1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố tác động đến hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

142 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 142
Dung lượng 2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

UTAUT là một mô hình xác nhận thực nghiệm kết hợp tám mô hình chấp nhận công nghệ lớn và các mở rộng của chúng để nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới sự sự chấp nhận của

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

-

-NGUYỄN THỊ BÔNG

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ

TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP.Hồ Chí Minh - 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

- -

CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HÀNH VI CHẤP NHẬN CỦA NGƯỜI NỘP THUẾ

TẠI CỤC THUẾ TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

Chuyên ngành : Quản lý công

Mã số : 60340403

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS NGUYỄN HỮU LAM

TP.Hồ Chí Minh - 2017

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc lập và hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn kế thừa trong luận văn này đều được trích dẫn và tham chiếu đầy đủ với độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Các số liệu thu thập, thống kê và xử lý được trình bày trong luận văn này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của luận văn này

Tp Hồ Chí Minh, ngày 31 tháng 01 năm 2018

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Bông

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

TÓM TẮT

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 3

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 4

1.6 Kết cấu của luận văn 5

TÓM TẮT CHƯƠNG 1 6

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHẤP NHẬN SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ 7

TẠI VIỆT NAM 7

2.1 Những lý luận cơ bản về hệ thống nộp thuế điện tử 7

2.1.1 Cơ sở lý luận về nộp thuế điện tử 7

2.1.2 Các mô hình và lý luận về sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử 10

2.1.2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) 11

2.1.2.2 Thuyết hành vi dự định (TPB) 14

2.1.2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) 17

2.1.2.4 Mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng TAM2 19

Trang 5

2.1.2.6 Mô hình thuyết hợp nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)

22

2.1.2.7 Kết luận và lựa chọn 25

2.2 Thực trạng hệ thống nộp thuế điện tử Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 28 2.2.1 Tổng quan tình hình ứng dụng công nghệ tại Việt Nam 28

2.2.2 Sơ lược về tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu 31

2.2.3 Sự ảnh hưởng của công nghệ đối với Cục thuế tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 31

2.3 Mô hình đề xuất của tác giả 37

3.1 Quy trình nghiên cứu 43

3.1.1 Bước 1 – Mục tiêu nghiên cứu 43

3.1.2 Bước 2 – Tiếp cận nghiên cứu 43

3.1.3 Bước 3 – Thiết kế nghiên cứu 43

3.1.4 Bước 4 – Thu thập dữ liệu 45

3.1.5 Bước 5 – Phân tích dữ liệu 47

3.1.6 Bước 6 – Báo cáo kết quả nghiên cứu 48

3.2 Xây dựng thang đo 48

3.2.1 Thang đo nháp 48

3.2.2 Thang đo sơ bộ 48

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 53

4.1 Phân tích thang đo sơ bộ 53

4.1.1 Phân tích độ tin cậy Thang đo sơ bộ 53

4.1.2 Phân tích nhân tố khám phá EFA 55

4.2 Phân tích thang đo chính thức 58

4.2.1 Xác định kích thước mẫu 58

Trang 6

4.2.3 Mô tả mẫu khảo sát 59

4.2.4 Thống kê mô tả 59

4.2.5 Phân tích nhân tố khám phá EFA 61

4.2.6 Phân tích tương quan và hồi quy 64

4.2.6.1 Phân tích tương quan 64

4.2.6.2 Phân tích hồi quy 65

4.2.6.3 Kiểm tra các giả định hồi quy 67

4.2.6.4 Phương trình hồi quy 68

4.2.7 Kiểm định sự khác biệt 70

4.2.7.1 Kiểm định sự khác biệt theo giới tính 70

4.2.7.2 Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi 71

4.2.7.3 Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp 72

4.2.7.4 Kiểm định sự khác biệt theo kinh nghiệm Internet 72

4.2.8 Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận sử dụng của người nộp thuế sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 72 4.2.8.1 Niềm tin 72

4.2.8.2 Nhận thức sự hữu ích 73

4.2.8.3 Nhận thức dễ sử dụng 73

4.2.8.4 Ảnh hưởng xã hội 73

4.2.8.5 Chất lượng trang mạng 73

4.2.8.6 Điều kiện vật chất 74

4.2.9 Xác nhận các yếu tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận chính phủ điện từ 74 CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76

5.1 Kết luận 76

Trang 7

5.2 Kiến nghị 79

5.2.1 Đối với yếu tố Niềm tin 79

5.2.2 Đối với yếu tố Nhận thức dễ sử dụng 80

5.2.3 Đối với yếu tố Nhận thức sự hữu ích 83

5.2.4 Đối với yếu tố Điều kiện vật chất 84 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tài liệu tham khảo tiếng Việt

Tài liệu tham khảo tiếng Anh

PHỤ LỤC :

PHỤ LỤC I: BẢNG CÂU HỎI THU THẬP DỮ LIỆU

PHỤ LỤC II: KẾT QUẢ PHÂN TÍCH DỮ LIỆU

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

GDP : Gross Domestic Product: Tổng sản phẩm quốc nội

EFA : Exploration Factor Analysis: Phân tích nhân tố khám phá

SPSS : Statistical Package for Social Sciences: Phần mềm xử lý thống

kê dùng trong các ngành khoa học xã hội

ANOVA : Analyis of variance: Phân tích phương sai

mở rộng

TPB : Theory of Planned Behavior : Mô hình thuyết hành vi dự định

TRA : Theory of Reasoned Action: Mô hình thuyết hành động hợp lý

DOI : Mô hình thuyết phổ biến cái mới: Diffusion of Innovation

Theory:

UTAUT : Unified Theory of Acceptance and Use of Technology:

Thuyết thống nhất về chấp nhận và ứng dụng công nghệ

Trang 9

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 3.1 Hiệu chỉnh bảng câu hỏi nháp 49

Bảng 3.2 Bổ sung thông tin giới thiệu Bảng câu hỏi cho Bảng câu hỏi sơ bộ 49

Bảng 3.4 Bổ sung thông tin khách hàng cho Bảng câu hỏi sơ bộ 51

Bảng 4.1 Kết quả hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha của Thang đo sơ bộ 54

Bảng 4.2 Trị KMO và kiểm định Bartlett Thang đo sơ bộ – Phân tích nhân tố EFA lần 1 55

Bảng 4.3 Kết quả tổng phương sai trích và rút trích nhân tố lần 3 của Thang đo sơ bộ 56

Bảng 4.4 Ma trận xoay nhân tố của Thang đo sơ bộ - phân tích Thang đo lần 2 58

Bảng 4.5 Thống kê mô tả mẫu nghiên cứu 38

Bảng 4.6 Kết quả đánh giá độ tin cậy Cronbach’s Alpha của Thang đo chính thức 25

Bảng 4.7 Trị KMO và kiểm định Bartlett Thang đo chính thức – Phân tích nhân tố EFA lần 1 61

Bảng 4.8 Kết quả tổng phương sai trích và rút trích nhân tố lần 1 của Thang đo chính thức 61 Bảng 4.9 Ma trận xoay nhân tố thang đo chính thức - phân tích thang đo lần 1 62

Bảng 4.10 Hệ số tương quan của thang đo chính thức Error! Bookmark not defined. Bảng 4.11 Mô hình tóm tắt 65

Bảng 4.12 Kết quả ANOVA 65

Bảng 4.13 Thông số của từng biến 66

Bảng 4.14 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo Niềm tin 73

Bảng 4.15 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo Nhận thức sự hữu ích 73

Bảng 4.16 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo Nhận thức dễ sử dụng 35

Bảng 4.17 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo Ảnh hưởng xã hội 36

Bảng 4.18 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo Chất lượng trang mạng 37

Bảng 4.19 Giá trị trung bình và độ lệch chuẩn của thang đo Điều kiện vật chất 38

Trang 10

Bảng 4.21 Kiểm định phương sai 71

Bảng 4.22 Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi 32

Bảng 4.23 Bảng phân tích phương sai ANOVA về độ tuổi 33

Bảng 4.24 Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp 33

Bảng 4.25 Bảng phân tích phương sai ANOVA về nghề nghiệp 33

Bảng 4.26 Kiểm định sự khác biệt theo kinh nghiệm internet 33

Bảng 4.27 Bảng phân tích phương sai ANOVA về nghề nghiệp 34

Trang 11

DANH MỤC HÌNH VẼ

Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) 13

Hình 2.2 Mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) 15

Hình 2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM 18

Hình 2.4 Mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng TAM2 20

Hình 2.5 Mô hình DOI 22

Hình 2.6 Mô hình thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) 26

Hình 2.7 Mô hình nghiên cứu đề xuất của UTAUT 39

Hình 4.1 Biểu đồ phân tán của phần dư 68

Hình 4.2 Đồ thị Histogram 68 Hình 4.3 Mô hình điều chỉnh xác nhận các nhân tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng hệ

thống nộp thuế điện tử tại Cục Thuế tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu Error! Bookmark not defined.

Trang 12

TÓM TẮT

Luận văn này trình bày nghiên cứu toàn diện về các yếu tố ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử dụng các dịch vụ nộp thuế điện tử tại Việt Nam bằng cách áp dụng mô hình Thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Nghiên cứu này

sử dụng một phiên bản sửa đổi của mô hình UTAUT như một nền tảng lý thuyết UTAUT là một mô hình xác nhận thực nghiệm kết hợp tám mô hình chấp nhận công nghệ lớn và các mở rộng của chúng để nghiên cứu mối quan hệ giữa các nhân tố tác động tới sự sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu với 6 nhân tố, 28 biến quan sát Với kết quả nghiên cứu thực nghiệm tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, luận văn cũng thực hiện kiểm định

và hiệu chỉnh mô hình nghiên cứu bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha, phương pháp phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis - EFA); phân tích ANOVA

và phương trình hồi quy thông qua phần mềm phân tích dữ liệu SPSS 20.0

Kết quả của nghiên cứu này cho thấy sự chấp nhận của người nộp thuế đối với

hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trong mô hình hiệu

chỉnh chịu ảnh hưởng bởi 4 nhân tố với thứ tự và tầm quan trọng như sau: 1- Niềm

tin; 2- Nhận thức dễ sử dụng; 3- Nhận thức sự hữu ích; 4- Điều kiện vật chất có

ảnh hưởng mạnh mẽ, tích cực đến sự chấp nhận của người nộp thuế Qua đó, luận văn đưa ra một số kiến nghị nhằm nâng cao sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1.1 Đặt vấn đề

Với phương châm “Thu thuế phải thu được lòng dân”, Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã không ngừng đổi mới phương thức quản lý, chuyển từ mô hình chỉ huy, kiểm soát sang kết nối và cộng tác, ứng dụng công nghệ thông tin vào tất cả các khâu trong quá trình quản lý thuế, đặc biệt là triển khai quyết liệt công tác cải cách thủ tục hành chính thuế, thực hiện cơ chế “một cửa liên thông” trong việc tiếp nhận và trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính cho người dân và doanh nghiệp, thường xuyên cập nhật và công khai các quy định về thủ tục hành chính thuế, triển khai nhiều hình thức tuyên truyền, hỗ trợ như: tập huấn, đối thoại, tổ chức “Tuần lễ lắng nghe ý kiến người nộp thuế”, tuyên dương, khen thưởng người nộp thuế chấp hành tốt pháp luật thuế

Cục thuế tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu đã tiếp nhận các xu thế ứng dụng công nghệ hiện đại trong khối chính phủ như các giải pháp truyền thông thông minh, khởi tạo, lưu trữ, xử lý trao đổi cơ sở dữ liệu và cung cấp dịch vụ công cũng như các giải pháp về bảo mật thông tin trong cung cấp dịch vụ công là các xu thế nổi trội hiện nay được chính phủ quan tâm và là nền tảng để xây dựng chính phủ điện tử với quy

mô toàn quốc

Chính phủ điện tử nói chung là một làn sóng mới trong cuộc cách mạng về thông tin Chính phủ điện tử là tên gọi của một chính phủ mà mọi hoạt động của nhà nước được "điện tử hóa", "Internet hóa" Tuy nhiên, chính phủ điện tử không đơn thuần là máy tính, mạng Internet; mà là sự đổi mới toàn diện các quan hệ (đặc biệt

là quan hệ giữa chính quyền với công dân nói chung và với người nộp thuế nói riêng), các nguồn lực, các quy trình, phương thức hoạt động và bản thân nội dung các hoạt động của chính quyền trung ương và địa phương, và ngay cả các quan niệm về các hoạt động đó Chính phủ điện tử nhấn mạnh vào quản lý hơn là yếu tố điện tử, chính vì vậy chương trình cải cách hành chính là một trong những tiền đề cho chính phủ điện tử Đặc biệt sự hiểu biết, chấp nhận của người nộp thuế đối với chính phủ điện tử cũng rất cần thiết

Trang 14

Hệ thống chính phủ điện tử giúp cho các doanh nghiệp làm việc với Chính phủ một cách dễ dàng do mọi thủ tục đều được hướng dẫn, dễ hiểu và các bước công việc đều được đảm bảo, vận hành tốt, và đáng tin cậy Mọi thông tin kinh tế mà Chính phủ có, đều được cung cấp đầy đủ cho các doanh nghiệp giúp doanh nghiệp hoạt động hiệu quả hơn

Ngành thuế đặt trọng tâm hướng đến chính phủ điện tử và trong nhiều chương trình đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin để cải cách thủ tục hành chính với quy mô chính phủ, họ đều coi lĩnh vực thuế là nơi cần đi “tiên phong” trong cung cấp dịch vụ công trực tuyến Đặc biệt, đối tượng người nộp thuế ngày càng tăng cao lên đến con số hàng chục triệu vì vậy đối tượng nộp thuế chính là trung tâm phục vụ quan trọng nhất hiện nay Ngành thuế đã phát triển cổng thông tin điện tử, hỗ trợ và triển khai ở từng khu vực để người nộp thuế có thể tham khảo và tự kiểm soát

Vì vậy, với mong muốn ngày càng nâng cao chất lượng cung cấp dịch vụ công

về thuế cho người nộp thuế, đặc biệt là góp phần làm tăng thu cho ngân sách nhà nước, do đó hiện nay ngành thuế đã thực hiện theo Nghị quyết 19/NQ-CP về cải cách thủ tục hành chính giảm số giờ nộp thuế, nâng cấp lĩnh vực công nghệ thông tin về “nộp thuế điện tử” đã được ngành thuế triển khai đồng bộ tạo điều kiện thuận lợi không những cho người nộp thuế mà còn cả cơ quan thuế

Đến hết tháng 4 năm 2016, đã có 45 ngân hàng trong và ngoài nước ký thỏa thuận hợp tác triển khai dịch vụ nộp thuế điện tử với Tổng Cục thuế, trong đó có 41 ngân hàng đã chính thức cung cấp dịch vụ nộp thuế điện tử (gồm 30 ngân hàng trong nước, 11 ngân hàng nước ngoài) Tuy rằng việc số lượng người tham gia vào việc triển khai nộp thuế điện tử ngày càng gia tăng nhưng vẫn còn mang tính chất phong trào và chưa thực sự được nhân rộng và phổ biến trong tâm lý người nộp thuế

Xuất phát từ những lý do trên tác giả chọn đề tài luận văn: “Các nhân tố tác động đến sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử trường hợp tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu”, luận văn này giúp xác định được

nhận thức của người nộp thuế về thuế điện tử khi nộp thuế

Trang 15

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận văn là nâng cao sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu

Để đạt được mục tiêu tổng quát trên, cần phải đạt được các mục tiêu cụ thể sau:

- Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với

hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Xác định mức độ tác động của các yếu tố đến hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

1.3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

Với đề tài nghiên cứu: “Các yếu tố tác động đến hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu” thì

đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài được trình bày như sau:

- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử

- Không gian nghiên cứu: Các số liệu được thu thập từ các doanh nghiệp, cá nhân đang hoạt động kinh doanh và trực tiếp nộp thuế điện tử tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Thời gian nghiên cứu: Luận văn được thực hiện trong vòng 6 tháng từ tháng 5/2016 đến tháng 11/2017

- Đối tượng khảo sát: Người nộp thuế sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử tại Cục thuế Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

Luận văn hệ thống hóa các lý luận về hoạt động nộp thuế điện tử, hành vi chấp nhận sử dụng của người nộp thuế và các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Ngoài ra, luận văn xác định và đo lường những nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hoạt động nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà

Trang 16

Rịa – Vũng Tàu, từ đó đề xuất một số phương án và quan điểm nhằm thúc đẩy và tăng cường việc sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dựa trên quá trình phân tích dữ liệu với sự hỗ trợ của phần mềm

Kết quả nghiên cứu là tài liệu tham khảo hữu ích phục vụ cho công tác thúc đẩy và tăng cường sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện

tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết

Tổng hợp lý thuyết bao gồm những nội dung sau:

 Bổ sung tài liệu, sau khi phân tích phát hiện thiếu hoặc sai lệch

 Lựa chọn tài liệu chỉ chọn những thứ cần, đủ để xây dựng luận cứ

 Sắp xếp tài liệu theo lịch đại (theo tiến trình xuất hiện sự kiện để nhận dạng động thái); sắp xếp tài liệu theo quan hệ nhân – quả để nhận dạng tương tác

Phương pháp thu thập số liệu từ tham khảo tài liệu

Luận án thu thập thông tin và số liệu từ các báo cáo và dữ liệu của nhà nước cũng như liên quan đến thuế điện tử, thông tin trên báo chí, internet, sách tham khảo,

Phương pháp khái quát hóa vấn đề nghiên cứu:

- Vì các nhận định độc lập được xây dựng từ quan sát trong các hiện tượng khác nhau nên đề tài này áp dụng phương pháp khái quát hóa để khái quát các biểu hiện

cụ thể của thực trạng của thủ tục hành chính trong lĩnh vực thuế điện tử tại tỉnh

BR-VT

- Khái quát hóa các lý thuyết để từ đó đề tài có thể xác định được vấn đề cốt lõi cũng như khoảng trống trong các nghiên cứu trước đây

Phương pháp nghiên cứu định lượng

Nghiên cứu sơ bộ: Sau khi thực hiện phỏng vấn định tính với các học giả cũng như các nhà tư vấn và quản lý nhân sự, trong đó có những câu hỏi dạng bảng (nhiều câu hỏi nhỏ bên trong) giúp cho tác giả có cơ sở vững vàng hơn trong công việc tiếp theo của mình

Trang 17

Nghiên cứu chính thức: sử dụng kỹ thuật xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS, tiến hành kiểm định thông qua 2 bước:

Thứ nhất, đánh giá sơ bộ thang đo và độ tin cậy của biến đo lường bằng hệ số Cronbach Alpha và độ giá trị (factor loading) bằng phân tích nhân tố khám phá EFA (Exploratory Factor Analysis)

Thứ hai, sử dụng phương pháp thống kê mô tả phân tích tổng hợp, suy luận logic, phương pháp so sánh đối chiếu, mô hình hồi qui kiểm định giả thuyết sự phù hợp của các yếu tố để tìm ra yếu tố nào là yếu tố gây ảnh hưởng lên biến phụ thuộc

1.6 Kết cấu của luận văn

Luận văn được kết cấu thành năm Chương như sau:

- Chương 1: Giới thiệu

- Chương 2: Cơ sở lý luận về sự chấp nhận của người nộp thuế

Chương này giới thiệu các lý thuyết về sự chấp nhận của người nộp thuế với hoạt động nộp thuế điện tử của Cục thuế Trên cơ sở lý thuyết, luận văn đề xuất mô hình nghiên cứu để đánh giá sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương này trình bày tổng quan về Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và các số liệu, phân tích liên quan đến thực trạng sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế Chương 3 còn trình bày quy trình nghiên cứu, xây dựng và kiểm định các thang đo, các phương pháp phân tích

- Chương 4: Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hoạt động nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Chương này trình bày thống kê mô tả về mẫu khảo sát, kiểm định mô hình và đo lường các khái niệm nghiên cứu, phân tích, đánh giá các kết quả có được và kết luận các giả thuyết nghiên cứu và thảo luận kết quả nghiên cứu

- Chương 5: Giải pháp tăng cường thúc đẩy sự chấp nhận, hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Trang 18

Nghiên cứu đề ra các giải pháp nhằm tăng cường và thúc đẩy sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu dựa vào các kết quả phân tích ở Chương 4

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương 1 đã giới thiệu lý do chọn đề tài nghiên cứu của luận văn, mục tiêu nghiên cứu liên quan đến sự chấp nhận, hành vi chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Từ đó, xác định được phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu của luận văn

Trang 19

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC CHẤP NHẬN SỬ DỤNG CÁC DỊCH VỤ NỘP THUẾ ĐIỆN TỬ

TẠI VIỆT NAM

Chương 1 đã giới thiệu tổng quát về đề tài nghiên cứu Chương này sẽ giới thiệu các lý thuyết có liên quan làm cơ sở lý luận cho thiết kế nghiên cứu Chương 2 bao gồm hai phần Đầu tiên là tóm tắt lý thuyết về các khái niệm chính của nghiên cứu: sự chấp nhận của người nộp thuế, mối quan hệ giữa các nhân tố và sự hài lòng của người nộp thuế, những vấn đề chung về hoạt động nộp thuế điện tử Kế tiếp, các

mô hình đã nghiên cứu trước đây trên thế giới và trong nước là cơ sở để nghiên cứu

đề xuất mô hình nghiên cứu cho Chương tiếp theo

2.1 Những lý luận cơ bản về hệ thống nộp thuế điện tử

2.1.1 Cơ sở lý luận về nộp thuế điện tử

Công nghệ thông tin và truyền thông đã và đang thay đổi cách vận hành dịch

vụ, kể cả dịch vụ hành chính Chính phủ các nước phát triển xem công nghệ thông tin là công cụ tối quan trọng để nâng cao hiệu suất, cải thiện chi phí và chất lượng dịch vụ hành chính và dịch vụ cung cấp thông tin đến người nộp thuế Các nguồn đầu tư đáng kể được chính phủ các nước rót vào nộp thuế điện tử hay xu hướng nộp thuế điện tử đã thu hút các nhà nghiên cứu chú ý đến lĩnh vực này Trong những năm gần đây, Việt Nam bắt đầu bước vào giai đoạn khởi đầu then chốt áp dụng nộp thuế điện tử Cùng với các quốc gia khác, Việt Nam cũng đối mặt với các vấn đề khó khăn, đơn cử như sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử vẫn nằm ở mức thấp Carter và Belanger (2005) đã tìm ra rằng việc chấp nhận hệ thống nộp thuế điện tử không đơn giản chỉ liên quan đến mặt công nghệ

Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thống đã giúp chính phủ tìm ra cách đáp ứng nhu cầu của người nộp thuế chính là chuyển đổi từ

hệ thống nộp thuế truyền thống sang hệ thống nộp thuế điện tử Xuất phát từ nhu cầu phục vụ người nộp thuế tốt hơn, chính phủ các nước đã cung cấp một hệ thống dịch vụ thông tin hiệu quả Từ đó hệ thống nộp thuế điện tử được khai sinh nhằm

Trang 20

giúp người nộp thuế nộp ngân sách nhà nước trên Cổng thông tin điện tử của Cơ quan Thuế Nhờ những ưu điểm vượt trội như tiết kiệm chi phí đi lại, thời gian giao dịch; đơn giản thủ tục giấy tờ khi thực hiện nghĩa vụ thuế; chủ động thời gian nộp thuế, hệ thống nộp thuế điện tử cũng góp phần cải thiện mối quan hệ giữa chính phủ

và người nộp thuế thông qua các phản ứng tương tác hiệu quả, linh hoạt

Bên cạnh phương thức nộp thuế truyền thống, chính phủ các nước trên thế giới đang tăng cường tương tác với người nộp thuế thông qua hệ thống nộp thuế điện tử Trong những năm gần đây, nhu cầu mong muốn được cung cấp dịch vụ chất lượng hơn thông qua mạng Internet của người nộp thuế tăng lên, đòi hỏi chính phủ phải phát triển và triển khai các hệ thống điện tử để cung cấp những dịch vụ này Thành công của hệ thống nộp thuế điện tử, đặc biệt đặt trong bối cảnh giữa chính phủ và người nộp thuế, không phụ thuộc vào công nghệ mà dựa trên chính người nộp thuế Điều này dẫn đến việc cần phải đánh giá hệ thống nộp thuế điện tử khi đặt trong bối cảnh giữa chính phủ và người nộp thuế nhằm đo mức độ thành công của hệ thống này trên cương vị của người nộp thuế Những nghiên cứu đánh giá như thế này sẽ giúp Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xác định xem liệu họ có thể hoàn thành các nhiệm vụ được đặt ra để cung cấp dịch vụ như yêu cầu Sau một vài cải tiến nhỏ với

mô hình nguyên bản và đề nghị mô hình IS Success đã được cập nhật, DeLone và McLean (2003) tiến hành kiểm tra và thử nghiệm mô hình mới đặt trong những bối cảnh khác nhau Đây được xem như hai cơ hội tuyệt vời để kiểm tra và phê duyệt

mô hình về hệ thống nộp thuế điện tử Thêm vào đó, để biến trang mạng trở nên có giá trị trong xu thế chính phủ điện tử, các nhà phát triển mạng phải hiểu rõ và phát triển những yếu tố đánh giá và đo mức độ thành công của hệ thống nộp thuế điện tử một cách hiệu quả

Hầu hết các hoạt động của hệ thống nộp thuế điện tử đều xoay quanh 3 nhánh

là chính phủ, doanh nghiệp và người nộp thuế Hệ thống nộp thuế điện tử hiển nhiên mang lại ích lợi cho doanh nghiệp và chính phủ nhưng thực chất những lợi ích mà

nó mang lại cho người nộp thuế cũng không kém Những sáng kiến về hệ thống nộp thuế điện tử liên quan đến việc giao lưu, tương tác giữa chính phủ và người nộp

Trang 21

thuế có thể khiến việc kết nối và tương tác với chính phủ trở nên dễ dàng hơn, tăng cường mức độ và chất lượng xã hội hóa trong chính phủ Theo Muir và Oppenheim (2002), tương tác giữa chính phủ và người nộp thuế thông qua hệ thống cho phép người nộp thuế nhận được những thông báo về luật thuế, quy chế nộp thuế, chính sách thuế và dịch vụ nộp thuế của cơ quan thuế Hiện nay các cơ quan nhà nước nói chung và Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nói riêng đang đưa ra một số lượng lớn các thông tin và dịch vụ bằng hình thức điện tử bao gồm hình thức và dịch vụ nộp thuế điện tử, thông tin về chính sách công, đăng ký và gia hạn giấy phép, nộp phạt

và nộp thuế

Trên thế giới, chính sách thuế là một trong những công cụ mà chính quyền các nước dùng để đạt được công bằng và hiệu quả trong kinh tế Thuế là nguồn tài chính công trên thực tế dễ nhận thấy trong nhiều nền kinh tế, bên cạnh những nguồn khác như khoản thu không thuế ví dụ phí người dùng và giấy phép sử dụng dịch vụ do các cơ quan nhà nước ấn định và các khoản viện trợ nước ngoài

Hệ thống thuế là nguồn tài chính công trong việc phát triển các dự án có thể kể đến

là cung cấp cơ sở hạ tầng gồm đường sá, nguồn năng lượng và nguồn nước ổn định Tất cả những điều trên kết hợp với nhau tạo thành một môi trường cho phép các doanh nghiệp và nền kinh tế được toàn quyền phát triển Thuế thu được dựa trên sự đồng thuận trên tinh thần tự nguyện của người nộp thuế nhờ đó người nộp thuế có thể hoàn thành nghĩa vụ nộp thuế một cách thoải mái và hoàn chỉnh

Để ngăn ngừa hao hụt đòi hỏi chính phủ cần có sự kiểm soát tốt về các khoản chi phí và nguồn thu Ngân sách quốc gia phải đươc cơ cấu hằng năm để theo sát những khoản thu của chính phủ Tuy nhiên hiệu quả lâu dài của các chiến lược thuế phải được xác định và thi hành một cách nhanh chóng Để khai thác các khoản thu

từ thuế, chính phủ cần phải đề ra một hệ thống thuế thích hợp thêm vào số thuế sẽ được thu hồi trong tương lai và nâng cao tỷ lệ nộp thuế Ở nhiều nền kinh tế trên thế giới, các doanh nghiệp vừa và nhỏ được xem như nguồn thu thuế tiềm năng và chưa được khai thác để bù vào các khoản thâm hụt tài chính

Trang 22

ThS Đặng Thị Bạch Vân đã mang lại cái nhìn tổng quát về chủ đề đáng quan

tâm của cơ quan thuế các cấp thông qua bài nghiên cứu “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế và tuân thủ thuế” Thông qua việc tổng hợp về lý thuyết bài nghiên cứu

cho thấy có vô số các nhân tố có ảnh hưởng đến mức độ tuân thủ thuế của người nộp thuế Như vậy tùy từng phạm vi nghiên cứu cụ thể mà sử dụng lý thuyết cho phù hợp, và vấn đề là cần xác định mô hình nghiên cứu nào đơn giản nhất trong vô

số mô hình khả thi mà vẫn đạt được sự bền vững và tính hiệu quả trong nghiên cứu Chính vì vậy, luận văn này được thực hiện nghiên cứu các mô hình hiện hành liên quan đến việc chấp nhận nộp thuế điện tử để từ đó lựa chọn ra mô hình phù hợp nhất

2.1.2 Các mô hình và lý luận về sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ

thống nộp thuế điện tử

Sự thành bại của hệ thống này phụ thuộc sự tự nguyện của người nộp thuế trên

cơ sở người nộp thuế có chấp nhận cải tiến hay không Ở Việt Nam những năm gần đây, phần trăm số lượng người nộp thuế điện tử vẫn nằm ở mức thấp so với phương thức nộp thuế truyền thống Luận văn này nghiên cứu các nhân tố tác động đến sự chấp nhận của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử tại Cục thuế tỉnh

Bà Rịa – Vũng Tàu bằng cách áp dụng khung tích hợp của mô hình thuyết hợp nhất

về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) Mô hình UTAUT của Venkatesh được dùng để nghiên cứu về sự chấp nhận của người nộp thuế Hiện có rất ít các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến việc chấp nhận nộp thuế điện tử ngoài yếu

tố công nghệ như chất lượng thông tin, hệ thống và dịch vụ mà còn có yếu tố chấp nhận từ người dùng (kỳ vọng kết quả thực hiện, kỳ vọng nỗ lực thực hiện, ảnh hưởng xã hội) Thêm vào đó, nghiên cứu này cũng tập trung vào ưu điểm và khuyết điểm của việc nộp thuế điện tử so với phương thức nộp thuế truyền thống Vì vậy, các nghiên cứu hàn lâm về việc chấp nhận sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử có thể giúp Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu nâng cao nhận thức của người nộp thuế về việc nộp thuế điện tử Trong tương lai, hệ thống nộp thuế điện tử được kỳ vọng sẽ sớm thay thế phương thức nộp thuế truyền thống tại Việt Nam

Trang 23

Nghiên cứu về sự chấp nhận được quan tâm và phát triển nên từ đó hình thành nhiều mô hình nghiên cứu hỗ trợ, mở rộng hoặc bác bỏ lẫn nhau, trong đó mỗi mô hình bao gồm các nhân tố chấp nhận khác nhau Những mô hình này đã phát triển không ngừng qua nhiều năm và trải qua những nỗ lực không ngừng nghỉ, mô hình bắt đầu được phê duyệt và mở rộng thêm theo từng thời kỳ Chương này sẽ giới thiệu những mô hình dễ phân biệt nhất trong các nghiên cứu hệ thống thông tin

2.1.2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)

Đây là mô hình sớm nhất từng được sử dụng để giải thích việc chấp nhận công nghệ được phát triển trong lĩnh vực tâm lý xã hội Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) được Ajzen và Fishbein (1980) phát triển Họ mong muốn phát triển một học thuyết có thể dự đoán, giải thích, và ảnh hưởng đến hành vi con người Khung mẫu đưa ra là sự khác biệt giữa niềm tin, thái độ, quy chuẩn chủ quan, ý định và hành vi Vấn đề chính là tập trung vào mối quan hệ giữa các biến này Những khái niệm này hình thành mô hình cho việc dự đoán ý định và hành vi đặc biệt Ajzen và Fishbein

đã không ngừng khẳng định rằng TRA là mô hình thích hợp nhất cho việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi người dùng và đóng vai trò như nền tảng lý thuyết, vì nó dự đoán và giải thích hành vi xuyên suốt nhiều lĩnh vực rộng lớn khác nhau

Theo TRA, nhân tố chính chi phối hành vi người nộp thuế không phải là thái

độ thể hiện ra hành vi mà chính là ý định thực hiện hành vi Ý định hành vi lại bị tác động bởi hai yếu tố Yếu tố đầu tiên là thái độ của người nộp thuế đối với hành vi,

có nghĩa là đánh giá của người nộp thuế trên phương diện thích hoặc không thích hành vi đó Yếu tố thứ hai là ảnh hưởng xã hội, hoặc có thể hiểu là nhận thức về áp lực xã hội để từ đó quyết định xem có nên thực hiện hành vi hay không Hai yếu tố này được một loạt các phạm trù về niềm tin được củng cố thêm vững chắc Về mặt thái độ, niềm tin và các hành vi thể hiện niềm tin liên quan đến nhận thức khi thực hiện một hành vi có thể dẫn đến những hậu quả nhất định Về mặt ảnh hưởng xã hội, những niềm tin thuộc về quy chuẩn lại hướng về những nhận thức về áp lực xã hội từ một vật chủ đích nào đó và động lực để một cá nhân chịu sự chi phối của vật

Trang 24

chủ đích đó Thuyết này tập trung vào ý định hành vi nhiều hơn vào thái độ, được ví như thể thuyết dự đoán chủ chốt về hành vi

Hạn chế của mô hình TRA

Ajzen (1985) đã lưu ý rằng TRA bị giới hạn bởi sự phù hợp Nếu muốn dùng thuyết này để dự đoán hành vi đặc biệt, thái độ và ý định phải đồng nhất với hành động, mục tiêu, bối cảnh, khung thời gian và nét đặc trưng Hạn chế lớn nhất của thuyết này là nó giả định rằng hành vi bị ý chí kiểm soát Những quyết định phi lý, hành động theo thói quen hay bất kì hành vi nào không được lý giải bằng lý trí sẽ không thể dùng thuyết này để giải đáp

Ngoài ra, tiếp sau đó, vào năm 2011, một nghiên cứu của Thomas F Stafford [44] đã mô tả những nhân tố liên quan đến việc sử dụng và chấp nhận công nghệ thông tin nhằm biến hệ thống nộp thuế điện tử trở nên thuận tiện Nghiên cứu phát hiện ra rằng hành vi chấp nhận hệ thống tự động bị các nhân tố áp lực quy chuẩn và nhận định về kiểm soát hành vi cản trở

Nghiên cứu cung cấp một số bằng chứng sơ bộ về các tiêu chí mà người nộp thuế sử dụng để đánh giá việc chấp nhận sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử Điều này có thể giúp ích cho chính phủ các nước trong việc thiết kế và thực hiện các dịch

vụ chính phủ điện tử khác ngoài hệ thống nộp thuế điện tử Tuy nhiên, nghiên cứu này có một số hạn chế

Thứ nhất, ảnh hưởng của sự chấp nhận có thể phụ thuộc vào kinh nghiệm sử dụng trong quá khứ của người nộp thuế Trong nghiên cứu này, các công cụ để đánh giá sự chấp nhận luôn nhất quán khi xét trên người nộp thuế nhưng người nộp thuế điện tử có kinh nghiệm với thuế điện tử trong khi nộp thuế truyền thống có thể không có Venkatesh và các cộng sự gợi ý rằng nhận thức trở nên cụ thể hơn sau những kinh nghiệm trực tiếp Người nộp thuế truyền thống có thể dựa vào nhận thức chủ quan của họ và sự tin tưởng đối với máy tính cũng như việc sử dụng máy tính trong khi người nộp thuế điện tử có thể điều chỉnh nhận thức hệ thống được cụ thể hóa để phản ánh sự tương tác của mình đối với hệ thống thuế điện tử

Trang 25

Niềm tin đối với

Hình 2.1 Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)

Thứ hai, nghiên cứu này sử dụng các dữ liệu tương ứng không cung cấp bằng chứng rõ ràng giải thích cho nguyên nhân Ngoài ra, tất cả các dữ liệu đều là tự báo cáo, gây ra các vấn đề liên quan đến phương sai

Thứ ba, mô hình này chiếm khoảng 67,1%, 63,6% và 67,1% của sự khác biệt trong ba nhóm cho thấy rằng các biến khác với những gì được kiểm tra trong nghiên cứu này là cần thiết để giải thích sự khác biệt bổ sung Những phát hiện có thể có ý nghĩa với việc thực hiện dịch vụ nộp thuế điện tử và các dịch vụ chính phủ điện tử Hiểu được các yếu tố chấp nhận hệ thống nộp thuế điện tử có thể mở rộng kiến thức của họ về việc ra quyết định của người nộp thuế và đưa ra các chiến lược tốt hơn Nghiên cứu này đã thành công trong việc tiến hành một cuộc điều tra sự chấp nhận công nghệ trong môi trường thực tế về nộp thuế liên quan tới người nộp thuế

cá nhân và các phương pháp tính thuế khác nhau Với thiết lập như vậy, tính tổng quát của kết quả sẽ được tăng lên Trong lúc nghiên cứu thăm dò không đưa ra các giả thuyết cụ thể, ta lại quan sát thấy được nhiều mối tương quan thú vị khác

Trang 26

Đầu tiên, nghiên cứu cho thấy người nộp thuế truyền thống khi so với những người nộp thuế điện tử, có trình độ học vấn thấp hơn và lớn tuổi hơn, đồng thời họ

có ít kinh nghiệm sử dụng máy tính và Internet, tài nguyên thông tin ít và ít lên mạng hơn Đồng thời, tất cả các phản ứng trong nhận thức của người nộp thuế truyền thống thấp hơn đáng kể so với phản ứng từ nhận thức của những người nộp thuế điện tử Cuối cùng, việc kiểm tra trung bình và độ lệch chuẩn cho thấy người nộp thuế điện tử có ý định tiếp tục sử dụng phương pháp này Tuy nhiên, hành vi chấp nhận của người nộp thuế truyền thống lại tương đối đa dạng

Nghiên cứu đại diện cho một sự lặp lại khái niệm bằng cách xem xét lại mô hình lý thuyết trong các thiết lập tính thuế Nhìn chung, có sự khác biệt lớn trong hệ

số khoảng cách giữa người nộp thuế truyền thống và điện tử, đồng thời tồn tại sự khác biệt nhỏ giữa người nộp thuế điện tử với nhau Trong nghiên cứu thăm dò, ta cũng có thể quan sát được điều tương tự

Tác giả nhận thấy rằng nghiên cứu này cung cấp một điểm khởi đầu cho chính phủ Việt Nam tìm cách cải thiện việc chấp nhận các dịch vụ nộp thuế điện tử của người nộp thuế Ngoài ra tác giả cần phải nghiên cứu bổ sung để xác định liệu các kết quả của nghiên cứu này có thể được áp dụng tại Việt Nam và cụ thể là tại Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đối với hệ thống nộp thuế điện tử

2.1.2.2 Thuyết hành vi dự định (TPB)

Ajzen (1985) đã đề xuất phần mở rộng dành cho TRA nhằm chỉ ra vấn đề kiểm soát bằng ý chí chưa hoàn thiện Phần mở rộng của TRA được biết đến với tên gọi mô hình thuyết hành vi dự định (TPB) TPB là mô hình được sử dụng rộng rãi

để dự đoán và giải thích hành vi con người và xem xét vai trò của các thành viên tổ chức cá nhân và hệ thống xã hội trong quá trình này Mô hình TPB được thiết kế nhằm dự đoán hành vi không chỉ riêng về kiểm soát ý chí bằng cách tích hợp các phương pháp nhận thức về kiểm soát hành vi Thực chất, điểm khác biệt giữa TPB

và TRA là sự bổ sung yếu tố nhận thức về kiểm soát hành vi để phòng trường hợp khi cá thể không thể kiểm soát hoàn toàn hành vi của mình Điều này có thể được chia theo tình huống và hành động Mô hình TPB gồm các yếu tố của nhận thức

Trang 27

kiểm soát hành vi đặt trong mối quan hệ giữa niềm tin, thái độ, ý định và hành vi Nhận thức kiểm soát hành vi được tạo ra nhằm mục đích gây ảnh hưởng lên cả ý định và hành vi

Tác động của nhận thức kiểm soát hành vi lên hành vi có thể trực tiếp hoặc tương tác lẫn nhau (thông qua ý định hành vi) Như đã chỉ ra trong mô hình TRA, khi tình huống hoặc hành vi khiến cho một người hoàn toàn kiểm soát việc thực hiện hành vi, các ý định phải đầy đủ để dự đoán hành vi Ajzen (1985) tranh luận rằng, khi đặt trong điều kiện mà ý định hành vi độc lập sẽ chỉ có một lượng phương sai nhỏ trong ý định, vì vậy nhận thức kiểm soát hành vi nên được dự đoán riêng biệt về hành vi Ý định và nhận thức kiểm soát hành vi đều quan trọng để dự đoán hành vi nhưng một trong hai có thể quan trọng hơn dựa vào một số điều kiện nhất định Để có thể làm rõ hơn vấn đề này, TPB đề cập đến các kháng nguyên của thái

độ, các chỉ tiêu chủ quan và kiểm soát hành vi nhận thức TPB cho rằng hành vi là một chức năng của những niềm tin nổi bật liên quan đến hành vi Những niềm tin nổi bật này được coi là các yếu tố quyết định hiện hành của ý định và hành động của một người

Trang 28

nộp thuế để tiếp nhận phương pháp nộp thuế đặc biệt (truyền thống, mã vạch hai chiều hoặc bằng Internet) dựa trên những dữ liệu thu thập từ khảo sát toàn quốc Những đặc trưng và nhận thức về nhân khẩu học của người nộp thuế cũng được nghiên cứu nhằm xác định những yếu tố quyết định tiềm năng Kết quả đã chỉ ra rằng người nộp thuế có xu hướng tập trung vào tính hữu ích của phương pháp nộp thuế và thái độ chung của người nộp thuế là khá thực dụng khi sử dụng các phương pháp Tuy nhiên, điều thú vị nằm ở chỗ, tính dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội và ý định hành vi, tự tin vào năng lực bản thân của nộp thuế điện tử và nộp thuế truyền thống khác nhau hoàn toàn Hiểu được những yếu tố trên sẽ giúp ta hiểu rõ hơn về quyết định của người nộp thuế từ đó sẽ có những hoạch định và chính sách thi hành tốt hơn cho dịch vụ nộp thuế điện tử Những phát hiện trên có thể ảnh hưởng đến chính sách thi hành nộp thuế điện tử nói riêng và hệ thống hành chính điện tử nói chung

Nghiên cứu này đã cung cấp điểm bắt đầu cho các chính phủ đang tìm cách cải thiện sự chấp thuận dịch vụ nộp thuế điện tử của người dân Chính vì vậy, tác giả đã xác định xem liệu kết quả của nghiên cứu này có thể tái áp dụng cho các loại hình đối tượng và dịch vụ chính phủ điện tử tại Việt Nam hay không

Hạn chế của mô hình TPB

Một sự thiếu sót của mô hình TPB là mô hình không kiểm tra mối quan hệ của

ý định và hành vi, thường có một số lượng lớn các biến thể không giải thích được

Là một mô hình tâm lý tập trung vào các quy trình nội bộ, TPB không bao gồm các biến nhân khẩu học và giả định rằng tất cả mọi người sẽ trải nghiệm các quá trình của mô hình tương tự như vậy và cũng không có kết quả tốt trong việc thay đổi hành vi Taylor và Todd (1995) chỉ trích TPB vì sử dụng một biến số (nhận thức kiểm soát hành vi) như là một biện pháp phòng ngừa cho tất cả các yếu tố không kiểm soát được của hành vi Những niềm tin đằng sau nhận thức kiểm soát hành vi được tổng hợp để tạo ra một biện pháp cho nó, chính sự kết hợp này đã bị chỉ trích

vì đã không xác định các yếu tố cụ thể có thể dự đoán hành vi, cũng như những sai lệch nó có thể tạo ra

Trang 29

2.1.2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ (TAM)

Mô hình chấp nhận công nghệ do Davis (1989) phát triển được biết đến như một trong những thuyết nổi tiếng và có sức ảnh hưởng nhất liên quan đến việc chấp nhận công nghệ thông tin và hệ thống thông tin và Hành vi chấp nhận Mô hình TAM được phỏng theo thuyết hành động hợp lý của Ajzen và Fishbein (1980) và được thiết kế để giải thích lý do vì sao người dùng chấp nhận và sử dụng công nghệ,

và những yếu tố nào ảnh hưởng đến những quá trình này Trong Hình 2.3, mô hình TAM sử dụng hai khái niệm nhận thức sự hữu ích và nhận thức dễ sử dụng

Khái niệm thứ nhất, nhận thức sự hữu ích được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng khi sử dụng một hệ thống đặc biệt sẽ giúp cải thiện năng suất làm việc của họ Trong khi đó, khái niệm thứ hai được định nghĩa là mức độ mà người dùng tin rằng khi sử dụng một hệ thống nhất định nào đó sẽ khiến họ không mất nhiều công sức Việc sử dụng máy tính do ý định quyết định, thường được xếp chung loại với thái độ người dùng đối với việc sử dụng hệ thống và nhận thức sự hữu ích của hệ thống Hình 2.3 cho thấy mô hình TAM nguyên bản, trong đó đề xuất rằng thái độ (tích cực) và sự hữu ích có khả năng ảnh hưởng đến việc sử dụng

hệ thống Đặc biệt, mối tương quan giữa ý định và sự hữu ích ngầm cho thấy người dùng tin tưởng rằng năng suất làm việc của họ được cải thiện, bất chấp những cảm xúc tích cực hay tiêu cực

Tuy nhiên, mô hình TAM vẫn tiếp tục được cải tiến, nhiều biến mới như ngoại biến ảnh hưởng đến nhận thức sự hữu ích và nhận thức dễ sử dụng và cách sử dụng hoặc hành vi thực Những yếu tố thường hay được đề cập đến là: chất lượng hệ thống, sự tương thích, nỗi lo âu khi sử dụng máy tính, sự yêu thích, hỗ trợ điện toán,

và kinh nghiệm sử dụng Theo Davis (1989), mục đích của mô hình TAM là giải thích các nhân tố liên quan đến việc chấp nhận máy tính thông qua đó có thể giải thích hành vi người dùng bằng công nghệ người dùng đích và đám đông người dùng Tuy nhiên, mô hình TAM (thực chất là mô hình TAM2) đã chứng minh rằng

Trang 30

nó là khung mô hình thành công sử dụng để dự đoán và giải thích cách sử dụng nhiều loại hệ thống khác nhau

Hạn chế của mô hình TAM

Hạn chế thường thấy nhất của mô hình TAM là nó phụ thuộc vào báo cáo của người thử nghiệm và giả định rằng người được thử nghiệm tự báo cáo lại sau khi sử dụng hệ thống trên thực tế Hạn chế thứ hai liên quan đến các đối tượng được thử nghiệm, các loại hệ thống được thử nghiệm, hoặc chọn mẫu

Sự hữu ích thông qua cảm nhận

Ý định

Sự dễ sử dụng thông qua cảm nhận Biến bên ngoài

Hình 2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ TAM

Trong một vài nghiên cứu, đối tượng được chọn để làm mẫu nghiên cứu là học sinh, sinh viên hoặc là người dùng chuyên nghiệp Điều đó khiến việc khái quát các phát hiện trở nên khó khăn Hơn nữa, Venkatesh đã viện dẫn rằng một trong những hạn chế của mô hình TAM là nó chỉ cung cấp chỉ dẫn có hạn cho cách ảnh hưởng đến việc sử dụng thông qua thiết kế và vận hành Tuy nhiên điều đó lại không khiến

ta hiểu hay giải thích được việc chấp nhận để hướng sự phát triển theo hướng đặc tính của hệ thống ảnh hưởng đến mức độ dễ sử dụng Sun và Zhang (2006) đã khẳng định hai thiếu sót lớn của các nghiên cứu về mô hình TAM là việc giải thích năng lực của mô hình và sự không nhất quán với các nghiên cứu trước

Do đó, mô hình TAM2 được phát triển để khắc phục những hạn chế của mô hình TAM nguyên bản

Trang 31

Theo nghiên cứu của Yi-Shun Wang năm 2002 [42] về những nhân tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận hệ thống nộp thuế điện tử Sử dụng mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) làm khung lý thuyết, nghiên cứu này giới thiệu “nhận thức mức tín nhiệm” như một nhân tố mới phản ánh lòng tin sâu trong bản chất của người nộp thuế đối với hệ thống nộp thuế điện tử đồng thời kiểm nghiệm hiệu quả của máy tính ảnh hưởng thế nào đến việc sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử

2.1.2.4 Mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng TAM2

Venkatesh và Davis (2000) đã mở rộng mô hình TAM để bao gồm những nhân tố bổ sung chủ chốt của mô hình TAM như nhận thức sự hữu ích và ý định người dùng về mặt ảnh hưởng xã hội và quá trình nhận thức qua công cụ Mô hình TAM2 đã được sửa đổi, bổ sung các khái niệm liên quan đến quá trình ảnh hưởng

xã hội (quy chuẩn chủ quan, tính tự giác, và hình ảnh) và quá trình nhận thức qua công cụ (công việc phù hợp, chất lượng đầu ra, chứng minh kết quả và nhận thức dễ

sử dụng) vào mô hình TAM nguyên bản, được trình bày trong Hình 2.4

Một yếu tố quan trọng khách trong mô hình TAM2 là kinh nghiệm Venkatesh

và Davis (2000) không xếp kinh nghiệm vào quá trình ảnh hưởng xã hội Mô hình giả định rằng, trong một tổ chức sử dụng hệ thống bắt buộc, ảnh hưởng xã hội sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hành vi chấp nhận hệ thống trong giai đoạn đầu vận hành Trải qua thời gian, ảnh hưởng của xã hội lên ý định sẽ bắt đầu giảm và được thay thế bằng kinh nghiệm khi sử dụng hệ thống Mô hình TAM2 phát triển lý thuyết, đặt trong bối cảnh sử dụng máy tính, tác động trực tiếp của ảnh hưởng xã hội lên ý định và nhận thức sự hữu ích cũng như nhận thức dễ sử dụng là có, nhưng sẽ xuất phát từ sự bắt buộc chứ không phải tự nguyện

Hơn nữa ảnh hưởng xã hội trong mô hình TAM2 có tác động trực tiếp lên ý định của nhận thức sự hữu ích và nhận thức dễ sử dụng xuất phát từ thiết lập sử dụng hệ thống bắt buộc Mô hình ấn định sự tự giác là biến điều độ để phân biệt giữa tự nguyện và bắt buộc cùng với những thiết lập tổ chức

Tuy nhiên, ảnh hưởng xã hội có thể ảnh hưởng đến ý định thông qua nhận thức sự hữu ích hay việc tiếp thu Mô hình TAM2 đưa ra giả thuyết rằng việc tiếp

Trang 32

thu – thay vì tuân theo, sẽ xảy ra dù cho bối cảnh sử dụng hệ thống là bắt buộc hay

tự nguyện Cuối cùng, những phát hiện trong nghiên cứu này cho thấy tất cả các quá trình ảnh hưởng xã hội và nhận thức qua công cụ đều tác động mạnh mẽ đến người dùng đối với việc chấp nhận công nghệ

Sự hữu ích thông qua cảm nhận

dụng

Sự dễ sử dụng thông qua cảm nhận

Hình 2.4 Mô hình chấp nhận công nghệ mở rộng TAM2

2.1.2.5 Mô hình thuyết phổ biến cái mới (DOI)

Mô hình thuyết phổ biến sự cải tiến (DOI) giải thích lý do sự cải tiến lại phổ biến khắp xã hội và cách các tổ chức và cá nhân chấp nhận những cải tiến mới Rogers (2003) đã phân biệt quá trình chấp nhận và quá trình phổ biến Quá trình phổ biến xảy ra bên trong xã hội, được xem như quá trình nhóm, trong khi quá trình chấp nhận lại liên quan đến các cá nhân Theo Rogers (2003), phổ biến có nghĩa là

“quá trình mà sư cải tiến được truyền bá thông qua các kênh nhất định trong suốt

Trang 33

một khoảng thời gian giữa các thành viên của hệ thống xã hội”, trong khi chấp nhận

có nghĩa là “quyết định sử dụng triệt để cải tiến như phương án lựa chọn tốt nhất” Thuyết phổ biến sự cải tiến của Rogers (2003) bao gồm quá trình cải tiến-quyết định, đặc tính cải tiến, đặc tính người chấp nhận, và quan điểm của người lãnh đạo Hình 2.5 bên dưới sẽ minh họa mô hình gồm 5 giai đoạn trong quá trình cải tiến-quyết định của Rogers (2003), miêu tả các giai đoạn khác nhau của một cá nhân hoặc các bộ phận ra quyết định khác khi phải trải qua quá trình chấp nhận hoặc phản bác sự cải tiến

Giai đoạn 1: Nhận biết, là giai đoạn mà một cá nhân hay bộ phận ra quyết định phát hiện ra sự tồn tại của cải tiến sau đó bắt đầu học cách vận hành

Giai đoạn 2: Thuyết phục, những đặc tính về nhận thức được cải tiến sẽ giúp những người chấp nhận tiềm năng có thái độ thích hoặc không thích cải tiến đó Giai đoạn 3: Quyết định, cá nhân (hoặc bộ phận) sau khi tương tác trong các hoạt động sau đó sẽ đi đến quyết định chấp nhận hay bác bỏ cải tiến Giai đoạn này

có thể bao gồm các tác động ủng hộ hoặc phản bác lại cải tiến từ đó ảnh hưởng đến quá trình

Giai đoạn 4: Vận hành, cá nhân (hoặc bộ phận) quyết định sử dụng cải tiến Vận hành có nghĩa là tiến hành hành vi công khai đưa ý tưởng mới vào khai thác, sử dụng

Giai đoạn 5: Xác nhận, là giai đoạn cuối cùng trong mô hình Giai đoạn này thể hiện quyết định chấp nhận hoặc bác bỏ cải tiến và thậm chí quyết định vận có thể thay đổi nếu xuất hiện nghi ngờ hoặc vấn đề khi áp dụng cải tiến (Rogers, 2003)

Hạn chế của mô hình DOI

Những hạn chế của thuyết DOI đã được nhiều nhà nghiên cứu đưa ra Ví dụ, Clarke cho rằng mô hình DOI gốc, đặt trong bối cảnh quy tắc hệ thống thông tin, là

“công cụ miêu tả tốt nhất, năng lực giải thích chưa đủ mạnh, và chưa đủ tốt để dự đoán kết quả và cung cấp chỉ dẫn để thúc đẩy tỷ lệ tiếp nhận” Ngoài ra cũng tồn tại một số nghi ngờ xoay quanh việc mô hình DOI có thể dễ dàng bị bác bỏ Thuyết

Trang 34

phổ biến cải tiến bị phê bình vì “nhiều yếu tố của thuyết này mang đặt trưng của nền văn hóa sản sinh ra nó (Bắc Mỹ trong những năm 60)” và nó “không liên quan lắm đến các quốc gia Đông Á và châu Phi”

Hình 2.5 Mô hình DOI

Mô hình DOI cũng nhận chỉ trích vì quá tập trung vào nhu cầu cải tiến hơn là cung cấp cải tiến Attewell (1992) tranh luận rằng các nhà cung cấp cải tiến có thể ảnh hưởng đến việc phổ biến vì họ thường chú trọng vào việc marketing và đào tạo các loại hình kinh doanh (nên không phải công ty nào cũng có cơ hội tiếp nhận) Hơn nữa, ông cũng cho rằng với những cải tiến phức tạp, con người có thể hiểu biết

về cải tiến cũng như lợi ích của nó được phổ biến rộng rãi nhưng vẫn chưa thể được chấp nhận

2.1.2.6 Mô hình thuyết hợp nhất chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)

Mô hình thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) là một trong những khung nghiên cứu phổ biến nhất trong lĩnh vực mô hình chấp nhận công nghệ nói chung Giống như những mô hình chấp nhận khác, nó nhằm mục đích giải thích ý định người dùng khi sử dụng hệ thống thông tin và xa hơn nữa là Hành vi chấp nhận Venkatesh tạo ra mô hình tổng hợp này để đưa ra một bức tranh

Nhận biết Thuyết phục Quyết định Vận hành Xác nhận

Chấp nhận (CN) Bác bỏ (BB)

Tiếp tục CN

CN sau Tiếp tục BBNgưng

Đặc tính của đơn

vị ra quyết định

Đặc điểm nhận thức của sự đổi mới

Các kênh thông tin liên lạc

Điều kiện đầu tiên:

Trang 35

hoàn thiện về quá trình chấp nhận khả quan hơn bất kì mô hình đơn lẻ nào được giới thiệu trước đó Tám mô hình trong lĩnh vực hệ thống thông tin được tích hợp thành một mô hình mới và tất cả các mô hình đều bắt nguồn từ tâm lý học xã hội học và truyền thông Những mô hình này bao gồm TRA, TPB, TAM, TAM2, Mô hình động cơ (MM), Mô hình tối ưu máy tính (MPCU), mô hình DOI và mô hình thuyết nhận thức xã hội (SCT) Mỗi mô hình đều cố gắng dự đoán và giải thích hành vi người dùng bằng cách sử dụng nhiều biến độc lập Một mô hình hợp nhất được tạo ra dựa trên những điểm tương đồng về khái niệm và tính hàn lâm giữa tám

mô hình Thuyết bao gồm bốn yếu tố chủ chốt (kỳ vọng kết quả thực hiện, kỳ vọng

nỗ lực thực hiện, ảnh hưởng xã hội, điều kiện vật chất) là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi hay hành vi chấp nhận Giới tính, tuổi tác, kinh nghiệm

và tinh thần tự nguyện sử dụng được xem như là các yếu tố phụ trợ đề điều tiết ảnh hưởng của bốn yếu tố chủ chốt đối với ý định hành vi hay hành vi chấp nhận, xem Hình 2.6 Hơn nữa, mô hình UTAUT cũng cố giải thích lý do vì sao các khác biệt

về cá thể lại ảnh hưởng đến việc sử dụng công nghệ Cụ thể, mối tương quan giữa nhận thức sự hữu ích, nhận thức dễ sử dụng, và hành vi chấp nhận có thể được điều chỉnh thông qua tuổi tác, giới tính và kinh nghiệm

Ví dụ, sức mạnh chi phối nhận thức sự hữu ích và hành vi chấp nhận được thể hiện rõ nhất khi đặt vào trường hợp người lao động nam, trẻ tuổi Tác động của nhận thức việc dễ sử dụng lên ý định cũng được điều chỉnh bởi giới tính và tuổi tác được biểu lộ rõ nhất khi đặt vào trường hợp của người lao động nữ, lớn tuổi và những tác động đó sẽ tỷ lệ nghịch với kinh nghiệm Mô hình UTAUT có bốn yếu tố dùng để dự đoán ý định hành vi hay hành vi chấp nhận: kỳ vọng kết quả thực hiện,

kỳ vọng nỗ lực thực hiện, ảnh hưởng xã hội và điều kiện vật chất Các yếu tố dự đoán được định nghĩa như sau:

Kỳ vọng kết quả thực hiện: là mức độ mà một cá nhân tin rằng khi sử dụng một hệ thống nào đó thì kết quả công việc đưa đến sẽ tốt

Kỳ vọng nỗ lực thực hiện: là mức độ dễ dàng khi sử dụng hệ thống

Trang 36

Ảnh hưởng xã hội: là mức độ quan trọng mà một cá nhân cảm nhận về ý kiến, quan điểm của người khác mong muốn họ sử dụng một hệ thống

Điều kiện vật chất: là mức độ mà một cá nhân tin rằng cơ sở hạ tầng kĩ thuật và tổ chức được dùng để hỗ trợ sử dụng hệ thống

Kỳ vọng kết quả thực hiện trong mô hình UTAUT xuất phát từ phép tổng hợp năm yếu tố, bao gồm nhận thức sự hữu ích, động cơ bên ngoài, công việc phù hợp, các yếu tố thuận lợi liên quan, và kỳ vọng kết quả Kỳ vọng kết quả thực hiện là yếu

tố dự đoán mạnh nhất về ý định trong tất cả những mô hình đã được kiểm nghiệm

và được xem như rất quan trọng trong cả hai phần thiết lập bắt buộc và tự nguyện trong việc phê duyệt mô hình của Venkatesh (2003)

Trong mô hình UTAUT, kỳ vọng nỗ lực thực hiện đã bắt được khái niệm cãm nhận dễ sử dụng và độ phức tạp Dễ sử dụng là yếu tố thứ hai trong nghiên cứu cơ bản của Davis (1989) và nó có ảnh hưởng quan trọng đến việc chấp nhận công nghệ cũng như sự hữu ích Khi thông qua mô hình UTAUT, kỳ vọng nỗ lực thực hiện rất quan trọng dù là đặt trong bối cảnh sử dụng bắt buộc hay tự nguyện, dù chỉ xét trong giai đoạn đầu sử dụng Vì một khi càng sử dụng phần mềm thường xuyên, con người sẽ càng cảm thấy thoải mái khi sử dụng phần mềm đó, nên yếu tố liên quan đến nỗ lực sẽ trở nên ít quan trọng hơn sau khi đã vượt qua các chướng ngại Ảnh hưởng xã hội bao gồm việc xem xét cảm nhận của cá nhân khi đứng trước quan điểm của người khác

Yếu tố này hoàn thiện các ý niệm từ những mô hình trước như ảnh hưởng xã hội, tính tự giác và hình tượng Ý niệm này đề xuất rằng kiểm toán viên sẽ trở nên nhạy cảm với ý kiến của người khác dẫn đến những quyết định đưa ra sẽ gắn với những quy chuẩn xã hội xoay quanh họ Venkatesh (2003) đã phát hiện ra ảnh hưởng xã hội không quan trọng trên tinh thần tự nguyện nhưng lại trở nên quan trọng khi áp vào bối cảnh sử dụng bắt buộc

Điều kiện vật chất đại diện cho ủng hộ tổ chức, và bao gồm ý niệm kiểm soát hành vi nhận thức, điều kiện vật chất, và tính tương thích từ những mô hình trước Những kết quả từ mô hình UTAUT đề xuất rằng yếu tố điều kiện vật chất quan

Trang 37

trọng đều quan trọng, vừa với bắt buộc và tự nguyện trong giai đoạn bắt đầu sử dụng, nhưng ảnh hưởng của nó đối với hành vi chấp nhận lại hoàn toàn biến mất Hơn nữa, điều kiện vật chất bắt đầu điều tiết hoàn toàn kỳ vọng nỗ lực thực hiện nhưng khi cả kỳ vọng kết quả và kỳ vọng nỗ lực thực hiện xuất hiện, điều kiện vật chất lại không còn quan trọng khi dự đoán ý định

Cuối cùng mô hình UTAUT có khả năng chiến đến 70% trong phương sai của hành vi chấp nhận, được coi là một sự cải tiến về bất kỳ mô hình ban đầu nào với mức tối đa khoảng 40% Tác giả thừa nhận sự hạn chế của độ chuẩn xác do quá trình đo lường và khuyến nghị các nghiên cứu trong tương lai nên tập trung vào việc phát triển và kiểm nhận những thang đo thích hợp với từng ý niệm và nhấn mạnh độ chuẩn xác và gia hạn hoặc mở rộng mô hình UTAUT với thang đo mới

2.1.2.7 Kết luận và lựa chọn

Ở phần trước đã khảo sát tỉ mỉ các nghiên cứu và học thuyết về việc chấp nhận

sử dụng dịch vụ nộp thuế điện tử ở các nước phát triển và mình họa những kẽ hở của các nghiên cứu này khi áp dụng tại các nước đang phát triển Từ những nghiên cứu trước, mô hình TAM, TRA và TPB đã được sử dụng rộng rãi để kiểm nghiệm việc chấp nhận công nghệ khi sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử ở nhiều quốc gia trên thế giới Tuy nhiên những mô hình này lại hứng chịu phê bình khi khả năng giải thích ý định hành vi chỉ rơi vào khoảng 30% – 40% Mô hình thuyết hợp nhất

về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT) lại có khả năng giải thích cao hơn, khoảng 70%

Mô hình UTAUT là mô hình được phê duyệt đầy uy tín khi kết hợp 8 mô hình chấp nhận công nghệ chính và bản mở rộng của chúng Do mô hình UTAUT khá mới (được phê duyệt năm 2003), các nhà nghiên cứu vẫn đang tăng cường kiểm tra tính tương thích, hợp lệ, độ tin cậy của mô hình để giải thích việc chấp nhận công nghệ trong các bối cảnh khác nhau Ví dụ, Anderson (2006) sử dụng mô hình UTAUT để tìm tác nhân và bộ điều chỉnh cho việc người dùng chấp nhận sử dụng máy tính bảng ở khoa kinh doanh các trường đại học Yếu tố kỳ vọng kết quả thực hiện trong mô hình là tác nhân quan trọng nhất ảnh hưởng đến việc chấp nhận sử

Trang 38

dụng máy tính bảng Carlsson (2006) từng dùng mô hình UTAUT để giải thích việc chấp nhận sử dụng thiết bị/dịch vụ điện tử ở Phần Lan và phát hiện ra rằng kỳ vọng kết quả thực hiện và kỳ vọng nỗ lực thực hiện đều quan trọng nhưng ảnh hưởng xã hội thì không quan trọng

Hình 2.6 Mô hình thuyết hợp nhất về chấp nhận và sử dụng công nghệ (UTAUT)

Nghiên cứu của Maulana Yusup (2005) [41] là nghiên cứu xác định nhận thức của người nộp thuế về hóa đơn điện tử khi nộp thuế

Nghiên cứu này đóng góp vào sự phát triển lý thuyết của Quản lý Khoa học, đặc biệt là mô hình UTAUT của người nộp thuế chấp nhận hệ thống nộp thuế điện tử để cải thiện hiệu suất của cơ quan thuế, cả trực tiếp lẫn gián tiếp, khi xét đến các dịch

vụ công Kết quả cho thấy có ảnh hưởng đáng kể về nhận thức việc dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội, nhận thức sự hữu ích, điều kiện thuận lợi hướng tới thái độ và hành vi chấp nhận Vì vậy, hệ thống nộp thuế điện tử có thể là cách cải thiện dịch vụ hành

Trang 39

chính ở các cơ quan thuế để tạo thuận lợi cho việc thanh toán thuế Kết quả của nghiên cứu này chỉ giới hạn ở hiệu quả của mô hình UTAUT và vẫn cần nghiên cứu thêm vì cần sử dụng nguồn nhân lực lớn hơn trong các nghiên cứu sau Ngoài ra, các yếu tố khác cũng ảnh hưởng đến Hành vi chấp nhận Hơn nữa, nghiên cứu này cũng không sử dụng các biến kiểm soát, chẳng hạn như độ tuổi và giới tính của người trả lời Do đó cần phải nghiên cứu sâu hơn để kết hợp các biến số khác, như đặc tính tự nguyện dựa trên sự thống nhất, kỳ vọng xã hội, công nghệ tiên tiến và các yếu tố khác ảnh hưởng đến Hành vi chấp nhận

Nghiên cứu chứng minh rằng thái độ ảnh hưởng đáng kể đến hành vi của người dùng khi sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử Điều này cho thấy thái độ trong việc nộp thuế điện tử có thể ảnh hưởng đến hành vi nộp thuế bằng phương thức điện

tử Kết quả này phù hợp với kết quả của nghiên cứu được thực hiện bởi Lu và cộng

sự (2003) chứng minh rằng có ảnh hưởng đáng kể của thái độ lên hành vi Tương tự như vậy, tuyên bố của Ajzen (1985) cho thấy rằng thái độ ảnh hưởng đến hành vi; trong trường hợp này, người nộp thuế thực hiện nộp thuế bằng phương thức điện tử Hành vi của người nộp thuế đối với việc tái sử dụng nộp thuế điện tử có thể được giải thích theo thái độ của đối tượng nộp thuế khi được hỗ trợ với các khía cạnh có lợi, tức là người nộp thuế được nộp thuế nhanh chóng và từ bất kì đâu Việc dễ dàng nộp thuế thông qua hệ thống nộp thuế điện tử bằng ngân hàng trực tuyến hoặc thông qua máy ATM giúp cho người sử dụng không cần mang theo giấy tờ để nộp thuế Quá trình này chỉ yêu cầu xác nhận của ngân hàng, dùng mã thanh toán để tiến hành giao dịch thanh toán thuế với điều kiện cơ sở thích hợp và hỗ trợ từ hệ thống

Kết quả cho thấy việc dễ sử dụng, ảnh hưởng xã hội, sự hữu ích, thái độ người nộp thuế về điều kiện thuận tiện và mục đích sử dụng có tác động rất quan trọng

Do đó, tác giả nhận thấy rằng trong bài nghiên cứu đã xác định được rằng hệ thống nộp thuế điện tử là một cách để cải thiện dịch vụ ở các cơ quan thuế, đặc biệt là ở Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu để biến việc nộp thuế trở nên thuận tiện cho người nộp

Trang 40

Tóm lại:

Mục này kiểm nghiệm lại các tài liệu liên quan nhằm khám phá và minh họa những mô hình chấp nhận công nghệ quan trọng nhất như TRA, TPB, TAM, TAM2, DOI và UTAUT Tuy nhiên, từ vô vàn mô hình và học thuyết, tác giả phải chọn lọc mô hình tốt nhất và ít hạn chế nhất để phục vụ cho luận văn của mình Dựa trên những hạn chế và việc ứng dụng mỗi mô hình trong các tài liệu nghiên cứu, luận văn này sẽ tận dụng mô hình UTAUT để nghiên cứu và khám phá sự chấp nhận sử dụng hệ thống nộp thuế điện tử ở Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu Chương tiếp theo sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu bao gồm của phương pháp,

sự chọn lọc, biện chứng cho các phương pháp được đề xuất và thảo luận mô hình nghiên cứu

2.2 Thực trạng hệ thống nộp thuế điện tử Cục thuế tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu 2.2.1 Tổng quan tình hình ứng dụng công nghệ tại Việt Nam

Việt Nam là nước có dân số đông, đứng thứ 14 trên thế giới với xấp xỉ 93,6 triệu dân (theo “World Economic Outlook: Vietnam International Monetary Fund” ), trong đó tỷ lệ đô thị hóa là 31% Tính đến tháng 1 năm 2017, Việt Nam có 50,05 triệu người dùng Internet, chiếm 53% dân số, tăng 6% so với năm 2016 Theo báo

cáo “Digital in 2017: Southeast Asia”, số người dùng Internet tại Việt Nam được

xem là ở mức cao trên thế giới, tuy nhiên so với khu vực Đông Nam Á, tỷ lệ người dùng vẫn ở mức trung bình (tổng tỷ lệ người dùng Internet khu vực Đông Nam Á là 53%), lần lượt xếp sau các nước như Brunei (86%), Singapore (82%), Malaysia (71%), Thái Lan (67%) Ngoài ra, Việt Nam có đến 46 triệu người dùng mạng xã hội, chiếm 48% dân số

Tỷ lệ phần trăm các thiết bị kết nối Internet phổ biến ở người dùng trưởng thành đó là điện thoại thông minh với 72%, máy tính xách tay (hoặc máy tính để bàn) với 44%, máy tính bảng với 14% Nhìn chung, Việt Nam là quốc gia sử dụng Internet khá “năng động” với tỷ lệ người sử dụng liên tục tăng đều qua các năm và lọt vào tốp đầu các nước “tương tác với Internet” Với tỷ lệ người dùng Internet

Ngày đăng: 01/09/2020, 12:53

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w