1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

89 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 89
Dung lượng 1,43 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” là công trình

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN CHI PHÍ SỬ

DỤNG NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- -

NGUYỄN HƯƠNG GIANG

TÁC ĐỘNG CỦA CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH ĐẾN CHI PHÍ SỬ

DỤNG NỢ CỦA CÁC DOANH NGHIỆP

NHỎ VÀ VỪA Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH: KẾ TOÁN

MÃ SỐ: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS NGUYỄN XUÂN HƯNG

TP Hồ Chí Minh – Năm 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bài luận văn thạc sĩ với đề tài “Tác động của chất lượng báo cáo tài chính đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam”

là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi theo sự hướng dẫn của

PGS.TS Nguyễn Xuân Hưng Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung

thực, có nguồn gốc rõ ràng, cụ thể và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung và tính trung thực của Luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày tháng năm

Nguyễn Hương Giang

Trang 4

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH ẢNH

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Câu hỏi nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 4

7 Kết cấu đề tài 5

8 Ý nghĩa nghiên cứu 5

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 7

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa chất lượng BCTC đo lường bằng chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ 7

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 7

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 11

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT 14

2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ 14

2.1.1 Biến kế toán dồn tích (Accrual) 14

2.1.2 Quản trị lợi nhuận (Earning Management) 14

2.1.3 Chất lượng lợi nhuận (Earning Quality) 18

2.1.4 Chất lượng BCTC (Financial Report Quality) 19

2.1.5 Đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận 21

2.1.6 Chi phí sử dụng nợ (The cost of debt) 27

Trang 5

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm 31

2.3.2 Lý thuyết thông tin bất cân xứng 33

CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36

3.1 Thiết kế nghiên cứu 36

3.1.1 Quy trình nghiên cứu 36

3.1.2 Dữ liệu nghiên cứu 37

3.2 Mô hình nghiên cứu 38

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 38

3.2.2 Đo lường biến 40

3.3 Phương pháp ước lượng 49

CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 52

4.1 Thống kê mô tả và ma trận tương quan 52

4.2 Phân tích kết quả ước lượng 59

CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 66

5.1 Kết luận 66

5.2 Kiến nghị 67

5.3 Hạn chế đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo 68

5.3.1 Hạn chế đề tài 68

5.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 69 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HĐQT Hội đồng quản trị

BCKQKD Báo cáo kết quả kinh doanh

BCTC Báo cáo tài chính

CAPM Capital asset pricing model - Mô hình định giá tài sản vốn

CBTT Công bố thông tin

HNX Sở giao dịch chứng khoán Tp.Hà Nội

HOSE Sở giao dịch chứng khoản Tp.Hồ Chí Minh

IASB International Accounting Standards Board – hội đồng chuẩn

mực kế toán quốc tế

OLS Ordinary least squares - Phương pháp hồi quy kết hợp tất cả

các quan sát

OTC Thị trường giao dịch phi tập trung

QTLN Quản trị lợi nhuận

S&P 500 Standard & Poor's 500 Stock Index - Chỉ số cổ phiếu 500 của

Standard & Poor

SEC Security and Exchange Commission - Ủy ban chứng khoán và

thị trường chứng khoán Mỹ

SMEs Small and medium-sized enterprises - Các doanh nghiệp nhỏ

và vừa

TTKT Thông tin kế toán

UPCOM Thị trường giao dịch cổ phiếu của các công ty chưa niêm yết

VAS Vietnam Accounting Standard- Chuẩn mực kế toán Việt Nam

VCP Vốn cổ phần

Trang 7

Bảng 0.1 Tình hình vay nợ và vốn cổ phần của các doanh nghiệp từ năm 2005

– 2015 1

Bảng 3.1 Tóm tắt phương pháp đo lường biến trong luận văn 47

Bảng 4.1 Thống kê miêu tả các biến quan sát trong luận văn 51

Bảng 4.2 Ma trận tương quan các biến trong luận văn 56

Bảng 4.3 Kết quả ước lượng mô hình nghiên cứu xác định chi phí sử dụng nợ 58

Trang 8

Hình 3.1 Thiết kế quy trình nghiên cứu 35 Hình 3.2 Số lượng doanh nghiệp nhỏ và vừa theo ngành nghề kinh doanh 37 Hình 3.3 Mô hình nghiên cứu 38 Hình 4.1 Diễn biến lãi suất cho vay của Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015 53 Hình 4.2 Diễn biến điều chỉnh lợi nhuận của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2006 – 2014 54

Trang 9

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Chất lượng báo cáo tài chính (BCTC) là một trong những chủ đề nghiên cứu phổ biến trong ngành kế toán, có liên quan tới việc cung cấp thông tin cho các bên liên quan trong doanh nghiệp Trong mối quan hệ giữa doanh nghiệp và chủ nợ, việc thiết lập các điều khoản trong hợp đồng tín dụng, bên cho vay thường chủ yếu dựa vào các con số trong BCTC Vì vậy, khi xảy ra hiện tượng bất cân xứng thông tin do chất lượng thông tin thể hiện trên báo cáo tài chính thấp sẽ làm ảnh hưởng đến các quyết định tài trợ Các doanh nghiệp có mức bất cân xứng thông tin cao sẽ khó tiếp cận với các nguồn tài trợ bên ngoài hơn hoặc gặp phải những điều khoản cho vay khắc khe, rút ngắn thời hạn cho vay và chịu chi phí sử dụng vốn cao, được coi như là sự bảo vệ bằng giá mà chủ nợ đặt ra nhằm hạn chế rủi ro tín dụng

Tại Việt Nam, nguồn tài trợ đến từ việc vay nợ còn chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu vốn, bảng 0.1 dưới đây cho thấy tình hình vay nợ và vốn cổ phần của các doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015

Bảng 0.1 Tình hình vay nợ và vốn cổ phần của các doanh nghiệp từ năm 2005 –

2015

Vay nợ VCP Vay nợ VCP Vay nợ VCP Vay nợ VCP

Trang 10

Nguồn: Tổng hợp số liệu từ Stox.vn

Từ bảng số liệu trên cho thấy trong những năm gần đây, tỷ trọng nợ vay trong cấu trúc vốn của các doanh nghiệp có xu hướng giảm, một trong những nguyên nhân

có thể đến từ việc bất cân xứng thông tin giữa doanh nghiệp và các trung gian tài chính

- làm doanh nghiệp khó có thể tiếp cận với các nguồn tài trợ vì chi phí sử dụng nợ cao

Để kiểm tra liệu chất lượng BCTC có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ hay không, một số nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đã được thực hiện như: nghiên cứu của Francis và các cộng sự (2005), Gao (2010), Lambert và các cộng sự (2006) kết quả thu được cho thấy các kết luận khác nhau về mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ tại các bối cảnh và thị trường khác nhau Xét tại Việt Nam, theo như hiểu biết của tác giả thì các nghiên cứu trước đây đơn thuần chỉ xem xét (i) các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, (ii) các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ tại Việt Nam; chưa thật sự đưa ra bằng chứng thực nghiệm cho mối liên hệ giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ, đặc biệt là tại các doanh nghiệp nhỏ và

vừa có khả năng tiếp cận vốn khó Do đó, tác giả tiến hành lựa chọn đề tài “Tác động của chất lượng BCTC đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam” làm đề tài nghiên cứu Thông qua đó cho thấy vai trò của việc cung cấp

thông tin chất lượng cao trên BCTC sẽ giúp giảm chi phí sử dụng vốn vay, mở ra cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa thiếu vốn có thể tiếp cận nguồn vốn vay, giúp tồn tại

và phát triển trong nền kinh tế thị trường nhiều biến động như hiện nay Đồng thời cung cấp công cụ đánh giá chất lượng BCTC cho chủ nợ, để họ có thể cấp tín dụng cho đúng đối tượng, nhằm giảm thiểu rủi ro tín dụng

Trang 11

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của bài nghiên cứu như sau:

- Xem xét tác động của chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay

- Đề xuất các kiến nghị liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng

và quản lý chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam hiện nay

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết các mục tiêu nghiên cứu trên, luận văn tập trung vào các câu hỏi nghiên cứu sau:

- Tác động của chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam như thế nào?

- Cần đề xuất một số kiến nghị nào đối với các đối tượng liên quan đến việc trình bày và công bố, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam hiện nay?

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu mà tác giả hướng đến là chất lượng báo cáo tài chính và chi phí sử dụng nợ vay của các doanh nghiệp nhỏ và vừa Cụ thể là tác giả sẽ sử dụng

dữ liệu trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong giai đoạn 2005 – 2015

5 Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nghiên cứu: Trong luận văn tác giả giới hạn lại chỉ nghiên cứu việc đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận Do đó, dữ liệu nghiên cứu dự kiến bao gồm các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2005 – 2015 Theo quy định tại khoản 1, Điều 3 Nghị định số 56/2009/NĐ-CP ngày 30/6/2009 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa thì doanh nghiệp hoạt động trong ngành nông,

Trang 12

lâm nghiệp và thủy sản, công nghiệp và xây dựng, thương mại và dịch vụ lần lượt có tổng nguồn vốn tương ứng từ 100 tỷ đồng trở xuống, từ 100 tỷ đồng trở xuống và từ 50

tỷ đồng trở xuống thuộc doanh nghiệp nhỏ và vừa Hơn thế nữa, các công ty trong mẫu nghiên cứu phải đảm bảo dữ liệu của các công ty phải là liên tục trong giai đoạn nghiên cứu 2005 – 2015, các công ty không có sẵn dữ liệu liên tục thì sẽ được loại trừ ra khỏi mẫu nghiên cứu Đồng thời, tiêu chí cuối cùng được xem xét trong quá trình lựa chọn công ty là các công ty được lựa chọn là các công ty phi tài chính, tức là các công ty không hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng, bảo hiểm, các quỹ đầu tư và công ty chứng khoán Cuối cùng, mẫu nghiên cứu mà tác giả có được bao gồm 96 doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 2005 – 2015 hoạt động trong 7 ngành khác nhau

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu của đề tài được sử dụng là nghiên cứu định lượng, với nguồn dữ liệu thứ cấp lấy từ báo cáo tài chính hợp nhất của các công ty phi tài chính từ năm 2005 – 2015 được công bố tại các website chứng khoán Sau khi thu thập đầy đủ thông tin, tác giả tiến hành sàn lọc, lựa chọn và tính toán ra các dữ liệu cần thiết phù hợp với các tiêu chuẩn đã được đặt ra cho cuộc nghiên cứu Bước tiếp theo tác giả tiến hành thống kê mô tả để phát hiện ra những đặc trưng của dữ liệu Theo sau đó đến kiểm tra khiếm khuyết của mô hình như hiện tượng đa cộng tuyến và sử dụng kiểm định đa biến cho mô hình và giả thuyết nghiên cứu bằng phương pháp ước lượng GMM để khắc phục các khiếm khuyết mắc phải Đồng thời bài nghiên cứu cũng sẽ sử dụng phương pháp tổng hợp cho phần tổng quan các nghiên cứu có liên quan để có cái nhìn chung nhất về vấn đề và có thể rút ra được yếu tố kế thừa từ các bài nghiên cứu trước Tác giả cũng tiến hành thêm phương pháp so sánh và phân tích cho các kết quả thu được trong phần bàn luận để có được nhận định cuối cùng về vấn đề cần nghiên cứu

Trang 13

7 Kết cấu đề tài

Luận văn được xây dựng thành 5 chương:

Chương 1: Giới thiệu tổng quan các nghiên cứu có liên quan

Chương 2: Cơ sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

8 Ý nghĩa nghiên cứu

8.1 Ý nghĩa khoa học:

Việc nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng báo cáo tài chính đo lường theo chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ ở các doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam không chỉ góp phần giải thích hoàn thiện lý thuyết làm tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu có liên quan Đặc biệt, kết quả kiểm định trong bài nghiên cứu của tác giả còn giải thích mức độ chất lượng lợi nhuận ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn ở Việt Nam

8.2 Ý nghĩa thực tiễn:

Mục tiêu chính của bài luận văn là giải thích mối quan hệ chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ Hay nói cách khác, tác giả nghiên cứu tác động của chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận đến chi phí sử dụng nợ

Dựa trên những phát hiện trong bài luận văn này, tác giả tin rằng đề tài chất lượng báo cáo tài chính sẽ thu hút được sự chú ý của các nhà quản lý doanh nghiệp và các trung gian tài chính, khi chúng tác động kinh tế đáng kể đến chi phí sử dụng vốn

Trang 14

Từ đó đưa ra các kiến nghị hàm ý chính sách cho các doanh nghiệp nhằm mục đích giảm chi phí sử dụng nợ cũng như giảm vấn đề bất cân xứng thông tin của các doanh nghiệp Do đó, các ứng dụng từ bài nghiên cứu của tác giả có thể đáng giá không chỉ với doanh nghiệp và các nhà quản lý trung gian tài chính mà còn các nhà tạo lập chính sách

Hơn nữa, trên cơ sở đó có một kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng báo cáo tài chính của các công ty nhỏ và vừa, đồng thời kết quả nghiên cứu này là thông tin tham khảo hữu ích và quan trọng cho nhiều đối tượng có liên quan như cơ quan quản lý Nhà nước, nhà quản lý doanh nghiệp, ngân hàng, các nhà đầu tư và các đối tượng khác có liên quan trong bối cảnh thực trạng chất lượng BCTC của các doanh nghiệp Việt Nam đang rất được nhiều đối tượng liên quan quan tâm hiện nay

Trong phạm vi bài luận văn này, tác giả sẽ tiếp cận và phân tích dưới nhiều góc

độ khác nhau bằng cách sử dụng phương pháp định lượng dựa trên nghiên cứu của Bauwhede và các cộng sự (2015) Cụ thể, tác giả sẽ tiến hành sử dụng dữ liệu của các doanh nghiệp nhỏ và vừa phi tài chính trong giai đoạn 2005 – 2015 Kết quả nghiên cứu làm sáng tỏ hơn về mối quan hệ giữa chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp tại Việt Nam và từ đó đưa ra các giải pháp giúp ích cho các doanh nghiệp có thể tiếp cận với các nguồn tài trợ bên ngoài với chi phí rẻ hơn và giảm vấn đề bất cân xứng thông tin tại thị trường Việt Nam

Trang 15

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN

QUAN Giới Thiệu

Trong chương này tác giả tổng quan các nghiên cứu có liên quan đến chủ đề nghiên cứu ở nước ngoài và trong nước, qua đó đưa ra lỗ hổng nghiên cứu (research gap)

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận và chi phí sử dụng nợ

1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới

Một trong các nỗ lực gần đây của các nhà nghiên cứu đã tập trung vào chất lượng BCTC trong mối quan hệ với chi phí sử dụng vốn Anderson và các cộng sự (2003) thu thập mẫu 252 công ty công nghiệp từ cơ sở dữ liệu của Lehman Brothers Fixed Income và S&P 500 giai đoạn 1993 đến 1998, các tác giả lập luận rằng HĐQT

và kích thước ban kiểm toán có liên quan nghịch biến đến chi phí sử dụng nợ Điều này cho thấy rằng, quy mô HĐQT lớn hơn và kích thước ban kiểm toán cung cấp 1 sự giám sát lớn hơn các quy trình kế toán tài chính Quy mô của hội đồng quản trị và sự độc lập hoàn toàn bên kiểm toán sẽ có ảnh hưởng cùng chiều với độ tin cậy của chất lượng BCTC và do đó sẽ làm giảm đáng kể chi phí sử dụng nợ

Việc nâng cao chất lượng BCTC yêu cầu các doanh nghiệp cần cung cấp nhiều thông tin hơn với chất lượng thông tin tăng lên, để đảm bảo rằng những người tham gia thị trường có đầy đủ thông tin để đưa ra các quyết định về đầu tư, tín dụng,… Thông tin có chất lượng cao tạo điều kiện cho sự minh bạch, điều này sẽ giúp làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin, thỏa mãn các yêu cầu của nhà đầu tư và cổ đông Hàng loạt lợi thế của việc cung cấp thông tin có chất lượng cao đã được các nhà nghiên cứu nhắc đến: nâng cao chất lượng BCTC sẽ làm giảm rủi ro thông tin và tính thanh khoản, hạn

Trang 16

chế các nhà quản lý sử dụng quyền lợi của họ cho các lợi ích riêng, giúp họ đưa ra các quyết định đầu tư hiệu quả hơn Hơn nữa, Lambert và các cộng sự (2006) phát triển mô hình dựa vào mô hình CAPM và cho thấy rằng chất lượng BCTC ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn theo hướng trực tiếp – nhận thức của nhà đầu tư về việc phân bổ dòng tiền trong tương lai, và theo hướng gián tiếp – các quyết định của các doanh nghiệp về dòng tiền tương lai Với ảnh hưởng trực tiếp của chất lượng BCTC thì chất lượng BCTC không phải là một nhân tố rủi ro thông tin riêng biệt Hay nói cách khác, ảnh hưởng này không được đa dạng hóa trong nền kinh tế có quy mô lớn Chất lượng của thông tin kế toán ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn của doanh nghiệp, cả trực tiếp và gián tiếp

Yee (2006) xây dựng một mô hình mà trong đó các nhà đầu tư mạo hiểm giao dịch các trái phiếu phi rủi ro và các cổ phiếu rủi ro để đa dạng hóa danh mục Mô hình này cho thấy rằng nếu không có sự chắc chắn về việc chi trả cổ tức trong tương lai, chất lượng BCTC sẽ làm gia tăng phần bù rủi ro Tác giả cũng cho rằng cho đến khi vẫn còn nhân tố đa dạng danh mục không chắc chắn (chi trả cổ tức trong tương lai là không chắc chắn) và các nhà đầu tư không hoàn toàn bình tĩnh, chất lượng lợi nhuận bị giới hạn sẽ làm tăng phần bù rủi ro vốn cổ phần

Theo nghiên cứu thực nghiệm của Kim và Qi (2008) đối với các doanh nghiệp tại Mỹ Nhóm tác giả sử dụng bộ dữ liệu hàng năm của CRSP / Compustat Merged để thu được lợi tức cổ phiếu hàng tháng và dữ liệu kế toán hằng năm Mẫu được thu thập

từ tháng 1/1970 đến tháng 12/2006 Sau khi xem xét các chứng khoán có giá thấp, các tác giả kết luận rằng chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận (sử dụng

mô hình kế toán dồn tích) và tìm thấy một tác động về giá đáng kể của chất lượng dồn tích đến lợi nhuận cổ phiếu Nhóm tác giả cũng nhận thấy yếu tố nguy cơ chất lượng dồn tích là có ý nghĩa thống kê với nền kinh tế ở Mỹ sau khi loại trừ các cổ phiếu giá thấp Hơn nữa, nhóm tác giả cũng cho thấy rằng phí bảo hiểm rủi ro chất lượng dồn

Trang 17

tích gắn liền với rủi ro cơ bản liên quan đến điều kiện kinh tế vĩ mô và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp

Hơn thế nữa, Gray và các cộng sự (2009) đã tăng thêm bằng chứng thực nghiệm bằng cách giải thích các doanh nghiệp ở thị trường Úc Mẫu được chọn từ dữ liệu kế toán cho nghiên cứu được rút ra từ cơ sở dữ liệu FindAnalysis Aspect cho giai đoạn 1992-2005 Nhóm tác giả đã sử dụng dụng mô hình chất lượng dồn tích của Dechow và Dichev (2002) và đã cung cấp bằng chứng về rủi ro thông tin Cụ thể hơn, họ tìm thấy rằng rủi ro thông tin thể hiện như là một nhân tố tạo ra rủi ro về giá trong các doanh nghiệp Úc và ảnh hưởng đến việc quyết định chi phí sử dụng vốn Nhóm tác giả cũng

đã chỉ ra rằng chi phí sử dụng vốn phụ thuộc nhiều vào các khoản dồn tích tự nguyện hơn là các khoản dồn tích tùy ý

Theo Gao (2010) tìm thấy mối quan hệ nghịch biến giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng vốn chỉ tồn tại với một số điều kiện nhất định Với nền kinh tế có sự cạnh tranh của các nhà đầu tư là hoàn hảo, tác giả đưa ra các điều kiện mà ở đó mối quan hệ nghịch biến giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng vốn có thể sẽ không xảy

ra Chất lượng công bố thông tin BCTC cải thiện phúc lợi của nhà đầu tư bằng cách giảm chi phí sử dụng vốn

Costello và Wittenberg-Moerman (2010) đã thu thập dữ liệu về các báo cáo kiểm soát nội bộ yếu kém theo đạo luật Sarbanes-Oxley, từ những phân tích của kiểm toán ở mục 302 Mẫu ban đầu gồm 2,231 công ty có báo cáo yếu kém trọng yếu trong giai đoạn từ tháng 9/2002 đến tháng 7/2008 Nhóm tác giả kết hợp mẫu báo cáo kiểm soát nội bộ của họ với các công ty nhà nước trong cơ sở dữ liệu của DealScan và giữ lại tất cả các khoản vay đã được phát hành trước đó, bao gồm cả kỳ chưa chỉnh sửa và được chỉnh sửa Sau khi điều chỉnh nhóm tác giả yêu cầu công ty phải có ít nhất 1 khoản vay đã phát hành trong kỳ trước và ít nhất 1 khoản vay được phát hành trong thời gian không sửa chữa hoặc đã chỉnh sửa để đảm bảo rằng kết quả của nhóm tác giả

Trang 18

không không dẫn tới sai lệch do sự thay đổi thành phần của mẫu Các tác giả đo lường chất lượng BCTC bởi những yếu kém trọng yếu trong các báo cáo kiểm soát nội bộ của Sarbanes-Oxley và kết luận rằng, chất lượng BCTC ảnh hưởng ngược chiều đến việc định giá các khoản vay

Theo Choi và Pae (2011) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và chất lượng BCTC tại Hàn Quốc đã đo lường chất lượng BCTC theo 3 cách đó là QTLN (sử dụng biến kế toán dồn tích), kế toán thận trọng và tính chính xác của dồn tích về dòng tiền hoạt động trong tương lai Kết quả cho thấy các doanh nghiệp thể hiện sự cam kết cao hơn sẽ có chất lượng BCTC cao hơn Những doanh nghiệp này cũng cho thấy việc quản trị lợi nhuận ít hơn, các BCTC nhất quán hơn, và dự báo dòng tiền chính xác hơn các doanh nghiệp khác Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn ảnh hưởng đến việc duy trì chất lượng BCTC trong tương lai

Gần đây hơn, Caneghem và Campenhout (2012) đưa ra bằng chứng rằng đòn bẩy có mối quan hệ đồng biến đến chất lượng BCTC của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa Nhóm tác giả sử dụng hàng loạt các biến thể hiện chất lượng BCTC dựa trên sự xác minh của các kiểm toán viên để kiểm tra ảnh hưởng của chất lượng BCTC đến đòn bẩy của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa Hơn nữa, các nghiên cứu sử dụng xác nhận của kiển toán viên – dựa trên các mẫu này với giả định rằng xác minh từ các kiểm toán viên sẽ làm tăng chất lượng thông tin trong các BCTC và xem xét các vấn đề (1) xác minh của kiểm toán viên cải thiện chất lượng BCTC và (2) chất lượng BCTC ảnh hưởng đến sự sẵn có và khả năng sử dụng nợ Kết quả cho rằng chất lượng của mẫu BCTC ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn tín dụng của các doanh nghiệp

có quy mô nhỏ và vừa và do đó sẽ ảnh hướng đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp này

Bauwhede và các cộng sự (2015) sử dụng chất lượng dồn tích đại diện cho chất lượng BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong giai đoạn 1997 – 2010, và tìm

Trang 19

thấy bằng chứng rằng chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa có ảnh hưởng ngược chiều đến chi phí lãi vay của các doanh nghiệp Các tác giả lập luận rằng lợi nhuận là nhân tố quan trọng để các chủ nợ dự báo các khả năng trả nợ của các doanh nghiệp nhỏ và vừa (chẳng hạn như dòng tiền trong tương lai) và sai sót nhỏ trong việc ước tính các khoản dồn tích có thể gia tăng chất lượng lợi nhuận để dự báo dòng tiền trong tương lai Các tác giả cũng kết luận rằng chất lượng BCTC càng cao sẽ càng có thể làm giảm vấn đề bất cân xứng thông tin giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa và các chủ nợ của họ Tóm lại, các nghiên cứu trước đây đề nghị rằng mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ là mối quan hệ ngược chiều

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận cũng có 1 số nhà nghiên cứu quan tâm, cụ thể như sau:

Bài nghiên cứu của Bùi Thị Thủy (2014) đã xem xét chất lượng kiểm toán báo cáo tài chính đối với các doanh nghiệp niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam Kết quả cho thấy có 3 nhóm nhân tố chính ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính, bao gồm: nhân tố bên ngoài (môi trường pháp lý, doanh nghiệp niêm yết và kiểm soát bên ngoài và khác), nhân tố về kiểm toán viên và nhân tố công ty kiểm toán Từ đó, tác giả đã đưa ra các biện pháp để giúp tăng chất lượng của BCTC Đầu tiên, kinh nghiệm,

ý thức tuân thủ quy định và tính chuyên nghiệp của các kiểm toán viên cần được nâng cao Thứ hai, cần nâng cao tính hiệu quả của các chính sách quản lý, vận hành, cùng các phương pháp được sử dụng của các công ty kiểm toán Thứ ba, các cơ quan có thẩm quyền nên tăng tính hiệu quả trong vai trò hỗ trợ đào tạo, tọa đàm trao đổi kinh nghiệm

Theo tác giả Trần Thị Thùy Linh cùng cộng sự (2015) đã cho thấy chất lượng BCTC và kỳ hạn nợ ảnh hưởng cùng chiều đến hiệu quả đầu tư của doanh nghiệp Việt

Trang 20

Nam Cụ thể, theo nhóm tác giả chất lượng BCTC và kỳ hạn nợ thể hiện mức độ thay thế với nhau trong việc tăng hiệu quả đầu tư hay chất lượng BCTC tốt hơn sẽ nâng cao hiệu quả đầu tư Để hiểu rõ hơn về lập luận này, nhóm tác giả đã dẫn chứng rằng các doanh nghiệp ít sử dụng các khoản nợ ngắn hạn thì chất lượng BCTC ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư cao hơn Từ đó, các nhà quản trị tài chính có thể thấy được vai trò của chất lượng báo cáo tài chính và kỳ hạn nợ đến hiệu quả đầu tư của các doanh nghiệp Việt Nam

Theo nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn và Hoàng Thị Thu Hoài (2015) về ảnh hưởng của đặc điểm doanh nghiệp đến mức độ công bố thông tin trên HOSE Các tác giả đã sử dụng mẫu gồm 100 công ty trên HOSE theo phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Dữ liệu được chọn là các báo cáo thường niên vào năm 2013 và sử dụng phương pháp chỉ số công bố thông tin để đo lường mức độ công bố thông tin Qua phân tích hồi quy, kết quả nghiên cứu cho thấy mức độ công bố trong BCTC của các công ty niêm yết chưa cao Hơn nữa, về phía các nhân tố tác động như các yếu tố thành phần của HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, đòn bẩy tài chính, tỷ lệ sở hữu nước ngoài đều có ảnh hưởng đến mức độ công bố thông tin, các nhân tố còn lại không ảnh hưởng

Gần đây, nghiên cứu của Phạm Thị Bích Vân (2015) đã phân tích về hai khía cạnh của quản trị lợi nhuận đó là QTLN thông qua biến kế toán dồn tích và thông qua

sự dàn xếp các giao dịch thực Dữ liệu được tác giả thu thập từ 111 công ty phát hành thêm cổ phiếu niêm yết trên HOSE vào năm 2011 Kết quả cho thấy rằng, các doanh nghiệp này có hành vi điều chỉnh lợi nhuận thông qua sự can thiệp vào các giao dịch thực và nhà quản trị có sự điều tiết lẫn nhau giữa QTLN thông qua biến kế toán dồn tích và thông qua sự dàn xếp các giao dịch thực khi thực hiện điều chỉnh lợi nhuận

Trong bài luận án của Nguyễn Thị Phương Hồng (2016) đã xác định được 17 nhân tố tác động đến chất lượng báo cáo tài chính của các doanh nghiệp niêm yết tại Việt Nam Trong đó chất lượng báo cáo tài chính được đo lường theo chất lượng lợi

Trang 21

nhuận dựa trên cơ sở kế toán và thị trường Kết quả nghiên cứu ở Việt Nam cho thấy

có nhiều sự khác biệt so với kết quả ở các quốc gia khác, từ đó giúp cho các đối tượng

có liên quan cải thiện được việc lập và trình bày, sử dụng và quản lý chất lượng BCTC của các doanh nghiệp niêm yết ở Việt Nam

Như vậy, các nhà nghiên cứu tại Việt Nam cũng đã bước đầu quan tâm đến việc nghiên cứu các chủ đề liên quan đến BCTC Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu đã thực hiện chỉ dừng lại ở việc phân tích các nội dung cơ bản liên quan đến BCTC, chỉ có một vài nghiên cứu về mức độ công bố thông tin, tính minh bạch của BCTC, chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng mà chưa có nghiên cứu nào đi sâu vào việc phân tích định lượng chất lượng BCTC đo lường theo chất lượng lợi nhuận với chi phí

sử dụng nợ Do đó, tác giả nhận thấy đây là lỗ hổng nghiên cứu để tác giả tiến hành nghiên cứu mối quan hệ giữa chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp tại Việt Nam nhằm hoàn thiện nội dung nghiên cứu về chủ đề này

Kết luận

Trong chương 1, tác giả đề cập đến những nghiên cứu mà tác thu thập được có liên hệ với đề tài mà tác giả đang thực hiện cả trong và ngoài nước Đối với bài nghiên cứu nước ngoài, khi kiểm tra mối quan hệ giữa chi phí sử dụng nợ và chất lượng BCTC cho thấy có mối quan hệ nghịch biến giữa hai yếu tố này như trong nghiên cứu của Bauwhede và các cộng sư (2015) Tuy nhiên tại Việt Nam, còn khan hiếm các đề tài nghiên cứu về mối quan hệ trên, dựa vào đó tác giả xác định lỗ hổng nghiên cứu làm ý tưởng cho việc thực hiện đề tài này

Trang 22

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT Giới thiệu

Trong chương này tác giả đưa ra các cơ sở lý thuyết về chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ Bao gồm đưa ra các cách đo lường chất lượng BCTC và chi phí sử dụng nợ; các cơ sở lý thuyết có liên quan đến chi phí sử dụng nợ của các doanh nghiệp; cũng như xác định các nhân tố (ngoại trừ chất lượng báo cáo tài chính) có ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ

2.1 Một số khái niệm và thuật ngữ

2.1.1 Biến kế toán dồn tích (Accrual)

Theo VAS số 01 – Chuẩn mực chung, nguyên tắc cơ sở dồn tích được định nghĩa như sau: “Mọi nghiệp vụ kinh tế, tài chính của doanh nghiệp liên quan đến tài sản, nợ phải trả, nguồn vốn chủ sở hữu, doanh thu, chi phí phải được ghi sổ kế toán vào thời điểm phát sinh, không căn cứ vào thời điểm thực tế thu hoặc thực tế chi tiền hoặc tương đương tiền BCTC lập trên cơ sở dồn tích phản ảnh tình hình tài chính của doanh nghiệp trong quá khứ, hiện tại và tương lai” Kế toán doanh nghiệp dựa trên cơ sở dồn tích nên lợi nhuận trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh là lợi nhuận dồn tích Trong khi đó, dòng tiền từ hoạt động kinh doanh trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ theo

cơ sở tiền – điều này có nghĩa là nhà quản trị chỉ được ghi nhận nghiệp vụ phát sinh khi

có số tiền thực thu và thực chi, không thể điều chỉnh thời điểm ghi nhận giao dịch Chính vì vậy, hai biến này có độ chênh lệch Độ lệch này chính là biến kế toán dồn tích Hay nói cách khác biến kế toán dồn tích là phần lợi nhuận kế toán không bằng tiền được trình bày trong BCTC

2.1.2 Quản trị lợi nhuận (Earning Management)

Quản trị lợi nhuận là 1 trong 3 quan điểm để nghiên cứu chất lượng BCTC: quản trị lợi nhuận, chỉnh sửa BCTC và gian lận Đặc biệt quản trị lợi nhuận lại được

Trang 23

xem là quan điểm mang lại hiệu quả tối ưu nhất khi tiếp cận BCTC vì đó là gian lận phổ biến nhất trong thị trường vốn (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016) Việc QTLN là một chiến lược của các nhà quản trị để quản lý được lợi nhuận của các doanh nghiệp, nâng cao mức lợi nhuận, đáp ứng các mục tiêu đã đề ra trước đó của ban lãnh đạo Do

đó, thay vì báo cáo lợi nhuận cao bất thường của doanh nghiệp trong một năm và lợi nhuận thấp vào những năm khác, các doanh nghiệp thường cố gắng giữ mức lợi nhuận

ổn định hằng năm

Theo Security and Exchange Commission (SEC), việc lạm dụng QTLN là một cách thức làm sai kết quả BCTC có chủ ý Khi mức độ ổn định của lợi nhuận bị phóng đại, SEC có quyền đưa ra các hình phạt Các phương pháp được sử dụng bởi các nhà quản lý để làm ổn định lợi nhuận có thể phức tạp, có thể liên quan đến các lựa chọn kế toán hoặc các quyết định điều hành (cũng có thể gọi là quản lý kinh tế lợi nhuận) Các nhà quản lý luôn hứa sẽ đem lại những con số lợi nhuận cao nên sẽ có những lúc bị cám dỗ để bịa ra những con số Chính vì vậy, việc QTLN là một hành động cố ý, hành động này có thể hợp pháp hoặc không

Mỗi giám đốc điều hành phải hiểu rằng tác động của các lựa chọn các phương pháp kế toán có thể tác động đến các quyết định của doanh nghiệp Việc QTLN còn được gọi là “cách quản lý hợp lý và hợp pháp với mục đích tạo ra được các kết quả tài chính ổn định” Việc QTLN không được nhầm lẫn với các hoạt động không hợp pháp với mục đích phóng đại các báo cáo tài chính và kết quả báo cáo không phản ánh được nền kinh tế thực tế Những hoạt động này được gọi là “book cooking” bao gồm các hoạt động phóng đại kết quả tài chính

Theo các tài liệu trước đây, các hành động trên sẽ dẫn đến việc các nhà quản lý phải gặp những tình trạng vượt qua ranh giới của việc QTLN và “book cooking” Những áp lực của nhà quản lý khi phải tạo ra các lợi nhuận báo cáo cao được xác nhận bởi một cuộc khảo sát được thực hiện ở hội nghị Business Week CFO được tổ chức vào năm 2001, theo đó 55% CEO được khảo sát đã bị yêu cầu làm giả kết quả tài

Trang 24

chính, 17% trong đó đã đồng ý làm điều này Kết quả cho rằng 8-12% doanh nghiệp có mức lợi nhuận giảm đã phóng đại lợi nhuận để đạt được mức lợi nhuận báo cáo tăng, trong khi 30-44% các doanh nghiệp có mức lợi nhuận âm đã phóng đại lợi nhuận để tạo ra mức lợi nhuận dương Điều này cho rằng có một số lượng lớn các doanh nghiệp

đã sử dụng các phương pháp QTLN để giữ mức tăng trưởng ổn định để tránh các trường hợp rơi vào tình trạng báo cáo “red ink”

Có rất nhiều kiểm toán và kế toán trên thế giới đồng ý rằng họ đã được các nhà quản lý yêu cầu đưa ra một bức tranh màu hồng về tình hình kinh tế của doanh nghiệp

Họ cũng đồng ý rằng điều này ảnh hưởng đến các chỉ số lợi nhuận và chất lượng lợi nhuận bất kể là QTLN có hợp pháp hay không Nếu các chỉ số lợi nhuận không chính xác thì chất lượng BCTC của doanh nghiệp cũng sẽ bị nghi ngờ Do đó, chất lượng của BCTC cũng ảnh hưởng đến quyết định của các cổ đông, ngân hàng, bên cho vay, và chủ yếu là độ tin cậy của doanh nghiệp Hay nói cách khác, kế toán và kiểm toán đồng

ý rằng QTLN là một trách nhiệm của nhà quản lý Với lý do này, các phương pháp kế toán/ kiểm toán được sử dụng để thay đổi báo cáo tài chính (bao gồm cả sự thay đổi trong giá trị tài sản dài hạn) Khi QTLN bất hợp pháp, họ xem đó là gian lận cho lợi ích

cá nhân

Các phương pháp QTLN dù có hợp pháp hay không đều phản ảnh chất lượng lợi nhuận, cũng như chất lượng các BCTC của doanh nghiệp Dựa vào các tiêu chuẩn kế toán, không có sự phân biệt rạch ròi giữa QTLN và các lỗi tài chính, hay nói cách khác

là QTLN hợp pháp và không hợp pháp Từ đó, tùy theo các nhà kiểm toán và phân tích tài chính đưa ra ý kiến của họ

Có thể hiểu rằng, QTLN chính là sự điều chỉnh lợi nhuận nhằm đạt được mục tiêu mà nhà quản trị đặt ra, đó là “…một sự can thiệp có tính toán kĩ lưỡng trong quá trình công bố BCTC ra ngoài, với mục đích đạt được một số lợi ích cá nhân” (Schipper, 2003) Bên cạnh đó, QTLN có thể xảy ra khi nhà quản trị sử dụng sự điều chỉnh trong BCTC và trong cấu trúc giao dịch để thay đổi BCTC hoặc nhằm đánh lừa

Trang 25

một số bên liên quan về tình hình hoạt động kinh doanh của công ty hoặc nhằm ảnh hưởng đến kết quả các hợp đồng mà phụ thuộc vào số liệu báo cáo kế toán QTLN như những nỗ lực của nhà quản lý để gây ảnh hưởng hoặc “điều khiển” lợi nhuận bằng cách

sử dụng phương pháp kế toán đặc biệt (hoặc các phương pháp đang thay đổi), công nhận một khoản mục không định kỳ, trì hoãn hoặc đẩy nhanh việc ghi nhận các giao dịch chi phí hoặc doanh thu, hoặc sử dụng các phương pháp khác được thiết kế gây ảnh hưởng đến lợi nhuận ngắn hạn

Mặc dù có khá nhiều cách ghi nhận QTLN trước đây, nhưng trong phần lớn các nghiên cứu, đã nhóm QTLN thành hai loại là quản trị thực và quản trị lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích Ở loại thứ nhất, QTLN thực (Real Earning Management) như là một hành động có ảnh hưởng đến dòng tiền Còn QTLN dựa trên biến kế toán dồn tích (Accrual Management) chính là thông qua những thay đổi trong chính sách kế toán và ước tính kế toán có thể kể đến những nghiên cứu của Jones (1991), Dechow và các cộng sự (1995), Dechow và các cộng sự (2010)

Trong quá trình nghiên cứu đã cho tác giả thấy cách tiếp cận trực tiếp nhất nhưng cũng là cách tiếp cận phổ biến nhất đối với QTLN chính là sử dụng biến kế toán dồn tích Các ý kiến ủng hộ cho rằng các nhà quản lý sẽ sử dụng phương pháp biến kế toán dồn tích tùy ý để điều chỉnh doanh thu dịch chuyển giữa các kỳ kế toán hoặc trong việc trì hoãn chi tiêu (Jones, 1991; Dechow và các cộng sự, 1995) Biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh chính là lợi nhuận có được bằng việc vận dụng các phương pháp

kế toán – chính vì vậy nó được xem là đại diện cho QTLN Từ đó có thể thấy rằng QTLN không phải là một khái niệm mới mẻ và xa lạ, mà từ lâu đã được các nhà nghiên cứu quan tâm, đồng thời cũng cho thấy đây là một vấn đề phức tạp, khó khăn trong cách tiếp cận và định nghĩa chính xác, cụ thể và vẫn luôn là đề tài gây tranh cãi, thu hút

sự bàn luận nhằm đưa ra được định nghĩa chính xác nhất Trong luận văn này tác giả đã

sử dụng QTLN để đo lường chất lượng BCTC Và dù QTLN hợp pháp hay không hợp

Trang 26

pháp đều ảnh hưởng đến chất lượng lợi nhuận và đồng thời ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của một công ty

2.1.3 Chất lượng lợi nhuận (Earning Quality)

Chất lượng lợi nhuận là độ chính xác cụ thể vạch ra được dồn tích hiện hành dòng tiền trong năm nay, năm ngoái và năm kế tiếp Hay chất lượng lợi nhuận là mức

độ lợi nhuận thuần được trình bày trên BCKQKD khác so với lợi nhuận thực sự Một định nghĩa về chất lượng lợi nhuận nữa là “Cung cấp thêm thông tin về các tính năng của hiệu quả tài chính của một công ty mà có liên quan đến một quyết định cụ thể được thực hiện bởi một người ra quyết định cụ thể” Chính từ những vai trò quan trọng này

đã dẫn đến các công ty điều chỉnh lợi nhuận theo mục đích của họ, và vì thế có sự quan tâm ngày càng tăng về chất lượng lợi nhuận được báo cáo trong BCTC

Theo Schipper và Vincent (2003) đo lường cấu trúc và chất lượng lợi nhuận đều tập trung vào hai đặc điểm chất lượng của kế toán theo FASB đó là thích hợp và đáng tin cậy Họ cho rằng tính thích hợp của việc đánh giá mà lợi nhuận kế toán có thể được

đo lường bằng việc sử dụng giá trị tiên đoán, bền vững và phản hồi Hơn nữa theo các tác giả không có sự phân chia đo lường đối với trình bày hợp lý, có thể xác minh và trung thực Việc sử dụng biến kế toán dồn tích bất thường (có thể điều chỉnh) được đo lường độ tin cậy của lợi nhuận hay chất lượng lợi nhuận Tác giả ủng hộ quan điểm của Schipper và Vincent (2003) cấu trúc của chất lượng lợi nhuận có 4 cách phân loại là: đúng chuỗi thời gian của lợi nhuận; khái niệm chât lượng được lựa chọn theo khuôn mẫu của FASB; mối quan hệ giữa tiền, biến kế toán dồn tích và thu nhập; quyết định thực hiện

Francis và các cộng sự (2005) đã phân loại chỉ tiêu sử dụng đo lường chất lượng lợi nhuận theo 2 loại: Dựa trên cơ sở thị trường (bao gồm thích hợp, thận trọng

và kịp thời) - được ước tính trên cơ sở mối quan hệ giữa lợi nhuận kế toán với sự phản ứng lại của thị trường hoặc giá thị trường và dựa trên cơ sở các nguyên tắc kế toán (bao gồm chất lượng dồn tích, khả năng dự báo, tính ổn định của lợi nhuận và nhất quán

Trang 27

Theo nhóm tác giả cho rằng, đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên cơ sở kế toán giải thích mạnh hơn so với dựa trên cơ sở thị trường Vì vậy, trong luận văn này, tác giả sẽ

sử dụng việc đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên tiêu chí cơ sở kế toán theo biến kế toán dồn tích Mặc dù, đánh giá về mức độ giải thích của 2 cơ sở này theo các nghiên cứu trước đây có những kết quả khác nhau

2.1.4 Chất lượng BCTC (Financial Report Quality)

2.1.4.1 Chất lượng BCTC theo FASB và IASB

Theo FASB, BCTC cung cấp thông tin hữu ích cho quyết định đầu tư, cho vay; giúp đánh giá về thời gian và tính không chắc chắn của các dòng tiền cho nhà đầu tư, chủ nợ; cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế IASB cho rằng mục đích của BCTC là cung cấp thông tin về tình hình tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh và sự thay đổi tình hình tài chính; cho thấy kết quả của việc quản lý cũng như thực hiện trách nhiệm giải trình của người quản lý Qua đây có thể thấy, có sự khác nhau về đối tượng sử dụng BCTC, mục đích hướng đến của BCTC cũng khác nhau giữa FASB và IASB Trong khuôn mẫu khái niệm, cả FASB và IASB đều kết luận rằng BCTC chất lượng cao đạt được bởi việc tuân thủ mục tiêu và các đặc điểm chất lượng của thông tin BCTC, đặc điểm chất lượng đó là “những đặc tính tạo ra tính hữu ích của thông tin và được phân loại thành các đặc tính cơ bản - tăng cường phụ thuộc

và ảnh hưởng của tính hữu ích của thông tin” Hai đặc điểm chất lượng cơ bản của thông tin hữu ích là tính thích hợp và trình bày trung thực Bốn đặc điểm bổ sung là có thể so sánh được, có thể kiểm chứng, sự kịp thời, có thể so sánh được và có thể hiểu được

2.1.4.2 Chất lượng BCTC theo quan điểm của 1 số nhà nghiên cứu

Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin hữu ích cho việc đưa ra quyết định BCTC không chỉ là kết quả cuối cùng, chất lượng của quá trình kinh doanh phụ thuộc vào từng phần của nó, bao gồm cả các giao dịch của doanh nghiệp, thông tin về

Trang 28

sự lựa chọn, các phương pháp kế toán được sử dụng và tác động của các phương pháp này Hai quan điểm chung được sử dụng rộng rãi trong việc đánh giá chất lượng BCTC

đó là quan điểm thứ nhất dựa trên nhu cầu của người sử dụng thông tin và quan điểm thứ hai tập trung vào việc bảo vệ cổ đông và nhà đầu tư Đối với quan điểm thứ nhất, chất lượng BCTC được xác định dựa trên cơ sở của tính hữu ích của thông tin đối với người sử dụng thông tin đó và quan điểm thứ hai chất lượng BCTC được định nghĩa chủ yếu liên quan việc cung cấp cho cổ đông với “công bố đầy đủ và hợp lý” Francis cùng cộng sự (2005) tranh luận rằng chất lượng lợi nhuận là một khái niệm rộng bao gồm cả chất lượng kế toán và chất lượng báo cáo tài chính

Theo Bauwhede và cộng sự, 2015 việc đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận thông qua việc sử dụng mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dừa trên biến kế toán dồn tích có hai ưu điểm Thứ nhất, chất lượng lợi nhuận có khả năng

dự báo dòng tiền trong tương lai tốt hơn Không những vậy, nó còn là chìa khóa để đánh giá rủi ro vỡ nợ của doanh nghiệp mà các chủ nợ thường xem xét trước khi ký kết các hợp đồng tín dụng

Tóm lại, không có 1 định nghĩa chung nào được chấp nhận về chất lượng BCTC, chính vì vậy để đưa ra định nghĩa này vẫn còn là vấn đề nhiều tranh cãi Để đo lường chất lượng BCTC có thể chia làm 2 nhóm phương pháp chính: đo lường theo đặc điểm chất lượng và đo lường theo chất lượng lợi nhuận Nhược điểm của chất lượng BCTC đo lường theo đặc điểm chất lượng là việc đánh giá chất lượng BCTC sẽ phụ thuộc vào quan điểm chủ quan của người đánh giá, dẫn đến tình trạng kết quả nghiên cứu sẽ không phản ánh đúng thực trạng chất lượng của BCTC mà các công ty đã công

bố Còn theo phương pháp đánh dựa trên chất lượng lợi nhuận, các dữ liệu phục vụ cho việc phân tích này dựa trên thông tin sẵn có trong báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty (dữ liệu thứ cấp) và việc đánh giá chất lượng BCTC được thực hiện trực tiếp trên các dữ liệu sẵn có này Chính điều này góp phần làm cho dữ liệu đáng tin cậy hơn Ngoài ra, đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận cũng

Trang 29

rất hữu ích vì dựa trên quan điểm người sử dụng BCTC, các nhà đầu tư, chủ nợ và các nhà soạn thảo chuẩn mực kế toán Để lượng hóa chất lượng BCTC từ việc đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận, các tác giả trước đây như (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Bauwhede, 2015; Choi và Pae, 2011…) thường sử dụng 2 nhóm

mô hình đó là mô hình biến kế toán dồn tích và mô hình giá trị thích hợp của TTKT

Tuy nhiên, dù thế nào đi nữa, mục đích chung của BCTC vẫn là cung cấp các thông tin tài chính nhằm giúp cho những đối tượng sử dụng đưa ra quyết định kinh tế Tác giả ủng hộ theo quan điểm này và do đó luận văn áp dụng đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận

2.1.5 Đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận

2.1.5.1 Các cách đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận

Các tác giả trước đây thường sử dụng 2 nhóm mô hình đó là mô hình biến kế toán dồn tích và mô hình giá trị thích hợp của TTKT để lượng hóa chất lượng BCTC từ việc đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận (Nguyễn Thị Phương Hồng, 2016; Bauwhede, 2015; Choi và Pae, 2011…)

Bauwhede cùng cộng sự (2015) sử dụng biến kế toán dồn tích để đo lường chất lượng BCTC, kết quả cho thấy cách này đã đo lường chất lượng BCTC và cho phép trực tiếp kiểm tra ảnh hưởng của chất lượng báo cáo tài chính đến chi phí sử dụng nợ Kết quả bài nghiên cứu của Bauwhede cùng cộng sự (2015) cho thấy rằng chất lượng thông tin cao hơn sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin và các ngân hàng sẽ thưởng cho các doanh nghiệp có chất lượng BCTC có cao hơn bằng cách đưa ra mức lãi suất thấp hơn Những kết quả này liên quan đến cả cơ quan quản lý và các doanh nghiệp có quy

mô nhỏ và vừa Đối với cơ quan quản lý, những kết quả này cho thấy rằng thông tin trong các BCTC của các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa được sử dụng và do đó

có liên quan đến các tổ chức tham gia vào thị trường Đối với các doanh nghiệp có quy

Trang 30

mô nhỏ và vừa, kết quả cho thấy rằng các BCTC chất lượng cao nhận được các lợi ích

kinh tế, khi BCTC chất lượng cao giúp giảm thiểu chi phí sử dụng nợ tài chính

Theo Gajevszky (2015) trong nghiên cứu về đánh giá chất lượng BCTC tại Romania trong giai đoạn trước và sau khi áp dụng tiêu chuẩn BCTC quốc tế (International Financial Reporting Standards) Để đo lường chất lượng BCTC, tác giả

đã sử dụng phương pháp gián tiếp, đó là mô hình kế toán dồn tích Mô hình của Dechow và các cộng sự (1995) được sử dụng để ước lượng các biến dồn tích tùy ý và

mô hình của Kothari và các cộng sự (2005) được sử dụng để để kiểm tra tính bền vững Kết quả cho thấy các doanh nghiệp thể hiện BCTC của họ kết hợp với IFRS cho thấy mức độ chất lượng BCTC cao hơn trong giai đoạn sau IFRS được đưa ra

Theo Choi và Pae (2011) trong một nghiên cứu về mối quan hệ giữa đạo đức kinh doanh và chất lượng BCTC tại Hàn Quốc đã đo lường chất lượng BCTC theo 3 cách đó là QTLN (sử dụng biến kế toán dồn tích), kế toán thận trọng và tính chính xác của dồn tích về dòng tiền hoạt động trong tương lai Kết quả cho thấy các doanh nghiệp thể hiện sự cam kết cao hơn sẽ có chất lượng BCTC cao hơn Những doanh nghiệp này cũng cho thấy việc quản trị lợi nhuận ít bị can thiệp thì BCTC nhất quán hơn, và dự báo dòng tiền chính xác hơn các doanh nghiệp khác Ngoài ra, các doanh nghiệp này còn ảnh hưởng đến việc duy trì chất lượng BCTC trong tương lai

Schipper và Vincent (2003) tin rằng chất lượng lợi nhuận đóng vai trò quan trọng đối với những cá nhân sử dụng dữ liệu lợi nhuận với mục đích thiết lập hợp đồng

và đưa ra các quyết định đầu tư Hay nói cách khác, chất lượng lợi nhuận là một nhân

tố quan trọng trong việc đưa ra quyết định không chỉ đối với các nhà đầu tư tư nhân và

tổ chức, mà còn đối với các đối tác trong việc thiết lập hợp đồng Hơn thế nữa, điều này nhất quán với những phương pháp đưa ra quyết định được sử dụng ở IFRS được đưa ra bởi IASB Hơn nữa, các tài liệu nghiên cứu trước đây cho rằng chất lượng BCTC cao hơn làm giảm sự lựa chọn đối nghịch (Lambert cùng cộng sự, 2006) và làm giảm chi phí sử dụng vốn (Bauwhede cùng cộng sự, 2015)

Trang 31

Như vậy có rất nhiều nghiên cứu cho rằng biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh là mô hình tốt nhất dùng để ước tính chất lượng BCTC so với các mô hình khác

và trong các mô hình đo lường theo biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh thì theo nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (1995) về việc so sánh các mô hình để đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh để thông qua đó đo lường QTLN hay chất lượng BCTC Tác giả đồng ý với quan điểm này, chính vì vậy, bài nghiên cứu này của tác giả tập trung vào việc đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận và

sử dụng mô hình biến kế toán dồn tích

2.1.5.2 Một số mô hình đo lường chất lượng lợi nhuận dựa trên biến kế

toán dồn tích

Mô hình của Jones (1991)

Xây dựng trên dựa trên kế thừa mô hình của Healy (1985) và mô hình của DeAngelo (1986) Tuy nhiên, Jones đề xuất một mô hình để kiểm soát các tác động của những thay đổi trong hoàn cảnh kinh tế của một công ty lên các biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh Mô hình của Jones là:

Trong đó:

- 𝑇𝐴𝑖𝑡 là tổng dồn tích tại thời điểm t

- 𝐴𝑖𝑡−1 là tổng tài sản tại thời điểm t – 1

- ∆𝑅𝐸𝑉𝑖𝑡 là chênh lệch trong các khoản phải thu tại thời điểm t

- 𝑃𝑃𝐸𝑖𝑡 là tài sản hữu hình trong thời điểm t

Trang 32

việc tính toán tổng dồn tích (TA) Theo tiến trình nghiên cứu trước đó của các nhà nghiên cứu như Healy (1985) hay Jones (1991) thì cách tiếp cận bảng cân đối kế toán

để tính tổng dồn tích được sử dụng, cụ thể như sau:

TAit = ∆CA it - ∆Cash it - ∆CL it + ∆DCL it – DEP it

∆CAit: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm t;

∆Cashit: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm t;

∆CLit: Thay đổi về công nợ hiện tại trong năm t;

∆DCLit: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn của năm t; DEPit: Khấu hao và chi phí khấu trừ trong năm t

Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh (Dechow và các cộng sự, 1995)

Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh được thực hiện để loại bỏ xu hướng phỏng đoán của mô hình Jones (1991) trong việc đo lường biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh xảy ra lỗi khi sự điều chỉnh được thực hiện trên việc ghi nhận doanh thu (Dechow và các cộng sự, 1995) Trong mô hình đã điều chỉnh, các khoản biến kế toán dồn tích không thể điều chỉnh được ước tính trong năm sự kiện (năm mà QTLN được đưa ra giả thuyết):

thời điểm cuối năm t;

∆REC it : Các khoản phải thu thuần của công ty i trong năm t trừ các khoản phải

thu thuần trong năm t-1

Trang 33

Sự tham gia của ∆RECit được Dechow và các cộng sự (1995) đã giải thích rằng:

Mô hình gốc của Jones ngầm giả định rằng sự điều chỉnh không được thực hiện trên doanh thu trong cả hai giai đoạn ước tính hoặc giai đoạn sự kiện phát sinh Mô hình của Jones đã qua điều chỉnh lại ngầm giả định rằng tất cả các thay đổi về doanh thu bán chịu trong giai đoạn sự kiện phát sinh là kết quả của QTLN Điều này được dựa trên những lý luận rằng QTLN dễ dàng hơn để bằng cách thực hiện theo sự điều chỉnh trên việc ghi nhận doanh thu về bán hàng chịu hơn là so với việc QTLN bằng cách thực hiện điều chỉnh trên ghi nhận doanh thu về bán hàng bằng tiền mặt Tóm lại, Dechow

và các cộng sự (1995) cho rằng doanh số bán hàng không được quản lý trong giai đoạn ước tính, nhưng mà toàn bộ sự thay đổi trong các khoản phải thu trong năm sự kiện đại diện cho QTLN

Mô hình Jones điều chỉnh với tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường và dòng lưu chuyển tiền thuần

So với mô hình Jones đã qua điều chỉnh thì mô hình này đã thêm tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu và dòng tiền từ hoạt động kinh doanh

BMit: Tỷ lệ giá sổ sách trên giá thị trường của vốn chủ sở hữu của công ty i trong năm t

CFOit: Dòng tiền từ hoạt động kinh doanh của công ty i trong năm t

Mô hình Jones điều chỉnh với ROA

Kothari và các cộng sự (2005) phát triển mô hình khác dựa trên mô hình Jones điều chỉnh, họ đề xuất một mô hình mà biến kế toán dồn tích có liên quan tới hoạt động quá khứ và hiện tại của công ty Biến này được đo lường thông qua lợi nhuận trên tài sản (ROA) và hiệu quả hoạt động của công ty được xem như một biến độc lập trong

Trang 34

việc ước tính biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh Mô hình của Kothari và các cộng

Mô hình của Dechow & Dichev (2002)

Từ quan điểm khác với các tác giả trên, Dechow & Dichev (2002) cho rằng chức năng phù hợp của biến kế toán dồn tích đến dòng lưu chuyển tiền thuần từ hoạt động kinh doanh là quan trọng chính yếu và do đó, biến kế toán dồn tích dự đoán được khoản thu được cũng như khoản phải trả dòng tiền trong tương lai và ngược lại Khi tiền kỳ trước được ghi nhận trong biến kế toán dồn tích và nhận được hoặc phải trả trong kỳ này Dựa trên lý luận này, nhóm tác giả đã xây dựng mô hình như sau:

TCA it = φ0 + φ1 CFO it-1 + φ2 CFO it + φ3 CFO it+1 + ν it

TCA: Tổng dồn tích, và TCA = ∆CA – ∆CL – ∆Cash + ∆STDEBT

∆CA: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm;

∆CL: Thay đổi nợ ngắn hạn trong năm;

∆Cash: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm;

∆STDEBT: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm; CFO: Dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh

Mô hình của McNichols (2002) và Francis cùng các cộng sự (2005)

Dựa vào mô hình được thiết kế bởi Dechow và Dichew (2002), được phát triển

mở rộng bởi McNichols (2002) và Francis cùng các cộng sự (2005) như sau:

TCA it = φ0 + φ1 CFO it-1 + φ2 CFO it + φ3 CFO it+1 + φ4 ∆REV it + φ5 PPE it +

νit

Trang 35

TCA: Tổng dồn tích, và TCA = ∆CA – ∆CL – ∆Cash + ∆STDEBT

∆CA: Thay đổi trong tài sản lưu động trong năm;

∆CL: Thay đổi nợ ngắn hạn trong năm;

∆Cash: Thay đổi trong khoản mục tiền và các khoản tương đương tiền trong năm;

∆STDEBT: Thay đổi trong nợ vay được bao gồm trong nợ ngắn hạn trong năm; CFO: Dòng tiền lưu chuyển thuần từ hoạt động kinh doanh

∆REV: Thay đổi khoản doanh thu

PPE: Nguyên giá bất động sản, nhà máy và các trang thiết bị tại thời điểm cuối năm

Trong các mô hình đo lường theo biến kế toán dồn tích có thể điều chỉnh thì theo nghiên cứu của Dechow và các cộng sự (1995) cho thấy mô hình của Jones đã điều chỉnh là kết quả là tốt nhất để phát hiện QTLN Chính vì vậy mà trong luận văn này tác giả sử dụng mô hình của Jones(1991), Dechow và các cộng sự (1995) và Kothari và các cộng sự (2005) làm đại diện cho mô hình đo lường chất lượng BCTC theo chất lượng lợi nhuận dựa trên biến kế toán dồn tích

2.1.6 Chi phí sử dụng nợ (The cost of debt)

Chi phí sử dụng nợ là phần chi phí vốn phải trả cho các nguồn quỹ bên ngoài doanh nghiệp Chi phí này bao gồm cả chi phí sử dụng các khoản vay ngắn hạn và dài hạn Trong trường hợp doanh nghiệp phát hành cổ phần, chi phí phát hành này cũng nên được thêm vào Với lượng vay được mà doanh nghiệp nhận được với chi phí lãi vay trung bình sẽ được doanh nghiệp đó xem xét sử dụng Một trong những phương pháp được sử dụng bởi các chuyên gia trong ngành quản trị tài chính đó là tính chi phí

sử dụng vốn dựa trên trung bình có trọng số của chi phí sử dụng các nguồn vốn khác nhau

Trong tài trợ tài chính, lãi suất hay chi phí sử dụng nợ là lợi ích kinh tế chính mà bên cho vay có thể thu được từ doanh nghiệp đi vay Bên cho vay cho các doanh

Trang 36

nghiệp vay vốn để đổi lấy các khoản lãi gốc và gốc, nhưng hoạt động kiểm soát kinh doanh của doanh nghiệp, sự kết hợp của cổ đông và nhà quản lý theo các điều khoản trong hợp đồng được giữ nguyên, ví dụ như các giao ước (Kothari cùng cộng sự, 2010) Do đó, các bên cho vay tìm kiếm thông tin về khả năng tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp, ví dụ hiệu suất định kỳ của doanh nghiệp, như là một nhân tố thể hiện khả năng của doanh nghiệp trong việc hoàn trả nợ và tránh các trường hợp vỡ nợ

Các lý thuyết về hợp đồng nợ sẽ xem tỷ lệ lãi suất nợ là như là một cơ chế quan trọng trong việc thiết lập hợp đồng nợ và các nghiên cứu trước đây đã cho thấy sự tác động đáng kể sự đánh đổi giữa chi phí sử dụng nợ và các điều khoản hợp đồng được sử dụng (Costello và Wittenberg - Moerman, 2010)

2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến chi phí sử dụng nợ

Trong nhóm các nhân tố liên quan đến các đặc điểm của người đi vay ảnh hưởng quyết định tín dụng và chi phí sử dụng nợ, các lý thuyết tài chính bao gồm quy

mô doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, tỷ lệ tài sản cố định trên tổng tài sản, khả năng bảo đảm thực sự của doanh nghiệp, các cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp, đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp, mối quan hệ trong quá khứ với ngân hàng, sự bảo đảm cá nhân, kiểm toán bên ngoài đối với các BCTC doanh nghiệp

Các nhân tố như quy mô của doanh nghiệp, hiệu quả hoạt động, tài sản hữu hình

và các cơ hội tăng trưởng là những nhân tố ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các doanh nghiệp niêm yết thị trường chứng khoán.Quy mô tác động đến sự đa dạng của các nguồn tài chính được các doanh nghiệp sử dụng, mặt khác bao gồm cả nhận thức về mức rủi ro hoạt động Quy mô thường thể hiện sự liên kết với chất lượng quản lý tài chính tốt hơn và những mô hình quản lý rủi ro tốt hơn, nhưng cũng thể hiện tính minh bạch cao hơn, phản ánh chi phí sử dụng nợ thấp hơn

Lợi nhuận của doanh nghiệp xác định khả năng hình thành nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, giảm sự phụ thuộc vào các nguồn vốn bên ngoài Mặt khác, từ quan

Trang 37

điểm của bên cho vay, lợi nhuận của bên đi vay thể hiện sự đảm bảo cho khả năng thực hiện các quy định của hợp đồng cho vay Điều này sẽ thể hiện khả năng ngân hàng cho doanh nghiệp vay cao hơn Sự ảnh hưởng của lợi nhuận đến chi phí sử dụng vốn rất phức tạp Mặt khác, sở thích của các bên cho vay đầu tư vào các doanh nghiệp có lợi nhuận sẽ dẫn đến một chi phí sử dụng vốn thấp hơn Hơn nữa, các doanh nghiệp có lợi nhuận cao thường có rủi ro hoạt động lớn hơn, điều này cũng dẫn đến một chi phí sử dụng vốn cao hơn

Sự đảm bảo thực sự của người đi vay thể hiện cho bên ngân hàng một tín về việc hoàn thành đúng thời hạn các quy định trong hợp đồng tín dụng, tuy nhiên, mức bảo đảm thực cao hơn sẽ dẫn đến chi phí quản lý tài sản đảm bảo cao hơn mà người chủ nợ phải trả Do đó, tác động của đảm bảo thực đến chi phí sử dụng vốn tăng lên gấp đôi: một ảnh hưởng làm giảm chi phí sử dụng vốn, do nhận thức của bên cho vay khi có rủi ro đạo đức thấp hơn trong mối quan hệ với doanh nghiệp cùng với lòng tin rằng các ngân hàng có thể thu hồi khoản nợ trong trường hợp bên đi vay vỡ nợ, và tác động trực tiếp của việc tăng chi phí sử dụng nợ, khi mà chi phí quản lý các tài sản đảm bảo của các tổ chức tín dụng cao hơn

Cơ hội tăng trưởng của doanh nghiệp, thường được đo lường bởi giá trị thực trên sổ sách thể hiện tỷ lệ giữa giá trị thị trường và giá trị kế toán của nguồn vốn doanh nghiệp Điều này được dự báo là tạo ra một sự sụt giảm tổng nợ trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, tương ứng với mức độ thông tin bất cân xứng của bên cho vay Do đó, đặc điểm này được dự báo là có mối tương quan đồng biến đến chi phí sử dụng vốn, tỷ

lệ giá trị sổ sách trên giá trị cao hơn thường dẫn đến một chi phí sử dụng vốn cao hơn

Đòn bẩy tài chính của doanh nghiệp có tác động phức tạp đến quyết định tín dụng và ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn Một mặt, đòn bẩy tài chính giảm cho thấy các hạn chế lớn hơn trong việc quản lý tiền mặt của doanh nghiệp được quyết định bởi các quy định thanh toán trong từ hợp đồng tín dụng và tạo ra rủi ro lớn hơn đối với các khoản vay trong tương lai và thường sẽ làm tăng mức chi phí sử dụng tín dụng trong

Trang 38

tương lai Mặt khác, sự tồn tại mối quan hệ tín dụng với tổ chức tín dụng cho thấy một dấu hiệu tốt cho các nhà đầu tư, cho rằng các nhà kiểm toán độc lập bên ngoài được lập nên bởi các thể chế tài chính, là bằng chứng cho việc bất cân xứng thông tin thấp hơn trong mối quan hệ với bên cho vay

Kiểm toán bên ngoài của các BCTC cũng ảnh hưởng đến việc giảm mức độ bất cân xứng thông tin trong mối quan hệ giữa bên đi vay – bên cho vay Do đó, điều này

có thể dẫn đến một sự sụt giảm trong chi phí sử dụng vốn

Các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của bên đi vay, cũng như các tổ chức tài chính sẽ ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn Do vậy, quản doanh nghiệp tốt hơn sẽ dẫn đến rủi ro giảm và tăng sự tin tưởng của người cho vay Ngoài ra, các tổ chức tín dụng nên quan tâm đến việc thực hiện các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp, tăng sự tin tưởng cho các nhà đầu tư, và đưa ra mức chi phí sử dụng vốn thấp hơn, mà cuối cùng

sẽ dẫn đến chi phí sử dụng tín dụng thấp hơn

Ngoài những nhân tố vĩ mô ảnh hưởng đến chi phí sử dụng vốn, tăng trưởng kinh tế, chu kỳ kinh doanh, tỷ lệ lãi suất phi rủi ro, thuế thu nhập doanh nghiệp, và thông tin thể hiện hành vi của các tổ chức tín dụng

Tăng trưởng kinh tế tác động gián tiếp đến quyết định của tổ chức tín dụng khi cung cấp khoản vay đến doanh nghiệp Nhìn chung, khả năng tiếp cận nguồn vốn vay

dễ hơn trong giai đoạn mở rộng, do các quan điểm lạc quan về hoạt động của nền kinh

tế Mặt khác, sự tăng cầu của tín dụng trong giai đoạn mở rộng của chu kỳ kinh tế có thể dẫn đến chi phí sử dụng vốn cao hơn

Tỷ lệ lãi suất phi rủi ro thể hiện cho nền kinh tế của một quốc gia, cũng như rủi

ro quốc gia ảnh hưởng đến lợi nhuận kỳ vọng của mỗi cơ hội đầu tư vào thị trường, do

đó tác động đến chi phí sử dụng các nguồn vốn đưa ra bởi các thể chế tín dụng, sau đó thể hiện trong tỷ lệ lãi suất được sử dụng trong các hợp đồng tín dụng của các thể chế tài chính với bên đi vay

Trang 39

Mức thuế suất doanh nghiệp là một nhân tố tác định chi phí sử dụng vốn theo hai cách Một là, tác động này liên quan đến lá chắn thuế có được của doanh nghiệp, dẫn đến quyết định sử dụng cấu trúc vốn tối ưu của doanh nghiệp Mặt khác, một tác đông trực tiếp xuất phát từ kênh báo cáo tài chính Tác động này đồng nhất với sự giảm sút trong lợi nhuận ròng, sau đó ảnh hưởng đến mức lợi nhuận tái đầu tư và khả năng doanh nghiệp cung cấp cho bên cho vay những tài sản đảm bảo cần thiết Do đó, lượng vốn và chi phí sử dụng vốn bên ngoài cho các dự án tài chính của doanh nghiệp cũng bị ảnh hưởng

Hành vi chia sẻ thông tin của các tổ chức tín dụng cũng giúp làm giảm bất cân xứng thông tin trong mối quan hệ tín dụng Việc khuyến khích các tổ chức tín dụng chia sẻ thông tin dựa trực tiếp vào mức độ bất cân xứng thông tin của thị trường tài chính quốc gia và ảnh hưởng ngược lại đến khả năng cạnh trang giữa các trung gian tài chính Mức độ thông tin cao hơn sẽ làm giảm chi phí sử dụng tín dụng bằng cách giảm bất cân xứng thông tin và chi phí giám sát tín dụng

2.3 Các lý thuyết nền liên quan

Các lý thuyết nền được nghiên cứu nhằm giải thích hướng tiếp cận của luận văn khi thực hiện các mục tiêu nghiên cứu, làm nền tảng cho bài nghiên cứu được trình bày ở các nội dung sau đây:

2.3.1 Lý thuyết ủy nhiệm

Năm 1976, Jensen và Meckling đã nghiên cứu và phát biểu ra lý thuyết ủy nhiệm, lý thuyết này mô tả mối quan hệ ủy nhiệm giữa người chủ và người được ủy nhiệm nhân danh chủ thực hiện các công việc trong phạm vi được giao phó và các bên đều cố gắng theo đuổi tối đa hóa lợi ích riêng Trong phạm vi đề tài tác giả thực hiện,

lý thuyết này cung cấp nền tảng giải thích tại sao chất lượng BCTC lại có quan hệ mật thiết tới chi phí sử dụng vốn vay trong doanh nghiệp: bên cạnh mối quan hệ giữa chủ công ty và nhà quản lý, lý thuyết ủy nhiệm còn đề cập tới mối quan hệ của một bên là

Trang 40

chủ nợ và một bên là doanh nghiệp Chủ nợ, với tư cách là người sở hữu nguồn vốn, cho phép doanh nghiệp vay nợ và sử dụng nguồn tiền ấy theo các điều khoản đã được thiết lập trên hợp đồng tín dụng Hợp đồng tín dụng được xây dựng dựa rất nhiều vào các thông tin cung cấp trên BCTC, nên mang tới một hệ quả tất yếu là doanh nghiệp muốn vay vốn thuận lợi và thành công cần có một báo cáo tài chính “sạch sẽ”, các hoạt động gian lận hoặc thủ thuật kế toán có thể được thực hiện nhằm điều chỉnh BCTC có lợi nhất cho doanh nghiệp Để bảo vệ mình, buộc chủ nợ phải kiểm tra tình hình hoạt động của doanh nghiệp, yêu cầu cung cấp BCTC trung thực và hợp lý, hoặc ra các điều khoản khắc khe trong hợp đồng, cũng như có thể thiết lập mức lãi suất cao đối với các doanh nghiệp được cho rằng có mức rủi ro cao, đó được xem là hình thức bảo vệ bằng giá (chi phí giám sát) trong lý thuyết ủy nhiệm

Đối với các công ty cổ phần, dưới sức ép từ phía cổ đông ưu thích cổ tức, nhà quản lý cũng có thể có những hành vi điều chỉnh lợi nhuận khống, tạo ra phần dư chi trả cổ tức, bóp méo thông tin trên báo cáo tài chính Hoạt động chi trả cổ tức được xem rằng gây tổn hại cho chủ nợ bởi doanh nghiệp sử dụng vốn vay làm ăn có lời, khoản lợi nhuận ấy được phân phối về cho cổ đông thông qua cổ tức, còn chủ nợ chỉ nhận được duy nhất khoản tiền lãi mà doanh nghiệp cam kết chi trả Tuy nhiên, trong trường hợp công ty làm ăn thua lỗ, nguồn vốn vay rất có thể bị thâm hụt, và rủi ro phần lớn bị đẩy sang cho chủ nợ Chính vì thế, người cho vay luôn mong muốn doanh nghiệp khai báo trung thực các thông tin trên báo cáo tài chính, khi chất lượng BCTC giảm sút, việc gia tăng lãi cho vay, giảm kỳ hạn cho vay có thể xảy ra như một tín hiệu của việc ngăm ngừa rủi ro tín dụng

Đứng trên góc độ doanh nghiệp là người được ủy quyền sử dụng vốn, họ sẽ

cố gắng giảm chi phí sử dụng vốn (chi phí giám sát) bằng cách sử dụng chi phí liên kết, các hoạt động kiểm soát có thể được đặt ra, phát hành thêm nhiều báo cáo, sử dụng thêm chuyên gia để có thể tăng chất lượng thông tin trên BCTC, tạo lòng tin từ phía chủ nợ Khi mức tăng lên của chi phí liên kết bằng hoặc lớn hơn mức giảm xuống của

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:57

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w