Ngoài ra, theo các nhà nghiên cứu, sở dĩ bất bình đẳng trong lao động còn tồn tại là do ảnh hưởng của định kiến về giới, xu hướng gắn giá trị thấp cho công việc của nữ ở một số lĩnh vực
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MINH TUYỀN
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
Ở VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh, 2013
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
LÊ THỊ MINH TUYỀN
BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn
và số liệu sử dụng trong luận văn đều đƣợc dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Tôi xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan danh dự của tôi
Học viên thực hiện
Lê Thị Minh Tuyền
Trang 4LỜI CÁM ƠN
Để hoàn thành đề tài này một cách hoàn chỉnh, bên cạnh sự nổ lực cố gắng của bản thân còn có sự hướng dẫn nhiệt tình của Quý thầy cô, cũng như sự động viên ủng hộ của gia đình, bạn bè trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến Cô Lê Ngọc Uyển, người đã tận tình giúp đỡ, góp ý và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi hoàn thành đề tài
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến toàn thể quý Thầy Cô trong khoa Kinh
tế Phát triển đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu cũng như tạo mọi điều kiện thuận lợi nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài
Xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn đến gia đình, những người đã không ngừng động viên, hỗ trợ và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt thời gian học tập Cuối cùng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng cảm ơn đến các anh chị và các bạn đồng nghiệp đã hỗ trợ cho tôi rất nhiều trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu và thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh Đặc biệt, gửi lời cám ơn chân thành đến anh Nguyễn Ngọc Thuyết học viên K19 KTPT và anh Châu về những kiến thức trao đổi cũng như dữ liệu đã chia sẻ cùng tôi, giúp tôi hoàn thành đề tài thật tốt
Mặc dù tôi đã có nhiều cố gắng hoàn thiện luận văn bằng tất cả sự nhiệt tình
và năng lực của mình, tuy nhiên không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được những đóng góp chân thành từ quý thầy cô và các bạn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ THUYẾT, MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM VÀ PHƯƠNG PHÁP THỰC HIỆN NGHIÊN CỨU 6
1.1 Các khái niệm 6
1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập 8
1.2.1 Yếu tố phi kinh tế - Các quan niệm và tư tưởng truyền thống 8
1.2.2 Yếu tố kinh tế 9
1.3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm 10
1.3.1 Mô hình hàm thu nhập Mincer 11
1.3.2 Phương pháp phân tách Oaxaca 12
1.4 Khung phân tích 14
1.5 Cách tính và quy đổi một số biến trong mô hình 15
1.5.1 Thu nhập bình quân theo giờ 15
1.5.2 Biến số năm đi học 15
1.5.3 Biến năm kinh nghiệm 16
1.5.4 Quy đổi một số biến định tính 16
1.6 Quy trình trích lọc dữ liệu 18
1.6.1 Giới thiệu bộ dữ liệu và phần mềm sử dụng 18
1.6.2 Mô tả các biến 18
1.6.3 Tinh lọc dữ liệu 20
1.6.4 Cách thức ước lượng 20
1.6.5 Trình tự thực hiện 21
1.7 Một số kết quả chính của các nghiên cứu đã thực hiện 21
TÓM LƯỢC Ý CHÍNH CHƯƠNG 1 25
Trang 6CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẤT BÌNH
ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP TẠI VIỆT NAM 26
2.1 Tổng quan về bất bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam 26
2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập 31
2.2.1 Nhóm yếu tố đặc tính của người lao động: 31
2.2.2 Nhóm yếu tố về giáo dục, trình độ đào tạo 33
2.2.3 Nhóm yếu tố lao động-việc làm 35
2.2.4 Yếu tố khu vực địa lý 37
2.2.5 Môi trường và chính sách liên quan đến thu nhập và vấn đề giới 38
TÓM TẮT Ý CHÍNH CHƯƠNG 2 40
CHƯƠNG 3 : KIỂM CHỨNG ĐỊNH LƯ NG VỀ CÁC NH N TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN BẤT BÌNH ĐẲNG GIỚI TRONG THU NHẬP TẠI VIỆT NAM NĂM 2010 41
3.1 Dữ liệu nghiên cứu và mô hình thực nghiệm 41
3.1.1 Dữ liệu nghiên cứu 41
3.1.2 Mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer 41
3.1.3 Mô hình phân tách Oaxaca 44
3.1.4 Mô hình tương tác 45
3.2 Kết quả phân tích hàm hồi quy thu nhập Mincer 45
3.2.1 Kiểm định mô hình 45
3.2.2 Kết quả hồi quy hàm thu nhập Mincer 46
3.3 Kết quả phân tách tiền lương 51
TÓM TẮT Ý CHÍNH CỦA CHƯƠNG 3 57
CHƯƠNG 4 : KẾT LUẬN VÀ G I Ý CHÍNH SÁCH 58
4.1 Kết luận 58
4.2 Gợi ý chính sách 60
4.3 Ưu điểm và hạn chế của nghiên cứu, hướng nghiên cứu mới của đề tài 62
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
- KSMS : Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam
- THPT: Trung học phổ thông
- Tp.HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
- UNDP: Chương trình phát triển Liên Hiệp Quốc
- VHLSS 2010: Bộ số liệu Khảo sát mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2010
- (CEDAW): Công ước xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối với phụ nữ
- CMKT: Chuyên môn kỹ thuật
- HDI: Chỉ số phát triển con người
- GII : Chỉ số bất bình đẳng giới
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Số năm đại học quy đổi cho bậc giáo dục đại học 15
Bảng 1.2 Số năm đại học quy đổi cho bậc dạy nghề 15
Bảng 1.3 Thông tin nguồn dữ liệu được trích lọc 19
Bảng 1.4 Tổng hợp kết quả một số nghiên cứu chính 22
Bảng 2.1 So sánh thứ hạng HDI và GII của Việt Nam và các nước ASEAN, 2011 27
Bảng 2.2 Lao động phân theo chuyên môn kỹ thuật 27
Bảng 2.4 Thu nhập bình quân theo giờ của nam và nữ theo nhóm tuổi 29
Bảng 2.5 Tuổi kết hôn trung bình lần đầu (SAMA), t trọng đã từng kết hôn của các nhóm tuổi, giới tính và chênh lệch SAMA, 1999-2010 32
Bảng2.6 Lao động phân theo giới tính và bằng cấp chuyên môn 34
Bảng 3.1: Biến độc lập và kì vọng dấu 42
Bảng 3.2 Tổng hợp các biến trong mô hình 43
Bảng 3.3 Kết quả hồi quy của mô hình hồi quy hàm thu nhập Mincer cho cả lao động nam và nữ 46
Bảng 3.4 Kết quả hồi quy hàm Mincer đối với lao động nam 50
Bảng 3.5 Kết quả hồi quy hàm Mincer đối với lao động nữ 51
Bảng 3.6 Kết quả phân tích Oaxaca 52
Bảng 3.7 Kết quả phân tích Oaxaca theo độ tuổi 53
Bảng 3.8 Kết quả hồi quy mô hình Mincer với các biến tương tác 55
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đề tài 14
Sơ đồ 1.2 Quy trình phân tích của đề tài 21
Hình 2.1 Thu nhập bình quân theo bằng cấp của nam và nữ 30
Hình 2.2 Thu nhập bình quân theo giờ của nam và lao động nữ ở các nhóm tuổi 31
Hình 2.3 Thu nhập bình quân/giờ theo giới tính và khu vực kinh tế 35
Hình 2.4 Thu nhập bình quân theo chuyên môn kỹ thuật của nam và nữ 36
Hình 2.5 Thu nhập bình quân theo vùng địa lý của nam và nữ 37
Trang 10đề xuất một số chính sách nhằm cải thiện tình trạng phân biệt đối xử và khác biệt giới trong thu nhập của người lao động trong khu vực làm công ăn lương nói riêng
và trên thị trường lao động nói chung
Trang 11mà còn góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện phát triển bền vững, tiến bộ cho quốc gia
Ở Việt Nam, bình đẳng giới luôn thể hiện sự quan tâm nhất quán của Đảng và Nhà nước ta.Nguyên tắc bình đẳng nam nữ đã trở thành nguyên tắc hiến định của Nhà nước ta được đề cập đến ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên - Hiến pháp năm
1946 Trên cơ sở Hiến pháp, vấn đề bình đẳng giới đã được cụ thể hoá trong các văn bản pháp luật, làm cơ sở để chúng ta thực hiện và bảo đảm vấn đề bình đẳng giới trong thực tế Báo cáo phát triển con người, 2011 do UNDP công bố mới đây cho thấy, Việt Nam xếp thứ 128 trên 187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mức trung bình trên thế giới, về chỉ số phát triển con người (HDI-Human Development Index) nhưng lại xếp thứ 48 trên thế giới về chỉ số bất bình đẳng giới (thứ hạng càng gần 0
Trang 12càng thể hiện sự bình đẳng cao) Theo đó, chúng ta đã có những bước tiến vượt bậc trong việc thực hiện bình đẳng giới.Báo cáo của UNDP cũng chỉ ra, xu hướng GII của Việt Nam là liên tục giảm từ 1995-2011 Điều đó cho thấy mức độ bình đẳng giới của Việt Nam tăng lên rõ rệt trong thời gian
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu và chuyển biến tích cực về kinh tế - xã hội, thì bất bình đẳng trong thu nhập về lương giữa nam giới và nữ giới vẫn không
có nhiều thay đổi Thu nhập của phụ nữ thấp hơn nam giới bị chi phối bởi nhiều nguyên nhân trong đó có trình độ kỹ thuật, tay nghề, sức khoẻ phụ nữ không đủ để làm thêm giờ, tăng năng suất lao động như nam giới Ngoài ra, theo các nhà nghiên cứu, sở dĩ bất bình đẳng trong lao động còn tồn tại là do ảnh hưởng của định kiến về giới, xu hướng gắn giá trị thấp cho công việc của nữ ở một số lĩnh vực cụ thể, sự phân biệt đối xử ở nơi làm việc trong các khâu tuyển dụng, đánh giá chất lượng công việc Bên cạnh đó, sự khác biệt ở tuổi nghỉ hưu hiện hành có lẽ cũng là một nguyên nhân gây khó khăn cho phụ nữ trong việc tận dụng cơ hội nghề nghiệp, cơ hội thăng tiến Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu về bất bình đẳng trong thu nhập giữa nam và nữ, tuy nhiên các nghiên cứu này chưa định lượng được nguyên nhân tạo ra khoảng cách về thu nhập giữa hai giới mà mới chỉ giải thích các nguyên nhân mang tính định tính Mặt khác, một số nghiên cứu với thời gian khá xa, vì vậy chưa đánh giá chính xác mức độ bất bình đẳng trong gia đoạn hiện tại Nghiên cứu thực hiện nhằm mục đích tính toán, phân tích, đo lường mức độ ảnh hưởng của các nguyên nhân gây ra bất bình đẳng giới trong thu nhập Từ đó có thể đề ra những gợi ý chính sách góp phần hướng tới sự bình đẳng trong xã hội, nâng cao vai trò và giải phóng
sức lao động của nữ giới Nghiên cứu “Bất bình đẳng giới trong thu nhập của
người lao động ở Việt Nam” nhằm mục đích làm sáng tỏ vần đề này
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chính của đề tài là trên cơ sở đánh giá, phân tích định tính và định lượng kết quả điều tra Khảo sát mức sống hộ gia đình năm 2010 để đo lường mức
độ khác biệt về thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ, so sánh sự khác biệt
Trang 13này ở từng nhóm tuổi cụ thể Từ kết quả của nghiên cứu sẽ đưa ra gợi ý chính sách nhằm đạt tới sự phát triển kinh tế công bằng và hiệu quả, giảm thiểu mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứucủa đề tài là thu nhập từ công việc chính của người lao
động làm công ăn lương được hưởng hàng tháng trong vòng 12 tháng trước thời gian điều tra tại Việt Nam (chia theo vùng, ngành) và các yếu tố ảnh hưởng đến mức lương, như : trình độ học vấn, số năm kinh nghiệm làm việc, khu vực kinh tế, tình trạng hôn nhân… Thu nhập ở đây chủ yếu là tiền lương, tiền công và các khoản khác nằm ngoài lương như tiền lễ, Tết, trợ cấp xã hội, tiền lưu trú đi công tác (gồm
cả khoản nhận được bằng tiền và giá trị hiện vật được quy đổi)
Câu hỏi nghiên cứu: Nghiên cứu này tìm hiểu về mức độ bất bình đẳng giới
và trả lời cho câu hỏi: Có sự phân biệt đối xử trong các khoản thu nhập của người
lao động ở Việt Nam hiện nay không?
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thời gian, không
gian, và nội dung như sau: (i) Về thời gian: nghiên cứu bất bình đẳng giới trong thu
nhập của người lao động Việt Nam năm 2010 theo bộ dữ liệu khảo sát mức sống
dân cư năm 2010 (ii) Về không gian: thực hiện nghiên cứu bất bình đẳng giới trong
thu nhập trên phạm vi cả nước, từ khu vực nông thôn đến thành thị, 6 vùng địa lý từ
đồng bằng Sông Hồng đến đồng bằng Sông Cửu Long (iii) Về nội dung: nghiên
cứu tập trung vào các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sự bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam năm 2010, bao gồm : các yếu tố liên quan đến đặc điểm cá nhân người lao động như độ tuổi, giới tính, tình trạng hôn nhân Các yếu tố liên quan đến việc làm của người lao động: kinh nghiệm và trình độ chuyên môn kỹ thuật, khả năng tiếp cận việc làm trong khu vực kinh tế, trình độ giáo dục, nhóm ngành nghề; các yếu tố về vị trí địa lý Ngoài ra còn có các yếu tố như: quan điểm
giới, về điều kiện văn hoá, môi trường, an ninh, ổn định chính trị
Trang 144 Phương pháp nghiên cứu
Cơ sở dữ liệu: Đề tài sử dụng nguồn dữ liệu chính là dữ liệu thứ cấp từ cuộc
khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2010 của Tổng cục Thống kê
Phương pháp phân tích: đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính sau:
(i) Phương pháp thống kê: quá trình xử lý số liệu có so sánh, đối chiếu nhằm tổng hợp lại các dữ liệu, đưa ra những nhận xét cơ bản (ii) Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Hồi quy hàm thu nhập Mincer kết hợp phương pháp phân tích Oaxaca
để ước lượng và kiểm định tác động của các nhân tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam năm 2010 Các hệ số hồi quy trong mô hình được ước lượng bằng phương pháp bình phương tối thiểu (OLS) Mục tiêu của phương pháp có thể đo lường khoảng cách thu nhập giữa nam nữ, tách biệt khoảng cách thu nhập giữa hai giới thành hai phần: phần “có thể giải thích được” dựa trên các đặc tính năng suất như trình độ giáo dục hay thâm niên lao động, và cấu phần “không thể giải thích được”, hay là sự phân biệt đối xử giới trên thị trường lao động
5 Cấu trúc đề tài
Nhằm đạt được tính chặt chẽ trong việc trình bày, kết nối các nội dung giúp cho người đọc có thể tham khảo các vấn đề và kết quả của quá trình nghiên cứu, tiếp theo phần mở đầu, nội dung của đề tài được trình bày trong 4 chương như sau:
Phần mở đầu: Giới thiệu các nội dung tổng quát của đề tài, đặt vấn đề nghiên
cứu, mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu cũng như giới thiệu sơ lược về phương pháp,
và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chương 1: Tổng quan lý thuyết, mô hình thực tiễn và phương pháp thực hiện nghiên cứu Chương này trình bày tổng quan về khung lý thuyết, các yếu tố
ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động cùng với mô hình hàm hồi quy thu nhập Mincer, phương pháp phân tích Oaxaca làm cơ sở nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu Phương pháp thực hiện nghiên cứu nêu lên quy trình quy trình xử lý, tinh lọc dữ liệu từ bộ dữ liệu khảo sát mức mức sống dân cư Việt
Trang 15Nam năm 2010 Phần cuối của chương có đề cập một số nghiên cứu trước có liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Chương 2: Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập Bằng phương pháp thống kê mô tả, chương 2 sẽ đưa ra những
đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam thông qua phân tích các số liệu về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm trong bộ số liệu VHLSS 2010 Qua đó, nghiên cứu chỉ ra các tác động khác nhau của các yếu tố kinh tế và phi kinh tế đến bất bình đẳng giới trong thu nhập
Chương 3: Kiểm chứng định lượng về mức độ bất bình đẳng giới trong thu nhập của người lao động tại Việt Nam năm 2010 Nội dung trình bày kết quả
ước lượng và tính toán các hệ số hồi quy, khoảng cách thu nhập và các hệ số từ mô hình phân tích Oaxaca Nghiên cứu đi sâu vào việc phân tích sự khác biệt tiền lương theo từng nhóm tuổi Cuối chương, tác giả một lần nữa đánh giá lại tác động của các yếu tố bằng kết quả hồi quy tương tác giữa các biến trong mô hình hồi quy thu nhập
Mincer
Chương 4: Kết luận và gợi ý chính sách Chương này sẽ tóm lược lại những
kết quả quan trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu.Đồng thời, vận dụng những kết quả này vào các tình huống thực tế Từ đó, có những kiến nghị chính sách nhằm thu hẹp và tiến tới xóa bỏ khoảng cách bất bình đẳng giới trong thu nhập Ngoài ra, chương này còn đánh giá lại những điểm mới cũng như những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo
Sau cùng, luận văn cũng đính kèm phần phụ lục để chứng minh chi tiết hơn
cho những kết quả phân tích đã được trình bày trong các chương
Trang 161.1 Các khái niệm
Giới: Theo Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam (2005) định nghĩa thì giới là phạm
trù chỉ quan niệm, vai trò và mối quan hệ xã hội giữa nam giới và phụ nữ Xã hội tạo ra và gán cho trẻ em gái và trẻ em trai, cho phụ nữ và nam giới các đặc điểm giới khác nhau.Bởi vậy, các đặc điểm giới rất đa dạng và có thể thay đổi được
Bình đẳng giới: Theo tài liệu” Hướng dẫn lồng ghép giới trong hoạch định và
thực thi chính sách” do Ủy ban quốc gia vì sự tiến bộ của phụ nữ Việt Nam xuất bản năm 2004 thì “ Bình đẳng giới là sự thừa nhận và coi trọng như nhau các đặc điểm giống và khác nhau giữa phụ nữ và nam giới” Nam giới và phụ nữ có điều kiện bình đẳng để phát huy hết khả năng và thực hiện mong muốn của mình ; có cơ hội bình đẳng để tham gia, đóng góp và thụ hưởng từ các nguồn lực của xã hội và quá trình phát triển; được hưởng tự do và chất lượng cuộc sống bình đẳng; được hưởng thành quả bình đẳng trong mọi lĩnh vực của xã hội
Theo khái niệm trên thì bình đẳng giới không phải là sự hoán đổi vai trò của nam, nữ từ thái cực này sang thái cực khác và cũng không phải là sự tuyệt đối hóa bằng con số hoặc t lệ 50/50 Bình đẳng giới là sự khác biệt về giới tính trong các vai trò sản xuất, tái sản xuất, vai trò chính trị và cộng đồng, đặc biệt là sự chia sẻ công việc gia đình, chăm sóc các thành viên gia đình để tạo cơ hội và điều kiện cho
Trang 17nam và nữ phát triển toàn diện về mọi mặt Đồng thời, bình đẳng giới còn tạo điều kiện và cơ hội cho phụ nữ bù đắp những khoảng trống do việc mang thai, sinh con
và gánh vác phần lớn lao động gia đình mang lại
Bất bình đẳng giới: Theo ILO thì bất kì sự phân biệt nào hình thành trên cơ sở
chủng tộc, màu da, giới tính, tôn giáo, khuynh hướng chính trị, nguồn gốc xã hội…mà có ảnh hưởng và làm tổn hại đến việc tiếp cận các cơ hội hay sự đối xử trong công việc và nghề nghiệp thì được coi là bất bình đẳng Như vậy bất bình đẳng giới là sự phân biệt trên cơ sở giới tính, làm ảnh hưởng đến sự tham gia, đóng góp và thụ hưởng thành quả cũng như các nguồn lực của xã hội và sự phát triển của con người Xét riêng trong lĩnh vực lao động thì sự bất bình đẳng giới thể hiện ở việc phân biệt đối xử trong công việc, không công bằng trong việc tiếp cận các cơ hội cũng như phân biệt đối xử trong việc thừa hưởng các thành quả lao động giữa lao động nam và lao động nữ
Bất bình đẳng giới trong thu nhập: Đề tài này tập trung nghiên cứu và đi sâu
vào vấn đề bất bình đẳng giới trong việc tiếp cận các cơ hội kinh tế, cụ thể là bất bình đẳng giới đối với thu nhập Theo Rio, C.D và các cộng sự, 2006 thì sự bất bình đẳng giới trong thu nhập là phân biệt trong thu nhập được hưởng của lao động nam
và lao động nữ mặc dù các đặc tính năng động và năng suất lao động như nhau Như vậy, vấn đề nghiên cứu được xác định là bất bình đẳng giới trong thu nhập Mục tiêu nghiên cứu nhằm phân tích, đánh giá, tính toán và đo lường để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập Trong nhóm các yếu tố ảnh hưởng, nghiên cứu chia làm hai nhóm, nhóm yếu tố kinh tế và nhóm yếu
tố phi kinh tế.Nhóm yếu tố phi kinh tế đó là các quan niệm, định kiến về giới.Đối với các yếu tố này, tác giả dùng phương pháp phân tích đánh giá Nhóm yếu tố phi kinh tế như: nhóm tuổi, tình trạng hôn nhân, kinh nghiệm, số năm đi học… tác giả
sử dụng phương pháp tính toán, đo lường, hồi quy, kiểm định… để đánh giá Từ các kết quả có được, tác giả đề xuất và gợi ý chính sách nhằm cải thiện mức độ bình đẳng giới trong thu nhập cho người lao động Việt Nam
Trang 181.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động
1.2.1 Yếu tố phi kinh tế - Các quan niệm và tư tưởng truyền thống
Bất bình đẳng giới trong giai đoạn hiện nay có tác động xấu đối với sự phát triển của xã hội, một mặt nó vừa là một trong những căn nguyên gây ra tình trạng nghèo đói, mặt khác nó là yếu tố cản trở lớn đối với quá trình phát triển Bất bình đẳng giới tồn tại trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội đặc biệt lĩnh vực lao động – việc làm Nguyên nhân của tình trạng này không chỉ phụ thuộc vào mức độ ảnh hưởng từ những tư tưởng định kiến giới, quan điểm văn hóa truyền thống mà còn phụ thuộc vào nỗ lực của nhà nước trong việc cải thiện sự bất bình đẳng giới
Tình trạng bất bình đẳng giới trong lao động – việc làm của Việt nam hiện nay cũng không nằm ngoài những nguyên nhân như vừa nêu Tuy nhiên, vấn đề này ở nước ta khá đặc thù, chủ yếu xuất phát từ các quan niệm và định kiến tồn tại trong
xã hội và các quan điểm truyền thống.Đó là những quan niệm và định kiến xã hội phong kiến tồn tại từ hàng ngàn năm trước về địa vị, giá trị của giới nữ trong gia đình cũng như xã hội mà không dễ dàng thay đổi.Theo đó, nam giới có quyền tham gia công việc ngoài xã hội, thực hiện chức năng sản xuất, gánh vác trách nhiệm và quản lý xã hội, còn phụ nữ trông nom việc nhà, con cái.Nam giới có toàn quyền chỉ huy định đoạt mọi việc lớn trong gia đình, nữ giới thừa hành, phục vụ chồng con.Người phụ nữ hoàn toàn phụ thuộc vào nam giới, không có bất k quyền định đoạt gì kể cả đối với bản thân.Điều đó thể hiện sự đề cao tuyệt đối giá trị của nam giới đồng thời phủ nhận hoàn toàn giá trị nữ giới.Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến sự hạn chế trong các cơ hội để phụ nữ tiếp cận nền giáo dục và đào tạo, việc lựa chọn ngành nghề, cơ hội nâng cao trình độ chuyên môn Sự phân bổ nam nữ lao động trong các ngành nghề khác nhau và sự sắp xếp lao động và vị trí công việc trong cùng một ngành nghề lĩnh vực cũng có những khác biệt rõ rệt Chính vì những bất lợi đó
đã ảnh hưởng rất lớn đến việc cải thiện tình trạng và vị thế kinh tế cho nữ giới
Trang 191.2.2 Yếu tố kinh tế
1.2.2.1 Nhóm yếu tố đặc điểm người lao động
Nhóm yếu tố đặc điểm của người lao động gồm những yếu tố lien quan mặt thể chất và giới tính gồm: độ tuổi,tình trạng hôn nhân
Bojas (2005) qua các bằng chứng thực nghiệm đã cho thấy thu nhập của một người phụ thuộc vào tuổi tác của người đó.Tiền lương tương đối thấp đối với người lao động trẻ, tăng lên khi họ trưởng thành và tích lũy được vốn con người,rồi có thể giảm nhẹ đối với những người lao động lớn tuổi Đặc biệt, thu nhập của những lao động nam trẻ thường tang nhanh hơn thu nhập của người nữ trẻ
Tình trạng hôn nhân tác động đến thu nhập của lao động nam và lao động nữ tương tự nhau: khi đã lập gia đình và có con cái do những nhu cầu cuộc sống phát sinh làm tăng nhu cầu làm việc để kiếm thêm thu nhập ở cả nam giới và phụ nữ Tuy nhiên có sự khác biệt giữa hai giới, do trách nhiệm chăm sóc gia đình đè nặng trách nhiệm lên người nữ giới làm hạn chế cơ hội tham gia sản xuất và làm thu nhập của họ thấp hơn nam giới
1.2.2.2 Nhóm yếu tố lao động, việc làm
Nhóm yếu tố này bao gồm: ngành nghề, chuyên môn kỹ thuật, kinh nghiệm làm việc Xét theo ngành nghề, có sự khác biệt lớn trong t lệ nam giới và nữ giới
có cùng thu nhập với công việc tương tự như nhau, nhiều doanh nghiệp ưu tiên tuyển nam hơn là nữ vẫn đang phổ biến, vì vậy nữ thường phải chấp nhận trả công lao động thấp hơn nam giới ở cùng một loại công việc Phụ nữ phải dành nhiều thời gian làm các công việc gia đình nên ít có cơ hội để tham gia vào các hoạt động đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn; mức độ tham gia của phụ nữ trong các cấp chính
quyền cấp cơ sở khá cao nhưng càng lên trên t lệ này giảm dần
1.2.2.3 Nhóm yếu tố giáo dục, trình độ đào tạo
Giáo dục – đào tạo là yếu tố rất quan trọng ảnh hưởng đến thu nhập của người lao động Mincer (1974) đã chứng minh rằng, số năm đi học có tác động cùng
Trang 20chiều với thu nhập của người lao động
Công việc đòi hỏi trình độ chuyên môn cao, kỹ năng phức tạp có mức lương cao hơn nhiều so với các công việc mang tính giản đơn Do vậy người được tiếp cận với nền giáo dục cao hơn sẽ có cơ hội tìm kiếm công việc có thu nhập cao hơn
1.2.2.4 Nhóm yếu tố vùng, miền
Thu nhập được trả cho người lao động phải đảm bảo cho cuộc sống của bản thân họ và gia đình Do mức sống, mức chi tiêu ở các vùng khác nhau là khác nhau nên thu nhập của người lao động tại các địa phương khác nhau sẽ khác nhau Bên cạnh sự khác biệt do yếu tố vùng miền lãnh thổ, mức sống và thu nhập của người lao động còn phụ thuộc khu vực sinh sống là thành thị hay nông thôn Người lao động ở thành thị có mức thu nhập cao hơn với người lao động nông thôn, xét theo công việc có tính chất và độ phức tạp tương đương
Ở các vùng nông thôn thời gian lao động tạo thu nhập của phụ nữ và nam giới
là xấp xỉ như nhau Tuy nhiên, phụ nữ dành thời gian nhiều gần gấp đôi nam giới cho các công việc nhà không được trả công Do vậy, phụ nữ nông thôn ở tất cả các lứa tuổi đều có tổng thời gian làm việc nhiều hơn nam giới Điều đó đã ảnh hưởng xấu đến sức khoẻ và gia đình của họ, thiếu thời gian nghỉ ngơi, giải trí và tham gia các hoạt động xã hội trong cộng đồng cũng như các cơ hội tham gia đảm nhận các
vị trí quản lý và lãnh đạo, có rất ít thời gian để tham gia vào các khoá đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao trình độ, kỹ năng và sự tự tin dẫn đến việc hạn chế tham gia vào các ngành, các lĩnh vực có thu nhập cao
1.3 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm
Nghiên cứu thực chứng bất bình đẳng giới trên thị trường lao động đã có một khoảng thời gian phát triển dài về phương pháp luận, ứng dụng đối với các nhóm lao động khác nhau và kiểm định các lý thuyết thị trường lao động Một trong những đặc điểm chính về phương pháp luận là sự áp dụng các phân tích hồi quy để nghiên cứu sự khác biệt giữa các nhóm đối tượng, trong đó hệ số gắn liền với các nhóm đối tượng này được coi là dấu hiệu của bất bình đẳng
Trang 21Nghiên cứu phân tích hồi quy được sử dụng rộng rãi tạo tiền đề cho một phương pháp luận khác được sử dụng để phân tích những phân biệt đối xử về mặt thu nhập giữa các nhóm lao động Phương pháp này được phát triển bởi Blinder-Oaxaca, và được gọi là phương pháp phân rã tiền lương.Phương pháp này giải thích khoảng cách tiền lương bằng cách phân rã chêch lệch tiền lương thành hai thành phần.Thành phần thứ nhất giải thích sự khác biệt về đặc điểm và thành phần thứ hai phản ánh những phân biệt đối xử Phương pháp này thường được sử dụng để phân tích khoảng cách tiền lương tại một thời điểm và đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới
1.3.1 hình hàm thu nhập incer
Phương trình tiền lương cơ bản được sử dụng là phương trình Mincerian mô tả mối quan hệ giữa tiền lương của người lao động và vốn nhân lực bao gồm trình độ giáo dục và kinh nghiệm Biến số bên trái vì vậy là logarithm tiền lương Vế bên phải ngoài các đặc điểm của vốn nhân lực là một số biến giả đo lường các đặc điểm của ngành nghề Dạng cơ bản có thể tóm tắt như sau:
lnwage = 0+ 1exper + 2exper2 + 3school + Ui (1.1) Trong đó:
- wage: tiền lương theo giờ, và lnwage là logarithm cơ số e của wage
- exper: số năm kinh nghiệm
- exper2: số năm kinh nghiệm bình phương
- school: số năm đi học
- Ui : là sai số ngẫu nhiên
và các giả định là:
1) Lương chịu ảnh hưởng của giáo dục và kinh nghiệm theo chiều hướng thuận, tức là người đi học nhiều hơn sẽ có lương cao hơn và người có kinh nghiệm
Trang 22làm việc nhiều hơn sẽ có lương cao hơn Hay hệ số của exper và school mang dấu dương, tức 1và 3> 0
2) Kinh nghiệm hiệu ứng tác động biên giảm dần, tức là ở những người đã
có nhiều kinh nghiệm thì mức độ tăng lương khi tăng thêm kinh nghiệm sẽ ít hơn so với những người có ít kinh nghiệm Hay hệ số của exper2
mang dấu âm, tức 2< 0 3) Ngoài ra còn có ý kiến cho rằng có sự khác biệt giữa mức lương của nam
so với mức lương của nữ, cụ thể là mức lương của nam sẽ cao hơn mức lương của nữ Đây là dạng thô sơ nhất của hàm thu nhập cá nhân Mô hình sau đó được phát triển và mở rộng ra cho phép ước lượng thêm nhiều biến độc lập bằng phương pháp kinh tế lượng Phương trình được viết lại như sau:
lnwage = 0+ 1exper + 2exper2 + 3school + biến khác + Ui (1.2)
1.3.2 Phương pháp phân tách a aca
Để đánh giá sự khác biệt tiền lương theo giới, người ta hay dùng phương pháp phân rã Blinder-Oaxaca, được Blinder-Oaxaca xây dựng và phát triển từ năm 1973 Phương pháp này giải thích khoảng cách tiền lương bằng cách phân rã chêch lệch tiền lương thành hai thành phần.Thành phần thứ nhất giải thích sự khác biệt về đặc điểm và thành phần thứ hai phản ánh những phân biệt đối xử.Phương pháp này thường được sử dụng để phân tích khoảng cách tiền lương tại một thời điểm và đã được ứng dụng rộng rãi ở nhiều quốc gia trên thế giới.Theo Oaxaca, phương thức tính khoảng cách thu nhập giữa nam và nữ được mô tả như sau:
Giả sử có hai nhóm lao động nam và nữ, mức lương trung bình của nhóm nam
là w M và của nhóm nữ là w F Khoảng cách thu nhập giữa hai nhóm sẽ là hiệu của
hai mức lương trung bình này:
w= w M - w F (1.3) Tuy nhiên, hiệu số này không thể được gọi là phân biệt đối xử vì có nhiều yếu
tố tạo nên khác biệt tiền lương giữa lao động nam và nữ Chẳng hạn nam giới có bằng
Trang 23cấp chuyên môn cao hơn phụ nữ, trong trường hợp này ta không thể khẳng định doanh nghiệp trả lương nam giới cao hơn phụ nữ do họ có bằng cấp cao hơn là phân biệt đối xử Một định nghĩa chính xác hơn về phân biệt đối xử về thu nhập trên thị trường lao động phải so sánh mức lương của những người có cùng kỹ năng
Như vậy, để điều chỉnh khác biệt tiền lương cơ bản cho bởi w bằng khác biệt
về kỹ năng giữa lao động nam và nữ sử dụng hàm hồi quy ước lượng thu nhập của nam, nữ theo những đặc điểm kinh tế xã hội Để đơn giản, giả sử chỉ có một yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập đó là yếu tố số năm đi học, khi đó hàm hồi quy thu nhập của mỗi nhóm sẽ là:
Hàm hồi quy thu nhập của nam: wM = αM + βMSM (1.4) Hàm hồi quy thu nhập của nữ: wF = αF + βFSF
SM, SF là số năm đi học của nam và nữ Giá trị αM và αF là mức thu nhập khởi điểm của mỗi nhóm, αM = αF nếu doanh nghiệp đánh giá kỹ năng lao động của nam
và nữ có 0 năm học vấn là bằng nhau Hệ số βM cho biết thu nhập của lao động nam tăng bao nhiêu nếu anh ta có thêm một năm học vấn, hệ số βF cho biết thu nhập của lao động nữ tăng bao nhiêu nếu có thêm một năm học vấn, nếu doanh nghiệp đánh giá học vấn của nam như học vấn của lao động nữ, hai hệ số này sẽ bằng nhau ( βM
= βF) Mô hình hồi quy khác biệt tiền lương cơ bản có thể viết lại:
w= w M - w F = M + M S M - F- F S F (1.5)
Thêm và bớt M S F vào vế phải phương trình (1.5) ta được:
w = ( M - F) + ( M - F)S F + M (S M -S F ) (1.6) Phương trình (1.6) cho thấy khác biệt tiền lương cơ bản gồm hai phần Phần thứ hai của vế phải phương trình sẽ bằng 0 nếu nam và nữ có cùng số năm đi học (S M =S F ) do vậy phần này sẽ chỉ phát sinh khi số năm đi học của nam và nữ không bằng nhau
Trang 24Phần thứ nhất vế phải phương trình (1.6) sẽ cho kết quả dương nếu doanh
nghiệp xem trọng học vấn của nam hơn nữ ( M > F), hoặc doanh nghiệp trả lương
cho nam cao hơn nữ không kể học vấn ( M > F) Điều này thể hiện sự phân biệt
đối xử trong thu nhập giữa lao động nam và nữ
Hạn chế của phương pháp phân tích Oaxaca đó là việc đo lường mức độ phân
biệt đối xử giới trong thu nhập tùy thuộc vào việc có kiểm soát được mọi yếu khác
biệt về kỹ năng giữa hai nhóm hay không Nếu có những yếu tố bị bỏ sót trong mô
hình hồi quy, chúng ta sẽ đo lường mức độ phân biệt đối xử không chính xác
1.4 Khung phân tích
Dựa trên nền tảng cơ sở lý thuyết và thực tế, tác giả đề nghị khung phân tích sau:
Sơ đồ 1.1: Khung phân tích đề tài
Mục tiêu nghiên cứu
Đo lường mức độ bất
bình đẳng giới về thu
nhập của người lao động
ở Việt Nam
Các yếu tố phi kinh tế Phân tích, đánh giá
Các yếu tố kinh tế Tính toán, đo lường, kiểm định tác động
Trang 251.5 Cách tính và quy đổi một số biến trong mô hình
1.5.1 Thu nhập bình quân theo giờ
Thu nhập trong năm (Y), số giờ làm việc (H) đƣợc xác định trực tiếp theo số liệu khảo sát Cụ thể: thu nhập bình quân theo giờ (hincome) = tổng thu nhập (Y)/
số giờ làm việc (H)
1.5.2 Biến số năm đi học
Số năm đi học (S) xác định từ KSMS 2010, căn cứ vào:
+ Hệ thống giáo dục Việt Nam qua các thời k
+ Năm sinh, miền địa lý và bằng cấp giáo dục đào tạo
+ Các giả thiết: (1) bắt đầu đi học từ năm 6 tuổi, (2) thời gian đi học là liên tục
và lên lớp mỗi năm, (3) không có sự thay đổi nơi cƣ trú Số năm đi học của một cá nhân đƣợc xác định bằng tổng số năm đi học ở cả 3 bậc học theo hệ thống giáo dục Việt Nam: giáo dục phổ thông, giáo dục đại học và giáo dục dạy nghề
Bảng 1.1 Số năm đại học quy đổi cho bậc giáo dục đại học
Bảng 1.2 Số năm đại học quy đổi cho bậc dạy nghề
Loại hình đào tạo Thời gian học khi có bằng
Trang 261.5.3 Biến năm kinh nghiệm
Hàm thu nhập Mincer giả định rằng, khả năng học tập của mọi người là như nhau và thời gian đi học là liên tục, chấm dứt khi bắt đầu làm việc Kể từ khi thôi học ở trường lớp cho đến tuổi nghỉ hưu, đó là số năm kinh nghiệm tiềm năng của họ cho việc làm
Như vậy, biến số kinh nghiệm tiềm năng (T) trong nghiên cứu này theo mô hình hàm thu nhập Mincer sẽ được tính bằng thời gian kể từ sau khi không còn đi học cho đến năm khảo sát, theo công thức sau: T = A - S – B
Ở đây, A là số tuổi của cá nhân được xác định theo năm sinh tính cho đến năm khảo sát 2010 ; và B là tuổi bắt đầu đi học (ở Việt Nam), được xem là 6 tuổi ( B = 6 ); S là số năm đi học
1.5.4 Quy đổi một số biến định tính
Biến tình trạng hôn nhân: Hôn nhân của một cá nhân được phân thành 2
nhóm (1) đang có vợ hoặc chồng; (2) đã ly dị; góa vợ/chồng hoặc đang sống độc thân và được mã hóa thành 1 biến giả Biến tình trạng hôn nhân nhận giá trị là 1 nếu
cá nhân đó đang có gia đình, ngược lại biến hôn nhân giá trị 0
Biến trình độ học vấn của cá nhân: Trình độ học vấn của một cá nhân được
phân thành 4 nhóm như sau: trình độ dưới phổ thông (tiểu học, trung học cơ sở, chưa tốt nghiệp trung học phổ thông), trình độ trung học phổ thông, trình độ cao đẳng hoặc đại học và trình độ thạc sĩ hoặc tiến sĩ Trình độ học vấn của cá nhân được mã hóa thành 3 biến giả.Trình độ trung học phổ thông được chọn làm biến tham chiếu Biến trình độ dưới phổ thông, biến trình độ cao đẳng hoặc đại học và biến trình độ thạc sĩ và tiến sĩ là 3 biến nhị phân, các biến đó sẽ nhận giá trị là 1 nếu
cá nhân đó có đặc tính của trình độ đó và nhận 0 nếu cá nhân đó không có đặc tính của trình độ đó
Trang 27Biến bằng dạy nghề: Biến bằng dạy nghề là biến nhị phân sẽ nhận giá trị là 1
nếu cá nhân đó có bằng đào tạo nghề nghiệp và nhận giá trị 0 nếu cá nhân đó không
có bằng đào tạo nghề nghiệp
Biến chuyên môn kỹ thuật: Trình độ chuyên môn của một cá nhân được
phân thành 3 nhóm: lao động có chuyên môn kỹ thuật trung và cao, lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp và lao động giản đơn Theo đó, biến trình độ chuyên môn được phân thành 2 biến giả Biến lao động giản đơn được chọn làm biến tham chiếu Biến lao động có chuyên môn kỹ thuật trung và cao và biến lao động có chuyên môn kỹ thuật thấp là 2 biến nhị phân, các biến đó sẽ nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó có đặc tính của trình độ chuyên môn đó và nhận 0 nếu cá nhân đó không có đặc tính của trình độ chuyên môn đó
Biến ngành kinh tế: Biến ngành kinh tế là biến nhị phân sẽ nhận giá trị là 1
nếu cá nhân đó làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và nhận giá trị 0 nếu cá nhân
đó không làm trong lĩnh vực phi nông nghiệp
Biến khu vực kinh tế: Loại hình tổ chức mà người lao động làm việc được
phân thành 3 nhóm: (1) làm việc trong khu vực kinh tế nhà nước, (2) làm việc trong khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và (3) làm việc trong khu vực kinh tế tập thể hoặc khu vực kinh tế tư nhân hoặc khu vực hộ gia đình Theo đó biến khu vực kinh
tế được mã hóa thành 2 biến giả.Biến khu vực kinh tế tập thể hoặc tư nhân hoặc hộ gia đình được chọn làm biến tham chiếu Biến khu vực kinh tế nhà nước và biến khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 2 biến nhị phân, các biến đó sẽ nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó có đặc tính làm việc trong khu vực kinh tế đó và nhận 0 nếu cá nhân đó không có đặc tính làm việc trong khu vực kinh tế đó
Biến thành thị/nông thôn: Biến thành thị là biến nhị phân nhận giá trị là 1
nếu cá nhân đó ở thành thị và nhận giá trị là 0 nếu cá nhân đó ở khu vực nông thôn
Biến vùng: Biến vùng là biến nhị phân sẽ nhận giá trị là 1 nếu cá nhân đó ở
khu vực thành phố Hồ Chí Minh hoặc Hà Nội và sẽ nhận giá trị là 0 nếu cá nhân đó
ở các tỉnh thành khác
Trang 281.6 Quy trình trích lọc dữ liệu
1.6.1 Giới thiệu bộ dữ liệu và phần mềm sử dụng
1.6.1.1 Giới thiệu về bộ dữ liệu
KSMS 2010 được triển khai trên phạm vi toàn quốc với quy mô mẫu 69.360
hộ ở 3.133 xã/ phường, đại diện cho cả nước, các vùng, khu vực, khu vực thành thị, nông thôn và tỉnh/ thành phố trực thuộc Trung ương Mục đích của cuộc khảo sát nhằm thu thập các thông tin làm căn cứ đánh giá mức sống, đánh giá tình trạng nghèo đói và phân hoá giàu nghèo để phục vụ công tác hoạch định các chính sách,
kế hoạch và các chương trình mục tiêu quốc gia của Đảng và Nhà nước nhằm không ngừng nâng cao mức sống dân cư trong cả nước, các vùng và các địa phương KSMS dân cư cung cấp số liệu để tính quyền số chỉ số giá tiêu dùng Ngoài ra, thu thập thông tin phục vụ nghiên cứu, phân tích một số chuyên đề về quản lý điều hành
và quản lý rủi ro và phục vụ tính toán tài khoản quốc gia
1.6.1.2 Phần mềm thống kê Stata
Stata là một gói phần mềm thống kê cho phép áp dụng một loại các quy trình tính toán thống kê và toán kinh tế.Với Stata, ta có thể dễ dàng quản lý dữ liệu và áp dụng các phương pháp thống kê và toán kinh tế thông thường như phân tích hồi quy
và phân tích biến phụ thuộc giới hạn dựa trên dữ liệu cắt ngang và cắt dọc
Trang 29Bảng 1.3 Thông tin nguồn dữ liệu được trích lọc Nguồn Tên
Có bằng dạy nghề Thành thị
Nông nghiệp Khu vực kinh tế nhà nước Khu vực kinh tế có vốn ĐTNN
Ld chuyên môn kỹ thuật bậc trung, cao Lao động chuyên môn kỹ thuật thấp Giới tính
Vùng địa lý Thành phố lớn Thu nhập bq giờ
Nguồn: Bộ dữ liệu VHLSS2010
Trang 301.6.3 Tinh lọc dữ liệu
1.6.3.1 Thiếu hoặc lỗi dữ liệu
Sai sót hoặc thiếu dữ liệu trong các quan sát hộ gia đình là vấn đề thường gặp trong các nghiên cứu thực nghiệm Các vấn đề thường gặp trong nghiên cứu này là
dữ liệu trống hoặc lỗi.Có nhiều phương pháp để giải quyết vấn đề này như phương pháp thay thế giá trị trung bình, phương pháp nội suy, và phương pháp ngoại suy
Để khắc phục các vấn đề trên, trong nghiên cứu này các quan sát bị thiếu hoặc lỗi được bỏ qua
1.6.3.2 Qui trình tích lọc số
Bước 1: Mô tả biến Từ các biến trong mô hình, đọc các bảng hỏi trong
VHLSS2010 từ đó mô tả các biến (tên tập dữ liệu (dataset) sử dụng, tên biến trong
bộ dữ liệu, xây dựng biến trong mô hình)
Bước 2: Nối (merge) các dataset có chứa các biến trong bộ dữ liệu thành một
tập dữ liệuchung Điều này được thực hiện bằng lệnh merge Nguyên tắc merge là tạo một biến chung đặc trưng cho từng cá nhân (không có sự trùng lắp ở các giá trị của biến) ở tất cả các dataset
Bước 3: Tính toán các giá trị biến nếu có, chẳng hạn số năm kinh nghiệm
(yearexp), số năm đi học (yearsch), số năm kinh nghiệm bình phương (yearexp2), lhincome
Bước 4: Giữ lại các biến trong mô hình bằng lệnh keep
1.6.4 Cách thức ước lượng
Hàm thu nhập Mincer được hồi quy bằng phương pháp hồi quy bình phương tối thiểu thông thường (OLS) với biến phụ thuộc là logarithmh tự nhiên của hàm thu nhập bằng câu lệnh regress trong phần mềm Stata Hiện tượng phương sai thay đổi được khắc phục bằng kỹ thuật Robust Đồng thời, hiện tượng tự tương quan giữa
Trang 31các biến được kiểm định bằng ma trận hiệp phương sai giữa các biến độc lập.(xem
chi tiết ở phụ lục1 ma trận hiệp phương sai giữa các biến độc lập)
- Sử dụng phân tích thống kê mô tả, bảng số liệu chéo và kiểm định
sự khác biệt giữa các trị
số trung bình (t-test)
- Thiết lập các công thức tính toán, các chỉ
số sử dụng trong đề tài
Bước 3
Phân tích kết quả mô hình
- Hồi quy hàm thu nhập Mincer cho cả nam và nữ, của lao động nam, lao động nữ
- Phân tích các hệ số hồi quy và kiểm định mức độ phù hợp và ý nghĩa của
mô hình
- Sử dụng kết quả hồi quy hàm Mincer tiến hành phân tích mức độ chênh lệch trong thu nhập bằng phương pháp Oaxaca
Trang 32Bảng 1.4 Tổng hợp kết quả một số nghiên cứu chính Tác giả Phương pháp nghiên
cứu
Kết quả
Amy Y.C.Liu, 2004 Trong nghiên cứu về
khoảng cách thu nhập theo giới ở Việt Nam giai đoạn 1993 -1998, Liu đã
sử dụng mô hình của Juhn (1991) phát triển từ mô hình của Oaxaca và sử dụng số liệu VLSS năm
1992 - 1993 và 1997 -
1998 để xem xét sự ảnh hưởng của các yếu tố như:
kinh nghiệm, nhóm ngành nghề, di cư, tình trạng hôn nhân, yếu tố khu vực
đến biến độc lập là log
của t lệ thu nhập
Nghiên cứu này phát hiện rằng, khoảng cách tiền lương mặc dù thu hẹp dần nhưng phân biệt đối xử vẫn là nguyên nhân chính làm gia tăng khoảng cách tiền lương giữa nam và
nữ
Yolanda Pena-Boquete và
cộng sự (2007)
Sử dụng phương pháp Oaxaca để tính toán và đưa
ra kết quả về bất bình đẳng giới trong thu nhập của Ý và Tây Ban Nha năm 2007
Nghiên cứu cho thấy,thu nhập của lao động nữ ở Ý bằng 93,9% thu nhập của nam, phần trăm khoảng cách lương do khác biệt các đặc tính năng suất của người lao động là -57,90%
và do sự phân biệt đối xử
là 157,9%
Trang 33Ngan Dinh, 2002 Nghiên cứu về lao động
nhập cư trong các doanh nghiệp ở khu vực đô thị Trung Quốc, tác giả sử dụng phương pháp phân tách Oaxaca để tính toán mức độ phân biệt đối xử
Nghiên cứu chỉ ra, thu nhập của lao động nữ Trung Quốc
ở khu vực thành thị bằng 94,2% thu nhập của nam giới, phần trăm khoảng cách thu nhập do khác biệt về đặc tính năng suất là -25,55% và
do khác biệt đối xử là 125,55%
Ths Nguyễn Thị Nguyệt
và cộng sự, 2004
Nghiên cứu sử dụng phương pháp tiếp cận của Juhn, Murphy và Pierce,
1991 kết hợp chuỗi số liệu VHLSS 2002 -2004 để tìm ra xu hướng của bất bình đẳng trong thu nhập;
Các yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bất bình đẳng trong thu nhập; đồng thời phân tách các chỉ tiêu theo trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, vùng, ngành kinh tế để đưa ra được gợi
ý giải pháp phù hợp
Nghiên cứu chỉ ra các yếu
tố góp phần làm giảm khoảng cách chênh lệch trong thu nhập giữa lao động nam và lao động nữ như: nhóm tuổi, chi tiêu, chuyên môn, kinh nghiệm
và vùng Trong đó yếu tố đóng góp đáng kể nhất vào giảm khoảng cách lương giữa hai năm là trình độ chuyên môn giữa nam và nữ
Nguyễn Huy Toàn, 2010 Nghiên cứu sử dụng
phương pháp phân tích sự chênh lệch trong thu nhập giữa lao động nam và lao
Nghiên cứu cho thấy yếu
tố tuổi và kinh nghiệm có ảnh hưởng tích cực đến mức lương của cả hai giới
Trang 34động nữ của Oaxaca bằng cách sử dụng kết quả hồi quy hàm thu nhập Mincer Nghiên cứu sử dụng bộ dữ liệu VHLSS
Dữ liệu sử dụng cho nghiên cứu là bộ số liệu điều tra mức sống dân cư qua các năm 2006, 2008,
2010 Qua đó dự đoán xu hướng và đánh giá tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập
Nghiên cứu cho thấy nếu chỉ xét trên khía cạnh khác biệt về nguồn lực, nữ giới có ưu thế hơn nam giới về tiền công Khi nam giới và nữ giới có những đặc điểm tương đồng về nguồn lực, khi không có định kiến xã hội, nữ giới
có cơ hội được trả lương cao hơn nam giới Tuy nhiên, do vẫn còn tồn tại định kiến xã hội nên khi xét đến tác động của tất cả các yếu tố đến khoảng cách tiền lương, người phụ nữ vẫn bị chịu thiệt thòi trên thị trường lao
động
Trang 35TÓM LƯ C Ý CHÍNH CHƯƠNG 1
Hồi quy hàm thu nhập Mincer và phương pháp phân tách tiền lương Oaxaca làm nền tảng lý thuyết cho khung phân tích của đề tài Các nghiên cứu trước đều sử dụng hai công cụ này, hoặc có thể mở rộng ra từ mô hình gốc tuy nhiên kết quả đều cho thấy mô hình lý thuyết phù hợp và đây là công cụ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay về phân tích chênh lệch trong thu nhập của lao động nam và lao động nữ Tuy sử dụng cùng công cụ, nhưng các nghiên cứu có những cách tiếp cận, phân tích yếu tố ảnh hưởng đến bất bình đẳng giới trong thu nhập khác nhau Trong nghiên cứu này, ngoài việc kế thừa các nghiên cứu trước, sử dụng hồi quy hàm thu nhập Mincer và phương pháp phân tích Oaxaca, tác giả cũng có cách tiếp cận về các yếu tố tác động đến bất bình đẳng giới kết hợp phân tích khoảng cách này ở từng nhóm tuổi lao động cụ thể Đây là điểm mà tác giả cho là mới so với các nghiên cứu trước đây
Trang 36CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG VÀ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU NHẬP
CỦA NGƯỜI LAO ĐỘNG Ở VIỆT NAM
Chương 2 đưa ra những đánh giá tổng quan về thực trạng bất bình đẳng giới trong thu nhập ở Việt Nam thông qua phân tích thống kê mô tả về các số liệu về dân số, lao động, thu nhập, giáo dục và việc làm trong bộ số liệu VHLSS 2010
2.1 Tổng quan về bất bình đẳng giới trong thu nhập tại Việt Nam
Là một trong những nước dẫn đầu thế giới về t lệ phụ nữ tham gia vào các hoạt động kinh tế, Việt nam được xem như một trong những nước tiến bộ hàng đầu
về lĩnh vực bình đẳng giới và là quốc gia đạt được sự thay đổi nhanh chóng nhất về xóa bỏ khoảng cách giới trong 20 năm qua ở khu vực Đông Á1 Việt nam có những chính sách tương đối phù hợp nhằm bảo đảm quyền bình đẳng cho phụ nữ và nam giới và đó có những tiến bộ đáng kể nhằm giảm khoảng cách về giới cũng như cải thiện tình hình của phụ nữ nói chung
Báo cáo phát triển con người, 2011 do UNDP công bố mới đây cho thấy, Việt Nam xếp thứ 128 trên 187 quốc gia và vùng lãnh thổ, mức trung bình trên thế giới, về chỉ số phát triển con người (HDI-Human Development Index) nhưng lại xếp thứ 48 trên thế giới về chỉ số bất bình đẳng giới (thứ hạng càng gần 0 càng thể hiện sự bình đẳng cao) Theo đó, chúng ta đã có những bước tiến vượt bậc trong việc thực hiện bình đẳng giới.Báo cáo của UNDP cũng chỉ ra, xu hướng chỉ số bất bình đẳng giới (GII-Gender Inequality Index) GII của Việt Nam là liên tục giảm từ 1995-2011 Điều
đó cho thấy mức độ bình đẳng giới của Việt Nam tăng lên rõ rệt trong thời gian
So với các nước trong khu vực ASEAN, Việt Nam xếp thứ 7/11 nếu xét về chỉ
số HDI2, nhưng nếu xét về chỉ số GII, Việt Nam lại đứng thứ 3, sau Singapore và Malaysia Như vậy, có thể nói, mặc dù chỉ số phát triển con người của Việt Nam còn hạn chế so với các nước trong khu vực nhưng mức độ bình đẳng giới của Việt Nam luôn thuộc những nước hàng đầu khu vực
1 Báo cáo Đánh giá tình hình Giới ở Việt Nam, tháng 12/2006 của Ngân hàng Thế giới (WB)
2 Báo cáo phát triển con người (HDR) 2011, UNDP
Trang 37Bảng 2.1 So sánh thứ hạng HDI và GII của Việt Nam và các nước ASEAN, 2011 Quốc gia Xếp hạng Quốc gia Xếp hạng
Nguồn: UNDP, Báo cáo phát triển con người, 2011
Đối tượng khảo sát trong bộ số liệu sử dụng trong nghiên cứu phân theo giới tính có 5.493 lao động nam chiếm 54,55% và 4.577 lao động nữ giới chiếm 45,45% Phân theo khu vực thành thị nông thôn thì có 24% lao động ở thành thị và 76% lao động ở nông thôn Phân theo trình độ bằng cấp chuyên môn kỹ thuật, đa phần là lao động giản đơn, chiếm t lệ gần 56%, đồng thời lao động kỹ thuật bậc trung, cao chiếm t trọng ít, khoảng 8,4%
Bảng 2.2 Lao động phân theo chuyên môn kỹ thuật Phân theo chuyên môn kỹ thuật Số lượng Tỷ lệ %
Trang 38Đối tượng lao động trong cuộc khảo sát có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ chiếm t trọng không đáng kể (0,18%) Trong khi đó, lao động có trình độ dưới THPT chiếm
Nguồn: Tính toán của tác giả từ bộ số liệu KSMS năm 2010
Trình độ chuyên môn của lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc có sự chênh lệch rõ rệt giữa nam và nữ Nhìn chung, nam có trình độ chuyên môn cao hơn
nữ, trừ trình độ trung học chuyên nghiệp, nơi nữ chiếm t lệ cao hơn nam Tính chung cho cả nam và nữ thì lao động có trình độ dưới THPT chiếm đa số trong khảo sát theo trình độ học vấn cụ thể nam 39%, lao động nữ 34% Điều này cho thấy, lao động Việt Nam vẫn phổ biến là lao động phổ thông
Thu nhập bình quân theo giờ của lao động nam và lao động nữ theo khảo sát năm 2010 không có sự chênh lệch đáng kể với mức ý nghĩa 1% (xem phụ lục 5 các
Trang 39kiểm định t-test) , kể cả ở các nhóm tuổi khác nhau Cụ thể, thu nhập trung bình/giờ của lao động nữ vào khoảng 12.134 đồng trong khi đó mức này đối với lao động nam là 11.992 đồng
Bảng 2.4 Thu nhập bình quân theo giờ của nam và nữ theo nhóm tuổi
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu KSMS năm 2010
Theo KSMS 2010, khoảng cách tiền lương giữa lao động nam và lao động nữ
đã rút ngắn tương đối so với các năm trước đó, đặc biệt là các nhóm tuổi từ 26-35,
45 trở lên Tuy nhiên ở từng độ tuổi khác nhau, thì mức chênh lệch cũng khác Ở độ tuổi 26-35 và độ tuổi từ 46 trở lên mức chênh lệch về thu nhập bình quân theo giờ của nam và nữ không cao Tuy nhiên, giai đoạn 15-25, lao động nữ có khuynh hướng gia tăng thu nhập nhiều hơn nam giới, cụ thể t lệ thu nhập bình quân theo giờ của nam chỉ bằng 93% so với nữ Ngược lại, độ tuổi từ 36-45, phân tích cho thấy có sự chênh lệch đáng kể Thu nhập bình quân theo giờ của lao động nữ giai
đoạn này chỉ bằng 97% so với nam giới
Khoảng cách thu nhập khác nhau theo từng độ tuổi là do nhiều nguyên nhân, trong đó quan trọng nhất là do sự khác biệt về cơ cấu ngành nghề theo từng độ tuổi Theo báo cáo điều tra lao động và việc làm năm 2010 do tổng cục Thống kê công
bố cho thấy có sự phân hóa rõ rệt việc lựa chọn việc làm theo nhóm tuổi Theo đó, các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp, kỹ thuật và dịch vụ đang sử dụng chủ yếu lao động trẻ, dưới 40 tuổi như: Hoạt động của các tổ chức và cơ quan quốc tế (75,1%), thông tin và truyền thông (74,6%), công nghiệp chế biến và chế tạo (73,5%), hoạt động tài chính ngân hàng và bảo hiểm (72%)…Ngành sử dụng nhiều
Trang 40lao động lớn tuổi từ 40 tuổi trở lên gồm: Hoạt động kinh doanh bất động sản
(60,4%), nghệ thuật vui chơi và giải trí (52,9%), hoạt động làm thuê các công việc
trong các hộ gia đình (52,8%)
Xét thu nhập bình quân giữa nam và nữ theo trình độ học vấn và nhóm tuổi,
phân tích cho thấy lao động nữ đa số có thu nhập thấp hơn lao động nam ở một số
trình độ đào tạo So với giai đoạn trước, thu nhập của lao động nữ năm 2010 đã có
những cải thiện đáng kể giúp rút ngắn khoảng cách thu nhập với nam giới, tuy
nhiên bất bình đẳng giới trong thu nhập vẫn còn hiện diện Ở nhóm tuổi 36 - 45 thì
lao động nam có mức thu nhập bình quân theo giờ cao hơn một lao động nữ ở hầu
hết các phân tổ theo bằng cấp Cụ thể thu nhập bình quân theo giờ ở một lao động
nam có trình độ thạc sĩ là trên 39,66 nghìn đồng, trong khi đó con số này ở nữ là
25,63 nghìn đồng, t lệ thu nhập nữ có bằng thạc sỹ so với nam ở độ tuổi 36 – 45
chỉ bằng 65% Ngược lại, t số này ở độ tuổi 26-35 thu nhập của nam chỉ bằng
97% so với nữ
Đơn vị tính: Nghìn đồng/ giờ
Hình 2.1 Thu nhập bình quân theo bằng cấp của nam và nữ
Nguồn: Tính toán của tác giả từ số liệu KSMS năm 2010