Những con số này gợi lên cho tác giả suy nghĩ vì sao có sự khác biệt trong việc thu hút FDI giữa các địa phương và tác giả đã lựa chọn một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc là
Trang 1-
PHẠM THỊ QUỲNH LỢI
NGHIÊN CỨU SO SÁNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN THU HÚT ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI: TÌNH HUỐNG BÌNH DƯƠNG VÀ VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2010
Trang 2Chuyên ngành: Chính sách công
Mã số: 603114
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI
TP Hồ Chí Minh - Năm 2010
Trang 3Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và
số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
TP Hồ Chí Minh, ngày 03 tháng 06 năm 2010
Tác giả
Phạm Thị Quỳnh Lợi
Trang 4Cuối cùng, xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình và người thân đã động viên
và hỗ trợ tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn này
Trang 5Mục lục
Trang phụ bìa i
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt v
Danh mục các bảng vi
Danh mục các hình vẽ vii
Chương 1 Giới thiệu 1
1.1 Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu 4
1.4 Cấu trúc luận văn 4
Chương 2 Cơ sở lý thuyết về FDI 6
2.1 Một số khái niệm về FDI 6
2.2 Tác động của FDI 6
2.2.1 Tác động đối với nước đầu tư 6
2.2.2 Tác động đối với nước nhận đầu tư 7
2.3 Các yếu tố tác động và chính sách thu hút FDI 9
2.3.1 Các yếu tố tác động đến thu hút FDI 9
2.3.2 Chính sách thu hút FDI 12
2.4 Các yếu tố tác động và chính sách thu hút FDI ở Việt Nam 13
2.4.1 Các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến FDI ở Việt Nam 13
2.4.2 Các yếu tố tác động đến FDI của Việt Nam 14
2.4.3 Chính sách thu hút FDI 16
Chương 3 Thực trạng FDI ở Việt Nam 20
3.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động FDI ở Việt Nam 20
3.2 Phân cấp quản lý FDI 20
3.3 Tình hình thu hút FDI giai đoạn 2005-2009 22
Trang 63.3.1 Thành tựu đạt được 23
3.3.2 Hạn chế 25
Chương 4 Thu hút FDI tình huống Bình Dương và Vĩnh Phúc 28
4.1 Phương pháp nghiên cứu 28
4.1.1 Phương pháp so sánh 28
4.1.2 Phương pháp định tính 29
4.2 Kết quả nghiên cứu 29
4.2.1 Môi trường đầu tư 29
4.2.2 Các yếu tố tác động đến thu hút FDI 34
4.2.3 Các chính sách thu hút FDI 39
4.2.4 Kết quả thu hút FDI 44
Chương 5 Kết luận khuyến nghị chính sách 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Khuyến nghị chính sách 49
5.2.1 Cải thiện CSHT cứng 49
5.2.2 Tăng cường tính minh bạch 49
5.2.3 Nâng cao thiết chế pháp lý 50
5.2.4 Đào tạo lao động 50
5.2.5 Phát huy tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh 51
5.2.6 Chi phí gia nhập thị trường 51
5.3 Hạn chế của đề tài 52
Tài liệu tham khảo 53
Phụ lục 55
Trang 8Danh mục các bảng
Bảng 1.1 Thu hút FDI giai đoạn 2005-2009 2
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu của Bình Dương và Vĩnh Phúc 2005-2009 30
Bảng 4.2 Quy mô các KCN tập trung tỉnh Bình Dương 32
Bảng 4.3 Các KCN của Vĩnh Phúc được Chính phủ phê duyệt 33
Bảng 4.4 Số lượng học sinh tốt nghiệp phổ thông trung học hàng năm 34
Bảng 4.5 Các chỉ số thành phần trong PCI 35
Bảng 4.6 Một số chỉ tiêu trong chỉ số CSHT 39
Bảng 4.7 Kết quả thu hút FDI của Bình Dương và Vĩnh Phúc 45
Trang 9Danh mục các hình vẽ
Hình 2.1 FDI của quốc gia 18
Hình 2.2 Thu hút FDI của địa phương 19
Hình 3.1 Số lượng dự án và vốn FDI vào Việt Nam 2005-2009 23
Hình 3.2 GDP phân theo khu vực kinh tế 2005-2009 23
Hình 3.3 Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế 2005-2009 24
Hình 3.4 XK phân theo khu vực kinh tế 2005-2009 24
Hình 3.5 Các chỉ số thành phần của PCI và chỉ số PCI 37
Trang 10Chương 1 Giới thiệu
1.1 Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Kể từ khi Luật ĐTNN ra đời năm 1987, khu vực kinh tế FDI không ngừng được
mở rộng, phát triển và đã đạt được những thành tựu đáng kể đóng góp ngày càng lớn vào tăng trưởng và phát triển kinh tế, thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang CN, cơ cấu lao động theo hướng CN hóa và hiện đại hóa FDI còn góp phần tăng cường năng lực sản xuất và đổi mới công nghệ của nhiều ngành kinh
tế giúp khai thông thị trường sản phẩm, mở rộng thị trường XK, tăng nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước; tạo thế và lực cho Việt Nam chủ động hội nhập với kinh tế khu vực và thế giới Bên cạnh đó, FDI còn có vai trò trong việc chuyển giao công nghệ và thúc đẩy các DN trong nước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất, nâng cao năng lực quản lý và trình độ của người lao động, tạo hiệu ứng lan tỏa tích cực cho nền kinh tế Trong 5 năm 2005-2009, số lượng các dự
án đầu tư vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng cùng với đó là số vốn FDI đăng ký1cũng liên tục đạt mức cao kỷ lục kể từ khi có Luật ĐTNN năm 1987 Theo số liệu
từ Cục ĐTNN-Bộ KHĐT, trong năm 2005 Việt Nam thu hút được 6,8 tỷ USD, năm
2006 thu hút được 12,5 tỷ USD vốn đăng ký, tăng 83,8% so với năm 2005; nguồn vốn này tiếp tục lập kỷ lục mới với 21,3 tỷ USD trong năm 2007, tăng 71% so với năm 2006; năm 2008 vốn đăng ký đạt trên 71,7 tỷ USD, tăng 3 lần so với năm 2007
và năm 2009 thu hút được 21,5 tỷ USD giảm hơn so với năm 2008 do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
Với tốc độ tăng nhanh chóng của dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam kể từ năm
2005 thì mức độ đóng góp vào GDP của khu vực FDI trong giai đoạn này ngày càng tăng, tốc độ tăng từ 16% năm 2005 lên đến 18,3% năm 2009; XK của khu vực FDI giai đoạn này chiếm khoảng gần 40% tổng kim ngạch XK của cả nước trong
1
Vốn đăng ký bao gồm vốn đăng ký mới và vốn đăng ký tăng thêm của các dự án đã có
Trang 11mỗi năm2 Với những đóng góp như đã kể trên đã minh chứng cho vai trò quan trọng của khu vực FDI đối với tăng trưởng và phát triển của nền kinh tế nói chung
Từ những ưu điểm và thành tựu đáng kể của khu vực FDI nên các địa phương trong cả nước quyết tâm đẩy mạnh thu hút FDI Ông Nguyễn Hoàng Sơn, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương cho biết năm 2006 tỉnh đã có chính sách chọn lọc các dự
án đầu tư và đặc biệt luôn “Trải thảm đỏ” mời gọi những dự án đầu tư vào ngành công nghệ cao3 Chính sách này đã được lãnh đạo các địa phương khác học tập trong việc tạo ra cơ chế, chính sách ưu đãi thậm chí có địa phương đã “xé rào” nhằm thu hút các DN FDI đến đầu tư Tuy nhiên, kết quả thu hút FDI của các địa phương còn rất khác biệt, những địa phương có hệ thống CSHT thuận lợi, phát triển
và lao động có tay nghề thu hút được nhiều vốn FDI hơn và ngược lại các địa phương có CSHT yếu kém thuộc vùng sâu, vùng xa thu hút được ít vốn FDI hơn
Bảng 1.1 Thu hút FDI giai đoạn 2005-2009
Số
dự
án
Tổng vốn đầu tư
Số
dự
án
Tổng vốn đầu tư
Số
dự
án
Tổng vốn đầu tư
Tổng số 968 6.834,6 1061 12.511,9 1544 21.347,9 1557 71.725,9 839 21.482,2
Đồng bằng
sông Hồng 220 2.452,3 340 3.450,1 492 6.685,7 421 8.051,3 273 1.093,1 Trung du và
miền núi phía
Trang 12Theo báo cáo của Cục ĐTNN-Bộ KHĐT (2009) thì số lượng các dự án FDI vào Việt Nam tăng lên nhanh chóng, tính đến ngày 15/12 năm 2009 có khoảng 10.960
dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký khoảng 177 tỷ USD Tuy nhiên, số lượng dự án
và nguồn vốn đầu tư chủ yếu tập chung vào khu vực vùng kinh tế trọng điểm phía Nam (bao gồm 7 tỉnh thành phố: Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Đồng Nai,
Bà rịa-Vũng tàu, Tây Ninh, Bình Phước, Long An), trong năm 2009 nguồn vốn đầu
tư đăng ký của khu vực này chiếm đến 47,8% so với toàn quốc Trong khi đó, cũng với cơ chế ưu đãi khá hấp dẫn thậm chí có những tỉnh “xé rào” trong ưu đãi thu hút đầu tư như: Nam Định, Ninh Bình, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh,… trong Quyết định số
1387 ngày 29/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ đã nêu nhưng kết quả thu hút FDI của các địa phương thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc chỉ chiếm khoảng 18% tổng vốn đăng ký, trong đó Thành phố Hà Nội chiếm 11% Những con số này gợi lên cho tác giả suy nghĩ vì sao có sự khác biệt trong việc thu hút FDI giữa các địa phương và tác giả đã lựa chọn một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía bắc là Vĩnh Phúc và một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía nam là Bình Dương để nghiên cứu so sánh các yếu tố tác động ảnh hưởng đến việc thu hút FDI
Ngoài ra, từ khi các quy định về phân cấp quản lý FDI ra đời một số địa phương còn ban hành các chính sách ưu đãi vượt quá thẩm quyền cho phép nhằm thu hút được nhiều FDI Tình trạng này dẫn đến sự cạnh tranh, chạy đua giữa các địa phương trong việc thu hút vốn FDI, gây ra hiện tượng “xé rào” trong ưu đãi thu hút đầu tư và đây cũng chính là lý do tác giả chọn Bình Dương và Vĩnh Phúc để so sánh Theo quyết định số 1387 ngày 29/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ thì Vĩnh Phúc được liệt vào danh sách là một trong những địa phương “xé rào” còn Bình Dương thì không được nhắc đến Vậy chúng ta phải làm gì để cải thiện môi trường đầu tư với những nguồn lực mà chúng ta có sẵn để có thể thu hút nhiều vốn FDI hơn mà không vi phạm các quy định
Chính từ các lý do nêu trên tác giả lựa chọn đề tài: “Nghiên cứu so sánh các yếu
tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài: tình huống Bình Dương và Vĩnh Phúc” nhằm so sánh tìm hiểu các chính sách và các yếu tố ảnh hưởng đến việc
Trang 13thu hút vốn FDI của hai địa phương này và từ đó đưa ra khuyến nghị chính sách cho các địa phương
1.2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Nghiên cứu so sánh các chính sách cũng như môi trường đầu tư và các yếu tố tác động đến việc thu hút FDI của hai tỉnh Bình Dương và Vĩnh Phúc nhằm trả lời câu hỏi yếu tố nào có ảnh hưởng đến việc thu hút vốn FDI? và tại sao có sự khác biệt trong thu hút FDI giữa hai địa phương này?
Đề tài tập trung đi sâu vào việc đánh giá thực trạng về tình hình thu hút FDI của Việt Nam nói chung và của Bình Dương, Vĩnh Phúc nói riêng Phân tích tác động
và chính sách thu hút đầu tư của Bình Dương và Vĩnh Phúc từ đó, đưa ra một số gợi
ý chính sách giúp cho cấp chính quyền địa phương có kế hoạch và chính sách phù hợp trong việc thu hút nguồn vốn FDI
1.3 Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các yếu tố tác động và chính sách thu hút FDI tình huống Bình Dương và Vĩnh Phúc giai đoạn 2005-2009
Đề tài tập trung nghiên cứu các vấn đề:
- Cơ sở lý thuyết về FDI;
- Chính sách thu hút FDI;
- Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình thu hút FDI bao gồm các yếu tố về CSHT mềm như chi phí gia nhập thị trường, tính minh bạch và khả năng tiếp cận thông tin; thiết chế pháp lý và tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh,… chỉ số PCI và các yếu tố về CSHT cứng
Trên cơ sở tận dụng kết quả của các nghiên cứu trước về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của Việt Nam Đề tài sử dụng phương pháp so sánh và phương pháp phân tích định tính để phân tích, đánh giá và so sánh các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI và kết quả thu hút FDI của hai tỉnh Bình Dương và Vĩnh Phúc để giải quyết các vấn đề nghiên cứu của đề tài
1.4 Cấu trúc luận văn
Luận văn gồm 5 chương với nội dung chủ yếu sau:
Trang 14Chương 1 Giới thiệu tính cấp thiết của đề tài, đối tượng, phạm vi, mục tiêu
và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 Cơ sở lý thuyết về FDI, tác động của FDI, các yếu tố ảnh hưởng
đến việc thu hút FDI và các nghiên cứu trước về thu hút FDI của Việt Nam
Chương 3 Thực trạng FDI của Việt Nam bao gồm cơ sở pháp lý và quá trình
phân cấp quản lý hoạt động FDI, chính sách thu hút FDI và kết quả thu hút FDI của Việt Nam
Chương 4 Thu hút FDI tình huống Bình Dương và Vĩnh Phúc: nghiên cứu so
sánh chính sách thu hút đầu tư, môi trường đầu tư, các yếu tố ảnh hưởng và kết quả thu hút FDI của Bình Dương và Vĩnh Phúc Chương 5 Kết luận và khuyến nghị chính sách
Trang 15Chương 2 Cơ sở lý thuyết về FDI
2.1 Một số khái niệm về FDI
Theo quỹ tiền tệ quốc tế thì FDI được định nghĩa là “một khoản đầu tư với những quan hệ lâu dài, theo đó một tổ chức trong một nền kinh thế (nhà đầu tư trực tiếp) thu được lợi ích lâu dài từ một DN đặt tại một nền kinh tế khác”
Theo các nhà kinh tế quốc tế thì FDI là người sở hữu tại nước này mua hoặc kiểm soát một thực thể kinh tế của nước khác Đó là một khoản tiền mà nhà đầu tư trả cho một thực thể kinh tế của nước ngoài để có ảnh hưởng quyết định đối với thực thể kinh tế ấy hoặc tăng thêm quyền kiểm soát trong thực thể kinh tế ấy
Luật ĐTNN tại Việt Nam năm 1987 đưa ra khái niệm: “FDI là việc tổ chức, cá nhân nước ngoài đưa vào Việt Nam vốn bằng tiền nước ngoài hoặc bất kỳ tài sản nào được Chính phủ Việt Nam chấp thuận để hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hoặc thành lập xí nghiệp liên doanh hoặc DN 100% vốn nước ngoài theo quy định của luật này”
Từ những khái niệm trên có thể hiểu một cách khái quát về FDI như sau: “FDI tại một quốc gia là việc nhà đầu tư ở một quốc gia đưa vốn bằng tiền hoặc bất kỳ tài sản nào vào một quốc gia khác để có được quyền sở hữu và quản lý hoặc quyền kiểm soát một thực thể kinh tế tại quốc gia đó, với mục tiêu tối đa hoá lợi ích của mình”
2.2 Tác động của FDI
2.2.1 Tác động đối với nước đầu tư
Chuyển giao nguồn lực đầu tư hướng ngoại và tăng thu ngoại tệ từ phần lợi nhuận được chuyển về từ hoạt động đầu tư ở nước ngoài;
Chủ đầu tư có điều kiện đổi mới cơ cấu sản xuất, áp dụng công nghệ mới và nâng cao năng lực cạnh tranh;
Tăng cường sức mạnh kinh tế, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ của chủ đầu tư;
Trang 16Trong dài hạn, FDI ra nước ngoài sẽ đem lại ảnh hưởng tích cực cho cán cân thanh toán quốc tế của nước đầu tư thông qua việc XK máy móc, thiết bị, nguyên nhiên, vật liệu,
2.2.2 Tác động đối với nước nhận đầu tư
Tác động đến tăng trưởng kinh tế và là nguồn vốn bổ sung quan trọng trong tổng vốn đầu tư đáp ứng nhu cầu đầu tư phát triển xã hội;
FDI là nguồn quan trọng để phát triển khả năng công nghệ của nước chủ nhà đó chính là sự chuyển giao công nghệ sẵn có từ bên ngoài vào và sự phát triển công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà Đây là mục tiêu quan trọng mà nước chủ nhà mong đợi từ nhà đầu tư;
FDI tạo ra hiệu ứng lây lan giúp các công ty địa phương cải thiện năng suất và tận dụng được các cơ hội khi tiếp cận với MNCs
FDI tác động tích cực trong việc phát triển nguồn nhân lực và nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho người lao động của nước chủ nhà
Các nghiên cứu thực nghiệm cho thấy FDI có ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế của nước nhận đầu tư Tác giả Balasubramanyam, Salisu và Sapsford (1996) đã sử dụng bộ số liệu từ 46 quốc gia đang phát triển để khảo sát ảnh hưởng của FDI đối với tăng trưởng Nghiên cứu phát hiện rằng ảnh hưởng thúc đẩy tăng trưởng của FDI mạnh hơn tại những nước theo đuổi một chính sách thúc đẩy XK hơn là thay thế nhập khẩu và những nước có cơ chế ngoại thương thúc đẩy XK thì FDI có ảnh hưởng mạnh đối với tăng trưởng hơn so với đầu tư trong nước Kết quả này cũng trùng với kết quả nghiên cứu của Borensztein, de Gregorio và Lee (1998) cho rằng đóng góp của FDI cho tăng trưởng nhiều hơn so với đóng góp của đầu tư trong nước Tuy nhiên, các nghiên cứu này cũng cho rằng FDI chỉ hữu hiệu hơn đầu
tư trong nước khi mà nước nhận đầu tư có một nguồn vốn nhân lực nhất định và có
đủ năng lực hấp thu
Nghiên cứu của Laura Alfaro (2003) về FDI và tăng trưởng cho rằng FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế, dòng vốn FDI vào các khu vực kinh tế khác nhau (sơ cấp, CN chế biến hay dịch vụ) có tác động khác nhau đối với tăng trưởng kinh tế
Trang 17FDI vào khu vực kinh tế sơ cấp (nông, lâm ngiệp và thủy sản, khai khoáng) có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, vào CN chế biến có tác động tích cực đến tăng trưởng và tác động của FDI vào khu vực dịch vụ thì không rõ ràng
Nghiên cứu của nhóm tác giả Nguyễn Thị Tuệ Anh và cộng sự (2006), về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam cho rằng FDI có tác động đến tăng trưởng kinh tế và mức độ đóng góp tăng lên khi Việt Nam chính thức hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới Nghiên cứu còn chỉ ra rằng vốn con người được đo bằng trình độ học vấn của người lao động góp phần làm tăng đóng góp của FDI tới tăng trưởng Ngoài ra, nghiên cứu còn cho rằng FDI là nguồn vốn bổ sung cho vốn trong nước chứ không phải là nguồn vốn thay thế và FDI còn có tác động tràn ở quy mô DN qua kênh di chuyển lao động, phổ biến và chuyển giao công nghệ, liên kết sản xuất và cạnh tranh ở một số ngành như chế biến thực phẩm hay dệt may Nghiên cứu của Magnus Blomstrưm và Ari Kokko (1997) về tác động của FDI lên nước chủ nhà: điểm lại các bằng chứng thực nghiệm Bài viết chỉ ra các tác động chuyển giao và lan tỏa CN từ các công ty đa quốc gia (MNCs) nước ngoài đến nước chủ nhà, tác động của các MNCs nước ngoài đối với hoạt động thương mại của nước chủ nhà, và các tác động đối với cạnh tranh và cơ cấu ngành ở các nước chủ nhà Nghiên cứu cho rằng MNCs có thể đóng một vai trò quan trọng đối với tăng trưởng năng suất và XK ở các nước tiếp nhận đầu tư, nhưng bản chất chính xác
về tác động của FDI là khác nhau giữa các ngành CN và giữa các quốc gia, điều này tùy thuộc vào tính chất đặc trưng và môi trường chính sách của từng quốc gia Như vậy, qua các nghiên cứu về tác động của FDI được dẫn chứng ở trên cho thấy FDI ngày càng trở nên quan trọng đối với mỗi quốc gia hay địa phương Thứ nhất, FDI có tác động lớn đối với tăng trưởng và phát triển kinh tế; góp phần vào quá trình đa dạng hóa nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất CN và XK Thứ hai, FDI giúp cho nước nhận đầu tư có được nguồn vốn dồi dào, bổ sung cho tổng nguồn vốn đầu tư trong nước Thứ ba, FDI tác động đến trình độ công nghệ và
kỹ năng lao động giúp các nước đang phát triển tiếp cận được với trình độ công nghệ tiên tiến trong quá trình chuyển giao Thứ tư, FDI giúp tăng cường hội nhập và
Trang 18đa dạng hóa trong hoạt động XK Ngoài ra, FDI còn có các tác động khác như tạo việc làm, tăng nguồn thu cho ngân sách,…
2.3 Các yếu tố tác động và chính sách thu hút FDI
2.3.1 Các yếu tố tác động đến thu hút FDI
Nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Kim Nhã về các động lực và nhân tố chủ yếu tác động đến thu hút FDI (2001) cho rằng có 5 nhân tố mang tính tổng quát tác động đến thu hút FDI của một quốc gia bao gồm
Môi trường chính trị-kinh tế-xã hội ổn định: môi trường chính trị ổn định của
nước chủ nhà là yếu tố hấp dẫn hàng đầu đối với các nhà ĐTNN Tình hình chính trị
ổn định là điều kiện tiên quyết để đảm bảo các cam kết của chính phủ đối với các nhà đầu tư về sở hữu vốn đầu tư, các chính sách ưu tiên đầu tư và định hướng phát triển của nước nhận đầu tư Đồng thời, sự ổn định chính trị còn là tiền đề cần thiết
để ổn định tình hình kinh tế-xã hội, nhờ đó giảm được tính rủi ro cho các nhà đầu
tư Những bất ổn định về chính trị không chỉ làm cho dòng vốn này bị chững lại, thu hẹp, mà còn làm cho dòng vốn từ trong nước chảy ngược ra ngoài, tìm đến những nơi "trú ẩn" mới an toàn và hấp dẫn hơn Tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định, thu nhập bình quân đầu người, dung lượng thị trường, tốc độ tăng trưởng của thị trường,
cơ cấu thị trường, sở thích của người tiêu dùng của nước nhận đầu tư, khả năng tiếp cận thị trường trong khu vực và trên thế giới cũng có ảnh hưởng đến FDI
Chính sách-pháp luật: quá trình đầu tư có liên quan rất nhiều đến hoạt động
của các tổ chức, cá nhân và được tiến hành trong thời gian dài nên các nhà ĐTNN rất cần có một môi trường pháp lý ổn định của nước chủ nhà Môi trường này chính
là các quy định của luật pháp và các chính sách liên quan trực tiếp đến FDI bao gồm các quy định về việc thành lập và hoạt động của các nhà ĐTNN, các tiêu chuẩn đối
xử đối với FDI và cơ chế hoạt động của thị trường trong đó có sự tham gia của các thành phần kinh tế có vốn ĐTNN và tính hiệu lực của chúng trong quá trình thực hiện Một môi trường pháp lý sẽ hấp dẫn FDI nếu có các chính sách mềm dẻo, qui định phù hợp và đảm bảo hiệu lực cao trong khi thực hiện Đây là những căn cứ
Trang 19pháp lý quan trọng không chỉ để đảm bảo quyền lợi của các nhà ĐTNN mà còn là
những cơ sở cần thiết để họ yên tâm hoạt động lâu dài ở nước chủ nhà
Ngoài ra một vấn đề khác cũng được các nhà ĐTNN quan tâm, đó là định hướng đầu tư của nước chủ nhà cũng như các chính sách về tiền tệ và tỷ giá hối đoái, chính sách thuế, chính sách thương mại, chính sách về giáo dục đào tạo, chính sách liên quan đến cơ cấu các ngành kinh tế Vì các nhà ĐTNN thường có chiến lược kinh doanh dài hạn nên họ rất cần sự rõ ràng, ổn định trong các chính sách và định hướng đầu tư của nước chủ nhà
Sự phát triển của CSHT: một tổng thể hạ tầng phát triển phải bao gồm hệ
thống giao thông vận tải đồng bộ và hiện đại với hệ thống các cầu, đường, cảng biển, sân bay, kho bãi và các phương tiện vận tải đủ sức bao phủ quốc gia và đủ tầm hoạt động quốc tế; hệ thống thông tin liên lạc viễn thông với các phương tiện nghe-nhìn hiện đại, có thể nối mạng thống nhất toàn quốc và liên thông với toàn cầu; hệ thống điện nước đầy đủ và phân bổ tiện lợi cho các hoạt động SXKD cũng như đời sống và có hệ thống mạng lưới cung cấp các loại dịch vụ khác (y tế, giáo dục, giải trí, các dịch vụ hải quan, tài chính, thương mại, quảng cáo, kỹ thuật, v.v ) phát triển rộng khắp, đa dạng và có chất lượng cao Tóm lại, hệ thống CSHT đó phải giúp cho các chủ ĐTNN tiện nghi và sự thoải mái dễ chịu, giúp họ giảm được chi phí Trong các điều kiện và chính sách hạ tầng phục vụ FDI, chính sách đất đai và bất động sản có sức chi phối mạnh mẽ đến luồng FDI đổ vào một nước
Sự phát triển của đội ngũ lao động, của trình độ khoa học và công nghệ; hệ thống DN trong nước và trên địa bàn: đội ngũ nhân lực có kỹ thuật cao là điều
kiện hàng đầu để một nước và địa phương vượt qua được những hạn chế về tài nguyên thiên nhiên và trở nên hấp dẫn các nhà ĐTNN Việc thiếu các nhân lực kỹ thuật lành nghề, các nhà lãnh đạo, quản lý cao cấp và sự lạc hậu về trình độ khoa học công nghệ trong nước sẽ khó lòng đáp ứng được các yêu cầu của nhà đầu tư Một hệ thống DN trong nước phát triển, đủ sức hấp thu công nghệ chuyển giao
và là đối tác ngày càng bình đẳng với các ĐTNN, là điều kiện cần thiết để có thể thu hút được nhiều hơn và hiệu quả hơn luồng vốn nước ngoài Hệ thống các DN đó
Trang 20phải bao gồm cả DN sản xuất và dịch vụ ở tất cả các lĩnh vực, ngành nghề, thành thạo các nghiệp vụ kinh doanh quốc tế, đủ sức giữ được thị phần thích đáng tại thị trường trong nước và ngày càng có sức cạnh tranh trên thị trường thế giới Mạng lưới các DN dịch vụ về tài chính-ngân hàng có vai trò quan trọng trong hệ thống đó, nhằm tạo ra các điều kiện thuận lợi cho việc huy động và lưu chuyển vốn trong nước và quốc tế
Sự phát triển của nền hành chính quốc gia và hiệu quả của các dự án FDI đã triển khai: bộ máy hành chính hiệu quả quyết định sự thành công không chỉ trong
thu hút vốn nước ngoài mà còn là quá trình huy động, sử dụng vốn cho đầu tư phát triển của mỗi quốc gia cũng như mỗi địa phương Bộ máy đó phải thống nhất, gọn nhẹ, sáng suốt và nhạy bén về chính sách với những thủ tục hành chính, những qui định pháp lý có tính chất tối thiểu, đơn giản, công khai và nhất quán, được thực hiện bởi những con người có trình độ chuyên môn cao, được giáo dục tốt và có kỷ luật, tôn trọng pháp luật
Ngoài ra yếu tố về vị trí địa lý-điều kiện tự nhiên bao gồm các yếu tố về khoảng cách, địa điểm, khí hậu, tài nguyên thiên nhiên, cũng có tác động đến thu hút FDI
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên thuận lợi sẽ giảm được các chi phí vận chuyển, đa dạng hoá các lĩnh vực đầu tư, cung cấp được nguồn nguyên liệu phong phú với giá
rẻ và tiềm năng tiêu thụ lớn Các yếu tố này không những làm giảm được giá thành sản phẩm mà còn thu hút được các nhà đầu tư tìm kiếm nguyên liệu tự nhiên và thị trường tiêu thụ Bên cạnh đó, các yếu tố tạo điều kiện thuận lợi trong kinh doanh bao gồm chính sách xúc tiến đầu tư, các biện pháp ưu đãi khuyến khích đầu tư, giảm chi phí giao dịch, cải cách thủ tục hành chính để nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước, nâng cao chất lượng các dịch vụ tiện ích xã hội để đảm bảo chất lượng cuộc sống cho các chủ ĐTNN
Trên đây là những yếu tố mang tính phổ quát chung toàn thế giới vì thế nó cũng phù hợp cho từng quốc gia Vì vậy, quốc gia nào xây dựng được môi trường đầu tư
có sức hấp dẫn cao và có những ưu đãi hơn thì nước đó có khả năng thu hút được nhiều FDI hơn
Trang 212.3.2 Chính sách thu hút FDI
Chính vì những đóng góp quan trọng của FDI đối với tăng trưởng như đã phân tích ở trên nên các quốc gia ngày càng chú trọng tập trung vào các chính sách nhằm thu hút được nhiều nguồn vốn FDI
Nghiên cứu của Bernard Hoekman và Kamal Saggi (1998) về các kỷ cương đa phương và chính sách đầu tư quốc gia chỉ ra rằng FDI lệ thuộc vào các loại chính sách khác nhau của cả nước nhận đầu tư cũng như nước chủ đầu tư Để tăng cường nguồn vốn FDI các quốc gia có thể đưa ra các chính sách tác động tích cực như thời gian miễn giảm thuế, nới lỏng các qui tắc cho các khu vực ưu tiên, miễn thuế nhập khẩu,… Ngược lại, để hạn chế nguồn vốn FDI các cấp chính quyền cũng có thể đưa
ra các biện pháp tiêu cực như đánh thuế hai lần, hạn chế sử dụng đất đai,… Như vậy, một chính sách minh bạch, rõ ràng và thông thoáng sẽ thu hút được nhiều các nhà ĐTNN hơn và nó đóng vai trò như chất xúc tác cho sự phát triển Vì thế, trong bất
kỳ trường hợp nào thì chính quyền các cấp cũng nên áp dụng nguyên tắc là đưa ra các biện pháp khuyến khích tích cực nhằm thu hút được nhiều nguồn vốn FDI Ngoài ra, nguồn lực về con người, công nghệ và yếu tố sản xuất của mỗi quốc gia hay mỗi địa phương là khác nhau nên chiến lược phát triển và tăng trưởng kinh
tế của họ cũng khác nhau do vậy chính sách thu hút FDI cũng khác nhau và còn tùy thuộc vào từng bối cảnh và thời gian cụ thể Tuy nhiên, do FDI có vai trò quan trọng trong tăng trưởng và phát triển nên cuộc chạy đua tăng trưởng giữa các quốc hay các địa phương sẽ dẫn đến cuộc chiến tranh tranh giành thu hút FDI Vì vậy, để thu hút được nhiều FDI Chính phủ các quốc gia cần phải đưa ra các chính sách ưu đãi, hấp dẫn nhằm thu hút các nhà đầu tư
Như vậy, một chính sách FDI thông thoáng và minh bạch, rõ ràng hơn sẽ mời gọi không chỉ một mà là nhiều công ty đến đầu tư và làm tăng khả năng cạnh tranh giữa các công ty nước ngoài cũng như giữa các công ty nước ngoài với công ty trong nước Vì vậy, mỗi quốc gia đều có xu hướng cải thiện các chính sách nhằm thu hút được nhiều FDI hơn Tuy nhiên, để có chính sách phù hợp hấp dẫn các nhà đầu tư, các cấp chính quyền cần phải nhận thức và xác định được yếu tố nào có tác
Trang 22động đến việc thu hút FDI từ đó xây dựng kế hoạch và chiến lược trong việc thu hút FDI
2.4 Các yếu tố tác động và chính sách thu hút FDI ở Việt Nam
2.4.1 Các nghiên cứu trước về các yếu tố tác động đến FDI ở Việt Nam
Trong nhiều cuộc hội thảo cũng như trên báo chí thì cả những mặt tốt lẫn xấu của FDI đều đã được đề cập đến và cũng có không ít các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến thu hút FDI của các tỉnh thành phố ở Việt Nam, điển hình là các nghiên cứu của các nhóm tác giả
Thứ nhất, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Trọng Hoài (2007) về các nhân tố “cơ
sở hạ tầng mềm” tác động đến việc thu hút vốn đầu tư địa phương, kiểm định bằng
mô hình hồi quy Trong nghiên cứu này, bằng phương pháp sử dụng mô hình hồi quy tác giả khẳng định rằng có mối quan hệ giữa năng lực cạnh tranh và thu hút vốn đầu tư Các nhân tố cấu thành năng lực cạnh tranh ở đây chính là các nhân tố liên quan đến CSHT mềm như: chi phí về thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước, thiết chế pháp lý, chi phí không chính thức, ưu đãi đối với DN nhà nước, tính minh bạch và tiếp cận thông tin, tính năng động của lãnh đạo tỉnh, Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những địa phương có lãnh đạo năng động cùng với thiết chế pháp lý tin cậy, thông tin minh bạch và thủ tục hành chính nhanh chóng sẽ thu hút được nhiều nguồn vốn FDI hơn
Thứ hai, nghiên cứu của nhóm tác giả Vũ Thành Tự Anh và cộng sự (2007) về
xé rào ưu đãi đầu tư của các tỉnh trong bối cảnh mở rộng phân cấp ở Việt Nam:
“sáng kiến” hay “lợi bất cập hại”? Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng CSHT cứng là cần thiết để thu hút các nhà đầu tư nhưng chính CSHT mềm lại đóng vai trò quan trọng hơn trong việc quyết định khả năng biến vốn đăng ký thành đầu tư thực tế Đặc biệt trong nghiên cứu này cho thấy việc “xé rào” của một số tỉnh đã không giúp
họ thu hút được nhiều FDI hơn mà còn làm cho họ tăng gánh nặng thâm hụt ngân sách và làm cho tăng trưởng chậm lại
Thứ ba, nghiên cứu của hai tác giả Nguyễn Ngọc Anh và Nguyễn Thắng (2007) Nghiên cứu cho rằng các nhân tố về thị trường như chỉ số năng lực cạnh tranh cấp
Trang 23tỉnh, nhân tố về lao động và CSHT có tác động đến việc thu hút FDI của các tỉnh thành phố ở Việt Nam
2.4.2 Các yếu tố tác động đến FDI của Việt Nam
Trong phần 2.3 đã trình bày tổng quát về các yếu tố tác động đến quá trình thu hút FDI của một quốc gia nói chung Vì thế, chính sách thu hút FDI đối với một quốc gia cũng không nằm ngoài những quy luật đó và Việt Nam cũng vậy khi xem xét quá trình thu hút cần tập trung vào các yếu tố trên để có chính sách thu hút phù hợp đem lại hiệu quả cao Hơn nữa, Việt Nam là nước đang phát triển và luôn được đánh giá là quốc gia có tình hình chính trị-xã hội ổn định vì vậy chúng ta cần duy trì những yếu tố này và tăng cường cải thiện các yếu tố như môi trường pháp lý, chính sách ưu đãi, và tạo lập CSHT hiện đại, thuận tiện cho việc giao thương buôn bán nhằm thu hút các nhà đầu tư
Tuy nhiên, đối với cấp địa phương các yếu tố ảnh hưởng đến thu hút đầu tư có phần chi tiết và cụ thể hơn Các nghiên cứu trước về thu hút FDI của địa phương cho rằng các yếu tố tác động đến việc thu hút FDI của địa phương bao gồm
2.4.2.1 Các yếu tố CSHT mềm
Các yếu tố tác động tích cực đến việc thu hút vốn đầu tư của một địa phương được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ là các yếu tố thuộc CSHT mềm Những nhân tố này góp phần thay đổi và cải thiện môi trường đầu tư từ đó có tác động ảnh hưởng đến các nhà đầu tư Các yếu tố CSHT mềm đại diện cho những đặc tính chủ động của chính quyền địa phương trong quá trình tạo môi trường thu hút đầu tư, đồng thời nó còn thể hiện triết lý lãnh đạo của các nhà quản lý địa phương trong quá trình hoạch định các chính sách thu hút đầu tư Các yếu tố CSHT mềm đối với một địa phương ở Việt Nam bao gồm các chỉ số thành phần trong chỉ số PCI đó là:
Chi phí gia nhập thị trường: phản ánh đánh giá của DN về thời gian chờ để nhận được các loại giấy tờ cần thiết để tiến hành hoạt động SXKD và mức độ khó khăn
để nhận được các loại giấy tờ đó
Trang 24Tiếp cận đất đai và sự ổn định trong việc sử dụng đất: việc tiếp cận đất đai có đẽ dàng, thuận tiện không và DN có yên tâm và được bảo đảm về sự ổn định khi có mặt bằng để hoạt động lâu dài hay không
Tính minh bạch: đo lường khả năng tiếp cận các kế hoạch và các văn bản giấy
tờ pháp lý cần thiết cho hoạt động của DN Các chính sách và qui định mới có được tham khảo ý kiến của DN và khả năng tiên liệu trong việc triển khai các kế hoạch cũng như mưc độ tiện dụng trang web của tỉnh đối với DN
Chi phí thời gian để thực hiện các quy định của nhà nước: phản ánh thời gian
mà DN phải bỏ ra để thực hiện các thủ tục hành chính theo qui định của Nhà nước Chi phí không chính thức: đo lường các chi phí không chính thức mà DN phải trả và các trở ngại do các chi phí này gây ra đối với hoạt động của họ, đồng thời phản ánh liệu các cán bộ nhà nước có lợi dụng các qui định để trục lợi hay không Tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh: phản ánh tính sáng tạo và năng động của lãnh đạo tỉnh trong quá trình thực thi các chính sách của Trung ương và khả năng hỗ trợ và áp dụng những chính sách đôi khi chưa rõ ràng của Trung ương theo hướng có lợi cho DN cũng như đưa ra các sáng kiến nhằm phát triển khu vực KTTN
Ưu đãi đối với DNNN: thể hiện ưu đãi của chính quyền địa phương đối với DNNN, phân biệt về chính sách và tiếp cận nguồn vốn
Chính sách phát triển khu vực KTTN: đo lường các dịch vụ của tỉnh để phát triển khu vực KTTN như xúc tiến thương mại, tìm kiếm thông tin giúp DN tìm đối tác kinh doanh, phát triển các khu/cụm CN của địa phương
Đào tạo lao động: phản ánh nỗ lực của tỉnh trong việc đào tạo nghề và phát triển nâng cao tay nghề cho người lao động nhằm hỗ trợ DN và giúp người lao động tìm kiếm việc làm
Thiết chế pháp lý: đo lường lòng tin của DNTN đối với hệ thống tòa án, tư pháp của tỉnh và các thiết chế pháp lý liệu có được thực thi hiệu quả khi có tranh chấp hoặc có thể là nơi DN phản ánh hành vi nhũng nhiễu của cán bộ công quyền hay không
Trang 25Môi trường đầu tư được thể hiện qua chỉ số PCI do VCCI &VNCI công bố hàng năm Chỉ số này được tổng hợp đánh giá từ 10 chỉ số thành phần và là một công cụ nhằm đánh giá, đo lường khả năng điều hành kinh tế của 64 tỉnh, thành của Việt Nam và phản ánh đánh giá và nhìn nhận của cộng đồng DNTN trong nước
2.4.2.2 Yếu tố CSHT cứng
CSHT giao thông tốt giúp DN dễ dàng tiếp cận thị trường, giao thương buôn bán, tăng khả năng cạnh tranh và giảm chi phí giao dịch Vì thế năm 2008, VCCI đã đưa vào phân tích trong báo cáo PCI nhằm tăng cường nhận thức của các tỉnh về vai trò của CSHT cứng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh trong thu hút FDI Chỉ
số về CSHT cứng được tổng hợp từ bốn chỉ tiêu cấu thành là chất lượng và tỷ lệ lấp đầy khu/cụm CN, chất lượng đường giao thông và chi phí vận chuyển, dịch vụ công ích (điện, nước và viễn thông) và CSHT khác (cảng biển, sân bay) Chỉ số này không phải là thước đo đánh giá chất lượng điều hành kinh tế của địa phương vì nó nằm ngoài tầm kiểm soát của chính quyền địa phương do phần lớn CSHT được xây dựng từ lâu và có những CSHT mà chính quyền địa phương không quyết định được
mà phải phụ thuộc vào chính quyền Trung ương Tuy nhiên, chính quyền địa phương cũng vẫn có thể chủ động cải thiện CSHT thuộc thẩm quyền, phạm vi quản
lý của họ như hệ thống giao thông tỉnh lộ, CSHT ngoài hàng rào, cấp điện, cấp nước Chỉ số về CSHT được xem như là công cụ giúp các DN đưa ra các quyết định đầu tư, giúp các nhà lãnh đạo Trung ương và địa phương đưa ra các ưu tiên về chính sách phát triển vùng miền Theo như các nghiên cứu trước thì những địa phương có
vị trí địa lý thuận lợi, gần với các trung tâm kinh tế lớn (như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh), gần cảng biển, sân bay sẽ dễ dàng và thuận lợi hơn so với các tỉnh ở vùng sâu, vùng xa trong việc thu hút FDI
2.4.3 Chính sách thu hút FDI
Xác định được vai trò quan trọng của khu vực FDI trong việc phát triển kinh tế, Chính phủ đã đưa ra một số chính sách nhằm cải thiện môi trường đầu tư tạo điều kiện thuận lợi cho các cấp chính quyền địa phương đẩy mạnh công tác thu hút FDI
Trang 26Chính sách hỗ trợ đầu tư: hỗ trợ về chuyển giao công nghệ, chính phủ tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên chuyển giao công nghệ; đào tạo nguồn nhân lực, khuyến khích và hỗ trợ nhà đầu tư lập quỹ hỗ trợ đào tạo từ nguồn vốn góp và tài trợ của các tổ chức, cá nhân trong nước và nước ngoài,
hỗ trợ đào tạo lao động trong các tổ chức kinh tế thông qua chương trình trợ giúp đào tạo nguồn nhân lực; hỗ trợ đầu tư phát triển và dịch vụ đầu tư; hỗ trợ đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng trong và ngoài ngoài hàng rào KCN, khu chế xuất;
Chính sách ưu đãi đầu tư: một số lĩnh vực hoạt động SXKD và một số địa bàn
có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn và khó khăn được hưởng chính sách ưu đãi đầu tư theo quy định cho từng Danh mục (ban hành kèm theo Nghị định số 108/2006/NĐ-CP ngày 22 tháng 9 năm 2006 của Chính phủ) Bên cạnh đó, Chính phủ còn thực hiện một số ưu đãi đầu tư khác như ưu đãi về thuế thu nhập DN, thuế nhập khẩu, thuế sử dụng đất, tiền ưu đãi về thuê đất,…
Ngoài ra Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ban ngành tăng cường công tác quy hoạch, đẩy nhanh tiến độ xây dựng và phê duyệt các quy hoạch còn thiếu, rà soát để thường xuyên bổ sung, điều chỉnh các quy hoạch đã lạc hậu nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư trong việc xác định và xây dựng dự án Đồng thời, minh bạch hóa các thông tin về quy hoạch và sử dụng đất đai, công bố công khai, rộng rãi, tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận với các văn bản pháp lý và tài liệu liên quan; đảm bảo các cam kết được thực thi đúng và minh bạch trong suốt quá trình đầu tư và SXKD của cho nhà đầu tư
Thiếp lập chính sách và môi trường đầu tư ổn định, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư yên tâm đầu tư lâu dài
Tăng cường và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ công chức nhằm thực hiện tốt nhiệm vụ theo quy định của Luật đầu tư và quy định mới về phân cấp quản lý FDI
Đơn giản hóa và công khai các quy trình, thủ tục hành chính đối với ĐTNN, thực hiện cơ chế “một cửa” trong việc giải quyết thủ tục đầu tư, đảm bảo sự thống nhất các quy trình thủ tục tại các địa phương
Trang 27Như vậy, qua nghiên cứu ở trên cho thấy FDI có tác động đến tăng trưởng, mỗi quốc gia hay địa phương đều phải theo đuổi mục đích tăng trưởng của mình và một trong những chiến lược thúc đẩy tăng trưởng là thu hút được nhiều nguồn vốn FDI
Để thu hút được nhiều FDI các quốc gia hay địa phương đã bước vào cuộc chạy đua cạnh tranh trong việc thu hút FDI vì vậy họ phải có những chiến lược hay chính sách nhằm hấp dẫn các nhà đầu tư vào Từ đó, các nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI nhằm giúp cho các cấp chính quyền có được cái nhìn tổng quan và xác thực về nhân tố quyết định đến thu hút FDI Dựa vào các nghiên cứu trước đã được trình bày ở trên thì các yếu tố có ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của các địa phương ở Việt Nam bao gồm các yếu tố về CSHT mềm như: chi phí gia nhập thị trường, tính minh bạch, thiết chế pháp lý, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, ; CSHT cứng; môi trường đầu tư và chính sách thu hút FDI
Sơ đồ 1: Quốc gia
Hình 2.1 FDI của quốc gia
FDI
- Tăng nguồn vốn;
- Phát triển khoa học công
nghệ;
- Nâng cao trình độ quản lý;
- Phát triển và nâng cao trình
độ nguồn nhân lực;
- Các công ty địa phương có cơ
hội tiếp cận với MNCs, cải
thiện năng suất
Tăng trưởng, phát triển kinh tế
- Thu lợi nhuận từ đầu tư;
- Đổi mới công nghệ, nâng cao
năng lực cạnh tranh;
- Tăng cường sức mạnh kinh
tế, nâng cao uy tín, mở rộng thị trường tiêu thụ sản phẩm của chủ đầu tư;
- Đảm bảo tính vững mạnh cán
cân thanh toán
Các yếu tố tác động đến thu hút FDI
- Tình hình chính trị
- Chính sách - pháp luật
- Vị trí địa lý-điều kiện tự nhiên
- Môi trường kinh tế
- Sự phát triển của CSHT
- Sự phát triển của đội ngũ lao động
- Trình độ khoa học và công nghệ
- Đặc điểm phát triển văn hoá-xã hội
Trang 28- Chi phí thời gian để thực hiện
các quy định của nhà nước;
- Chính sách hỗ trợ đầu tư (lãi suất, đào tạo lao
động, );
- Chính sách ưu đãi đầu tư (thuế đất, lĩnh vực
SXKD, )
FDI
THU HÚT FDI CỦA ĐỊA PHƯƠNG
Các yếu tố CSHT cứng:
- Khoảng cách đến thị trường chính;
- CSHT khác (cảng biển, sân bay)
Trang 29Chương 3 Thực trạng FDI ở Việt Nam
3.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động FDI ở Việt Nam
Luật ĐTNN ban hành năm 1987 đã quy định cụ thể về các hình thức đầu tư, các biện pháp bảo đảm đầu tư công bằng và thỏa đáng, các quyền lợi và nghĩa vụ của các tổ chức cá nhân nước ngoài tham gia đầu tư tại Việt Nam cũng như vai trò của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý ĐTNN
Những quy định này được sửa đổi bổ sung vào năm 1990 và 1992 Đến năm
1996 Quốc hội đã thông qua Luật ĐTNN tại Việt Nam mới và sau đó được sửa đổi
bổ sung vào năm 2000 Luật ĐTNN sửa đổi năm 2000 đã đưa ra nhiều quy định mới nhằm tháo gỡ những vướng mắc, khó khăn, giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiêp có vốn ĐTNN Các quy định được sửa đổi tạo điều kiện thu hẹp khoảng cách giữa đầu tư trong nước với ĐTNN, tạo thế chủ động trong tiến trình hội nhập
và bảo đảm các cam kết quốc tế làm cho môi trường kinh doanh của Việt Nam hấp dẫn, thông thoáng hơn Tuy nhiên, nhằm cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, môi trường pháp lý, tạo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật về đầu tư, tạo sân chơi bình đẳng không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư, đơn giản hóa thủ tục đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn đầu tư, đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế, tăng cường sự quản lý của nhà nước đối với hoạt động đầu tư, năm 2005, Quốc hội đã ban hành Luật đầu tư và có hiệu lực
từ ngày 1/7/2006
3.2 Phân cấp quản lý FDI
Quá trình thực hiện phân cấp quản lý và phân bổ FDI được thực hiện kể từ khi
có Luật ĐTNN Do giai đoạn đầu số lượng dự án và số vốn ĐTNN ít và thấp nên toàn bộ các dự án ĐTNN đều do Trung ương quản lý Sau khi Việt Nam ký kết bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ thì luồng ĐTNN chảy vào Việt Nam ngày càng gia tăng Trước tình hình đó, vấn đề phân cấp trong quản lý hoạt động FDI ở Việt Nam đã được đặt ra và từng bước được mở rộng thông qua các Luật, Nghị định hay Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Trang 30Quá trình phân cấp quản lý FDI của Việt Nam được quy định và sửa đổi theo Quyết định số 386/TTg ngày 7/6/1997 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân cấp cấp GPĐT tư đối với các dự án FDI cho 8 tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương Quyết định 41/1998/QĐ-TTg ngày 20/2/1998 quy định về phân cấp cấp GPĐT cho UBND 8 tỉnh thành phố trực thuộc trung ương Tiếp đến là Quyết định số 233/1998/QĐ-TTg ngày 01/12/1998 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành cho tất cả các UBND cấp tỉnh cấp GPĐT và điều chỉnh các GPĐT đối với các dự án FDI Các quy định về phân cấp quản lý FDI được quy định tại điều 55 của Luật ĐTNN sửa đổi năm 2000 và điều 115 của Nghị định số 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật ĐTNN tại Việt Nam Theo luật ngân sách Nhà nước năm 2002, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được phép quản lý các dự án ĐTNN vào các KCN có giá trị đến 10 triệu đô-la, trong khi các tỉnh khác chỉ được phép quản lý các dự án có số vốn đến 5 triệu đô-la, các KCN và khu chế xuất được cấp phép cho các dự án FDI trong KCN hay khu chế xuất với số vốn có thể lên tới 40 triệu đô-la
Luật đầu tư năm 2005 xác định việc phân cấp mạnh cho UBND cấp tỉnh và Ban quản lý KCN, Khu chế xuất, Khu Công nghệ cao và Khu kinh tế (sau đây gọi là Ban quản lý) cấp GCNĐT cũng như quản lý hoạt động đầu tư và giảm bớt những dự án phải trình Thủ tướng Chính phủ Việc phân cấp cấp GCNĐT về UBND cấp tỉnh và Ban quản lý là một chủ trương thực hiện cải cách hành chính trong quản lý kinh tế,
đã tạo điều kiện thuận lợi để UBND cấp tỉnh và Ban quản lý thực hiện được trách nhiệm quản lý hoạt động đầu tư trong nước và ĐTNN trên địa bàn
Việc mở rộng phân cấp cấp GPĐT cho UBND cấp tỉnh, Ban quản lý đã tạo nên một bước tiến dài trong cải cách hành chính, là động lực thi đua mạnh mẽ cho các địa phương và cuộc đua này đã góp phần tạo nên những thay đổi lớn về môi trường đầu tư kinh doanh trong cả nước Bên cạnh đó, việc phân cấp mạnh cho UBND tỉnh
và Ban quản lý đã tạo điều kiện cho các Bộ, ngành quản lý nhà nước tập trung thực hiện chức năng hoạch định chính sách, dự báo, kiểm tra, giám sát
Trang 31Mặc dù vậy, điều kiện về năng lực, trách nhiệm tương ứng với quyền hạn trong thực hiện cơ chế phân cấp ở địa phương vẫn chưa được đảm bảo và còn bất cập Chính vì vậy, cơ chế phân cấp toàn diện trong quản lý đầu tư đang được Bộ KHĐT
đề nghị xem xét lại, những bất ổn trong cơ cấu đầu tư đã và đang hạn chế những thành tựu to lớn trong thu hút ĐTNN của cơ chế phân cấp Bên cạnh đó, số lượng
và quy mô dự án đầu tư được chấp thuận vượt quá năng lực đền bù, giải phóng mặt bằng của địa phương cũng là một trong những bất cập mà địa phương phải đối mặt Đồng thời sự ồ ạt, chớp cơ hội trong cấp GCNĐT ở nhiều địa phương đã không tính tới khả năng hấp thụ của chính mình, khiến bài toán hiệu quả một lần nữa không tìm được lời giải đúng Việc triển khai thực hiện dự án chậm trễ, kéo dài, thậm chí phải huỷ bỏ trong một số trường hợp đã làm giảm hiệu quả sử dụng đất, cũng như làm giảm hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, góp phần gây mất cân đối và bất ổn định kinh tế
vĩ mô ở trung hạn
3.3 Tình hình thu hút FDI giai đoạn 2005-2009
Theo số liệu từ Cục ĐTNN-Bộ KHĐT thì số lượng các dự án đầu tư vào Việt Nam giai đoạn 2005-2009 tăng khá nhanh từ 968 dự án năm 2005 với tổng số vốn đăng ký là 6,8 tỷ USD lên đến 1.554 dự án với tổng số vốn đăng ký là 71,7 tỷ USD vào năm 2008 Năm 2009, do ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu nên số lượng dự án cũng như số vốn FDI vào Việt Nam giảm đi đáng kể tính đến ngày 15/12/2009 chỉ còn 839 dự án với tổng vốn đăng ký là 21,5 tỷ USD Tuy nhiên,
số vốn thực hiện trong giai đoạn này thấp hơn nhiều so với số vốn đăng ký và khoảng cách giữa số vốn thực hiện và số vốn đăng ký ngày càng giãn xa, đặc biệt trong năm 2008 số vốn đăng ký rất cao nhưng vốn thực hiện thấp chỉ đạt 11,5 tỷ USD và đây là năm có tỷ lệ vốn thực hiện so với vốn đăng ký thấp nhất trong vòng
5 năm chỉ có 16%
Trang 320 10 20 30 40 50 60 70 80
Hình 3.1 Số lượng dự án và vốn FDI vào Việt Nam 2005-2009
Kết quả thu hút FDI trong giai đoạn này đã đem lại những thành tựu đáng kể cho quá trình tăng trưởng và phát triển kinh tế Việt Nam giai đoạn 2005-2009
3.3.1 Thành tựu đạt được
Thứ nhất, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế: nguồn FDI đổ vào Việt Nam
liên tục tăng trong những năm quá đã đóng góp tích cực vào quá trình chuyển dịch
cơ cấu và tăng trưởng kinh tế Việt Nam, mức độ đóng góp của khu vực FDI vào GDP liên tục tăng với tốc độ tăng từ 16% năm 2005 lên đến 18,3% năm 2009
Khu vực kinh tế Nhà nước
Nguồn: số liệu từ Niên giám Thống kê 2008, Tổng cục Thống kê
Hình 3.2 GDP phân theo khu vực kinh tế 2005-2009
Trang 33Thứ hai, bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển: sự tăng trưởng mạnh mẽ của
khu vực FDI trong giai đoạn 2005-2009 đã góp phần đáng kể trong việc bổ sung nguồn vốn cho đầu tư phát triển Vốn FDI thực hiện tăng nhanh làm cho tỷ trọng vốn FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội gia tăng Lượng vốn FDI được giải ngân trong giai đoạn 2005-2009 tăng nhanh làm cho tỷ trọng FDI trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội tăng đáng kể
Khu vực kinh tế ngoài Nhà nước
Khu vực kinh tế nhà nước
Nguồn: số liệu từ Niên giám Thống kê 2008, Tổng cục Thống kê
Hình 3.3 Vốn đầu tư phân theo thành phần kinh tế 2005-2009
Thứ ba, tăng giá trị kim ngạch XK, góp phần cải thiện cán cân thanh toán: khu
vực FDI tiếp tục giữ vị trí đi đầu trong việc tạo giá trị XK và XK của khu vực này luôn chiếm tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch XK
Nguồn: số liệu từ Niên giám Thống kê 2008, Tổng cục Thống kê
Hình 3.4 XK phân theo khu vực kinh tế 2005-2009
Trang 34Thứ tư, tạo việc làm cho người lao động và tăng thu cho ngân sách: theo báo
cáo của Cục ĐTNN-Bộ KHĐT thì bình quân giai đoạn 2005-2009 các dự án FDI đã tạo việc làm mới cho khoảng trên 10 vạn việc làm mỗi năm Trong giai đoạn 2005-
2008, các DN FDI đã nộp ngân sách nhà nước khoảng 6 tỷ USD (năm 2005 khoảng 1,03 tỷ USD năm 2006 là 1,47 tỷ USD, năm 2007 trên 1,57 tỷ USD và năm 2008
đạt 1,98 tỷ USD)
Cuối cùng, FDI là động lực thúc đẩy cải thiện môi trường kinh doanh: cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của khu vực kinh tế có vốn ĐTNN Thời gian qua, hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh ngày càng được hoàn thiện, tạo môi trường thông thoáng, thuận lợi cho nhà đầu tư Chính phủ cũng đã có những chính sách điều tiết kinh tế linh hoạt, hiệu quả nhằm đối phó với các tình huống khó khăn như lạm phát, nhập siêu, Các Bộ, ngành và UBND địa phương đã tích cực, chủ động hơn trong thu hút và quản lý FDI bằng nhiều biện pháp, theo hướng đơn giản hóa các thủ tục hành chính, hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các dự án đã được cấp phép nhanh chóng triển khai, thực hiện
3.3.2 Hạn chế
Những thành tựu đạt được trong thu hút và sử dụng nguồn vốn FDI trong thời gian qua rất đáng khích lệ, tuy nhiên, thực tế cho thấy vẫn còn tồn tại một số hạn chế về chính sách và môi trường đầu tư Một số vấn đề mới phát sinh như quá trình thực hiện phân cấp quản lý FDI cũng đang bắt đầu tác động tiêu cực đến môi trường
và chính sách đầu tư của các địa phương Những hạn chế này đang ảnh hưởng đến khả năng thu hút và hiệu quả sử dụng vốn đầu tư của nền kinh tế
Về luật pháp, chính sách: hệ thống luật pháp, chính sách về đầu tư, kinh doanh
vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ và chưa nhất quán giữa các quy định của pháp luật chung về đầu tư, kinh doanh và pháp luật chuyên ngành Điều này dẫn đến cách hiểu, áp dụng pháp luật khác nhau giữa các cơ quan và do đó gây khó khăn, chậm trễ trong việc xem xét cấp GCNĐT cũng như việc giải quyết các vấn đề vướng mắc, phát sinh trong quá trình triển khai thực hiện dự án
Trang 35Về công tác quy hoạch: quy hoạch lãnh thổ, ngành, lĩnh vực, sản phẩm còn
thiếu, dẫn đến tình trạng mất cân đối chung, đặc biệt trong bối cảnh phân cấp triệt
để việc cấp phép và quản lý đầu tư cho các địa phương Nhiều địa phương cấp phép tràn lan; chỉ quan tâm đến khía cạnh vốn đầu tư mà chưa chú ý đầy đủ đến các khía cạnh không kém phần quan trọng khác như thị trường, công nghệ-môi trường, lĩnh vực đầu tư và cả những tác động xã hội dẫn đến việc lãng phí tài nguyên, hiệu quả đầu tư thấp (ví dụ như trường hợp cấp phép các dự án sản xuất thép, sân golf, cảng biển )
Về CSHT: sự yếu kém của hệ thống CSHT ngoài hàng rào đang là nhân tố chính
gây tâm lý lo ngại cho nhà đầu tư Thông thường nhà đầu tư tính toán, thực hiện tiến độ xây dựng dự án theo tiến độ xây dựng công trình hạ tầng ngoài hàng rào để tránh tình trạng dự án xây dựng xong không đưa vào vận hành được do hệ thống CSHT ngoài hàng rào không đáp ứng yêu cầu, đặc biệt là hệ thống cấp điện, nước, đường giao thông, cảng biển phục vụ nhu cầu sản xuất và xuất nhập khẩu hàng hóa
Về đào tạo nguồn nhân lực: tình trạng thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo,
đặc biệt là công nhân kỹ thuật, kỹ sư và trình độ lao động không đáp ứng được yêu cầu của các nhà tuyển dụng đòi hỏi các cấp chính quyền cần nghiên cứu, xem xét nhu cầu ngành nghề của nhà tuyển dụng để tập trung đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng, đáp ứng được yêu cầu của nhà tuyển dụng
Về đất đai và công tác giải phóng mặt bằng: công tác giải phóng mặt bằng là
hạn chế chậm được khắc phục nhất về môi trường đầu tư của Việt Nam Trên thực
tế, công tác lập quy hoạch sử dụng đất đã được các địa phương quan tâm nhưng vẫn còn thiếu và chưa đồng bộ với quy hoạch ngành, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của địa phương nói chung và thu hút, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn FDI nói riêng (như việc sử dụng đất nông nghiệp cho các dự án KCN, khu đô thị và sân golf mà dư luận gần đây đã lên tiếng) Nhiều địa phương đang lâm vào trình trạng khó khăn trong việc bố trí đủ đất cho các dự án quy mô lớn như đã cam kết khi cấp GCNĐT
Trang 36Về xúc tiến đầu tư: công tác xúc tiến đầu tư trong thời gian qua còn nhiều bất
cập, thiếu tính chuyên nghiệp, chưa hiệu quả, nội dung và hình thức chưa phong phú, có sự chồng chéo, gây lãng phí nguồn lực Trình độ cán bộ làm công tác xúc tiến đầu tư còn hạn chế, thiếu cơ sở vật chất và điều kiện hoạt động; công tác quản
lý nhà nước và cơ chế phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa phương trong công tác này chưa thực sự hiệu quả, nhiều nội dung chưa được xác định rõ ràng do thiếu văn bản quy phạm pháp luật cụ thể về vấn đề này
Trang 37Chương 4 Thu hút FDI tình huống Bình Dương và Vĩnh Phúc
Bài viết này tác giả lựa chọn hai tỉnh Bình Dươngvà Vĩnh phúc để nghiên cứu,
so sánh tình hình và chính sách thu hút FDI trong giai đoạn 2005-2009 để từ đó tìm hiểu các nhân tố ảnh hưởng đến việc thu hút FDI của hai địa phương này Lý do mà tác giả lựa chọn hai tỉnh trên vì là hai địa phương cùng được tách ra vào tháng 11/1996 và bắt đầu đi vào hoạt động từ tháng 1/1997 và Vĩnh Phúc nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc, có vị trí địa lý giáp với Hà Nội còn Bình Dương nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và có vị trí địa lý giáp với Thành phố Hồ Chí Minh Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh được coi là hai trung tâm kinh tế của
cả nước và đây là những thị trường chính có hệ thống CSHT phát triển, có hệ thống cảng hàng không quốc tế Hơn nữa, theo quyết định số 1387 ngày 29 tháng 12 năm
2005 của Thủ tướng Chính phủ thì Vĩnh Phúc là một trong 32 bị coi là địa phương
“xé rào” trong ưu đãi thu hút FDI, trong khi đó Bình Dương không được nhắc tới trong quyết định này Như vậy, qua việc so sánh kết quả thu hút FDI có thể cho ta thấy sự khác biệt giữa một tỉnh “xé rào” và một tỉnh “không xé rào” trong quá trình thu hút FDI
4.1 Phương pháp nghiên cứu
4.1.1 Phương pháp so sánh
Dựa vào các nghiên cứu trước đề tài sử dụng phương pháp thống kê mô tả để so sánh một số chỉ tiêu có ảnh hưởng đến thu hút FDI của hai tỉnh Các chỉ tiêu lựa chọn bao gồm:
+ Số vốn FDI đăng ký giai đoạn 2005-2009 của 64 tỉnh thành phố;
+ Số dự án cấp mới giai đoạn 2005-2009;
+ Các chỉ số thành phần trong PCI và chỉ số PCI giai đoạn 2005-2009;
Từ kết quả thống kê mô tả, so sánh các chỉ tiêu trên của hai tỉnh với số trung bình của 64 tỉnh/thành phố trên cả nước nhằm xem xét, đánh giá tỉnh nào có kết quả tốt hơn trong việc thu hút FDI và nhờ yếu tố gì mà họ có được kết quả đó
Trang 384.1.2 Phương pháp định tính
Nghiên cứu, so sánh tìm hiểu tình hình thu hút FDI và các chính sách thu hút FDI, môi trường đầu tư, CSHT cứng, các yếu tố về CSHT mềm là các chỉ số thành phần trong PCI như tính minh bạch, thiết chế pháp lý, chi phí gia nhập thị trường, tính năng động và tiên phong của lãnh đạo tỉnh, của hai tỉnh Bình Dương và Vĩnh
Phúc
4.2 Kết quả nghiên cứu
4.2.1 Môi trường đầu tư
4.2.1.1 Vị trí địa lý-điều kiện tự nhiên
Bình Dương là một tỉnh thuộc miền Đông Nam Bộ, diện tích tự nhiên 2.695,22
km2, giáp với Thành phố Hồ Chí Minh và nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía nam, có các trục lộ giao thông huyết mạch của quốc gia chạy qua như quốc lộ 13, quốc lộ 14, đường Hồ Chí Minh, đường Xuyên Á, gần với sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất Có nguồn tài nguyên khoáng sản tương đối đa dạng, nguồn nước phong phú
và tài nguyên rừng
Vĩnh Phúc nằm trong khu vực châu thổ sông Hồng, có diện tích tự nhiên là 1.231,76 km2, tiếp giáp với Thủ đô Hà Nội và ở trong vùng lan toả của tam giác phát triển kinh tế trọng điểm nên các nhà đầu tư khi đầu tư vào Vĩnh Phúc có thể sử dụng các công trình kỹ thuật hạ tầng hiện có của khu vực này Có hệ thống giao thông thuận tiện với các trục đường độ, đường sắt và gần với sân bay quốc tế Nội Bài Với nguồn tài nguyên khoáng sản chủ yếu là đá vôi, cát sỏi tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển ngành CN vật liệu xây dựng, nguồn nước khá dồi dào và tài nguyên rừng phong phú
4.2.1.2 Tình hình kinh tế-xã hội
Trong giai đoạn 2005-2009 tốc độ tăng trưởng bình quân của cả hai tỉnh khá cao, tốc độ tăng trưởng bình quân năm của Bình Dương là 15,5% và Vĩnh Phúc là 17% Mặc dù Vĩnh Phúc có tốc độ tăng trưởng cao hơn nhưng thu nhập bình quân đầu người lại thấp hơn so với Bình Dương (thu nhập bình quân đầu người mỗi năm của Bình Dương là 22,1 triệu đồng/người và Vĩnh Phúc là 16,5 triệu đồng/người) Tuy
Trang 39số DN FDI của Bình Dương cao hơn nhiều so với Vĩnh Phúc nhưng mức độ đóng góp của khu vực FDI vào GDP của cả hai tỉnh trong giai đoạn này cũng tương
đương nhau, chiếm khoảng trên 40% trong GDP
Bảng 4.1 Một số chỉ tiêu chủ yếu của Bình Dương và Vĩnh Phúc 2005-2009
Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Bình Dương năm 2008
Niên giám Thống kê tỉnh Vĩnh Phúc năm 2008
Trang 40cho DN Lãnh đạo tỉnh, các ngành, các cấp đều coi trọng và đặt DN vào vị trí quan trọng của sự phát triển và luôn tạo môi trường pháp lý ổn định giúp cho các nhà đầu
tư yên tâm hoạt động
Vĩnh Phúc đang ngày càng nỗ lực hơn để cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh Xác định được vai trò quan trọng của môi trường đầu tư các cấp chính quyền luôn đẩy mạnh công tác quy hoạch và chuẩn bị đầu tư; giải quyết kịp thời kiến nghị và thủ tục hành chính cho người dân và DN; tiếp tục hoàn thiện cơ chế ưu đãi đầu tư; cải thiện môi trường pháp lý nhằm tạo điều kiện tốt nhất để các nhà đầu tư SXKD
có hiệu quả Với phương châm: “Tất cả các nhà đầu tư vào Vĩnh Phúc đều là công dân Vĩnh Phúc-Thành công của DN chính là thành công và niềm tự hào của tỉnh”, Vĩnh Phúc đã và đang tạo điều kiện tốt nhất để các nhà đầu tư đến đầu tư
và SXKD đạt hiệu quả
4.2.1.4 Cơ sở hạ tầng
Bình Dương có hạ tầng CN hoàn chỉnh và hiện đại, có hệ thống giao thông thuận lợi và kết nối, cách sân bay quốc tế Tân Sơn Nhất khoảng 15 km giúp cho việc thuận tiện trong việc lưu chuyển hàng hóa, gần các nguồn cấp điện, nước, các trung tâm đô thị và các khu dân cư Có nguồn lao động trẻ, có trình độ và tay nghề
Hộp 1 Giám đốc điều hành Tập đoàn ECC (Hà Lan) Tjeert Kwant: “Bình Dương có ấn tượng tốt đẹp với các nhà đầu tư”
Bình Dương có vị trí chiến lược rất tốt trong việc đầu tư các dự án trung tâm thương mại quy mô nhằm phục vụ cho thị trường bán lẻ của Việt Nam Quá trình chuẩn bị đầu tư, chúng tôi đã được giúp đỡ rất nhiệt tình của UBND tỉnh cũng như các sở, ngành Tất cả các khó khăn vướng mắc trong thủ tục đầu tư, xây dựng đều được giải thích tường tận cũng như hướng dẫn chúng tôi hoàn thiện nhanh chóng các thủ tục, hồ sơ trong thời gian sớm nhất Điều đó đã để lại ấn tượng sâu sắc, tốt đẹp cho nhà đầu tư về môi trường đầu tư năng động
Nguồn: http://www.baobinhduong.org.vn/newsdetails.aspx?newsid=3514,
05/02/2010 12:44:15