CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứuBài nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên NIM trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đ
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi tên Đặng Thị Xuân Hồng, tác giả của luận văn tốt nghiệp xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của TS Trương Hoàng Lương
Dữ liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá có nguồn gốc rõ ràng, minh bạch Nội dung và kết quả trong đề tài nghiên cứu này là trung thực
TP Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2017 Người thực hiện
Đặng Thị Xuân Hồng
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng biểu
Danh mục các đồ thị, sơ đồ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu 1
1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu 1
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
1.7 Kết cấu của luận văn 4
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 6
2.1 Giới thiệu 6
2.2 Cơ sở lý luận: 6
2.2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) 6
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên 8
2.3 Các nghiên cứu có liên quan 10
Trang 5KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 17
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 18
3.1 Giới thiệu: 18
3.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hệ thống ngân hàng Việt Nam 18
3.3 Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 24
3.4 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam 29
3.4.1 Tình hình vốn chủ sở hữu 29
3.4.2 Rủi ro tín dụng 30
3.4.3 Tính thanh khoản 32
3.4.4 Chi phí hoạt động 33
3.4.5 Thu nhập thuần ngoài lãi 34
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 36
CHƯƠNG 4: NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 37
4.1 Giới thiệu 37
4.2 Phương pháp nghiên cứu 37
4.2.1 Mô hình nghiên cứu 37
4.2.2 Phương pháp nghiên cứu 42
Trang 64.2.2.1 Phân tích thống kê mô tả 42
4.2.2.2 Phân tích tương quan 42
4.2.2.3 Phân tích hồi quy 42
4.2.2.4 Kiểm định đa cộng tuyến 43
4.3 Dữ liệu nghiên cứu 43
4.4 Kết quả của mô hình và thảo luận kết quả 44
4.4.1 Mô tả mẫu nghiên cứu 44
4.4.2 Phân tích tương quan mô hình nghiên cứu 45
4.4.3 So sánh giữa các mô hình trên panel data: Pooled Regression, Fixed effects model, Random effects model 46
4.4.4 Kiểm định các giả thuyết hồi quy mô hình nghiên cứu 47
4.4.4.1 Kiểm định không có sự tự tương quan giữa các biến độc lập trong mô hình (không bị hiện tượng đa cộng tuyến) 47
4.4.4.2 Kiểm định phương sai của sai số không đổi 48
4.4.4.3 Kiểm định giữa các sai số không có mối quan hệ tương quan với nhau (không bị hiện tượng tự tương quan) 49
4.4.4.4 Tổng hợp kết quả kiểm định 49
4.4.4.5 Kết quả kiểm định độ phù hợp của các biến giải thích trong mô hình nghiên cứu và thảo luận kết quả 50
KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 53
CHƯƠNG 5: MỘT SỐ GIẢI PHÁP ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC 54
5.1 Định hướng phát triển của các NHTM Việt Nam đến năm 2020 54
5.2 Một số giải pháp nhằm gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đối với NHTM và NHNN 55
5.2.1 Đối với ngân hàng nhà nước 55
Trang 7KẾT LUẬN 59 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH SÁCH CÁC CHỮ VIẾT TẮT NHNN : Ngân hàng nhà nước
NHNNVN : Ngân hàng nhà nước Việt Nam
NHTM : Ngân hàng thương mại
NHTMCP : Ngân hàng thương mại cổ phần
TCTD : Tổ chức tín dụng
TMCP : Thương mại cổ phần
NIM : Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
WTO : Tổ chức Thương mại thế giới
IMF : Qũy Tiền tệ Quốc tế
Trang 9Bảng 3.1: Cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 1991 - 2016
Bảng 3.2: Tổng vốn chủ sở hữu bình quân tại các NHTM Việt Nam giai đoạn
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả các biến nghiên cứu
Bảng 4.3: Mối tương quan giữa các biến độc lập
Bảng 4.4: Kết quả phân tích hồi quy Pooled OLS, FEM và REM
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định F & Hausman
Bảng 4.6: Kết quả kiểm định VIF
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định White
Bảng 4.8: Kết quả kiểm định tự tương quan
Bảng 4.9: Kết quả hồi quy mô hình theo phương pháp GLS
Trang 10DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ
Sơ đồ 3.1: Hệ thống các TCTD Việt Nam tại tháng 06/2017
Biểu đồ 3.2: NIM tại các NHTM Việt Nam niêm yết giai đoạn 2008 - 2016
Biểu đồ 3.3: NIM của ngành ngân hàng Việt Nam và một số nước trong khu vực ASEAN giai đoạn 2008-2015
Biểu đồ 3.4: NIM của ngành ngân hàng Việt Nam và một số nước phát triển trong khu vực Châu Á giai đoạn 2008-2015
Biểu đồ 3.5: Tỷ lệ Cho vay trên Huy động của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016
Trang 11CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Giới thiệu vấn đề nghiên cứu
Bài nghiên cứu phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2008-2016 Bằng việc dựa vào nghiên cứu định lượng nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của các ngân hàng, trong đó, thu nhập lãi cận biên là thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời của các ngân hàng thương mại Điều này không chỉ là sự quan tâm của các học giả, mà còn của các nhà quản trị và các cơ quan chức năng, bởi vì qua việc hiểu biết các nhân tố ảnh hưởng tới kết quả thu nhập lãi cận biên giúp cho các nhà làm chính sách cũng như nhà quản trị trong việc hình thành chiến lược, chính sách nhằm đảm bảo tính ổn định, bền vững trong hoạt động của hệ thống ngân hàng
1.2 Sự cần thiết của vấn đề nghiên cứu
Từ khi trở thành thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới WTO năm
2006, Việt Nam đã đón nhận nhiều cơ hội và thách thức trong mọi lĩnh vực, trong
đó có lĩnh vực ngân hàng – một lĩnh vực hết sức nhạy cảm Việc mở cửa thị trường tài chính làm cho các ngân hàng Việt Nam phải đối mặt với cạnh tranh cao hơn từ các ngân hàng nước ngoài Đặc biệt, trong những năm gần đây, hoạt động tín dụng tại các NHTM Việt Nam bị sụt giảm đáng kể do tác động từ nhiều yếu tố nội tại và bên ngoài Trong khi, bản chất của NHTM ban đầu là huy động và cho vay, sau này phát sinh thêm các hoạt động khác như bảo lãnh, phát hành chứng khoán, các dịch
vụ thẻ, bảo lãnh thanh toán, giao dịch ngoại hối, chứng khoán v.v… để tăng khả năng sinh lời, phân bổ rủi ro Tuy nhiên trong cơ cấu hoạt động tại các NHTM Việt Nam hiện nay, tỷ lệ thu từ lãi còn chiếm tỷ lệ rất cao thông thường lên đến 70-85% tổng thu nhập của ngân hàng Tỷ lệ này càng cao thì lợi nhuận của ngân hàng càng cao Nên tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là thước đo tính hiệu quả cũng như khả năng sinh lời Một hệ thống ngân hàng cạnh tranh thúc đẩy hiệu quả cao hơn được phản
Trang 12ánh trong thu nhập lãi cận biên thấp Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên có xu hướng thấp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên có xu hướng tăng cho thấy các ngân hàng hoạt động tốt trong việc duy trì sự tăng trưởng nguồn thu so với mức tăng của chi phí Nhưng tỷ suất lợi nhuận quá cao lại tạo ra những trở ngại đáng kể cho các chủ thể khác trong nền kinh tế và chính các trung gian tài chính, như lãi suất thấp khó huy động được tiền gửi và lãi suất cho vay cao làm giảm cơ hội đầu tư của ngân hàng Do đó, việc nghiên cứu về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cũng như hiểu biết về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên là rất quan trọng Từ đó cung cấp cho các nhà quản trị ngân hàng một cách nhìn chi tiết về tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên,
để từ đó các nhà quản trị ngân hàng có thể đưa ra những chính sách phù hợp để đạt được những mục tiêu đề ra, cũng như cơ quan liên quan khác có thể sử dụng cho mục đích đánh giá, quản lý, giám sát hiệu quả trong hoạt động kinh doanh ngân hàng
Với những lý do trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam” để nghiên cứu
1.3 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Luận văn xây dựng mô hình nghiên cứu để tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam, với mục tiêu nghiên cứu cụ thể là:
- Cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến
tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
- Xác định các yếu tố và mức độ ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
- Phân tích thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp dành cho các NHTM và NHNN nhằm gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
Trang 13Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, luận văn phải trả lời được các câu hỏi nghiên cứu sau:
- Thứ nhất, trong các yếu tố bên trong của ngân hàng, yếu tố nào tác động và
đã tác động như thế nào đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam ?
- Thứ hai, thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016 như thế nào ?
- Thứ ba, để gia tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam, NHTM và NHNN cần thực hiện những kiến nghị và giải pháp khả thi nào ?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
Luận văn phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của 25 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2008-2016, bao gồm NHTM nhà nước và NHTM
cổ phần Số liệu được thu thập và chọn lựa sau khi loại bỏ các ngân hàng có quá trình sáp nhập, hợp nhập và những ngân hàng không công bố thông tin hoặc thông tin không đầy đủ Tác giả chọn giai đoạn 2008-2016 làm giai đoạn phân tích vì đây
là giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO, đồng thời các thông tin do các ngân hàng công bố được sử dụng để phân tích định lượng cũng khá đầy đủ
1.5 Phương pháp nghiên cứu
Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu đặt ra, luận văn sử dụng phương pháp phân tích định lượng để phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam, cụ thể như sau:
- Nhằm cung cấp những thông tin tổng quát về mẫu nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp phân tích thống kê mô tả
- Phân tích tương quan được sử dụng để kiểm tra độ lớn trong mối quan hệ
Trang 14giữa các biến độc lập và biến phụ thuộc
- Phân tích hồi quy được sử dụng để đo lường mức độ tác động và chiều tác động của từng biến độc lập đến biến phụ thuộc
- Để tìm ra mô hình hồi quy phù hợp nhất trong việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam, tác giả tiến hành
so sánh các phương pháp kiểm định và dựa vào kết quả kiểm định mức độ phù hợp của mô hình nghiên cứu
- Dựa vào kết quả phân tích hồi quy và thực trạng của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để đưa ra đánh giá, nhận xét về sự tác động của các yếu tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu
1.6 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Luận văn này cung cấp một bằng chứng thực nghiệm để đóng góp vào sự hiểu biết
về tác động của các yếu tố đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam Dựa vào nền tảng đó, các nhà quản trị ngân hàng có hướng đi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng của các ngân hàng, góp phần kích thích sản xuất, tiêu dùng
và phát triển kinh tế Đồng thời góp phần làm nền tảng cho các nghiên cứu liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trong tương lai
1.7 Kết cấu của luận văn
Kết cấu luận văn bao gồm năm chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Cơ sở lý luận và các nghiên cứu có liên quan
Chương 3: Thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
Chương 4: Nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam
Trang 15Chương 5: Một số giải pháp đối với NHTM và NHNN
Trang 16CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN 2.1 Giới thiệu
Chương 1 đã giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu Phần đầu chương 2 sẽ giới thiệu các lý thuyết về tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Đồng thời lược khảo các công trình nghiên cứu trước của các tác giả khác nhau có liên quan đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để đúc kết những tinh túy cho luận văn Đây là một phần quan trọng và không thể thiếu trong một công trình nghiên cứu
2.2 Cơ sở lý luận:
2.2.1 Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM)
Khái niệm: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM – Net Interest Margin) đo lường mức
chênh lệch giữa thu từ lãi và chi phí trả lãi mà ngân hàng có thể đạt được thông qua hoạt động kiểm soát chặt chẽ tài sản sinh lời và theo đuổi các nguồn vốn có chi phí thấp nhất (Trương Quang Thông, 2012, trang 63) NIM được xác định bằng chênh lệch giữa thu nhập từ lãi mà ngân hàng nhận được và chi phí lãi mà ngân hàng phải trả, chia cho tài sản Có sinh lời bình quân của ngân hàng - công thức như sau :
Trong đó:
- Thu nhập lãi là thu nhập từ các khoản cho vay khách hàng, chứng khoán đầu
tư, tiền gửi tại NHNN, cho vay các tổ chức tín dụng và thu khác từ hoạt động tín dụng
- Chi phí lãi là chi phí trả lãi mà ngân hàng phải trả cho tiền gửi, tiền vay và các khoản chi phí tương tự
Trang 17- Tài sản Có sinh lời là tài sản Có của ngân hàng tạo ra thu nhập lãi trong một khoảng thời gian cụ thể bao gồm: Cho vay khách hàng (tín dụng), chứng khoán đầu
tư, tiền gửi tại NHNN Việt Nam, tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác (thị trường liên ngân hàng) Tài sản Có sinh lời không bao gồm tiền – kim loại quý tại quỹ và tài sản cố định
Ý nghĩa: Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giúp nhà quản trị thấy được khả năng sinh lời
và dự báo khả năng sinh lời trong hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại Qua đó có thể điều chỉnh, kiểm soát chặt chẽ các loại tài sản có sinh lời, tìm kiếm những nguồn vốn có chi phí thấp, đồng thời có chính sách tăng giảm lãi suất một cách hợp lý (Nguyễn Đăng Dờn, 2009, trang 168)
- Xét về góc độ kinh tế, đối với hầu hết các ngân hàng, thu nhập lãi đại diện cho một phần quan trọng trong thu nhập hoạt động Hệ số NIM của ngành ngân hàng càng cao thì ngân hàng hoạt động tốt trong quản trị tài sản Nợ - Có Ngược lại, NIM có xu hướng thấp cho thấy lợi nhuận ngân hàng đang bị co hẹp lại Theo như đánh giá của S&P thì tỷ lệ NIM dưới 3% được xem là thấp trong khi NIM lớn hơn 5% thì được xem là quá cao NIM có xu hướng cao ở các ngân hàng bán lẻ quy mô nhỏ, các ngân hàng thẻ tín dụng và các tổ chức cho vay hơn là NIM của các ngân hàng bán buôn, các ngân hàng đa quốc gia hay các tổ chức cho vay cầm cố (Allen
và Gale, 1995), (Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014, trang 21-22)
- Xét về góc độ lợi ích xã hội, NIM ở mức nào là tốt, ở mức nào là xấu vẫn còn là vấn đề cần phải làm rõ (Doliente, 2005) Theo kết quả nghiên cứu của Claeys
và Vennet năm 2008, ở các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi có tỷ lệ NIM cao được đánh giá là kém hiệu quả và do thị trường không cạnh tranh gây ra Trong trường hợp này, NIM cao làm cho lãi suất cho vay cao, gây khó khăn cho các doanh nghiệp huy động vốn, trong khi lãi suất huy động lại thấp nên khó thu hút được tiền gửi Một NIM thấp có thể cho thấy sự cạnh tranh, hoạt động hiệu quả trong hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, nếu một môi trường kinh tế mà các ngân hàng yếu kém được phép hoạt động và thực hiện chiến lược cấp tín dụng với lãi suất cho vay thấp
Trang 18để tăng thị phần thì tỷ lệ NIM thấp chưa thể khẳng định là tốt (Doliente, 2005), (Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự, 2014, trang 21-22)
Tóm lại, xét về góc độ kinh tế, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao thì luôn được coi là
tốt Về góc độ lợi ích xã hội, NIM cao hay thất được xem là tốt thì chỉ mang tính chất tương đối Tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thấp chứng tỏ hệ thống ngân hàng hoạt động không hiệu quả nhưng lại giúp các doanh nghiệp dễ dàng trong việc tiếp cận với các nguồn vốn tín dụng Ngược lại, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cao cho thấy các ngân hàng đang thu được nhiều lợi nhuận, nhưng lại là hàng rào ngăn cản trong việc lưu thông tín dụng, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế Ở đây tồn tại xung đột lợi ích giữa người làm chính sách có mục tiêu là tối đa hóa lợi ích xã hội, và hệ thống ngân hàng thương mại có mục tiêu là tối đa lợi nhuận
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
Theo công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi cận, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên sẽ thay đổi khi xuất hiện sự biến động lãi suất, sự xuất hiện những thay đổi trong lãi suất nói chung Trong ngắn hạn, khi lãi suất thị trường giảm, chi phí huy động của ngân hàng sẽ giảm theo nhanh hơn so với thu nhập lãi, kéo theo tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tăng Ngược lại, khi lãi suất thị trường tăng sẽ làm cho tỷ lệ thu nhập lãi cận biên giảm Tuy nhiên, theo thời gian, cơ chế truyền dẫn này sẽ giảm bớt hiệu lực, do các khoản cho vay trung – dài hạn cũ đáo hạn hoặc được thiết lập ở mức lãi suất mới phù hợp với lãi suất thị trường, cũng có thể do những tác nhân khách quan như mệnh lệnh hành chính của Nhà nước,… Vì thế, trong trung – dài hạn thì tác động của biến cố tăng lãi suất tới thu nhập của các ngân hàng là không rõ ràng Bên cạnh
đó, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên cũng bị biến động khi xuất hiện những thay đổi về giá trị tài sản nhạy với lãi suất mà ngân hàng nắm giữ khi mở rộng hay thu hẹp hoạt động, những thay đổi về giá trị nợ nhảy cảm với lãi suất mà ngân hàng sử dụng để tài trợ cho danh mục tài sản sinh lời và những thay đổi trong cấu trức nợ,… Qua đó,
tỷ lệ thu nhập lãi cận biên được các nhà quản trị ngân hàng lựa chọn để đo lường các tác động của sự thay đổi lãi suất
Trang 19Tuy nhiên, ngoài những nhân tố được thể hiện rõ qua công thức tính tỷ lệ thu nhập lãi cận biên trên, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên còn bị ảnh hưởng bởi tác động từ những nhân tố khác xuất phát từ hoạt động kinh doanh của ngân hàng, cụ thể là:
- Vốn chủ hữu là nguồn vốn được tạo nên từ sự góp vốn ban đầu của chủ
ngân hàng hoặc được bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh sau này, bao gồm vốn điều lệ khi đăng ký thành lập ngân hàng, thặng dư vốn, lợi nhuận chưa phân phối và một số vốn khác Quy mô vốn chủ sở hữu tuy không tác động trực tiếp đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên nhưng tác động thông qua áp lực tăng trưởng tín dụng Tăng vốn giúp các ngân hàng nâng cao năng lực tài chính để đảm bảo các hệ
số an toàn vốn (hệ số CAR)
- Rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động cấp tín dụng của
tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết Rủi ro tín dụng được phản ánh qua tỷ lệ nợ xấu hoặc tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng Tỷ lệ nợ xấu quá cao dẫn đến tỷ lệ dự phòng rủi
ro tín dụng cao không những làm giảm thu nhập của ngân hàng mà còn làm giảm nguồn vốn Bên cạnh đó, ngân hàng còn phải đối mặt với nhiều nguy cơ tiềm ẩn khác như rủi ro thanh khoản, khó khăn trong việc huy động vốn, uy tín và năng lực cạnh tranh bị sụt giảm Do đó, ngân hàng phải trả chi phí cao hơn cho việc huy động vốn và tăng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên để bù đắp lại những phí tổn thất xảy ra
- Thanh khoản ngân hàng là khả năng ngân hàng đảm bảo thực hiện tất cả
nghĩa vụ thanh toán đã cam kết, được phản ánh qua nhiều cách đo lường khác nhau như tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản trên tổng tài sản, tỷ lệ dư nợ trên huy động vốn
và một số cách đo lường khác Thanh khoản tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên thông qua chi phí sử dụng vốn Ngân hàng bỏ ra nhiều chi phí hơn để huy động vốn khi gặp khó khăn trong thanh khoản, làm tăng chi phí vốn, chênh lệch giữa cho vay
và huy động vốn tăng
- Chi phí hoạt động là các khoản chi phí phát sinh trong quá trình hoạt động
Trang 20kinh doanh của ngân hàng Kiểm soát chi phí là hoạt động thiết yếu đối với mỗi ngân hàng Quản lý hiệu quả chi phí hoạt động giúp ngân hàng gia tăng lợi nhuận và hiệu quả hoạt động Chi phí hoạt động tác động trực tiếp đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên đối với các ngân hàng có nguồn thu nhập chủ yếu từ lãi
- Thu nhập thuần ngoài lãi của ngân hàng bao gồm thu nhập thuần từ phí và
dịch vụ từ hoạt động ngân hàng, đầu tư chứng khoán, các nghiệp vụ ngân hàng đầu
tư khác, và thu nhập khác Ngân hàng sẽ giảm chi phí dự phòng rủi ro nếu nguồn thu nhập của ngân hàng đến từ nhiều mảng hoạt động kinh doanh khác nhau Đây cũng chính là xu hướng phát triển bền vững của các ngân hàng trong thời gian tới
2.3 Các nghiên cứu có liên quan
2.3.1 Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
Phần lớn các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới đều sử dụng mô hình hồi quy tuyến tính để nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của ngân hàng, cụ thể như:
Raja Almarzoqi và Sami Ben Naceur (IMF, 2015) đã nghiên cứu ảnh hưởng của
các nhân tố bên trong ngân hàng và các nhân tố vĩ mô đến NIM của 110 NHTM tại các quốc gia thuộc Cáp-ca-dơ (Caucasus) và Trung Á (Central Asia), gọi chung là CCA, giai đoạn 1998 - 2013 Các tác giả sử dụng biến phụ thuộc để nghiên cứu tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) Các biến độc lập đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng được sử dụng bao gồm chi phí hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, quy mô hoạt động cho vay, thu nhập ngoài lãi và chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc Các biến độc lập đại diện đặc trưng cho thị trường ngân hàng là độ tập trung thị trường Các biến độc lập đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm lạm phát và lãi suất chính sách (lãi suất cơ bản) Các biến độc lập đại diện cho thể chế là độ sâu của chỉ số thông tin tín dụng, sự bảo hộ mậu dịch và thể chế hóa
Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các biến đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân
Trang 21hàng, các biến đại diện đặc trưng cho thị trường ngân hàng và các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô đều có mối tương quan với NIM Nhưng sự tác động và tương quan tùy thuộc vào dữ liệu của từng quốc gia trong khu vực Cụ thể là:
- Các biến độc lập có mối tương với NIM trong tất cả phân tích hồi quy ở từng nước và khu vực CCA bao gồm chi phí hoạt động có mối tương quan thuận đáng kể với NIM, thu nhập ngoài lãi có mối tương quan nghịch đáng kể với NIM và chi phí
cơ hội của dự trữ bắt buộc có mối tương quan thuận với NIM
- Các biến độc lập có mối tương quan với NIM ở một số quốc gia là tỷ lệ vốn chủ sở hữu có mối tương quan thuận hoặc tương quan nghịch tùy theo đặc điểm của các quốc gia trong khi tỷ lệ vốn chủ sở hữu không có mối tương quan với NIM tại quốc gia Uzbekistan, rủi ro tín dụng có mối tương quan nghịch với NIM tại quốc gia Georgia và Kazakhstan trong khi có mối tương thuận với NIM tại quốc gia Uzbekistan, quy mô hoạt động cho vay có mối tương quan nghịch với NIM tại quốc gia Azerbaijan và Uzbekistan trong khi có mối tương thuận với NIM tại quốc gia Armenia Các biến độc lập đại diện đặc trưng cho thị trường ngân hàng là độ tập trung thị trường và đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm lạm phát và lãi suất chính sách (lãi suất cơ bản) cũng có những mối tương quan thuận hoặc nghịch tùy theo quốc gia và mô hình hồi quy
- Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy tác động có ý nghĩa của biến độc lập đại diện cho thể chế là độ sâu của chỉ số thông tin tín dụng, sự bảo hộ mậu dịch và thể chế hóa
Bên cạnh đó, Ong Tze San & Teh Boon Heng (2013) cũng đã sử dụng mô hình hồi
quy nghiên cứu các yếu tố thuộc đặc điểm ngân hàng và yếu tố vĩ mô đến khả năng sinh lợi của các ngân hàng ở Malaysia trong giai đoạn 2003-2009 Kết quả nghiên cứu cho thấy rủi ro tín dụng (tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản) và thanh khoản ngân hàng (tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản) tác động cùng chiều đến NIM, trong khi đó tỷ lệ chi phí hoạt động tác động ngược chiều đến tỷ lệ
Trang 22thu nhập lãi cận biên (NIM) Kết quả nghiên cứu chưa tìm thấy tác động có ý nghĩa của tỷ lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), quy mô ngân hàng (logarit của tổng tài sản), tăng trưởng kinh tế và lạm phát đến NIM
T Velnampy & J Aloy Nirest (2012) đã cho rằng có sự tác động của cấu trúc vốn
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) tại 10 ngân hàng ở Srilankan trong giai đoạn
2002 – 2009 Để phân tích sự tác động của cấu trúc vốn đến NIM, tác giả sử dụng phương pháp thống kê mô tả và phân tích tương quan để nghiên cứu Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn có tác động ngược chiều đến NIM
Mặt khác, Husni Khrawish & cộng sự (2008) đã nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng
đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của 13 ngân hàng thương mại tại Jordan trong giai đoạn 1992 – 2005 Sau khi nghiên cứu thông qua 03 phương pháp cơ bản trên
dữ liệu bảng, gồm: hồi quy theo phương pháp bình phương nhỏ nhất (POLS), hồi quy ảnh hưởng cố định (FEM) và hồi quy ảnh hưởng ngẫu nhiên (REM), kết quả nghiên cứu cho rằng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên bị tác động cùng chiều bởi bởi tỷ lệ chi phí hoạt động (chi phí hoạt động trên tổng tài sản), tỷ lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), tỷ lệ cho vay (doanh số cho vay trên tổng tài sản) và quy mô ngân hàng (logarit của tổng tài sản) Nghiên cứu chưa tìm thấy tác động có
ý nghĩa của thị phần ngân hàng (tỷ lệ huy động tiền gửi của ngân hàng so với tổng huy động tiền gửi của tất cả các ngân hàng), tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ giá hối đoái
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm ở Việt Nam
Ở Việt Nam, nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam thì chỉ có một số ít tác giả nghiên cứu thực nghiệm như Hoàng Trung Khánh và Vũ Thị Đan Trà (2015), Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự (2014), Nguyễn Thị Kim Thu và Đỗ Thị Thanh Huyền (2013) Nghiên cứu các nhân
tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTMCP Việt Nam như Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015)
Trang 23Trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Linh và Nguyễn Thị Ngọc Hương (2015)
đã sử dụng mô hình hồi quy pooled regression (Pooled OLS), mô hình Fixed Effects (FE) và Random Effects (RE) để phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTMCP Việt Nam Dữ liệu nghiên cứu gồm 27 NHTMCP Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2013
Biến phụ thuộc được nghiên cứu là tỷ lệ thu lãi cận biên (NIM)
Các biến độc lập đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng là quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng, quy mô vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động và hiệu quả quản lý Các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô bao gồm: tỷ lệ lãi suất và tăng trưởng GDP
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng và quy mô vốn chủ sở hữu có mối tương quan thuận với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Hiệu quả quản lý có mối tương quan nghịch với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Trong khi đó các biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô như tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có mối tương quan nghịch với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Lạm phát có mối tương quan thuận với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng
Mặt khác, Nguyễn Minh Sáng và các cộng sự (2014) đã sử dụng mô hình hồi quy
theo hai hướng tiếp cận là mô hình tác động cố định (Fixed Effects – FE) và mô hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects – RE), sau đó dùng kiểm định Hausman
để lựa chọn mô hình phù hợp nhất Dữ liệu nghiên cứu gồm 30 NHTM Việt Nam trong khoảng thời gian từ năm 2008 đến năm 2013
Kết quả hồi quy dữ liệu bảng cho thấy biến đại diện cho yếu tố kinh tế vĩ mô là tốc
độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có tác động ngược chiều đến NIM Trong khi, tỷ lệ lạm phát có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Các biến đại diện cho đặc điểm ngành ngân hàng là sự phát triển ngành ngân hàng có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Các biến đại diện cho đặc điểm nội tại của
Trang 24ngân hàng bao gồm tỉ lệ nắm giữ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, tính thanh khoản
và chi phí hoạt động là các nhân tố có tác động cùng chiều đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên
Tóm lại, tất cả những nghiên cứu trên đều đưa ra những nhân tố khác nhau ảnh
hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên và vẫn chưa có một mô hình chung cho nhiều yếu tố trên Tác giả đã xây dựng một mô hình tích hợp các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ
lệ thu nhập lãi cận biên từ đóng góp của những nghiên cứu trên và một số thay đổi
để phù hợp với tình hình ở Việt Nam Mô hình nghiên cứu bao gồm các biến độc lập đại diện cho đặc điểm nội tại của ngân hàng bao gồm tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản, tỷ lệ chi phí hoạt động, rủi ro nguồn vốn và tỷ lệ thu nhập ngoài lãi Trong phân tích định lượng, tác giả tiến hành theo như phương pháp của các bài nghiên cứu trên bao gồm tiếp cận theo mô hình hồi quy Pooled OLS, Fixed Effects (FE) và Random Effects (RE) để phân tích các nhân tố tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) của các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008-2016
Trang 25Bảng 2.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm gần đây
Tác giả Dữ liệu Biến phụ thuộc Biến độc lập Kết quả
Các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới
và dữ liệu bảng không cân bằng gồm
110 ngân hàng tại khu vực CCA giai đoạn 1998-
2013
NIM – Thu nhập lãi trừ chi phí lãi/
tổng tài sản
Chi phí hoạt động, tỷ
lệ vốn chủ sở hữu, rủi
ro tín dụng, quy mô hoạt động cho vay, thu nhập ngoài lãi, chi phí
cơ hội của dự trữ bắt buộc, mức độ tập trung thị trường, lạm phát, lãi suất chính sách (lãi suất cơ bản),
độ sâu của chỉ số thông tin tín dụng, sự bảo hộ mậu dịch và thể chế hóa
Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng các biến chi phí hoạt động và chi phí cơ hội của dự trữ bắt buộc có mối tương quan thuận với NIM, thu nhập ngoài lãi có mối tương quan nghịch với NIM Trong khi đó, các biến tỷ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, quy mô hoạt động cho vay, mức độ tập trung thị trường, lạm phát, lãi suất chính sách (lãi suất cơ bản)
có mối tương quan tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia
2009
NIM – Thu nhập lãi thuần trừ chi phí lãi thuần/ tổng tài sản ROA – Thu nhập thuần/
tổng tài sản ROE – Thu nhập thuần/
vốn chủ sở hữu
Rủi ro tín dụng (tỷ lệ trích lập dự phòng rủi
ro tín dụng trên tổng tài sản), thanh khoản ngân hàng (tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản), chi phí hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), quy
mô ngân hàng, tăng trưởng kinh tế và lạm phát đến NIM
Kết quả khẳng định các yếu tố rủi ro tín dụng (tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng tài sản) và thanh khoản ngân hàng (tỷ lệ tài sản có tính thanh khoản) tác động cùng chiều đến NIM, ROA và ROE, trong khi chi phí hoạt động tác động ngược chiều
ở Srilankan trong giai đoạn 2002 – 2009
Lợi nhuận ròng ROCE – tỷ suất sinh lợi/ tổng nguồn vốn ROE – tỷ suất sinh lợi/ vốn chủ
Tỷ lệ dư nợ trên vốn chủ sở hữu, tỷ lệ dư
nợ trên tổng nguồn vốn
Kết quả nghiên cứu cho thấy cấu trúc vốn
có tác động ngược chiều đến NIM
Trang 26Tác giả Dữ liệu Biến phụ thuộc Biến độc lập Kết quả
sở hữu NIM - Thu nhập lãi trừ chi phí lãi/
tổng tài sản Husni
Khrawish
& cộng sự
(2008)
Hồi quy FEM và REM cho
13 ngân hàng tại Jordan giai đoạn 1992 – 2005
NIM – Thu nhập lãi trừ chi phí lãi/
tổng tài sản
Chi phí hoạt động, tỷ
lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản), tỷ lệ cho vay, quy mô ngân hàng, tỷ lệ huy động tiền gửi của ngân hàng so với tổng huy động tiền gửi của tất
cả các ngân hàng, tăng trưởng kinh tế, lạm phát và tỷ giá hối đoái
Nghiên cứu cho thấy NIM bị tác động cùng chiều bởi tỷ lệ chi phí hoạt động, tỷ lệ vốn chủ sở hữu (vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản),
tỷ lệ cho vay và quy
27 NHTMCP Việt Nam giai đoạn
2008 –
2013
NIM – Thu nhập lãi trừ chi phí lãi/
tổng tài sản
Quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng, quy mô vốn chủ sở hữu, tỷ lệ cho vay trên vốn huy động, hiệu quả quản lý, tỷ lệ lãi suất và tăng trưởng GDP
Kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô ngân hàng, quy mô hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng, quy mô vốn chủ
sở hữu và lạm phát có mối tương quan thuận với NIM Hiệu quả quản lý và tăng trưởng GDP có mối tương quan nghịch với NIM Nguyễn
30 NHTM Việt Nam giai đoạn
2008 -
2013
NIM – Thu nhập lãi thuần/ Tài sản có sinh lãi trung bình
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, tính thanh khoản, chi phí hoạt động, sự phát
hàng, tỷ lệ lạm phát
và tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP)
Tỉ lệ vốn chủ sở hữu, rủi ro tín dụng, tính thanh khoản, chi phí hoạt động, tỷ lệ lạm phát và sự phát triển ngành ngân hàng là các nhân tố có tác động cùng chiều đến NIM Trong khi đó tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) có tác động ngược chiều đến NIM
Trang 27KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Chương 2 đã sơ lược về mô hình nghiên cứu và kết quả của các nghiên cứu trước đây của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới cũng như Việt Nam về các nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Từ cơ sở lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm trên thế giới cũng như Việt Nam cho chúng ta thấy rằng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên bị tác động bởi nhiều nhân tố Trong đó, tất cả các mô hình nghiên cứu điều tìm thấy các nhân tố đại diện cho đặc điểm nội tại ngân hàng tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Trong khi đó, các nhân tố đại diện cho đặc thù ngành ngân hàng và yếu tố kinh tế vĩ mô với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên chưa tìm thấy mối tương quan rõ ràng với tỷ lệ thu nhập lãi cận biên còn tùy thuộc vào từng quốc gia
Phần tiếp theo sau đây, tác giả đi sâu vào thực trạng tỷ lệ thu nhập lãi cận biên tại các NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016
Trang 28CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG TỶ LỆ THU NHẬP LÃI CẬN BIÊN TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 3.1 Giới thiệu:
Phần đầu chương 3 sẽ giới thiệu tổng quan về ngân hàng thương mại, hệ thống ngân hàng Việt Nam và tình hình hoạt động của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2008 -
2016 Phần tiếp theo của chương, tác giả đi sâu vào tình hình thực trạng của tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của ngân hàng Phần cuối chương, tác giả trình bày thực trạng của các nhân tố đang tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên Từ phân tích thực trạng, tác giả đúc kết ra những nhân tố đang tác động đến tỷ lệ thu nhập lãi cận biên của NHTM Việt Nam giai đoạn 2008 – 2016
3.2 Tổng quan về ngân hàng thương mại và hệ thống ngân hàng Việt Nam
Hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô, quỹ tín dụng nhân dân và văn phòng đại diện Tính đến tháng 12/2016, Việt Nam có 04 NHTMNN, 02 ngân hàng chính sách, 01 ngân hàng hợp tác xã, 31 NHTMCP, 02 ngân hàng liên doanh, 08 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 51 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 51 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài, 16 công ty tài chính, 11 công ty cho thuê tài chính và 03 tổ chức tài
chính vi mô (Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam) Trong đó, tổng tài sản của
khối ngân hàng thương mại nhà nước là 4.145.993 tỷ đồng, chiếm 45,47% tổng tài sản của hệ thống và tổng tài sản của khối ngân hàng thương mại cổ phần là
3.671.490 tỷ đồng, chiếm 40,27% tổng tài sản của hệ thống (Nguồn: Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam và tính toán của tác giả) Có thể thấy, NHTM (NHTMNN và
NHTMCP) giữ vai trò quan trọng chủ chốt trong hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam Hệ thống tổ chức và cơ cấu quy mô tài sản của các TCTD Việt Nam tại thời điểm tháng 12/2016 được tóm tắt lần lượt qua sơ đồ 3.1 và biểu đồ 3.1
Trang 29Sơ đồ 3.1: Hệ thống các TCTD Việt Nam tại tháng 12/2016
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, website http://www.sbv.gov.vn)
Biểu đồ 3.1: Cơ cấu tài sản của hệ thống tổ chức Ngân hàng Việt Nam tại tháng 06/2016
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, website http://www.sbv.gov.vn)
xã hội
NHTM Cổ phần
NH Liên doanh, nước ngoài
Công ty tài chính, cho thuê
Ngân hàng Hợp tác xã
Quỹ tín dụng nhân dân
%
Tỷ đồng
Tổng tài sản Tỷ trọng
Trang 30Sự hình thành của hệ thống ngân hàng Việt Nam có thể được đánh dấu từ sự ra đời của NHNN Việt Nam vào ngày 06/05/1951 Tuy nhiên, bề dày lịch sử của các NHTM chỉ có 27 năm, vào tháng 5/1990 khi NHNN ban hành hai sắc lệnh quan trọng: sắc lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và sắc lệnh về ngân hàng, hợp tác
xã tín dụng và các công ty tài chính Quy định này đã đưa Việt Nam từ một nước có
hệ thống ngân hàng một cấp sang hệ thống ngân hàng hai cấp và đây cũng là cột mốc đánh dấu sự ra đời của NHTM ở Việt Nam Từ đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được tổ chức tương tự như hệ thống ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường
Kể từ khi cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990, ngành ngân hàng Việt Nam đã có
sự tăng trưởng nhanh chóng cả về số lượng và quy mô Sự phát triển tập trung vào hai giai đoạn và hai nhóm ngân hàng (NHTMCP và ngân hàng nước ngoài) Thập
kỷ 1990 là thời đại của các NHTMCP và giai đoạn đầu những năm 2000 đánh dấu thời điểm tham gia của các ngân hàng nước ngoài Cụ thể, từ năm 1991-1993 số lượng NHTM đã nhảy vọt từ 4 lên 41 và đạt đỉnh điểm là 51 vào năm 1997, nhưng
đã giảm dần từ đó xuống còn 31 ngân hàng vào năm 2016 do kinh doanh không hiệu quả và quá trình tái cơ cấu để nâng cao năng lực quản lý về tài chính đã dẫn đến việc giải thể, sáp nhập và hợp nhất hoặc bán lại của một loạt các ngân hàng nhỏ
và yếu kém Bên cạnh đó, một làn sóng các chi nhánh của ngân hàng nước ngoài cũng xuất hiện ở Việt Nam vào năm 1993 Trong vòng hai năm, con số này đạt tới
24 chi nhánh, và cho tới năm 2016, số lượng chi nhánh ngân hàng nước ngoài tăng lên đến 51 chi nhánh Đặc biệt theo cam kết khi gia nhập tổ chức W.T.O năm 2006, NHNNVN đã cấp phép thành lập 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam Bảng 3.1 trình bày chi tiết cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam qua các năm
Trang 31Bảng 3.1: Cơ cấu hệ thống NHTM ở Việt Nam giai đoạn 1991-2016
(Nguồn: Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – Website http://www.sbv.gov.vn)
Bên cạnh sự tăng trưởng về số lượng, quy mô hoạt động của hệ thống ngân hàng
thương mại cũng tăng trưởng mạnh mẽ Đầu tiên, sự tăng trưởng tập trung vào hai
mảng hoạt động truyền thống là cho vay và huy động vốn Theo báo cáo phân tích ngành ngân hàng của Công ty Chứng khoán Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng, hoạt động tín dụng và huy động tiền gửi có tốc độ tăng trưởng ở mức rất cao, cụ thể đạt mức tăng trưởng trung bình cho tín dụng và huy động vốn lần lượt 31,55% và 28,91% trong giai đoạn 2000-2010, trong đó hai nhu cầu vay vốn tăng đột biến là đầu tư chứng khoán và bất động sản Tăng trưởng tín dụng quá nóng khiến ngành ngân hàng đối mặt với nhiều rủi ro, đặc biệt là rủi ro thanh khoản (khi tỷ lệ tín dụng/ tiền gửi toàn ngành luôn ở mức cao trên 90%, so với trong khu vực là khoảng 83%) Nhưng từ năm 2010, tăng trưởng tín dụng có dấu hiệu chững lại và có xu hướng giảm mạnh đến năm 2016 đạt 18,71% so với cuối năm 2015
Thứ hai, quy mô tài sản của các ngân hàng thương mại cũng có sự tăng trưởng
đáng kể Cụ thể, quy mô tài sản tăng gấp đôi trong giai đoạn 2007-2010, từ 1.097 nghìn tỷ đồng lên 2.690 nghìn tỷ đồng (IMF) Dưới áp lực tăng vốn trong thời gian ngắn, từ năm 2010 đến năm 2016, quy mô tài sản của các ngân hàng thương mại đạt 8.113 nghìn tỷ đồng (NHNNVN)
Thứ ba, các hoạt động dịch vụ của ngân hàng ngày càng phát triển mạnh mẽ bên
cạnh hai mảng hoạt động truyền thống là tín dụng và huy động vốn Những năm gần
Trang 32đây, thu nhập từ các mảng hoạt động phi tín dụng ngày càng tăng mạnh, bên cạnh việc đầu tư mạnh vào công nghệ, cơ sở vật chất và đa dạng hóa các sản phẩm dịch
vụ Những ngân hàng đã thực hiện chiến lược phát triển mảng dịch vụ và có vị thế hàng đầu bao gồm Vietcombank, ACB, Samcombank, Techcombank… Tìm năng để phát triển sản phẩm, dịch vụ ngân hàng bán lẻ chưa đạt khai thác tương xứng Theo thống kê của IMF, số lượng tài khoản ngân hàng phát hành trong năm 2008 ước tính chỉ ở mức hơn 8 triệu tài khoản, chiếm khoảng 9,4% dân số Thanh toán bằng tiền mặt vẫn là phương thức thanh toán phổ biến Nhưng đến năm 2016, tỷ lệ người dân
có tài khoản ngân hàng ở mức khá cao, đến cuối tháng 10/2016 đã đạt trên 67,4 triệu tài khoản cá nhân, chiếm khoảng 73,4% dân số Qua đó, ta thấy được sự phát triển của mảng dịch vụ của các ngân hàng không ngừng mở rộng cũng như thấy được cuộc cạnh giữa các ngân hàng diễn ra ngày càng khốc liệt hơn
Bên cạnh những sự tăng trưởng vượt bậc của hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và toàn hệ thống ngân hàng nói chung, hoạt động của ngành ngân hàng cũng
đã gặp không ít khó khăn cùng với khó khăn chung của nền kinh tế trong những
năm vừa qua Đầu tiên, nhiều ngân hàng thương mại đã hoạt động không hiệu quả
dẫn đến thu lỗ, mất vốn Sự hợp nhất 03 ngân hàng là NHTMCP Đệ Nhất (Ficombank), NHTMCP Sài Gòn (SCB) và NHTMCP Việt Nam Tín Nghĩa (TinNghiBank) thành NHTMCP Sài Gòn vào cuối năm 2011 là một điểm đáng chú
ý đối với ngành ngân hàng Việt Nam Tiếp theo sau, tháng 08/2012, NHTMCP Nhà
Hà Nội (Habubank) cũng được sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn – Hà Nội (SHB) bởi tỷ lệ nợ xấu cao, thua lỗ lớn Tháng 05/2013, NHTMCP Đại Tín đã tái cơ cấu, đổi tên thành NHTMCP Xây dựng Việt Nam Tháng 09/2013, Tổng công ty Tài chính cổ phần Dầu khí Việt Nam (PVFC) và NHTMCP Phương Tây (Western Bank) đã hợp nhất thành NHTMCP Đại Chúng Việt Nam (Pvcombank) NHTMCP Phát triển T.P Hồ Chí Minh (HDBank) đã sáp nhập NHTMCP Đại Á (DaiABank) vào ngân hàng của mình và đồng thời mua lại công ty tài chính Việt Société Générale (SGVF) vào tháng 11/2013 Đến năm 2015, làn sóng mua bán sáp nhập đã diễn ra mạnh mẽ với sự sáp nhập của các ngân hàng hàng đầu trong ngành Tiêu
Trang 33biểu, NHTMCP Phát triển nhà Đồng bằng sông Cửu Long (MHB) đã chính thức hoàn thành sáp nhập ngân hàng vào NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) tháng 05/2015 Tháng 08/2015, NHTMCP Hàng Hải Việt Nam (Maritime Bank) đã tiến hành sáp nhập với NHTMCP Phát triển Mê Kông (MDB) Tháng 10/2015, NHTMCP Phương Nam đã sáp nhập vào NHTMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) do tỷ lệ nợ xấu cao Năm 2016 vẫn chưa đón nhận thêm một thương vụ mua bán sáp nhập nào, chủ đề sáp nhập ngân hàng tạm lắng xuống
và cũng là khoảng thời gian các ngân hàng bắt đầu giai đoạn tương thích và phát triển
Thứ hai, thực trạng nợ xấu của hệ thống ngân hàng Việt Nam giai đoạn qua là một
vấn đề vô cùng lớn Để giải quyết tình trạng nợ xấu tăng cao, NHNN đã thành lập Công ty quản lý tài sản của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC) thực hiện hoạt động mua nợ xấu của các tổ chức tín dụng nhằm xử lý nợ xấu, thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cho nền kinh tế VAMC đã chính thức đi vào hoạt động kể từ ngày 26/07/2013 Sau khi tiến hành đề án tái cấu trúc hệ thống tín dụng, tỷ lệ nợ xấu giảm nhưng quy mô nợ xấu theo báo cáo không thay đổi nhiều Theo báo cáo phân tích ngành ngân hàng của Công ty Chứng khoán Đại Nam, tỷ lệ nợ xấu bình quân toàn hệ thống theo báo cáo của các tổ chức tín dụng giảm nhẹ từ 2,9% năm 2015 xuống còn 2.8% năm 2016 Nhưng nếu tính cả số lượng nợ xấu đã chuyển qua VAMC nhưng chưa được xử lý thì tỷ lệ nợ xấu của toàn hệ thống vẫn ở mức khá cao (ước tính khoảng 7,1% tại thời điểm cuối năm 2016)
Thứ ba, trong năm 2015, tuy lợi nhuận của các NHTM được ghi nhận ở mức cao và
khá ấn tượng so với các năm trước nhưng trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu năm
2015 khá cao đã làm cho lợi nhuận của các ngân hàng bị giảm đi đáng kể Chính vì điều đó, dù có những điểm sáng cho hoạt động kinh doanh của ngành ngân hàng năm 2016 nhưng vẫn không tạo ra được sự tăng trưởng đáng kể cho lợi nhuận của ngành ngân hàng
Trang 34Biểu đồ 3.2: NIM tại các NHTM Việt Nam niêm yết giai đoạn 2008 - 2016
(Nguồn: Theo tính toán của tác giả trên cơ sở số liệu của Báo cáo thường niên của
25 NHTM Việt Nam)
Trang 35
So với các nước cùng thứ hạng trong khu vực ASEAN, NIM của ngành ngân hàng Việt Nam thuộc vào hạng thấp (thấp hơn Indonesia, Philippines) Năm 2016, NIM của NHTM là 2,61% và toàn ngành là 2,93% thấp hơn các nước Indonesia, Philippines và Thái Lan Nhìn chung, tỷ lệ thu nhập lãi cận biên (NIM) tại các NHTM Việt Nam và toàn ngành khá ổn định và có xu hướng cải thiện chút ít trong giai đoạn 2013 – 2016
Biểu đồ 3.3: NIM của ngành ngân hàng Việt Nam và một số nước trong khu vực ASEAN giai đoạn 2008-2015
(Nguồn: World Bank – Ngân hàng thế giới, Website: https://data.worldbank.org)
Trang 36NIM của ngân hàng Việt Nam cao hơn rõ rệt so với các nước phát triển trong khu vực Châu Á Chỉ có vào hai năm 2010 và 2014, NIM của ngân hàng Việt Nam thấp hơn Hàn Quốc và Trung Quốc Cụ thể, năm 2010, NIM ngân hàng Việt Nam đạt 3.36% thấp xa so với Hàn Quốc ở mức 4,98% và vào năm 2014 thấp hơn Trung Quốc 0,79% so với mức của ngân hàng Việt Nam là 2,86%
Biểu đồ 3.4: NIM của ngành ngân hàng Việt Nam và một số nước phát triển trong khu vực Châu Á giai đoạn 2008-2015
(Nguồn: World Bank – Ngân hàng thế giới, Website: https://data.worldbank.org)
Trong giai đoạn sau năm 2008, nền kinh tế phải đối mặt với những tác động từ cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã làm cho hoạt động kinh doanh của các NHTM
gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ thu nhập lãi thuần có nhiều biến động qua từng năm
Vào năm 2008, nền kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế thế giới đã trải qua
những biến đổi không ngừng Đặc biệt giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới năm
2008 là một biến cố lớn đối với nền kinh tế Việt Nam Tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ lan rộng trên toàn cầu, không chỉ đối với một vài quốc