1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Phân tích thực trạng chi ngân sách Nhà nước tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

86 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,68 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hơn nữa, quản lý thực hiện dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện cũng còn không ít hạn chế như: công tác xây dựng dự toán chưa sát thực hiện nhiệm vụ, điều hành dự toán còn n

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

***

NGUYỄN THỊ TRÚC PHƯỢNG

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

***

NGUYỄN THỊ TRÚC PHƯỢNG

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH HUYỆN CHÂU THÀNH A TỈNH HẬU GIANG

Chuyên ngành : Quản lý kinh tế

Mã số : 60340410

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS NGUYỄN HỒNG THẮNG

TP Hồ Chí Minh - Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Nguyễn Hồng Thắng

Các số liệu và những kết luận nghiên cứu thực hiện trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố tại bất kỳ công trình nào khác, nếu sai tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2016

Tác giả

Nguyễn Thị Trúc Phượng

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1 Đặt vấn đề: 1

2 Mục tiêu nghiên cứu: 2

3 Câu hỏi nghiên cứu: 2

4 Đối tượng nghiên cứu: 3

5 Phạm vi nghiên cứu: 3

6 Phương pháp nghiên cứu đề tài: 3

CHƯƠNG 1: 4

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC 4

1.1.1 Chức năng của ngân sách nhà nước 4

1.1.2 Mục tiêu quản lý ngân sách Nhà nước 6

1.1.3 Bản chất quản lý ngân sách Nhà nước 7

1.1.4 Chức năng quản lý ngân sách Nhà nước 7

1.2 QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN ĐỊA PHƯƠNG 8

1.2.1 Khái niệm quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 8

1.2.2 Mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 8

1.2.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 8

1.2.4 Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 9

1.2.5 Chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 10

1.2.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 11

1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương 12

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CHI NSĐP 12

Trang 5

3

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 14

Kết luận chương 17

CHƯƠNG 2: 18

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI P H Ò N G T À I C H Í N H – KẾ H OẠC H HUYỆN CHÂU THÀNH A 18

2.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội tỉnh Hậu Giang 18

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên 18

2.1.2 Thực trạng về công tác quản lý ngân sách tỉnh Hậu Giang 21

2.2 Khái quát tình hình kinh tế xã hội huyện Châu Thành A 26

2.2.1 Giới thiệu chung về địa bàn huyện Châu Thành A: 26

2.2.2 Các đặc điểm tự nhiên: 26

2.2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội: 29

2.2.4 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động của huyện Châu Thành A 31

2.3 Khái quát cơ cấu tổ chức phòng Tài chính - Kế hoạch 35

2.4 Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách trên địa bàn huyện Châu Thành A 41

2.5 Khảo sát hiệu quả chi thường xuyên ngân sách nhà nước tại Huyện Châu Thành A 61

2.5.1 Ưu điểm công tác quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Châu Thành A 61

2.5.2 Nhược điểm công tác quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Châu Thành A 62

2.5.3 Nguyên nhân cơ bản của những hạn chế 65

CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH HUYỆN CHÂU THÀNH A 68

3.1 PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT TRIỂN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC HUYỆN CHÂU THÀNH A 68

3.1.1 Thực hiện đổi mới tăng cường quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện 68

3.1.2 Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện 68

3.2 CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC QUẢN LÝ CHI NGÂN

Trang 6

4

SÁCH NHÀ NƯỚC TẠI PHÒNG TÀI CHÍNH - KẾ HOẠCH HUYỆN

CHÂU THÀNH A 69

3.2.1 Nghiên cứu xây dựng định mức phân bổ dự toán chi thường xuyên NSNN cho chi quản lý Nhà nước, Đảng, Đoàn thể 69

3.2.2 Giải pháp hoàn thiện quản lý việc lập, chấp hành và quyết toán chi thường xuyên NSNN 69

3.2.3 Giải pháp hoàn thiện tổ chức bộ máy và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong công tác quản lý chi thường xuyên NSNN 70

3.2.4 Các giải pháp hỗ trợ khác 70

3.3 KẾT LUẬN 70

3.4 KIẾN NGHỊ 72 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

HĐND: Hội đồng nhân dân

KBNN: Kho bạc nhà nước

NSTW: Ngân sách Trung ương

NSĐP: Ngân sách địa phương

NSNN: Ngân sách nhà nước

UBND: Ủy ban nhân dân

XDCB: Xây dựng cơ bản

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số 20 Bảng 2.2 Bản đồ đơn vị hành chính huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang 26 Bảng 2.3 Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2013 29 Bảng 2.4 Tổng hợp chi ngân sách huyện Châu Thành A ( 2006 - 2015) 47 Bảng 2.5 Tổng hợp chi đầu tư từ ngân sách huyện Châu Thành A ( 2006 - 2015) 49 Bảng 2.6 Tổng hợp chi thường xuyên ngân sách huyện Châu Thành A ( 2006

- 2015) 51

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý 39 Hình 2.2 Hình thức kế toán đơn vị áp dụng 40

Trang 10

Trong xu thế phát triển của nền kinh tế thị trường thì trong đó việc phân tích ngân sách nhà nước về tình hình thu - chi không thể thiếu trong quá trình phát triển các cơ sở hạ tầng để phục vụ cho nền kinh tế đặc biệt là trong thời

kỳ hiện nay chúng ta đã và đang ở trên đà phát triển của nền kinh tế rộng mở

Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu giảm tỷ trọng trong nông nghiệp tăng tỷ trọng trong công nghiệp, thương mại dịch vụ, việc đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng ngày càng được quan tâm như: xây dựng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, xây dựng nông thôn mới, kiên cố hóa đường, trường, trạm trước tình hình đó hàng loạt các vấn đề được đặt ra trong công tác quản lý như: quản lý về nhân lực, quản lý tài nguyên, quản lý giá cả, quản

lý thị trường, quản lý về đầu tư xây dựng cơ bản… trong đó việc quản lý thực hiện dự toán chi ngân sách ngân sách nói chung và ngân sách huyện nói riêng đang đặt ra rất gay gắt Hơn nữa, quản lý thực hiện dự toán chi ngân sách nhà nước trên địa bàn huyện cũng còn không ít hạn chế như: công tác xây dựng

dự toán chưa sát thực hiện nhiệm vụ, điều hành dự toán còn nhiều bất cập, công tác kiểm soát chi chưa hiệu quả, công tác thanh kiểm tra còn mang tính hình thức, chưa tạo tính chủ động cho đơn vị sử dụng dự toán, công tác điều chỉnh dự toán trình tự thủ tục còn rườm rà, công tác bổ sung dự toán chưa đáp ứng được yêu cầu, thực hiện dự toán chưa trọng tâm, nhiều nhiệm vụ chi không đảm bảo được kịp thời trong khi đó chính sách, chế độ thay đổi và bổ sung nhiều, năng lực, trình độ cán bộ quản lý ngân sách còn hạn chế

Huyện Châu Thành A đang trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ

cơ sở hạ tầng, nhu cầu nhiệm vụ chi để phát triển kinh tế xã hội của huyện

Trang 11

thì lớn mà đặc biệt là nhu cầu chi thường xuyên Chi thường xuyên thực hiện trên phạm vi rộng đa dạng và phức tạp, nó không có mức giới hạn trong khi đó khả năng hoạt động nguồn thu thì có hạn Trong khi đó nguồn thu ngân sách của huyện còn hạn hẹp, thu ngân sách không đủ bù chi, chủ yếu trợ cấp từ ngân sách của tỉnh

Trong các năm qua việc quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A đã bộc lộ một số tồn tại, hạn chế nhất định Vì vậy, việc quản lý, sắp xếp chi thường xuyên ngân sách huyện có vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của huyện

Đó cũng chính là cơ sở và sự cần thiết lựa chọn nghiên cứu đề tài “Phân tích

thực trạng chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang” Làm đối tượng nghiên cứu với mục đích góp

tiếng nói vào định hướng phát triển kinh tế - xã hội hợp lý và bền vững, phù hợp với đặc điểm của tỉnh Hậu Giang trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới

2 Mục tiêu nghiên cứu:

Luận văn hướng đến hai mục tiêu sau đây:

Một là: Cơ sở lý luận về công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách Nhà nước Phân tích thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Từ đó rút ra những ưu, nhược điểm và nguyên nhân tồn tại trong công tác quản lý chi thường xuyên ngân sách của huyện

Hai là: Đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A trong thời gian đến

3 Câu hỏi nghiên cứu:

Để đạt được hai mục tiêu nêu trên, luận văn xuất phát từ hai câu hỏi:

- Quản lý chi thường xuyên NSNN bao gồm những nội dung gì?

- Các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng kết quả quản lý chi thường xuyên NSNN như thế nào?

- Thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A hiện nay diễn ra như thế nào?

- Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại

Trang 12

Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A là gì?

4 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn

về công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A

5 Phạm vi nghiên cứu:

Về không gian: Luận văn chỉ đề cập đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN được thực hiện tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

Về thời gian: Số liệu điều tra thực trạng công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A được lấy trong khoảng thời gian từ năm 2006 - 2015

6 Phương pháp nghiên cứu đề tài:

Luận văn được sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng Dựa vào phương pháp này, các khoản mục chi thường xuyên

NS huyện được xem như một hệ thống luôn biến đổi, vận động và do đó cần được quan tâm; đồng thời sử dụng các phương pháp thống kê, mô tả, so sánh, phân tích thực tiễn dựa trên các số liệu, thông tin có liên quan đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A và khảo sát câu hỏi chuyên gia trong lĩnh vực tài chính ở địa phương để làm sáng tỏ vấn đề cần nghiên cứu

7 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,

luận văn bao gồm các nội dung chủ yếu thể hiện ở ba chương sau:

Chương 1: Cơ sở lý luận về ngân sách nhà nước

Chương 2: Thực trạng quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A

Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản lý chi thường xuyên NSNN tại Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện Châu Thành A

Trang 13

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1 NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC

1.1.1 Chức năng của ngân sách nhà nước

Ngân sách nhà nước là một phạm trù kinh tế - lịch sử gắn liền với sự ra đời của nhà nước, gắn liền với kinh tế hàng hoá - tiền tệ Ngân sách nhà nước tồn tại và phát triển cùng với sự tồn tại và phát triển của Nhà nước

Theo luật ngân sách nhà nước năm 2002 khẳng định: “ngân sách nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan nhà nước

có thẩm quyền quyết định và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước”

Hoạt động ngân sách nhà nước là hoạt động thu - chi tài chính của Nhà nước Hoạt động đó đa dạng, phong phú, được tiến hành hầu hết trên các lĩnh vực, tác động đến mọi chủ thể kinh tế - xã hội Tuy đa dạng, phong phú như vậy, nhưng chúng có những đặc điểm chung: Các hoạt động thu - chi của ngân sách nhà nước luôn luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của Nhà nước, được Nhà nước tiến hành trên cơ sở những luật lệ nhất định Đằng sau những hoạt động thu - chi tài chính đó chứa đựng nội dung kinh tế - xã hội nhất định và chứa đựng các quan hệ kinh tế, quan hệ lợi ích nhất định Trong các quan hệ lợi ích đó, lợi ích quốc gia, lợi ích chung bao giờ cũng được đặt lên hàng đầu và chi phối các mặt lợi ích khác trong thu, chi ngân sách Nhà nước

Quá trình thực hiện các chỉ tiêu thu, chi ngân sách nhằm hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước và là quá trình phân phối và phối lại giá trị tổng sản phẩm xã hội phục vụ cho việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước trên các lĩnh vực, trong từng giai đoạn lịch sử nhất định

Như vậy, chúng ta thấy rằng thu - chi của ngân sách hoàn toàn không giống bất kỳ một hình thức thu - chi của một loại quỹ nào Thu của ngân sách phần lớn đều mang tính chất bắt buộc, còn các khoản chi của ngân sách lại mang tính chất không hoàn lại Đây là đặc trưng nổi bật của ngân sách trong

Trang 14

bất cứ một Nhà nước nào Xuất phát từ quyền lực của Nhà nước và các nhu cầu về tài chính để thực hiện chức năng quản lý và điều hành của Nhà nước đối với nền kinh tế - xã hội Do nhu cầu chi tiêu của mình, Nhà nước đã sử dụng quyền lực thông qua hệ thống pháp luật tài chính buộc mọi pháp nhân

và thể nhân phải đóng góp một phần thu nhập của mình cho ngân sách, tức là các chủ thể kinh tế thực hiện nghĩa vụ của mình với Nhà nước Sự bắt buộc

đó là hoàn toàn khách quan, vì lợi ích của toàn xã hội chứ không phải phục vụ cho lợi ích riêng của Nhà nước Các đối tượng nộp thuế cũng hoàn toàn ý thức được nghĩa vụ của mình trong việc đảm bảo sự tồn tại và phát triển của Nhà nước Họ cũng hiểu được vai trò của Nhà nước trong việc sử dụng các nguồn lực tài chính nhằm thực hiện các chức năng kinh tế, xã hội, do nhân dân giao phó Sự tồn tại và hoạt động của Nhà nước chính là yếu tố quyết định tính chất hoạt động của ngân sách, nói lên bản chất của ngân sách Mọi hoạt động của ngân sách đều nhằm vào việc tạo lập và sử dụng các nguồn lực tài chính, nó phản ánh hệ thống các quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các chủ thể trong xã hội, phát sinh do Nhà nước tạo lập thông qua ngân sách Đó là mối quan hệ kinh tế giữa phần nộp vào ngân sách và phần để lại cho các chủ thể kinh tế trong xã hội Phần nộp vào ngân sách sẽ tiếp tục được phân phối lại nhằm thực hiện các chức năng của Nhà nước và phục vụ cho các nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội

Với quyền lực tối cao của mình, Nhà nước có thể sử dụng các công cụ sẵn có để bắt buộc mỗi thành viên trong xã hội cung cấp cho mình các nguồn lực tài chính cần thiết Song cơ sở tạo lập các nguồn lực tài chính xuất phát từ sản xuất, mà chủ thể của sản xuất chính là các thành viên trong xã hội Mọi thành viên đều có lợi ích kinh tế và đấu tranh bảo vệ lợi ích kinh tế đó, nghĩa

là thông qua quyền lực của mình, Nhà nước sử dụng các công cụ, chính sách giải quyết hài hoà giữa lợi ích Nhà nước và lợi ích của các thành viên trong xã hội Do vậy muốn có ngân sách đúng đắn, lành mạnh thì phải tôn trọng và vận dụng các quy luật kinh tế một cách khách quan, phải dựa trên cơ sở đảm bảo hài hoà lợi ích của Nhà nước và lợi ích cho các thành viên trong xã hội Một ngân sách lớn mạnh phải đảm bảo sự cân đối trên cơ sở khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, bao quát hết toàn bộ các nguồn thu, nuôi dưỡng

Trang 15

nguồn thu để đáp ứng nhu cầu chi ngày càng tăng Như vậy bản chất của ngân sách là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa Nhà nước và các thành viên trong xã hội, phát sinh trong quá trình Nhà nước huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính, nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế, xã hội của Nhà nước

Chức năng đầu tiên của ngân sách là chức năng phân phối Bất kỳ một Nhà nước nào, muốn tồn tại và duy trì được các chức năng của mình, trước hết phải có nguồn lực tài chính Đó là các khoản chi cho bộ máy quản lý Nhà nước, cho lực lượng quân đội, cảnh sát, cho nhu cầu văn hoá, giáo dục, y tế, phúc lợi xã hội, chi cho đầu tư phát triển v.v Nhưng muốn tạo lập được ngân sách, trước hết phải tập hợp các khoản thu theo luật định, cân đối chi tiêu theo tiêu chuẩn định mức đúng với chính sách hiện hành Đó chính là sự huy động các nguồn lực tài chính và đảm bảo nhu cầu chi tiêu theo kế hoạch của Nhà nước, thực hiện việc cân đối thu chi bằng tiền của Nhà nước

Chức năng thứ hai của ngân sách là giám đốc quá trình huy động các khoản thu và thực hiện các khoản chi Thông qua chức năng này, ngân sách kiểm tra, giám sát quá trình động viên các nguồn thu, tránh tình trạng trốn lậu thuế, chây ỳ nộp thuế của các đối tượng thực hiện nghĩa vụ nộp ngân sách hoặc bị lạm dụng, làm trái pháp luật, coi thường pháp luật và các chính sách động viên khác Trong khâu cấp phát nếu buông lỏng việc kiểm tra, kiểm soát chi thì dễ dẫn đến tình trạng làm sai luật định và các chế độ chi quy định Đồng thời thông qua kiểm tra, kiểm soát hoạt động thu chi ngân sách giúp ta giám sát việc chấp hành các chế độ, chính sách của Đảng và Nhà nước Thông qua đó đánh giá hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội của vốn ngân sách, hiệu quả của các chủ trương, chính sách, chế độ do Đảng và Nhà nước đề ra Như vậy, hai chức năng phân phối và giám đốc luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, có vị trí và tầm quan trọng như nhau, không thể coi chức năng này hơn chức năng kia, mà phải coi trọng cả hai chức năng ở mọi lúc, mọi nơi trong tạo lập và sử dụng vốn ngân sách

1.1.2 Mục tiêu quản lý ngân sách Nhà nước

Tất cả các hoạt động quản lý ngân sách đều nhằm đạt được những mục

Trang 16

tiêu sau:

Thứ nhất: Đảm bảo mục tiêu phát triển kinh tế -xã hội, đảm bảo phúc lợi công cộng ngắn hạn, dài hạn, mục tiêu văn hoá, xã hội dài hạn (ví dụ xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội như các công trình thuộc lĩnh vực giao thông, điện nước, giáo dục & đào tạo, y tế, thể thao….)

Thứ hai: Đảm bảo sự phát triển kỹ thuật, kinh tế trung hạn của đất nước, như đầu tư cho các công trình phục vụ nghiên cứu khoa học và công nghệ có tính chất chiến lược, các công trình cơ sở hạ tầng kỹ thuật và kinh tế quan trọng, các công trình công nghiệp trọng điểm có tác dụng đòn bẩy đối với nền kinh tế quốc dân…

Thứ ba: Đảm bảo các yêu cầu về bảo vệ môi trường, bảo vệ tài nguyên đất nước

Thứ tư: Đảm bảo vị trí kinh tế của đất nước trên trường quốc tế

Thứ năm: Đảm bảo an ninh được giữ vững và giữ vững được chủ quyền

Thứ sáu: Đầu tư vào các lĩnh vực mà các doanh nghiệp quốc doanh riêng lẻ, doanh nghiệp tư nhân không có khả năng tham gia Do nhu cầu về vốn quá lớn, độ rủi ro cao, mà các lĩnh vực này không thể thiếu đối với sự phát triển chung của đất nước và rất cần thiết cho đời sống con người và đặc biệt là các vùng miền xa xôi

1.1.3 Bản chất quản lý ngân sách Nhà nước

Ngân sách nhà nước là hệ thống các mối quan hệ kinh tế giữa nhà nước

và xã hội phát sinh trong quá trình nhà nước huy động và sử dụng các nguồn tài chính nhằm đảm bảo yêu cầu thực hiện các chức năng quản lý và điều hành nền kinh tế - xã hội của mình

1.1.4 Chức năng quản lý ngân sách Nhà nước

Như trên đã phân tích, ngân sách không tách rời nhà nước Một nhà nước ra đời, trước hết cần phải có các nguồn lực tài chính để chi tiêu cho bộ máy quản lý nhà nước, cho cảnh sát và quân đội Tiếp đến là các nhu cầu chi khác nhằm thực hiện các chức năng của nhà nước như: chi cho các nhu cầu văn hoá, giáo dục, đào tạo, y tế, phúc lợi xã hội, trợ cấp xã hội, chi cho đầu tư

Trang 17

xây dựng cơ bản hệ thống kết cấu hạ tầng, chi phát triển sản xuất Tất cả các

nhu cầu chi tiêu tài chính của nhà nước đều được thoả mãn bằng các nguồn thu từ thuế và các hình thức thu khác

Như vậy, có thể kết luận chức năng của ngân sách nhà nước :

Một là: Huy động nguồn tài chính và đảm bảo các nhu cầu chi tiêu theo

dự toán nhà nước

Hai là: Thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các khoản chi của nhà nước

1.2 QUẢN LÝ CHI THƯỜNG XUYÊN NSNN ĐỊA PHƯƠNG

1.2.1 Khái niệm quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

Quản lý chi NSNN địa phương cho chi thường xuyên là sự tác động liên tục, có tổ chức, định hướng mục tiêu vào quá trình lập dự toán; phân bổ dự toán; chấp hành dự toán; kiểm tra, kiểm soát, thanh toán, quyết toán các khoản chi thường xuyên từ NSĐP nhằm đạt được mục tiêu sử dụng ngân sách một cách hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội và ổn định kinh

tế, chính trị, văn hoá, xã hội

1.2.2 Mục tiêu quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

Mục tiêu trong việc điều hành NSNN nói chung hay quản lý chi thường xuyên NSNN nói riêng, đó chính là thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng bền vững trong điều kiện sử dụng nguồn lực hiệu quả, tiết kiệm, thực hiện công bằng xã hội và đảm bảo các mục tiêu chính trị xã hội, an ninh quốc phòng, đối ngoại

1.2.3 Nguyên tắc quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

- Mọi khoản chi từ NSNN chỉ có thể trở thành hiện thực khi và chỉ khi khoản chi đó nằm trong cơ cấu chi theo dự toán đã được cơ quan có thẩm quyền ở địa phương xét duyệt và thông qua

- Mọi nhu cầu chi thường xuyên dự kiến cho năm kế hoạch nhất thiết phải được xác định trong dự toán kinh phí từ cơ sở, thông qua các bước xét duyệt của các cơ quan quyền lực Nhà nước từ thấp đến cao Quyết định cuối cùng cho dự toán chi thường xuyên của ngân sách địa phương thuộc về HĐND địa phương

- Trong quá trình tổ chức thực hiện dự toán chi thường xuyên mỗi

Trang 18

ngành, mỗi cấp, mỗi đơn vị phải căn cứ vào dự toán kinh phí đã được duyệt

mà phân bổ và sử dụng cho các khoản mục chi và phải hạch toán theo đúng mục lục NSNN đã quy định

- Xây dựng các định mức, tiêu chuẩn chi tiêu phù hợp với từng đối tượng hay tính chất công việc; đồng thời lại phải có tính thực tiễn cao

- Khi đánh giá tính hiệu quả của chi ngân sách địa phương phải đạt được lợi ích kinh tế - xã hội mà địa phương được thụ hưởng

1.2.4 Tổ chức bộ máy thực hiện quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

- Việc tổ chức bộ máy quản lý chi thường xuyên NSĐP gồm nhiều cơ quan với chức năng, nhiệm vụ cụ thể như sau:

Hội đồng nhân dân:

- Quyết định dự toán và phân bổ NSĐP; phê chuẩn quyết toán NSĐP; Quyết định điều chỉnh dự toán NSĐP trong trường hợp cần thiết; Giám sát việc thực hiện ngân sách đã được HĐND quyết định

Ủy ban nhân dân: Lập dự toán và phương án phân bổ NSĐP, dự toán điều chỉnh NSĐP Trong trường hợp cần thiết trình HĐND cùng cấp quyết định và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp; Lập quyết toán NSĐP trình HĐND cùng cấp phê chuẩn và báo cáo cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan tài chính cấp trên trực tiếp; Kiểm tra Nghị quyết của HĐND cấp dưới về dự toán ngân sách và quyết toán ngân sách; Căn cứ và Nghị quyết của HĐND cùng cấp, quyết định giao nhiệm vụ thu, chi NS cho từng cơ quan, đơn vị trực thuộc, nhiệm vụ thu chi và mức bổ sung cho NS cấp dưới; Tổ chức thực hiện NSĐP; Phối hợp với các cơ quan nhà nước cấp trên trong việc quản lý NSNN theo lĩnh vực trên địa bàn; Báo cáo về NSNN theo quy định của pháp luật

Cơ quan tài chính: Cơ quan tài chính các cấp là những cơ quan chuyên môn trực tiếp tham mưu cho UBND các cấp trong việc quản lý, điều hành công tác quản lý chi thường xuyên NSNN, ngoài ra còn một số cơ quan khác có liên quan Cơ quan tài chính phải thường xuyên xem xét khả năng đảm bảo kinh phí cho nhu cầu chi thường xuyên từ nguồn NSNN

Kho bạc Nhà nước: Kiểm soát, đối chiếu các khoản chi so với dự toán ngân sách nhà nước, bảo đảm các khoản chi phải có trong dự toán ngân sách nhà nước được cấp có thẩm quyền giao, số dư tài khoản dự toán của đơn vị còn đủ để chi Kiểm tra, kiểm soát tính hợp pháp, hợp lệ của các hồ sơ, chứng từ theo quy định đối với từng khoản chi

Trang 19

1.2.5 Chu trình quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

Quá trình lập, chấp hành, quyết toán NSĐP gồm ba nhóm nội dung: lập, xét duyệt và phê chuẩn NSĐP; chấp hành NSĐP và quyết toán NSĐP

Lập dự toán NSĐP

Dự toán chi thường xuyên là một bộ phận rất quan trọng của dự toán chi ngân sách Nhà nước Đây là khâu mở đầu của một chu trình ngân sách, nhằm mục đích để phân tích, đánh giá giữa khả năng và nhu cầu các nguồn tài chính của Nhà nước nhằm xác lập các chỉ tiêu thu chi ngân sách Nhà nước hàng năm một cách đúng đắn, có căn cứ khoa học và thực tiễn

Quy trình lập dự toán NSĐP

Bước (1): Hàng năm vào quý II, UBND huyện căn cứ vào chỉ thị các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính, UBND tỉnh, Sở Tài chính và định hướng phát triển kinh tế - xã hội của địa phương xây dựng dự toán ngân sách cho năm sau UBND huyện giao cho Phòng tài chính - kế hoạch huyện hướng dẫn cụ thể các phòng, ban, đơn vị thuộc phạm vi quản lý của huyện

Bước (2): Các phòng, ban, đơn vị lập dự toán chi thường xuyên ngân sách của đơn vị mình gửi Phòng Tài chính - Kế hoạch tổng hợp thành dự toán ngân sách

Bước (3): Phòng Tài chính - Kế hoạch huyện thảo luận dự toán với các đơn

vị và tổng hợp, hoàn chỉnh dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện trình UBND huyện

Bước (4): UBND huyện trình trình thường trực HĐND cùng cấp xem xét cho ý kiến về dự toán chi thường xuyên ngân sách

Bước (5): Căn cứ vào ý kiến của thường trực HĐND huyện, UBND cùng cấp hoàn chỉnh lại dự toán và gửi Sở Tài chính

Bước (6): Sở Tài chính tổ chức làm việc về dự toán ngân sách với UBND huyện

Phân bổ và quyết định giao dự toán:

Bước (7): Sau khi HĐND tỉnh thông qua dự toán năm sau, UBND tỉnh giao dự toán cho huyện, Sở Tài chính ra quyết định giao dự toán chi tiết cho huyện

Bước (8): Phòng Tài chính - Kế hoạch tham mưu UBND huyện điều chỉnh lại dự toán ngân sách (nếu có) gửi đại biểu HĐND huyện về dự toán ngân sách; HĐND huyện thảo luận và biểu quyết thông qua dự toán ngân sách năm sau

Bước (9): UBND huyện căn cứ nghị quyết của HĐND huyện ban hành

Trang 20

quyết định giao dự toán cho các phòng, ban, đơn vị, đồng thời gửi Phòng tài chính - kế hoạch, kho bạc nhà nước huyện; thực hiện công khai dự toán ngân sách huyện

Chấp hành ngân sách địa phương

Sau khi UBND huyện tiến hành ra quyết định giao dự toán ngân sách cho các đơn vị sử dụng ngân sách trực thuộc, Phòng tài chính - kế hoạch căn cứ vào quyết định của UBND huyện thông báo phân bổ dự toán ngân sách gửi cho các đơn vị trực thuộc; đồng thời gửi kho bạc Nhà nước huyện để phối hợp thực hiện

Chấp hành dự toán chi thường xuyên là một trong những nội dung quan trọng của chấp hành dự toán chi ngân sách Nhà nước - là khâu thứ hai của chu trình quản lý ngân sách Nhà nước

Thời gian tổ chức chấp hành ngân sách Nhà nước ở nước ta được tính từ ngày 01 tháng 1 đến hết ngày 31 tháng 12 năm dương lịch

Quyết toán NSĐP

Quyết toán chi thường xuyên NSĐP là tổng kết quá trình thực hiện dự toán chi thường xuyên NSĐP nhằm đánh giá kết quả hoạt động của một năm, từ đó rút ra ưu, nhược điểm và bài học kinh nghiệm cho công tác quản lý chi thường xuyên NSĐP

Sau khi thực hiện xong công tác khoá sổ cuối ngày 31 tháng 12 hàng năm, số liệu trên sổ sách của mỗi đơn vị phải đảm bảo cân đối và khớp đúng với số liệu của Kho bạc cả về tổng số và chi tiết Khi đó đơn vị mới được tiến hành lập báo cáo quyết toán năm để gửi xét duyệt

1.2.6 Các tiêu chí đánh giá kết quả công tác quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

- Đáp ứng kinh phí hoạt động thường xuyên của bộ máy chính quyền địa phương một cách đầy đủ và kịp thời

- Đảm bảo thời gian giao dự toán bổ sung kinh phí thực hiện các đề

án, nhiệm vụ phát sinh trong năm được cấp có thẩm quyền chỉ đạo thực hiện

- Đảm bảo thẩm tra phân bổ kịp thời dự toán cho các đơn vị sử dụng

dự toán để thực hiện nhiệm vụ chuyên môn được cấp có thẩm quyền giao thực hiện

- Mức độ bảo đảm tiến độ lập dự toán và quyết toán chi thường xuyên của các cấp dự toán ngân sách

- Cân bằng lợi ích giữa các đơn vị dự toán ngân sách

- Tỷ lệ chuyển nhiệm vụ chi sang năm sau thực hiện so với dự toán

Trang 21

được giao trong năm

- Tỷ lệ dự toán bị huỷ do không thực hiện được nhiệm vụ hoặc nhiệm

vụ đã thực hiện nhưng còn thừa dự toán so với dự toán được cấp đầu năm

1.2.7 Các nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chi thường xuyên NSNN địa phương

Các nhân tố khách quan

+ Điều kiện tự nhiên

+ Điều kiện kinh tế - xã hội

Tổ chức bộ máy quản lý chi thường xuyên NSNN

Công nghệ quản lý chi thường xuyên NSNN

1.3 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ CHI NSĐP

Từ trước đến nay đã có rất nhiều công trình, đề tài khoa học nghiên cứu

về chi ngân sách nhà nước nói chung và những vấn đề có liên quan nói riêng Mỗi công trình nghiên cứu đều có mục đích, đối tượng, phạm vi nghiên cứu

và cách tiếp cận riêng về NSNN Có thể nêu một số công trình nghiên cứu tiêu biểu được công bố sau:

Đề tài: “Nâng cao hiệu quả quản lý NSNN tỉnh An Giang giai đoạn 2011- 2015 và tầm nhìn đến 2012” năm 2012 của tác giả Tô Thiện Hiền - Luận án Tiến sĩ kinh tế, Đại học Ngân hàng TP Hồ Chí Minh Tác giả đã hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về hiệu quả quản lý NSNN nói chung và quản lý NSNN của tỉnh An Giang nói riêng Luận án đã làm sáng tỏ lý thuyết

về vị trí, vai trò của NS địa phương An Giang và mối quan hệ hữu cơ trong quan hệ cân đối giữa NS TW và NS địa phương theo nguyên tắc phát triển kinh tế ngành và lãnh thổ (khu vực) Đồng thời tác giả đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện quản lý NS địa phương trên các góc độ khác nhau: Phân định quản lý thu - chi giữa NS TW và NS địa phương; quan hệ về quy trình NS (lập, chấp hành và quyết toán NS); nâng cao vai trò của chính quyền địa phương trong tự chủ NS và mở rộng quyền tự quyết của ngân sách xã, để từng

Trang 22

bước đưa ngân sách xã thực sự là một khâu cấu thành của NSNN

Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại thành phố Đà Nẵng" năm 2011 của tác giả Ngô Thị Bích - Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã đề cập những vấn đề mang tính thời sự trong quản lý ngân sách tỉnh/thành phố, trong đó có chi thường xuyên

ở cấp tỉnh nên rất đáng để học hỏi Đóng góp mới của Luận văn này là lần đầu tiên đã đánh giá đúng thực chất vai trò, tình hình quản lý chi NSNN tỉnh/thành phố, góp phần thúc đẩy quá trình dân chủ hóa, thực hiện công khai hoạt động Tài chính - ngân sách và đưa ra các giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả quản lý chi NSNN tỉnh/thành phố Tuy nhiên, đề tài tập trung vào tổng quan lý luận về quản lý ngân sách nhà nước Thực trạng công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tại thành phố Đà Nẵng

Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình" " năm 2014 của tác giả Hoàng Mạnh Hà - Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Tác giả đã đề cập những vấn đề dựa trên cơ sở lý luận về chi ngân sách nhà nước và kết quả phân tích đánh giá thực trạng quản lý chi ngân sách trên địa bàn, luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước của huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình

Đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên của NSNN qua kho bạc Nhà nước Gia Lai” năm 2012 của tác giả Thân Tùng Lâm - Luận văn Thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Qua đề tài, tác giả đã làm

rõ thêm về công tác kiểm soát chi thường xuyên NSNN, cơ chế quản lý chi thường xuyên NSNN trên địa bàn cấp tỉnh (tỉnh Gia Lai) Tuy nhiên, vẫn chưa

đi vào nghiên cứu về những nội dung cụ thể của kinh phí chi thường xuyên ngân sách cấp huyện/quận

Đề tài: “Hoàn thiện công tác quản lý chi ngân sách nhà nước tỉnh Quảng Ngãi” năm 2012 của tác giả Lê Thị Thanh Tuyền - Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Đại học Đà Nẵng Đề tài đã chỉ ra những nguyên tắc cơ bản và những nội dung chủ yếu trong quản lý chi thường xuyên NSNN tỉnh Tuy nhiên, đề tài tập trung vào việc tình hình quản lý chi NSNN tại tỉnh Quảng Ngãi; Rút ra

Trang 23

những ưu điểm, tồn tại và nguyên nhân cơ bản trong công tác quản lý chi ngân sách của tỉnh Đề xuất các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác quản lý chi NS của tỉnh Quảng Ngãi trong thời gian tới

Đề tài: “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi thường xuyên qua KBNN Khánh Hòa” năm 2012 của tác giả Đỗ Thị Thu Trang - Luận văn Thạc sĩ quản trị kinh doanh, Đại học Đà Nẵng Qua đề tài, tác giả đã đi sâu nghiên cứu công tác chi NSNN qua KBNN Khánh Hòa trên cơ sở tiếp cận công tác kiểm soát chi theo yêu cầu đổi mới quản lý tài chính công và kiểm soát chi tiêu công của các nước tiên tiến nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát chi NSNN qua KBNN theo hướng hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cải cách hành chính trong lĩnh vực quản lý NSNN, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho các đơn vị sử dụng NSNN, đồng thời phù hợp xu thế hội nhập quốc tế

Với sự nỗ lực của bản thân, kết hợp những kinh nghiệm, những kiến thức đã được học tập, nghiên cứu từ các tài liệu của các tác giả khác nhau, nhờ

sự giúp đỡ của Người hướng dẫn khoa học, đề tài đưa ra một số đóng góp như sau:

Đề tài đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận cơ bản về NSNN huyện và công tác chi thường xuyên ngân sách huyện Phân tích thực trạng chi thường xuyên ngân sách huyện Châu Thành A để đánh giá kết quả đạt được, hạn chế

và tìm ra nguyên nhân Từ đó đề xuất phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện công tác chi thường xuyên ngân sách cho huyện Châu Thành A

Đề tài cũng đã chỉ ra được những ưu - khuyết điểm trong nghiên cứu chi thường xuyên ngân sách huyện và cụ thể hóa vấn đề quản lý chi thường xuyên ngân sách huyện nhằm hạn chế những biểu hiện tham ô, lãng phí gây thất thoát ngân sách nhà nước

Đề tài này được dùng làm tài liệu nghiên cứu định hướng phát triển kinh

tế - xã hội cho địa phương; dùng làm tài liệu nghiên cứu cho các ngành, các cấp và các đơn vị trong và ngoài huyện Châu Thành A

1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

* Phương pháp nghiên cứu được sử dụng

Trang 24

Phương pháp nghiên cứu được sử dụng xuyên suốt trong đề tài là phương pháp duy vật biện chứng Dựa vào phương pháp này, các khoản mục chi thường xuyên ngân sách huyện được xem như một hệ thống luôn biến đổi, vận động và do đó cần được quan tâm đổi mới Ngoài ra, phương pháp được

sử dụng là nghiên cứu phỏng vấn

Phương pháp này nhằm thu thập thông tin từ một số cá nhân và có thể định nghĩa là phương pháp thu thập thông tin có hệ thống từ (một số) cá nhân phục vụ mục đích mô tả những thuộc tính của một tổng thể lớn hơn mà cá nhân đó là thành viên

Thông tin được thu thập từ một nhóm lãnh đạo và cán bộ phụ trách kế toán ngân sách chi thường xuyên tại các đơn vị trực thuộc (mẫu) được mô tả rộng hơn cho các thành viên trong tổng thế đó

Để tập trung khảo sát, tác giả phân tích và đưa các tiêu chí khảo sát: Thông tin cá nhân của người được phỏng vấn

- Khâu lập dự toán chi thường xuyên ngân sách

- Khâu chấp hành dự toán chi thường xuyên ngân sách huyện

- Khâu kế toán và quyết toán ngân sách chi thường xuyên

- Khâu công tác thanh tra, kiểm tra trong quản lý chi thường xuyên NS huyện

Đối với bất kỳ một cuộc điều tra nào, rất cần thiết để có được dữ liệu từ những cá nhân đại diện cho nhóm mà bạn muốn nghiên cứu Thậm chí với một bảng hỏi hoàn hảo (nếu điều đó tồn tại) thì dữ liệu điều tra của bạn được thu thập chỉ hữu ích nếu những người trả lời là điển hình cho toàn bộ tổng thể

Với đề tài này, tác giả tập trung khảo sát cán bộ làm nghiệp vụ chi thường xuyên ngân sách huyện tại các phòng, ban, ngành, đơn vị thuộc huyện, ban Đảng, đoàn thể và các trường học của huyện Châu Thành A (gọi chung là các đơn vị thuộc huyện); Và chọn ngẫu nhiên đơn giản 50 mẫu được khảo sát

để thống kê số liệu phân tích

Thời gian phỏng vấn, khảo sát: từ tháng 08/2015 đến tháng 10/2015,

Trang 25

được tiến hành tại các cơ quan ban, ngành, đoàn thể trực thuộc Huyện ủy và UBND huyện Châu Thành A

Tổng số phiếu phát ra 50 phiếu, tổng số phiếu thu về 50 phiếu

Cơ cấu của mẫu điều tra (phiếu khảo sát):

- Về độ tuổi:

+ Độ tuổi dưới 30: 30 người, chiếm tỷ lệ 60%

+ Độ tuổi từ 30 - 45: 15 người, chiếm tỷ lệ 30%

+ Độ tuổi trên 45: 5 người, chiếm tỷ lệ 10%

+ Đại học: 42 người, chiếm tỷ lệ 84%

+ Sau Đại học: 8 người, chiếm tỷ lệ 16%

- Về trình độ lý luận chính trị:

+ Đảng viên: 45 người, chiếm tỷ lệ 90%

Không phải đảng viên: 5 người, chiếm tỷ lệ 10%

+ Sơ cấp: 25 người, chiếm tỷ lệ 50%

Trung cấp: 15 người, chiếm tỷ lệ 30%

Cao cấp: 10 người, chiếm tỷ lệ 20%

- Về thời gian công tác:

+ Dưới 1 năm: 5 người, chiếm tỷ lệ 10%

Trang 26

+ Từ 1 - 5 năm: 20 người, chiếm tỷ lệ 40%

+ Từ trên 5 năm - 10 năm: 15 người, chiếm tỷ lệ 30%

+ Trên 10 năm: 10 người, chiếm tỷ lệ 20%

- Về chuyên môn nghiệp vụ:

+ Kế toán chuyên trách các đơn vị: 40 người, chiếm tỷ lệ 80%

+ Chuyên viên, cán bộ kiêm nhiệm công tác chi thường xuyên các đơn vị: 10 người, chiếm tỷ lệ 20%

* Địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu

- Địa điểm thực hiện nghiên cứu: huyện Châu Thành A

- Thời gian nghiên cứu thực hiện đề tài: từ tháng 01/2015 đến tháng 10/2015

Trang 27

2.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên

a Vị trí địa lý

Hậu Giang là tỉnh thuộc khu vực nội địa của Đồng bằng Sông Cửu Long Lãnh thổ của tỉnh nằm trong tọa độ từ 9030'35 đến 10019'17 Bắc và từ 105014'03 đến 106017'57 kinh Đông Phía Tây giáp tỉnh Kiên Giang, phía Bắc giáp thành phố Cần Thơ và tỉnh Vĩnh Long, phía nam giáp tỉnh Bạc Liêu, phía đông giáp tỉnh Sóc Trăng

Tỉnh nằm ở hạ lưu sông Hậu, giữa một mạng lưới sông ngòi, kênh rạch chằng chịt Tỉnh nằm kề thành phố Cần Thơ, trung tâm của vùng Tây Nam

Bộ Sự phát triển của thành phố Cần Thơ sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển của tỉnh Hậu Giang Tuy nhiên, do vị trí nằm sâu trong nội địa nên Hậu Giang gặp không ít khó khăn trong việc khai thác các nguồn lực bên ngoài lãnh thổ, nhất là trong bối cảnh toàn cầu hoá

b Điều kiện tự nhiên

Hậu Giang là tỉnh nằm ở phần cuối Đồng bằng châu thổ sông Cửu Long, địa hình thấp, độ cao trung bình dưới 2 mét so với mực nước biển Địa hình thấp dần từ Bắc xuống Nam và từ Đông sang Tây Khu vực ven sông Hậu cao nhất, trung bình khoảng 1 - 1,5 mét, độ cao thấp dần về phía Tây Bề mặt địa hình bị chia cắt mạnh bởi hệ thống kênh rạch nhân tạo

Tỉnh Hậu Giang nằm trong vòng đai nội chí tuyến Bắc bán cầu, gần xích đạo, có khí hậu nhiệt đới gió mùa, chia thành hai mùa rõ rệt Mùa mưa có gió Tây Nam từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô có gió Đông Bắc

từ tháng 12 đến tháng 4 hàng năm Nhiệt độ trung bình là 270C không có sự

Trang 28

trên lệch quá lớn qua các năm Tháng có nhiệt độ cao nhất (350C) là tháng 4 và thấp nhất vào tháng 12 (20,30C) Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm, chiếm từ 92 - 97% lượng mưa cả năm Lượng mưa ở Hậu Giang thuộc loại trung bình, khoảng 1800 mm/năm, lượng mưa cao nhất vào khoảng tháng 9 (250,1mm) Ẩm độ tương đối trung bình trong năm phân hoá theo mùa một cách

rõ rệt, chênh lệch độ ẩm trung bình giữa tháng ẩm nhất và tháng ít ẩm nhất khoảng 11% Độ ẩm trung bình thấp nhất vào khoảng tháng 3 và 4 (77%) và giá trị độ ẩm trung bình trong năm là 82%

Tỉnh Hậu Giang có một hệ thống sông ngòi kênh rạch chằng chịt với tổng chiều dài khoảng 2.300 km Mật độ sông rạch khá lớn 1,5 km/km, vùng ven sông Hậu thuộc huyện Châu Thành lên đến 2 km/km[8] Hậu Giang nằm trong vùng trũng của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long Cấu tạo của vùng

có thể chia thành hai vùng cấu trúc rõ rệt là Tầng cấu trúc dưới và Tầng cấu trúc bên, trong đó Tầng cấu trúc dưới gồm Nền đá cổ cấu tạo bằng đá Granit và các đá kết tinh khác, bên trên là đá cứng cấu tạo bằng đá trầm tích biển hoặc lục địa và các loại đá mắcma xâm nhập hoặc phun trào

c Đơn vị hành chính

Hậu Giang có 8 đơn vị hành chính, gồm 1 thành phố, 2 thị xã và 5 huyện Với 76 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó có 12 phường, 10 thị trấn &

54 xã:

Trang 29

Bảng 2.1 Diện tích, dân số, mật độ dân số

Huyện Châu Thành

Huyện Châu Thành A

Huyện

Huyện Phụng Hi ệ p

xã (Hỏa Lựu, Hỏa Tiến, Tân Tiến, Vị Tân)

4 phường (Bình Thạnh, Thuận An, Trà Lồng, Vĩnh Tường); 5 xã (Long Bình, Long Phú, Long Trị, Long Trị A, Tân Phú)

3 phường (Hiệp Thành, Lái Hiếu, Ngã Bảy); 3 xã (Đại Thành, Hiệp Lợi, Tân Thành)

2 thị trấn (Ngã Sáu, Mái Dầm); 7 xã (Đông Phú, Đông Phước, Đông Phước A, Đông Thạnh, Phú An, Phú Hữu, Phú Tân)

4 thị trấn (Một Ngàn, Bảy Ngàn, Cái Tắc, Rạch Gòi); 6 xã (Nhơn Nghĩa A, Tân Hòa, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Trường Long A, Trường Long Tây)

8 xã (Lương Nghĩa, Lương Tâm, Thuận Hòa, Thuận Hưng, Vĩnh Thuận Đông, Vĩnh Viễn, Vĩnh Viễn A,

Xà Phiên)

3 thị trấn (Cây Dương, Búng Tàu, Kinh Cùng);

12 xã (Bình Thành, Hiệp Hưng, Hòa An, Hòa Mỹ, Long Thạnh, Tân Bình, Tân Phước Hưng, Phụng Hiệp, Phương Bình, Phương Phú, Tân Long, Thạnh Hòa)

1 thị trấn (Nàng Mau); 9 xã (Vị Bình, Vị Đông,

Vị Thắng, Vị Thanh, Vị Thủy,

Vị Trung, Vĩnh Thuận Tây, Vĩnh Trung, Vĩnh Tường)

Nguồn: Website tỉnh Hậu Giang

Trang 30

2.1.2 Thực trạng về công tác quản lý ngân sách tỉnh Hậu Giang

2.1.2.1 Phân cấp quản lý ngân sách giữa NSTW và NSĐP

Theo quy định của của Luật Ngân sách Nhà nước thì Hội đồng nhân dân quyết định và UBND cấp tỉnh chấp hành dự toán, phân bổ ngân sách, quyết toán ngân sách địa phương, quyết định chủ trương biện pháp để triển khai thực hiện ngân sách địa phương; quyết định thu phí, lệ phí và các khoản huy động đóng góp của nhân dân Các nguồn thu cố định (100%) của ngân sách địa phương bao gồm: Thuế nhà, đất; Thuế tài nguyên, không kể thuế tài nguyên thu từ dầu, khí; Thuế môn bài; Thuế chuyển quyền sử dụng đất; Thuế

sử dụng đất nông nghiệp; Tiền sử dụng đất; Tiền cho thuê đất; Tiền cho thuê

và tiền bán nhà ở thuộc sở hữu nhà nước; Lệ phí trước bạ; Thu từ hoạt động

xổ số kiến thiết; Thu hồi vốn của ngân sách địa phương tại các tổ chức kinh

tế, thu từ quỹ dự trữ tài chính của địa phương, thu nhập từ vốn góp của địa phương; Viện trợ không hoàn lại của các tổ chức quốc tế, các tổ chức khác, các cá nhân ở nước ngoài trực tiếp cho địa phương; Các khoản phí, lệ phí, thu

từ các hoạt động sự nghiệp và các khoản thu khác nộp vào ngân sách địa phương theo quy định của pháp luật; Thu từ quỹ đất công ích và thu hoa lợi công sản khác; Huy động từ các tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật; Đóng góp tự nguyện của các tổ chức, cá nhân ở trong nước và ngoài nước; Thu kết dư ngân sách địa phương theo quy định tại Điều 63 của Luật này; Các khoản thu khác theo quy định của pháp luật

Các khoản thu được phân chia theo tỉ lệ phần trăm giữa NSTW và ngân sách tỉnh và giữa tỉnh với Huyện, xã bao gồm: Thuế giá trị gia tăng, (không

kể thuế giá trị gia tăng hàng hoá nhập khẩu); Thuế thu nhập doanh nghiệp, (không kể thuế thu nhập doanh nghiệp của các đơn vị hạch toán toàn ngành); Thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao; Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, (không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí); Thuế tiêu thụ đặc biệt thu từ hàng hoá, dịch vụ trong nước; Phí xăng, dầu Ngoài ra, ngân sách địa phương còn thu bổ sung từ ngân sách trung ương và thu huy động đầu tư theo khoản 3 Điều 8 Luật NSNN Ngân sách địa phương phải đảm bảo các nhiệm vụ chi gồm: chi đầu tư phát triển, chi thường xuyên,

Trang 31

chi trả nợ gốc và lãi các khoản vay huy động cho đầu tư quy định tại khoản 3 Điều 8 Luật NSNN, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính và chi bổ sung ngân sách cấp dưới Hàng năm ngân sách địa phương do Hội đồng Nhân dân tỉnh phê chuẩn, UBND tỉnh là cơ quan tổ chức điều hành ngân sách

2.1.2.2 Phân cấp quản lý ngân sách giữa ngân sách tỉnh và ngân sách huyện, thị xã

Theo qui định, huyện (quận) là một cấp ngân sách thuộc Ngân sách địa phương và là một cấp ngân sách hoàn chỉnh nằm trong hệ thống ngân sách nhà nước UBND cấp huyện là điều hành ngân sách của cấp mình Huyện có các nguồn thu cố định (100%) bao gồm thu tiền sử dụng đất theo phân cấp; phí, lệ phí; thu cho thuê mặt bằng; thu từ quỹ đất công ích, hoa lợi công sản; các khoản huy động đóng góp theo nghĩa vụ hoặc tự nguyện Hàng năm dự toán ngân sách huyện do HĐND phê duyệt và được tổng hợp vào ngân sách địa phương, UBND huyện là cơ quan tổ chức điều hành thực hiện dự toán ngân sách huyện đã được HĐND huyện phê chuẩn Thực tế, những qui định trên đây đi vào cuộc sống là rất hạn chế, bởi huyện và chính quyền Nhà nước cấp huyện thực chất là một cấp trung gian, hành chính Vì thế, phân cấp quản

lý ngân sách cấp huyện đang bộc lộ những hạn chế trên các mặt cơ bản sau:

Một là: Việc lập và phê duyệt dự toán ngân sách cấp huyện hàng năm

là rất chậm; quỹ ngân sách nhà nước bị phân tán Do có nhiều cấp ngân sách trong cùng hệ thống, mặt khác cơ chế lập và phê duyệt kế hoạch như đã trình bày, dẫn tới việc triển khai, xây dựng dự toán bị động và thường bị chậm, không đảm bảo tính thời gian, chất lượng quá thấp Hơn nữa, tồn quỹ ngân sách ở cấp huyện thường rất lớn, trong khi ngân sách tỉnh không đủ nguồn chi nhưng không thể điều hòa ngân sách làm cho công tác quản lý quỹ ngân sách kém hiệu quả, bị phân tán

Hai là: Phân định nhiệm vụ thu - chi chưa rõ ràng, cụ thể là: Việc phân định nguồn thu giữa các cấp ngân sách chủ yếu chưa theo tính chất, mức độ của từng nguồn thu, chưa chú ý đến đối tượng thu Huyện có 7 nguồn thu thuộc các cấp của ngân sách địa phương thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên, thuế tiêu thụ đặc biệt (khu vực công thương

Trang 32

nghiệp ngoài quốc doanh); thuế sử dụng đất nông nghiệp, thuế nhà đất, thuế chuyển quyền sử dụng đất (trừ các dự án từ đất), lệ phí trước bạ nhà đất (trừ các dự án từ đất), sự phân chia nguồn thu này là hết sức phức tạp Việc phân định nhiệm vụ chi đối với các khoản chi có tính chất không thường xuyên (chi đầu tư phát triển …) Qua thời gian thực hiện việc chuyển huyện, thị xã từ một cấp ngân sách thành đơn vị dự toán ở một số địa phương, có thể rút ra một số kết quả sau: Nâng cao hiệu quả quản lý quỹ ngân sách do tập trung nguồn thu, quỹ ngân sách, chủ động trong chi tiêu, điều hòa ngân sách địa phương; giảm được đầu mối trung gian và rút ngắn được thời gian thực hiện các qui trình ngân sách (lập, chấp hành, quyết toán ngân sách) Tạo điều kiện cho ngân sách tỉnh quản lý trực tiếp ngân sách xã vốn yếu về chuyên môn; tinh giảm biên chế thừa, đồng thời nâng cao vai trò, trách nhiệm của chính quyền huyện trong việc kiểm tra việc sử dụng kinh phí của đơn vị dự toán cấp dưới và phù hợp với năng lực và trình độ của lực lượng cán bộ làm công tác chuyên môn; Phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của một cấp chính quyền là cầu nối giữa tỉnh, huyện và xã

Xuất phát từ kết quả thực hiện một số địa phương và thực trạng như đã nêu trên, để ổn định và tăng cường công tác quản lý; điều hành ngân sách trên địa bàn Huyện, Quận, không còn phương thức nào khác là phải chuyển ngân sách Huyện thành đơn vị dự toán

2.1.2.3 Phân cấp quản lý ngân sách giữa ngân sách huyện, thị xã, và ngân sách xã (phường, thị trấn)

Cấp xã là tổ chức chính quyền cơ sở của bộ máy quản lý Nhà nước, có chức năng, nhiệm vụ thực hiện mục tiêu Nhà nước do dân, vì dân, giải quyết các mối quan hệ giữa Nhà nước với dân Để thực hiện nhiệm vụ này, chính quyền cấp xã phải có ngân sách đủ mạnh để điều chỉnh các hoạt động ở xã đi đúng hướng, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của Đảng

và Nhà nước Thông qua thu ngân sách, chính quyền xã thực hiện kiểm tra, kiểm soát, điều chỉnh các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, chống các hành vi hoạt động kinh tế phạm pháp, trốn lậu thuế và các nghĩa vụ đóng góp khác Thu ngân sách xã là nguồn chủ yếu để đáp ứng các nhu cầu chi ngày

Trang 33

càng phát triển ở xã Ngân sách cấp xã là cấp ngân sách cơ sở trực tiếp do dân, vì dân, là công cụ tài chính quan trọng để chính quyền Nhà nước cấp xã thực hiện được mọi chức năng nhiệm vụ được giao Thông qua chi ngân sách,

xã bố trí các khoản chi để đảm bảo tăng cường hiệu lực và hiệu quả các hoạt động của chính quyền về quản lý pháp luật, giữ vững trật tự trị an, bảo vệ tài sản công cộng, bảo vệ lợi ích hợp pháp của công dân, quản lý mọi mặt hoạt động kinh tế, văn hóa, thực hiện các chính sách xã hội và tăng cường cơ sở vật chất cho xã, như trụ sở và phương tiện làm việc, trường học, nhà trẻ, lớp mẫu giáo, trạm y tế, nhà hộ sinh, nhà văn hóa, đường liên thôn, trang thiết bị công cộng

Chính quyền xã là chính quyền cấp cơ sở trong hệ thống chính quyền bốn cấp, thì Ngân sách xã là Ngân sách cấp cơ sở trong hệ thống ngân sách 4 cấp tương ứng Trước đây, ngân sách xã có vị trí khiêm tốn là "một quỹ ngân sách của xã để thu - chi, nếu thiếu thì ngân sách cấp trên (huyện, tỉnh) chi bổ sung thêm" Khi Luật Ngân sách nhà nước ra đời qui định Ngân sách xã là một cấp ngân sách thực sự và thu - chi ngân sách xã được phản ánh vào thu - chi ngân sách nhà nước, vị trí ấy đã thay đổi căn bản Theo qui định của Luật Ngân sách Nhà nước, thì xã là một cấp ngân sách thuộc ngân sách địa phương

và là một cấp ngân sách hoàn chỉnh nằm trong hệ thống ngân sách nhà nước UBND xã là trực tiếp điều hành ngân sách của cấp mình Theo Quyết định số 99/2003/QĐ-UB thì Xã có các nguồn thu cố định gồm: thu các khoản đóng góp tự nguyện để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; thu tiền cho thuê mặt bằng; thu đấu thầu, khoán quỹ đất công ích và hoa lợi công sản; thu sự nghiệp hoạt động của xã; thu kết dư; thu phí, lệ phí theo phân cấp; thu xử phạt vi phạm hành chính (do xã quyết định) thuế môn bài hộ kinh doanh (từ bậc 4 đến bậc 6); các khoản thu khác Xã có các nguồn thu điều tiết gồm: thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế tài nguyên (khu vực công thương nghiệp ngoài quốc doanh); thuế sử dụng đất nông nghiệp (phường không được hưởng), thuế chuyển quyền sử dụng đất (phường không được hưởng), lệ phí trước bạ nhà đất Tỷ lệ phân chia do UBND tỉnh qui định Ngân sách xã phải đảm bảo các nhiệm vụ chi: chi xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, xã hội do tỉnh phân cấp, chi quản lý hành chính, chi cho hoạt động sự nghiệp kinh tế,

Trang 34

văn xã, chi đảm bảo chính sách xã hội và chi khác

Dự toán thu - chi Ngân sách cấp xã được xây dựng theo qui định của Luật NSNN và số chi ngân sách nếu thiếu thì ngân sách cấp trên phải ghi bổ sung Mặt khác, nhiệm vụ thu ngân sách trên địa bàn xã có sự chỉ đạo của chính quyền xã và ngân sách cấp xã được tham gia phân chia một phần số nguồn thu trong cơ chế phân chia nguồn thu cho từng cấp ngân sách theo qui định của Luật NSNN đã nói lên tính bình đẳng của Ngân sách cấp xã với các cấp ngân sách khác Cũng theo qui định của Luật Ngân sách Nhà nước, toàn

bộ thu - chi Ngân sách cấp xã hàng năm được quyết toán và đưa vào quyết toán thu - chi NSNN với cùng một mục lục ngân sách đây là nội dung khác cơ bản so với thời kỳ chưa có Luật Ngân sách Nhà nước Khi ngân sách xã được quyết toán chung trong NSNN mọi biến động về thu, chi của ngân sách xã đều có ảnh hưởng đến toàn hệ thống ngân sách Nhà nước

Khi luật ngân sách Nhà nước chính thức đưa ngân sách xã vào hệ thống ngân sách Nhà nước, có thể xem đây là một bước ngoặc lớn trong lịch sử ngành Tài chính - Ngân sách nói chung và ngân sách cấp xã nói riêng Ngân sách cấp xã được xác lập là một cấp ngân sách hoàn chỉnh nằm trong hệ thống ngân sách nhà nước, công tác quản lý ngân sách xã đã và đang có những tiến

bộ rõ rệt trên các mặt chủ yếu sau:

Về tổ chức và quản lý, ngân sách cấp xã được các cấp, các ngành từ Trung ương đến địa phương quan tâm nhiều hơn Đây là điều quan trọng hàng đầu quyết định những thành quả vừa qua của công tác quản lý ngân sách cấp

Khuyến khích các xã khai thác tăng nguồn thu Do là một cấp ngân sách nên các xã chủ động, sáng tạo trong việc khai thác nguồn thu, ngoài các khoản thu thường xuyên, ngân sách xã đã tích cực khai thác và huy động các nguồn thu khác để phục vụ cho yêu cầu xây dựng các công trình phúc lợi xã hội của địa phương Thực hiện phương châm "Nhà nước và nhân dân cùng làm" dưới nhiều hình thức để bổ sung nguồn thu, giải quyết các nhu cầu bức bách, phục vụ nhu cầu phúc lợi cho nhân dân, thực hiện chính sách xã hội, tạo nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, góp phần thực hiện chính sách của

Trang 35

Đảng và Nhà nước trên địa bàn xã

2.2 Khái quát tình hình kinh tế xã hội huyện Châu Thành A

2.2.1 Giới thiệu chung về địa bàn huyện Châu Thành A:

Huyện Châu Thành A ở phía Bắc của tỉnh Hậu Giang; Bắc giáp thành phố Cần Thơ; Nam giáp huyện Phụng Hiệp; Tây giáp thành phố CầnThơ, tỉnh Kiên Giang và huyện Vị Thủy cùng tỉnh; Đông giáp huyện Châu Thành Về hành chính, huyện bao gồm 4 thị trấn là: Một Ngàn, Rạch Gòi, Cái Tắc, Bảy Ngàn và 6 xã là: Trường Long Tây, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Nhơn Nghĩa A, Trường Long A, Tân Hoà

2.2.2 Các đặc điểm tự nhiên:

Bảng 2.2 Bản đồ đơn vị hành chính huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang

Nguồn: www.haugiang.gov.vn Nằm giáp thành phố Cần Thơ cùng 2 tuyến Quốc lộ 1A và 61, có kênh

xáng Xà No đi qua và đã hình thành hai tuyến lộ là đường nối Vị Thanh với Thành phố Cần Thơ và đường Bốn Tổng - Một Ngàn Châu Thành A được coi là cửa ngõ của tỉnh Hậu Giang, nơi hội tụ nhiều lợi thế để phát triển

Trang 36

thương mại - dịch vụ - công nghiệp và kinh tế - xã hội (đã hình thành khu công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh và đang khởi động cụm công nghiệp Nhơn Nghĩa A) Sau khi được thành lập, Châu Thành A đã có sự chuyển biến mạnh trên nhiều lĩnh vực, trở thành địa phương năng động, biết bứt phá trong vận hội mới

Trước năm 2000, địa bàn huyện Châu Thành A thuộc huyện Châu Thành cùng tỉnh Ngày 06-11-2000, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định

số 64/2000/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính huyện Châu Thành

để tái lập huyện Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ Theo đó, tái lập huyện Châu Thành A trên cơ sở 22.139 ha diện tích tự nhiên và 163.357 nhân khẩu của huyện Châu Thành Huyện Châu Thành A gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc là các xã: Tân Thuận, Thạnh Xuân, Tân Hoà, Trường Long, Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường Long Tây và Tân Phú Thạnh

Ngày 10-07-2001, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 37/2001/NĐ-CP, về việc thành lập xã, thị trấn thuộc các huyện Châu Thành

và Châu Thành A, tỉnh Cần Thơ Theo đó, thành lập xã Nhơn Nghĩa A thuộc huyện Châu Thành A trên cơ sở 1.840 ha diện tích tự nhiên và 11.999 nhân khẩu của xã Nhơn Nghĩa, thành lập xã Trường Long A thuộc huyện Châu Thành A trên cơ sở 2.771 ha diện tích tự nhiên và 10.619 nhân khẩu của xã Trường Long Tây

Ngày 12-05-2003, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số 48/2003/NĐ-CP, về việc thành lập xã, phường, thị trấn thuộc các huyện Châu Thành A, Ô Môn, Phụng Hiệp và thị xã Vị Thanh, tỉnh Cần Thơ Theo đó, thành lập thị trấn Một Ngàn - thị trấn huyện lỵ huyện Châu Thành A trên cơ

sở điều chỉnh 433 ha diện tích tự nhiên và 4.124 nhân khẩu của xã Tân Thuận,

297 ha diện tích tự nhiên và 2.632 nhân khẩu của xã Nhơn Nghĩa A

Ngày 26-11-2003, Quốc Hội Việt Nam thông qua Nghị quyết số 22/2003/QH11, về việc chia và điều chỉnh địa giới hành chính một số tỉnh Theo đó, chia tỉnh Cần Thơ thành thành phố Cần Thơ trực thuộc trung ương

và tỉnh Hậu Giang Huyện Châu Thành A thuộc tỉnh Hậu Giang

Ngày 02-01-2004, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị định số

Trang 37

06/2004/NĐ-CP, về việc điều chỉnh địa giới hành chính một số xã thuộc huyện Châu Thành và Châu Thành A trực thuộc tỉnh Hậu Giang Theo đó, tách 531,52 ha diện tích tự nhiên và 6.339 nhân khẩu của xã Tân Phú Thạnh của huyện Châu Thành A kết hợp với các địa phương khác để thành lập huyện Cái Răng thuộc thành phố Cần Thơ; tách các xã Nhơn Ái, Nhơn Nghĩa, Trường Long của huyện Châu Thành A kết hợp với các địa phương khác để thành lập huyện Phong Điền của thành phố Cần Thơ Huyện Châu Thành A sau khi điều chỉnh địa giới hành chính, có 15.319,45 ha diện tích tự nhiên và 98.805 nhân khẩu; gồm 8 đơn vị hành chính trực thuộc là: thị trấn Một Ngàn, các xã Trường Long Tây, Nhơn Nghĩa A, Trường Long A, Thạnh Xuân, Tân Thuận, Tân Hoà và Tân Phú Thạnh

Ngày 24-08-2009, Chính phủ Việt Nam ban hành Nghị quyết số 37/NQ-CP, thành lập thị trấn Bảy Ngàn thuộc huyện Châu Thành A trên cơ sở điều chỉnh 1.302,64 ha diện tích tự nhiên và 11.990 nhân khẩu của xã Tân Hoà Điều chỉnh 441,18 ha diện tích tự nhiên và 3.274 nhân khẩu còn lại của

xã Tân Hoà vào xã Tân Thuận quản lý và được lấy tên là xã Tân Hoà Sau khi điều chỉnh địa giới hành chánh, huyện Châu Thành A có 15.662,18 ha diện tích tự nhiên và 107.713 nhân khẩu, có 10 đơn vị hành chính trực thuộc, bao gồm các xã: Trường Long Tây, Tân Phú Thạnh, Thạnh Xuân, Nhơn Nghĩa A, Trường Long A, Tân Hoà và các thị trấn: Cái Tắc, Rạch Gòi, Một Ngàn, Bảy Ngàn…

Trang 38

2.2.3 Đặc điểm kinh tế xã hội:

Bảng 2.3 Diện tích, dân số, mật độ dân số năm 2013

Địa phương Diện tích

(km2)

Dân số trung bình (Người)

Mật độ dân số (Người/km2)

Nguồn: Niên giám thống kê huyện Châu Thành A, 2013: tr 9

Trước đây, người dân huyện Châu Thành A chỉ quen độc canh cây lúa, mỗi năm 3 vụ Những năm gần đây, ngành nông nghiệp huyện đã phát triển theo hướng đa canh, xuất hiện nhiều mô hình sản xuất bền vững, có tính khoa học cao Nếu như năm 2009, diện tích trồng màu ở Châu Thành

A chỉ có 2.845 ha, thì năm 2010 đã là 3.460 ha Người dân chủ yếu trồng các loại cây ngắn ngày như: dưa hấu, khoai lang, bắp lai, đậu xanh, dưa leo, bí thu lãi cao hơn trồng lúa 3 - 5 lần Chi phí trồng các loại cây màu thấp, ít rủi ro và đầu ra cũng dễ dàng Thương lái từ Cần Thơ, Kiên Giang tìm đến tận rẫy để mua

Mô hình trồng rau màu, phong trào nuôi thủy sản của huyện phát triển nhanh và mang lại thu nhập đáng kể cho nhiều gia đình Mặc dù không có lợi thế như các vùng Vị Thủy, Phụng Hiệp nhưng Châu Thành A lại có diện tích mặt nước khá rộng Huyện định hướng phát triển thủy sản theo hướng đa

Trang 39

dạng về con giống, chủng loại, vận dụng điều kiện thực tế cụ thể để phát triển các mô hình nuôi: lươn, ba ba, rô phi, bống tượng, thát lát cườm, sặc rằn, tôm càng xanh

Theo kế hoạch phát triển kinh tế, huyện Châu Thành A sẽ thực hiện đồng bộ chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, các ngành nghề phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa nông nghiệp và nông thôn Tiếp tục phối hợp với tỉnh thực hiện dự án Cụm công nghiệp tập trung Tân Phú Thạnh, quy hoạch xây dựng Trung tâm công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp của huyện tại xã Nhơn Nghĩa A Quy hoạch, đầu tư xây dựng, nâng cấp các trung tâm thương mại; đa dạng hoá các loại hình thương mại, dịch vụ, trong

đó tập trung khai thác các khu dân cư, tái định cư Tiếp tục đẩy mạnh phát triển toàn diện kinh tế nông nghiệp, nông thôn theo hướng sản xuất nông nghiệp chất lượng cao, tạo ra những sản phẩm chất lượng phục vụ cho ngành công nghiệp chế biến và thương mại - dịch vụ

Về hạ tầng cơ sở, sau khi trở thành đơn vị hành chính trực thuộc tỉnh Hậu Giang, Châu Thành A có khá nhiều chợ nổi tiếng với vai trò đầu mối giao thương, nhưng hầu hết đều xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu hiện tại Xuất phát từ thực tế này, huyện Châu Thành A tập trung phát triển cơ sở

hạ tầng, trong đó đặc biệt ưu tiên 3 lĩnh vực: đường giao thông nông thôn, điện và hệ thống chợ Qua năm năm triển khai, huyện đã xây dựng được hệ thống đường bê tông, đường nhựa đến tất cả các ấp, đáp ứng nhu cầu đi lại, vận chuyển hàng hoá bằng đường bộ cho người dân Những tuyến đường lớn

đi qua địa bàn huyện như: tỉnh lộ 926, tuyến Bốn Tổng - Một Ngàn, đường nối Vị Thanh - Cần Thơ, lộ nội ô thị trấn Một Ngàn; khu công nghiệp Tân Phú Thạnh đã hoàn thành tạo điều kiện cho lĩnh vực thương mại - dịch vụ tăng tốc; thu hút nhiều nhà đầu tư, làm nên diện mạo mới của vùng quê bên dòng Xà No

Về giáo dục, tỷ lệ huy động học sinh đến trường đạt 98% Năm 2010,

tỷ lệ phổ cập Trung học cơ sở đạt 87,0%, tỷ lệ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi đạt 89,57% được tỉnh tái công nhận đạt chuẩn quốc gia về

Trang 40

công tác chống mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi, phổ cập giáo dục trung học cơ sở Ngày 18-02-2008, Chính phủ Việt Nam đã ký Quyết định thành lập trường Đại học Võ Trường Toản đóng tại xã Tân Phú Thạnh, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang Trường có diện tích 20 ha, gồm các ngành: kinh tế, công nghệ, nông nghiệp, xây dựng, tin học và xã hội học nhân văn Đây là trường đại học tư thục đầu tiên của Đồng bằng Sông Cửu Long

Về y tế, cơ sở hạ tầng y tế của huyện có nhiều thuận lợi Bệnh viện Đa khoa Châu Thành A được xây dựng với qui mô là 150 giường, với tổng kinh phí khoảng 70 tỉ đồng và đưa vào sử dụng năm 2012

Công tác đền ơn đáp nghĩa, giải quyết việc làm, đào tạo nghề và xuất khẩu lao động được thực hiện thường xuyên và liên tục Năm 2010 toàn huyện đã giải quyết việc làm cho 5.525/2.650 lao động, đạt 208,5% chỉ tiêu giao; xây dựng và bàn giao 13/10 căn nhà tình thương, đạt 130% và 46/20 căn nhà nghĩa, đạt 230%

2.2.4 Khái quát tình hình và kết quả hoạt động của huyện Châu Thành A Sau 10 năm xây dựng và phát triển, với tinh thần tự lực, tự cường, năng động, sáng tạo, cùng với sự quan tâm giúp đỡ của các ngành, các cấp, Đảng

bộ và nhân dân huyện Châu Thành A đã nỗ lực khắc phục vượt qua khó khăn, phát huy những thuận lợi, từ đó đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng cụ thể như sau:

2.2.4.1 Lĩnh vực kinh tế

Tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện tăng khá cao, năm sau cao hơn năm trước, năm 2004 chỉ đạt mức 10,68%/năm, thì năm 2013 đã vượt lên 13,86%/năm Mặc dù bị ảnh hưởng chung từ suy thoái kinh tế trong nước và cũng như quốc tế nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện vẫn đạt trung bình khoảng 14%/năm Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ tiếp tục được đầu tư và phát triển theo hướng bền vững Giá trị tăng thêm bình quân đầu người/năm liên tục tăng, cụ thể năm 2004 là 6,2 triệu đồng/người, đến năm 2013 đạt 23,245 triệu đồng, tăng gấp 4 lần Tổng thu ngân sách nhà nước năm 2013 ước đạt 241,047 tỷ đồng tăng gấp 26 lần so với 2004 Tổng vốn đầu tư toàn

Ngày đăng: 01/09/2020, 13:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w