1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa – bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP.HCM

138 40 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 138
Dung lượng 1,65 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước 1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài: Theo Onuorah, Anastasia

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-0o0 -

ĐẶNG THỊ KIỀU HOA

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BCTC CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-0o0 -

ĐẶNG THỊ KIỀU HOA

CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BCTC CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA – BẰNG CHỨNG THỰC NGHIỆM TẠI CÁC DOANH NGHIỆP

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ VĂN NHỊ

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Đề tài nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của

doanh nghiệp nhỏ và vừa- Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ

và vừa trên địa bàn TPHCM” do chính tác giả thực hiện, các kết quả nghiên cứu

chính trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác Tất cả những phần kế thừa, tham khảo cũng như tham chiếu đều được trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong danh mục tài liệu tham khảo

Thành phố Hồ Chí Minh, Tháng 12 năm 2016

Tác giả

Đặng Thị Kiều Hoa

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Vấn đề nghiên cứu 2

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu 3

2.1 Câu hỏi nghiên cứu 3

2.2 Mục tiêu nghiên cứu: 3

2.2.1 Mục tiêu tổng quát: 3

2.2.2 Mục tiêu cụ thể: 3

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 4

3.1 Đối tượng nghiên cứu: 4

3.2 Phạm vi nghiên cứu: 4

4 Phương pháp nghiên cứu 4

4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính: 4

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng: 4

5 Đóng góp mới của đề tài 4

6 Kết cấu luận văn 5

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG BÁO CÁO TÀI CHÍNH 6

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước 6

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài: 6

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 10

1.2 Nhận xét tổng quan kết quả các nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu: 21

1.2.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu: 21

1.2.2 Khe hổng nghiên cứu: 22

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 24

Trang 5

2.2 Báo cáo tài chính và đặc điểm của BCTC trong DNNVV 25

2.2.1 Báo cáo tài chính 25

2.2.2 Đặc điểm BCTC áp dụng cho DNNVV 27

2.3 Chất lượng BCTC 30

2.3.1 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu 30

2.3.2 Theo Quan điểm của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán Tài chính Mỹ (FASB) 33

2.3.3 Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB) 34

2.3.4 Theo quan điểm hội tụ FASB và IASB 35

2.3.5 Theo quan điểm của chuẩn mực kế toán Việt Nam 01 (VAS 01) 36

2.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC: 37

2.4.1 Quyết định của nhà quản trị 38

2.4.2 Quy mô công ty 38

2.4.3 Quy định về thuế: 39

2.4.4 Người lập BCTC 41

2.4.5 Tổ chức kiểm toán 42

2.4.6 Các quy định pháp lý về kế toán 43

2.5 Các lý thuyết nền có liên quan 44

2.5.1 Lý thuyết thông tin bất cân xứng (Asymmetric information) 44

2.5.2 Lý thuyết chi phí ủy nhiệm (Agency theory) 45

2.5.3 Lý thuyết tín hiệu (Signaling theory) 46

CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 49

3.1 Quy trình nghiên cứu 49

3.2 Mô hình và giả thuyết nghiên cứu 50

3.2.1 Mô hình nghiên cứu 50

3.2.2 Các giả thuyết nghiên cứu 50

3.3 Thiết kế nghiên cứu 50

3.3.1 Phương pháp nghiên cứu định tính 50

3.3.2 Thiết kế nghiên cứu định lượng 51

3.3.2.1 Xây dựng thanh đo 51

3.3.2.2 Mẫu nghiên cứu: 54

3.3.2.3 Đối tượng và phạm vi khảo sát: 55

3.3.2.4 Phân tích dữ liệu : 55

Trang 6

4.1 Nghiên cứu định tính 59

4.2 Nghiên cứu định lượng 60

4.2.1 Thống kê mô tả mẫu khảo sát 60

4.2.2 Phân tích hệ số Cronbach’s alpha 62

4.2.3 Phân tích khám phá nhân tố 69

4.2.3.1 Phân tích khám phá thang đo các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC 70

4.2.3.2 Phân tích khám phá thang đo chất lượng BCTC 71

4.2.4 Phân tích hồi quy 75

4.2.4.1 Phân tích tương quan 75

4.2.4.2 Phân tích hồi quy 75

4.2.4.3 Kiểm định sự phù hợp của mô hình và hiện tượng đa cộng tuyến 77

4.2.4.4 Phương trình hồi quy tuyến tính bội 78

4.3 Bàn luận kết quả nghiên cứu 78

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 86

5.1 Kết luận 86

5.2 Một số kiến nghị 86

5.2.1 Đối với nhân tố các quy định pháp lý về kế toán 87

5.2.2 Đối với nhân tố người lập BCTC 88

5.2.3 Đối với nhân tố quy mô doanh nghiệp 89

5.2.4 Đối với nhân tố quy định về thuế 90

5.3 Hạn chế của đề tài 92

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BCTC: Báo cáo tài chính

BCĐKT: Bảng cân đối kế toán

BCKQHDKD: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh

BCLCTT: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ

BKS: Ban kiểm soát

CLTT: Chất lượng thông tin

CEO: Giám đốc điều hành

CLTT: Chất lượng thông tin

CLTTKT: Chất lượng thông tin kế toán

DN: Doanh nghiệp

DNNVV: Doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNY: Doanh nghiệp niêm yết

FASB: Hội đồng chuẩn mực kế toán tài chính Hoa Kỳ

HĐQT: Hội đồng quản trị

HoSE: Sở giao dịch chứng khoán TPHCM

HNX: Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HTTTKT: Hệ thống thông tin kế toán

BKS: Ban kiểm soát

KTNB: Kiểm tra nội bộ

Trang 8

VAS: Chuẩn mực kế toán Việt Nam

VN: Việt Nam

Trang 9

Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các công trình nghiên cứu nước ngoài 8

Bảng 1.2: Bảng tóm tắt các nghiên cứu trong nước 16

Bảng 2.1 Quy định về doanh nghiệp vừa và nhỏ 25

Bảng 2.2 Bảng tổng kết các nhân tố tác động đến chất lượng BCTC từ cơ sở lý thuyết 47

Bảng 3.1 Mã hóa các thang đo 52

Bảng 4.1 Thống kê mẫu nghiên cứu 60

Bảng 4.2: Ma trận xoay nhân tố 70

Bảng 4.3 Kết quả phân tích nhân tố 72

Bảng 4.4: Diễn giải các biến quan sát sau khi xoay nhân tố 72

Hình 4.5 Ma trận tương quan giữa các nhân tố 75

Bảng 4.6 Kết quả phân tích hồi qui bội 75 Bảng 4.7: Model Summary 77 Bảng 4.8 ANOVAa 77

Trang 10

Hình 3.1 Khung nghiên cứu của luận văn 49 Hình 3.2 Mô hình nghiên cứu 50

Trang 11

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa là loại hình doanh nghiệp chiếm đa số và chủ yếu trong nền kinh tế Theo đó, loại hình doanh nghiệp này đóng vai trò quan trọng trong xã hội, nhất là tạo việc làm, tăng thu nhập cho người lao động, giúp huy động các nguồn lực xã hội cho đầu tư phát triển, xóa đói giảm nghèo… Cụ thể, về lao động, hàng năm tạo thêm trên nửa triệu lao động mới; sử dụng tới 51% lao động xã hội và đóng góp hơn 40% GDP Số tiền thuế

và phí mà các doanh nghiệp nhỏ và vừa tư nhân đã nộp cho Nhà nước đã tăng 18,4 lần sau 10 năm Sự đóng góp đã hỗ trợ lớn cho việc chi tiêu vào các công tác xã hội

và các chương trình phát triển khác Do vậy, đã tạo ra 40% cơ hội cho dân cư tham gia đầu tư có hiệu quả nhất trong việc huy động các khoản tiền đang phân tán, nằm trong dân cư, để hình thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất, kinh doanh (Tô Hoài Nam, 2014)

Để các doanh nghiệp này phát triển thì việc tạo ra một BCTC có chất lượng

là điều hết sức cần thiết đối với doanh nghiệp Một BCTC có chất lượng sẽ là một công cụ hữu ích cho việc đánh giá so sánh giữa các doanh nghiệp, so sánh doanh nghiệp qua từng thời kỳ, đánh giá giá trị hiện trạng của các doanh nghiệp, là cơ sở cung cấp thông tin đáng tin cậy cho những người sử dụng BCTC hiểu được các con

số và các chỉ số tài chính để hỗ trợ cho việc ra quyết định tốt hơn khi thực hiện đánh giá phân tích

Nghiên cứu này nhằm tìm ra các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng một BCTC, từ đó làm cơ sở cho phòng kế toán ở các doanh nghiệp lập được một BCTC

có chất lượng, thông tin đáng tin cậy, giúp cho các DNVVN tạo niềm tin với nhà đầu tư nhằm tiếp cận nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng được thuận lợi hơn hoặc các chủ thể khác có liên quan Đồng thời, nghiên cứu cũng giúp người sử dụng BCTC có cơ sở lý luận khi xoét đoán BCTC cho quyết định của mình

Trang 12

1 Vấn đề nghiên cứu

Trong những năm qua BCTC trong các doanh nghệp Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo chiều hướng tích cực dưới sự nỗ lực không ngừng của Bộ Tài Chính Tuy nhiên thực tế hiện nay, hệ thống BCTC doanh nghiệp áp dụng trong các loại hình doanh nghiệp vẫn còn nhiều tồn tại chưa thật sự phù hợp, nhất là các DNNVV BCTC là các chứng từ cần thiết trong kinh doanh BCTC là văn bản cuối cùng tổng kết lại 1 năm hoạt động của doanh nghiệp Do đó, BCTC cuối năm có ý nghĩa vô cùng quan trọng với doanh nghiệp Thông tin tài chính của các công ty được rất nhiều đối tượng quan tâm sử dụng Mục tiêu của BCTC là cung cấp thông tin hữu ích cho người sử dụng, dựa vào sự đảm bảo các tính chất phù hợp, đáng tin cậy, có thể so sánh được và có thể hiểu của thông tin, phản ảnh kịp thời các nghiệp vụ kinh

tế phát sinh Tuy nhiên, quá trình thu thập, xử lý và cung cấp thông tin bị tác động bởi nhiều nhân tố mang tính chủ quan và khách quan vô tình đã làm cho các tính chất trên không được đảm bảo, dẫn đến sự suy giảm tính hữu ích của thông tin trên BCTC Khi đó, các hoạt động kinh tế sẽ phải được quyết định dựa trên những nguồn thông khác bên ngoài BCTC như thông tin từ báo chí, tin đồn, nội bộ, hay thậm chí chỉ là một sự xoét đoán chủ quan dựa trên kinh nghiệm thực tiễn của cá nhân người

sử dụng mà ít khi có được sự đảm bảo về các tính chất đáng tin cậy, trung thực, trung lập, vv…, những đặc tính vốn có của thông tin trên BCTC Lúc đó nền kinh

tế sẽ chứa đựng nguy cơ về sự mất ổn định, hoạt động kém hiệu quả, khó kiểm soát

do những hành vi gian lận, trong khi đó số đông các doanh nghiệp và các chủ thể khác của nền kinh tế sẽ gặp khó khăn khi không có những thông tin phù hợp và đáng tin cậy làm phương tiện bảo vệ và mang lại lợi ích thực sự cho mình và cộng đồng Vì vậy nâng cao chất lượng thông tin trên BCTC sẽ giúp người sử dụng ra quyết định thích hợp và chính xác Đây là điều kiện tiên quyết nhằm đảm bảo lợi ích tối thiểu cho người sử dụng BCTC Các nhà quản lý sử dụng chúng để đánh giá khái quát và toàn diện các hoạt động của doanh nghiệp, thấy rõ điểm mạnh, điểm yếu và tiềm năng tương lai Các cổ đông sử dụng chúng để theo dõi tình hình vốn

Trang 13

đầu tư của mình đang được quản lý như thế nào Các nhà đầu tư bên ngoài dùng chúng để xác định cơ hội đầu tư Còn người cho vay và nhà cung ứng lại thường xuyên kiểm tra BCTC để xác định khả năng thanh toán của những công ty mà họ đang giao dịch (Tài chính dành cho người quản lý- First News và NXB Tổng hợp TPHCM) Để lập được một BCTC có chất lượng thì người lập báo cáo cần nhận biết được các nhân tố tác động đến BCTC nhằm xây dựng được hệ thống kế toán chuyên nghiệp và phù hợp cho từng đặc điểm doanh nghiệp, thu thập dữ liệu phù hợp, đáng tin cậy, phù hợp, kịp thời

Từ các vấn đề nêu trên hình thành bài nghiên cứu: “Các nhân tố ảnh hưởng

đến chất lượng BCTC của doanh nghiệp nhỏ và vừa- Bằng chứng thực nghiệm tại các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TPHCM”

2 Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Câu hỏi nghiên cứu

Có ba câu hỏi nghiên cứu như sau:

(1) Các nhân tố nào ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV tại

Tp HCM?

(2) Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố này như thế nào?

(3) Những giải pháp nào cần được áp dụng để nâng cao chất lượng một BCTC?

2.2 Mục tiêu nghiên cứu:

2.2.1 Mục tiêu tổng quát:

Mục tiêu tổng quát của luận văn là tập trung vào nhận diện và xác định mức

độ tác động các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV tại TPHCM, qua đó luận văn đưa ra những kiến nghị đề xuất nhằm năng cao chất lượng BCTC để đáp ứng tốt nhất nhu cầu thông tin của người sử dụng BCTC

2.2.2 Mục tiêu cụ thể:

Nghiên cứu có ba mục tiêu sau:

Trang 14

(1) Xác định và phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV tại TpHCM

(2) Nghiên cứu mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng BCTC của các DNNVV tại TPHCM

(3) Gợi ý một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng BCTC ở các DNNVV tại TPHCM

3 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu:

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các DNNVV

3.2 Phạm vi nghiên cứu:

Các DNNVV trên địa bàn Thành Phố Hồ Chí Minh

4 Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng

để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính ở các công ty vừa và nhỏ tại TPHCM

4.1 Phương pháp nghiên cứu định tính:

Phỏng vấn, thảo luận với chuyên gia nhằm lực chọn các thước đo chất lượng thông tin trình bày trên BCTC phù hợp, cũng như thảo luận nghiên cứu sâu

về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC

4.2 Phương pháp nghiên cứu định lượng:

Thiết kế bảng câu hỏi, khảo sát và thu thập dữ liệu Sử dụng phần mềm SPSS

để tiến hành phân tích dữ liệu: đánh giá độ tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố EFA, phân tích hồi quy bội để đánh giá sự tác động của các nhân tố đến chất lượng BCTC của các DNNVV tại TPHCM

5 Đóng góp mới của đề tài

Đa số các nghiên cứu hiện nay trên thế giới và trong nước đều tập trung vào nghiên cứu đo lường các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng thông tin, tính minh

Trang 15

mạch thông tin trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết, các doanh nghiệp lớn, hoặc nghiên cứu đến các DNNVV như Nguyễn Thành Trung (2015), Trần Đình Khôi Nguyên (2010) Tuy nhiên, các nghiên cứu này chưa tập trung xác định các nhân tố bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng BCTC Do vậy, đóng góp mới của đề tài, là xác định các nhân tố cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC của các DNNVV và đánh giá đo lường mức độ tác động của các nhân tố đó Từ đó, nghiên cứu sẽ tìm

ra giải pháp giúp nâng cao chất lượng BCTC của DNVVN Từ đó, cũng giúp người

sử dụng BCTC gia tăng sự tin cậy và hữu ích hơn Đồng thời, giúp nâng cao tính trung thực, chính xác của BCTC đối với cơ quan nhà nước

6 Kết cấu luận văn

Phần mở đầu: Vấn đề nghiên cứu

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC

Chương 2: Cở sở lý thuyết

Chương 3: Phương pháp nghiên cứu

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

Chương 5: Kết luận và kiến nghị

Trang 16

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CÁC NGHIÊN CỨU CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG

BÁO CÁO TÀI CHÍNH

1.1 Tổng quan các nghiên cứu trước

1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài:

Theo Onuorah, Anastasia Chi-Chi (2015), nghiên cứu về quản trị doanh nghiệp và chất lượng báo cáo tài chính tại các công ty ở Nigeria thì cho thấy rằng trong ngắn hạn, mục tiêu quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng của các báo cáo tài chính giữa các doanh nghiệp tại Nigeria

Tác giả Hassan (2013) nghiên cứu về chất lượng báo cáo tài chính, vấn đề đặc điểm giám sát, phân tích thực nghiệm ở các DN sản xuất tại Nigeria, nghiên cứu này xem xét tác động của các đặc điểm giám sát (tách rời quyền lực của hội đồng quản trị và cơ quan kiểm toán độc lập) về chất lượng báo cáo tài chính của các công

ty niêm yết ở Nigeria Nghiên cứu này chỉ rõ chất lượng BCTC của các công ty ở Nigeria có khả năng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm giám sát của họ

Theo tác giả Albert and Serban (2012), nghiên cứu tại các DNNVV ở Roma, kết quả cho thấy kiểm toán độc lập có tầm quan trọng đặc biệt đối với độ tin cậy của BCTC do DNNVV cung cấp, nâng cao niềm tin của người sử dụng BCTC khi đưa

ra quyết định

Trong nghiên cứu của Muhamad và cộng sự (2009) về chất lượng thông tin công bố tại 159 công ty niêm yết ở Malaysia thì các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin công bố bao gồm: HĐQT, ban kiểm soát, kiểm toán độc lập, quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhân tố quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp và đòn bẩy tài chính có tác động đến chất lượng thông tin công bố

Theo Stainbank (2008), nghiên cứu về tác động của IFRS đến BCTC của các DNNVV ở Nam Phi, kết quả nghiên cứu cho thấy các doanh nghiệp sẽ được hỗ trợ,

Trang 17

thu hút nguồn vốn tốt nhất khi lập BCTC tuân thủ theo chuẩn mực của IFRS Nghiên cứu chỉ ra rằng, việc thực hiện công tác kế toán tuân thủ theo đúng chuẩn mực sẽ giúp người sử dụng có niềm tin hơn với BCTC của DNNVV

Trong nghiên cứu của Jara and Ebrero (2007) về ảnh hưởng của chuẩn mực BCTC quốc tế về chất lượng thông tin tài chính thì phân tích chất lượng thông tin tài chính trong việc sử dụng các tỷ số tài chính, đồng thời phân tích sự ảnh hưởng của các nhân tố đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC Kết quả nghiên cứu cho thấy, tỷ suất sinh lời, tỷ suất hoạt động, cơ cấu tổ chức và người lao động có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC

Theo Soderstrom & Sun (2007) nghiên cứu về áp dụng và chất lượng kế toán tại Châu Âu thì chất lượng thông tin kế toán trên BCTC khi áp dụng IFRS bị ảnh hưởng bởi các yếu tố như: chuẩn mực kế toán, hệ thống pháp luật và chính trị của một quốc gia, động cơ báo báo tài chính Nghiên cứu này chỉ ra rằng, yếu tố hệ thống pháp luật và chính trị của một nước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCTC

Hongjiang Xu (2003)nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng

hệ thống thông tin kế toán đã tiến hành nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng thông tin (AIS) BCTC trong các DN tại Australia Kết quả nghiên cứu cho thấy các nhóm nhân tố liên quan như: nhân tố con người (đào tạo và huấn luyện nhân viên), hệ thống kiểm soát, doanh nghiệp (quy mô doanh nghiệp, văn hóa doanh nghiệp) và nhân tố bên ngoài (sự thay đổi công nghệ, thay đổi pháp lý, các quy định của chính phủ) thực sự có tác động đến chất lượng thông tin BCTC

Tác giả Heidi (2001) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC đã chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng một BCTC bao gồm: quyết định của nhà quản trị (như quyết định về chính sách kế toán áp dụng), cơ chế quản lý bên ngoài (như chất lượng kiểm toán, chính phủ ), cơ chế quản trị nội bộ, các quy định về BCTC, nhu cầu và mục đích của người sử dụng báo cáo (chủ sở hữu, nhà đầu tư, vay nợ ngân hàng, nhà cung cấp, nhân viên, khách hàng ) Nghiên cứu chỉ rõ, có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC bao gồm

Trang 18

nhân tố bên trong (quyết định của nhà quản trị, người lập BCTC) và nhân tố bên ngoài (tổ chức kiểm toán, quy định của chính phủ)

Bảng 1.1: Bảng tóm tắt các công trình nghiên cứu nước ngoài

Trong ngắn hạn, mục tiêu quản trị doanh nghiệp và chất lượng kiểm toán ảnh hưởng đến chất lượng của các báo cáo tài chính giữa các doanh nghiệp Hassan 2013 Financial Reporting

Quality, Does Monitoring Characteristics Matter?

An Empirical Analysis of Nigerian Manufacturing Sector

Chất lượng BCTC của các công ty ở Nigeria có khả năng bị ảnh hưởng bởi đặc điểm giám sát của họ

Albert and

Serban

2012 Small and medium

auditing entities: Specific and outlock

Kiểm toán độc lập có tầm quan trọng đặc biệt đối với độ tin cậy của BCTC do DNNVV cung cấp, nâng cao niềm tin của người sử dụng BCTC khi đưa ra quyết định

Trang 19

Muhamad

và cộng sự

2009 Disclosure Quality on

Governance Issue in Annual Reports of Malaysia PLCs

Nhân tố quy mô doanh nghiệp, ngành công nghiệp và đòn bẩy tài chính có tác động đến chất lượng thông tin công bố

Stainbank 2008 The development of

financial reporting for smes in south Africa:

implications of recent and impending changes

Việc thực hiện công tác

kế toán tuân thủ theo đúng chuẩn mực sẽ giúp người sử dụng có niềm tin hơn với BCTC của DNNVV

Jara and

Ebrero

2007 Effect of international

financial reporting standards on financial information quality

Tỷ suất sinh lời, tỷ suất hoạt động, cơ cấu tổ chức và người lao động

có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC

Soderstro

m & Sun

2007 IFRS Adoption and

Accouting Quality: A Review.European Accouting Review

Yếu tố hệ thống pháp luật và và chính trị của một nước có ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng BCTC

Hongjiang

Xu

2003 Critical success factors

for accounting information systems data quality

Nhân tố con người, hệ thống kiểm soát , doanh nghiệp, nhân tố bên ngoài có tác động đến

Trang 20

chất lượng thông tin BCTC

Heidi 2001 What factors influence

financial statement quality? A framework and some empirical evidence

Có 2 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC bao gồm nhân

tố bên trong ( quyết định của nhà quản trị, người lập BCTC) và nhân tố bên ngoài ( tổ chức kiểm toán, quy định của chính phủ)

1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam hiện nay chưa có nghiên cứu chính thống nào về các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính của công ty vừa và nhỏ Tuy nhiên, có khá nhiều nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo tài chính nói chung

Theo nghiên cứu Nguyễn Xuân Hưng & Phạm Quốc Thuần (2016) nghiên cứu về tác động của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến tính thích đáng của chất lượng thông tin kế toán trên BCTC Dựa trên kết quả nghiên cứu định tính, tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm có 4 nhân tố bên ngoài tác động đến tính thích đáng của chất lượng BCTC bao gồm: áp lực từ thuế, niêm yết chứng khoán, kiểm toán độc lập và chất lượng phần mềm kế toán Kết quả nghiên cứu cho thấy

có 3 nhân tố tác động đến thuộc tính tính thích đáng của CLTT BCTC trong các

DN Việt Nam, trong đó nhân tố áp lực từ thuế là tác động mạnh nhất với 0.373, kế tiếp là kiểm toán độc lập, và chất lượng PMKT xếp ở vị trí cuối cùng Với hệ số R2 đã diều chỉnh=0.324 Nghiên cứu giúp khẳng định tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến thuộc tính tính chính đáng của CLTT

Trang 21

beta=-BCTC khi nó giải thích được đến 32.4% biến thiên của CLTT beta=-BCTC xét trên khía cạnh tính chính đáng

Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Trung (2016) về đo lường mức độ tác động của các nhân tố thông tin trình bày trên BCTC của các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở TPHCM Tác giả đưa vào nghiên cứu các nhân tố: hệ thống chứng từ kế toán,

hệ thống tài khoản kế toán, hình thức sổ sách kế toán, thuế, nhà quản lý, mục tiêu lập BCTC, bộ máy kế toán Kết quả nghiên cứu cho thấy cả 7 nhân tố đều ảnh hưởng cùng chiều với chất lượng thông tin kế toán trình bày trên báo cáo tài chính

Theo nghiên cứu của Trương Thị Kim Thủy (2016) về ảnh hưởng của quản trị công ty đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của các doanh nghiệp niêm yết trên sàn chứng khoán TPHCM Qua nghiên cứu định tính và tổng quan từ các nghiên cứu trong và ngoài nước, tác giả đưa vào nghiên cứu các nhân tố có ảnh hưởng đến CLTTKT trên BCTC như sau: kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO, tỷ lệ thành viên HĐQT độc lập, quy mô HĐQT ( số lượng thành viên HĐQT),

tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn kế toán, tỷ lệ cổ phần của ban giám đốc, tỷ lệ

cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, tỷ lệ cổ phần của nhà nước Kết quả nghiên cứu cho thấy việc kiêm nhiệm chức vụ chủ tịch HĐQT và CEO làm giảm chất lượng thông tin kế toán trên BCTC, tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc cấp cao giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên BCTC

Nghiên cứu của Lê Thị Mỹ Hạnh (2015) về minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam đề cập đến việc kiểm soát sự minh bạch thông tin tài chính công bố của các công ty niêm yết tại Việt Nam Thông qua kết quả kiểm định mô hình hồi quy cho thấy các nhân tố phản ánh đặc điểm và quản trị công ty như: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Nguyên (2015) về tác động của quản trị công ty đến chất lượng thông tin BCTC tại các công ty niêm yết ở Việt Nam Kết

Trang 22

quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ thành viên HĐQT trong tổng số HĐQT càng cao giúp cho thông tin BCTC có chất lượng hơn, sự hiện diện thành viên HĐQTĐL có kiến thức và kinh nghiệm về kế toán tài chính có tác động tích cực đến chất lượng thông tin BCTC, doanh nghiệp có cuộc họp HĐQT càng nhiều thì chất lượng thông tin BCTC càng cao, tỷ lệ thành viên BKS có chuyên môn kế toán tài chính trong BKS càng cao thì chất lượng thông tin BCTC càng cao, sự hiện diện bộ phận kiểm toán nội bộ có liên quan tích cực đến chất lượng thông tin BCTC

Theo nghiên cứu của Cao Nguyễn Lệ Thu (2014) về đánh giá các nhân tố bên trong doanh nghiệp tác động đến CLTTKT trên BCTC của các DN niêm yết ở

Sở giao dịch chứng khoán TPHCM Từ các nghiên cứu có liên quan đến nhân tố bên trong và bên ngoài tác động đến CLTTKT, tác giả kế thừa các nhân tố bên trong DN của các nghiên cứu trước bao gồm các nhân tố về đặc điểm DN, đặc điểm tài chính gồm 10 nhân tố: Quy mô DN, thời gian hoạt động, tính kiêm nhiệm 2 chức danh chủ tịch và tổng giám đốc, tỷ lệ thành viên độc lập trong HĐQT, quy mô HĐQT, tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), tồn tại Ban Kiểm Soát HĐQT, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, tỷ lệ tài sản cố định Đồng thời tác giả bổ sung thêm 1 nhân tố kết cấu vốn nhà nước vào mô hình nghiên cứu Kết quả

từ mô hình hồi quy tuyến tính bội cho thấy CLTTKT trên BCTC của DNNY trên SGDCK TPHCM bị ảnh hưởng bởi 3 nhân tố: quy mô DN, tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hành của DN (tỷ lệ thành viên độc lập), kết cấu vốn của nhà nước

Tác giả Nguyễn Thị Phương Hồng (2014) nghiên cứu về các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo tài chính của công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán tại Việt Nam Dựa vào các nghiên cứu trước đây có liên quan và kết quả của nghiên cứu định tính, tác giả đã xây dựng mô hình nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC bao gồm biến phụ thuộc và 23 biến độc lập (nhân tố)

và chia làm 5 nhóm nhân tố, bao gồm: (1) Nhóm nhân tố liên quan cơ cấu sở hữu gồm quyền sở hữu vốn của nước ngoài, quyền sở hữu vốn của nhà nước, quyền sở hữu vốn của tổ chức, quyền sở hữu vốn của nhà quản lý và sự tập trung quyền sở

Trang 23

hữu, (2) Nhóm nhân tố liên quan QTCT gồm HĐQT, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ thường xuyên của các cuộc họp của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng, (3)nhóm nhân tố liên quan cơ cấu vốn gồm đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, (4) nhóm nhân tố liên quan đến đặc điểm thị trường gồm quy mô công

ty, tuổi công ty, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC, loại hình công nghiệp và (5) nhóm nhân tố liên quan hiệu quả công ty gồm lợi nhuận, triển vọng phát triển và chính sách chia cổ tức Kết quả nghiên cứu cho thấy có tổng số 17 nhân tố có tác động đến chất lượng BCTC bao gồm : quyền sở hữu vốn bởi nước ngoài, quyền sở hữu vốn bởi tổ chức, sự kiêm nhiệm của chủ tịch HĐQT và TGĐ, tính độc lập của HĐQT, mức độ chuyên môn tài chính của HĐQT, sự tồn tại kế hoạch thưởng, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành, quy mô công ty, thời gian niêm yết, tình trạng niêm yết, loại công

ty kiểm toán, tính trì hoãn của BCTC, loại hình công nghiệp, lợi nhuận (ROE), triển vọng phát triển và chính sách chia cổ tức

Theo nghiên cứu của Trần Thị Nguyệt Nga (2014) về đo lường các nhân tố bên trong công ty ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam tác giả đưa vào nghiên cứu các nhân tố: quy mô công ty, độ tuổi công ty, tỷ

lệ vốn nước ngoài, kết cấu vốn nhà nước, sự tách biệt chức danh chủ tịch HĐQT

và Tổng giám đốc, tỷ lệ thành viên độc lập, tuổi của CEO, tỷ lệ nữ giới trong ban điều hành (ban giám đốc), khả năng sinh lời, đòn bẩy tài chính, khả năng thanh toán hiện hành Kết quả nghiên cứu có bốn nhân tố tác động cùng chiều với CLTTKT trên BCTC, đó là quy mô công ty, tỷ lệ vốn nước ngoài, tỷ lệ thành viên nữ trong ban điều hành, lợi nhuận, trong đó yếu tố quy mô công ty là tác động mạnh nhất

Theo nghiên cứu của Phan Minh Nguyệt (2014) về xác định đo lường mức

độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết ở VN Bài nghiên cứu đưa vào tìm hiểu đo lường và kiểm định 7 nhân tố: nhà quản trị, lợi ích và chi phí, lập và trình bày BCTC, trình độ nhân viên kế toán,

Trang 24

mục đích lập BCTC, thuế và rủi ro kiểm toán Kết quả bài nghiên cứu cho thấy có

5 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến CLTTKT trên BCTC: rủi ro kiểm toán, nhà quản trị DN, việc lập và trình bày BCTC, thuế, lợi ích và chi phí

Theo nghiên cứu của Đào Ngọc Hạnh (2014) về đánh giá các nhân tố ảnh hưởng chất lượng hệ thống thông tin kế toán tại các doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn TPHCM Tác giả đưa ra mô hình hồi quy gồm biến phụ thuộc là CLTTKT

và 8 biến độc lập là cam kết của nhà quản lý, kiến thức về sử dụng công nghệ hệ thống thông tin kế toán của nhà quản lý, kiến thức về kế toán của nhà quản lý, hiệu quả của phần mềm và quy trình ứng dụng kế toán, chất lượng dữ liệu, hiệu quả tham gia của nhân viên, huấn luyện của nhân viên, huấn luyện và đào tạo, môi trường văn hóa DN Qua phân tích các bước phân tích như: kiểm định độ tin cậy Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố EFA, phân tích tương quan hệ số Pearson, phân tích hồi quy từ dữ liệu thu thập thực tế tại 200 DNNVV trên địa bàn TPHCM, tác giả đã chỉ ra 3 nhân tố tác động đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán bao gồm: tham gia của nhân viên, kiến thức sử dụng công nghệ HTTTKT của nhà quản

lý, và cam kết của nhà quản lý, trong đó nhân tố mạnh nhất là tham gia của nhân viên

Theo Võ Văn Nhị và Trần Thanh Hải (2013) về vấn đề giải pháp nâng cao chất lượng BCTC cho DNNVV ở VN thì kết quả nghiên cứu đã đưa ra được các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của DNNVV như: công tác tổ chức quản

lý, người làm công tác kế toán, khung pháp lý về kế toán, đối tượng sử dụng thông tin và nhu cầu thông tin Nghiên cứu cho thấy hiện nay công tác kế toán tại DNNVV còn nhiều yếu kém, kế toán chỉ đơn giản là người ghi chép các nghiệp vụ phát sinh chứ không thực hiện công việc phân tích và kiểm tra tính hiệu quả của doanh nghiệp Chính việc yếu kém trong công tác kế toán, yếu kém trong công tác quản

lý của người chủ doanh nghiệp đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng BCTC

Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2013) trong đề tài nghiên cứu về công tác kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở trên địa bàn tình Bình Định, nghiên cứu cho

Trang 25

thấy mục tiêu hiện nay mà DNNVV quan tâm đó là kê khai các loại thuế, tối thiểu hóa chi phí của doanh nghiệp, còn mục tiêu cung cấp thông tin cho người sử dụng không được quan tâm Nghiên cứu chỉ phân tích công tác kế toán của doanh nghiệp, chưa đi vào phân tích mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đối với công tác kế toán

và thông tin kế toán trên BCTC

Võ Văn Nhị và cộng sự (2011) trong đề tài nghiên cứu cấp bộ về các quy định pháp lý về kế toán và công tác kế toán của doanh nghiệp Việt Nam đã phân tích

và đánh giá thực trạng các quy định pháp lý về kế toán áp dụng cho DN Việt Nam như: luật kế toán, chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán, đánh gía tình hình tổ chức công tác kế toán tại các DN Việt Nam Từ đó đưa ra các nguyên nhân tồn tại về các yếu kém của hệ thống pháp lý về kế toán cũng như công tác kế toán tại DN Tác giả cũng chỉ ra rằng, để nâng cao chất lượng thông tin kế toán, cần nâng cao chất lượng hệ thống pháp lý, nâng cao chất lượng công tác kế toán tại DN

Nghiên cứu của Phạm Ngọc Toàn (2008) về xây dựng nội dung và tổ chức

kế toán quản trị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam, kết quả nghiên cứu cho thấy kế toán quản trị là một bộ phận của kế toán thực hiện chức năng cung cấp thông tin phục vụ cho nhà quản trị ra quyết định điều hành DN Vì vậy, cần xây dung công tác KTQT hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán của doanh nghiệp

Nghiên cứu của Nguyễn Phúc Sinh (2008) về nâng cao tính hữu dụng của báo cáo tài chính doanh nghiệp Việt Nam trong giai đoạn hiện nay đã tiếp cận các luận điểm về hệ thống BCTC doanh nghiệp của IASB, FASB nhằm đưa ra giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống BCTC

Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Huyền Trâm (2007) về tổ chức công tác

kế toán trong các DNNVV ở Việt Nam, thì các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kế toán của DNVVN, từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC bao gồm: người sử dụng và thông tin cần thiết, các quy định pháp lý, hệ thống kiểm soát nội

Trang 26

bộ, yêu cầu và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, các dịch vụ tài chính kế toán

Như vậy các nhà nghiên cứu Việt Nam cũng bắt đầu quan tâm đến chất lượng báo cáo tài chính và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC

Bảng 1.2: Bảng tóm tắt các nghiên cứu trong nước

Tên tác giả

Năm phát hành

Tên công trình Nội dung/Kết quả

Nghiên cứu giúp khẳng định tầm quan trọng của các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp đến thuộc tính tính chính đáng của CLTT BCTC

Phạm Thanh

Trung

2016 Đo lường mức độ

tác động của các nhân tố đến thông tin trình bày trên BCTC của các DNNVV ở TPHCM

7 nhân tố bên trong doanh nghiệp bao gồm:

hệ thống chứng từ kế toán, hệ thống tài khoản

kế toán, hình thức sổ sách kế toán, thuế, nhà quản lý, mục tiêu lập BCTC, bộ máy kế toán đều ảnh hưởng cùng chiều với chất lượng thông tin kế toán trình bày trên BCTC

Trang 27

đến chất lượng thông tin kế toán trên BCTC của các

DN niêm yết trên sàn chứng khoán TPHCM

chủ tịch HĐQT và CEO làm giảm chất lượng thông tin kế toán trên BCTC, tỷ lệ sở hữu cổ phần của ban giám đốc cấp cao giúp nâng cao chất lượng thông tin kế toán trên BCTC

Lê Thị Mỹ Hạnh 2015 Minh bạch thông

tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy các nhân tố phản ánh đặc điểm và quản trị công ty như: đòn bẩy tài chính, lợi nhuận, công ty kiểm toán và cơ cấu HĐQT ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin tài chính của các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Nguyễn Thị

Phương Hồng

2014 Các nhân tố ảnh

hưởng đến chất lượng BCTC của công ty niêm yết- Bằng chứng thực nghiệm tại Việt Nam

Nghiên cứu cho thấy có tổng số 17 nhân tố có tác động đến chất lượng BCTC

Trần Thị Nguyệt

Nga

2014 Đo lường các nhân

tố bên trong công

Nghiên cứu có bốn nhân

tố tác động cùng chiều

Trang 28

ty ảnh hưởng đến chất lượng BCTC của các công ty niêm yết ở Việt Nam

với CLTTKT trên BCTC, đó là quy mô công ty, tỷ lệ vốn nước ngoài, tỷ lệ thành viên

nữ trong ban điều hành, lợi nhuận, trong đó yếu

tố quy mô công ty là tác động mạnh nhất

Phan Minh

Nguyệt

2014 Xác định đo lường

mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến CLTTKT trình bày trên BCTC của các công ty niêm yết ở VN

Nghiên cứu cho thấy có

5 nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến CLTTKT trên BCTC: Rủi ro kiểm toán, nhà quản trị DN, việc lập

và trình bày BCTC, thuế, lợi ích và chi phí

Đào Ngọc Hạnh 2014 Có ra 3 nhân tố tác động

đến chất lượng hệ thống thông tin kế toán bao gồm: tham gia của nhân viên, kiến thức sử dụng công nghệ HTTTKT của nhà quản lý, và cam kết của nhà quản lý, trong đó nhân tố mạnh nhất là tham gia của nhân viên

Trang 29

BCTC cho DNNVV ở VN

yếu kém, kế toán chỉ đơn giản là người ghi chép các nghiệp vụ phát sinh chứ không thực hiện công việc phân tích và kiểm tra tính hiệu quả của doanh nghiệp Chính việc yếu kém trong công tác kế toán, yếu kém trong công tác quản lý của người chủ doanh nghiệp đã làm ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng BCTC

Nguyễn Thị Ánh

Tuyết

2013 Công tác kế toán

trong các DNNVV trên địa bàn tỉnh Bình Định

Nghiên cứu cho thấy mục tiêu hiện nay mà DNNVV quan tâm đó là

kê khai các loại thuế, tối thiểu hóa chi phí của doanh nghiệp, còn mục tiêu cung cấp thông tin cho người sử dụng không được quan tâm

Võ Văn Nhị và

cộng sự

2011 Các quy định pháp

lý về kế toán và công tác kế toán của doanh nghiệp

VN

Nghiên cứu cho rằng để nâng cao chất lượng thông tin kế toán, cần nâng cao chất lượng hệ thống pháp lý, nâng cao

Trang 30

chất lượng công tác kế toán tại DN

Phạm Ngọc Toàn 2008 Xây dựng nội

dung và tổ chức kế toán quản trị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam

Tác giả cho rằngcần xây dung công tác KTQT hiệu quả, nhằm nâng cao chất lượng thông tin kế toán của doanh nghiệp

Nguyễn Phúc

Sinh

2008 Nâng cao tính hữu

ích của BCTC doanh nghiệp VN trong giai đoạn hiện nay

Tác giả đã tiếp cận các luận điểm về hệ thống BCTC doanh nghiệp của IASB, FASB nhằm đưa

ra giải pháp nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống BCTC

Nguyễn Thị

Huyền Trâm

2007 Tổ chức công tác

kế toán trong các doanh nghiệp nhỏ

và vừa ở Việt Nam

Tác giả cho rằng các nhân

tố ảnh hưởng đến công tác kế toán của DNVVN,

từ đó ảnh hưởng đến chất lượng thông tin trên BCTC bao gồm: Người

sử dụng và thông tin cần thiết, các quy định pháp

lý, hệ thống kiểm soát nội

bộ, yêu cầu và khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, các dịch vụ tài chính kế toán

Trang 31

1.2 Nhận xét tổng quan kết quả các nghiên cứu và xác định khe hổng nghiên cứu:

1.2.1 Nhận xét tổng quan các nghiên cứu:

Qua việc tổng quan các công trình nghiên cứu được thực hiện trên thế giới

có liên quan đến luận văn, có thể nói rằng, chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng là một trong những chủ đề được rất nhiều nhà nghiên cứu của nhiều quốc gia trên thế giới đặc biệt quan tâm Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu tập trung phân tích BCTC của các công ty trên thị trường niêm yết hay các tổ chức doanh nghiệp lớn

Chất lượng thông tin trên BCTC đã được nhiều nhà nghiên cứu thực hiện, việc đánh giá và tiếp cận khái niệm chất lượng thông tin BCTC ở nhiều góc độ khác nhau Chủ yếu các nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin BCTC dựa trên đặc tính chất lượng của FASB, IASB và Cobit Bên cạnh đó, nhiều nghiên cứu gián tiếp liên quan đến chất lượng thông tin BCTC như tính thích đáng của thông tin trên BCTC,

tổ chức công tác kế toán tại DNNVV nhưng vẫn có ảnh hưởng đến chất lượng thông tin BCTC

Từ tổng quan các nghiên cứu cho thấy, có hai nhóm nhân tố chính tác động đến chất lượng thông tin BCTC, đó là nhân tố bên trong và nhân tố bên ngoài của

DN Chất lượng thông tin kế toán bị tác động bởi nhiều nhân tố, tác động theo chiều hướng khác nhau, tác động tích cực và tiêu cực đến các thông tin trên BCTC Nhân

tố bên trong bao gồm: quy mô doanh nghiệp, kế toán viên, người lập BCTC, nhà quản trị, quyết định nhà quản trị, kiểm soát nội bộ, kế toán quản trị…Nhân tố bên ngoài bao gồm: chính sách và quy định về thuế, tổ chức kiểm toán, người sử dụng báo cáo tài chính, quy định pháp lý về kế toán, hệ thống chuẩn mực chung Trong đó nhiều nghiên cứu tập trung vào các nhân tố như: quản trị công ty, quy mô doanh nghiệp, kiểm toán động lập, HĐQT, BKS độc lập Ngoài nghiên cứu của Võ Văn Nhị và Trần Thị Thanh Hải ( 2013), Võ Văn Nhị (2011), Phạm Quốc Thuần nghiên

Trang 32

cứu về hệ thống pháp lý về kế toán và áp lực từ thuế ảnh hưởng đến chất lượng BCTC, thì rất ít luận văn tập trung nghiên cứu về nhân tố này

1.2.2 Khe hổng nghiên cứu:

Từ việc tổng quan các nghiên cứu trước trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời nhận ra là chỉ có trong luận văn thạc sĩ của Phạm Thanh Trung là có nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC ở các công ty có quy mô vừa và nhỏ Tuy nhiên, các nhân tố tác động lên chất lượng thông tin trên BCTC chưa thực sự rõ ràng và đầy đủ, tác giả chỉ nghiên cứu các nhân tố bên trong công ty, không có các nhân tố bên ngoài công ty Ngoài ra, hầu hết nghiên cứu đều tập trung vào các doanh nghiệp niêm yết, vì đây là doanh nghiệp có nhu cầu cao về chất lượng BCTC, thì quá

ít nghiên cứu ở DNNVV, đặc biệt là DNNVV trên địa bàn TPHCM, nơi mà số lượng DNNVV nhiều nhất nước Nên tác giả nhận thấy, cần có nghiên cứu về các nhân tố bao gồm nhân tố bên trong và bên ngoài ảnh hưởng đến BCTC của công ty vừa và nhỏ trên địa bàn TPHCM

Trang 33

TÓM TẮT CHƯƠNG 1

Chương này, luận văn trình bày tổng quan các nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến chất lượng BCTC và các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC

Qua việc nghiên cứu sơ bộ các nghiên cứu liên quan, tác giả xác định khe hổng nghiên cứu để làm cơ sở cho nghiên cứu của luận văn Đồng thời, luận văn

kế thừa và phát huy các nhân tố bên ngoài và bên trong của doanh nghiệp của các nghiên cứu trên để xác định các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng BCTC

Trang 34

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1 Doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo thông tư số 16/2013/TT-BTC, ban hành ngày 08 tháng 02 năm 2013 (Hướng dẫn thực hiện việc gia hạn, giảm một số khoản thu ngân sách nhà nước theo nghị quyết số 02/NQ-CP ngày 07 tháng 01 năm 2013 của chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ khó khăn cho sản xuất kinh doanh, hỗ trợ thị trường, giải quyết nợ xấu) thì doanh nghiệp nhỏ và vừa được nhận dạng như sau:

“Doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, bao gồm cả chi nhánh, đơn vị trực thuộc nhưng hạch toán độc lập, hợp tác xã (sử dụng dưới 200 lao động làm việc toàn

bộ thời gian năm và có doanh thu năm không quá 20 tỷ đồng) (gọi chung là doanh nghiệp nhỏ và vừa)

Còn tại Điều 3 của nghị định số 56/2009/NĐ-CP của chính phủ quy định doanh nghiệp nhỏ và vừa như sau:

“Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

Trang 35

Bảng 2.1 Quy định về doanh nghiệp vừa và nhỏ

Quy mô

Khu vực

Doanh nghiệp siêu nhỏ

Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa

Số lao động

Tổng nguồn vốn

Số lao động Tổng nguồn

vốn

Số lao động

I Nông, lâm nghiệp

và thủy sản

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người

II Công nghiệp và

xây dựng

10 người trở xuống

20 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

200 người

từ trên 20 tỷ đồng đến 100

tỷ đồng

từ trên 200 người đến

300 người

III Thương mại và

dịch vụ

10 người trở xuống

10 tỷ đồng trở xuống

từ trên 10 người đến

50 người

từ trên 10 tỷ đồng đến 50

tỷ đồng

từ trên 50 người đến

100 người

2.2 Báo cáo tài chính và đặc điểm của BCTC trong DNNVV

2.2.1 Báo cáo tài chính

Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam 21 ( VAS 21 ) ( ban hành và công bố theo Quyết định số 234/2003/QĐ-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính) thì “báo cáo tài chính phản ánh theo một cấu trúc chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một doanh nghiệp Mục đích của báo cáo tài chính là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của

Trang 36

một doanh nghiệp, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế”

Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp bao gồm:

Bảng cân đối kế toán: Theo VAS 21 thì BCĐKT trình bày thông tin về tài sản hiện có và nguồn hình thành tài sản của công ty tại một thời điểm xác định Thông tin trên bảng cân đối sẽ giúp cho người sử dụng đánh giá tình hình tài chính, tình hình sử dụng vốn và nguồn lực của doanh nghiệp, tình hình nợ phải trả của doanh nghiệp, để đưa ra các quyết định cho phù hợp

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh: Theo VAS 21, BCKQHĐKD cung cấp đầy đủ thông tin về tình hình và kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kì xác định, bao gồm kết quả hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực chính và kết quả hoạt động kinh doanh khác Thông tin trên BCKQHĐKD sẽ giúp người sử dụng đánh giá được khả năng sinh lời và thực trạng hoạt động của doanh nghiệp

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Theo VAS 21, BCLCTT cung cấp thông tin cụ thể về luồng tiền thu vào và luồng tiền chi ra phát sinh trong kỳ báo cáo Nó bao gồm luồng tiền từ hoạt động sản xuất kinh doanh, luồng tiền từ hoạt động đầu tư và luồng tiền từ hoạt động tài chính Thông tin trên BCLCTT giúp người sử dụng đánh giá các thay đổi trong tài sản thuần, cơ cấu tài chính, khả năng chuyển đổi của tài sản thành tiền, khả năng thanh toán và khả năng của doanh nghiệp trong việc tạo ra các luồng tiền trong quá trình hoạt động Báo cáo lưu chuyển tiền tệ làm tăng khả năng đánh giá khách quan tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp vì nó loại trừ được các ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán khác nhau cho cùng giao dịch và hiện tượng Ngoài ra, báo cáo lưu chuyển tiền tệ dùng để xem xét và dự đoán khả năng về số lượng, thời gian

và độ tin cậy của các luồng tiền trong tương lai, dùng để kiểm tra lại các đánh giá,

dự đoán trước đây về các luồng tiền, kiểm tra mối quan hệ giữa khả năng sinh lời với lượng lưu chuyển tiền thuần và những tác động của thay đổi giá cả

Trang 37

Bản thuyết minh báo cáo tài chính: Theo VAS 21, TMBCTC là một báo cáo tổng hợp để giải thích và bổ sung thông tin về tình hình hoạt động sản xuất - kinh doanh, tình hình tài chính cũng như kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo mà các bảng báo cáo khác không thể trình bày rõ ràng và chi tiết Thông tin trên TMBCTC giúp người sử dụng hiểu rõ và chính xác hơn về tình hình hoạt động thực tế của doanh nghiệp, đồng thời hiểu được báo cáo tài chính của doanh nghiệp

và có thể so sánh với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp khác

2.2.2 Đặc điểm BCTC áp dụng cho DNNVV

 Mục đích lập BCTC

Theo Thông tư 133/2016/TT-BTC ban hành ngày 26 tháng 08 năm 2016 thì

hệ thống báo cáo tài chính áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa được lập với mục đích sau:

1 Báo cáo tài chính dùng để cung cấp thông tin về tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các luồng tiền của một doanh nghiệp, đáp ứng yêu cầu quản lý của chủ doanh nghiệp, cơ quan Nhà nước và nhu cầu hữu ích của những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế Báo cáo tài chính phải cung cấp những thông tin của một doanh nghiệp về:

để ghi nhận các nghiệp vụ kinh tế phát sinh, lập và trình bày Báo cáo tài chính

Trang 38

 Hệ thống báo cáo tài chính của doanh nghiệp nhỏ và vừa

1 Hệ thống báo cáo tài chính năm áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa đáp ứng giả định hoạt động liên tục bao gồm:

a) Báo cáo bắt buộc:

- Báo cáo tình hình tài chính Mẫu số B01a - DNN

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 - DNN

- Bản thuyết minh báo cáo tài chính Mẫu số B09 - DNN

Tùy theo đặc điểm hoạt động và yêu cầu quản lý, doanh nghiệp có thể lựa chọn lập báo cáo tình hình tài chính theo Mẫu số B01b - DNN thay cho mẫu số B01a

- DNN

Báo cáo tài chính gửi cho cơ quan thuế phải lập và gửi thêm bảng cân đối tài khoản (Mẫu số F01 - DNN)

b) Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập:

Báo cáo lưu chuyển tiền Mẫu số B03 - DNN

2 Hệ thống báo cáo tài chính năm áp dụng cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa không đáp ứng giả định hoạt động liên tục bao gồm:

a) Báo cáo bắt buộc:

- Báo cáo tình hình tài chính Mẫu số B01 - DNNKLT

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02 - DNN

- Bản thuyết minh Báo cáo tài chính Mẫu số B09 - DNNKLT

b) Báo cáo không bắt buộc mà khuyến khích lập:

- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ Mẫu số B03 - DNN

3 Hệ thống báo cáo tài chính năm bắt buộc áp dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ bao gồm:

Hệ thống báo cáo tài chính năm bắt buộc áp dụng cho các doanh nghiệp siêu nhỏ bao gồm:

- Báo cáo tình hình tài chính Mẫu số B01- DNSN

- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh Mẫu số B02- DNSN

Trang 39

 Yêu cầu đối với thông tin trình bày trong Báo cáo tài chính

1 Thông tin trình bày trên báo cáo tài chính phải đầy đủ, khách quan, không

có sai sót để phản ánh trung thực, hợp lý tình hình tài chính, tình hình và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp

- Thông tin được coi là đầy đủ khi bao gồm tất cả các thông tin cần thiết để giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được bản chất, hình thức và rủi ro của các giao dịch và sự kiện Đối với một số khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải mô

tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thể ảnh hưởng tới chất lượng và bản chất của khoản mục

- Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính Trình bày khách quan phải đảm bảo tính trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có các thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng báo cáo tài chính

- Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và không có sai sót trong quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh,

ví dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định là chính xác hay không chính xác Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính

2 Thông tin tài chính phải thích hợp để giúp người sử dụng báo cáo tài chính

dự đoán, phân tích và đưa ra các quyết định kinh tế

3 Thông tin tài chính phải được trình bày đầy đủ trên mọi khía cạnh trọng yếu Thông tin được coi là trọng yếu trong trường hợp nếu thiếu thông tin hoặc thông tin thiếu chính xác có thể làm ảnh hưởng tới quyết định của người sử dụng thông tin tài chính của đơn vị báo cáo Tính trọng yếu dựa vào bản chất và độ lớn, hoặc cả hai,

Trang 40

của các khoản mục có liên quan được trình bày trên báo cáo tài chính của một đơn

vị cụ thể

4 Thông tin tài chính phải đảm bảo có thể kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu

5 Thông tin tài chính phải được trình bày nhất quán và có thể so sánh giữa các kỳ kế toán, so sánh được giữa các doanh nghiệp nhỏ và vừa với nhau

6 Các chỉ tiêu không có số liệu được miễn trình bày trên báo cáo tài chính Doanh nghiệp được chủ động đánh lại số thứ tự của các chỉ tiêu theo nguyên tắc liên tục trong mỗi phần

2.3 Chất lượng BCTC

Báo cáo tài chính là phương pháp tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh có hệ thống tình hình tài sản, nguồn hình thành tài sản của doanh nghiệp, tình hình và kết quả hoạt động sản suất kinh doanh, tình hình lưu chuyển các dòng tiền và tình hình vận động sử dụng vốn của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định Do đó, báo cáo tài chính vừa là phương pháp kế toán, vừa là hình thức thể hiện và chuyển tải thông tin kế toán tài chính đến những người sử dụng

để ra các quyết định kinh tế Một BCTC chất lượng là một báo cáo chứa những thông tin kế toán có chất lượng

2.3.1 Theo quan điểm của các nhà nghiên cứu

Theo nghiên cứu của Biddle, Hilary and Verdi (2009) về chất lượng báo cáo tài chính liên quan đến hiệu quả đầu tư thì chất lượng BCTC chính là độ chính xác

mà báo cáo tài chính truyền tải thông tin về hoạt động của công ty, đặc biệt là dòng tiền kỳ vọng của mình, và thông báo cho các cổ đông của công ty Định nghĩa này là phù hợp với tuyên bố của Hội đồng Chuẩn mực Kế toán tài chính về khái niệm kế toán tài chính số 1 (1978), trong đó nói rằng có một mục tiêu của báo cáo tài chính

là để thông báo cho các nhà đầu tư hiện tại và tiềm năng trong việc đưa ra các quyết định đầu tư hợp lý và trong việc đánh giá dòng tiền dự kiến của công ty

Theo Kamaruzaman, Mazlifa, & Maisarah (2009) nghiên cứuvề ảnh hưởng của quy chế quản trị công ty đến chất lượng thông tin tài chính thì BCTC là một

Ngày đăng: 31/08/2020, 14:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm