Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tài liệu và điều tra thu thập thông tin, đến nay ý tưởng trong luận văn tốt nghiệp cao học với đề tài: “Ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch TP
Trang 1-�ω� -
BÙI THỊ HỒNG HÀ
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH (TPB) ĐỂ PHÂN TÍCH Ý ĐỊNH ĐẦU TƢ CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƢ CÁ NHÂN KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN ĐẦU
NĂM 2012
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH, THÁNG 10 NĂM 2012
Trang 2-�ω� -
BÙI THỊ HỒNG HÀ
ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH (TPB) ĐỂ PHÂN TÍCH Ý ĐỊNH ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN ĐẦU
NĂM 2012
Chuyên ngành: Kinh tế Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60.31.12
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Văn Lương
TP HỒ CHÍ MINH, NĂM 2012
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng luận văn “Ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)
để phân tích ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố
Hồ Chí Minh đầu năm 2012” là công trình nghiên cứu của riêng tôi và có sự hỗ trợ
từ Thầy hướng dẫn là TS Nguyễn Văn Lương
Các thông tin, dữ liệu được sử dụng trong luận văn là trung thực, các nội dung trích dẫn đều được ghi rõ nguồn gốc và các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn này chưa được công bố tại bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả khác, cơ quan tổ chức khác, và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra cứu, kiểm chứng
Nếu phát hiện có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước Hội đồng, cũng như kết quả luận văn của mình
Tp Hồ Chí Minh, ngày … tháng … năm 2012
Người cam đoan
Bùi Thị Hồng Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Đầu tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn và tri ân đối với ba mẹ tôi, người
đã nuôi dưỡng tôi trưởng thành và luôn hỗ trợ cho việc học tập của tôi rất nhiều
Sau một thời gian học tập, nghiên cứu tài liệu và điều tra thu thập thông tin, đến nay ý tưởng trong luận văn tốt nghiệp cao học với đề tài: “Ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) để phân tích ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh đầu năm 2012” đã được thực hiện thành công Có được kết quả này là nhờ công ơn to lớn của toàn thể Quý Thầy
Cô, gia đình và bạn bè đồng nghiệp đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài Đặc biệt, tôi xin chân thành gửi lời cám ơn sâu sắc đến: TS Nguyễn Văn Lương thầy đã hướng dẫn tôi từ những bước đi đầu tiên làm đề cương cho đến khi hoàn thành luận văn cao học Đồng thời cũng là người động viên và giúp đỡ tôi rất nhiều trong việc điều tra thu thập số liệu, phân tích, xử lý tốt bộ dữ liệu của mình
Tôi xin được gửi lời cám ơn đến bạn bè, đồng nghiệp và những ứng viên đã tham gia trả lời những bảng điều tra của tôi, mang lại kết quả nghiên cứu chính của luận văn
Bùi Thị Hồng Hà
Trang 5MỤC LỤC
TÓM TẮT 1
MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Mục đích nghiên cứu 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 4
4 Câu hỏi nghiên cứu 4
5 Bố cục của luận văn 5
6 Những đóng góp của luận văn 7
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH (TPB) VÀ HÀNH VI ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU 8
1.1 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of planned behaviour) 8
1.1.1 Thái độ về hành vi (Ab) 10
1.1.2 Chuẩn chủ quan (SN) 11
1.1.3 Nhận thức kiểm soát (PBC) 12
1.1.4 Các niềm tin nền tảng nổi bật 12
1.1.5 Ý định hành vi (BI) và các yếu tố chi phối BI 13
1.1.6 Kinh nghiệm quá khứ (PE) 14
1.2 Quyết định đầu tư cổ phiếu 15
1.2.1 Quyết định đầu tư 15
1.2.2 Cổ phiếu và cổ đông 15
1.2.3 Công ty cổ phần 16
1.2.4 Nguyên nhân chính công ty lại phát hành cổ phiếu 16
1.2.5 Nhà đầu tư 17
1.2.6 Mục đích chính khi đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư 17
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 18
Trang 6CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu 19
2.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu 19
2.3 Kế hoạch thiết kế mẫu và thu thập dữ liệu 22
2.3.1 Đám đông 22
2.3.2 Thiết kế chọn mẫu 22
2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu 22
2.4 Phương pháp nghiên cứu và lập bảng câu hỏi khảo sát 23
2.4.1 Nghiên cứu thăm dò 23
2.4.2 Nghiên cứu định lượng 24
2.4.3 Cấu trúc bảng câu hỏi nghiên cứu 24
2.5 Các phương pháp đo lường 25
2.5.1 Các biến độc lập và biến phụ thuộc 25
2.5.2 Các chỉ báo về niềm tin nền tảng nổi bật 26
2.6 Phương pháp phân tích 27
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 27
CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH VIỆC ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH VÀO VIỆC PHÂN TÍCH Ý ĐỊNH ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN ĐẦU NĂM 2012 29
3.1 Phân tích mẫu và các kết quả thống kê mô tả 29
3.1.1 Tỷ lệ phản hồi 29
3.1.2 Thống kê các biến nhân khẩu học 30
3.1.3 Phân tích sự khác biệt về thái độ ĐTCP dựa vào yếu tố nhân khẩu học 32
3.1.3.1 Sự khác biệt về thái độ ĐTCP theo giới tính 32 3.1.3.2 Sự khác biệt về thái độ ĐTCP theo độ tuổi, thu nhập và nghề nghiệp 35
Trang 73.1.4 Kiểm định độ tin cậy của thang đo 39
3.1.6 Kiểm định phân phối chuẩn 40
3.2 Kết quả phân tích dữ liệu ứng dụng Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) 41
3.2.1 Hồi quy đánh giá mô hình TPB tiêu chuẩn 43
3.2.2 Hồi quy đánh giá mô hình TPB mở rộng 44
3.2.2.1 Phân tích hồi quy đánh giá mô hình TPB mở rộng gồm Ab, SN, PBC và thêm PE 44
3.2.2.2 Phân tích hồi quy đánh giá mô hình TPB mở rộng gồm Ab, PBC thêm PE và bỏ bớt SN 45
3.2.3 Sự khác biệt giữa đáp viên có kinh nghiệm đầu tư cổ phiếu nhiều và ít 46
3.2.4 Mối quan hệ giữa biến độc lập tổng và các niềm tin nền tảng 47
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 50
CHƯƠNG 4: KẾT LUẬN 53
4.1 Giá trị thực tiễn và đóng góp của đề tài 53
4.2 Hạn chế của đề tài 55
4.3 Các hướng nghiên cứu tiếp theo 56
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 57
TÀI LIỆU THAM KHẢO 58
PHỤ LỤC 61
Phụ lục 1:Bảng câu hỏi thăm dò 61
Phụ lục 2: Quy trình thao tác trên phần mềm NEWACT 64
Phụ lục 3: Bảng câu hỏi nghiên cứu 70
Phụ lục 4: Thống kê mô tả tất cả các phản hồi 72
Phụ lục 5: Biểu đồ thái độ về đầu tư cổ phiếu so sánh giữa nam và nữ 74
Phụ lục 6: Kết quả mô tả cấu trúc mẫu theo nhân chủng học 75
Trang 8Phụ lục 8: Kết quả mô tả thống kê của các nhân tố 87
Phụ lục 9: Biểu đồ thể hiện phân phối chuẩn của các biến tổng 88
Phụ lục 10: Chi tiết kiểm định phân phối chuẩn của các biến tổng 89
Phụ lục 11: Kết quả hồi quy mô hình TPB chuẩn 90
Phụ lục 12: Kết quả hồi quy theo mô hình TPB mở rộng, thêm biến PE 91
Phụ lục 13: Phân tích hồi quy mô hình TPB mở rộng thêm PE và bỏ SN 92
Phụ lục 14: Phân tích hồi quy đối với những người ít có kinh nghiệm 93
Phụ lục 15: Phân tích hồi quy đối với những người có nhiều kinh nghiệm ĐTCP 94 Phụ lục 16: Kiểm định mối tương quan giữa các niềm tin nổi bật và các biến độc lập của mô hình TPB chuẩn 95
Trang 9- HASTC: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội – HNX
- HOSE: Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh
- NĐT: nhà đầu tƣ
- OB (Outcome beliefs): các niềm tin kết quả
- PBC (Perceived Behavioral Control): nhận thức kiểm soát
- PE (Past experience): kinh nghiệm trong quá khứ
- SN (Subjective Norm): chuẩn chủ quan
- RB (Referent beliefs): các niềm tin tham khảo
- TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh
- TPB (Theory of Planned Behavior): lý thuyết về hành vi có kế hoạch
- TRA (Theory of Reasoned Action): lý thuyết về hành động hợp lý
Trang 10DANH MỤC BẢNG
đầu tƣ cổ phiếu
Variance) – nhóm thu nhập
độ chung về đầu tƣ cổ phiếu
Trang 11DANH MỤC HÌNH VẼ
cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012 theo lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB)
Trang 12TÓM TẮT
Bài luận văn nghiên cứu về ứng dụng của lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour – TPB) của Ajzen‟s (1991) và các nghiên cứu bổ sung, phát triển của ông cho đến nay vào phân tích ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012 Ý định thực hiện hành vi (BI - Behavioral Intention) theo lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) được giải thích bởi thái độ đối với hành vi (Ab - Attitude toward behavior), chuẩn chủ quan (SN – Subjective norm) tức là ý kiến tham khảo của những người xung quanh và nhận thức kiểm soát (PBC – Perceived Behavioral Control) và kinh nghiệm trong quá khứ (PE - Past experience) Chi tiết hơn, các biến độc lập chi phối
ý định này bị ảnh hưởng bởi một loạt các niềm tin liên quan: các niềm tin về kết quả (OB), các niềm tin về tham khảo (RB) và các niềm tin về kiểm soát (CB), gọi chung
là các niềm tin nền tảng nổi bật
Bài nghiên cứu đã lượng hoá và phân tích mối quan hệ các niềm tin nền tảng nổi bật và các biến độc lập của mô hình Qua đó, nhìn chung thái độ đối với hành vi (Ab), chuẩn chủ quan (SN), nhận thức kiểm soát (PBC) và kinh nghiệm trong quá khứ (PE) đều có tác động đến ý định đầu tư cổ phiếu theo thứ tự thái độ (Ab)> nhận thức kiểm soát (PBC)> kinh nghiệm quá khứ (PE)> chuẩn chủ quan (SN) Bên cạnh
đó, tác giả còn phân tích chi tiết các mô hình chuẩn theo lý thuyết TPB và mô hình
mở rộng Kết quả thể hiện tốt độ phù hợp của mô hình với dữ liệu và ủng hộ về mặt
thực nghiệm
Trang 13MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đầu tư cổ phiếu (ĐTCP) trở thành một khái niệm quen thuộc và là hình thức đầu tư được chú ý trong hơn 10 năm vừa qua tại Việt Nam Song song với những phát triển và hội nhập của nền kinh tế nói chung, lĩnh vực tài chính của Việt Nam cũng có nhiều bước tiến đáng kể trong thời gian qua Bên cạnh các kênh đầu tư trong lĩnh vực tài chính như bất động sản, vàng, ngoại tệ, kênh đầu tư cổ phiếu cũng
là một hình thức đầu tư hấp dẫn thu hút nhiều nhà đầu tư cá nhân và tổ chức quan tâm Sau thời gian suy thoái kinh tế từ năm 2008 cho đến nay, đầu năm 2012, nền kinh tế vĩ mô đang dần ổn định và sự tham gia mạnh mẽ của các nhà đầu tư nước ngoài và nhiều yếu tố khác như nới lỏng chính sách tài khóa, nhiều văn bản pháp lý được ban hành nhằm phát triển thị trường chứng khoán, khiến nhiều nhà đầu tư sẽ cân nhắc về quyết định đầu tư cổ phiếu của mình
Trong bối cảnh khó khăn chung của kinh tế Việt Nam và thế giới, năm 2011
đã chứng kiến xu thế giảm điểm là chủ đạo trên thị trường cổ phiếu niêm yết Việt Nam Đáng chú ý là bước sang năm 2012, nền kinh tế vĩ mô trong nước tuy chưa hoàn toàn hết khó khăn nhưng cũng đã cho thấy những dấu hiệu chuyển biến tích cực, đặc biệt là việc kiềm chế và ổn định lạm phát Thị trường cổ phiếu vì vậy cũng
đã lập tức phản ánh những kỳ vọng lạc quan kể trên qua hoạt động giao dịch 488,07 là mốc điểm cao nhất mà Vn-Index đạt được trong 6 tháng đầu năm nay (xác lập ngày 8/5/2012) và mốc điểm thấp nhất là 336,73 (ngày 6/1/2012) Như vậy, Vn-Index từng có thời điểm đạt mức tăng trưởng tới 44,94% Tuy nhiên, diễn biến tâm
lý và ý định của các nhà đầu tư hiện nay vẫn rất phức tạp và bị chi phối bởi nhiều yếu tố
Hiện nay có rất nhiều đề tài, công trình nghiên cứu kết hợp yếu tố tâm lý vào hành vi của nhà đầu tư Tài chính học hành vi là lĩnh vực tài chính sử dụng các lý thuyết cơ bản dựa trên tâm lý con người để giải thích những bất thường trên thị trường chứng khoán Người ta giả định trong tài chính học hành vi cấu trúc thông
Trang 14của nhà đầu tư khác một cách hệ thống cũng nhiều như sự tác động của thị trường
Cụ thể hơn, theo Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) của tác giả Ajzen (1991), một người có thái độ ủng hộ, tán thành, kèm sự đồng tình của những người tham khảo quan trọng và có khả năng dễ dàng thực hiện hành vi thì họ sẽ có ý định thực hiện một hành vi đó Lý thuyết này áp dụng rất tốt và phù hợp với những ý định mang tính tự nguyện và lựa chọn, theo đó, ý định đầu tư cổ phiếu nằm trong nhóm này Trong phạm vi bài nghiên cứu, hành vi có kế hoạch ở đây được xác định rõ là đầu tư vào cổ phiếu là một tài sản tài chính được quan tâm nhiều nhất trên thị trường chứng khoán hiện nay
Vì vậy, nghiên cứu về ứng dụng của lý thuyết về hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour – TPB) của Ajzen‟s (1991) vào phân tích ý định đầu
tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012 là một đề tài thú vị và có tính thực tiễn Giúp tác giả kiểm chứng tính ứng dụng lý thuyết TPB vào thực tiễn tại Việt Nam, phân tích các động lực tâm lý tác động đến ý định đầu tư cổ phiếu và phần nào giúp cho các nhà đầu tư có dịp nhìn lại những quyết định đầu tư của mình và giúp cho các công ty niêm yết hiểu rõ hơn những yếu tố tác động đến ý định của nhà đầu tư khi họ quyết định chọn kênh đầu tư là cổ phiếu
2 Mục đích nghiên cứu
Mục đích của bài nghiên cứu này là điều tra các động lực và ý định của các nhà đầu tư Việt Nam về quyết định đầu tư vào cổ phiếu bằng cách ứng dụng lý thuyết Hành vi có kế hoạch (Theory of Planned Behaviour -TPB) làm khuôn khổ chính TPB là một trong những mô hình được kiểm chứng về tính dự đoán bởi nhiều công trình nghiên cứu về nhiều lĩnh vực khác nhau như: marketing, tâm lý học, sinh học và đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính – đầu tư (Robert East, 1993) Trong khuôn khổ bài nghiên cứu cho mục đích luận văn thạc sĩ, tác giả sẽ nghiên cứu về vấn đề mang tính cụ thể và chi tiết: ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch
Trang 15(TPB) vào ý định đầu tƣ cổ phiếu của các nhà đầu tƣ cá nhân khảo sát tại thành phố
Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012
3 Mục tiêu nghiên cứu
mẽ đến ý định đầu tƣ cổ phiếu theo lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)
đầu tƣ cổ phiếu
phiếu
phần trong lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)
thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)” và tính ứng dụng của mô hình này trong lĩnh vực tài chính –đầu tƣ tại Việt Nam
4 Câu hỏi nghiên cứu:
theo lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB)?
cổ phiếu của nhà đầu tƣ?
cổ phiếu của nhà đầu tƣ hay không?
phiếu?
định đầu tƣ cổ phiếu?
Trang 165 Bố cục của luận văn
Ngoài lời mở đầu, giới thiệu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, bố cục của luận văn gồm bốn phần sau:
dụng lý thuyết này vào nghiên cứu phân tích ý định về hành vi đầu tư cổ phiếu
phân tích ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012
thực tiễn của đề tài, các hạn chế của bài luận văn và đề xuất các hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 17Hình 0.1: Sơ đồ bố cục bài luận văn
1
• VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
• Ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) để phân tích ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012
• PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
• Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
• Kế hoạch thiết kế mẫu và thu thập dữ liệu
• Phương pháp nghiên cứu và lập bảng câu hỏi khảo sát
• Các phương pháp đo lường
• Phương pháp phân tích
4
• PHƯƠNG PHÁP XỬ LÝ DỮ LIỆU
• Phân tích mẫu và các kết quả thống kê mô tả
• Phân tích hồi quy để kiểm định các giả thuyết chính của bài nghiên cứu cho mô hình TPB
• Phân tích sự tương quan giữa các biến
Trang 186 Những đóng góp của luận văn
Thứ nhất, luận văn đã cung cấp thêm một phương pháp để dự đoán ý định về đầu tư cổ phiếu bằng việc ứng dụng lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB) để đo lường mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với hành vi (Ab), chuẩn chủ quan (SN), sự kiểm soát đối với hành vi được nhận thức (PBC) và kinh nghiệm quá khứ (PE) đến
ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012
Thứ hai, luận văn đã xác định được xu hướng biến động và đo lường mức độ ảnh hưởng của thái độ đối với hành vi (Ab), chuẩn chủ quan (SN), sự kiểm soát đối với hành vi được nhận thức (PBC) và kinh nghiệm quá khứ (PE) đến ý định đầu tư
cổ phiếu, các động lực tâm lý này đều có ảnh hưởng cùng chiều và mức độ ảnh hưởng theo thứ tự là Ab>PBC>PE>SN
Thứ ba, luận văn đã lượng hoá được các niềm tin chi phối lên các biến độc lập của mô hình: niềm tin về kết quả, niềm tin về sự tham khảo, niềm tin về sự kiểm soát đối với hành vi và phân tích mối quan hệ của các niềm tin nền tảng nổi bật này đến các biến giải thích của mô hình TPB Kết quả cho thấy tất cả các niềm tin nền tảng nổi bật đều có mối tương quan cùng chiều và khá cao đối với các biến độc lập tương ứng
Trang 19CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH (TPB) VÀ
HÀNH VI ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU
Đầu tiên, phần này sẽ cung cấp một cái nhìn tổng quan về khuôn khổ lý thuyết cho bài nghiên cứu này và sau đó tác giả sẽ thảo luận về các tài liệu nghiên cứu có liên quan đến việc ứng dụng TPB trong lĩnh vực tài chính – đầu tư Thêm vào đó, phần thảo luận về sự ứng dụng của lý thuyết TPB trong việc điều tra và phân tích ý định đầu tư sẽ cung cấp cho người đọc các nguyên nhân về việc xây dựng mô hình nghiên cứu và các giả thuyết cũng như là việc xem xét các kinh nghiệm trong quá khứ như là một biến độc lập của mô hình TPB Sau đó, tác giả sẽ trình bày các khái niệm và thuật ngữ về đầu tư cổ phiếu
1.1 Lý thuyết về hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of planned behaviour)
Lý thuyết hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991) là một phát triển lý thuyết trước đó về hành động hợp lý (Theory of reasoned action - TRA) của Ajzen và Fishbein (1980) có khả năng áp dụng và dự đoán trong phạm vi khá rộng Cả hai lý thuyết đều có thể áp dụng cho các hành vi tự nguyện và được ủng hộ bởi các ý định
và suy nghĩ hợp lý Hiện nay, lý thuyết này vẫn được tác giả Ajzen và các cộng sự nghiên cứu là liên tục cập nhật trên website: http://people.umass.edu/aizen/
Bên cạnh đó, lý thuyết này cũng được nhiều nhà nghiên cứu sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như: marketing, tâm lý, quản trị, y học, và trong đó có lĩnh vực tài chính
Lý thuyết về hành động hợp lý (TRA) được phát triển bởi Ajzen và Fishbein vào năm 1975 và 1980 và trở thành một trong những mô hình được sử dụng phổ biến trong việc dự đoán hành vi của con người Tuy nhiên, các dự đoán bị giới hạn bởi hành vi mà chỉ được hoàn tất dưới điều kiện của ý chí
Dựa vào các kết quả của lý thuyết trước đó, Ajzen (1991) đã giới thiệu Lý thuyết Hành vi có Kế hoạch (the Theory of Planned Behaviour - TPB)) và có nhiều
Trang 20một dạng mở rộng của lý thuyết TRA với phần bổ sung một thành phần mới với tên
gọi là nhận thức kiểm soát (Perceived Behavioural Control-PBC) bên cạnh Thái độ đối với hành vi (Attitude-Ab) và chuẩn chủ quan tức là ý kiến tham khảo của những người xung quanh (Subjective Norm -SN) theo Ajzen (1991)
TPB với biến bổ sung là nhận thức kiểm soát (PBC) đã chứng minh được giá trị và sự hiệu quả trong hàng loạt các nghiên cứu về tâm lý liên quan đến hành vi của con người (theo Armitage and Conner, 2001)
Quan điểm chính của hai lý thuyết và hai mô hình này là loại bỏ các hành động mang tính bốc đồng, hành vi của mỗi cá nhân là kết quả của sự cân nhắc một cách hợp lý và được xác định bởi ý định về hành vi của chính anh ta hoặc cô ta (Wang và cộng sự, 2009) Biến ý định về hành vi (BI - Behavioural Intention) được chi phối bởi 3 biến độc lập thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm
soát (PBC) (Lin và cộng sự, 2009) và (Liao và cộng sự, 2010)
Theo đó, TPB không phù hợp với ứng dụng khi việc tiêu dùng không tự nguyện, được yêu cầu của quy ước xã hội (ví dụ như công ty trả lương vào tài khoản của một ngân hàng thì bắt buộc bạn phải mở tài khoản ở ngân hàng đó, phải
có điện thoại bàn ở bàn làm việc) hoặc bắt buộc bởi các cam kết trước (sau khi mua
xe tất nhiên phải mua xăng hoặc dầu), và có ít suy nghĩ liên quan (ví dụ ít có người nào suy nghĩ chọn lựa thương hiệu của cây xăng mà họ chọn đổ nếu lúc đó trên đường họ chỉ thấy một cây xăng ngay lúc gần hết xăng), (East, 1993)
Tuy nhiên, vẫn còn một nhóm các quyết định thương mại mà các lý thuyết về hành vi có kế hoạch nên và có thể áp dụng, các ứng dụng như vậy bao gồm quyết định trong các lĩnh vực nơi mà các thương hiệu là đặc biệt (ví dụ như nhiều thương hiệu của các loại thực phẩm và đồ dùng lâu bền: ví dụ như mua hàng ở siêu thị Coop Mart hay big C, mua tivi Sony hay Samsung), các quyết định phân loại thứ cấp (ví dụ như xăng không pha chì so với xăng pha chì, chọn xăng 92 hay 95, bột giặt dạng chất lỏng so với bột), việc mua các loại hàng tùy ý (ví dụ như nước khoáng, nước ngọt), và một loạt quyết định dịch vụ (ví dụ như về lựa chọn chuyến
du lịch, nhà hàng, nơi mua sắm hoặc xem các chương trình truyền hình cụ thể)
Trang 21Đầu tư tài chính cụ thể là đầu tư cổ phiếu và các quyết định tiết kiệm khác thuộc về nhóm này, (East,1993) East R, 1993 nghiên cứu của về đầu tư cổ phiếu tại Anh Ông đã tiến hành lần lượt ba nghiên cứu về việc đặt mua cổ phiếu của ngành công nghiệp Anh được tư nhân hoá được báo cáo Các nghiên cứu về hành vi đầu tư vào công ty điện RECS, công ty phát điện GENCOS và công ty viễn thông British Telecom Với quy mô nghiên cứu ở mức độ chi tiết, bài nghiên cứu cho thấy
có một sự tác động lớn từ phía bạn bè và điều quan trọng là khả năng tiếp cận nguồn vốn dễ dàng hay không cũng như là các tiêu chuẩn tài chính về lợi nhuận và tính an toàn của khoản đầu tư Bài nghiên cứu đã kiểm định các yếu tố của lý thuyết hành
vi có kế hoạch bao gồm thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN), nhận thức kiểm soát (PBC) và kinh nghiệm quá khứ (PE) Kết quả cho thấy các yếu tố này có tác động đến ý định đầu tư cổ phiếu của các nhà đầu tư Anh lúc bấy giờ, bên cạnh đó, East R còn đo lường sự tương quan của các niềm tin nền tảng nổi bật và các yếu tố mà chúng chi phối, và kết quả cho thấy sự tương quan là có xuất hiện nhưng chưa thực
sự nhất quán và cao lắm
Ajzen và Fishbein chấp nhận rằng các yếu tố như cá tính và nhân khẩu học khác nhau có liên quan với ý định nhưng lập luận rằng tập hợp này được trung gian thông qua niềm tin và lần lượt ảnh hưởng đến thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC), trong đó các yếu tố nhân khẩu học ảnh hưởng mạnh mẽ nhất đến thái độ (Ab)
Mỗi thành phần chính ảnh hưởng đến ý định đầu tư được định nghĩa như sau:
1.1.1 Thái độ về hành vi (Ab)
Đầu tiên, thái độ chỉ cảm giác của một cá nhân là thiện chí hoặc không thiện chí về các kết quả của hành vi cụ thể (Ajzen, 1991) Các yếu tố quyết định thái độ hành vi (Ab) là kết quả của niềm tin kết quả, đây là những giá trị dự kiến phát sinh
từ hành động Việc dự đoán được đo như là một khả năng của kết quả xảy ra nếu hành động được thực hiện và giá trị đo lường khả năng của kết quả khi nó xảy ra
Trang 22của một người thì không có khả năng ảnh hưởng đến hành vi Vì vậy, một khía cạnh đặc biệt của phương pháp tiếp cận việc đo lường thái độ đối với hành vi theo Fishbein là những suy nghĩ về kết quả tích cực hay tiêu cực nổi bật nhất mà người
ta có thể suy nghĩ ngay khi có ý định thực hiện một hành vi nào đó
1.1.2 Chuẩn chủ quan (SN)
Biến độc lập thứ hai là chuẩn chủ quan (SN) tức là ý kiến của những người xung quanh đại diện cho áp lực mà cá nhân cảm nhận từ những cảm nhận của những người khác có tác động quan trọng về việc chấp nhận hay không chấp nhận
về việc thực hiện hành vi (Ajzen, 1991) SN được đo lường bởi các niềm tin chung
về sự tham khảo bao gồm tính khả thi của những người tham khảo nắm giữ niềm tin chung và động lực của người thực hiện hành động để phù hợp với cảm nhận của người tham khảo
Các ý kiến của những người xung quanh (SN) cũng dựa trên niềm tin nổi bật, được gọi là bản quy phạm niềm tin, về việc những người có khả năng ảnh hưởng quan trọng nghĩ rằng người trả lời nên hay không nên làm một hành vi cụ thể nào
đo lường SN bằng các dung thang đo đơn làm méo mó giá trị biến SN –thay vì sử dụng thang đa đa điểm đáng tin cậy Một sự giải thích khác là hành vi khác nhau hoặc cùng một hành vi ở những bối cảnh và thời điểm khác nhau sẽ có thể có những nhận thức xã hội khác nhau Ví dụ, trong số những loại hình đầu tư khác nhau, có thể có nhều mức độ đa dạng của áp lực xã hội hoặc ý kiến tham khảo về đầu tư cổ phiếu sẽ khác nhau vào thời điểm năm 2012 so với những năm trước
Trang 231.1.3 Nhận thức kiểm soát (PBC)
Biến mới nhất được đưa vào sau, nhận thức kiểm soát (PBC) đại diện cho niềm tin nhận thức về khả năng dễ dàng hay khó khăn để thực hiện một hành vi (Peace và cộng sự, 2003) PBC được đo bằng niềm tin về việc kiểm soát thông qua khai thác các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi hoặc ức chế (cả hai bên - khả năng, kỹ năng, sự tự tin và các yếu tố bên ngoài - sự sẵn có của nguồn lực cần thiết, cơ hội điều kiện; và sức mạnh nhận thức của từng yếu tố kiểm soát (East,1992)
Các đo lường về nhận thức về việc kiểm soát (PBC) cũng dựa trên các niềm tin nền tảng nổi bật, được gọi là niềm tin kiểm soát Niềm tin kiểm soát có thể được
đo lường gồm: các yếu tố hỗ trợ hành động, ví dụ: Bao nhiêu kiến thức về mua và bán cổ phần ứng dụng trợ giúp cho việc tự tin đầu tư cổ phiếu, và khả năng kiểm soát việc tiếp cận hành vi, ví dụ: khả năng đặt lệnh đầu tư cổ phiếu dễ dàng
1.1.4 Các niềm tin nền tảng nổi bật
Theo lý thuyết TPB thì mỗi cá nhân sẽ có rất nhiều niềm tin về nhiều khía cạnh khác nhau: về kết quả dự kiến khi họ thực hiện một hành vi, niềm tin về ý kiến tham khảo của những người quan trọng, niềm tin về kiểm soát họ nhận thức được đối với hành vi Tuy nhiên, các niềm tin sẽ rất khác nhau và đa dạng tuỳ thuộc vào nhiều người khác nhau Sẽ có nhiều người có cùng những niềm tin khác nhau, nhưng có người có những niềm tin khác nhau
Cả hai nhà nghiên cứu East (1992) và Ajzen (1991) nhấn mạnh sự nổi bật của các niềm tin được lựa chọn cho việc đo lường thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC) Nói cách khác, mặc dù mọi người có thể có rất nhiều niềm tin về một hành vi nhất định nhưng chúng ta chỉ chú ý đến có những niềm tin được sẵn sàng và dễ dàng nảy sinh suy nghĩ trong tâm trí của đáp viên Vì vậy, bất kỳ sự lựa chọn trực quan hoặc chủ quan của các nhà nghiên cứu về tập hợp các niềm tin có thể làm suy yếu tính chính xác của khả năng tiên đoán của mô hình TPB sau đó
Trang 24Bên cạnh đó, vì những hạn chế về thời gian, không gian và chi phí nên hầu hết các nhà nghiên cứu không thể đưa tất cả các niềm tin của mỗi cá nhân vào mô hình để đo lường, mà họ chỉ có thể dựa vào nghiên cứu thăm dò và khám phá để tìm
ra những niềm tin nào là nổi bật nhất và chung nhất của nhiều người đối với ý định thực hiện một hành vi nào đó Tương tự, trong bài luận văn, tác giả cũng sẽ tiến hành khảo sát thăm dò để tìm ra các niềm tin nổi bật của nhà đầu tư cá nhân đối với
ý định đầu tư cổ phiếu
1.1.5 Ý định hành vi (BI) và các yếu tố chi phối ý định hành vi (BI )
Ba thành phần: thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC) là các động lực tác động đến ý định hành vi (BI - behavioural intention) cho thấy mức độ một người sẵn sàng để thử và làm thế nào họ cố gắng thực hiện một hành vi nhất định (Ajzen, 1991) Ban đầu, lý thuyết hành động hợp lý (TRA) giả định rằng hành vi của con người là dưới sự kiểm soát của ý chí, và trong trường hợp
có ý định một mình có thể dự đoán hành vi (Liao và cộng sự, 2010) Tuy nhiên, trong một số trường hợp, hành vi quan tâm vẫn không thể được thực hiện, mặc dù
cả hai biến Ab và SN là mạnh mẽ (Cronan và Al-Rafee, 2008) Chính điều này cần
bổ sung thêm biến nhận thức kiểm soát (PBC) giúp lấp đầy khoảng cách của TRA
và TPB bằng cách cung cấp các thông tin tạo điều kiện thuận lợi để nâng cao ý định hành vi (Armitage và Conner, 2001)
Thật vậy, điều này đã được chứng minh trong nghiên cứu năm 1991 của Beck và Ajzen về hành động không trung thực Họ đã sử dụng hồi quy phân cấp để kiểm tra khả năng tiên đoán của lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) và tìm thấy sự
bổ sung của PBC tăng hệ số giải thích mô hình R2 từ 8% đến 29% so với biến ban đầu TRA Điều này là phù hợp với Ajzen (1991) phát hiện rằng các cá nhân càng có nhận thức kiểm soát tình hình, họ càng có khả năng thực hiện hành vi
Ngoài ra, khi Ab và SN yếu, tức là trong điều kiện không tối ưu, TPB thừa nhận rằng PBC tác động ảnh hưởng trực tiếp vào hành vi để khuyến khích thực hiện hành động (Azjen, 1991) Đó là khi PBC nắm bắt sự kiểm soát thực tế của hành vi
Trang 25Sheeran và cộng sự (2003) cũng đồng tình với lập luận này, nhưng họ làm nổi bật
sự cần thiết của một số bối cảnh ổn định trong các hành vi được điều tra Tuy nhiên, điều này có thể là rất khó khăn vì người tiêu dùng có niềm tin về hành vi đối với sự lựa chọn sản phẩm có thể bị quấy rầy bởi các hoạt động tiếp thị, theo ghi nhận của Castleberry và cộng sự (1994) và Bamberg và đồng sự (2003) Ví dụ khi người tiêu dùng ban đầu có niềm tin là mua sản phẩm A là tốt nhưng do ảnh hưởng của quảng cáo hoặc tiếp thị, khuyến mãi, họ lại quyết định chọn sản phẩm B
Bên cạnh đó TPB là một mô hình linh hoạt, chào đón sự tham gia của bất kỳ biến mà các nhà nghiên cứu quan tâm để giúp họ giải thích một hành vi (Ajzen, 1991) Theo nghiên cứu trước kia của nhiều học giả và đặc biệt theo East, 1993, kinh nghiệm quá khứ là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến ý định thực hiện hành vi
1.1.6 Kinh nghiệm quá khứ (PE)
Kinh nghiệm quá khứ (PE), theo Bentler và Speckart (1979), Bagozzi (1981)
và Marsh và Matheson (1983) là một trong những người đã tiến hành nghiên cứu cho thấy có sự liên kết trực tiếp giữa PE và ý định, tức là khi bổ sung thì có sự thay đổi trong ý định xảy ra khi kinh nghiệm ảnh hưởng tương quan đến thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC)
Kinh nghiệm quá khứ (PE) được dựa trên kinh nghiệm học tập hoặc có thể
có được đo một cách riêng biệt nào đó, ví dụ: kinh nghiệm của đầu tư trước đây hoặc đọc tin tức tài chính Kinh nghiệm cụ thể cũng có thể có được do nghiên cứu theo McQuarrie (1988)
Hành vi trong quá khứ được nghiên cứu với hàng loạt các hành động như việc sử dụng thẻ tín dụng (Kidwell and Jewell, 2008); việc lựa chọn hình thức du lịch (Bamberg và cộng sự, 2003.); Hành vi không trung thực chẳng hạn như ăn cắp, nói dối và gian lận (Beck và Ajzen,1991), sử dụng phiếu giảm giá (Bagozzi và cộng
sự, 1992) và hành vi vi phạm bản quyền trực tuyến (Cronan và al-Rafee, 2008;
Trang 26trong tất cả các nghiên cứu trên thì kinh nghiệm quá khứ (PE) đều có ảnh hưởng đáng kể đến ý định hành vi (BI)
Kidwell và Jewell (2008) khẳng định rằng theo các thiết lập tương tự và quen thuộc, thường xuyên lặp đi lặp lại của một hành vi trong quá khứ sẽ ảnh hưởng đến
ý định để thực hiện những hành động này với các quy tắc đơn giản, ít có sự tham gia của suy nghĩ khi thực hiện lại hành vi đó trong tương lai Tương tự như vậy, Bamberg và cộng sự (2003) cũng cho thấy rằng các hành vi trong quá khứ là yếu tố
dự báo chỉ có hiệu quả khi các tình huống ổn định
Kết quả là, điều này ngụ ý rằng các hành vi trong quá khứ có thể là một yếu
tố quan trọng có thể giúp các nhà nghiên cứu và các ứng viên trả lời câu hỏi hiểu rõ toàn diện về vệc đầu tư cổ phiếu nói chung Vì vậy, tác giả của nghiên cứu này đề nghị bao gồm các kinh nghiệm đầu tư cổ phiếu trong quá khứ như là một biến độc lập cùng với Ab, SN và PBC để phân tích ý định đầu tư cổ phiếu
1.2 Quyết định đầu tư cổ phiếu
sở hữu của một cổ đông đối với một công ty cổ phần và cổ đông là người có cổ phần thể hiện bằng cổ phiếu
Trang 27Thông thường hiện nay các công ty cổ phần thường phát hành 2 dạng cổ phiếu: Cổ phiếu thường và cổ phiếu ưu đãi Sự khác biệt của 2 loại cổ phiếu cơ bản này như sau:
- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu thông thường có quyền hạn và trách nhiệm đối với
công ty như: Được chia cổ tức theo kết quả kinh doanh; Được quyền bầu cử, ứng cử vào bộ máy quản trị và kiểm soát công ty; Chịu trách nhiệm về sự thua lỗ hoặc phá sản tương ứng với phần vốn góp của mình
- Các cổ đông sở hữu cổ phiếu ưu đãi cũng là hình thức đầu tư vốn cổ phần như
cổ phiếu thông thường nhưng quyền hạn và trách nhiệm hạn chế như: lợi tức cố định; không có quyền bầu cử, ứng cử
1.2.3 Công ty cổ phần
Công ty cổ phần là một dạng pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn, được thành lập và tồn tại độc lập đối với những chủ thể sở hữu nó Vốn của công ty được chia nhỏ thành những phần bằng nhau gọi là cổ phần và được phát hành huy động vốn tham gia của các nhà đầu tư thuộc mọi thành phần kinh tế
Các nhà đầu tư trở thành những cổ đông chính thức của công ty khi thực hiện mua các cổ phần do công ty phát hành Cổ đông được quyền tham gia quản lý, kiểm soát, điều hành công ty thông qua việc bầu cử và ứng cử vào các vị trí trong Ban quản lý, Ban kiểm soát và Ban điều hành Ngoài ra, cổ đông còn được quyền hưởng các khoản lợi nhuận do công ty tạo ra cũng như chịu lỗ tương ứng với mức độ góp vốn
1.2.4 Nguyên nhân chính khi công ty phát hành cổ phiếu
Công ty huy động vốn khi thành lập để mở rộng kinh doanh bằng hình thức phát hành cổ phiếu thì nguồn vốn huy động đó không cấu thành một khoản nợ mà công ty phải có trách nhiệm hoàn trả cũng như áp lực về khả năng cân đối thanh khoản của công ty sẽ giảm rất nhiều Trong khi sử dụng các phương thức khác như
Trang 28phát hành trái phiếu công ty, vay nợ từ các tổ chức tín dụng thì hoàn toàn ngược lại
Tuy nhiên, mỗi phương thức huy động đều có những ưu nhược điểm riêng, nhà quản lý công ty phải cân nhắc, lựa chọn tùy từng thời điểm và dựa trên những đặc thù cũng như chiến lược kinh doanh của công ty để quyết định phương thức áp dụng thích hợp
1.2.6 Mục đích chính khi đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư
Theo định nghĩa cơ bản, giấy chứng nhận cổ phần là một dạng chứng thư có giá được xác định thông qua việc chuyển dịch, mua bán chúng trên thị trường chứng khoán giữa các chủ thể đầu tư và được pháp luật bảo vệ
Mặt khác, người mua cổ phiếu nghĩ rằng đồng vốn họ đầu tư được các nhà quản lý công ty sử dụng có hiệu quả, tạo ra nhiều lợi nhuận hoặc đánh giá hoạt động cũng như tiềm năng phát triển, sinh lợi của công ty dự định đầu tư là cao Đương nhiên, họ sẽ được hưởng một phần từ những thành quả đó thông qua việc thanh toán
cổ tức cho các cổ đông, đồng thời giá trị cổ phần sở hữu cũng sẽ gia tăng trên cơ sở thực tại và triển vọng phát triển của công ty mình đã chọn, tức là nhà đầu tư kỳ vọng kiếm lợi nhuận từ cổ tức hàng năm của công ty
Thông thường, khả năng sinh lợi, thu hồi vốn đầu tư cổ phiếu tỷ lệ thuận với giá cả giao dịch cổ phiếu trên thị trường, tức là nhà đầu tư kỳ vọng kiếm lợi nhuận nhờ bán chênh lệch giá cổ phiếu
Trang 29KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Để kết luận phần này, quyết định đầu tư vào cổ phiếu là một phần nghiên cứu rộng gồm nhiều khía cạnh liên quan đến thông tin, tâm lý, phân tích cơ bản, kỹ thuật và kinh tế vĩ mô… Nó đã được nghiên cứu từ các quan điểm khác nhau như văn hóa, tài chính (thu nhập và GNP), khía cạnh nhân khẩu học (các chuyên gia, nghề nghiệp, tuổi tác, nam nữ) Trong phạm vi nghiên cứu của bài luận văn, mô hình được lựa chọn, và hướng tiếp cận nghiên cứu là lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) đã được xác minh khả năng tiên đoán của các loại hành vi có kế hoạch thông qua nhiều nghiên cứu và đầu tư cổ phiếu nằm trong nhóm này Theo TPB của Ajzen (1991) các yếu tố tâm lý chi phối ý định thực hiện một hành động gồm ba thành phần chính là thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC) và dựa vào các nghiên cứu trước đó, tác giả đã ứng dụng mô hỉnh chuẩn TPB và bổ sung thêm biến kinh nghiệm quá khứ (PE) để phân tích ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012
Trang 30CHƯƠNG 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu hiện tại nhằm điều tra những động lực về mặt tâm lý cho ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân khảo sát tại thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn đầu năm 2012 bằng cách ứng dụng lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) Ba biến độc lập theo mô hình chuẩn: thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN) và nhận thức kiểm soát (PBC) sẽ được kiểm tra trực tiếp và gián tiếp thông qua các niềm tin tương ứng
phiếu (BI)
Nam để đầu tư vào cổ phiếu dựa trên niềm tin nền tảng nổi bật
Ngoài ra, ý định đầu tư còn có thể bao gồm kinh nghiệm trong quá khứ (PE) như là một biến độc lập dự kiến sẽ tăng sức mạnh tiên đoán cho mô hình (East, 1993) Cuối cùng, dựa trên những phát hiện của nghiên cứu khuyến nghị cần thiết cho các nhà phát hành cổ phiếu sẽ được đề xuất và đánh giá các yếu tố quyết định ý định đầu tư cổ phiếu cũng được thảo luận
2.2 Giả thuyết và mô hình nghiên cứu
Theo Ajzen (1991), các cá nhân cho rằng có thái độ yêu thích, được sự ủng
hộ tích cực từ những người tham khảo quan trọng, có khả năng kiểm soát cao đối với hành vi cụ thể thì chắc chắn sẽ thực hiện hành vi đó Thực sự, dựa vào các lý thuyết trước đó cũng đều chỉ ra rẳng Ab, SN và PBC là các động lực quan trọng cho
ý định để thực hiện hành vi và trong đó có hành vi đầu tư cổ phiếu (East, 1993) Vì vậy, trong bài luận văn này, tác giả cũng kỳ vọng rằng với thái độ tích cực (có mong muốn đầu tư) (+Ab), sự ủng hộ của người tham khảo (+SN) và sự kiểm soát cao đối với việc đầu tư cổ phiếu (+PBC) sẽ dẫn đến ý định đầu tư cổ phiếu cao Dần dần,
Trang 31điều đó giúp cho tác giả xác định các yếu tố (các niềm tin nền tảng nổi bật tương ứng) hỗ trợ cho ý định đầu tư cổ phiếu của nhà đầu tư cá nhân ở thành phố Hồ Chí Minh Nghiên cứu này, cũng kiểm định tính nhất quán và tương quan giữa các biến độc lập với nhau
Dựa vào các lập luận trên, tác giả đưa ra các giả thuyết như sau:
đầu tư) thì nhà đầu tư càng có ý định đầu tư cổ phiếu
có ý định đầu tư cổ phiếu
vi đầu tư cổ phiếu (sự tự tin) cao thì họ càng có ý định đầu tư cổ phiếu
Một ưu điểm của TPB là tính chất linh động, mô hình này có thể thêm vào bất
kỳ biến nào mà nhà nghiên cứu cảm thấy cần thiết (Ajzen, 1991) Trong bài luận văn này, kinh nghiệm quá khứ về đầu tư cổ phiếu là một biến được bổ sung thêm, điều này cũng đã được nghiên cứu và kiểm định trước đó là có ảnh hưởng đến ý định đầu tư cổ phiếu (East, 1993) Nguyên nhân:
- Mối quan hệ đồng biến giữa kinh nghiệm quá khứ (PE) và ý định (BI) đã được chứng minh ở nhiều nghiên cứu trước kia
- Trong bài nghiên cứu của tác giả Robert East, 1993 về quyết định đầu tư cổ phiếu thì mối liên hệ này cũng được tìm hiểu, khảo sát và kiểm định, theo như phần nghiên cứu các lý thuyết trước đó, đã được đề cập ở Chương 1
Vì vậy, chúng ta có thể đưa vào biến kinh nghiệm quá khứ (PE) để khảo sát và kiểm định sự ảnh hưởng, mức độ đóng góp cho việc dự đoán ý định đầu tư cổ phiếu
tư cổ phiếu cao hơn
độ (Ab) và nhận thức kiểm soát (PBC) cao hơn
Trang 32 H5b: Các cá nhân có kinh nghiệm quá khứ ít sẽ có ý định dựa trên chuẩn chủ quan (SN)
Cuối cùng, theo mô hình TPB, Ab, SN, và PBC đƣợc cho là có mối quan hệ mạnh mẽ với các niềm tin nền tảng về kết quả, sự tham khảo và nhận thức kiểm soát
về hành vi đầu tƣ cổ phiếu Vì vậy, giả thuyết cuối cùng là:
Kiểm soát đƣợc nhận thức (PBC)
Ý định về đầu tƣ cổ phiếu
(+)
Kinh nghiệm quá khứ (PE)
Trang 332.3 Kế hoạch thiết kế mẫu và thu thập dữ liệu
2.3.1 Đám đông
Đám đông được xác định là những nhà đầu tư cá nhân ở thành phố Hồ Chí Minh: những người sống và / hoặc làm việc tại TP Hồ Chí Minh, khu kinh tế lớn nhất của Việt Nam với Sàn giao dịch chứng khoán Hồ Chí Minh (HOSE) Độ tuổi của người tham gia sẽ nằm trong khoảng từ 18 đến dưới 50 tuổi, được xem như là nhóm đại diện cho những người có đủ nhận thức, kiến thức và khả năng tài chính để thực hiện việc đầu tư cổ phiếu Tuy nhiên, những người tham gia khảo sát sẽ được hỏi trước xem có biết về việc đầu tư cổ phiếu hay không trước khi thực hiện toàn bộ bảng câu hỏi để chắc chắn đó là ứng viên phù hợp
2.3.2 Thiết kế chọn mẫu
Phương pháp lấy mẫu thuận tiện sẽ được sử dụng và các địa điểm tập trung
là ở các khu vực trung tâm như trung tâm mua sắm, các trường đại học, các tòa nhà văn phòng và những người tham gia các diễn đàn về tài chính, chứng khoán Về kích thước mẫu, kích thước tối thiểu cho phần mềm SPSS tính toán và ra kết quả thường được chấp nhận là khoảng 100 - 150 bảng trả lời (Kent, 2007; Birks and Malhotra, 2005) Tuy nhiên, để đảm bảo thông tin phản hồi có thể sử dụng đầy đủ,
250 bảng câu hỏi sẽ được gửi đi và kết quả tác giả thu được là 200 bảng câu hỏi được trả lời đầy đủ
2.3.3 Phương pháp thu thập dữ liệu
Bước 1: Thực hiện bảng câu hỏi thăm dò và phát cho khoảng 20 người để
xác định các niềm tin nổi bật về việc đầu tư cổ phiếu giúp cho việc đo lường các biến: thái độ (Ab), chuẩn chủ quan (SN), và nhận thức kiểm soát (PBC) Các ý tưởng xuất hiện nhiều hơn một lần trong số những người trả lời được giữ lại
Bước 2: Thực hiện bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng là phương pháp
Trang 34được xây dựng từ kết quả của bảng câu hỏi thăm dò ở bước 1 và những kết quả này được đưa vào phần mềm tạo câu hỏi dành riêng cho Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là phần mềm NEWACT (Roberst East, 1991) Thêm vào đó, các câu hỏi sàng lọc sẽ được sử dụng để đảm bảo rằng người trả lời có liên quan, người có kỹ năng, kiến thức về đầu tư vào cổ phiếu sẽ được lọc Bảng câu hỏi sẽ được in ra phát cho các đối tượng hoặc làm bảng câu hỏi trực tuyến tại địa chỉ:
https://docs.google.com/spreadsheet/viewform?formkey=dFhGOVhCM1psUTktcHpQMk01eDc0VEE6MQ
2.4 Phương pháp nghiên cứu và lập bảng câu hỏi khảo sát
2.4.1 Nghiên cứu thăm dò
Theo Ajzen (2006), việc nghiên cứu thăm dò nên được thực hiện trước khi nghiên cứu chính để phát hiện các niềm tin nổi bật tương ứng với Ab, SN và PBC và với hình thức những câu hỏi mở Để đảm bảo chất lượng nghiên cứu cần thiết thực hiện nghiên cứu thăm dò này, nó cho phép các nhà nghiên cứu để đạt được các thông tin cái nhìn sâu sắc hơn trước khi tiến hành nghiên cứu định lượng (Birks và Malhotra, 2005) Vì vậy, việc nghiên cứu thăm dò là yêu cầu cơ bản để thiết kế nghiên cứu định lượng sau đó Theo đó, 20 người trả lời (7 nam: 13 nữ) có kinh nghiệm về đầu
tư cổ phiếu đã được phỏng vấn (Xin vui lòng xem Phụ lục 1: Bảng câu hỏi thăm dò)
Cuộc thảo luận diễn ra với các câu hỏi về các chủ đề chính sau đây:
• Những lợi thế / lợi ích và bất lợi / rủi ro về đầu tư cổ phiếu?
• Có bất kỳ cá nhân hoặc các nhóm chấp thuận / không chấp thuận việc bạn đầu tư
cổ phiếu?
• Những yếu tố / trường hợp sẽ cho phép / tạo ra khó khăn cho bạn để đầu tư cổ phiếu?
Trang 352.4.2 Nghiên cứu định lượng
Bảng câu hỏi nghiên cứu này được xây dựng từ kết quả của bảng câu hỏi thăm dò ở bước 1 và những kết quả này được đưa vào phần mềm tạo câu hỏi dành riêng cho Lý thuyết hành vi có kế hoạch (TPB) là phần mềm NEWACT (Roberst East, 1991) Do kết quả từ phân mềm NEWACT là tiếng Anh nên tác giả đã dịch sang tiếng Việt và định dạng lại cho dễ hiều hơn khi khảo sát Tác giả sử dụng bảng câu hỏi in ra giấy để khảo sát trực tiếp các nhà đầu tư tại sàn giao dịch chứng khoán, công ty, trường đại học … và bảng câu hỏi trực tuyến tại địa chỉ https://docs.google.com/spreadsheet/ để gửi bảng khảo sát qua email và đăng trên các diễn đàn về tài chính và chứng khoán
2.4.3 Cấu trúc bảng câu hỏi nghiên cứu
Phần mềm NEWACT của giáo sư Robert East đã được sử dụng để tạo ra bảng câu hỏi cho các kiểm tra thí điểm và nghiên cứu định lượng Sau khi có kết quả từ nghiên cứu thăm dò, tác giả nhập dữ liệu vào phần mềm NEWACT (Chi tiết các bước thao tác với NEWACT ở Phụ lục 2: Quy trình thao tác trên phần mềm NEWACT) và cho chạy ra bảng câu hỏi, vì phần mềm này được viết bằng tiếng Anh nên kết quả bảng câu hỏi cho ra bằng tiếng Anh, sau đó tác giả dịch sang tiếng Việt, chỉnh sửa lại một số định dạng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn, thêm một
số câu hỏi về nhân khẩu học và cho kiểm tra thí điểm bảng câu hỏi khảo sát với hai mươi người trả lời Sau khi nhận được sự phản hồi và đóng góp ý kiến của các đáp viên, tác giả đã hoàn chỉnh lại câu chữ của bảng câu hỏi khảo sát và cho khảo sát đại trà (Toàn bộ bảng câu hỏi có thể được tìm thấy trong Phụ lục 3: Bảng câu hỏi khảo sát)
Bảng câu hỏi bao gồm 39 câu hỏi với cơ cấu như sau:
• Câu hỏi 1 9: để đo lường trực tiếp các biến tổng của mô hình TPB về đầu tư cổ
phiếu
Trang 36• Câu hỏi 10 35 gián tiếp đo lường các thành phần của TPB thông qua niềm tin
kết quả, niềm tin tham khảo và niềm tin kiểm soát tương ứng phản ánh Ab, SN và PBC đối với đầu tư cổ phiếu
• Câu hỏi 36 39 là những câu hỏi nhân khẩu học từ NEWACT được điều chỉnh
phù hợp với điều kiện Việt Nam
2.5 Các phương pháp đo lường
Phần này sẽ cung cấp các chi tiết liên quan đến bảng câu hỏi, đặc biệt là hai
bộ phận trực tiếp và gián tiếp đo lường các biến tiêu chuẩn của TPB (Ab, SN, PBC), kinh nghiệm quá khứ (PE) và các niềm tin nền tảng nổi bật Cần lưu ý rằng tất cả các câu hỏi, ngoại trừ phần nhân khẩu học đều được đo bằng thang đo Likert 7 điểm
có khác biệt về ngữ nghĩa (Ajzen, 1991) Loại thang đo này đã được tác giả Ajzen cho là loại thang đo tối ưu nhất cho lý thuyết này và cho đến nay vẫn được nhiều nhà nghiên cứu ứng dụng và chứng minh là có tính hiệu quả và thực tiễn Trong nghiên cứu của East (1993) về lĩnh vực tài chính cũng sử dụng loại thang đo này
2.5.1 Các biến độc lập và biến phụ thuộc
Ý định (BI): sức mạnh ý định đầu tư cổ phiếu được đánh giá bởi hai mục:
"Tôi sẽ đầu tư cổ phiếu " và "Tôi có ý định đầu tư cổ phiếu "
Thái độ (Ab): người được hỏi cần phát huy thái độ của họ liên quan đến đầu
tư cổ phiếu thông qua ba biện pháp: không tốt - tốt; không sáng suốt - sáng suốt; không có lợi - có lợi; không triển vọng - triển vọng
cả hai luồng tham khảo: từ người thân quan trọng (Hầu hết những người quan trọng đối với tôi nghĩ rằng tôi nên đầu tư cổ phiếu) và yếu tố ảnh hưởng (Chuyên gia tài chính hoặc thông tin truyền thông có ảnh hưởng đến hành động của tôi, nghĩ rằng tôi nên đầu tư cổ phiếu)
Trang 37 Kinh nghiệm quá khứ (PE): NEWACT tạo ra hai câu hỏi về việc đầu tư cổ
phiếu trong quá khứ phản ánh các hành vi trong quá khứ (Tôi đã từng đầu tư
cổ phiếu) và kinh nghiệm (tôi có rất nhiều kinh nghiệm về đầu tư cổ phiếu)
đầu tư cổ phiếu là khó khăn dễ dàng) và các cơ hội (có rất nhiều cơ hội để cho tôi đầu tư cổ phiếu), như đề xuất bởi Ajzen (2006)
2.5.2 Các niềm tin nền tảng nổi bật
Đối với phần này, ý kiến thường xuyên nhắc đến nhiều nhất và quan trọng đã được lựa chọn đặt trong NEWACT
với hành vi Ab Việc dự đoán được đo gồm niềm tin về kết quả khi có ý định thực hiện một hành vi nào đó và khả năng để kết quả đó xảy ra (East ,1993) Như vậy, mỗi niềm tin kết quả nổi bật được đánh giá bởi hai mục và trong bảng câu hỏi cho đề tài này có tổng cộng 8 câu hỏi cho 4 mục, 3 mục về kết quả tích cực, 1 mục về kết quả tiêu cực
liên quan đến đầu tư cổ phiếu các nhà đầu tư có thể bị ảnh hưởng bởi bạn bè / đồng nghiệp, các thành viên gia đình, chuyên gia tài chính và nguồn thông tin truyền thông về đầu tư cổ phiếu SN được đo lường bởi các niềm tin chung về sự tham khảo bao gồm tính khả thi của những người tham khảo nắm giữ niềm tin chung và động lực của người thực hiện hành động để phù hợp với cảm nhận của người tham khảo (East ,1993) Như vậy, mỗi niềm tin tham khảo nổi bật được đánh giá bởi hai mục và trong bảng câu hỏi cho đề tài này có tổng cộng 8 câu hỏi cho 4 mục
mục tiêu hành vi (Ajzen, 1985) và được đo bằng niềm tin về khả năng kiểm soát, sự dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi trong đó khai thác các
Trang 38các yếu tố bên ngoài - sự sẵn có của nguồn lực cần thiết, cơ hội điều kiện tiên quyết); và khả năng xảy ra của từng yếu tố nhận thức kiểm soát này (East ,1993) Như vậy, mỗi niềm tin kiểm soát nổi bật được đánh giá bởi hai mục
và trong bảng câu hỏi cho đề tài này có tổng cộng 10 câu hỏi cho 5 mục
2.6 Phương pháp phân tích
Các dữ liệu thu thập được biên dịch và mã hóa thành dữ liệu nhập vào phần mềm SPSS 20.0 Thứ nhất, thống kê mô tả như kiểm định độ tin cậy thang đo bằng Cronbach alpha và kiểm tra sự phân phối chuẩn của dữ liệu bằng kiểm định Kolmogorov-Smirnova đã được sử dụng để khám phá và kiểm tra sự sẵn sàng của
dữ liệu cho giả thuyết thử nghiệm Phương pháp phân tích hồi quy tuyến tính được
sử dụng để kiểm tra mối quan hệ của Ab, SN, PBC và kinh nghiệm trong quá khứ với ý định đầu tư cổ phiếu lần lượt theo thứ tự: phân tích hồi quy theo mô hình TPB chuẩn với 3 biến độc lập Ab, SN và PBC; sau đó, phân tích hồi quy mô hình TPB
mở rộng gồm 3 biến cũ và thêm biến PE để kiểm định cho các giả thuyết H1, H2, H3 và H4 Theo đó, dựa vào kết quả của các phân tích hồi quy trên thì tác giả sẽ phân tích chi tiết hơn khi thêm bớt một yếu tố nào đó của mô hình để xem sự cải thiện như thế nào Đặc biệt, các giả thuyết 5a và 5b yêu cầu tác giả để phân chia các trường hợp thành hai nhóm, người tiêu dùng ít kinh nghiệm và nhiều kinh nghiệm Cuối cùng, mối quan hệ giữa các biến độc lập tổng (Ab, SN và PBC) và niềm tin tương ứng của nó sẽ được phân tích và khám phá để kiểm định cho giả thuyết H6
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
trình nghiên cứu- cách thức xây dựng công cụ thu thập số liệu, giới thiệu đối tượng nghiên cứu, quy trình thu thập số liệu và công cụ thống kê được sử dụng để giải quyết các vấn đề đặt ra trong mục tiêu nghiên cứu Các phần của bài nghiên cứu kế tiếp sẽ trình bày các kết quả có được qua xử lý dữ liệu đã thu thập được, bao gồm phần thống kê mô tả tổng quát và phân tích dữ liệu
Trang 39Hình 2.2: Sơ đồ nghiên cứu thực nghiệm và phân tích dữ liệu
BỘ DỮ LIỆU GỒM 200 BẢNG TRẢ LỜI
PHÂN TÍCH THỐNG KÊ MÔ TẢ
PHÂN TÍCH HỒI QUY
Ý định về đầu tƣ cổ phiếu (BI)
Các niềm tin về kết quả (OB)
Các niềm tin về kiểm soát (CB)
Các niềm tin tham khảo (RB)
Thái độ về hành vi (Ab)
Nhận thức kiểm soát (PBC) Chuẩn chủ quan (SN)
Kinh nghiệm quá khứ (PE)
BẢNG CÂU HỎI THĂM DÒ
(Tìm hiểu thái độ-Ab, chuẩn chủ quan-SN, nhận thức
kiểm soát-PBC và các niềm tin nổi bật)
BẢNG CÂU HỎI KHẢO SÁT
(Gồm 39 câu hỏi, trong đó có 35 câu hỏi chính về đề tài sử dụng thang đo likert 7 điểm và 4 câu hỏi về nhân khẩu học)
Mô hình TPB
mở rộng
Mô hình TPB chuẩn gồm Ab, SN, và P BC
Làm sạch dữ liệu Thông tin thống kê
về mẫu nghiên cứu
Phân tích nhân tố
và kiểm địnhh thang đo
Tìm hiểu sự khác nhau
về thái độ giữa các nhóm nhân khẩu học
Kiểm định phân phối chuẩn
Trang 40CHƯƠNG 3 PHÂN TÍCH VIỆC ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ HÀNH VI CÓ KẾ HOẠCH VÀO VIỆC PHÂN TÍCH Ý ĐỊNH ĐẦU TƯ CỔ PHIẾU CỦA NHÀ ĐẦU TƯ CÁ NHÂN KHẢO SÁT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH GIAI
ĐOẠN ĐẦU NĂM 2012
3.1 Phân tích mẫu và các kết quả thống kê mô tả
Chương này trình bày các đặc điểm về mẫu, dữ liệu và phân tích các dữ liệu này để đánh giá các giả thuyết của bài luận văn Vì vậy, phần đầu tiên sẽ trình bày những thông tin tổng quan về mẫu có được từ việc phân tích thống kê mô tả như thống kê tần suất và thống kê khám phá Tiếp theo sẽ là các phân tích kiểm định độ tin cậy của thang đo và độ lệch chuẩn để đảm bảo rằng những dữ liệu thu thập được
có thể sử dụng được và cho ra các kết luận đáng tin cậy Cuối cùng là phần phân tích sự tương quan và hồi quy để phân tích ý định đầu tư cổ phiếu theo lý thuyết hành vi có kế hoạch TPB
3.1.1 Tỷ lệ phản hồi
Mẫu của nghiên cứu này là những người sống, học tập và làm việc tại thành phố Hồ Chí Minh Phương pháp chọn mẫu là phương pháp lấy mẫu thuận tiện Phương pháp chính của việc thu thập dữ liệu là thu thập dữ liệu sơ cấp: sử dụng các bảng câu hỏi trực tuyến gửi đi đến các địa chỉ thư điện tử, gửi trên các diễn đàn chuyên ngành tài chính và đầu tư cổ phiếu, chia sẻ đường dẫn của bảng câu hỏi thông qua mạng xã hội và sử dụng bảng câu hỏi in ra giấy để phát trực tiếp cho một
số nhà đầu tư cá nhân tại trường đại học kinh tế, công ty chứng khoán và một số công ty khác Tổng cộng 250 bảng câu hỏi đã được gửi đi Sau thời gian khảo sát 2 tuần, tác giả nhận được 200 phản hồi có giá trị và hoàn thành tất cả các câu hỏi của nghiên cứu, như vậy tỷ lệ phản hồi là 80%