng

Trang 25

NPL: Nợ xấu

RC: Ước tình thu hồi nợ xấu

II: Thu nhập từ lãi cho vay

NP: Lợi nhuận ròng

LA: Các khoản cho vay và tạm ứng

GDP: được cho bằng 1nếu GDP năm nay cao hơn năm trước, nếu không thì bằng 0

Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng nhân tố ước tính thu hồi nợ xấu (RC) không cung cấp đủ bằng chứng để chứng minh ảnh hưởng của nó đến số tiền trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên các khoản nợ xấu Kết quả cũng đồng thời bác bỏ khả năng nhân tố nợ xấu (NPL) và nhân tố GDP có ảnh hưởng đến số mức trích lập

dự phòng Tuy nhiên, thu nhập từ lãi suất cho vay (II), lợi nhuận ròng (NP), các khoản cho vay và ứng trước (LA) đều tác động đến mức trích lập dự phòng của các ngân hàng Malaysia với mức ý nghĩa là 1% Trong đó, II và LA đều có mối tương quan thuận với chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, trong khi NP thì ngược lại Như vậy, ba nhân tố trên là những nhân tố giúp cung cấp cái nhìn và nhận thức về rủi ro tín dụng trong việc xác định liệu chi phí dự phòng rủi ro tín dụng có đầy đủ và hợp

lý trên các khoản nợ xấu hay không

Bảng 1.1- Tổng hợp các nghiên cứu và mô hình phân tích

1 D Wall và Ifterkhar Hasan (2003);

Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011)

Sử dụng mô hình các nhân tố tác động

cố định (Fixed Effect Model) trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến chi phí dự phòng rủi ro tín dụng

2 Grace T Chen và các cộng sự (

2005)

Sử dụng mô hình Pooled (Pooled Model) trong nghiên cứu các nhân tố tác động đến dự phòng rủi ro tín dụng

Trang 26

3 Asokan Anvàarajan và các cộng sự

(2005)

Sử dụng phương pháp bình phương bé nhất thông thường (OLS) trong nghiên cứu tác động của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đến quản lý thu nhập, nguồn vốn và phát tín hiệu

5 Mahmuod O Ashour và các cộng sự

(2011)

Sử dụng mô hình hồi quy đa giai đoạn đơn nhất (single stage multiple regression model) trong nghiên cứu về vai trò của chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đến quản lý thu nhập và nguồn vốn

Nguồn: Tổng hợp từ những nghiên cứu trên thế giới

1.2 Tổng hợp các nhân tố trong các mô hình nghiên cứu trước đây

Những nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới về các nhân tố tác động đến trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng đã giúp xác định và chứng minh những nhân tố có khả năng tác động đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Những nhân tố này có thể giống nhau hoặc khác nhau trong từng nghiên cứu, thậm chí mức độ tác động của các nhân tố trong từng nghiên cứu là khác nhau Người nghiên cứu sẽ tiến hành tổng hợp các nhân tố tác động được đa số các nghiên cứu thực nghiệm lựa chọn khi nghiên cứu để làm cơ sở cho việc lựa chọn các nhân tố đưa vào mô hình trong bài nghiên cứu

1.2.1 Quy mô ngân hàng

Quy mô ngân hàng là một trong những nhân tố được nhiều nghiên cứu trên thế giới lựa chọn và đưa vào mô hình Nó thể hiện một mối tương quan thuận với

Trang 27

mức lập dự phòng trong ngân hàng Những ngân hàng lớn hơn thì được dự đoán là

sẽ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng cao hơn những ngân hàng có quy mô nhỏ Các nghiên cứu Larry D Wall và Ifterkhar Hasan (2003), Grace T Chen và các cộng sự (2005), Asokan Anvàarajan và các cộng sự (2005), Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011) đều lựa chọn đưa nhân tố này vào bài nghiên cứu của mình

1.2.2 Lãi suất cho vay

Lãi suất cho vay, theo như nghiên cứu của Grace T Chen và các cộng sự (2005), sẽ cao nếu như khoản vay đó được đánh giá là có rủi ro và ngược lại Bên

cạnh đó, nghiên cứu thực nghiệm của Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011) cũng cung

cấp bằng chứng cho ảnh hưởng của lãi suất cho vay đến mức trích lập dự phòng trong các ngân hàng ở Malaysia

1.2.3 Nợ xấu

Nhìn chung, các nghiên cứu đều cho rằng nợ xấu là nhân tố tác động mạnh đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Khi nợ xấu tăng cao thì mức trích lập sẽ tăng lên nhằm đảm bảo an toàn trong hoạt động của ngân hàng Larry D Wall và Ifterkhar Hasan (2003), Grace T Chen và các cộng sự (2005), Asokan Anvàarajan

và các cộng sự (2005) và Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011) trong nghiên cứu thực nghiệm của mình đều cho rằng nợ xấu có mối tương quan thuận với mức trích lập

dự phòng rủi ro tín dụng

1.2.4 Thu nhập ròng trước thuế và dự phòng

Trên thế giới có khá nhiều các nghiên cứu liên quan đến việc liệu các nhà quản lý ngân hàng có hay không điều chỉnh lợi nhuận thông qua trích lập dự phòng rủi ro tín dụng Các nghiên cứu thực nghiệm của Larry và Ifterkhar Hasan (2003), Asokan Anvàarajan và các cộng sự (2005), Ruey-Dang Chang và các cộng sự (2008), Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011) đều lựa chọn nhân tố này làm căn cứ đưa ra những bằng chứng nhất quán cho thấy việc sử dụng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trong quản lý về thu nhập trong các ngân hàng

Trang 28

1.2.5 Hệ số rủi ro tài chính

Những ngân hàng có tỷ lệ tổng dư nợ trên tổng nguồn vốn (hoặc là tỷ lệ tổng

dư nợ trên tổng tài sản) tăng cao thể hiện rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt trong tương lai Tỷ số này ám chỉ rằng các cổ đông đang thực hiện chính sách thâm dụng

nợ và làm cho ngân hàng trở nên rủi ro hơn Điều này hoàn toàn không có lợi cho ngân hàng khi được đánh giá về độ an toàn và tính hấp dẫn trong việc thu hút dòng tiền vào Vì vậy, ngân hàng sẽ tìm cách giảm tỷ lệ này xuống bằng cách tăng cường vốn làm tăng tài sản của ngân hàng thông qua giảm các khoản dự phòng rủi ro Nhân tố này được hai nghiên cứu thực nghiệm của Larry và Ifterkhar Hasan (2003)

và Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011) lựa chọn để đưa vào mô hình nghiên cứu nhận thức rủi ro tác động thế nào đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng

1.2.6 Tỷ lệ cho vay phi bất động sản trên bất động sản

Grace T Chen và các cộng sự (2005) cho rằng vì vấn đề bảo mật cho vay của ngân hàng và hạn chế về công bố thông tin nên chúng ta không thể xác định được tổng số cho vay của ngân hàng có đảm bảo Vì vậy, tác giả nhận định các khoản cho vay bất động sản là những khoản vay đảm bảo trong khi các khoản vay thương mại và cá nhân khác thì không nhất thiết là có sự đảm bảo Trong bài nghiên cứu, tác giả sử dụng các khoản cho vay bất động sản thay thế cho các khoản vay thế chấp Do đó, khi tỷ lệ cho vay phi bất động sản trên bất động sản cao, nghĩa là tỷ trọng cho vay bất động sản thấp hơn so với phi bất động sản thì tổn thất cho vay sẽ cao hơn

1.2.7 Tỷ lệ vốn chủ trên tổng tài sản của năm trước

Tỷ lệ vốn chủ trên tổng tài sản của năm trước thấp cho thấy ngân hàng đang

có dấu hiệu không an toàn về nguồn vốn hoạt động Vì vậy, các nhà quản lý sẽ có

xu hướng giảm mức trích lập dự phòng nhằm tăng tỷ lệ an toàn vốn của ngân hàng trong năm nay Yếu tố này xuất hiện trong mô hình nghiên cứu của Larry và Ifterkhar Hasan (2003) vì tác giả cho rằng dù hệ số của biến không có ý nghĩa thì

Trang 29

không có nghĩa là các nhà quản lý ngân hàng không sử dụng chi phí dự phòng để quản lý vốn

1.2.8 Khả năng thu hồi nợ xấu

Bình thường các nhà quản lý thường sẽ có xu hướng cẩn thận hơn khi ước tính những kết quả trong tương lai Đối với những khoản tổn thất cho vay dự kiến thì những nhà quản lý ngân hàng cho rằng cần thiết phải lập dự phòng nhiều hơn cho các khoản nợ khó đòi dự kiến để không phải đối mặt với việc phải xóa nợ cho những khoản nợ lớn trong tương lai Với việc ước tính nợ khó đòi cao hơn thì những khoản nợ phải xóa nợ sẽ thấp hơn dự kiến và các ngân hàng có thể thu hồi nhiều hơn dự kiến đối với những khoản nợ đã xóa Vì vậy, Grace T Chen và các cộng sự (2005) cho rằng những ngân hàng có khả năng thu hồi nợ đã xóa trước đây cao hơn thì sẽ có xu hướng đánh giá cao việc lập dự phòng rủi ro Tuy nhiên, Mohd Yaziz Bin Mohd Isa (2011) lại đưa ra bằng chứng ngược lại trong nghiên cứu thực nghiệm của mình

1.2.9 Tỷ lệ cho vay và đầu tư trên tiền gửi khách hàng

Nhân tố tỷ lệ này được đưa ra trong nghiên cứu của Mahmuod O Ashour và các cộng sự (2011) Bài nghiên cứu chứng minh rằng khi tỷ lệ cho vay và đầu tư trên tiền gửi tăng lên thì chi phí dự phòng rủi ro tín dụng sẽ giảm xuống Vì lúc này ngân hàng cần mở rộng huy động nguồn vốn từ bên ngoài nên sẽ giảm chi phí dự phòng rủi ro nhằm làm giảm cảm nhận rủi ro từ phía khách hàng

Kết luận chương I

Trong chương I đã tóm lược các nghiên cứu có liên quan đến đề tài và qua đó xác định được các nhân tố có khả năng tác động đến mức trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tại các ngân hàng Kết quả của những nghiên cứu trước đây cũng chỉ ra rằng ở các quốc gia, vùng lãnh thổ khác nhau thì các nhân tố tác động và mức độ tác động cũng sẽ khác nhau

Trang 30

CHƯƠNG II

CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2.1 Khái niệm rủi ro tín dụng và dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng

2.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động ngân hàng

Theo Basel I, rủi ro là những sự kiện gây ảnh hưởng xấu đến việc đạt được mục tiêu của ngân hàng Đánh giá này bao gồm tất cả rủi ro mà ngân hàng phải đối mặt như rủi ro chuyển nhượng, rủi ro thị trường , rủi ro lãi suất, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro pháp lý và rủi ro danh tiếng gây ảnh hưởng xấu đến hoạt động ngân hàng

Theo tài liệu của Ủy ban chứng khoản Nhà nước (State Security Commission

of Viet Nam) cung cấp trong hội thảo “Quản trị rủi ro đối với Ngân hàng thương mại” tại thành phố Hồ Chí Minh ngày 04/08/2006 đã định nghĩa “Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng là khả năng một hành động hoặc một sự kiện nào đó có thể đem lại những kết quả bất lợi, ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn thu nhập hay nguồn vốn của tổ chức, hoặc tạo ra các trở ngại ngăn cản tổ chức tiếp tục kinh doanh và tận dụng cơ hội tạo ra lợi nhuận”

Theo hướng dẫn của NHNN, rủi ro của các TCTD tại Việt Nam bao gồm: rủi

ro tín dụng, rủi ro thị trường, rủi ro thanh khoản, rủi ro hoạt động, rủi ro danh tiếng, rủi ro chiến lược và rủi ro tuân thủ (NHNN, 2009)

Qua đó ta có thể nhận thấy rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến

cố không mong đợi dẫn đến sự tổn thất tài sản trong ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành một nghiệp vụ tài chính nhất định

2.1.2 Khái niệm tín dụng, rủi ro tín dụng

Hoạt động quan trọng nhất và mang lại nguồn thu nhập chủ yếu của ngân hàng là hoạt động tín dụng ngân hàng Đó là các hoạt động cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu giấy tờ có giá, bảo lãnh Một khoản vay được xác định theo quy

Trang 31

định của FASB là một “ hợp đồng quyền nhận tiền theo yêu cầu và được công nhận

là một tài sản trong báo cáo tín dụng của tình hình tài chính ngân hàng” Còn theo IASC xác định thì các khoản vay là “tài sản tài chính phi phái sinh với các khoản thanh toán cố định hoặc có thể xác định mà không bị giới hạn trong hoạt động thị trường khác như: những người sở hữu có ý định bán ngay lập tức hoặc trong tương lai gần, những người có ý định bán, hay những người sở hữu những khoản vay bị suy giảm tín dụng nên có ý định bán”

Khi tiến hành cấp tín dụng cho khách hàng, ngân hàng sẽ tiến hành đánh giá khả năng của khách hàng nhằm đảm bảo khách hàng sẽ có thể trả nợ gốc và lãi vay Tuy rằng việc đánh giá có thể theo đúng các quy định của nội bộ ngân hàng, hoặc của cơ quan quản lý liên quan, nhưng nó cũng không thể đảm bảo chắc chắn cho ngân hàng khi chịu sự ảnh hưởng tác động của các nhân tố thay đổi do điều kiện kinh tế hoặc bản thân khách hàng Và điều này dẫn đến những rủi ro, mất mát đối với tài sản của ngân hàng, và được gọi là rủi ro tín dụng trong ngân hàng

Rủi ro tín dụng có thể hiểu là một khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng tiến hàng cho vay Điều đó có nghĩa là luồng thu nhập dự tính từ khoản cho vay đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ về cả số lượng và thời gian (A.Saunder và H.Lange, 2000)

Theo quan điểm của Greuning và Bratanovic (2003) thì cho rằng rủi ro tín dụng là rủi ro mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc vốn gốc theo đúng như thời gian đã được ký kết trong hợp đồng tín dụng Rủi ro tín dụng tức là việc chậm trễ trong chi trả nợ vay, hoặc tệ hơn là không hoàn trả được toàn bộ khoản nợ vay Điều này gây ra sự cố đối với dòng lưu chuyển tiền tệ và gây ảnh hưởng tới khả năng thanh toán của ngân hàng

Rủi ro tín dụng là sự thay đổi tiềm ẩn của thu nhập thuần và thị giá của vốn xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn vốn gốc và lãi vay theo thỏa thuận Điều này nghĩa là ngân hàng đang nắm giữ tài sản sinh lời và

Trang 32

có khả năng xảy ra rủi ro ảnh hưởng đến thu nhập và vón của ngân hàng khi khách hàng thanh toán trễ hoặc không thanh toán (Timothy W.Koch, 1995)

Theo hướng dẫn của NHNN, rủi ro tín dụng được hiểu là rủi ro tiềm ẩn đối với thu nhập hoặc vốn phát sinh khi người vay hoặc đối tác không thực hiện đúng điều khoản của hợp đồng hoặc không thực hiện đầy đủ như thỏa thuận tại điều khoản của hợp đồng Rủi ro tín dụng là loại rủi ro dễ nhận thấy nhất liên quan đến hoạt động kinh doanh của TCTD Tuy nhiên, định nghĩa này hàm chứa nhiều khía cạnh hơn một định nghĩa truyền thống vốn cho rằng rủi ro tín dụng chỉ liên quan đến các hoạt động cho vay Rủi ro tín dụng cũng phát sinh trong nhiều loại hoạt động ngân hàng, kể cả việc lựa chọn các sản phẩm cho danh mục đầu tư, các TCTD đại lý, các đối tác kinh doanh sản phẩm phái sinh hay các đối tác ngoại hối Rủi ro tín dụng cũng có thể phát sinh từ rủi ro quốc gia, cũng như phát sinh một cách gián tiếp thông qua hoạt động bảo lãnh Rủi ro tín dụng tồn tại trên cả nội bảng và ngoại bảng cân đối của TCTD (NHNN, 2009)

Theo quyết định số 439/2005/QĐ-NHNN thỉ rủi ro tín dụng là khả năng xảy

ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết

Thông tư 02/2013/TT-NHNN ra đời thay thế cho QĐ 493 nhưng được tạm hoãn hiệu lực đến ngày 01/06/2014, theo đó thì rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết

Một trong những khác biệt cơ bản của hai văn bản trên của NHNN là phạm

vi xét rủi ro tín dụng Thông tư 02 đưa ra phạm vi xét rủi ro tín dụng bao quát và rõ hơn Quyết định 493

Trang 33

Bảng 2.1-Đối tượng xét rủi ro tín dụng trong NHTM

Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN Thông tư 02/2013/TT-NHNN

a) Các khoản cho vay, ứng trước, thấu

chi và cho thuê tài chính

b) Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu

thương phiếu và giấy tờ có giá khác

c) Các khoản bao thanh toán

d) Các hình thức tín dụng khác

a) Cho vay b) Cho thuê tài chính c) Chiết khấu, tài chiết khấu các giấy tờ

có giá và công cụ chuyển nhượng khác d)Bao thanh toán

e) Tín dụng thông qua phát hành thẻ f) Các khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng

g) Ủy thác mua trái phiếu DN chưa niêm yết

02 áp dụng tỷ lệ chiết khấu thận trọng hơn đối với tài sản thế chấp, điều này sẽ dẫn

Trang 34

đến giá trị thế chấp sẽ thấp đi trong khi dự phòng cho khoản vay sẽ tăng lên Ví dụ như tỷ lệ khấu trừ của tài sản đảm bảo là bất động sản lên tới 50%

Thông tư 02 thể hiện được sự kiên quyết của NHNN trong việc đưa các quy định về phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro tín dụng của Việt Nam từng bước tiếp cận với tiêu chuẩn quốc tế Đồng thời buộc các NHTM phải nâng cao trách nhiệm hơn trong việc cho vay, đánh giá đúng những rủi ro và thể hiện sự thận trọng trong việc phân loại nợ và trích lập dự phòng để bù đắp cho nợ xấu

2.1.3 Dự phòng rủi ro tín dụng trong ngân hàng

Khi một ngân hàng nhận ra sự kiện, hay một nhóm các sự kiện có thể dẫn đến những rủi ro tín dụng từ phía khách hàng, dựa vào các hướng dẫn, ngân hàng sẽ nhận diện và đánh giá rủi ro để từ đó ước lượng khả năng tổn thất tài sản của ngân hàng Một khoản nợ của khách hàng được ngân hàng xác định có khả năng rủi ro không thu hồi được một phần hay toàn bộ, ngân hàng sẽ ghi nhận phần tổn thất dự kiến không thu hồi được của số dư nợ gốc vào chi phí trong kỳ, và khoản chi phí này là chi phí dự phòng rủi ro của ngân hàng

Theo IAS 39 – đoạn 58, yêu cầu mỗi đơn vị vào cuối mỗi kỳ kế toán phải đánh giá xem liệu có bất kỳ bằng chứng khách quan nào thể hiện một tài sản tài chính hoặc một nhóm tài sản tài chính bị tổn thất Khi bằng chứng khách quan được thành lập, tổ chức phải ước tính khoản tổn thất một cách đáng tin cậy Sau đó, giá trị ghi sổ có thể được giảm một cách trực tiếp hoặc thông qua tài khoản dự phòng Đây là khoản dự phòng dành cho sự suy giảm về tài sản của ngân hàng khi phát sinh các rủi ro và ước tính được tổn thất đáng tin cậy

Theo IFRS 7- đoạn 1, yêu cầu đơn vị cần cung cấp thông tin đề người sử dụng đủ đánh giá được bản chất và quy mô rủi ro (bao gồm rủi ro tín dụng) phát sinh từ công cụ tài chính (trong đó bao gồm tài sản tài chính) mà ngân hàng phải chịu trong kỳ kinh doanh cũng như vào ngày lập BCTC và ngân hàng đã quản trị các rủi ro này như thế nào Để đạt được yêu cầu này, IFRS 7 các đoạn 36-38 yêu cầu các đơn vị cần công bố các thông tin định lượng và định tính về các rủi ro phát

Trang 35

sinh từ các TSTC (trong đó bao gồm cả các khoản dư nợ tín dụng ngân hàng của các NHTM), bao gồm cả các công bố tối thiểu về rủi ro tín dụng Các thông tin định tính mô tả mục tiêu của nhà quản trị cũng như chính sách và quá trình quản trị rủi ro này Các công bố định lượng cung cấp thông tin về quy mô, phạm vi mà tổ chức phải chịu tổn thất từ các rủi ro được dựa trên thông tin được cung cấp bởi quản trị nhân sự cuả đơn vị Tiêu chuẩn này cũng đòi hỏi các ngân hàng phải tiết lộ thông tin định tính và định lượng về các rủi ro phát nhằm giúp người sử dụng báo cáo tài chính đánh giá chất lượng tín dụng của các tài sản tài chính, mức độ và nguồn dự phòng rủi ro

Điều 131 Luật số 47/2010/QH12: Luật các tổ chức tín dụng quy định về dự phòng rủi ro như sau: “ Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài Khoản dự phòng rủi ro được hạch toán vào chi phí hoạt động” “Việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng

để xử lý rủi ro trong hoạt động do Ngân hàng Nhà nước quy định sau khi thống nhất với Bộ Tài chính” Như vậy, rủi ro tín dụng là dạng rủi ro thường xuyên xuất hiện trong hoạt động của tổ chức tín dụng Vì vậy, việc trích lập dự phòng để xử lý rủi ro

là điều cần thiết nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động của tổ chức tín dụng

Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN thì dự phòng rủi ro là khoản tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra do khách hàng của tổ chức tín dụng không thực hiện nghĩa vụ theo cam kết Dự phòng rủi ro được tính theo dư

nợ gốc và hạch toán vào chi phí hoạt động của tổ chức tín dụng

Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN sẽ được thay thế cho quyết định 493/2005/QĐ-NHNN và có hiệu lực từ tháng 06/2014 thì dự phòng rủi ro là số tiền được trích lập và hạch toán vào chi phí hoạt động để dự phòng cho những tổn thất

có thể xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài

Cả hai văn bản trên đều quy định dự phòng rủi ro tín dụng gồm dự phòng cụ thể và dự phòng chung

Trang 36

Dự phòng cụ thể là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra đối với từng khoản nợ cụ thể Và tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng cụ thể là bao nhiêu thì tùy thuộc vào khoản nợ đó được phân loại vào nhóm nợ nào

Dự phòng chung là số tiền được trích lập để dự phòng cho những tổn thất có thể xảy ra nhưng chưa xác định được trong quá trình phân loại nợ và trích lập dự phòng cụ thể Và theo quyết định 493 thì dự phòng chung được xác định bằng 0,75% tổng số dư các khoản nợ từ nhóm 1 đến nhóm 4

Dù là quyết định 493 hay thông tư 02 đều được Ngân hàng Nhà nước đưa ra dựa trên những chuẩn mực, quy định của thế giới Lĩnh vực ngân hàng Việt Nam nói riêng và nền kinh tế nói chung đang từng bước hội nhập sâu với thông lệ quốc

tế, và từng bước áp dụng một cách phù hợp vào Việt Nam

2.2 Cơ sở xác định rủi ro tín dụng

2.2.1 Xác định rủi ro tín dụng theo IAS 39 và Hiệp ước vốn Basel

2.2.1.1 Chuẩn mực kế toán quốc tế 39 (IAS 39)

Theo IAS39 – đoạn 59 đưa ra bằng chứng khách quan mà TSTC hay nhóm TSTC bị suy giảm bao gồm các sự kiện tổn thất sau:

(a) Khó khăn tài chính đáng kể của bên có nghĩa vụ nợ

(b) Sự vi phạm hợp đồng, chẳng hạn sự vỡ nợ hay sự phạm lỗi trong việc thanh toán gốc hay lãi

(c) Người cho vay, vì lý do kinh tế hay luật pháp liên quan đến khó khăn tài chính của người đi vay, sẽ cấp cho người đi vay sự nhượng bộ nào đó mà người cho vay

sẽ không làm nếu không xem xét đến

(d) Có thể người đi vay bị phá sản hay tái cấu trúc lại tài chính

(e) Sự biến mất của thị trường hoạt động đối với TSTC vì các khó khăn tài chính

(f) Dữ liệu quan sát được chỉ ra rằng sự suy giảm có thể đo lường được trong ước tính các luồng tiền trong tương lai từ nhóm các TSTC từ lúc ghi nhận ban đầu những tài sản này, mặc dù sự giảm giá này không được nhận diện với từng TSTC

cá biệt trong nhóm, bao gồm:

Trang 37

(i) Sự thay đổi theo hướng bất lợi về tình trạng thanh toán của những người đi vay trong nhóm ( chẳng hạn như sự gia tăng số lượng các khoản thanh toán bị chậm hay

sự tăng lên của những chủ thẻ tín dụng đã đạt tới hạn mức tín dụng tối thiểu và đang duy trì việc chi trả số tiền tối thiểu hàng tháng); hoặc

(ii) Các điều kiện kinh tế quốc gia hay địa phương có liên quan đến việc mất khả năng chi trả cho tài sản trong nhóm (ví dụ như sự gia tăng thất nghiệp trong vùng của người vay, sự giảm giá bất động sản cầm cố trong vùng liên quan, giảm giá dầu đối với các khoản cho vay dùng cho sản xuất dầu, hay sự thay đổi bất lợi các điều kiện của công nghiệp mà tác động đến những người đi vay)

Khi các bằng chứng đã chứng minh về sự kiện tổn thất thì chủ thể sẽ chịu một khoản lỗ do tài sản bị sụt giảm hoặc các sự kiện có ảnh hưởng đến dòng tiền tương lai và được ước tính một cách đáng tin cậy

Theo IAS 39 – đoạn 63 thì số tổn thất cho vay đó được tính bằng chênh lệch giữa giá trị ghi sổ và giá trị hiện tại của ước tính dòng tiền trong tương lai được chiết khấu theo lãi suất thực gốc của TSTC Sau đó, giá trị ghi sổ sẽ có thể được giảm một cách trực tiếp hoặc thông qua sử dụng tài khoản dự phòng Các khoản sụt giảm được ghi nhận báo cáo kết quả kinh doanh

2.2.1.2 Hiệp ước vốn Basel

Basel II cung cấp hai phương pháp đánh giá tín dụng gồm Phương pháp đánh giá tiêu chuẩn (Stvàardized) và phương pháp đánh giá dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ cơ bản (F-IRB) hoặc nâng cao (A-IRB)

Phương pháp chuẩn đánh giá rủi ro tín dụng:

Phương pháp đánh giá tiêu chuẩn buộc các ngân hàng cần có sự hỗ trợ của các tổ chức xếp hạng tín dụng bên ngoài và từ đó xác định hệ số rủi ro theo quy định Theo phương pháp này, Basel II phân chia danh sách tín dụng khách hàng làm

7 nhóm với các trọng số rủi ro khác nhau bao gồm :

- Khoản cho vay đối với quốc gia

Trang 38

- Khoản cho vay đối với ngân hàng

- Khoản cho vay đối với doanh nghiệp

- Khoản cho vay đối với danh mục bán lẻ

- Khoản cho vay được đảm bảo bằng tài sản nhà ở

- Khoản cho vay được đảm bảo bằng bất động sản thương mại

- Các loại tài sản khác

Basel II đưa ra trọng số rủi ro tương ứng với từng loại tài sản và áp dụng phù hợp với từng mức độ nhạy cảm rủi ro khác nhau dựa trên mức đánh giá của tổ chức xếp hạng độc lập

Phương pháp xếp hạng nội bộ đánh giá rủi ro tín dụng

Phương pháp đánh giá dựa trên hệ thống xếp hạng nội bộ Phương pháp này dựa trên các yếu tố định tính và định lượng để từ đó có cơ sở ước lượng mức vốn tối thiểu cho khoản tổn thất Và dựa vào kết quả xếp hạng nội bộ mà các ngân hàng có thể sử dụng mô hình để ước lượng xác suất trả nợ hoặc không trả nợ của khách hàng Tuy nhiên, ngân hàng cần có sự cho phép của cơ quan giám sát ngân hàng khi

áp dụng phương pháp này

Theo Basel II, phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ dựa trên quy

mô, đặc điểm, nguồn lực của ngân hàng mà chia ra làm 2 phương pháp, gồm có phương pháp đánh giá dựa trên xếp hạng nội bộ cơ bản và nâng cao Sự khác biệt giữa hai phương pháp này chính là việc sử dụng thông tin nội bộ của ngân hàng để ước lượng tham số chính cấu thành rủi ro tín dụng Theo phương pháp xếp hạng nội

bộ này thì vốn yêu cầu tối thiểu đối với rủi ro tín dụng sẽ được xác định chính xác hơn Đồng thời có sự phân biệt về vốn yêu cầu tối thiểu giữa các khoản cho vay đối với các đố tượng khách hàng khác nhau

Trang 39

2.2.2 Căn cứ xác định rủi ro tín dụng tại các NHTM ở Việt Nam

Theo thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định các ngân hàng thương mại phải xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ để xếp hạng khách hàng theo định kỳ

và gửi cho CIC (Trung tâm thông tin tín dụng) Kết quả phân loại từ CIC sẽ làm căn

cứ cho các ngân hàng điều chỉnh kết quả phân loại nợ theo nguyên tắc quy định thành 5 nhóm nợ và được đánh giá theo 2 phương pháp định lượng và định tính

2.2.2.1 Đánh giá theo định lượng

Theo phương pháp này, nợ được phân thành 5 nhóm sau:

Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn bao gồm:

 Nợ trong hạn được đánh giá có khả năng thu hồi gốc và lãi đúng hạn

 Các khoản nợ quá hạn dưới 10 ngày và tổ chức tín dụng đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ gốc và lãi bị quá hạn, và thu hồi đầy đủ gốc và lãi đúng thời hạn còn lại

Nhóm 2: Nợ cần chú ý bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày

 Các khoản nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu

Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày

 Các khoản nợ được gia hạn

 Các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng

Nhóm 4: Nợ nghi ngờ bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày

Trang 40

 Các khoản nơ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn nợ được cơ cấu lại lần đầu

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần hai

Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn bao gồm:

 Các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai bị quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai

 Các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:02

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w