1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Vận dụng kế toán quản trị vào việc kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

112 59 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

---NGUYỄN THỊ THỦY VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÓ NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC TẠI TP HỒ CHÍ MINH Chuyên ngành: KẾ TOÁN – KI

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-NGUYỄN THỊ THỦY

VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÓ NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC TẠI TP HỒ CHÍ MINH

Chuyên ngành: KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN

Mã số: 60.34.30

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LÊ ĐÌNH TRỰC

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin chân thành cảm ơn Quý thầy cô trường Đại học Kinh Tế Thành phố

Hồ Chí Minh đã tận tình chỉ dạy tôi trong thời gian tôi học tập tại trường

Xin chân thành cám ơn TS Lê Đình Trực đã tận tình hướng dẫn tôi thực hiện luận văn này

Xin chân thành cám ơn Quý thầy trong hội đồng chấm luận văn đã có những

ý kiền đóng góp chỉnh sửa để luận văn được hoàn thiện hơn

Và xin chân thành cám ơn các Anh, Chị làm công tác kế toán tại các doanh nghiệp trong danh sách khảo sát đã giúp tôi trả lời bảng câu hỏi khảo sát

Người thực hiện đề tài

Nguyễn Thị Thủy

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan nội dung và số liệu trong luận văn này do tự tôi nghiên cứu và thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Đình Trực và chưa từng được ai công bố

Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính pháp lý của luận văn này

Người thực hiện Nguyễn Thị Thủy

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ, PHỤ LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 1

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN ĐIỆN (TOTAL QUALITY CONTROL – TQC) 3

1.1 Khái quát về kế toán quản trị 3

1.1.1 Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị 3

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị 6

1.1.2.1 Trên thế giới 6

1.1.2.2 Tại Việt Nam 7

1.1.3 Khái niệm về kế toán quản trị 8

1.1.4 Mục tiêu của kế toán quản trị 8

1.1.5 Vai trò của kế toán quản trị 9

1.2 Chất lượng, kiểm soát chất lượng và kiểm soát chất lượng toàn diện 11

1.2.1 Khái niệm chất lượng (Quality) 11

1.2.2 Khái niệm về kiểm soát chất lượng (Quality Control-QC) 12

1.2.3 Khái niệm về kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC) .12

Trang 5

1.2.4 Cách tiếp cận về vấn đề chất lượng 13

1.2.5 Các công cụ kiểm soát chất lượng 13

1.2.5.1 Công cụ phi tài chính 13

1.2.5.1.1 Đánh giá chất lượng nhà cung cấp 13

1.2.5.1.2 Đánh giá chất lượng trong dây chuyền sản xuất 14

1.2.5.1.3 Đánh giá chất lượng dựa vào khách hàng 15

1.2.5.2 Công cụ tài chính 16

1.2.5.2.1 Chi phí phòng ngừa những vấn đề về chất lượng (Prevention costs) 17

1.2.5.2.2 Chi phí tìm ra những vấn đề về chất lượng (Appraisal costs) 18

1.2.5.2.3 Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm chưa bán (Internal failure costs) .19

1.2.5.2.4 Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm đã bán (External failure costs) 21

Kết luận chương 1 24

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT TRONG NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 25

2.1 Công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất trong nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 25

2.2 Khảo sát qui trình kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp sản xuất trong nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh 27

2.2.1 Dựa vào các công cụ phi tài chính 28

Trang 6

2.2.1.1 Chất lượng nhà cung cấp 28

2.2.1.2 Chất lượng trong dây chuyền sản xuất 31

2.2.1.3 Đáp ứng nhu cầu khách hàng 35

2.2.2 Dựa vào các công cụ tài chính 38

2.2.2.1 Chi phí phòng ngừa những vấn đề về chất lượng 38

2.2.2.2 Chi phí tìm ra những vấn đề về chất lượng 40

2.2.2.3 Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm chưa bán 42

2.2.2.4 Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm đã bán 43

2.3 Kế toán quản trị trong kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh 45

2.4 Đánh giá việc vận dụng kế toán quản trị vào việc kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh… 46

Kết luận chương 2 52

CHƯƠNG 3: VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO VIỆC HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN (TOTAL QUALITY CONTROL-TQC) TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÓ NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC TẠI TP HỒ CHÍ MINH 3.1 Công cụ kế toán quản trị để kiểm soát chất lượng 54

3.2 Vận dụng kế toán quản trị vào việc hoàn thiện hệ thống kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh 56

3.2.1 Phương pháp đánh giá chất lượng dựa trên sự đo lường yếu tố phi tài chính.56 3.2.1.1 Đánh giá chất lượng nhà cung cấp 56

Trang 7

3.2.1.2 Đánh giá chất lượng trong dây chuyền sản xuất 59

3.2.1.3 Đánh giá chất lượng dựa vào khách hàng 62

3.2.2 Vận dụng kế toán quản trị vào việc kiểm soát chất lượng dựa trên các công cụ tài chính 63

3.2.2.1 Phân loại chi phí đảm bảo chất lượng 64

3.2.2.1.1 Chi phí phòng ngừa những vấn đề về chất lượng 64

3.2.2.1.2 Chi phí tìm ra những vấn đề về chất lượng 65

3.2.2.1.3 Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm chưa bán 65

3.2.2.1.4 Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm đã bán 66

3.2.2.2 Các chỉ tiêu đánh giá chi phí đảm bảo chất lượng 66

3.2.2.2.1 Tỷ trọng các loại chi phí trong tổng chi phí bảo đảm chất lượng 67

3.2.2.2.2 Tỷ trọng chi phí bảo đảm chất lượng phát sinh tại các bộ phận trong tổng chi phí bảo đảm chất lượng 69

3.2.2.3 Các chỉ tiêu so sánh với chi phí chất lượng 70

3.2.2.3.1 Tỷ lệ % tổng chi phí chất lượng so với doanh thu 70

3.2.2.3.2 Tỷ lệ % tổng chi phí chất lượng so với tổng chi phí 71

3.3 Một số kiến nghị 72

Kết luận chương 3 76

KẾT LUẬN 76

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1: Bảng theo dõi và đánh giá chất lượng nhà cung cấp 58

Bảng 3.2: Báo cáo chất lượng nhà cung cấp 59

Bảng 3.3: Báo cáo tỷ lệ sản phẩm hỏng của các phân xưởng 60

Bảng 3.4: Báo cáo tiến độ giao hàng 60

Bảng 3.5: Báo cáo khiếu nại của khách hàng 63

Bảng 3.6: Báo cáo tổng hợp chi phí đảm bảo chất lượng 66

Bảng 3.7: Bảng theo dõi tỷ trọng bốn loại chi phí đảm bảo chất lượng 68

Bảng 3.8 : Bảng tổng hợp tỷ trọng chi phí đảm bảo chất lượng tại các bộ phận so với tổng chi phí đảm bảo chất lượng 69

Bảng 3.9: Bảng tổng hợp tỷ trọng chi phí chất lượng so với doanh thu 70

Bảng 3.10: Bảng tổng hợp tỷ trọng chi phí chất lượng so với tổng chi phí 71

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các loại chi phí đảm bảo chất lượng 12

Sơ đồ 3.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán quản trị trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ 73

DANH MỤC CÁC PHỤ LỤC

Phụ lục 1: Danh sách các doanh nghiệp khảo sát

Phụ lục 2: Bảng tổng hợp kết quả khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp

Phụ lục 3: Mẫu khảo sát

Trang 9

LỜI NÓI ĐẦU

1 Sự cần thiết khách quan của đề tài:

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển, mức sống của người dân ngày càng được nâng cao Bên cạnh đó với làng sóng đầu tư ào ạt vào nước ta từ các công ty nước ngoài, các tập đoàn đa quốc gia với những sản phầm có chất lượng cao và giá thành hợp lý thì người tiêu dùng có nhiều sản phẩm để lựa chọn hơn và nhu cầu về sản phẩm cũng cao hơn

Do đó, vấn đề nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ, đáp ứng được nhu cầu khách hàng đang là vấn đề trở nên rất quan trọng đối với các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ trong nước Chất lượng đã trở thành vấn đề sống còn, có liên quan đến hiệu quả, sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp thì việc nâng cao chất lượng luôn được các chủ doanh nghiệp, những người làm công tác quản lý, kinh doanh ở mọi lĩnh vực quan tâm

Chất lượng sản phẩm vốn là điểm yếu, kéo dài trong nhiều năm ở nước ta Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây, vấn đề chất lượng đã từng được

đề cao và được coi là mục tiêu quan trọng Trong hơn 10 năm tiến hành công cuộc đổi mới kinh tế xã hội, chất lượng sản phẩm dần trở về đúng với vị trí quan trọng của

nó Ngày nay, không những người tiêu dùng coi trọng chất lượng sản phẩm mà các doanh nghiệp cũng đã nhận thức được tầm quan trọng của chất lượng sản phẩm Họ hiểu rằng chất lượng sản phẩm đang trở thành một nhân tố cơ bản để quyết định sự thành bại trong cạnh tranh, quyết định sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp nói riêng cũng như sự phát triển hay tụt hậu của nền kinh tế đất nước nói chung Từ

những thực tế trên là lý do tác giả chọn đề tài “ Vận dụng kế toán quản trị vào việc kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn trong nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh”

Trang 10

2 Mục tiêu nghiên cứu

Khảo sát tình hình thực tế về việc áp dụng kế toán quản trị và kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất trong nước trên địa bàn Thành phố

Hồ Chí Minh

Nghiên cứu các công cụ phi tài chính và tài chính, các báo cáo quản trị nhằm ứng dụng vào việc kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các doanh nghiệp sản xuất vừa và nhỏ có nguồn vốn sản xuất kinh doanh trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa khoa học thực tiễn của đề tài

Bằng phương pháp tiếp cận khảo sát 80 doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn trong nước tại Thành Phố Hồ Chí Minh sau đó thồng kê, tổng hợp và phân tích, chứng minh từng vấn đề từ đó đánh giá những điểm mạnh và điểm yếu và có giải pháp khắc phục những điểm yếu

Luận văn đã nêu lên được những tồn tại của việc kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp sản xuất trong nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Luận văn đã xây dựng được hệ thống chứng từ, hệ thống tài khoản, hệ thống các báo cáo quản trị phục vụ mục tiêu kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp

5 Kết cấu của luận văn

Luận văn gồm có 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận kế toán quản trị trong việc kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control – TQC)

Chương 2: Thực trạng việc vận dụng kế toán quản trị vào việc kiểm soát chất lượng toàn diện tại doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn trong nước tại Thành phố

Trang 11

1 CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN ĐIỆN (TOTAL QUALITY

CONTROL – TQC).

1.1 Khái quát về kế toán quản trị.

1.1.1.Sự khác biệt giữa kế toán tài chính và kế toán quản trị

 Đối tượng sử dung thông tin.

Kế toán tài chính và kế toán quản trị khác nhau chủ yếu là đối tượng sử dụng thông tin khác nhau, kế toán quản trị chủ yếu cung cấp thông tin cho các nhà quản trị ở bên trong doanh nghiệp, còn đối tượng chủ yếu mà kế toán tài chính cung cấp thông tin là những người ở bên ngoài doanh nghiệp

 Đặc điểm thông tin và yêu cầu thông tin

Kế toán quản trị cung cấp thông tin linh hoat, kịp thời thích hợp với yêu cầu của nhà quản trị, giúp các nhà quản trị lựa chọn phương án kinh doanh và đưa ra các quyết định kịp thời, thông tin của kết toán quản trị chủ yếu hướng đến tương lai và không tuân thủ theo những nguyên tắt kế toán, không đòi hỏi có độ chính xác tuyệt đối

Thông tin kế toán tài chính đòi hỏi phải phản ánh trung thực các sự kiện kinh tế

đã xảy ra do đó nó mang tính khách quan và có độ chính xác cao

 Phạm vi cung cấp thông tin và các loại báo cáo

Các loại báo cáo mà kế toán quản trị cung cấp không theo qui định về chế độ báo cáo của nhà nước mà phụ thuộc vào nhu cầu và mục đích sử dụng của nhà quản trị

Báo cáo do kế toán tài chính cung cấp phải tuân thu theo quy định và biểu mẫu chuẩn mực kế toán do bộ tài chính ban hành

Trang 12

Kế toán tài chính sắp xếp, ghi nhận, phân tích, trình bày những sự kiện kinh tế

đã diễn ra bằng phương pháp của mình, bằng các nghiệp vụ kế toán, do đó kế toán tài chính ít quan hệ với các ngành học khác

 Tính bắt buộc

Báo cáo kế toán quản trị không có tính tính bắt buộc, tùy vào tính chất của hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức và trình độ quản lý mà báo cáo của kế toán quản trị được lập nhằm cung cấp thông tin phục vụ cho việc ra quyết định

Báo cáo kế toán tài chính phải được lập theo quy định của chế độ kế toán thống nhất, do đó kế toán tài chính có tính chất bắt buộc

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

Đặc điểm thông tin Hướng về tương lai

Linh hoạt theo yêu cầu của nhà quản trị

Biểu hiện thộng qua ba thước đo

Phản ánh quá khứ

Cố định, tuân thủ nguyên tắc kế toán

Biểu hiện dưới thước đo giá trị

Trang 13

KẾ TOÁN QUẢN TRỊ KẾ TOÁN TÀI CHÍNH

Yêu cầu thông tin Đòi hỏi tính kịp thời cao

Toàn doanh nghiệp

Các loại báo cáo Báo cáo theo yêu cầu và

mục đích sử dụng của nhà quản trị

Báo cáo tài chính do nhànước qui định

Kỳ hạn lập báo cáo Thường xuyên Định kỳ

Quan hệ với các

ngành học khác

Quan hệ nhiều Quan hệ ít

Tính bắt buộc Không có tính bắt buộc Có tính bắt buộc

Giống nhau Kế toán tài chính và kế toán quản trị cùng nghiên cứu

quá trình sản xuất kinh doanh, cùng sử dụng hệ thống ghi chép ban đầu và cùng thể hiện trách nhiệm của nhà quản trị

Trong nền kinh tế thị trường hệ thống kế toán doanh nghiệp tất yếu gồm hai

bộ phận là kế toán tài chính và kế toán quản trị, nhưng tính hữu hiệu, hiệu quả của từng bộ phận kế toán lại khác nhau, cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng khác nhau nên kế toán tài chính và kế toán quản trị có những đặc điểm giống và khác nhau tạo nên sự kết hợp bổ sung cho nhau để nâng cao tính hữu ích của thông tin kế toán

Mỗi loại hình kinh doanh khác nhau thì nhu cầu về thông tin quản trị khác nhau, kế toán quản trị không tách rời khỏi kế toán tài chính mà kết hợp với kế toán tài chính làm cho kế toán trở nên hoàn thiện hơn, là công cụ giúp nhà quản trị điều hành tốt công việc kinh doanh của đoanh nghiệp

Trang 14

1.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của kế toán quản trị

1.1.2.1 Trên thế giới

Kế toán quản trị đã từng xuất hiện rất lâu trong hệ thống kế toán doanh nghiệp ở các nước có nền kinh tế thị trường vào những năm cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19, đầu tiên kế toán quản trị xuất hiện dưới hình thức kế toán chi phí trong doanh nghiệp sản xuất nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin cho những nhà quản trị nhằm kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất, năng cao năng lực cạnh tranh

Sau đó, với thực tiễn hữu hiệu, hiệu quả, kế toán quản trị bắt đầu được chú ý,

áp dụng, phát triển nhanh trong những loại hình doanh nghiệp khác và cả trong những tổ chức phi lợi nhuận như cơ quan của Nhà nước, bệnh viện

Kế toán quản trị đã trải qua nhiều giai đoạn với những nội dung trọng tâm, trình độ khác nhau Ngày nay, nội dung kế toán quản trị được ứng dụng rộng rãi trong các doanh nghiệp nhất là ở các nước mới phát triển kinh tế thị trường, là hệ thống kế toán quản trị hỗn hợp với nhiều nội dung, trình độ khác nhau Trong đó, nổi bật nhất là những nội dung kế toán quản trị liên quan đến thiết lập thông tin để hoạch định, kiểm soát tài chính, thông tin để giảm những tổn thất nguồn lực kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh và thông tin để sử dụng hiệu quả nguồn lực kinh tế trong quy trình tạo ra giá trị

Xét về phạm vi thông tin kế toán quản trị, quá trình hình thành, phát triển kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản xuất qua hai giai đoạn cơ bản:

Giai đoạn thứ nhất, khoảng trước những năm 1950, kế toán quản trị được xem như là một phương pháp kỹ thuật xác định, phân bổ chi phí sản xuất để tính giá vốn sản phẩm, giá vốn hàng bán và lập dự toán chi phí sản xuất nhằm cung cấp thông tin tài chính cho nhà quản trị kiểm soát chi phí, định hướng sản xuất;

Giai đoạn thứ hai, khoảng những năm 1965 cho đến nay, kế toán quản trị được xem như là chuyên môn kế toán phản ảnh, cung cấp thông tin kinh tế, tài chính cho nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị

Sự phát triển kinh tế, xã hội dẫn đến hình thành những nhận thức khác nhau

về kế toán quản trị và chính nền kinh tế thị trường đã làm nổi bật nhu cầu về kế

Trang 15

toán quản trị, thúc đẩy phát triển kế toán quản trị Kế toán quản trị được xem như là quy trình định dạng, thu thập, kiểm tra, định lượng để trình bày, giải thích và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính về hoạt động của doanh nghiệp cho những nhà quản trị trong nội bộ doanh nghiệp thực hiện toàn diện các chức năng quản trị

1.1.2.2.Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, giai đoạn trước năm 1986 nền kinh tế chi phối bởi cơ chế quản

lý kinh tế tập trung, bao cấp, nhà nước vừa là nhà quản lý kinh tế, vừa là nhà quản trị hoạt động kinh tế của xí nghiệp sản xuất, thành phần kinh tế nhà nước là thành phần chủ yếu trong nền kinh tế Nhà nước can thiệp sâu sắc vào hoạt động kinh tế của xí nghiệp bằng hệ thống pháp lệnh Biểu hiện ban đầu của kế toán quản trị là ẩn trong hệ thống báo cáo thống nhất, tuân thủ một hình thức giữa các xí nghiệp sản xuất

Từ năm 1986, Việt Nam tiến hành đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, từng bước xóa bỏ bao cấp trong kinh tế, bên cạnh thành phần kinh tế nhà nước bắt đầu xuất hiện các thành phần kinh tế khác như đơn vị kinh tế tư nhân, đơn vị kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, thị trường cạnh tranh cũng bắt đầu xuất hiện, nhu cầu của doanh nghiệp về thông tin riêng nhằm phục vụ cho các chức năng quản trị trong nội

bộ như phân tích đánh giá tình hình chi phí sản suất kinh doanh, tình hình tiêu thụ, tình hình lợi nhuận…và kế toán quản trị phát triển gắn liền chính sách, chế độ kế toán áp dụng ở các doanh nghiệp nhưng vẫn chưa khẳng định được vai trò của mình trong doanh nghiệp

Tuy nhiên, kế toán quản trị chỉ mới được đề cập một cách hệ thống vào đầu những năm 1990 trở về đây và trở thành yêu cầu cấp bách trong xây dựng hệ thống thông tin kế toán vào đầu những năm 2000 khi Việt Nam hội nhập với nền kinh tế trên thế giới, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp trong nước cần nâng cao chất lượng quản lý để tăng năng lực cạnh tranh trong môi trường cạnh tranh không những ở phạm vi thị trường Việt Nam mà còn mở rộng ra thị trường khu vực và thị trường thế giới

Trang 16

Chính những yêu cầu trên nên lý thuyết kế toán quản trị được đưa vào giảng dạy từ những năm đầu 1990 – trường đại học Kinh Tế Thành phố Hồ Chí Minh

Kế toán quản trị được nhắc đến trong Luật kế toán Việt Nam số 03/2003/QH11 ngày 17 tháng 06 năm 2003 và được hướng dẫn chi tiết trong Thông

tư 53/2006/TT-BTC ngày 12 tháng 6 năm 2006 của Bộ Tài Chính “Hướng dẫn áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp”

Ngày nay, kế toán quản trị bắt đầu chuyển sang một kỷ nguyên mới rất gần với quản trị, vừa là một công cụ hợp nhất giữa chiến lược kinh doanh với thị trường, hợp nhất giữa kiểm soát và thông tin phản hồi với thông tin định hướng hay kế toán quản trị là một bộ phận thiết yếu của quản trị, kế toán chiến lược

1.1.3.Khái niệm về kế toán quản trị

Khái niệm kế toán quản trị tùy thuộc vào quan điểm, mục tiêu và trình độ cộng nghệ, quản lý, từ đó có rất nhiều định nghĩa khác nhau về kế toán quản trị:

Theo định nghĩa của Hiệp hội kế toán viên quản trị Hoa Kỳ: “ Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó” [4.8,9]

Theo Luật kế toán Việt Nam ” Kế toán quản trị là việc thu thập, xử lý, tổng hợp và cung cấp thông tin kinh tế, tài chính theo yêu cầu quản trị và quyết định kinh

tế tài chính trong nội bộ đơn vị kế toán” [4.8]

1.1.4 Mục tiêu của kế toán quản trị

Cung cấp thông tin một cách kịp thời cho các nhà quản lý, giúp nhà quản

lý điều hành và kiểm soát có hiệu quả các hoạt động sản xuất kinh doanh, hỗ trợ nhà quản lý đưa ra quyết định đúng đắn trong các hoạt động nhằm đạt được các mục tiêu của doanh nghiệp Mục tiêu của kế toán quản trị bao gồm:

Trang 17

Cung cấp thông tin: thu thập và cung cấp thông tin cần thiết cho nhà quản

lý phục vụ quá trình hoạch định, kiểm soát và đánh giá tất cả các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, làm căn cứ để đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Tham gia vào quá trình quản trị: các báo cáo quản trị làm cơ sở giúp cho nhà quản lý ra quyết định chiến lược ngắn hạn, trung hạn và dài hạn đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động bền vững và có hiệu quả

1.1.5.Vai trò của kế toán quản trị

Sự ra đời và phát triển của kế toán quản trị nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin

để nhà quản trị thực hiện toàn diện các chức năng quản trị

 Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng hoạch định: các thông tin do

kế toán quản trị cung cấp làm cơ sở truyền đạt, hướng dẫn nhà quản trị xây dựng kế hoạch ngắn hạn và dài hạn như: tình tình hoạt động, tài chính của doanh nghiệp, thông tin về đối thủ cạnh tranh, thị trường, thị hiếu của khách hàng….Từ đó nhà quản trị thiết lập được định hướng hoạt động sản xuất kinh doanh của từng bộ phận của doanh nghiệp trong từng thời kỳ để khai thác có hiệu quả các nguồn lực kinh tế, kiểm soát và ngăn ngừa sự mất cân đối, rủi ro trong tương lai của từng bộ phận trong doanh nghiệp

 Vai trò của kế toán quản trị phục vụ chức năng tổ chức - điều hành là cung cấp các thông tin phát sinh hàng ngày trong doanh nghiệp với những báo cáo

đo lường, định tính kết quả hoạt động sản xuất, hoạt động tiêu thụ, sử dụng vốn, cung cấp các thông tin cho việc xây dựng và phát triển nguồn lực một cách hợp lý Các báo cáo của kế toán quản trị phải có tác dụng phản hồi về hiệu quả và chất lượng của các họat động đã và đang được thực hiện để giúp cho nhà quản trị kịp thời điều chỉnh, bổ sung và tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo đúng định hướng

Trang 18

 Vai trò của kế toán quản trị phục vụ cho chức năng kiểm soát là cung cấp thông tin về tình hình thực tế của từng bộ phận trong doanh nghiệp, thông tin chênh lệch giữa thực tế với dự toán, nguyên nhân ảnh hưởng đến sự biến động tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh Kế toán quản trị giúp cho nhà quản trị nhận biết được tình hình thực hiện, những biến động của hoạt động sản xuất kinh doanh từ đó nhận biết được tình hình tốt, xấu của từng bộ phận của doanh nghiệp để đưa ra các biện pháp kiểm soát, giải pháp điều chỉnh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất của doanh nghiệp trong tương lai.

 Vai trò của kế toán quản trị phục vụ cho chức năng ra quyết định, nhà quản trị lựa chọn các phương án tối ưu nhất thông qua các báo cáo phân tích các phương án kinh doanh, phân tích chi phí hữu ích, phân tích tiềm năng kinh

tế, tài chính của tài sản, nguồn vốn,… Thông tin do kế toán quản trị cung cấp phải hỗ trợ nhà quản trị xác định được mục tiêu của tổ chức và đánh giá việc thực hiện các mục tiêu đó trên thực tế, kế toán quản trị cung cấp thông tin giúp nhà quản trị ra quyết định để khai thác được tiềm năng kinh tế, tài chính của tổ chức và đảm bảo mục tiêu của doanh nghiệp

Ở các cấp độ quản trị khác nhau thì vai trò của kế toán quản trị sẽ khác nhau,

ở cấp độ nhà quản trị sơ cấp thì thông tin kế toán quản trị phục vụ cho việc kiểm soát và cải tiến hoạt động tại bộ phận do họ quản lý Ở cấp độ các nhà quản trị trung gian thì thông tin kế toán quản trị phục vụ cho quá trình giám sát và đưa ra các quyết định về nguồn lực như vốn đầu tư, nguyên vật liệu, sản phẩm… các nhà quản trị cấp cao dựa vào các báo cáo quản trị đã được tổng hợp từ các nghiệp vụ, sự kiện … để ra quyết định trong ngắn hạn và dài hạn

Ngày nay, khi môi trường cạnh tranh trong nước và thế giới diễn ra gay gắt, mạnh mẽ, sự thay đổi nhanh chóng của môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh, nhất là trong thời đại công nghệ sản xuất kinh doanh thay đổi rất nhanh, chu kỳ sống của sản phẩm ngày càng rút ngắn… thì kế toán quản trị ngày càng giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin giúp nhà quản trị xây dựng

Trang 19

phát triển những định hướng, chiến lược trong quản trị và kiểm soát hoạt động sản xuất kinh doanh hữu hiệu hơn

1.2.Chất lượng, kiểm soát chất lượng và kiểm soát chất lượng toàn diện

1.2.1 Khái niệm chất lượng (Quality)

Có rất nhiều khái niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế thị trường, các khái niệm này có liên quan chặt chẽ với các yếu tố cơ bản của thị trường như nhu cầu, cạnh tranh, giá cả…

Theo tổ chức kiểm tra chất lượng Châu Âu (European Organizatio for

Quality Control) cho rằng: “Chất lượng là mức phù hợp của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng”.[3.24]

Theo W.E Deming: “Chất lượng là mức độ dự đoán trước về tính đồng đều

và có thể tin cậy được tại mức chi phí thấp nhất và được thị trường chấp nhận” [3.24]

Philip B Crosby trong quyển “Chất lượng là thứ cho không” thì cho rằng:

“Chất lượng là sự phù hợp với yêu cầu” [3.24]

Còn theo A Feigenbaum: “Chất lượng là những đặc điểm tổng hợp của sản phẩm, dịch vụ mà khi sử dụng sẽ làm cho sản phẩm, dịch vụ đáp ứng được nhu cầu mong đợi của khách hàng” [3.24]

Theo tiêu chuẩn TCVN ISO 8402:1999: “Chất lượng là tập hợp các đặc tính của một thực thể (đối tượng) tạo cho thực thể (đối tượng) có khả năng thỏa mãn những nhu cầu đã nêu ra hoặc tiềm ẩn” [3.24]

Theo ISO 9000:2000: “ Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặt tính vốn có của một sản phẩm, hệ thống hoặc quá trình thỏa mãn các nhu cầu của khách hàng và các bên có liên quan” [3.25]

Trang 20

1.2.2 Khái niệm về kiểm soát chất lượng (Quality Control-QC)

Kiểm soát chất lượng là kiểm soát mọi yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình tạo ra chất lượng, bao gồm:

 Kiểm soát con người thực hiện: người thực hiện phải có đủ kiến thức, kỹ năng và hiểu rõ về công việc cần làm, đồng thời họ phải được trang bị đầy đủ phương tiện dể làm việc

 Kiểm soát phương pháp và quá trình sản xuất: các phương pháp và quá trình sản xuất phải được thiết lập phù hợp với điều kiện sản xuất, kiểm soát thường xuyên để phát hiện kịp thời những biến động của quá trình

 Kiểm soát nguyên vật liệu đầu vào: nguyên vật liệu đầu vào phải được lựa chọn, kiểm tra chặt chẽ trong quá trình nhập kho và bảo quản

 Kiểm soát, bảo dưỡng thiết bị: kiểm tra, bảo dưỡng, khắc phục thiết bị thường xuyên, định kỳ theo đúng qui định

 Kiểm tra môi trường làm việc: ánh sáng, nhiệt độ phải phù hợp…

Để khắc phục và hạn chế những sai sót ngay trong quá trình sản xuất thì việc kiểm soát chất lượng phải được thực hiện, doanh nghiệp cần xây dựng một cơ cấu

tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm rõ ràng giữa các bộ phận để quá trình kiểm soát chất lượng đạt hiệu quả cao nhất

1.2.3 Khái niệm về kiểm soát chất lượng toàn diện (Total Quality Control –

TQC).

Theo Armand V.Feigenbaun trong cuốn Total Quality (TQC) :”Kiểm soát chất lượng toàn diện là một hệ thống có hiệu quả để nhất thể hóa các nổ lực phát triển chất lượng, duy trì chất lượng và cải tiến chất lượng của các nhóm khác nhau trong một tổ chức sao cho các hoạt động marketing, kỹ thuật, sản xuất và dịch vụ có thể tiến hành một cách kinh tế nhất, cho phép thỏa mãn hoàn toàn khách hàng” [3.63]

Kiểm soát chất lượng toàn diện phải có sự phối hợp giữa các bộ phận khác nhau trong một tổ chức từ nghiên cứu thị trường, thiết kế sản phẩm đến dịch vụ sau

Trang 21

bán hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng một cách tiết kiệm nhất bằng cách phát hiện và giảm chi phí không chất lượng, tối ưu hóa cơ cấu chi phí chất lượng

1.2.4.Cách tiếp cận về vấn đề chất lượng

Chất lượng là một chiêu kích quan trọng cạnh tranh trong thập niên 1980 và quan trọng cho đến ngày nay Đến giữa thập niên 1990, Chất lượng đã trở nên cần thiết và trở thành một lợi thế chiến lược để cạnh tranh Nhiều tổ chức không đáng tin cậy khi cung cấp các sản phẩm sai hỏng hoặc dịch vụ không tốt ra thị trường từ

đó doanh nghiệp tự đánh mất cơ hội cạnh tranh của chính mình Chất lượng tốt là cơ hội cho công ty để phân biệt chính họ với các đối thủ cạnh tranh

Các biện pháp khác để đo chất lượng có sẵn bao gồm sự quay lại của khách hàng, yêu cầu bảo hành, và lĩnh vực yêu cầu dịch vụ Khi một nhà sản xuất sản phẩm hoặc phần của thiết bị không làm việc hoặc đáp ứng yêu cầu của các khách hàng, khách hàng thường sẽ trả lại sản phẩm hoặc gọi cho công ty yêu cầu được sửa chữa Ngược lại, khi một dịch vụ không đạt yêu cầu đưa ra từ một công ty dịch vụ, khách hàng không quay lại và thường không yêu cầu khiếu nại Khách hàng phản ứng là sự chấm dứt hợp tác với tổ chức dịch vụ hoặc hạn chế sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp này và thể hiện rõ là tổ chức dịch vụ sẽ giảm số lượng khách hàng cũ

và doanh số sẽ giảm

Quá trình toàn cầu hóa, tính cạnh tranh ngày càng gay gắt và nhu cầu của người tiêu dùng càng cao, các tổ chức trên thế giới đều phải đối đầu với nhiều thách thức về vấn đề chất lượng Chất lượng không còn là một vấn đề đơn thuần về kỹ thuật nữa mà nó đã trở thành một vấn đề mang tính chiến lược hàng đầu quyết định

sự thành bại trong tổ chức

1.2.5 Các công cụ kiểm soát chất lượng

1.2.5.1.Công cụ phi tài chính

1.2.5.1.1.Đánh giá chất lượng nhà cung cấp

Trang 22

Đối với nhiều doanh nghiệp, đặc biệt là những doanh nghiệp hoạt động sản xuất lắp ráp (như điện tử, thiết bị ô tô, hàng không vũ trụ quang học và dụng cụ, thiết bị ngành công nghiệp và nông nghiệp) và trong bán lẻ, sự thành công là do có các nhà cung cấp tuyệt vời và mối quan hệ tốt với nhà cung cấp Các công ty này phụ thuộc rất nhiều vào các nhà cung cấp của họ để đạt được giá tốt, chất lượng cao

và đáp ứng được mục tiêu thời gian với khách hàng Mối quan hệ tuyệt vời nhà cung cấp rất quan trọng cho sự thành công chiến lược, do đó các công ty đã phát triển hệ thống đánh giá nhà cung cấp Chất lượng nhà cung cấp được đánh giá cả hai chỉ tiêu các khuyết tật và tỷ lệ phần trăm khiếm khuyết, các chi tiêu này được tính toán và theo dõi cho từng nhà cung cấp

Một nhà cung cấp đạt yêu cầu không những giao hàng đúng hẹn, giá cả cạnh tranh, chất lượng nguyên vật liệu tốt mà còn phải có dịch vụ sau bán hàng, sự hợp tác giải quyết các sự cố phát sinh Quá trình đánh giá chất lượng nhà cung cấp phải được thực hiện dài hạn và định kỳ

Đánh giá chất lượng nhà cung cấp sẽ giúp cho doanh nghiệp lựa chọn được nhà cung cấp tốt nhất, hạn chế lãng phí nguồn lực cho việc dự trữ nguyên vật liệu nhiều cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục

và có hiệu quả, từ đó sẽ hạn chế được nhiều rủi ro trong quá trình sản xuất cũng như sản phẩm làm ra đạt chất lượng cao hơn

Ngoài việc đánh giá chất lượng nhà cung cấp thì nhà quản trị có thể theo dõi, tìm hiểu về các nguyên vật liệu thay thế và xu hướng giá cả của nguyên vật liệu để doanh nghiệp chủ động hơn trong quá trình sản xuất

1.2.5.1.2 Đánh giá chất lượng trong dây chuyền sản xuất

Chất lượng trong dây chuyền sản xuất được đánh giá dựa vào:

- Tỷ lệ sản phẩm hỏng (Part-per-million) số sản phẩm hỏng/1 triệu sản phẩm

- Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng trên tổng sản phẩm sản xuất

- Những khoản tổn thất

- Sản phẩm cần sửa chữa

Trang 23

- Số lượng sản phẩm bị khách hàng trả lại

- Số lần máy phải dừng để kiểm tra do sản phầm sai hỏng

Việc đánh giá này giúp cho doanh nghiệp tìm được khâu nào trong quá trình sản xuất cần sửa chữa, cải tiến để hạn chế tối đa những sai hỏng trong quá trình sản suất sản phẩm

Ngoài ra doanh nghiệp phải tìm hiểu nguyên nhân gây ra những sai hỏng trên, xem lại chất lượng nguyên vật liệu có phù hợp không và có hướng khắc phục

Chất lượng trong khâu thiết kế qui trình sản xuất sản phẩm có vai trò quan trọng tạo ra chất lượng trong dây chuyền sản xuất, một qui trình hoạt động hiệu quả khi chất lượng trong khâu thiết kế tốt và phù hợp với yêu cầu thực tế, đo lường độ phức tạp trong khâu thiết kế của sản phẩm như: số công đoạn lắp rắp, mức độ chi tiết của sản phẩm, kế hoạch bảo trì máy móc thiết bị…giúp doanh nghiệp biết được chất lượng trong khâu thiết kế sản phẩm

Nhân viên sản xuất cũng có vai trò quan trọng trong việc đánh giá chất lượng trong dây chuyền sản xuất vì họ là những người tiếp xúc trực tiếp làm việc với quy trình, am hiểu quy trình, vì vậy doanh nghiệp nên có chính sách khuyến khích nhân viên sản xuất đóng góp ý kiến để cải tiến chất lượng sản phẩm trong quy trình sản xuất

Điều kiện làm việc trong nhà xưởng, an toàn lao động là các nhân tố gián tiếp để tạo ra chất lượng trong dây chuyền sản xuất Năng suất làm việc của nhân viên cao khi họ làm việc trong một môi trường thuận lợi và độ an toàn cao Năng suất làm việc của nhân viên là tiêu chí đo lường kết quả tổng hợp những ảnh hưởng của kỹ năng và tinh thần của nhân viên, sự đổi mới, cải tiến quy trình nội bộ Giao hàng đúng hạn, đúng số lượng và chất lượng đáp ứng được sự thỏa mãn của khách hàng góp phần tạo nên chất lượng trong dây chuyền sản xuất

1.2.5.1.3.Đánh giá chất lượng dựa vào khách hàng

Để đánh giá chất lượng sản phẩm sản xuất dựa vào khách hàng, doanh nghiệp có thể đánh giá bởi:

Trang 24

 Số lần khiếu nại của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp

 Sản phẩm hỏng bị trả lại, yêu cầu bảo hành, khắc phục sản phẩm hỏng… Với sự đánh giá, đo lường sự thỏa mãn nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp là tín hiệu phản ánh kết quả rõ ràng nhất về chất lượng sản phẩm từ đó giúp doanh nghiệp thấy được những khuyết tật, sai hỏng trong sản phẩm của mình từ đó có phương án cải tiến, điều chỉnh qui trình sản suất

để sản phẩm đạt chất lượng tốt hơn

Doanh nghiệp không chỉ nên tập trung vào các đánh giá dự trên hành vi của khách hàng, mà cần biết rằng việc thỏa mãn nhu cầu của khác hàng sẽ đem lại kết quả tốt nhất khi doanh nghiệp nhận diện được những yếu tố cần thiết để tạo ra giá trị thực sự cho khách hàng, doanh nghiệp cũng cần lấy ý kiến đóng góp về sản phẩm từ khách hàng để cải tiến chất lượng sản phẩm tốt hơn nữa tạo ra giá trị cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường

1.2.5.2.Công cụ tài chính

Khi doanh nghiệp chế tạo ra được một sản phẩm có chất lượng hoặc cung cấp một dịch vụ có chất lượng cao phù hợp với nhu cầu và thị hiếu của người tiêu dùng nhưng chi phí để đạt được chất lượng đó cao thì sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ đó trên thị trường thấp, hiệu quả kinh tế mang lại không tốt Vì vậy chi phí

để đạt được chất lượng phải được quản lý chặt chẽ, doanh nghiệp phải cân bằng giữa hai yếu tố chất lượng và chi phí để đạt được chất lượng nhằm đảm bảo mang lại hiệu quả lâu dài cho doanh nghiệp

Chi phí chất lượng hiểu theo cách truyền thống: Chi phí chất lượng là tất cả các chi phí có liên quan đến việc đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất ra hoặc các dịch vụ được cung ứng phù hợp với các tiêu chuẩn qui cách đã được xác định trước và các chi phí liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ không phù hợp với các tiêu chuẩn đã được xác định trước

Chi phí chất lượng theo cách mới: Chi phí chất lượng là tất cả các chi phí có liên quan đến việc đảm bảo rằng các sản phẩm được sản xuất ra hoặc các dịch vụ

Trang 25

được cung ứng phù hợp vời nhu cầu của người tiêu dùng và các chi phí liên quan đến các sản phẩm, dịch vụ không phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùng

Còn theo TCVN ISO 8402:1999: “Chi phí liên quan đến chất lượng là các chi phí nảy sinh để tin chắc và đảm bảo chất lượng thỏa mãn cũng như những thiệt hại nảy sinh khi chất lượng không thỏa mãn”.[3.39]

Các chi phí chất lượng là thước đo chính xác về vấn đề chất lượng, là công

cụ tài chính giúp doanh nghiệp kiểm soát chất lượng toàn diện trong doanh nghiệp

từ khâu thiết kế đền khi sản phẩm đến tay người tiêu dùng Chi phí chất lượng được phân loại dựa vào nhiều tiêu thức khác nhau, căn cứ vào tính chất của chi phí thì chi phí chất lượng bao gồm:

1.2.5.2.1.Chi phí phòng ngừa những vấn đề về chất lượng (Prevention costs).

Chi phí phòng ngừa những vấn đề chất lượng là tất cả các loại chi phí liên quan đến các hoạt động nhằm phòng ngừa sự không phù hợp có thể xảy ra hoặc làm giảm thiểu các rủi ro sự không phù hợp đó Chi phí phòng ngừa gắn liền vời chi phí lập kế hoạch, chi phí nghiên cứu, thiết kế, chi phí triển khai thực hiện và chi phí duy trì một hệ thống quản lý chất lượng

Chi phí phòng ngừa bao gồm:

Chi phí bảo quản nguyên vật liệu trong kho, chi phí tổ chức lựa chọn nhà cung cấp để đảm bảo nguyên vật liệu đầu vào luôn đạt chất lượng đúng với yêu cầu sản xuất

Chi phí nghiên cứu cải tiến quy trình sản xuất để sản xuất ra sản phẩm có chất lượng cao hơn, hạn chế sản phẩm sai hỏng, phế phẩm

Chi phí thiết lập và duy trì hệ thống quản lý chất lượng

Chi phí thiết kế, triển khai và mua sắm thiết bị máy móc hiện đại hơn để chất lượng sản phẩm tốt hơn

Chi phí bảo trì, bảo dưỡng máy móc, thiết bị định kỳ nhằm phòng ngừa máy móc hư hỏng làm gián đoạn quá trình sản xuất

Trang 26

Chi phí đào tạo nhân lực phục vụ cho công tác phòng ngừa

Các doanh nghiệp thường ít quan tâm đến loại chi phí phòng ngừa này, nhưng trên thực tế nếu doanh nghiệp chi tiêu nhiều cho các chi phí phòng ngừa thì doanh nghiệp sẽ giảm rủi ro trong quá trình sản xuất, chi phí cho những sai sót trong quá trình sản xuất và chi phí dịch vụ sau bán hàng sẽ giảm Nếu tính chi phí thiệt hại cho quá trình gián đoạn sản xuất do nguyên vật liệu không phù hợp, doanh thu giảm do hàng kém chất lượng hay thương hiệu của doanh nghiệp trên thị trường thì chi phí phòng ngừa là chi phí doanh nghiệp phải quan tâm để tránh những tổn thất lớn có thể xảy ra

Vì vậy, chi phí phòng ngừa sai hỏng sản phẩm phải được lập kế hoạch hàng năm, doanh nghiệp phải thường xuyên lập báo cáo theo dõi phát sinh thực tế của các loại chi phí này, từ đó so sánh chi phí phát sinh thực tế so với kế hoạch, đánh giá việc chi tiêu cho chi phí phòng ngừa với chất lượng sản phẩm đạt được

1.2.5.2.2.Chi phí tìm ra những vấn đề về chất lượng (Appraisal costs).

Là những chi phí kiểm tra, đánh giá liên quan đến tất cả các hoạt động kiểm tra chất lượng trong quá trình sản xuất để đạt yêu cầu về chất lượng đề ra

Chi phí tìm ra những vấn đề về chất lượng bao gồm:

Chi phí kiểm tra và thử tính năng vật liệu mua vào, kiểm tra quá trình chuẩn

bị sản xuất và trong quá trình sản xuất, kiểm tra các sản phẩm trung gian, bán thành phẩm và thành phẩm, kiểm tra các dịch vụ cuối cùng để hoàn thành sản phẩm

Chi phí cho việc kiểm nghiệp cả hệ thống kiểm soát chất lượng

Chi phí kiểm tra , đánh giá chất lượng định kỳ

Chi phí phân loại, đánh giá nhà cung cấp

Chi phí kiểm tra, đánh giá sản phẩm là loại chi phí không tạo ra giá trị gia tăng trong sản phẩm vì kiểm tra và đánh giá những sản phẩm đã hoàn thành, nếu có phát hiện sai sót thì mọi việc đã xong và nếu khắc phục phải tốn thêm chi phí

Trang 27

Nhưng việc tìm ra những vấn đề về chất lượng sản phẩm rất quan trọng và cần thiết trong quá trình sản xuất nhằm phát hiện khắc phục những sản phẩm không đạt yêu cầu, đảm bảo chất lượng sản phẩm khi đến tay người tiêu dùng, tạo lòng tin với khách hàng và tạo uy tính của doanh nghiệp trên thị trường

Vì vậy doanh nghiệp cần xây dựng kế hoạch chi tiêu cho các loại chi phí này, doanh nghiệp cần lập báo cáo theo dõi thường xuyên chi phí cho công tác thẩm định, kiểm tra Và nếu chi phí thực tế phát sinh ít hơn kế hoạch chi tiêu cho các loại chí phí này là tốt, doanh nghiệp nên so sánh tỷ trọng loại chi phí này so với tổng chi phí đảm bảo chất lượng từ đó xem khuynh hướng chi tiêu của loại chi phí này như thế nào

1.2.5.2.3.Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm chưa bán (Internal failure costs)

Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng là chi phí phát sinh trong tổ chức do có sự không phù hợp hoặc sai hỏng ở một giai đoạn nào đó trong quá trình sản suất bao gồm:

 Lãng phí: phải tiến hành những việc làn không cần thiết do nhằm lẫn, tổ chức kém, vật liệu chọn sai…

Các doanh nghiệp thường ít quan tâm đúng mức về sự lãng phí trong các hoạt động sản suất kinh doanh thường ngày, tùy theo từng loại hình sản xuất kinh doanh khác nhau mà các dạng lãng phí cũng khác nhau, có một số loại lãng phí thường phát sinh phổ biến như:

 Lãng phí thời gian: đây là loại lãng phí rất thường gặp trong các nhà

máy, xí nghiệp nhưng chưa được các doanh nghiệp quan tâm đúng mức Nguyên nhân của loại lãng phí này là do hoạch định kém, tổ chức quy trình sản xuất chưa thật sự phù hợp, công nhân chưa được đào tạo hợp lý,…

Doanh nghiệp cần kiểm soát tốt loại lãng phí này để giảm chi phí sản xuất, như rút ngắn thời gian chờ đợi khi máy hoàn thành một chu kỳ sản xuất, hạn chế máy móc hư hỏng trong quá trình sản xuất để giảm thời gian chờ đợi của công nhân khi

Trang 28

thay thế khắc phục máy móc, dụng cụ, nguyên vật liệu đáp ứng đầy đủ cho sản xuất, huấn luyện đào tạo tay nghề cho công nhân, đội ngũ giám sát đầy đủ và có hiệu quả

 Lãng phí do sản xuất thừa: khi sản xuất vượt quá nhu cầu của thị trường

(cung lớn hơn cầu) thì sản phẩm tiêu thụ không hết, lượng sản phẩm tồn kho nhiều Lúc này doanh nghiệp phát sinh nhiều chi phí để lưu trữ, bảo quản lượng hàng tồn này

Doanh nghiệp cần nghiên cứu, tìm hiểu nhu cầu của sản phẩm trên thị trường, dựa vào doanh thu của các năm trước và điều tra xu hướng tiêu dùng trong tương lai để lập kế hoạch sản xuất và tiêu thụ hợp lý từ đó giảm được lãng phí do sản xuất thừa

Lãng phí do chất lượng sản phẩm kém: sản phẩm sản xuất ra không

đạt yêu cầu về chất lượng, không đáp ứng được yêu cầu của khách hàng, khi đó doanh nghiệp phải tốn nhiều chi phí cho việc sửa chữa sản phẩm kém chất lượng này như: chi phí nhân công, chi phí vật liệu, …Lãng phí do sản phẩm kém chất lượng còn ảnh hưởng đến uy tín của doanh nghiệp vì sự chậm trễ trong việc giao hàng

 Phế phẩm: sản phẩm có khuyết tật không thể sửa, dùng hoặc bán được

 Chi phí gia công hoặc sửa chữa lại các sản phẩm có khuyết tật hoăc chỗ sai

sót để đáp ứng yêu cầu của khách hàng

 Chi phí kiểm tra lại các sản phẩm đã sửa chữa lại để đảm bảo sản phẩm đạt

đúng chất lượng yêu cầu

 Thứ phẩm: là thành phẩm nhưng không đáp ứng được các yêu cầu về chất

lượng Các thứ phẩm này được bán với giá thấp hơn

 Dự trữ quá mức để đối phó với sai sót gây ra lãng phí.

 Chi phí phân tích sai hỏng: đây là những hoạt động cần có để xác định

nguyên nhân bên trong gây ra sai hỏng của sản phẩm

Các loại chi phí này tồn tại ở tất cả các doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp có thể kiểm soát tốt về chất lượng bằng cách giảm tỷ trọng loại chi phí này trong tổng

Trang 29

chi phí đảm bảo chất lượng và chi tiêu giảm dần qua các năm, doanh nghiệp nên lập báo cáo theo dõi và lập định mức chi phí này từ đó tiến hành đánh giá thực tế phát sinh so với định mức đã lập để đánh giá cụ thể việc chi tiêu loại chi phí này và có hướng điều chỉnh thích hợp nhằm giảm sự hao phí vô ích các nguồn lực trong công ty.

1.2.5.2.4.Chi phí khắc phục những vấn đề về chất lượng khi sản phẩm đã bán (External failure costs).

Là chi phí cho những sai sót khi sản phẩm kém chất lượng đến tay người tiêu dùng, chi phí cho những sai hỏng bên ngoài này gồm:

 Chi phí phục vụ và giải quyết các khiếu nại của khách hàng

 Chi phí khắc phục và bảo hành sản phẩn trong thời gian sản phẩm còn bảo hành như thay thế linh kiện, thiết bị do lỗi kỹ thuật

 Chi phí đổi sản phẩm khác khi sản phẩm không đạt chất lượng

 Chi phí hàng bị trả lại: chi phí vận chuyển hàng bị trả lại, chi phí phân tích, tìm kiếm nguyên nhân hàng không đạt chất lượng

 Chi phí lưu kho sản phẩm trong thời hạn bảo hành sản phẩm, chi phí lưu kho sản phẩm bị trả lại

 Chi phí liên quan đến trách nhiệm pháp lý: chi phí kiện tụng của khách hàng

về chất lượng sản phẩm khi không đạt được thỏa thuận với công ty, chi phí bồi thường, phạt khi vi phạm hợp đồng…

 Chi phí xã hội hay chi phí phí môi trường

Bốn loại chi phí trên có mối liên hệ mật thiết với nhau và được biểu thị trong sơ

đồ 1.1

Hình 1.1: Mối quan hệ giữa các loại chi phí đảm bảo chất lượng.

Trang 30

Mục tiêu của chi phí chất lượng đơn giản chỉ là đo lường chất lượng để xác định doanh nghiệp đã chi tiêu thực tế bao nhiêu cho vấn đề về chất lượng Hầu hết các công ty đang ngạc nhiên khi biết rằng họ đang chi tiêu giữa 15% và 20% doanh thu bán hàng trong chi phí chất lượng liên quan Con số này đủ lớn để các nhà quản trị chất lượng quan tâm

Đặc biệt, các công ty ít chú ý đến chất lượng, thì lựa chọn mặc nhiên là kiểm tra chất lượng hơn là thiết kế phòng ngừa Vì vậy các công ty này phải chịu chi tiêu cho chi phí ngừa sai hỏng bên trong và bên ngoài của sản phẩm nhiều hơn Họ cũng chi tiêu rất nhiều trong các loại thẩm định, kiểm tra sản phẩm hoàn thành

Những công ty chú trọng đến chất lượng sản phẩm thì phát hiện ra rằng nếu chi tiêu nhiều hơn trong các loại công tác phòng ngừa, họ rất có thể làm giảm số tiền chi tiêu trong các loại sai hỏng bên trong và bên ngoài Việc thiết kế sản phẩm, quan hệ nhà cung cấp, và kiểm soát quá trình cải tiến (một lần nữa bằng cách tăng

Chi phí sai hỏng, thất bại

Chi phí chất lượng

Chi phí kiểm tra, đánh giá

Trang 31

đầu tư trong công tác ngăn ngừa), các công ty có thể cũng giảm đáng kể chi phí phát sinh trong các loại thẩm định

Mặc dù chi phí đo lường chất lượng thu hút được sự quan tâm của nhà quản

lý nhưng nó không phải là cơ sở duy nhất để đo được sự thành công của một hệ thống quản lý chất lượng toàn diện Trước tiên, cũng như hầu hết các biện pháp tài chính, đó là một chỉ số tụt hậu của các nỗ lực để đạt được chất lượng Doanh nghiệp phải luôn khuyến khích nhân viên đưa ra các sáng kiến để cải tiến chất lượng sản phẩm và hạn chế lãng phí Thứ hai, một câu hỏi được đặt ra là có hay không có mục tiêu tối ưu dài hạn, là đòn bẩy của chi phí chất lượng Chi tiêu 15% đến 20% doanh thu cho chi phí liên quan đến chất lượng rõ ràng là quá nhiều, nhưng mức tối ưu cho chi phí liên quan đến vấn đề chất lượng là không cụ thể và khác nhau đối với mỗi công ty

Các công ty đã tìm thấy rằng họ có thể kiểm soát chi phí chất lượng xuống khoảng 5% doanh thu, nhưng nếu giảm hơn nữa thì có thể phản tác dụng Ngoài ra, mặc dù có sự phân biệt cao chi phí chuyển dịch chất lượng từ việc thẩm định, sai hỏng bên trong và sai hỏng bên ngoài đến các thể loại dự phòng, thực tế phát sinh của các loại chi phí này không rõ ràng Hơn nữa, phân bổ chi phí chất lượng giữa bốn loại là một bài tập đòi hỏi phán đoán chủ quan hợp lý của người quản lý

Chi phí chất lượng có giá trị để đạt được sự quan tâm của lãnh đạo cấp cao Các biện pháp phi tài chính liên quan đến chất lượng (năng suất, tỷ lệ khuyết tật của sai hỏng bên trong và sai hỏng bên ngoài, các phế liệu, sửa chữa sản phẩm, và thời gian dừng máy đột xuất) cung cấp kịp thời hơn, phản hồi khách quan cho nhân viên

và phục vụ mục tiêu là tốt hơn cho nỗ lực cải tiến chất lượng của họ

Tóm lại, trong những năm gần đây chất lượng sản phẩm đã và đang là vấn đề quan trọng mà các nhà quản trị quan tâm, sản xuất sản phẩm có chất lượng cao, chi phí sản xuất sản phẩm hợp lý và đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng là mục tiêu của các doanh nghiệp Vì vậy kế toán quản trị đóng một vai trò quan trọng trong việc cung cấp các báo cáo, phương pháp đo lường, làm cơ sở cho nhà quản trị hoạch định chiến lược giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu đã đề ra Từ đó doanh

Trang 32

nghiệp phát triển bền vững và từng bước khẳng định vị thế của mình trên thương trường

Bên cạnh việc đáp ứng được nhu cầu trước mắt về việc duy trì mục tiêu lợi nhuận, việc giải quyết tốt vấn đề chi phí chất lượng còn giúp hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vươn lên một tầm cao mới, tạo ra một lợi thế cạnh tranh bền vững trong tương lai để doanh nghiệp có thể phát triển vượt bậc khi nền kinh tề cạnh tranh ngày càng gay gắt

Kết luận chương 1

Chương 1 đã nêu lên khái niệm, chức năng, nhiệm vụ và vai trò của kế toán quản trị , đồng thời trong chương này cũng đã trình bày các khái niệm về cách tiếp cận vấn đề chất lượng, những công cụ kiểm soát chất lượng làm cơ sở để phân tích, đánh giá thực trạng của việc áp dụng kế toán quản trị và kiểm soát chất lượng toàn diện tại các doanh nghiệp sản xuất trong nước tại Thành phố Hồ Chí Minh

Trang 33

CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VIỆC VẬN DỤNG KẾ TOÁN QUẢN TRỊ VÀO VIỆC KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG TOÀN DIỆN TẠI CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT CÓ NGUỒN VỐN TRONG NƯỚC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

2.1 Công tác kế toán quản trị tại các doanh nghiệp sản xuất có nguồn vốn

trong nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

Doanh nghiệp sản xuất đã khảo sát là các doanh nghiệp 100% vốn trong nước

và thuộc thành phần kinh tế tư nhân

Trong cơ chế nền kinh tế thị trường, để tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước phải liên tục cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng sản phẩm, nghiên cứu thị trường, hoạch định, dư toán nhu cầu tiêu thụ từ đó

dự toán sản xuất cho phù hợp với thị hiếu và nhu cầu của người tiêu dùng Kế toán quản trị là công cụ và là nguồn tổng hợp cung cấp thông tin cần thiết để giúp nhà quản trị đạt được những tiêu chí trên

- Công ty có bộ phận kế toán quản

sử dụng kế toán quản trị đa số là doanh nghiệp nhỏ

Kế toán quản trị đã phát triển lâu đời trên thế giới nhưng khá mới mẻ ở Việt Nam, có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc áp dụng kế toán quản trị trong doanh nghiệp như: nguồn lực kinh tế, ngành nghề kinh doanh, tài chính, công nghệ thông

Trang 34

tin, nhân sự,… phần lớn các doanh nghiệp lớn áp dụng phần mền quản trị, phần mền kế toán, các doanh nghiệp này đã đầu tư số tiền rất lớn cũng như cần một đội ngũ nhân sự có trình độ tương ứng để vận hành, để đáp ứng được nhu cầu thông tin cho các cấp quản lý vì vậy các doanh nghiệp nhỏ không đủ điều kiện về nhân sự, tài chính, và điều kiện kinh tế để xây dựng hệ thống báo cáo quản trị trong doanh nghiệp và các nhà quản lý ở đây cũng chưa thấy được tầm quan trọng cũng như tích hữu ích của kế toán quản trị trong việc điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Tuỳ theo từng loại hình doanh nghiệp, từng ngành nghề kinh doanh khác nhau mà yêu cầu của nhà quản lý về các báo cáo quản trị cũng khác nhau

- Nhiệm vụ của kế toán quản trị?

Số doanh nghiệp Tỷ Lệ %

□ Lập báo cáo theo yêu cầu của nhà quản lý 20 25.00%

□ Lập kế hoạch phục vụ cho việc ra quyết định của nhà

-Vị trí của bộ phận kế toán quản trị? Số doanh nghiệp Tỷ lệ %

□ Là một phần trong kế toán tài chính 56 70.00%

Trang 35

Tổ chức cơ cấu kế toán quản trị chủ yếu thuộc bộ máy kế toán tài chính chiếm 70% tương ứng với 56 doanh nghiệp và 9 doanh nghiệp có bộ phận kế toán quản trị riêng biệt với kế toán tài chính chiếm 11.25%

Qua kết quả khảo sát cho thấy kế toán quản trị vẫn chưa thật sự được các doanh nghiệp sản xuất trong nước chú trọng, trong tình hình nền kinh tế cạnh tranh gay gắt như hiện nay thì việc cung cấp thông tin cho nhà quản lý đầy đủ, kịp thời và chính xác để ra quyết định giúp cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển trên thị trường

2.2 Khảo sát qui trình kiểm soát chất lượng tại các doanh nghiệp sản xuất

có nguồn vốn trong nước trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh

Doanh nghiệp vừa và nhỏ đã và đang phát triển mạnh mẽ và giữ một vị trí quan trọng và đóng góp đáng kể vào sự tăng trưởng nên kinh tế của Việt Nam, bên cạnh việc mở ra các cơ hội thì các doanh nghiệp sản xuất trong nước cũng đứng trước những khó khăn và thách thức từ quá trình hội nhập

Khuynh hướng quản lý sản xuất kinh doanh phổ biến của các doanh nghiệp này là hoạt động quản lý theo kinh nghiệm, thiếu tầm nhìn chiến lược, thiếu kiến thức trên các phương diện: Quản lý tổ chức, chiến lược cạnh tranh, phát triển thương hiệu, sử dụng máy tính và công nghệ thông tin Một số chủ doanh nghiệp

mở công ty chỉ vì có sẵn tiền vốn và thích kinh doanh trong khi đó thiếu kiến thức

và kỹ năng về kinh doanh và điều hành sản xuất

Một số doanh nghiệp sản xuất trong nước có mô hình sản xuất tự phát, không

có qui trình kiểm tra chất lượng dẫn đến năng suất lao động thấp, chi phí sản xuất

và giá thành sản phẩm cao làm yếu đi khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Vì vậy các sản phẩm sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam có giá thành cao hơn nhiều lần mặc dù giá nhân công lao động thuộc loại thấp so với các nước trong khu vực so với sản phẩm các nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái Lan, Malaysia, Philipines,

Trang 36

2.2.1 Dựa vào các công cụ phi tài chính

2.2.1.1.Chất lượng nhà cung cấp.

Trong doanh nghiệp sản xuất thì việc thu mua nguyên vật liệu chính và phụ liệu dùng để sản xuất sản phẩm rất quan trong và chiếm phần lớn chi phí trong giá thành sản phẩm Làm thế nào để thu mua được nguyên vật liệu có chất lượng tốt, giá cả hợp lý và nhà cung cấp giao hàng đúng hạn là mối quan tâm hàng đầu trong các doanh nghiệp sản xuất

Thị trường thu mua nguyên vật liệu chính? Số doanh nghiệp Tỷ lệ %

Mục tiêu lựa chọn nhà cung cấp vật liệu? Số doanh nghiệp Tỷ lệ %

Trang 37

Về mục tiêu lựa chọn nhà cung cấp nguyên vật liệu thì các doanh nghiệp có thể lựa chọn nhiều mục tiêu khác nhau phù hợp với ngành nghề kinh doanh của mình như: giá cả, thời gian giao hàng, chất lượng nguyên vật liệu, khách hàng lâu năm …phần lớn doanh nghiệp quan tâm nhiều nhất đến giá cả nguyên vật liệu chiếm 85%, kế đến là chất lượng nguyên vật liệu 71.25%, điều khoản thanh toán cũng được các doanh nghiệp rất quan tâm vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến dòng tiền lưu thông trong doanh nghiệp và nhà quảm lý thu mua nguyên vật liệu luôn ưu tiên cho các nhà cung cấp chấp nhận công nợ trả sau, vì thế điều khoản thanh toán là ưu tiên tiếp theo trong mục tiêu lựa chọn nhà cung cấp vật liệu chiếm 35% Mục tiêu khách hàng lâu năm 8.75% và các mục tiêu khác chiếm 3.75%

Nhà cung cấp giao nguyên vật liệu đúng hạn ?

Số doanh nghiệp

Công ty có lập kế họach tồn kho nguyên vật liệu chính

phục vụ cho sản xuất?

Số doanh nghiệp

Trang 38

xuất, trong 80 doanh nghiệp khảo sát (xem danh sach doanh nghiệp khảo sát ở phụ lục 1) có 74 doanh nghiệp lập kế hoạch tồn kho nguyên vật liệu chính đạt 92.5% và

7.5 % doanh nghiệp không lập kế hoạch tồn kho nguyên vật liệu chính

Số lượng nguyên vật liệu tồn kho đủ để đảm bảo cho sản xuất mà không dư thừa là vấn đề đã và đang được các doanh nghiệp quan tâm vì nếu dư thừa thì phải tốn thêm chi phí bảo quản nguyên vật liệu trong kho, thậm chí một số doanh nghiệp sản xuất theo đơn đặt hàng của khách hàng thì nguyên vật liệu chỉ sử dụng cho duy nhất 1 đơn hàng và nếu dư thừa thì không sử dụng được nữa Vì vậy việc lập kế hoạch tồn kho phù hợp với nhu cầu sản xuất góp phần ổn định sản xuất, ổn định giá thành sản phẩm, giao hàng đúng hạn cho khách hàng từ đó nâng cao tính cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường

Công ty có tổ chức đánh giá lựa chọn nhà cung

Công ty có quy định rõ thời gian giải quyết tối đa

cho nhà cung cấp khi có sự cố xảy ra?

Số doanh nghiệp Tỷ lệ %

Trang 39

trên là một trong những chỉ tiêu được doanh nghiệp đưa vào danh sách các vấn đề quan tâm để đánh giá chất lượng nhà cung cấp định kỳ, việc qui định rõ thời qian giải quyết các sự cố liên quan giúp cho doanh nghiệp chủ động hơn về thời gian, nguồn nguyên vật liệu cho sản xuất 52 doanh nghiệp chiếm 65% qui định thời gian tối đa cho nhà cung cấp giải quyết sự cố về nguyên vật liệu, 16 doanh nghiệp chiếm 20% không quy định rõ thời gian và 15% doanh nghiệp tương ứng với 12 doanh nghiệp giải quyết các sự cố về nguyên liệu theo lịch hẹn của nhà cung cấp

Công ty có luân chuyển cán bộ phụ trách thu

Các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nước ít quan tâm đến vấn đề luân chuyển cán bộ thu mua, thậm chí các doanh nghiệp này không nghĩ sẽ luân chuyển nhân sự trong khâu này, chỉ có 26,25% tương ứng với 21 doanh nghiệp có thực hiện việc luân chuyển cán bộ phụ trách thu mua và có đến 59 doanh nghiệp chiếm 73.75 % doanh nghiệp không luân chuyển cán bộ phụ trách thu mua nguyên vật liệu

2.2.1.2 Chất lượng trong dây chuyền sản xuất

Chất lượng trong dây chuyền sản xuất là vấn đề đã và đang được các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Thành Phố Hồ Chí Minh quan tâm vì nó liên quan trực tiếp đến chất lượng sản phẩm cũng như giá thành của sản phẩm Thể hiện cụ thể qua các tiêu chí sau:

Công ty có lập định mức sản phẩm hư hỏng?

Số doanh nghiệp Tỷ lệ %

Trang 40

Định mức sản phẩm hư hỏng: hầu hết các doanh nghiệp có quan tâm đến

việc lập định mức sản phẩm hư hỏng chiếm 91,25% và 8.75% doanh nghiệp không lập định mức sản phẩm hư hỏng

Tỷ lệ sản phẩm hư hỏng thực tế so với định mức

hàng năm như thế nào?

Số doanh nghiệp Tỷ lệ %

Tỷ lệ sản phẩm hư hỏng: chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố nên tỷ lệ sản phẩm

hư hỏng thực tế khác với định mức khi lập kế hoạch, 48.75% doanh nghiệp có sản phẩm hư hỏng thực tế cao hơn định mức, 41.25% doanh nghiệp lập định mức cao hơn thực tế và 7.5% doanh nghiệp lập định mức bằng với sản phẩm thực tế hư hỏng

Nguyên nhân khác biệt giữa sản phẩm hư hỏng

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự khác biệt giữa sản phẩm hư hỏng thực tế

và định mức khi lập kế hoạch, trong đó nhiều doanh nghiêp cho rằng nguyên nhân chủ yếu là do nguyên vật liệu kém chất lượng dẫn đến tỷ lệ sản phẩm hư hỏng cao, việc máy móc hư hỏng là nguyên nhân thứ 2 làm thay đổi tỷ lệ sản phẩm hư hỏng, tay nghề công nhân yếu và không được đào tạo bài bản cũng góp phần làm thay đổi

tỷ lệ sản phầm hư hỏng và còn một số nguyên nhân khác như: khâu thiết kế mẫu, khâu kiểm tra, phụ liệu

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:56

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w