MỤC LỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ Hình 1.1: Đường cong J quan hệ giữa phá giá và cán cân thương mại Hình 2.1: Tỷ giá hối đoái thực song phương của Việt Nam và các đối tác thương mại có tỷ giá hối đ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- CHƯƠNG TRÌNH GIẢNG DẠY KINH TẾ FULBRIGHT
HỒ BÁ TÌNH
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI THỰC VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI –
TRƯỜNG HỢP NGHIÊN CỨU CỦA VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi vô cùng biết ơn thầy Đinh Công Khải, thầy hướng dẫn khoa học, người đã tận tình hướng dẫn tôi trong quá trình làm đề tài này Những đóng góp có giá trị và những lời động viên chân tình của thầy đã giúp tôi vượt qua được giai đoạn khó khăn trong quá trình thực hiện nghiên cứu
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành đến thầy Châu Văn Thành Những lời động viên quý giá của thầy đã làm tôi tự tin hơn, quyết tâm hơn trong công tác học tập và nghiên cứu của mình
Tôi xin cảm ơn Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright đã cấp học bổng cho tôi hoàn thành khóa học thạc sĩ Chính sách công tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam Cảm ơn thầy Nguyễn Xuân Thành - Giám đốc chương trình Chính sách công, Tiến sĩ Vũ Thành Tự Anh - Giám đốc nghiên cứu, thầy Jonathan R Pincus -Giám đốc đào tạo và các thầy cô giảng dạy tại Chương trình Giảng dạy Kinh tế Fulbright Với sự nhiệt tình giảng dạy và động viên của các thầy cô đã đem đến cho tôi những tri thức vô cùng quý giá, động lực to lớn trong suốt quá trình học tập tại trường
Tôi cũng vô cùng biết ơn Công ty Cổ phần Tài Việt (Vietstock), nơi tôi đang làm việc đã giúp đỡ tôi, tạo điều kiện giúp đỡ tôi về thời gian, vật chất, tinh thần trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành luận văn này
Lời cảm ơn chân thành của tôi xin gởi đến cha mẹ tôi, người thân trong gia đình, các bạn lớp học MPP1, F13 cùng bạn bè, đồng nghiệp, những người luôn động viên tinh thần, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và
số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh hay Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright
Tp HCM, ngày 26 tháng 05 năm 2010
Tác giả
Hồ Bá Tình
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN 3
LỜI CAM ĐOAN 4
MỤC LỤC 5 DANH MỤC VIẾT TẮT 7
MỤC LỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ 8
Tóm tắt đề tài 1 MỞ ĐẦU 2 CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI, TỔNG KẾT MỘT SỐ CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN 6
1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực 6
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái 6
1.1.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa 6
1.1.3 Tỷ giá hối đoái thực 7
1.1.4 Cơ chế tỷ giá hối đoái 9
1.2 Cán cân thương mại 10
1.2.1 Khái niệm về cán cân thương mại 10
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại 11
1.3 Cơ chế tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại 12
1.3.1 Hiệu ứng tác động tỷ giá lên cán cân thương mại 12
1.3.2 Hệ số co giãn xuất nhập khẩu và điều kiện Marshall-Lerner 13
1.4 Một số mặt hạn chế trong việc sử dụng REER để đo lường tác động của tỷ giá 14 1.5 Tóm lược các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại 15
1.5.1 Những công trình ủng hộ điều kiện Marshall – Lerner 16
1.5.2 Một số công trình cho thấy không có quan hệ rõ ràng giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực 16
1.5.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và phát triển kinh tế 17
1.5.4 Ảnh hưởng của tỷ giá đối với thương mại một số quốc gia 18
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, DIỄN BIẾN TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG TỶ GIÁ THỰC ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM 20
2.1 Sự biến động và chính sách tỷ giá trong thời gian qua 20
2.2 Tình hình thương mại của Việt Nam 21
Trang 62.3 Mô hình hồi quy đề xuất liên quan đến tỷ giá và xuất nhập khẩu 22
2.4 Tính tỷ giá hối đoái thực 24
2.4.1 Nguồn số liệu và một số cách tính 24
2.4.2 Tính tỷ giá thực song phương với đối tác thương mại chủ yếu (BRER) 25 2.4.3 Tính tỷ giá hối đoái thực đa phương (Multilateral Real Exchange Rate)27 2.5 Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và thương mại 28
2.5.1 Tỷ giá hối đoái thực đa phương theo năm 28
2.5.2 Mối quan hệ giữa thương mại và tỷ giá bằng các mô hình hồi quy 30
2.5.3 Quan hệ tỷ giá hối đoái thực đa phương và cán cân thương mại tính theo quý 31
2.5.4 Kết luận Chương 2 35
CHƯƠNG 4: KHUYẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH TRONG CÔNG TÁC ĐIỀU HÀNH TỶ GIÁ VÀ CẢI THIỆN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI 37
4.1 Sử dụng MRER tham chiếu trong việc điều hành tỷ giá danh nghĩa trên thị trường 37
4.2 Điều hành tỷ giá trong ngắn hạn tuân theo các quy luật của thị trường 37
4.3 Thận trọng trong việc chủ động phá giá mạnh nội tệ để thúc đẩy xuất khẩu 38
4.4 Lựa chọn cơ chế điều hành tỷ giá phù hợp với xu thế phát triển kinh tế 38
Kết luận và hướng đề xuất nghiên cứu tiếp theo 39
TÀI LIỆU THAM KHẢO 41 PHỤ LỤC 43
Trang 7DANH MỤC VIẾT TẮT
1 ADB Ngân hàng phát triển châu Á Asian Development Bank
2 BRER Tỷ giá hối đoái thực song pương Bilateral Real Exchange Rate
3 CPI Chỉ số giá tiêu dùng Consumer Price Index
5 FDI Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài Foreign Direct Investment
6 FED Cục dự trữ Liên Bang Mỹ Federal Reserve System
7 FPI Vốn đầu tư gián tiếp Foreign Portfolio Investment
8 GDP Tổng sản phẩm quốc nội Gross Domestic Product
9 GNI Tổng thu nhập quốc dân Gross National Income
11 IMF Quỹ tiền tệ quốc tế International Monetary Fund
12 MRER Tỷ giá thực đa phương Multilateral Real Echange
Rate
13 NER Tỷ giá giá danh nghĩa Nominal Exchange Rate
14 MLC Điều kiện Marshall – Lerner Marshall – Lerner Condition
15 NHNN Ngân hàng nhà nước SBV (The state bank of
Vietnam)
16 REER Tỷ giá thực hiệu dụng Real Effective Exchange Rate
18 SDR Quyền rút vốn đặc biệt Special Drawing Rights
19 TB Cán cân thương mại Trade balance
20 TCTK Tổng cục thống kê GSO (General Statistics
Office)
21 THTW Ngân hàng trung ương Central Bank
Trang 8MỤC LỤC HÌNH VẼ ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Đường cong J quan hệ giữa phá giá và cán cân thương mại
Hình 2.1: Tỷ giá hối đoái thực song phương của Việt Nam và các đối
tác thương mại có tỷ giá hối đoái thực nhỏ hơn 1 26 Hình 2.2: Tỷ giá hối đoái thực song phương của Việt Nam và các đối
tác thương mại có tỷ giá hối đoái thực lớn hơn 1 26 Hình 2.3: Tỷ giá hối đoái thực đa phương mốc năm 1995 và 2000 28 Hình 2.4: Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và thay đổi cán cân thương
Hình phụ lục 2.5: Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và tỷ lệ xuất khẩu/nhập
Hình phụ lục 2.6: Quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và tỷ lệ xuất khẩu/nhập
Phụ lục hình 2.7: Quan hệ giữa tỷ giá và tỷ lệ xuất khẩu/nhập khẩu dữ
Phụ lục hình 2.8: Xuất nhập khẩu và cán cân thương mại của Việt Nam
Bảng phụ lục 2.4: Tỷ giá hối đoái thực song phương giữa Việt Nam và
Bảng phụ lục 2.5: Tỷ giá hối đoái thực đa phương tỷ lệ xuất khẩu/nhập
khẩu, tăng trưởng GDP Việt Nam, tăng trưởng GDP trung bình của các
Bảng phụ lục 2.6: Kết quả hồi quy bằng Eview mối quan hệ giữa tỷ giá
Bảng phụ lục 2.7: Kết quả hồi quy bằng Eview mối quan hệ giữa tỷ giá
Trang 9Tóm tắt đề tài
Đề tài trình bày cơ sở lý thuyết của tỷ giá, chính sách điều hành tỷ giá, những tác động của tỷ giá hối đoái thực đến cán cân thương mại Kết quả tính toán cho thấy hiện tại VND đang được định giá cao Phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và cán cân thương mại cho thấy điều kiện Marshall-Lerner được đáp ứng Tức
là việc định giá cao của đồng tiền trong thời gian qua góp phần làm tăng thâm hụt thương mại ở Việt Nam
Tính toán tỷ giá hối đoái thực đa phương với năm 2000 hoặc 1992 làm năm gốc đều cho thấy đến nay tiền đồng vẫn đang được định giá cao Xét tỷ giá hối đoái thực song phương thì đồng nội tệ được định giá cao hơn so với 5 đối tác thương mại khác Cụ thể tiền đồng được định giá thấp hơn đồng Euro, Đô la Úc, Nhân Dân
tệ Trung Quốc và Baht Thái Lan và được định giá cao hơn các đồng tiền còn lại của nhóm các quốc gia nghiên cứu như Hoa Kỳ, Hàn Quốc, Malaysia, Singapore, Nhật Bản, Đài Loan, Anh
Nghiên cứu quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương và cán cân thương mại của Việt Nam và 7 đối tác thương mại thì có 4 trường hợp là Hoa Kỳ, Trung Quốc, Đài Loan và Singapore điều kiện Marshall-Lerner được đáp ứng, còn lại 3 nền kinh
tế là Nhật Bản, Pháp và Đức điều kiện này không được đáp ứng Như vậy, cán cân thương mại không chỉ bị ảnh hưởng bởi tỷ giá mà còn một số yếu tố khác như dòng vốn đầu tư, điều kiện quan hệ thương mại giữa 2 quốc gia, …
Từ kết quả nghiên cứu trên tác giả khuyến nghị, trong dài hạn Việt Nam nên sử dụng tỷ giá hối đoái thực làm tỷ giá tham chiếu để phục vụ công tác điều hành tỷ giá trên thị trường, trong ngắn hạn cần điều hành tỷ giá thông qua các tín hiệu trên thị trường NHNN can thiệp vào tỷ giá trên thị trường bằng cách mua bán ngoại tệ qua thị trường liên ngân hàng Biện pháp để cải thiện cán cân thương mại không những bằng chính sách tỷ giá mà cần phải đặc biệt quan tâm đến cải thiện chất lượng hàng xuất khẩu kèm theo là một chiến lược phát triển công nghiệp phù hợp
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Vấn đề nghiên cứu và bối cảnh chính sách
Tỷ giá hối đoái luôn là một trong những vấn đề vĩ mô quan trọng của kinh tế Việt Nam Áp dụng cơ chế chính sách tỷ giá hối đoái linh hoạt có kiểm soát và neo theo đồng USD được xem là một chính sách phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam hiện tại Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng chính sách này cũng tồn tại nhiều bất cập Điều này được thể hiện qua việc chênh lệnh khá lớn giữa tỷ giá chính thức và phi chính thức trong suốt thời gian qua
Biến động của tỷ giá trên thị trường diễn ra khá phức tạp Chẳng hạn, năm 2009, tiền đồng liên tục mất giá mặc dù Ngân hàng Nhà nước (NHNN) thực hiện nhiều biện pháp để duy trì tỷ giá hối đoái trong vòng kiểm soát Ngoài ra, NHNN còn phải bán ra hơn 7 tỷ USD1
Tuy nhiên, tính đến cuối năm 2009, tỷ giá vẫn tăng hơn 2.000 VND/USD Nguyên nhân của tình trạng này là do những bất ổn vĩ mô trong nước và tình trạng thâm hụt thương mại lớn kéo dài trong nhiều năm Thâm hụt thương mại tăng lên một cách mạnh mẽ từ năm 2007, từ con số 3 tỷ USD năm 2006
đã tăng lên lần lượt là 9,5 tỷ USD năm 2007, 18,3 tỷ USD năm 2008 và 13,3 tỷ USD năm 20092
Có ý kiến cho rằng, NHNN nên điều hành tỷ giá một cách linh hoạt hơn, giảm giá tiền đồng (VND) để hỗ trợ xuất khẩu, giảm thâm hụt thương mại Tuy nhiên, việc giảm giá đồng tiền cũng ảnh hưởng đến một loạt các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô khác như lạm phát, tăng gánh nặng nợ nước ngoài và sự ổn định của nền kinh tế
Trước tình hình đó, để có một chính sách tỷ giá phù hợp nhằm phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế cần có những nghiên cứu khoa học về ảnh hưởng của tỷ giá đến phát triển kinh tế Do vậy, nghiên cứu này nhằm phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực song phương và thâm hụt thương mại của Việt Nam Kết quả cho
Trang 11thấy, có một quan hệ khá rõ ràng giữa tỷ giá hối đoái thực đa phương và cán cân thương mại Tuy nhiên, nghiên cứu cũng lại chỉ ra đối với một số đối tác thương mại tỷ giá hối đoái thực song phương lại không có một mối quan hệ rõ ràng
Câu hỏi nghiên cứu:
1) Tỷ giá hối đoái thực có quan hệ như thế nào đến cán cân thương mại của Việt Nam?
2) Những giải pháp và chính sách hữu hiệu nào nhằm góp phần cải thiện cán cân thương mại, bình ổn kinh tế vĩ mô và góp phần vào tăng trưởng kinh tế?
2 Tính cấp thiết và mục tiêu của đề tài
Trong thời gian qua có nhiều tranh cãi xung quanh vấn đề chính sách tỷ giá của Việt Nam Một số ý kiến cho rằng, Việt Nam cần phá giá đồng tiền để giảm bớt thâm hụt về cán cân thương mại, ý kiến khác lại muốn giữ giá của đồng tiền để cho nền kinh tế ổn định Nhiều nghiên cứu tại một số nền kinh tế chỉ ra giảm giá đồng nội tệ cải thiện cán cân thương mại Tuy nhiên, ở một số nền kinh tế khác nghiên cứu lại cho thấy không có mối quan hệ đáng tin cậy giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại
Hiện tại, tỷ giá bình quân liên ngân hàng được sử dụng làm tỷ giá tham chiếu cho các giao dịch trên thị trường Tuy vậy, tỷ giá này thường được ấn định bởi NHNN Mặt khác không ít nhận định cho rằng, chính sách tỷ giá của NHNN cảm tính và thiếu những cơ sở khoa học rõ ràng Do đó, việc nghiên cứu tỷ giá hối đoái thực và đánh giá lại những tác động của nó đối với hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam
để có những chính sách điều hành tỷ giá phù hợp là một vấn đề cần thiết Từ kết quả nghiên cứu này, tác giả đề xuất những giải pháp chính sách nhằm hoàn thiện cơ chế tỷ giá để phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước
3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu trong đề tài này là tỷ giá thực đa phương và song phương giữa Việt Nam với một số đối tác thương mại, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt
Trang 12Nam Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến các khái niệm có liên quan như tỷ giá danh nghĩa, CPI, tăng trưởng GDP, các dòng vốn đầu tư
4 Phạm vi nghiên cứu
Trong đề tài này, tác giả giới hạn phạm vi nghiên cứu ở một số quốc gia là đối tác thương mại lớn của Việt Nam như Singapore, Malaysia, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Australia, Đức, Pháp, Anh, Mỹ Các quốc gia này là những đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của các quốc gia này chiếm 73 đến 76% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam trong 5 năm gần đây Khoảng thời gian dữ liệu được sử dụng là theo năm (từ năm 1992 đến năm 2009) và theo quý (từ năm 1999 đến 2009)
5 Phương pháp nghiên cứu và nguồn số liệu
Trong bài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng phương pháp nghiên cứu kết hợp định tính và định lượng với nhau như mô tả thống kê, phân tích định lượng bằng các mô hình hồi quy Nguồn dữ liệu được tham khảo từ Tổng cục thống kê (GSO), Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển châu Á (ADB), Bộ lao động Mỹ, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED), …
Tỷ giá thực đa phương của VND được tính theo tỷ trọng thương mại của 12 đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam Ngoài ra, tác giả cũng tính tỷ giá hối đoái thực song phương với từng đối tác thương mại Căn cứ trên kết quả tính được để chạy các mô hình hồi quy tìm ra mối liên hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại Các hình
vẽ và bảng biểu cũng được sử dụng để minh họa cho kết quả thu được
6 Kết cấu của luận văn
Luận văn chia làm 3 chương
Chương 1: Lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại, tổng kết một số công trình nghiên cứu liên quan
Chương 2: Thực trạng chính sách điều hành, diễn biến tỷ giá và phân tích tác động
tỷ giá thực đến cán cân thương mại Việt Nam
Trang 13Chương 3: Khuyến nghị chính sách trong công tác điều hành tỷ giá và biện pháp để cải thiện cán cân thương mại
Trang 14CHƯƠNG 1: LÝ THUYẾT VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
VÀ CÁN CÂN THƯƠNG MẠI, TỔNG KẾT MỘT SỐ CÔNG TRÌNH
NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN
Nội dung của Chương 1 trình bày về một số khái niệm liên quan đến tỷ giá, cơ chế
tỷ giá và những cơ sở lý thuyết về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại Thông qua cơ sở lý thuyết này để làm rõ hơn cho những lập luận và giải thích kết quả thu được ở chương 2 Ngoài ra, tại chương này, tác giả cũng tổng kết một số công trình nghiên cứu thực tế liên quan đến quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại; giữa chính sách tỷ giá và phát triển kinh tế
1.1 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa và tỷ giá hối đoái thực
1.1.1 Khái niệm tỷ giá hối đoái
Hiện nay, có nhiều khái niệm khác nhau về tỷ giá hối đoái Samuelson đưa ra khái niệm tỷ giá hối đoái là tỷ giá để đổi tiền nước này lấy tiền một nước khác Christopher Pass và Bryan Lowes lại định nghĩa tỷ giá hối đoái là giá của một loại ngoại tệ được biểu hiện qua một tiền tệ khác3
Các khái niệm về tỷ giá của các tác giả trên đưa ra đều phản ánh một khía cạnh khác nhau của tỷ giá hối đoái danh nghĩa Chung quy lại, các khái niệm trên có điểm chung là tỷ giá hối đoái là giá đơn vị tiền tệ nước này thể hiện bằng đơn vị tiền tệ nước khác Tỷ giá hối đoái tại một thời điểm một mặt phản ánh sức mua của đồng nội tệ, mặt khác nó thể hiện quan hệ cung cầu ngoại hối
1.1.2 Tỷ giá hối đoái danh nghĩa
Tỷ giá danh nghĩa là tỷ giá giao dịch hàng ngày giữa đồng tiền này so với đồng tiền khác trên thị trường ngoại hối Tỷ giá danh nghĩa phụ thuộc vào cung cầu trên thị trường hoặc đơn thuần là quy định bắt buộc của những cơ quan quản lý
Tỷ giá hối đoái danh nghĩa song phương là giá cả của một đồng tiền so với một
3
Lê Quốc Lý (2004) “Quản lý ngoại hối và điều hành tỷ giá hối đoái ở Việt Nam” – Nhà xuất bản thống kê
Trang 15đồng tiền khác mà chưa đề cập đến chênh lệch lạm phát giữa hai nước
Tỷ giá danh nghĩa đa phương (NEER–Nominal Effective Exchange Rate) là một chỉ số được tính bằng cách chọn ra một rổ ngoại tệ có tính đại diện rồi tính tỷ giá trung bình theo tỷ giá danh nghĩa của các đồng tiền trong rổ tiền tệ
1.1.3 Tỷ giá hối đoái thực
Tỷ giá hối đoái thực là tỷ giá danh nghĩa được điều chỉnh chênh lệch lạm phát giá trong nước và ngoài nước Tỷ giá hối đoái thực phản ánh sức cạnh tranh trong thương mại quốc tế của quốc gia đó
Tỷ giá thực song phương (BRER)
Tỷ giá thực song phương (BRER) là tỷ giá danh nghĩa đã được điều chỉnh theo tỷ lệ chênh lệch lạm phát giữa hai nước, nó là chỉ số thể hiện sức mua của đồng nội tệ so với đồng ngoại tệ
f
E P BRER E
P
Trong đó:
Tỷ giá thực song phương ở trạng thái động
Trên đây chúng ta vừa xem xét tỷ giá hối đoái thực tĩnh, nhưng tỷ giá này chỉ có ý nghĩa về mặt lý thuyết vì thực tế rất khó xác định rổ hàng hóa và năm gốc Vì vậy, thông thường chúng ta sẽ sử dụng tỷ giá ở trạng thái động để tính toán tỷ giá thực
từ thời kỳ này sang thời kỳ khác thông qua điều chỉnh tỷ giá danh nghĩa với chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia có đồng tiền đem so sánh
Công thức tính tỷ giá thực tại thời điểm t:
Trang 160REER =
t
0r
CPI 0 ft là chỉ số giá tiêu dùng ở nước ngoài thời điểm t
CPI 0
ht
là chỉ số giá tiêu dùng ở trong nước thời điểm t
Tỷ giá thực đa phương ( MRER)
Tỷ giá thực đa phương là một chỉ số phản ánh mức độ cạnh tranh về giá cả của quốc gia và là cơ sở để đánh giá đồng nội tệ bị định giá cao hay thấp hơn so với rổ ngoại tệ của những nền kinh tế được chọn để tính
Cách tính tỷ giá thực đa phương
Tỷ giá hối đoái thực song phương được tính bằng cách điều chỉnh tỷ giá theo chênh lệch lạm phát quốc nội so với lạm phát của các đối tác thương mại Trọng số trong tính toán chính là tỷ trọng thương mại của các quốc gia có quan hệ ngoại thương với Việt Nam
Trang 17của nhóm nước chọn làm rổ để tính tỷ giá hối đoái thực
0jt
CPI 0 ht là chỉ số giá tiêu dùng ở trong nước thời điểm t
J (số nền kinh tế,) i số năm
Mối quan hệ giữa tỷ giá thực và tỷ ngang bằng sức mua
Tỷ giá thực (Er) có giá trị bằng 1 gọi là tỷ giá có ngang bằng sức mua Thông thường tỷ giá danh nghĩa được giao dịch trên thị trường ngoại hối thường lệch khỏi ngang giá sức mua Như vậy, khi tỷ giá danh nghĩa tăng hoặc giảm không hoàn toàn phản ánh sự gia tăng hay giảm sức cạnh tranh về giá hàng hóa của một quốc gia Về mặt lý thuyết, người ta thường sử dụng tỷ giá ngang bằng sức mua làm cơ
sở để hình thành tỷ giá giao dịch trên thị trường
Nếu Er = 1, đồng tiền trong nước và đồng ngoại tệ có ngang bằng sức mua;
Nếu Er >1, đồng nội tệ được định giá thấp Khi đồng nội tệ định giá thấp, về
lý thuyết sẽ khuyến khích xuất khẩu và hạn chế nhập khẩu;
Nếu Er <1, đồng nội tệ được định giá cao, giá hàng hóa trong nước sẽ cao hơn giá hàng hóa ở nước ngoài Do đó, ngược với trường hợp trên, đồng nội
tệ định giá cao sẽ hạn chế xuất khẩu và tăng nhập khẩu
1.1.4 Cơ chế tỷ giá hối đoái
Cơ chế tỷ giá hối đoái là cách thức một nền kinh tế quản lý đồng tiền, xác định giá trị đồng tiền của mình thông qua ngoại tệ khác Chính phủ và NHTW quản lý tỷ giá bằng những quy định pháp luật và điều tiết thông qua thị trường ngoại hối Cơ chế
tỷ giá được chia qua 3 hình thức thông dụng như sau
Tỷ giá hối đoái cố định: kiểu chế độ tỷ giá trong đó giá trị của một đồng tiền được
gắn với giá trị của một đồng tiền khác hay với một rổ tiền tệ, hay với một thước đo giá trị khác (vàng, quyền rút vốn đặc biệt-SDR) Đồng tiền sử dụng chế độ tỷ giá hối đoái cố định gọi là đồng tiền cố định Chính phủ dùng các biện pháp hành chính
Trang 18hoặc ngoại tệ dự trữ để can thiệp giữ tỷ giá cố định
Cơ chế tỷ giá thả nổi (cơ chế tỷ giá linh hoạt): Cơ chế trong đó tỷ giá do các lực thị
trường quyết định mà không hoặc rất ít có sự can thiệp của chính phủ Trong cơ chế
tỷ giá thả nổi, tỷ giá tự do thay đổi theo cung cầu ngoại tệ, chính phủ không can thiệp trực tiếp vào thị trường ngoại hối Trên thực tế chính phủ có thể can thiệp thông qua các công cụ lãi suất và mua bán dự trữ ngoại tệ hay vàng Tỷ giá này thường được các nền kinh tế có thị trường tài chính phát triển
Cơ chế tỷ giá thả nổi có điều tiết: Cơ chế tỷ giá hối đoái hỗn hợp giữa thả nổi và cố
định Trong cơ chế thả nổi có quản lý, NHTW sẽ công bố một mức tỷ giá nào đó và thường xuyên điều chỉnh theo những thay đổi trong cán cân thanh toán, dự trữ ngoại hối quốc gia và tín hiệu trên thị trường chợ đen Ngoài ra, tỷ giá cũng sẽ được điều chỉnh theo quan điểm của NHTW nhằm phục vụ cho các mục tiêu đã được định trước Đây là cơ chế tỷ giá thường được các nền kinh tế đang phát triển áp dụng
1.2 Cán cân thương mại
1.2.1 Khái niệm về cán cân thương mại
Cán cân thương mại là chênh lệnh giữa giá trị xuất khẩu và nhập khẩu của một quốc gia trong một thời kỳ nhất định
TB là cán cân thương mại, X giá trị xuất khẩu, M giá trị nhập khẩu
Cán cân thương mại thặng dư (xuất khẩu ròng ) khi (X – M) > 0 Ngược lại, cán cân thương mại thâm hụt (nhập khẩu ròng) khi (X-M) < 0 TB còn thể hiện chênh lệch giữa tiết kiệm trong nước và đầu tư trong nước
Cán cân thương mại là một thành phần chủ yếu trong cán cân vãng lai (bao gồm cán cân thương mại, cán cân dịch vụ và chuyển nhượng đơn phương) Sự thặng dư hay thâm hụt tài khoản vãng lai có quan hệ chặt chẽ với thâm hụt hay thặng dư cán cân thương mại
Trang 19Khi mức thâm hụt tài khoản vãng lai lớn, một quốc gia sẽ phải tìm nguồn tài trợ cho mức thâm hụt này, có thể là vay mượn nước ngoài để bù đắp làm tăng thêm số
nợ ròng nước ngoài Hoặc quốc gia đó cũng có thể bù đắp thâm hụt tài khoản vãng lai bằng cách sử dụng của cải nước ngoài đã được tích lũy từ các năm trước Một nước có tài khoản vãng lai thâm hụt là nước nhập khẩu tiêu dùng hiện tại và phải xuất khẩu tiêu dùng trong tương lai Quốc gia có thặng dư tài khoản vãng lai là nước xuất khẩu tiêu dùng hiện tại và nhập khẩu tiêu dùng trong tương lai
1.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến cán cân thương mại
Ảnh hưởng của tỷ giá hối đoái
Theo quy luật cung cầu, khi một hàng hóa rẻ đi thì sản lượng tiêu thụ cũng tăng lên
và ngược lại Như vậy, khi đồng tiền trong nước tăng hoặc giảm giá sẽ ảnh hưởng đến giá cả hàng hóa nhập khẩu và xuất khẩu và làm thay đổi cung cầu về hàng hóa này
Đồng nội tệ tăng giá làm giá hàng hóa trong nước trở nên đắt tương đối so với hàng nước ngoài, gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu, ngược lại hàng nhập khẩu được lợi Đồng nội tệ giảm giá thì quá trình xảy ra ngược lại Mức độ ảnh hưởng của tỷ giá đến cán cân thương phụ thuộc và độ co giãn của khối lượng của hàng hóa xuất nhập khẩu theo giá
Ảnh hưởng của thu nhập
GDP (hay GNI) của một nước tăng lên làm gia tăng mức tiêu thụ hàng hóa Vì vậy, GDP tăng đã làm nhập khẩu có xu hướng tăng Sự gia tăng của nhập khẩu khi GDP tăng phụ thuộc xu hướng nhập khẩu biên Tuy nhiên, cán cân thương mại chưa thể xác định tăng hay giảm vì nó còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
Các chính sách quốc gia
Các chính sách thuế, bảo hộ hàng hóa trong nước cũng ảnh hưởng mạnh đến cán cân thương mại Những rào cản này hạn chế nhập khẩu một số mặt hàng để cải thiện cán cân thương mại Các chính sách liên quan đến phát triển kinh tế và xuất
Trang 20nhập khẩu khác cũng sẽ ảnh hưởng mạnh đến cán cân thương mại Ngoài ra, cán cân thương mại còn phụ thuộc vào chiến lược phát triển công nghiệp của quốc gia
Qua công thức (5) ta thấy, thâm hụt thương mại chính là chênh lệch giữa tổng sản phẩm quốc nội (GDP) với đầu tư và tiêu dùng trong nước Công thức (6) cho thấy được bản chất của thâm hụt thương mại là chênh lệch giữa tiết kiệm (S) và đầu tư (I) và thâm hụt ngân sách của Chính phủ
Chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư (S-I) được bù đắp bởi các dòng vốn đầu tư nước ngoài như FDI, ODA, FPI và các dòng vốn vay thương mại khác Như vậy có thể thấy cán cân thương mại có quan hệ rất chặt chẽ đến dòng vốn nước ngoài ròng
đổ vào một quốc gia
1.3 Cơ chế tác động của tỷ giá lên cán cân thương mại
1.3.1 Hiệu ứng tác động tỷ giá lên cán cân thương mại
Phá giá đồng nội tệ sẽ gây nên hiệu ứng về giá và lượng đối với quá trình ngoại thương Khi tỷ giá tăng, giá xuất khẩu giảm tương đối khi tính bằng ngoại tệ, hàng hóa xuất khẩu rẻ hơn cho nên có tính cạnh tranh hơn, khối lượng xuất khẩu sẽ tăng lên, dẫn đến kim ngạch xuất khẩu tăng (tính theo ngoại tệ) Ngược lại, hàng nhập khẩu sẽ đắt hơn một cách tương đối, khiến tiêu thụ hàng nhập khẩu giảm, kim ngạch nhập khẩu giảm Cán cân thương mại được cải thiện Khi đồng tiền trong
4
Gregory Mankiw (2001) “Kinh kế vĩ mô”, do các giảng viên đại học kinh tế Quốc Dân dịch từ nguyên bản
- nhà xuất bản Thống Kê
Trang 21nước được định giá cao thì quá trình ngược lại với quá trình ở trên
Tuy nhiên, lập luận trên phù hợp trong dài hạn, còn trong ngắn hạn do những yếu tố sản xuất tương đối cứng nhắc nên các doanh nghiệp trong nước chưa huy động đủ nguồn lực để đáp ứng sự tăng lên của xuất khẩu Đối với hàng nhập khẩu, do người tiêu dùng chưa thay đổi thói quen tiêu dùng ngay lập tức, ngoài ra mặt hàng thay thế cũng chưa đáp ứng ngay được nên hàng nhập khẩu chưa thể giảm ngay
Đường cong J là một đường mô tả hiện tượng cán cân vãng lai bị xấu đi trong ngắn hạn và chỉ cải thiện trong dài hạn Theo kết quả nghiên cứu của Krugman (1991), người đã tìm ra hiệu ứng đường cong J khi phân tích cuộc phá giá đô la Mỹ trong thời gian 1985 – 1987 Ban đầu cán cân vãng lai xấu đi, sau đó khoảng hai năm thì cán cân vãng lai đã được cải thiện
Hình 1: Hiệu ứng đường cong chữ J khi phá giá đồng nội tệ
1.3.2 Hệ số co giãn xuất nhập khẩu và điều kiện Marshall-Lerner
Phương pháp hệ số co giãn do hai tác giả Alfred Marshall và Abba Lerner áp dụng lần đầu và được Joan Robinson (1973), Fritz Machlup (1955) mở rộng Phương pháp này dựa trên một số giả thiết như cung và cầu hàng hóa có hệ số co giãn hoàn
TB
Thời gian Đường cán cân thương mại
0
Trang 22hảo, nghĩa là ứng với mỗi mức giá nhất định thì nhu cầu hàng hóa xuất nhập khẩu luôn được thỏa mãn Nội dung của phương pháp này chủ yếu phân tích những tác động của phá giá lên cán cân vãng lai
Cán cân thương mại
TB là cán cán thương mại; P là mức giá trong nước; X khối lượng hàng hóa nội
lượng hàng nhập khẩu
Hệ số co giãn xuất khẩu: thể hiện % thay đổi của xuất khẩu khi tỷ giá thay đổi 1%
r x
r m
r
dM E
dE M
Điều kiện Marshall-Lerner phát biểu rằng: để cho việc phá giá tiền tệ cải thiện
được cán cân thanh toán, thì giá trị tuyệt đối của tổng hai độ co giãn theo giá cả của xuất khẩu và độ co giãn theo giá cả của nhập khẩu phải lớn hơn 1, (|ɛx + ɛm| >1) Theo khảo sát thực nghiệm của Goldstein và Kahn (1985) thì tổng hệ số co giãn trong dài hạn (dài hơn hai năm) luôn lớn hơn 1, trong khi trong ngắn hạn (dưới 6 tháng) nó có xu hướng tiến gần đến 1 Nhìn chung, đa số các nhà nghiên cứu đều cho rằng hệ số co giãn xuất khẩu và hệ số co giãn nhập khẩu trong ngắn hạn nhỏ hơn trong dài hạn Đây gọi là hiệu ứng tuyến J trong mối quan hệ giữa giảm giá đồng nội tệ và cán cân thương mại Một vài thực nghiệm ở các quốc gia khác lại thấy, sau khi hiệu ứng đường cong J hình thành, tình trạng thâm hụt thương mại lại xuất hiện trở lại Trong trường hợp này người ta gọi là hiệu ứng tuyến S
1.4 Một số mặt hạn chế trong việc sử dụng REER để đo lường tác động của tỷ giá
Trang 23Trong giới hạn của đề tài nghiên cứu, tác giả chỉ đánh giá mối liên hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và thương mại Thực tế có nhiều nguyên nhân ảnh hưởng đến cán cân thương mại, chẳng hạn như dòng vốn đầu tư, chính sách thương mại, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự biến động của nền kinh tế trong ngắn hạn
Việc chọn năm cơ sở để tính REER cũng là một vấn đề cần xem xét Về mặt lý thuyết, thì năm kinh tế ở trạng thái cân bằng tức là những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô ít biến động và đạt trạng thái cân bằng trong nền kinh tế Ở Việt Nam, năm gốc thường được chọn là năm 1992, năm 2000 để tính tỷ giá hối đoái thực Bởi vì, trong
2 năm này, tình hình kinh tế vĩ mô Việt Nam và thế giới ổn định hơn so với các năm còn lại
Một điểm đáng lưu ý khác là việc chọn các đối tác thương mại và tỷ trọng trong việc tính REER đa phương Trong bài nghiên cứu, tác giả đã chọn nhóm đối tác thương mại chiếm từ 70 đến 76% kim ngạch thương mại của Việt Nam, tỷ trọng này được xem là đáng tin cậy
Kinh tế Việt Nam đang trong giai đoạn phát triển nhanh, tuy nhiên kèm theo đó là
sự thiếu ổn định Sự thay đổi trong kim ngạch xuất khẩu là do rất nhiều yếu tố tác động Trong đó có yếu tố của dòng vốn đầu tư và những chính sách khác của chính phủ Ngoài ra, sự thay đổi trong xuất nhập khẩu của Việt Nam và các đối tác thương mại khá thất thường Đáng lưu ý là trường hợp của Trung Quốc, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc ngày càng bị thâm hụt cao Tỷ trọng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc chiếm tỷ trọng lớn và tăng với tốc độ rất nhanh, trong khi đó xuất khẩu chiếm tỷ trọng thấp và gần như không được cải thiện
Như vậy, ngoài vấn đề tỷ giá còn do rất nhiều nguyên nhân khác dẫn đến thâm hụt thương mại giữa Việt Nam và một số quốc gia khác Thêm vào đó, kinh tế Việt Nam mới hòa nhập vào nền kinh tế thế giới do vậy sự thay đổi mạnh trong thương mại là một điều tất yếu của giai đoạn đầu mở cửa
1.5 Tóm lược các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại
Trang 24Trên đây, chúng ta vừa xem xét khuôn khổ lý thuyết mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại Trước khi đi vào những nghiên cứu số liệu thực tế của Việt Nam, tác giả điểm lại kết quả của một số công trình nghiên cứu và kinh nghiệm của các quốc gia trên thế giới về mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái
1.5.1 Những công trình ủng hộ điều kiện Marshall – Lerner
Những công trình tiêu biểu đầu tiên phải kể đến là nghiên cứu của một số tác giả từ trước những năm 50 của thập kỷ trước Phương pháp tiếp cận hệ số co giãn được các tác giả Bickerdike, Robinson và Metztele (MRM, 1920, 1947, 1948) nghiên cứu Sau đó, Marshall – Lerner phát triển thành điều kiện Marshall – Lerner (Marshall – Lerner Condition – MLC) Theo MLC, cán cân thương mại được cải thiện khi và chỉ khi tổng hệ số co giãn lượng xuất nhập khẩu đối với sự thay đổi về giá lớn hơn 1
Hernan Rincon (1999) xem xét mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái để kiểm tra MLC ở Colombia Kết quả thực nghiệm từ nghiên cứu này cung cấp bằng chứng thuyết phục về sự tồn tại điều kiện Marshall –Lerner
Shirvani và Wilbratte (1997), Akbostanci's (2002) và Liu, Fan và Shek (2006) cũng cho thấy điều kiện Marshall-Lerner tồn tại trong kết quả nghiên cứu của họ Shirvani và Wilbratte xem xét mối quan hệ giữa cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái thực giữa Mỹ và các nước G7 (Canada, Pháp, Đức, Ý, Nhật Bản, Anh và Hoa Kỳ) Còn Akbostanci's (2002) nghiên cứu vấn đề này ở Thổ Nhĩ Kỳ và Liu, Fan và Shek (2006) tại Hồng Kông Những công trình nghiên cứu tương tự của Onafowora (2003) về mối quan hệ tỷ giá hối đoái thực và cán thương mại giữa ba nước ASEAN là Thái Lan, Malaysia và Indonesia trong thương mại song phương của họ với Hoa Kỳ và Nhật Bản Kết quả từ các nghiên cứu này cũng phù hợp với điều kiện Marshall –Lerner
1.5.2 Một số công trình cho thấy không có quan hệ rõ ràng giữa cán cân
thương mại và tỷ giá hối đoái thực
Trang 25Bên cạnh những công trình nghiên cứu chứng minh MLC tồn tại, thì số công trình nghiên cứu khác lại chỉ ra điều kiện Marshall –Lerner không tồn tại hoặc tồn tại ở dạng yếu Cụ thể, nghiên cứu của Rose (1991) cho thấy điều kiện Marshall-Lerner không tồn tại trong 5 nước OECD với nhau (Anh, Canada, Đức, Nhật Bản, và Hoa Kỳ) Kết quả nghiên cứu đó cũng cho thấy mối quan hệ giữa các cán cân thương mại và tỷ giá hối đoái không đáng kể Do đó, phá giá nội tệ không ngụ ý rằng có thể cải thiện cán cân thương mại trong thời gian dài Nghiên cứu của Hatemi và Irandoust (2005) ở Thụy Điển cho thấy điều kiện Marshall-Lerner cũng không được đáp ứng Wilson và Kua (2001) kiểm tra trường hợp mối quan hệ giữa Singapore và Hoa Kỳ Kết quả của họ chỉ ra tỷ giá không có tác động đáng kể vào
sự cân bằng thương mại song phương giữa hai nền kinh tế này
Đối với hiệu ứng đường cong J trong cán cân thương mại, Ahmad và Yang (2004) kiểm nghiệm giả thuyết đường cong J qua việc nghiên cứu quan hệ thương mại song phương của Trung Quốc với các nước trong nhóm G-7 Hai tác giả cũng không tìm thấy bằng chứng về hiệu ứng đường cong J Một nghiên cứu đáng chú ý khác, Moffett (1989) kiểm tra bằng chứng thực nghiệm cho giá cả thương mại (giá xuất khẩu và nhập khẩu) và số lượng (số lượng xuất khẩu và nhập khẩu) của Hoa
Kỳ vào giai đoạn 1967 - 1987 để xác định khả năng tồn tại đường cong J Kết quả nghiên cứu này chỉ ra rằng, đồng đô la mất giá dẫn đến số lượng nhập khẩu giảm, nhưng đồng thời lượng xuất khẩu cũng giảm
1.5.3 Mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và phát triển kinh tế
Cottani, Cavallo và Khan (1990) đã nghiên cứu ảnh hưởng của việc ấn định sai tỷ giá hối đoái và sự phát triển kinh tế của 24 quốc gia đang phát triển trong khoảng thời gian từ năm 1960 đến 1983 Họ nhận thấy rằng, việc ấn định sai tỷ giá hối đoái
có quan hệ mạnh với mức tăng trưởng thấp của GDP trên đầu người Ngoài ra, ấn định sai tỷ giá có quan hệ với năng suất thấp, tăng trưởng xuất khẩu thấp và tăng trưởng nông nghiệp thấp
Nghiên cứu về tăng trưởng tại 12 quốc gia trong giai đoạn từ năm 1965 đến 1985
Trang 26(Edwards 1989) cũng củng cố cho các phát hiện này Nếu ấn định sai, tỷ giá hối đoái càng lớn thì tăng trưởng trong khoảng thời gian này càng thấp Ngoài ra, kết quả khác cũng được chỉ ra như các biện pháp kiểm soát tỷ giá hối đoái gây trở ngại đối với ngoại thương và quan hệ nghịch biến với tăng trưởng Trong nhiều nghiên cứu cũng có kết quả tương tự, Ghura và Grennes (1993) đã phân tích mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái thực và thành quả kinh tế vĩ mô trong 33 quốc gia châu Phi cận Sahara trong khoảng thời gian từ năm 1972 đến 1987 Nghiên cứu này cũng cho thấy việc ấn định sai tỷ giá hối đoái, hay việc định giá nội tệ quá cao, gắn liền với mức tăng trưởng thấp của GDP trên đầu người, mức đầu tư, tiết kiệm cũng thấp hơn và xuất nhập khẩu cũng ở mức thấp
1.5.4 Ảnh hưởng của tỷ giá đối với thương mại một số quốc gia
Argentina, Chile và Uruguay, tất cả đều đi theo những chính sách công nghiệp hoá
để thay thế nhập khẩu dẫn đến sự thành kiến chống lại xuất khẩu Các quốc gia này bảo hộ mậu dịch không đồng đều giữa các ngành
Cả ba quốc gia này đều trải nghiệm những cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán tái diễn thường xuyên (Corbo, de Melo, và Tybout, 1986) Cho đến đầu thập niên 70,
cả ba nền kinh tế này đều có lạm phát tăng nhanh, tình trạng thắt cổ chai trong sản xuất, tăng trưởng xuất khẩu chậm và khó khăn về cán cân thanh toán
Để phản ứng lại, họ đã thực hiện hai giai đoạn bình ổn và cải cách, một là vào giữa thập niên 70 và một là trong khoảng thời gian 1979-1982 Trong giai đoạn thứ hai,
cả ba quốc gia đều sử dụng biện pháp neo giữ tỷ giá hối đoái danh nghĩa để kìm chế lạm phát Đồng tiền trong nước lên giá, khi những nhà đầu tư và người cho vay thấy rõ những quốc gia này không thể duy trì mãi mức tỷ giá danh nghĩa được nữa, hiện tượng tháo chạy vốn bắt đầu xảy ra Sự tháo chạy này diễn ra tại cả ba nền kinh tế trước khi bắt đầu cuộc khủng hoảng nợ năm 1982
Trên đây chúng ta vừa điểm qua một số nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá hối đoái, chính sách tỷ giá và cán cân thương mại, phát triển kinh tế Kinh nghiệm ở một số quốc gia tại các khu vực khác nhau cho thấy, việc bảo vệ tỷ giá hối đoái
Trang 27không có lợi trong trung hạn Chính việc bảo hộ này làm cho thị trường “chợ đen” phát triển, giá cả hàng hóa trong nền kinh tế bị lệch lạc Ngoài ra, bằng chứng nghiên cứu ở nhiều quốc gia cũng cho thấy, tỷ giá có quan hệ nhất định đến cán cân thương mại của quốc gia đó Cuối cùng các nước thường buộc phải phá giá đồng tiền
Trang 28CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHÍNH SÁCH, DIỄN BIẾN TỶ GIÁ VÀ TÁC ĐỘNG TỶ GIÁ THỰC ĐẾN CÁN CÂN THƯƠNG MẠI CỦA VIỆT NAM
Trong phần lý thuyết ở chương 1 trình bày một số cơ sở lý thuyết liên quan đến mối quan hệ giữa tỷ giá và cán cân thương mại Chương này tác giả sẽ trình bày về thực trạng cán cân thương mại và tỷ giá ở Việt Nam Ngoài ra, tác giả cũng tóm lược các nghiên cứu về mối quan hệ tỷ giá và cán cân thương mại làm cơ sở cho những phần khuyến nghị chính sách của mình
2.1 Sự biến động và chính sách tỷ giá trong thời gian qua
Sau khi cải cách kinh tế, chính sách tỷ giá của Việt Nam được điều chỉnh linh động hơn, tuy nhiên việc điều hành tỷ giá hiện nay vẫn đang bộc lộ nhiều bất cập Năm
2009, NHNN phải sử dụng nhiều biện pháp hành chính và kể cả bán dự trữ ngoại tệ
ra thị trường để kiểm soát tỷ giá, dù vậy trên thị trường vẫn luôn xảy ra hiện tượng căng thẳng tỷ giá
Nhìn lại quá khứ, khủng hoảng tài chính Đông Á năm 1997 - 1998 buộc NHNN phải điều chỉnh tỷ giá khá mạnh Trong suốt những năm vừa qua, VND vẫn liên tục mất giá so với đồng USD Tuy vậy, có giai đoạn VND lại lên giá, gần đây nhất là cuối năm 2007 và đầu năm 2008 đã xảy ra tình trạng dư thừa USD trong nền kinh
tế Tỷ giá USD/VND về mức kịch sàn, ngân hàng dừng mua USD trên thị trường Vào nửa cuối năm 2009, sức ép về sự mất giá của tiền đồng lại tái xuất hiện Mức chênh lệch giữa thị trường chính thức và phi chính thức có thời điểm lên tới 2.000 VND/USD Tiếp theo ngày 25/11/2009, NHNN điều chỉnh tỷ giá USD/VND lên gần 1.000 VND/USD Sự thay đổi chính sách tương đối đột ngột này đã để lại tác động khá mạnh đến tâm lý và lòng tin của người dân Điều này một lần nữa đặt ra vấn đề là cần phải có những chính sách điều hành tỷ giá một cách linh hoạt hơn Ngày 10/02/2010, NHNN điều chỉnh tỷ giá USD/VND liên ngân hàng tăng thêm 3,3%, hiện nay tỷ giá liên ngân hàng đang ở mức 18.544 VND/USD Tỷ giá giao dịch chính thức trên thị trường quanh mức 19.100 VND/USD Ngay sau đó, tỷ giá