1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế của ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

73 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH ………..R……… LÊ THỊ VÂN ANH MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT T

Trang 1

……… R………

LÊ THỊ VÂN ANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh - Năm 2008

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

……… R………

LÊ THỊ VÂN ANH

MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: THƯƠNG MẠI Mã số: 60 34 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS TẠ THỊ MỸ LINH

TP Hồ Chí Minh - Năm 2008

Trang 3

MỤC LỤC Trang

DANH MỤC CÁC BẢNG DỮ LIỆU ……… i

DANH SÁCH CÁC TỪ VIẾT TẮT……….iii

PHẦN MỞ ĐẦU iv

1 Tính thiết thực của đề tài iv

2 Mục đích nghiên cứu v

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu v

4 Phương pháp nghiên cứu vi

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài vi

6 Kết cấu của đề tài vi

PHẦN NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN……… 1

TỚI HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 1.1 Giới thiệu về Ngân hàng Thương mại 1

1.1.1 Khái niệm về NHTM 1

1.1.2 Chức năng của NHTM 1

1.1.3 Các hoạt động của NHTM 2

1.2 Giới thiệu về hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM 3

1.2.1 Khái niệm thanh toán quốc tế 3

1.2.2 Vai trò của thanh toán quốc tế 4

1.2.3 Các phương thức thanh toán quốc tế 5

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ thanh toán quốc tế .9

của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam 1.3.1 Các yếu tố khách quan 9

1.3.2 Các yếu tố chủ quan của ngân hàng 13

Trang 4

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 16

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN 17

QUỐC TẾ CỦA CÁC CHI NHÁNH NHNo & PTNT TẠI TP.HCM 2.1 Khái quát về NHNo & PTNTVN và các chi nhánh tại TP.HCM 17

2.1.1 Sự ra đời và phát triển của NHNo & PTNTVN 17

2.1.2 Giới thiệu các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.HCM 19

2.2 Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của các 19

chi nhánh NHNo & PTNT trên địa bàn TP.HCM 2.2.1 Mô hình tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế của các 19

chi nhánh NHNo & PTNT 2.2.2 Đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế của .22

NHNo & PTNT trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2004-2008 2.2.3 Các hạn chế còn tồn tại 28

2.2.3.1 Các sản phẩm về thanh toán quốc tế chưa đa dạng 28

và chất lượng dịch vụ chưa cao 2.2.3.2 Nhân sự của nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại 32

các chi nhánh còn thiếu và yếu 2.2.3.3 Việc ứng dụng Công nghệ tin học trong quá trình 34

hiện đại hoá ngân hàng còn chậm 2.2.3.4 Giữa các bộ phận nghiệp vụ chưa có sự phối hợp 35

và hỗ trợ nhằm giúp đỡ các doanh nghiệp trong hoạt động thanh toán quốc tế KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 39

Trang 5

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN 40 HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC CHI NHÁNH

NHNo & PTNT TẠI TP.HCM

3.1 Phương hướng phát triển hoạt động thanh toán quốc tế của 40 NHNo & PTNTVN trong thời gian tới

3.2 Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế 42 tại các chi nhánh NHNo & PTNT TP.Hồ Chí Minh

3.2.1 Giải pháp liên kết nghiệp vụ thanh toán quốc tế giữa các 42 chi nhánh trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh nhằm nâng cao chất

lượng dịch vụ và làm đa dạng hoá sản phẩm thanh toán quốc tế 3.2.2 Giải pháp nâng cao chất lượng nhân sự thanh toán quốc tế 45 3.2.3 Giải pháp về công nghệ thông tin trong hoạt động .48 kinh doanh và quản lý ngân hàng

3.2.4 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ giao dịch theo 49 mô hình ”một cửa” đối với hoạt động của các chi nhánh

NHNo & PTNT tại TP.HCM

3.3 Một số kiến nghị 56

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 58 KẾT LUẬN CHUNG 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

Bảng 1.1 Giá trị xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thế giới giai đoạn

Bảng 1.4 Tốc độ tăng trưởng và giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu

của TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2008 Trang 11

Bảng 2.1 Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của các CN NHNo

& PTNT tại TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2008 Trang 25

Bảng 2.2 Tỷ trọng về thanh toán xuất nhập khẩu của các CN NHNo

& PTNT tại TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2008 Trang 26

Bảng 2.3 Bảng tỷ lệ các phương thức thanh toán nhập khẩu tại các

chi nhánh NHNo & PTNT khu vực TP.HCM trong giai đoạn 2004-2007

Trang 27

Bảng 2.4 Bảng số liệu về doanh số chiết khấu tại các chi nhánh

NHNo & PTNT khu vực TP.HCM giai đoạn 2004-2007 Trang 27

Bảng 3.1 Các chỉ tiêu kinh doanh chủ yếu của các NHNo &

PTNTVN tại 5 thành phố loại I giai đoạn 2006 - 2010 Trang 41

Trang 7

Sơ đồ 1.1 Qui trình nghiệp vụ chuyển tiền Trang 5

Sơ đồ 1.3 Qui trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ Trang 7

Sơ đồ 3.1 Qui trình thực hiện liên kết nghiệp vụ thanh toán xuất

Sơ đồ 3.2 Qui trình thực hiện liên kết nghiệp vụ thanh toán

Sơ đồ 3.3 Mô hình “giao dịch một cửa” tại các chi nhánh

Trang 8

CN : chi nhánh

GDP: Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội

KDNH: Kinh doanh Ngoại hối

L/C: Letter of of Credit: tín dụng chứng từ

NK: nhập khẩu

NHTM: ngân hàng thương mại

NHNo & PTNTVN: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam TP.HCM: thành phố Hồ Chí Minh

XK: xuất khẩu

Trang 9

1 Tính thiết thực của đề tài

Kinh doanh ngoại thương là một hoạt động nhiều rủi ro vì phạm vi hoạt động của nó đã vượt ra ngoài lãnh thổ của một quốc gia Trong bối cảnh toàn cầu hoá kinh tế đang diễn ra trên thế giới hiện nay thì các nước khi tham gia sẽ vừa cạnh tranh và vừa lệ thuộc lẫn nhau về kinh tế Và nền kinh tế Việt Nam cũng không là một ngoại lệ khi ngày 7/11/2006, Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới (WTO) Thời điểm này đã mở ra cho các ngành kinh tế Việt Nam nói chung và ngoại thương nói riêng những cơ hội mới nhưng cũng đồng thời mang đến những thách thức Với quy mô của hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam vừa và nhỏ nên khi gia nhập vào thị trường thế giới to lớn các doanh nghiệp Việt Nam sẽ gặp không ít các khó khăn do tiềm lực tài chính yếu cũng như không có nhiều kinh nghiệm trên thương trường Chính vì thế, trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam không thể thiếu sự góp phần quan trọng của các ngân hàng thương mại Đồng hành cùng các doanh nghiệp trong quá trình hội nhập trên cũng cĩ sự gĩp mặt của Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Việt Nam nói chung và các chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh nói riêng Tuy nhiên, so với cả nước, thành phố Hồ Chí Minh được biết đến là trung tâm kinh tế và tài chính năng động nhất nên các chi nhánh NHNo & PTNTVN tại khu vực này cũng gặp nhiều khó khăn do chịu sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương mại trên địa bàn đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán quốc tế Vì vậy, với kinh nghiệm nhiều năm làm

Trang 10

Tế TP.Hồ Chí Minh tôi đã chọn nghiên cứu đề tài “Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo & PTNT trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh” Tôi mong muốn đề tài này không chỉ là bức tranh tổng quát về quá trình hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.Hồ Chí Minh trong thời gian qua, mà đây còn là một đóng góp vào sự phát triển các nghiệp vụ của chi nhánh trong việc phục vụ hoạt động xuất nhập khẩu của các doanh nghiệp Việt Nam

2 Mục đích nghiên cứu

Mục đích của đề tài là phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của các NHNo & PTNTVN trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh Từ việc đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế còn tồn tại và những nguyên nhân của những hạn chế đó, luận văn đề xuất các giải pháp khắc phục để từ đó hoàn thiện và phát triển các hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNT tại thành phố Hồ Chí Minh

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNTVN tại TP.Hồ Chí Minh

- Trên cơ sở nghiên cứu những lý luận cơ bản về các hoạt động ngân hàng thương mại, luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNTVN trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2004-2008 Dựa trên các phân tích này tôi đưa ra các giải pháp nhằm khắc phục những hạn chế còn tồn tại nhằm cải thiện và nâng cao hơn nữa chất lượng phục vụ cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong thời gian tới

Trang 11

chứng, phương pháp so sánh phân tích và phương pháp thống kê để xác định bản chất của vấn đề nghiên cứu

5 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Cam kết mở cửa thị trường tài chính của Việt Nam với WTO đang trong lộ trình thực hiện đã đặt các ngân hàng thương mại trước áp lực cạnh tranh với các ngân hàng toàn cầu của thế giới Với mô hình hoạt động của các NHNo & PTNT tại TP.Hồ Chí Minh hiện nay còn rườm rà về thủ tục hành chính, thời gian chờ đợi để được phục vụ của các khách hàng còn dài, tiện ích của các dịch vụ chưa cao….đã phần nào ảnh hưởng đến chất lượng dịch vụ của ngân hàng; đồng thời giảm sức cạnh tranh của NHNo & PTNT trên địa bàn TP.HCM Chính

vì vậy, các đánh giá và giải pháp mà luận văn đưa ra đều nhằm giải quyết các hạn chế hiện tại của NHNo & PTNT từ đó hướng các hoạt động thanh toán quốc tế đến sự chuyên nghiệp theo mô hình giao dịch một cửa

6 Kết cấu của luận văn:

Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết thúc, luận văn được kết cấu thành 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn liên quan tới hoạt động thanh toán quốc tế Chương 2: Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.Hồ Chí Minh

Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.Hồ Chí Minh

Trang 12

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN LIÊN QUAN TỚI

HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ 1.1 Giới thiệu Ngân hàng Thương mại

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng Thương mại

Theo Luật các Tổ chức tín dụng do Quốc hội khoá X thông qua ngày 12/12/2007 có định nghĩa: “Ngân hàng Thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan” Ngoài ra, Luật các tổ chức tín dụng bổ sung và sửa đổi năm 2004 cũng qui định rõ ràng và cụ thể hơn về hoạt động ngân hàng Theo đó, “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng dịch vụ thanh toán”

1.1.2 Chức năng của Ngân hàng Thương mại

ƒ Chức năng trung gian tài chính:

Đây là chức năng cơ bản và đặc trưng nhất của ngân hàng, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thúc đẩy nền kinh tế hàng hóa phát triển Với vai trò là trung gian tín dụng, NHTM huy động và tập trung các nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế từ các tổ chức kinh tế, cơ quan đoàn thể, dân cư Trên cơ sở nguồn vốn huy động được, ngân hàng sử dụng cho vay để đáp ứng nhu cầu vốn của nền kinh tế Khi thực hiện chức năng trung gian tài chính, NHTM đã tiến hành điều hoà vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, kích thích quá trình luân chuyển vốn của toàn xã hội và thúc đẩy quá trình tái sản xuất của các doanh nghiệp

Trang 13

ƒ Chức năng trung gian thanh toán

NHTM cung cấp các phương tiện thanh toán cho nền kinh tế, tiết kiệm chi phí lưu thông và nâng cao khả năng tín dụng Với chức năng này, NHTM tham gia kiểm soát hoạt động kinh doanh của các tổ chức kinh tế trong nuớc, góp phần tăng cường kỷ luật tài chính và làm lành mạnh hóa nền kinh tế quốc dân

ƒ Chức năng tạo bút tệ hay tiền ghi sổ

NHTM ngoài việc thu hút tiền gửi và cho vay trên số tiền gửi đó còn tạo tiền khi phát tín dụng nhằm tạo ra thêm tiền để cho vay, gọi là bút tệ hay tiền ghi sổ Tiền ghi sổ là loại tiền phi vật chất, nó chỉ là những con số trên tài khoản của ngân hàng nhưng nó có đặc tính giống tiền giấy

ƒ Chức năng trung gian trong việc thực hiện chính sách kinh tế quốc gia

Hệ thống NHTM mặc dù mang tính chất độc lập nhưng nó luôn chịu sự quản lý chặt chẽ của ngân hàng trung ương về các mặt, trong đó NHTM phải luôn tuân theo các quyết định của ngân hàng trung ương về việc thực hiện chính sách tiền tệ

1.1.3 Các hoạt động của Ngân hàng Thương mại

Chương III của Luật các tổ chức tín dụng có nêu ra các hoạt động của tổ chức tín dụng, trong đó chủ yếu là NHTM, bao gồm:

- Hoạt động huy động vốn

- Hoạt động cấp tín dụng

- Hoạt động dịch vụ thanh toán

- Hoạt động ngân quỹ

- Các hoạt động khác như góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, kinh doanh ngoại hối, kinh doanh vàng, kinh doanh bất động sản, kinh doanh dịch vụ và bảo hiểm, nghiệp vụ uỷ thác và đại lý, dịch vụ tư vấn và các dịch vụ khác liên quan đến hoạt động ngân hàng

Trang 14

1.2 Giới thiệu về hoạt động thanh toán quốc tế của NHTM

1.2.1 Khái niệm thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác, hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế thông qua quan hệ giữa các ngân hàng của các nước liên quan

Từ khái niệm trên cho thấy, thanh toán quốc phục vụ cho hai lĩnh vực hoạt động là kinh tế và phi kinh tế Tuy nhiên, trong thực tế giữa hai lĩnh vực hoạt động này thường giao thoa với nhau, không có một ranh giới rõ rệt Chính vì vậy, trong quy chế về thanh toán và thực tế tại các NHTM, người ta thường phân hoạt động thanh toán quốc tế thành hai lĩnh vực rõ ràng là: thanh toán trong ngoại thương và thanh toán phi ngoại thương

Thanh toán phi ngoại thương là việc thực hiện thanh toán không liên quan đến hàng hoá xuất nhập khẩu cũng như cung ứng lao vụ cho nước ngoài, nghĩa là thanh toán cho các hoạt động không mang tính thương mại Đó là việc chi trả các chi phí của các cơ quan ngoại giao ở nước ngoài, các chi phí đi lại ăn ở của các đoàn khách nhà nước, tổ chức và cá nhân; các nguồn tiền quà biếu, trợ cấp của cá nhân người nước ngoài cho cá nhân người trong nước, các nguồn trợ cấp của một tổ chức từ thiện nước ngoài cho tổ chức, đoàn thể trong nước …

Thanh toán quốc tế trong ngoại thương là việc thực hiện thanh toán trên cơ sở hàng hoá xuất nhập khẩu và cung ứng các dịch vụ thương mại cho nước ngoài theo giá cả thị trường quốc tế Cơ sở để tiến hành mua bán và thanh toán cho nhau là hợp đồng ngoại thương

Trong phạm vi đề tài này tác giả chủ yếu đề cập đến thanh toán quốc tế trong ngoại thương

Trang 15

1.2.2 Vai trò của thanh toán quốc tế

™ Vai trò của thanh toán quốc tế đối với nền kinh tế:

− Thanh toán quốc tế là yếu tố bôi trơn và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu của nền kinh tế như một tổng thể

− Thanh toán quốc tế còn là yếu tố bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp

− Hoạt động thanh toán có tác động thúc đẩy và mở rộng các hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế

− Thanh toán quốc tế có vai trò quan trọng trong việc tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác

− Cuối cùng là vai trò thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế

™ Ngân hàng thương mại với thanh toán quốc tế

Với vai trò trung gian thanh toán, các ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng, bảo vệ quyền lợi cho khách hàng trong giao dịch thanh toán, tư vấn, hướng dẫn khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ thanh toán quốc tế nhằm hạn chế rủi ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước ngoài Thanh toán giữa các nước sẽ được thực hiện thông qua ngân hàng và vai trò của ngân hàng trong thanh toán quốc tế chính là chất xúc tác, là cầu nối, là điều kiện đảm bảo an toàn và hiệu quả cho các bên tham gia hoạt động xuất nhập khẩu, đồng thời tài trợ cho các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu

Đối với các NHTM, hoạt động thanh toán quốc tế ngày nay trở thành một dịch vụ quan trọng Hoạt động này không những đem lại nguồn thu đáng kể cho các ngân hàng mà còn là mắc xích quan trọng chắp nối và thúc đẩy sự phát triển và mở rộng các hoạt động kinh doanh khác của ngân hàng như kinh doanh ngoại

Trang 16

tệ, tài trợ xuất nhập khẩu, bảo lãnh ngân hàng, tăng cường nguồn vốn huy động…

1.2.3 Các phương thức thanh toán quốc tế

Thanh toán quốc tế là nghiệp vụ quan trọng và phức tạp trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu Trong một hợp đồng ngoại thương, các bên tham gia hợp đồng đều phải cân nhắc các điều kiện và điều khoản thanh toán làm sao ràng buộc được nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên Chính vì thế, tuỳ theo mức độ tin cậy giữa nhà nhập khẩu và xuất khẩu, mức độ rủi ro về thị trường và luật pháp của các nước mà các nhà kinh doanh xuất nhập khẩu có nhiều cách lựa chọn phương thức thanh toán khác nhau

™ Phương thức chuyển tiền (Remittance)

Khái niệm: phương thức chuyển tiền là phương thức thanh toán trong đó

một khách hàng (người trả tiền, người mua hàng, người nhập khẩu ) yêu cầu ngân hàng phục vụ mình chuyển một số tiền nhất định cho người hưởng lợi (người bán, người xuất khẩu, người cung cấp dịch vụ) ở một thời điểm nhất định Ngân hàng chuyển tiền phải thông qua đại lý của mình ở nước người hưởng lợi để thực hiện nghiệp vụ chuyển tiền

Qui trình nghiệp vụ chuyển tiền được thể hiện trong sơ đồ sau:

NGÂN HÀNG NGÂN HÀNG

NGƯỜI NHẬP KHẨU NGƯỜI XUẤT KHẨU

Sơ đồ 1.1: Qui trình nghiệp vụ chuyển tiền

1) Giao dịch thương mại bao gồm kí kết hợp đồng ngoại thương hoặc thực hiệc cung cấp hàng hoá dịch vụ;

Trang 17

2) Người nhập khẩu yêu cầu ngân hàng của mình chuyển một số tiền nhất định cho người xuất khẩu;

3) Ngân hàng chuyển tiền ra lệnh cho ngân hàng đại lý của mình ở nước ngoài

để chuyển trả cho người xuất khẩu;

4) Ngân hàng đại lý chuyển tiền cho người xuất khẩu;

™ Phương thức nhờ thu (Collection)

Khái niệm: phương thức nhờ thu là phương thức thanh toán mà người bán

sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng sẽ kí hối phiếu đòi tiền người mua, nhờ ngân hàng thu hộ số tiền thu ghi trên tờ hối phiếu đó

Có hai loại nhờ thu:

a) Nhờ thu phiếu trơn (Clean collection): là phương thức mà người bán nhờ ngân hàng thu hộ tiền hối phiếu ở người mua, nhưng không kèm theo điều kiện b) Nhờ thu kèm chứng từ (Documentary collection): là phương thức mà người bán sau khi sau khi hoàn thành nghĩa vụ giao hàng, lập bộ chứng từ thanh toán nhờ thu (chứng từ gửi hàng và hối phiếu) và nhờ ngân hàng thu hộ tờ hối phiếu đó với điều kiện là người mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền thì ngân hàng mới trao toàn bộ chứng từ gửi hàng cho người mua để họ nhận hàng

Qui trình nghiệp vụ nhờ thu được thể hiện trong sơ đồ sau:

NGƯỜI BÁN NGƯỜI MUA

NGÂN HÀNG BÊN MUA

NGÂN HÀNG

BÊN BÁN

Sơ đồ 1.2: Qui trình nghiệp vụ nhờ thu

Trang 18

(1) Người bán giao hàng, lập bộ chứng từ và

- gửi bộ chứng từ thẳng cho người mua (nhờ thu phiếu trơn) hoặc

- chuyển bộ chứng từ cùng với hối phiếu cho ngân hàng (nhờ thu kèm chứng từ)

(2) - Người bán kí phát hối phiếu đòi tiền người mua và nhờ ngân hàng thu hộ tiền của hối phiếu đó (nhờ thu phiếu trơn) hoặc

- Người bán chuyển bộ chứng từ cùng với hối phiếu cho ngân hàng và nhờ ngân hàng thu hộ số tiền ghi trên hối phiếu (nhờ thu kèm chứng từ)

(3) , (4) Đòi tiền người mua thông qua ngân hàng

(5), (6), (7) Người mua trả tiền cho người bán thông qua ngân hàng

™ Phương thức tín dụng chứng từ (Documentary Credit)

Khái niệm: Phương thức thanh toán tín dụng chứng từ (còn gọi tắt là L/C) là

một sự thoả thuận, trong đó một Ngân hàng (ngân hàng mở thư tín dụng) theo yêu cầu của khách hàng (người yêu cầu mở thư tín dụng) sẽ trả một số tiền nhất định cho một người thứ ba (người hưởng lợi số tiền của thư tín dụng) hoặc chấp nhận hối phiếu do người này kí trong phạm vi số tiền đó khi người này xuất trình cho ngân hànng một bộ chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định đề ra trong thư tín dụng

Qui trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ được thể hiện qua sơ đồ sau:

Sơ đồ 1.3: Qui trình nghiệp vụ tín dụng chứng từ

Trang 19

(1) Người mua làm đơn xin mở L/C và gởi cho ngân hàng mở L/C, yêu cầu ngân hàng mở 01 L/C cho người người hưởng

(2) Căn cứ vào đơn xin mở L/C, Ngân hàng mở L/C tiến hành mở L/C và thông báo nội dung L/C này cho người bán biết và gởi bản chính L/C cho người bán thông qua ngân hàng của họ

(3) Ngân hàng thông báo thông báo nội dung L/C cho người bán và chuyển bản chính L/C cho người bán

(4) Người bán giao hàng cho người mua, nếu chấp nhận L/C; nếu không chấp nhận L/C thì yêu cầu người mua và Ngân hàng mở L/C sửa đổi L/C theo ý của mình, đến khi chấp nhận mới tiến hành giao hàng

(5) Người bán lập bộ chứng từ thanh toán và xuất trình cho Ngân hàng mở thông qua ngân hàng thông báo hoặc một ngân hàng khác để đòi tiền

(6) Ngân hàng mở L/C tiến hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù hợp với L/C thì tiến hành trả tiền cho người bán Nếu thấy không phù hợp ngân hàng mở từ chối thanh toán và gởi trả lại toàn bộ chứng từ cho người bán (7) Ngân hàng mở đòi tiền người mua

(8) Người mua kiểm tra chứng từ, nếu thấy phù hợp với L/C thì trả tiền lại cho Ngân hàng mở L/C và nhận bộ chứng từ; nếu thấy không phù hợp có quyền từ chối trả tiền

™ Phương thức giao chứng từ trả tiền (Cash Against Documents –CAD)

Khái niệm: CAD là phương thức thanh toán trong đó nhà nhập khẩu yêu

cầu ngân hàng mở tài khoản tín thác ( Trust Account) để thanh toán tiền cho nhà xuất khẩu, khi nhà xuất khẩu trình đầy đủ chứng từ theo yêu cầu Nhà xuất khẩu sau khi hoàn thành nghĩa vụ sẽ xuất trình bộ chứng cho ngân hàng để nhận tiền thanh toán

Trang 20

1.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ thanh toán quốc tế của các Ngân hàng Thương mại Việt Nam

1.3.1 Các yếu tố khách quan

ƒ Xu hướng toàn cầu hoá kinh tế quốc tế đã thúc đẩy sự phát triển của thương mại quốc tế Điều này thể hiện rõ ở tốc độ tăng trưởng thương mại thế giới luôn cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thế giới Nếu như trong thập kỷ

1980, tốc độ tăng thương mại thế giới là 6%/năm, hơn 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế thì đến thập kỷ 1990, tốc độ tăng thương mại thế giới là 7%/năm cao hơn 2,5 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Ước tính giai đoạn 1999-2008, tốc độ tăng thương mại thế giới là 6,7%/năm cao hơn 2 lần so với tốc độ tăng trưởng kinh tế Theo dự đoán của các chuyên gia kinh tế thì thương mại thế giới giai đoạn 2011-2020 sẽ tiếp tục tăng, đạt tốc độ 7,5%/năm sẽ chiếm 45% GDP thế giới

Bảng 1.1: Giá trị Xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ thế giới giai đoạn 2004-2007

Đơn vị: tỷ USD

Nguồn: International trade staticstics 2005, 2006, 2007 và Press Release

(Press/554) của WTO

ƒ Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới cũng đã có những cố gắng đáng kể trong việc duy trì được tốc độ tăng trưởng kinh tế hằng năm trên 7% Tốc độ tăng GDP năm 2008 tuy thấp hơn tốc độ tăng 8,48% của năm 2007 về mục tiêu kế hoạch điều chỉnh là tăng 7,0%, nhưng trong bối cảnh tài chính thế giới khủng hoảng, kinh tế nhiều nước suy giảm mà nền kinh tế nước ta vẫn đạt tốc độ tăng tương đối cao như trên là một cố gắng lớn

Trang 21

Bảng 1.2: Tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam giai đoạn 2002-2008

Đơn vị: %

Nguồn: www.gso.gov.vn ( Tổng cục thống kê)

ƒ Việt Nam trong những năm qua bên cạnh sự tăng trưởng nhanh chóng về kinh tế thì với chính sách đổi mới, mở cửa hội nhập cũng đã tác động đến sự phát triển của xuất nhập khẩu Tổng mức lưu chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu luôn gia tăng với giá trị năm sau cao hơn năm trước Riêng giai đoạn từ năm 2000 đến nay giá trị này luôn đạt trên 30 tỷ USD Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước nên nhu cầu nhập khẩu các mặt hàng phục vụ cho sản xuất và xây dựng rất cao Vì vậy, trong những năm qua Việt Nam vẫn là nước nhập siêu

Bảng 1.3: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam trong giai đoạn 2002-2008

Đơn vị: tỷ USD

Năm Xuất khẩu Tỷ lệ tăng trưởng Nhập khẩu Tỷ lệ tăng trưởng Nhập siêu

Nguồn: www.gso.gov.vn ( Tổng cục thống kê)

Cùng với xu thế phát triển chung của đất nước, từ nhiều năm qua thành phố Hồ Chí Minh - trung tâm kinh tế, tài chính-tiền tệ lớn nhất và sôi động nhất cả

Trang 22

nước, đã luôn duy trì tốc độ tăng trưởng trên 12% trong ba năm liền từ 2005 đến

2007 Tuy nhiên, năm 2008 nền kinh tế thành phố chịu ảnh hưởng của biến động giá nguyên nhiên vật liệu nhập khẩu; thị trường tài chính tiền tệ biến động phức tạp, khủng hoảng kinh tế thế giới và những bất lợi về thời tiết cho sản xuất nông nghiệp đã ảnh hưởng đến tốc độ phát triển kinh tế Do vậy, tốc độ tăng trưởng kinh tế của thành phố năm 2008 chỉ đạt 10,7% Đóng góp vào tăng trưởng trên là sự gia tăng qua các năm của kim ngạch xuất nhập khẩu Kim ngạch xuất nhập khẩu của thành phố Hồ Chí Minh đều duy trì sự tăng trưởng qua các năm Năm

2008, mặc dù tình hình kinh tế gặp nhiều khó khăn nhưng kim ngạch xuất nhập của thành phố vẫn đạt mức tăng trưởng 22%

Bảng 1.4: Tốc độ tăng trưởng kinh tế và Giá trị kim ngạch Xuất Nhập

khẩu của TP.HCM giai đoạn 2004-2008

Đơn vị: triệu USD

Kim ngạch nhập khẩu 5.644 6.371 6.621 14.996 18.422

Nguồn: www.pso.hochiminhcity.gov.vn ( Cục thống kê Tp.Hồ Chí Minh)

Hoạt động thanh toán quốc tế là một phần trong hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu của một quốc gia Vì vậy, sự phát triển của thương mại của thế giới nói chung và của mỗi quốc gia nói riêng đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động thanh toán quốc tế của quốc gia đó Hoạt động thanh toán quốc tế có phát triển hay suy giảm đều có sự phụ thuộc vào hoạt động ngoại thương của quốc gia

Trang 23

ƒ Thương mại quốc tế đã trải qua hai giai đoạn toàn cầu hoá với thời gian tương đối dài (tính từ sau chiến tranh thế giới thứ hai) với tốc độ phát triển mạnh mẽ Trong khi đó nền kinh tế Việt Nam vẫn bị coi là nền kinh tế phi thị trường

Do vậy, với kinh nghiệm tham gia giao thương quốc tế chưa nhiềâu cộng với những bỡ ngỡ và choáng ngợp trước một một thị trường quốc tế to lớn, các doanh nghiệp Việt Nam luôn gặp nhiều bất lợi trong đàm phán ký kết hợp đồng với khách hàng nước ngoài Các hợp đồng được ký kết thường có hướng bảo vệ quyền lợi và lợi ích của đối tác nước ngoài chứ không thực sự bình đẳng giữa các bên tham gia hợp đồng Thậm chí các doanh nghiệp Việt Nam do không nắm vững luật pháp cũng như những thông lệ quốc tế nên đã dẫn đến những vụ kiện phá giá từ phía đối tác nước ngoài mà khởi nguồn chính là sự cạnh tranh với các danh nghiệp bản địa Chính vì thế, khi tham gia với vai trò là người tài trợ cho các giao dịch này, các ngân hàng sẽ phải đối đầu với rủi ro về pháp lý liên quan hoặc rủi ro không thu hồi được vốn tài trợ

ƒ Hiện nay, phần nhiều các khách hàng xuất nhập khẩu đa phần là doanh nghiệp vừa và nhỏ, hoạt động trong nền kinh tế phi thị trường nên cơ hội cọ xát với môi trường kinh doanh quốc tế chưa nhiều Do vậy, các nhà xuất nhập khẩu Việt Nam không nhận thức được cũng như không có kinh nghiệm trong việc phát hiện những gian lận thương mại Bên cạnh đó, xuất phát điểm của các ngân hàng Việt Nam cũng giống như của các doanh nghiệp nên cũng sẽ đứng trước những nguy cơ bị cuốn vào các giao dịch gian lận đó

ƒ Hệ thống pháp luật là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của một quốc gia nói chung và các doanh nghiệp nói riêng Điều này càng có ý nghĩa hơn với những hoạt động vượt ra khỏi phạm vi của một quốc gia như hoạt động thanh toán quốc tế Chính vì vậy, với Việt Nam là một quốc gia đang trong quá trình chuyển dần từ nền kinh tế phi thị trường sang kinh tế thị

Trang 24

trường nên hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất quán và chưa phù hợp với các thông lệ quốc tế Chính sách quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá còn bất cập… đã phần nào ảnh hưởng đến hoạt động thanh toán quốc tế của các doanh nghiệp và các NHTMVN

ƒ Hệ thống thương mại điện tử của Việt Nam vẫn trong quá trình phát triển Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản pháp lý liên quan đến việc cung cấp, sử dụng các dịch vụ ứng dụng Internet như : e-banking, home banking còn thiếu, chậm đổi mới và hoàn thiện so với yêu cầu phát triển kỹ thuật công nghệ hiện đại và triển khai rộng rãi các dịch vụ ngân hàng hiện đại nên chưa tạo cơ sở cho việc xử lý các tranh chấp, tạo ra tâm lý ngần ngại cho các ngân hàng khi sử dụng và cung cấp các dịch vụ này

1.3.2 Các yếu tố chủ quan của ngân hàng

ƒ Trước hết chiến lược kinh doanh là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển của các ngân hàng nói chung và của từng mảng nghiệp vụ ngân hàng nói riêng trong từng thời kỳ Chính vì vậy, hoạt động thanh toán quốc tế của các ngân hàng có phát triển hay không ngoài các yếu tố khách quan tác động còn có sự góp phần không nhỏ của chiến lược kinh doanh Với mục tiêu gia tăng tỷ lệ thu dịch vụ ngoài tín dụng của các ngân hàng hiện nay thì việc có chiến lược phát triển hoạt động thanh toán quốc tế phù hợp sẽ giúp các ngân hàng đạt được mục tiêu kinh tế đồng thời làm tăng tính cạnh tranh của họ với các ngân hàng khác đặc biệt là với các ngân hàng nước ngoài vốn có lợi thế về quy mô hoạt động toàn cầu

ƒ Ngành ngân hàng Việt Nam đang phát triển rất mạnh mẽ, đồng nghĩa nhu cầu về nguồn nhân lực sẽ rất cao Nguồn nhân lực cũng cần thiết như các cơ sở hạ tầng khác như sân bay, đường sá… để thu hút đầu tư và phát triển kinh tế Tuy nhiên, trong hai năm gần đây với sự mở rộng chi nhánh hoạt động các ngân

Trang 25

hàng cũng như việc thành lập mới đã đưa đến tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực chuyên môn Ông Lê Đắc Sơn, tổng giám đốc VPBank đã từng bày tỏ sự lo lắng của mình như sau: “Câu chuyện nhân lực ngân hàng đã đến mức báo động đỏ Các ngân hàng trong nước đua nhau mở chi nhánh mới Ngân hàng nông thôn thì chuyển đổi mô hình hoạt động Tới đây lại có thêm nhiều nhà băng mới, kể cả ngân hàng nước ngoài Vì thiếu nên ngân hàng này lấy người của ngân hàng kia, khiến nguồn nhân lực vốn đã khan hiếm nay lại xê dịch hỗn loạn” Với mảng hoạt động thanh toán quốc tế thì nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn và ngoại ngữ để đáp ứng điều kiện công việc đóng một vai trò rất quan trọng Đó không chỉ là nhân tố góp phần thúc đẩy sự phát triển của một ngân hàng mà còn là nhân tố làm giảm thiểu những rủi ro cho ngân hàng vì hoạt động của nó đã vượt ra khỏi lãnh thổ của một quốc gia Uy tín của ngân hàng được nâng cao hay giảm sút trên trường quốc tế có một phần ảnh hưởng không nhỏ của đội ngũ nhân viên thanh toán quốc tế này

ƒ Công nghệ thông tin ngày nay đóng một vai trò rất quan trọng trong quá trình hiện đại hoá ngân hàng để hội nhập với hệ thống tài chính thế giới Tuy nhiên, nếu so sánh với các ngành khác thì ngành ngân hàng lại chậm trễ trong quá trình hiện đại hoá công nghệ Việc chậm trễ trong đổi mới công nghệ không chỉ làm chậm lại sự phát triển của các ngân hàng nói chung mà của hoạt động thanh toán quốc nói riêng với những đặc tính riêng trong việc kết nối thông tin với thế giới Chúng ta có thể kể ra đây những hậu quả của sự chậm trễ trên, đó là:

- Các ngân hàng đã không thể nào ứng dụng và phát triển nhanh các sản phẩm dịch vụ, quanh quẩn chỉ có các sản phẩm tiền gởi, tiền vay;

- Chi phí quản lý tăng nhanh, điều này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến sức cạnh tranh của hệ thống ngân hàng trong quá trình hội nhập;

Trang 26

- Sự quá tải trong giao dịch tại các ngân hàng làm cho thời gian chờ đợi của khách hàng tăng lên;

- Việc phân bố nghiệp vụ chồng chéo không khoa học làm cho việc quản lý, thiết kế để đưa các sản phẩm dịch vụ gặp rất nhiều khó khăn;

- Với công nghệ lạc hậu đã làm cho việc tổng hợp thông tin chậm, rất vất vả và thiếu chính xác do phần lớn là làm thủ công Điều này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến việc đưa ra các chiến lược kinh doanh của ngân hàng

Chính vì vậy, đổi mới công nghệ theo hướng hiện đại hoá để đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế là vấn đề đang được các NHTMVN quan tâm và đề cao Đây cũng chính là một trong những yếu tố cạnh tranh giữa các ngân hàng để thu hút khách hàng

ƒ Thanh toán quốc tế là một trong các mảng nghiệp vụ của một NHTM Vì vậy, hoạt động thanh toán quốc tế không thể tách rời với các nghiệp vụ khác như huy động vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ v.v để tác nghiệp độc lập Các nghiệp vụ này tác động qua lại và bổ trợ lẫn nhau để cùng phát triển Trong bối cảnh hội nhập quốc tế yếu tố này càng trở nên quan trọng góp phần làm gia tăng sức cạnh tranh giữa các ngân hàng với nhau và giữa các ngân hàng trong nước với các ngân hàng nước ngoài Khách hàng ngày nay từ các khách hàng cá nhân đến các khách hàng doanh nghiệp đều có những nhu cầu sử dụng đến các dịch vụ thanh toán quốc tế Chính vì thế, các ngân hàng cần chú trọng hơn nữa đến sự tương tác giữa các mảng nghiệp vụ của mình

Trang 27

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

Ngày nay, hội nhập kinh tế quốc tế là một xu thế tất yếu của các nước kinh tế đang phát triển muốn tiếp cận với nền kinh tế thế giới Đối với Việt Nam, hội nhập quốc tế là một hướng đi đúng và quan trọng nhằm hướng đến việc phát triển kinh tế đất nước nhanh và bền vững Thế nhưng, trong xu hướng khách quan đó Đại hội IX của Đảng cũng đã nhận định: ‘toàn cầu đang bị một số nước và các tập đoàn kinh tế xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác vừa có đấu tranh’

Hội nhập vào nền kinh tế thế giới, các NHTM Việt Nam có những điểm mạnh như: Việt Nam có chế độ chính trị ổn định; Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn quan tâm đến việc lành mạnh hoá hệ thống tài chính và hiện đại hoá ngành ngân hàng; NHTM Việt Nam có số lượng khách hàng truyền thống đa dạng với số lượng lớn và rộng khắp các tỉnh thành trên toàn quốc…Tuy nhiên, bên cạnh một số ưu điểm trên các NHTM cũng có những điểm yếu như: hệ thống pháp luật trong nước, thể chế thị trường còn chưa đầy đủ, chưa đồng bộ nhất quán; quy mô về vốn của các NHTM còn nhỏ, độ an toàn tín dụng chưa cao, trình độ công nghệ, trình độ quản lý của các NHTM còn thấp; dịch vụ còn nghèo nàn đơn điệu, tiện ích chưa cao; trình độ chuyên nghiệp của đội ngũ lao động chưa đáp ứng được yêu cầu của quá trình hội nhập Từ những phân tích trên, các NHTM Việt Nam cần phải có những chiến lược kinh doanh phù hợp cho từng thời kỳ, từng giai đoạn của sự phát triển phù hợp với xu thế nhưng phải dựa trên nguyên tắc bảo đảm lợi ích của doanh nghiệp và của quốc gia

Trang 28

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ CỦA CÁC CHI NHÁNH NHNo & PTNT TẠI TP.HỒ CHÍ MINH

2.1 Khái quát về Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông Thôn Việt Nam và các chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh

2.1.1 Sự ra đời và quá trình phát triển của NHNo & PTNT Việt Nam

Ngân hàng Phát triển Nông Nghiệp Việt Nam, tiền thân của NHNo & PTNT Việt Nam ngày nay, được thành lập theo Nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh Ngày 14/11/1990, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam Ngân hàng Nông nghiệp trở thành ngân hàng thương mại đa năng, hoạt động chủ yếu trên lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, là pháp nhân hạch toán kinh tế độc lập, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về hoạt động của mình trước pháp luật Ngày 30/07/1994 tại Quyết định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam có hai cấp: Cấp tham mưu và cấp trực tiếp kinh doanh Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ uỷ quyền, thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam thành Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam có trụ sở chính tại số 02 Láng Hạ, quận Ba Đình, Hà Nội NHNo & PTNTVN hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các Tổ chức Tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam

Trang 29

Hiện nay, NHNo & PTNTVN là ngân hàng lớn nhất Việt Nam cả về vốn, tài sản, đội ngũ CBNV, mạng lưới hoạt động và số lượng khách hàng Đến cuối năm 2007, tổng tài sản đạt 305.671 tỷ đồng tương đương với 20 tỷ USD gấp gần

220 lần so với ngày đầu thành lập Tổng dư nợ cho vay nền kinh tế đạt 242.180 tỷ đồng trong đó cho vay nông nghiệp nông thôn chiếm trên 70%, cho vay doanh doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm 36% với gần 30.000 doanh nghiệp dư nợ Tính đến thời điểm 31/12/2007 NHNo & PTNTVN có quan hệ đại lý với 931 ngân hàng tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ Ngoài ra, NHNo & PTNTVN còn là thành viên Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp Nông thôn Châu Á Thái Bình Dương (APRACA), Hiệp hội Tín dụng Nông nghiệp quốc tế (CICA) và Hiệp hội Ngân hàng Châu Á (ABA) Ngày 07/05/2003 Chủ tịch nước CHXHCNVN đã ký quyết định số 226/2003/QĐ/CTN phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới cho NHNo & PTNTVN

Hội đồng quản trị

Tổng Giám Đốc

rủi ro

Hệ thống chuyên môn nghiệp vụ

Sở QLKD vốn

và ngoại tệ

Chi nhánh

Sở

diện

Đơn vị sự nghiệp

CT trực thuộc

Hình 2.1: Mô hình tổ chức của NHNo & PTNTVN

Trang 30

2.1.2 Giới thiệu các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.Hồ Chí Minh

Năm 1991, tại thành phố Hồ Chí Minh Ngân hàng Nông nghiệp chỉ thành lập văn phòng đại diện theo Quyết định số 18/NH-QĐ ngày 01/03/1991 củaThống đốc Ngân hàng Nhà Nước Tuy nhiên, tính từ thời điểm năm 1992 đến 31/12/2007, trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh có tổng cộng 28 chi nhánh cấp 1 (không tính các chi nhánh là công ty cho thuê tài chính, nhà in ) Các chi nhánh cấp 1 trực thuộc, chịu sự quản lý của Ngân Hàng Nông Nghiệp Việt Nam – hội sở chính tại Hà Nội Các chi nhánh cấp 1 thực hiện đầy đủ các chức năng của một ngân hàng thương mại, có quyền tự chủ kinh doanh theo phân cấp, chịu sự ràng buộc về nghĩa vụ và quyền lợi đối với Ngân Hàng Nông Nghiệp Việt Nam, có con dấu riêng để thực hiện kinh doanh theo ủy quyền Ngoài 28 chi nhánh cấp 1 nói trên NHNo & PTNTVN tại TP.Hồ Chí Minh còn có 41 chi nhánh cấp 2 và 22 phòng giao dịch Tuy nhiên, năm 2008 theo quyết định 2656/QĐ-NHNN ngày 09/11/2007 của Thống Đốc NHNN Việt Nam về việc sắp xếp lại bộ máy tổ chức, điều chỉnh hệ thống chi nhánh của NHNo&PTNT Việt Nam theo quyết định 888/2005/QĐ-NHNN, NHNo & PTNTVN đã sắp xếp lại các chi nhánh phụ thuộc Theo đó, đến 31/12/2008 trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh NHNo & PTNT có 48 Chi nhánh (7 chi nhánh loại I và 41 chi nhánh loại II) và 131 phòng giao dịch

2.2 Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo

& PTNT trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh

2.2.1 Mô hình tổ chức hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh NHNo & PTNT

™ Về mô hình tổ chức: theo Quyết định số 454/QĐ/HĐQT-TCCB ngày

24/12/2004 (hết hiệu lực ngày 24/12/2007) và Quyết định 1377/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 24/12/2007 của Hội đồng Quản trị NHNo & PTNTVN, phòng Kinh doanh Ngoại hối (trước đây là Phòng Kinh doanh Ngoại tệ và Thanh toán Quốc tế )

Trang 31

được phép kinh doanh ngoại hối với các hoạt động cụ thể như: “huy động vốn và cho vay, mua, bán ngoại tệ, thanh toán quốc tế, bảo lãnh, tái bảo lãnh, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ và các dịch vụ khác về ngoại hối theo chính sách quản lý ngoại hối của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước và của Ngân hàng Nông Nghiệp” Mặc dù hai Quyết định trên đều có nêu rõ nhiệm vụ của Phòng Kinh doanh Ngoại hối nhưng lại không có hướng dẫn mô hình cụ thể nên hiện nay hầu hết các chi nhánh NHNo & PTNT đều thực hiện theo mô hình sau:

o Phòng kinh doanh Ngoại hối thực hiện các nghiệp vụ: Kinh doanh ngoại tệ, thanh toán quốc tế; chiết khấu bộ chứng từ hàng xuất theo phương thức tín dụng chứng từ, nhờ thu và bảo lãnh ngoại tệ có liên quan đến thanh toán quốc tế; báo có và chuyển tiền cho khách hàng nếu báo có chuyển qua mạng SWIFT

o Phòng Tín dụng thực hiện nghiệp vụ: cho vay thanh toán nhập khẩu và tài trợ trước xuất khẩu để bổ sung vốn lưu động cho khách hàng làm hàng xuất khẩu

o Phòng Kế toán: thực hiện nghiệp vụ chi trả kiều hối qua hệ thống Western Union và mở tài khoản cho khách hàng nước ngoài

Ngoài ra, NHNo & PTNTVN còn quy định chỉ có chi nhánh cấp 1 được thực hiện nghiệp vụ thanh toán quốc tế

™ Về hạch toán kế toán trong nghiệp vụ thanh toán quốc tế: tính đến

ngày 31/12/2007 trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh thực hiện hai hệ thống thanh toán khác nhau, cụ thể là:

ƒ Ba chi nhánh lớn gồm CN Sài Gòn, CN TP.HCM, CN Mạc Thị Bưởi cùng các chi nhánh cấp 2 trực thuộc, các phòng giao dịch và một số chi nhánh cấp 1 được tách ra từ chi nhánh Sài Gòn thực hiện chương trình “Dự án hiện đại hoá hệ thống thanh toán nội bộ và kế toán khách hàng (IPCAS)’ do ngân

Trang 32

hàng thế giới – World Bank tài trợ từ tháng 8/2003 Có thể khái quát chương trình này như sau:

- Mục tiêu của chương trình IPCAS: là xây dựng hệ thống Thanh toán Ngân

hàng và Kế toán khách hàng tin cậy, an toàn và mạnh để đảm bảo kinh doanh hiệu quả và đáp ứng các yêu cầu của nền kinh tế Chương trình cũng đáp ứng được những thay đổi và sự tăng lên về nhu cầu khách hàng; giảm chi phí quản lý, cải thiện hiệu suất và khả năng sinh lời của ngân hàng; cung cấp các dịch vụ ngân hàng đa dạng và thuận tiện đồng thời đẩy nhanh quay vòng vốn và tăng hiệu quả kinh doanh

- Lợi ích của chương trình IPCAS: là có thể cung cấp tất cả các giao dịch

ngân hàng cho khách hàng tại bất kỳ chi nhánh nào, có khả năng cung cấp các dịch vụ ngân hàng mới như ATM, thẻ Debit thẻ Credi, Phone banking, Internet banking Hệ thống cũng giúp ngân hàng nâng cao khả năng giám sát, quản lý và giúp quản lý thống nhất khách hàng, giảm thiểu được rủi ro

Như vậy, với chương trình IPCAS nhân viên giao dịch tại tất cả các phòng đồng thời là một giao dịch viên Phần hạch toán kế toán trước kia do phòng Kế toán thực hiện nay được chuyển sang cho phòng Kinh doanh Ngoại hối và các phòng nghiệp vụ thực hiện Giao dịch viên của nghiệp vụ thanh toán quốc tế sẽ thực hiện hạch toán đồng thời trên tài khoản khách hàng và tài khoản NOSTRO của NHNo & PTNTVN

ƒ Các chi nhánh còn lại sử dụng Chương trình ngân hàng bán lẻ trong đó phòng thanh toán quốc tế chỉ thực hiện tác nghiệp còn phần hạch toán kế do phòng kế toán thực hiện Tuy nhiên, đến ngày 31/12/2008 chương trình IPCAS giai đoạn 1 đã được triển khai chung cho tất cả các chi nhánh cấp 1

Trang 33

2.2.2 Đánh giá hoạt động thanh toán quốc tế của NHNo & PTNT trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2004-2008

Nghiệp vụ thanh toán quốc tế tại các chi nhánh NHNo & PTNT trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh phát triển rất sớm từ năm 1993 với Sở Giao Dịch 2 được giao trách nhiệm làm đầu mối thanh toán quốc tế của khu vực miền Nam và một chi nhánh Tuy nhiên, đến tháng 2/1999 thì mọi hoạt động thanh toán quốc tế trên toàn quốc đều tập trung về Sở Giao dịch NHNo & PTNTVN (nay có tên là Sở Quản lý Kinh doanh vốn và ngoại tệ) quản lý theo Quyết định số 234/HĐQT-008 của Chủ tịch Hội đồng Quản trị Theo đó, Sở giao dịch 2 chuyển thành chi nhánh cấp 1 với tên giao dịch mới là Sài Gòn Như vậy, tính đến ngày 31/12/2008 số lượng chi nhánh cấp 1 được phép hoạt động thanh toán quốc tế tại TP.Hồ Chí Minh là 48 chi nhánh

Hoạt động thanh toán quốc tế trong khu vực có tính cạnh tranh gay gắt như địa bàn TP.HCM nên các chi nhánh NHNo & PTNT cũng sẽ gặp không ít những khó khăn Trước hết các NHNo & PTNT phải chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ với ngân hàng Ngoại Thương Nếu so sánh với ngân hàng Ngoại Thương, tỷ trọng về thanh toán xuất nhập khẩu của các chi nhánh NHNo & PTNT là rất khiêm tốn Năm 2007, tỷ trọng thanh toán xuất khẩu và nhập khẩu của các chi nhánh NHNo

& PTNT lần lượt là 3,7% và 6,1% thì tương ứng với tỷ trọng này của ngân hàng Ngoại Thương chi nhánh TP.HCM là 39,30% và 30,4% Đây là tỷ lệ cao nhất nếu

so với các ngân hàng đang hoạt động tại TP.Hồ Chí Minh Sự chênh lệch về tỷ trọng trên là do lợi thế của ngân hàng ngoại thương vốn là ngân hàng chuyên doanh, độc quyền trong hoạt động kinh tế đối ngoại trước năm 1990 Sau đó mặc dù chuyển sang hoạt động đa năng ngân hàng này vẫn giữ được ưu thế trong lĩnh vực thanh toán quốc tế Bên cạnh việc cạnh tranh với các ngân hàng Việt Nam thì trong xu thế toàn cầu hóa chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.HCM sẽ còn phải

Trang 34

đối đầu với những chi nhánh ngân hàng nước ngoài với những lợi thế về năng lực tài chính, trình độ quản lý, công nghệ và kinh nghiệm hoạt động trong môi trường quốc tế Mặc khác, các ngân hàng nước ngoài cũng biết cách “địa phương hoá” khi xâm nhập vào bất cứ quốc gia nào như HSBC Việt Nam với Slogan : “Ngân hàng toàn cầu, am hiểu địa phương”

TỶ TRỌNG THANH TOÁN NHẬP KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG TẠI TP.HCM NĂM 2007

Hệ thống NH Nước ngoài

Biểu đồ 2.1: Tỷ trọng thanh toán NK của các ngân hàng tại TP.HCM

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước CN TP.Hồ Chí Minh)

Trang 35

TỶ TRỌNG THANH TOÁN XUẤT KHẨU CỦA CÁC NGÂN HÀNG TẠI TP.HCM NĂM 2007

NHNo & PTNT tại TP.HCM Hệ thống NH Cổ phần Hệ thống NH Liên doanh

Hệ thống NH Nước ngoài

Biểu đồ 2.2: Tỷ trọng thanh toán XK của các ngân hàng tại TP.HCM

(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước CN TP.Hồ Chí Minh)

Mặc dù vậy, nếu so với hoạt động thanh toán quốc tế trong toàn hệ thống NHNo & PTNTVN thì doanh số hoạt động thanh toán quốc tế của các chi nhánh trên địa bàn TP.HCM luôn chiếm tỷ trọng từ 25% - 30%

Biểu đồ 2.3: Biểu đồ so sánh doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của

các chi nhánh tại TP.Hồ Chí Minh với NHNo & PTNTVN

Nguồn: Báo cáo thường niên năm 2007 và 2008 của NHNo & PTNTVN và Văn phòng Đại diện khu vực Miền Nam các năm 2005, 2006, 2007 và 2008

Trang 36

Tuy nhiên, doanh số thanh toán quốc tế trên địa bàn TP.HCM đạt được kết quả trên chủ yếu do ba chi nhánh Sài Gòn, TP.Hồ Chí Minh và Mạc Thị Bưởi đóng góp Doanh số thanh toán quốc tế của ba chi nhánh này luôn chiếm trên 80% trong tổng doanh số của các chi nhánh trên địa bàn Trong ba chi nhánh trên, doanh số của chi nhánh Sài Gòn luôn chiếm tỷ lệ trên 60% do lợi thế của chi nhánh với tiền thân là Sở giao dịch 2 cũ Nguyên nhân của sự mất cân đối trên là

do ngoài ba chi nhánh Sài Gòn, TP.Hồ Chí Minh và Mạc Thị Bưởi thì hầu hết các chi nhánh còn lại tham gia vào hoạt động thanh toán quốc tế sau năm 2000 nên bước đầu cũng gặp nhiều khó khăn Ngoài ra, một lý do khác giải thích cho sự mất cân đối trên là với ưu thế về hoạt động huy động vốn và tín dụng của hệ thống NHNo & PTNT từ trước đến nay nên các hoạt động trên được chú trọng nhiều trong khi hoạt động thanh toán quốc tế ở một số chi nhánh chưa được quan tâm đúng mức Tuy nhiên, trong những năm gần đây các chi nhánh NHNo & PTNT tại TP.HCM đã nổ lực vươn lên trong việc phát triển các dịch vụ thanh toán quốc tế Điều này được thể hiện qua sự tăng trưởng về doanh số thanh toán xuất nhập khẩu cũng như tỷ trọng của các chi nhánh trong giai đoạn 2004-2008 với xu thế tỷ trọng của các chi nhánh tăng dần

Bảng 2.1: Doanh số thanh toán xuất nhập khẩu của các

CN NHNo & PTNT tại TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2004 - 2008

Đơn vị: triệu USD

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w