DANH MỤC BẢNG BIỂU Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại Bảng 4.1: Kết quả kiểm định ADF đối vớ
Trang 1HUỲNH NHẬT KHƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA MỞ RỘNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2HUỲNH NHẬT KHƯƠNG
NGHIÊN CỨU MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI Ở VIỆT NAM VÀ CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA MỞ RỘNG
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN TẤN HOÀNG
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của chính cá nhân tôi Nội dung được đúc kết từ quá trình học tập và các kết quả nghiên cứu thực tiễn trong thời gian qua Số liệu sử dụng là trung thực và có nguồn gốc trích dẫn rõ ràng Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của T.S Nguyễn Tấn Hoàng – Giảng viên Trường Đại Học Kinh Tế Thành Phố Hồ Chí Minh
Tp.Hồ Chí Minh, ngày 12 tháng 05 năm 2015
Học viên
Huỳnh Nhật Khương
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
TÓM TẮT 1
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 2
1.1 Đặt vấn đề 2
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Phạm vi nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 5
1.7 Cấu trúc luận văn 6
CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI 7
2.1 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại 7
2.1.1 Biện luận về quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu chính phủ đến cán cân thương mại 9
2.1.1.1 Lý thuyết Keynes 10
2.1.1.2 Lý thuyết IS – LM và Mundel – Fleming 11
Trang 52.1.1.3 Phương pháp hấp thụ 13
2.1.2 Giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu 14
2.1.3 Giả thuyết cân bằng của Ricardo 14
2.1.4 Giả thuyết về mối quan hệ hai chiều 16
2.2 Những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại 16
2.2.1 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại 16
2.2.1.1 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại 16
2.2.1.2 Mối quan hệ từ thâm hụt ngân sách đến cán cân thương mại, hỗ trợ giả thuyết thâm hụt kép 20
2.2.2 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu 22
2.2.3 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết cân bằng Ricardo 24
2.2.4 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết về mối quan hệ nhân quả hai chiều 26
CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 31
3.1 Mối quan hệ nhân quả Granger giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại 31
3.2 Kiểm định phi nhân quả Granger tuyến tính theo phương pháp bootstrap của Hacker và Hatemi-J (2006) dựa trên kiểm định Toda – Yamamoto (1995) 32
3.3 Kiểm định quan hệ nhân quả dựa trên phương pháp miền tần số (frequency domain causality test) 38
3.4 Dữ liệu nghiên cứu 39
3.4.1 Dữ liệu Việt Nam 39
3.4.2 Dữ liệu nước ngoài 41
Trang 6CHƯƠNG 4 NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43
4.1 Kiểm định tính dừng của các biến 43
4.2 Kiểm định nhân quả theo phương pháp bootstrap của Hacker và Hatemi-J (2006) dựa trên kiểm định Toda – Yamamoto (1995) 45
4.3 Kết quả kiểm định theo phương pháp miền tần số (frequency domain causality test) 52
4.4 Phân tích kết quả kiểm định 54
4.5 Mở rộng kiểm định thực nghiệm ở một số quốc gia 59
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN CHUNG 63 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
Bootstrap: Phương pháp lấy mẫu có hoàn lại
BD: biến thâm hụt ngân sách
BOP: Cán cân thanh toán quốc tế
EX: biến tỷ giá hối đoái
EU: Liên minh Châu Âu
FDI: Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP: Tổng sản phẩm quốc nội
GE: biến chi tiêu chính phủ
GFS: Thống kê tài chính chính phủ của IMF
IFS: Thống kê tài chính quốc tế của IMF
INF: biến lạm phát
IR: biến lãi suất
OECD : Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
TAX: biến ngân sách chính phủ (thuế)
TB: biến cán cân thương mại
TY: Toda – Yamamoto
VAR: Tự hồi quy vector
VECM: Mô hình hiệu chỉnh sai số
WTO: Tổ chức thương mại Thế giới
Y: biến sản lượng quốc gia
Nhóm SEACEN: bao gồm Malaysia, Singapo, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Myanmar, Nepan, Sri Lanka và Philippin
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Tóm tắt kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối quan
hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
Bảng 4.1: Kết quả kiểm định ADF đối với các biến
Bảng 4.2: Kết quả kiểm định DF_GLS đối với các biến
Bảng 4.3: Kết quả kiểm định PP đối với các biến
Bảng 4.4: Kết quả lựa chọn độ trễ tối ưu (p) cho các biến trong mô hình VAR
Bảng 4.5: Kết quả kiểm định phi nhân quả Granger theo TY tuyến tính
Bảng 4.6a: Kiểm định nhân quả dựa trên phương pháp miền tần số từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại
Bảng 4.6b: Kiểm định nhân quả dựa trên phương pháp miền tần số từ thâm hụt thương mại đến chi tiêu chính phủ
Bảng 4.7: Kết quả kiểm định tính dừng của các biến
Bảng 4.8: Tóm tắt kết quả kiểm định thực nghiệm mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại ở các quốc gia đang phát triển
Trang 9DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Tình hình cán cân thương mại ở VN giai đoạn 1994 – 2013
Hình 2.1: Bốn mối quan hệ có thể có giữa chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại Hình 2.2: Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại theo mô hình IS – LM và Mundel – Fleming (1962)
Hình 4.1: Kết quả xác định độ trễ từ Eviews
Hình 4.2: Kết quả ước lượng mô hình VAR (6) của biến chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
Trang 10TÓM TẮT
Nghiên cứu này thực hiện kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ
và thâm hụt thương mại ở Việt Nam, dựa trên dữ liệu được thu thập theo quý trong giai đoạn từ năm 1994 đến 2013 Thông qua hai cách tiếp cận khác nhau là phương pháp bootstrap của Hacker và Hatemi-J (2006) dựa trên kiểm định Toda – Yamamoto (1995) và phương pháp kiểm định nhân quả theo miền tần số (frequency domain causality test), chúng tôi phát hiện được bằng chứng thực nghiệm về sự hiện diện của mối quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại ở Việt Nam Khác với phân tích nhân quả Toda – Yamamoto, phương pháp kiểm định theo miền tần số chỉ ra rằng tồn tại mối quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại trong ngắn hạn mà không xuất hiện trong trung và dài hạn Trong khi đó, ở chiều ngược lại, cả hai phương pháp này đều cho thấy không có bất
cứ nhân quả nào từ thâm hụt thương mại đến chi tiêu chính phủ Kết quả này ủng hộ giả thuyết cho rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại Và với những bằng chứng thực nghiệm đạt được đã chứng minh rằng cán cân thương mại thâm hụt là có liên quan đến sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ Bên cạnh đó, bài nghiên cứu này cũng mở rộng kiểm định thực nghiệm ở một số quốc gia và đã tìm thấy những bằng chứng mới về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại, góp phần làm rõ thêm các giả thuyết đã và đang được quan tâm về mối quan hệ này
Trang 11CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU
mô, và điều này có ảnh hưởng không nhỏ đến tiến trình kinh tế trong dài hạn Điều đáng lưu ý là sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ nhanh hơn sự gia tăng trong nguồn thu thuế, do đó dẫn đến sự thâm hụt dai dẳng của cán cân ngân sách qua các năm, điều này xuất hiện đồng thời với thâm hụt thương mại Về lý thuyết, hiện tượng này được gọi là “thâm hụt kép”, xuất hiện lần đầu tiên ở Hoa Kỳ vào những năm 1980, đánh dấu giai đoạn đồng USD bị định giá cao và một sự thay đổi bất thường trong cán cân mậu dịch cũng như thâm hụt ngân sách của Mỹ Giả định thâm hụt kép khẳng định rằng một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ gây ra một sự gia tăng tương tự trong thâm hụt cán cân mậu dịch
Trang 12Hình 1.1: Tình hình cán cân thương mại ở VN giai đoạn 1994 - 2013
Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ IFS
Trong các nghiên cứu hàn lâm trước đây ở Việt Nam và cả trên thế giới, đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại, và kết quả đạt được là rất đa dạng Mặc dù vậy, chưa có bất kỳ nghiên cứu chuyên biệt nào xem xét về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại đối với nền kinh tế Việt Nam Với hướng nghiên cứu này, ta có thể dễ dàng nhận thấy rằng nguồn gốc của thâm hụt thương mại không chỉ do ngân sách bị thâm hụt, mà còn có những nhân tố khác tác động, cụ thể là những thành phần của cán cân ngân sách là chi tiêu chính phủ và nguồn thu thuế Trong khi thuế là một thành phần khó có thể thay đổi thì chi tiêu chính phủ là một nhân tố có mức độ biến động lớn Do đó, ngoài việc quan tâm đến mối quan hệ giữa thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách, chúng ta cần phải lưu tâm đến vấn đề này theo một hướng khác đó là: Liệu chi tiêu chính phủ có bất cứ mối quan hệ nhân quả nào với thâm hụt thương mại hay không? Nếu có thì đó là mối quan hệ nhân quả một chiều hay hai chiều, đây cũng là vấn đề cần nghiên cứu, tìm hiểu Và kết quả kiểm định thực nghiệm mối quan hệ
Trang 13này cũng sẽ đóng góp thêm bằng chứng mới về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ
và thâm hụt thương mại
Nhận thấy được vấn đề này, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở Việt Nam và của một số quốc gia mở rộng” để làm luận văn tốt nghiệp với mục tiêu đưa ra các bằng chứng thực nghiệm
về mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở Việt Nam Ngoài ra, trên cơ sở các bằng chứng thực nghiệm đạt được, có thể tạo nền tảng lý luận để đưa ra một số đề xuất cải thiện cán cân thương mại ở Việt Nam trong thời gian tới Bên cạnh đó, việc mở rộng nghiên cứu ở một số quốc gia có nền kinh tế đang phát triển cũng đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm về mối quan
hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Dựa trên những nền tảng lý thuyết và sử dụng các mô hình kinh tế lượng đối với chuỗi thời gian để thực hiện kiểm định quan hệ nhân quả, thông qua đó tìm ra được những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở Việt Nam và của một số quốc gia mở rộng
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Liệu có hay không sự hiện diện của mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ
và thâm hụt thương mại ở Việt Nam, từ đó có thể giải thích được vấn đề chi tiêu chính phủ ngày càng gia tăng và thâm hụt thương mại hiện diện ở Việt Nam thời gian qua chỉ là hiện tượng mang tính ngẫu nhiên hay bởi do mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại gây ra?
Và nếu có tồn tại mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại thì mối quan hệ đó sẽ được thể hiện như thế nào? Trên cơ sở đó mở rộng ra nghiên cứu đối với một số quốc gia trên thế giới có nền kinh tế đang phát triển?
Trang 141.4 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp tìm kiếm, tổng hợp, sắp xếp và phân tích các số liệu thứ cấp, các lý thuyết cơ bản và các nghiên cứu trước, kết hợp với việc ứng dụng các mô hình kinh tế lượng đối với chuỗi thời gian, cụ thể là phương pháp bootstrap của Hacker và Hatemi-J (2006) dựa trên kiểm định Toda – Yamamoto (1995) để xác định mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại, đồng thời sử dụng phương pháp phân tích theo miền tần số (frequency domain causality test) để xem xét mối quan hệ này trong từng khoảng thời gian khác nhau,
từ đó đối chiếu và đưa ra các bằng chứng thực nghiệm ở Việt Nam
1.6 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài
Đề tài này nghiên cứu mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở Việt Nam Kết quả đạt được cho thấy rằng ở nước ta, chi tiêu chính phủ có tác động đến thâm hụt thương mại, và cụ thể là trong ngắn hạn Dựa trên mối quan hệ này, chúng ta có thể đưa ra những giải pháp nhằm cải thiện tình trạng thâm hụt cán cân thương mại kéo dài Đề tài này góp phần bổ sung thêm bằng chứng thực nghiệm vào việc xem xét đánh giá mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ
và thâm hụt thương mại ở các nước trên thế giới
Trang 151.7 Cấu trúc luận văn
Đề tài này được trình bày với kết cấu gồm 5 chương như sau: Chương 1 vừa được trình bày ở trên là phần giới thiệu tổng quan về vấn đề, mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Chương 2 sẽ trình bày tóm tắt về khung lý thuyết và tổng quan các kết quả nghiên cứu trước đây Chương 3 giới thiệu chi tiết về các phương pháp nghiên cứu và cách thức thu thập, xử lý số liệu đầu vào cần thiết cho mô hình Nội dung và kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày và phân tích trong chương 4 Và phần kết luận chung cho bài luận văn sẽ được thể hiện trong chương 5
Trang 16CHƯƠNG 2 KHUNG LÝ THUYẾT VÀ CÁC KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA CHI TIÊU CHÍNH PHỦ VÀ THÂM HỤT THƯƠNG MẠI
2.1 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
Qua các nghiên cứu lý thuyết lẫn thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở nhiều nước trên thế giới, có thể có 4 dạng mối quan
hệ khác nhau như sau:
Mối quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại, nghĩa là một sự tăng hoặc giảm trong chi tiêu chính phủ sẽ làm ảnh hưởng đến thâm hụt thương mại (có thể được cải thiện hoặc thâm hụt trầm trọng hơn) Một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ là nguyên nhân chính dẫn đến thâm hụt cán cân ngân sách qua đó làm trầm trọng thêm cán cân thương mại, điều này liên quan đến giả thuyết “thâm hụt kép” Có hai mô hình giải thích cho mối quan hệ này: theo mô hình IS – LM và Mundel – Fleming, sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ gây ra một
áp lực làm tăng lãi suất, và lãi suất tăng sẽ tác động đến dòng vốn chảy vào, từ đó sẽ tạo sức ép tăng giá đồng nội tệ, cuối cùng dẫn đến sự gia tăng trong thâm hụt thương mại Ngoài ra, chúng ta cũng có thể giái thích mối quan hệ này thông qua lý thuyết của Keynes và phương pháp hấp thụ dựa trên đồng nhất thức về sự chênh lệch giữa thu nhập quốc gia và chi tiêu nội địa
Mối quan hệ nhân quả theo chiều ngược lại từ thâm hụt thương mại đến chi tiêu chính phủ còn được gọi là giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu Điều này xảy
ta khi sự suy thoái trong cán cân thương mại như là một tín hiệu của sự chững lại trong tăng trưởng kinh tế, và chính phủ sẽ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để kích thích nền kinh tế, điều này có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách chính phủ Điều này đặc biệt đúng với các nền kinh tế nhỏ, mở, đang phát triển và phụ thuộc lớn vào dòng vốn đầu tư nước ngoài (đầu tư trực tiếp hoặc gián tiếp nước ngoài) để tài trợ cho sự phát triển kinh tế Nói cách khác, ngân sách quốc gia sẽ bị ảnh hưởng bởi dòng vốn
Trang 17chảy vào lớn hoặc thông qua tích lũy nợ và điều này cuối cùng sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách chính phủ
Mối quan hệ nhân quả hai chiều có thể tồn tại giữa chi tiêu chính phủ và cán cân thương mại Trong khi chi tiêu chính phủ gia tăng sẽ dẫn đến thâm hụt ngân sách dẫn đến thâm hụt cán cân mậu dịch, sự tồn tại của thông tin phản hồi có thể tạo
ra mối quan hệ nhân quả trong cả hai chiều Mối quan hệ nhân quả này thông qua hai kênh: một kênh trực tiếp giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại và một cách gián tiếp thông qua lãi suất và tỷ giá hối đoái
Chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại có thể không liên quan với nhau Chi tiêu chính phủ không gây ra bất cứ thay đổi nào về lãi suất và tỷ giá hối đoái, do
đó không ảnh hưởng đến sự mất cân bằng trong cán cân thương mại, hay nói cách khác chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại độc lập nhau Đây được gọi là giả thuyết cân bằng Ricardo Điều này có thể được hiểu rằng sự sụt giảm tiết kiệm khu vực công do thâm hụt ngân sách sẽ được bù đắp bởi sự gia tăng tương ứng trong tiết kiệm tư nhân Nghĩa là người tiêu dùng tin rằng sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ (hoặc giảm thuế) hôm nay với kết quả là thâm hụt ngân sách sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế trong tương lai để phục vụ cho vấn đề chi trả nợ công; do đó, họ sẽ tiết kiệm hôm nay để chi trả tiền thuế trong tương lai
Trang 18Hình 2.1: Bốn mối quan hệ có thể có giữa chi tiêu chính phủ và cán cân thương
mại
Nguồn: Jui-Chuan Chang và Zao-Zhou Hsu (2009)
2.1.1 Biện luận về quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu chính phủ đến cán cân thương mại
Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại có thể được giải thích thông qua nhiều cách tiếp cận khác nhau Một trong số đó không thể không nhắc đến lý thuyết của Keynes thông qua đồng nhất thức tiết kiệm – đầu tư Bên cạnh đó, một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ là nguyên nhân chính làm cho thâm hụt ngân sách gia tăng, điều này sẽ gây ra thâm hụt trong cán cân thương mại nếu khu vực tư nhân không sẵn lòng gia tăng tiết kiệm và cho chính phủ vay khoản tiết kiệm
đó Khi một quốc gia rơi vào trạng thái vừa thâm hụt ngân sách vừa thâm hụt mậu dịch được gọi là thâm hụt kép Điều này có thể được giải thích thông qua mô hình
IS – LM và Mundel – Fleming Cuối cùng chúng ta có thể giải thích mối quan hệ một chiều từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại thông qua phương pháp
Trang 19hấp thụ dựa trên đồng nhất thức về sự chênh lệch giữa thu nhập quốc gia và chi tiêu nội địa
2.1.1.1 Lý thuyết Keynes
Theo Keynes, ông cho rằng một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ (có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách) sẽ làm tăng thu nhập nội địa và tiêu dùng cho các khoản hàng hóa vốn và dịch vụ nhập khẩu tăng lên, từ đó gây ảnh hưởng xấu đến cán cân thương mại
Theo lập luận tài khoản quốc gia, thu nhập quốc gia đối với một nền kinh tế mở được xác định như sau:
Y = C + I + G + (X – M) (1) Trong đó, Y là tổng sản phẩm quốc nội, Y được tính bằng tổng của chi tiêu tiêu dùng khu vực tư nhân C với tổng chi đầu tư nội địa của khu vực tư nhân I; chi tiêu chính phủ G và cán cân thương mại được đại điện bởi (X - M); trong đó X, M lần lượt là xuất, nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ
Ngoài ra, tổng sản phẩm quốc nội cũng có thể được trình bày bằng cách sử dụng cách tiếp cận liên quan đến thu nhập như sau:
Trang 20trong chi đầu tư của khu vực tư nhân hoặc một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ
sẽ gây ra thâm hụt thương mại trong nền kinh tế
2.1.1.2 Lý thuyết IS – LM và Mundel – Fleming
Trong một nền kinh tế mở, một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ sẽ có tác động tích cực lên tổng cầu và làm dịch chuyển đường cong IS Sự dịch chuyển này sẽ dẫn đến một sự gia tăng trong mức lãi suất cân bằng Lãi suất cao sẽ thu hút dòng vốn ròng từ nước ngoài chuyển về, điều này sẽ gây tác động không nhỏ đến cán cân thương mại do đồng nội tệ bị định giá cao trong ngữ cảnh của mô hình Mundel-Fleming Lãi suất tăng, cầu nội tệ tăng thúc đẩy đồng nội tệ tăng giá làm cho mức giá đối với hàng hóa nhập khẩu trở nên rẻ hơn và hàng xuất khẩu đắt hơn Vì vậy thâm hụt thương mại sẽ là điều không thể tránh khỏi
Hình 2.2: Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại theo
mô hình IS – LM và Mundel – Fleming (1962)
Đường IS biểu diễn các tập hợp khác nhau của lãi suất (r) và thu nhập quốc gia (Y)
mà ở đó thị trường hàng hóa cân bằng Hệ số gốc âm của đường IS cho thấy rằng lãi
Trang 21suất thấp hơn sẽ dẫn đến mức đầu tư cao hơn và liên đới đến thu nhập quốc gia cao hơn Đường LM thể hiện sự cân bằng trong thị trường tiền tệ Đường BP diễn tả các kết hợp khác nhau của r và Y mà tại đó, cán cân thanh toán của quốc gia đạt trạng thái cân bằng với một mức tỷ giá hối đoái cho trước Cán cân thanh toán cân bằng khi một mức thâm hụt thương mại sẽ được bù đắp bởi một dòng vốn vào tương ứng Đường BP dốc lên bởi vì lãi suất cao hơn sẽ thu hút dòng vốn vào nhiều hơn (hoặc dòng vốn chảy ra ít hơn) và phải được bù đắp lại với mức nhập khẩu và thu nhập quốc gia cao hơn để đảm bảo cán cân thanh toán cân bằng Ở phía bên trái của đường BP, quốc gia có cán cân thanh toán thặng dư và ngược lại ở phía bên phải thể hiện cán cân thanh toán thâm hụt Một sự giảm giá hoặc sự định giá thấp đồng nội
tệ sẽ làm đường BP dịch chuyển xuống vì cán cân thương mại được cải thiện, và vì thế một mức lãi suất thấp hơn và dòng vốn vào nhỏ hơn (hoặc dòng vốn ra lớn hơn) được dòi hỏi để giữ cho cán cân thanh toán cân bằng Mặc khác, một sự tăng giá hoặc định giá cao đồng nội tệ sẽ làm đường BP dịch chuyển lên trên
Hình trên cho thấy ban đầu quốc gia có sự cân bằng trong thị trường hàng hóa, thị trường tiền tệ và cán cân thanh toán tại điểm E, là giao điểm của ba đường IS, LM
và BP Giả định rằng mức cân bằng của thu nhập quốc gia (Y) tại điểm E là dưới mức toàn dụng lao động và quốc gia sử dụng chính sách tài khóa mở rộng để giảm thất nghiệp Chính sách tài khóa mở rộng (sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ hoặc giảm thuế có thể dẫn đến sự gia tăng thâm hụt ngân sách quốc gia) sẽ làm đường IS dịch chuyển sang phải thành đường IS′ cắt đường LM tại E′, kết quả tạo ra mức thu nhập quốc gia (Y′) và lãi suất (r′) cao hơn Do điểm E′ nằm trên đường BP nên quốc gia có sự thặng dư bên ngoài nhờ dòng vốn ngoại chảy vào dưới tác động của lãi suất tăng Điều này gây ra sự tăng giá của đồng nội tệ, làm dịch chuyển đường
BP lên trên thành đường BP′ Sự tăng giá của đồng nội tệ sẽ làm xấu đi tình hình cán cân thương mại của quốc gia, làm đường IS′ dịch chuyển xuống trở lại đến IS′′ Đồng nội tệ tăng giá cũng làm giảm giá nhập khẩu (tính bằng đồng nội tệ) và mức giá chung của quốc gia Với mức giá nội địa thấp hơn và mức cung tiền cố định, đường LM sẽ dịch chuyển sang phải đến LM′ (bằng một sự gia tăng trong cung tiền
Trang 22danh nghĩa) Điểm cân bằng cuối cùng là E′′, là giao điểm của ba đường IS′′, LM′
và BP′, theo đó xác định lãi suất cân bằng là r′′ và mức thu nhập quốc gia cân bằng
là Y′′
Cần lưu ý rằng lãi suất trong nước đầu tiên tăng từ r đến r′ và sau đó giảm ngược lại xuống r′′ Điều này dẫn đến một sự tăng giá đồng nội tệ (khi r tăng lên r′), tiếp đó lại sụt giảm một phần khi r′ giảm xuống thành r′′ Hình trên cũng thể hiện rõ khoảng tăng giá ròng của đồng nội tệ Vì vậy, thâm hụt ngân sách lớn hơn sẽ gắn liền với một dòng vốn vào lớn hơn và thâm hụt thương mại cũng lớn hơn Tuy nhiên, mối quan hệ này cũng phụ thuộc vào một số giả định lý thuyết Vì vậy, tiến trình động từ thâm hụt ngân sách dẫn đến lãi suất tăng, gây sức ép tăng giá đồng nội
tệ và cuối cùng gây ra thâm hụt thương mại Trong thực tế hiện nay, tất nhiên tiến trình này có thể không đúng và sẽ có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng trong điều kiện bình thường chúng ta kỳ vọng lập luận trên được chấp nhận
2.1.1.3 Phương pháp hấp thụ
Phương pháp này chú trọng đến mối quan hệ giữa sản lượng quốc gia (Y) và sự hấp thụ của quốc gia (E), trong đó sự hấp thụ quốc gia được định nghĩa là mức sử dụng hàng hóa để tiêu dùng và đầu tư của khu vực tư và công của một nền kinh tế Cán cân thương mại (TB) được xác định dựa vào sự chênh lệch giữa sản lượng và sự hấp thụ của quốc gia, do đó cán cân thương mại được thể hiện qua đồng nhất thức sau:
TB = Y – E (5)
Từ phương trình (5) ta có thể nhận thấy rằng, cán cân thương mại sẽ được cải thiện nếu thu nhập quốc gia tăng nhiều hơn mức tăng của chi tiêu nội địa Tuy nhiên, ở một khía cạnh khác, chi tiêu chính phủ là một phần của chi tiêu nội địa và do đó cán cân thương mại sẽ xấu đi nếu chi tiêu chính phủ gia tăng Chính vì thế, đối với một nền kinh tế chưa sử dụng hết nguồn lực, một chính sách tài khóa mở rộng thông qua việc gia tăng chi tiêu chính phủ có thể làm cải thiện cán cân thương mại do điều này
là động lực để thu nhập quốc gia (Y) tăng nhiều hơn sự hấp thụ quốc gia (A) trong bối cảnh thực hiện chính sách
Trang 232.1.2 Giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu
Giả thuyết này cho rằng có mối quan hệ nhân quả một chiều từ cán cân thương mại đến chi tiêu chính phủ thông qua cơ chế thông tin phản hồi Nghĩa là một sự thâm hụt trong cán cân thương mại hàm ý sự suy giảm của tăng trưởng kinh tế nội địa (do xuất khẩu giảm nhưng nhập khẩu tăng) Vì vậy, chính phủ sẽ thực hiện chính sách tài khỏa mở rộng thông qua việc tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để hỗ trợ và kích thích nền kinh tế, điều này sẽ làm suy giảm cán cân ngân sách hoặc có thể dẫn đến thâm hụt
Có thể giải thích rõ hơn mối quan hệ này theo hai lập luận sau Thứ nhất, một dòng vốn vào sẽ gây áp lực tăng giá đồng nội tệ, đồng nội tệ tăng giá sẽ làm xấu đi cán cân thương mại do xuất khẩu giảm, nhập khẩu tăng Mặc khác, một cú sốc ngoại sinh ví dụ như cú sốc thị hiếu của người tiêu dùng có thể dẫn đến sự sụt giảm xuất khẩu hoặc sự gia tăng nhập khẩu Sự suy giảm trong cán cân thương mại phản ánh
sự thay thế sản xuất nội địa bằng hàng nhập khẩu (vì rẻ hơn một cách tương đối), điều này sẽ tác động tiêu cực đến sản lượng trong nước, dẫn đến sự sụt giảm doanh thu thuế và có thể gây ra thâm hụt ngân sách Thứ hai, chính phủ có thể đưa ra những khuyến khích tài khóa nhằm cố gắng giảm nhẹ tác động của thâm hụt cán cân mậu dịch đến sản lượng nội địa Trong trường hợp này, thâm hụt cán cân thương mại gây ra một sự suy giảm kinh tế, theo đó có thể làm gia tăng chi tiêu chính phủ hoặc sự sụt giảm trong doanh thu thuế để kích thích nền kinh tế Điều này hàm ý rằng chi tiêu chính phủ không xác định thâm hụt thương mại; mà trái lại, có một mối quan hệ nhân quả theo chiều ngược lại từ cán cân thương mại đến chi tiêu chính phủ
2.1.3 Giả thuyết cân bằng của Ricardo
Theo Ricardo, không tồn tại mối quan hệ giữa chi tiêu ngân sách và thâm hụt thương mại Một sự cắt giảm thuế hoặc tăng chi tiêu chính phủ (có thể làm gia tăng thâm hụt ngân sách) sẽ không tác động đến tiết kiệm quốc gia (Barro, 1989) Sự sụt giảm của tiết kiệm khu vực công do thâm hụt ngân sách gia tăng sẽ được bù đắp
Trang 24hoàn toàn bởi sự gia tăng tương ứng của tiết kiệm tư nhân Lý giải cho điều này vì người dân nghĩ rằng sự cắt giảm thuế gây ra thâm hụt ngân sách hôm nay sẽ dẫn đến sự gia tăng thuế trong tương lai để phục vụ nợ công, do đó họ sẽ tăng tiết kiệm
để trả cho gánh nặng thuế gia tăng trong tương lai
Lý thuyết cân bằng Ricardo đặt vấn đề về khả năng tác động đến tổng cầu và cuối cùng là tài khoản vãng lai của các quyết định tài trợ ngân sách chính phủ Lý thuyết cho rằng, với một mức chi tiêu chính phủ đã định, sự thay thế nợ cho thuế sẽ không tác động đến tổng cầu lẫn lãi suất Giải thích cho lập luận này như sau: trong tình thế hạn hẹp của ngân sách chính phủ, với một mức chi tiêu không đổi, một sự cắt giảm thuế hiện tại hàm ý rằng sẽ có một sự gia tăng thuế trong tương lai Vì vậy, do
sự vay mượn của chính phủ chỉ là trì hoãn thuế đến tương lai nên người tiêu dùng, đồng thời cũng là người chịu thuế, hoàn toàn dự đoán được sự gia tăng thuế trong tương lai, sẽ không quan tâm đến sự cắt giảm thuế hiện tại, và kết quả là gia tăng thu nhập khả dụng Bởi thế, những quyết định ngân sách tạm thời của người tiêu dùng sẽ không thay đổi dưới các quyết định tài trợ thâm hụt của chính phủ; và như vậy, khía cạnh tiêu dùng không bị ảnh hưởng Toàn bộ sự gia tăng trong thu nhập khả dụng tạo ra từ sự cắt giảm thuế đều được người tiêu dùng tiết kiệm
Dưới giả thuyết cân bằng Ricardo, người tiêu dùng phản ứng với sự cắt giảm thuế bằng sự gia tăng tiết kiệm S ự gia tăng tiết kiệm này được dùng để mua trái phiếu chính phủ được phát hành mới, đảm bảo cho người tiêu dùng có nguồn tiền để trả khoản thuế gia tăng trong tương lai Vì vậy, chính do tiết kiệm tư nhân gia tăng tương ứng bằng với mức thâm hụt ngân sách, tiết kiệm quốc gia không bị ảnh hưởng; theo đó lãi suất cũng không thay đổi Hơn nữa, trong một nền kinh tế mở, thâm hụt ngân sách không tác động đến cán cân tài khoản vãng lai vì sự gia tăng trong tiết kiệm tư nhân đủ để tránh nhu cầu tài trợ bên ngoài Do vậy, thâm hụt ngân sách không kích thích dòng vốn vào cũng như làm suy giảm cán cân tài khoản vãng lai Theo cách này, nợ công không ảnh hưởng đến tải sản khu vực tư nhân, hay nói cách khác người tiêu dùng không xem trái phiếu chính phủ như tài sản ròng Bởi
Trang 25thế, với một mức chi tiêu đã định, nếu được tài trợ bởi nợ hoặc thuế thì thời điểm của thuế không có tác động đến tiêu dùng tư nhân
2.1.4 Giả thuyết về mối quan hệ hai chiều
Theo giả thuyết này, nếu như một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ sẽ gây tác động tăng lãi suất nội địa, từ đó làm cho đồng nội tệ tăng giá theo và dẫn đến sự xấu
đi trong cán cân thương mại; thì trái lại, một sự sụt giảm trong cán cân thương mại cho thấy sự giảm sút của nền kinh tế, và lúc này chính phủ sẽ tăng chi tiêu hoặc giảm thuế để kích thích nền kinh tế, do đó có thể gây ra sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách Bên cạnh đó, sự sụt giảm doanh thu thuế do sự thu hẹp sản xuất nội địa (do tăng nhập khẩu, đều dẫn đến thâm hụt thương mại) cũng có thể làm xấu đi cán cân ngân sách chính phủ
2.2 Những bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
2.2.1 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết quan hệ nhân quả một chiều từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại
2.2.1.1 Mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
Có rất nhiều giả thuyết trong quá khứ giải thích về nguồn gốc thâm hụt thương mại Một trong số đó đề cập đến sự tăng/giảm trong chi tiêu chính phủ sẽ tác động đến cán cân thương mại Ahmed (1986,1987) đã thực hiện bài nghiên cứu khảo sát mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở Anh Bài nghiên cứu kết luận rằng ảnh hưởng của sự gia tăng tạm thời trong chi tiêu chính phủ lên thâm hụt thương mại có có tác động lớn hơn so với sự gia tăng lâu dài trong suốt giai đoạn nghiên cứu 1732 – 1830 Tương tự, nghiên cứu của Yi (1993) cho thấy rằng chi tiêu chính phủ cao hơn cũng đóng vai trò đáng kể làm xấu đi cán cân thương mại của
Mỹ trong những năm 1970 – 1980 thông qua việc phân tích và sử dụng mô hình hai quốc gia giản đơn
Trang 26Trong bài nghiên cứu của mình năm 1988, Roubini đã sử dụng dữ liệu chi tiêu chính phủ/GDP và cán cân thương mại/GDP của 18 nước OECD để nghiên cứu mối quan hệ giữa chi tiêu chính phủ, thâm hụt thương mại, lãi suất và những cú sốc tạm thời lên sản lượng quốc gia trong giai đoạn 1960-1985 Với việc sử dụng các mô hình hồi quy cơ bản, tác giả đã đưa ra kết quả thực nghiệm cho rằng sự thâm hụt trong ngân sách chính phủ là do sự mở rộng chi tiêu của chính phủ, điều này làm cho cán cân thương mại trở nên xấu đi Khi mở rộng nghiên cứu sang nền kinh tế
Mỹ, kết quả đạt được là khi chi tiêu chính phủ tăng 1 USD sẽ làm cho thâm hụt thương mại tăng từ 0.22 đến 0.98 USD Ngoài ra công trình của Frenkel và Razin (1986), Yi (1993) và Baxter (1995) cũng cho kết luận rằng có tồn tại mối quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ lên thâm hụt thương mại trong nền kinh tế Mỹ Cụ thể nghiên cứu của Baxter (1995) đã chia chi tiêu chính phủ thành hai phần: chi tiêu cho hàng hóa cuối cùng và chi cho tiền lương, tiền công và kết quả là chi tiêu cho hàng hóa cuối cùng tăng 1% GDP sẽ có tác động làm thâm hụt cán cân thương mại tăng lên 0.5% GDP, tác động này lớn hơn rất nhiều so với chi tiêu cho tiền lương, tiền công
Tuy nhiên, kết quả có phần trái ngược đối với nghiên cứu của Lane và Perotti (1998) khi phân tích sự tác động của các thành phần khác nhau của chính sách tài khóa lên cán cân thương mại ở các quốc gia OECD Trong bài nghiên cứu này, tác giả đã chia chi tiêu chính phủ ra thành chi tiêu cho tiền lương và chi tiêu không phải tiền lương và sử dụng thêm biến giả là tác động của chính sách tỷ giá hối đoái (thả nổi và cố định), thông qua dữ liệu bảng của 17 quốc gia OECD trong khoảng thời gian 1960 – 1995 kết hợp với những phân tích chuyên biệt dành cho dữ liệu bảng, các tác giả đã chi ra rằng chi tiêu chính phủ cho tiền lương có tác động cực kỳ tiêu cực đến cán cân thương mại, và tác động này càng mạnh hơn khi quốc gia sử dụng chính sách tỷ giá hối đoái thả nổi Kết quả này trái ngược với nghiên cứu của Baxter (1995), Cavallo (2005) khi cho rằng tác động của chi tiêu chính phủ cho tiền lương lên cán cân thương mại là không đáng kể
Trang 27Theo nghiên cứu của Cavallo (2005), cũng tương tự như Baxter (1995), ông chia chi tiêu chính phủ thành 2 thành phần: chi tiêu cho hàng hóa cuối cùng và chi tiêu cho tiền lương, tiền công Cavallo đã sử dụng mô hình nền kinh tế hai quốc gia để xem xét những tác động của sự gia tăng bất thường trong chi tiêu chính phủ trên cả hàng hóa cuối cùng và chi cho tiền lương, tiền công Đặc biệt là so sánh tác động của từng loại lên cán cân vãng lai Cán cân vãng lai ở đây được định nghĩa đơn giản là
sự chệnh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ của một nước và thu nhập của nước đó Nghiên cứu được thực hiện với dữ liệu được thu thập ở nền kinh
tế Mỹ giai đoạn 1948 – 2000 và kết quả phân tích cho thấy một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ cho hàng hóa cuối cùng sẽ dẫn đến một sự sụt giảm đáng kể trong tài khoàn vãng lai, trong khi đó sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ cho tiền lương, tiền công có tác động ít hơn Cụ thể, khi chi tiêu chính phủ cho tiền lương, tiền công tăng 1% GDP chỉ gây ra sự sụt giảm tương ứng 0.05% GDP trong cán cân tài khoản vãng lai Những cú sốc dương lên chi tiêu cho tiền lương tiền công xảy ra thông qua
sự mở rộng trong nguồn cung lao động, do đó sẽ không ảnh hưởng trực tiếp lên cán cân tài khoản vãng lai được đo lường bởi sự chênh lệch giữa thu nhập quốc gia và tiêu dùng nội địa Điều này hàm ý rằng, các tính toán liên quan đến cán cân tài khoản vãng lai có thể bị khuếch đại nếu phần lớn chi tiêu của chính phủ đều dành cho hàng hóa cuối cùng, hay nó sẽ chịu ảnh hưởng bởi cơ cấu chi tiêu của chính phủ
Mặc khác, Erceg và các cộng sự (2005) đã sử dụng mô hình DGE trong nền kinh tế
mở để định lượng tác động của các cú sốc tài khóa lên cán cân thương mại của nền kinh tế Mỹ và kết quả nhận được là thâm hụt tài khóa có mối quan hệ nhân quả với cán cân thương mại (dù là yếu) Cụ thể, khi thâm hụt tài khóa tăng 1% GDP thì sẽ làm cán cân thương mại sụt giảm khoảng gần 0.2% GDP sau 2 hoặc 3 năm (do độ trễ các các yếu tố vĩ mô) Tuy nhiên, áp lực lên cán cân thương mại do chính sách tài khóa mở rộng có thể bị bù trừ bằng sự kết hợp tăng sản lượng và/hoặc sụt giảm trong tiêu dùng và đầu tư tư nhân Ở khía cạnh khác, các tác giả đã kiểm định tác động của hai loại cú sốc tài khóa riêng biệt, sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ và
Trang 28sự sụt giảm trong tỷ lệ thuế thu nhập đến cán cân thương mại của Mỹ và kết quả mang lại đều cho thấy có sự tồn tại của mối quan hệ nhân quả
Một cách tiếp cận khác nữa về giả thuyết cho rằng một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ sẽ làm xấu đi tình hình cán cân thương mại, Lau và các cộng sự (2006) bằng việc sử dụng dữ liệu bảng để kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger ở các nước SEACEN (bao gồm Malaysia, Singapo, Thái Lan, Indonesia, Hàn Quốc, Myanmar, Nepan, Sri Lanka và Philippin) Các biến được kiểm định là thâm hụt thương mại, chi tiêu ngân sách chính phủ (tính theo phần trăm của GDP danh nghĩa), tỷ giá hối đoái danh nghĩa và lãi suất ngắn hạn, với kỳ quan sát theo năm từ
1980 đến 2001 Để xem xét đến vai trò của hai biến tài chính (lãi suất và tỷ giá hối đoái) như là cầu nối giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại, tác giả đã chủ động đưa vào nghiên cứu để phân tích ảnh hưởng của chúng đến mối quan hệ này Thông qua việc sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết được phát triển bởi Pedroni (1999) kết hợp với kiểm định nhân quả Granger dựa trên mô hình VAR theo dữ liệu bảng, các tác giả đã đưa ra kết luận rằng có hiện diện mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại (phương pháp tiếp cận theo Toda - Yamamoto (1995) cũng được thực hiện và đã cho thấy bằng chứng tương tự)
Monacelli và Perotti (2007) khi tiến hành nghiên cứu thực nghiệm tác động của những cú sốc lên chi tiêu chính phủ ảnh hưởng như thế nào cán cân thương mại ở các nước OECD Nghiên cứu sử dụng dữ liệu theo quý của các nước Anh, Mỹ, Canada và Úc từ năm 1975 đến 2006 và thông qua kỹ thuật VAR cấu trúc, nhóm tác giả đã nhấn mạnh rằng một sự tăng trong chi tiêu chính phủ sẽ gây ra thâm hụt lớn trong cán cân thương mại đối với tất cả các nước, mặc dù tác động này là rất nhỏ đối với Mỹ
Tuy nhiên, trái ngược hoàn toàn với kết quả của các nghiên cứu trên, Koray và McMillin (2006) và Müller (2004, 2008) cho rằng một sự gia tăng trong chi tiêu chính phủ sẽ có tác động tích cực làm cải thiện cán cân thương mại Với mục tiêu
Trang 29nghiên cứu phản ứng của tỷ giá hối đoái và cán cân thương mại khi xảy ra những cú sốc liên quan đến chính sách tài khóa trong nền kinh tế Mỹ giai đoạn từ quý 3 năm
1981 đến quý 3 năm 2005 Bằng việc sử dụng mô hình VAR, Koray và McMillin (2006) đã đưa ra kết quả cho thấy rằng những cú sốc làm tăng chi tiêu chính phủ thực sẽ gây ra một sự thâm hụt ngân sách lâu dài, sản lượng sẽ gia tăng một cách tạm thời, và một tác động tiêu cực lâu dài lên mức giá nhưng lại làm giảm tỷ lệ lãi suất thực Đồng thời, theo điều kiện ngang bằng lãi suất thì tỷ giá hối đoái thực giảm, do đó cán cân thương mại sẽ được cải thiện
2.2.1.2 Mối quan hệ từ thâm hụt ngân sách đến cán cân thương mại, hỗ trợ giả thuyết thâm hụt kép
Có nhiều bài nghiên cứu nhận định rằng nguồn gốc chính yếu dẫn đến sự thâm hụt ngân sách là do chi tiêu ngân sách của chính phủ ngày càng gia tăng, mức gia tăng này ngày càng lớn qua các năm Trong khi đó mức thu thuế từ xã hội khó có thể tăng cao để bù đắp cho chi tiêu, điều đó càng thể hiển hiện rõ hơn khi chính phủ thực hiện chính sách tài khóa mở rộng để kích thích nền kinh tế Do đó chi tiêu chính phủ gia tăng sẽ gây ra một sự thâm hụt ngân sách ngày càng lớn, chính điều này đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình cán cân thương mại của quốc gia, thâm hụt mậu dịch ngày càng tăng Khi một quốc gia rơi vào trạng thái vừa thâm hụt ngân sách, vừa thâm hụt mậu dịch được gọi là thâm hụt kép Do đó chúng ta có thể phân tích mối quan hệ giữa chi tiêu ngân sách chính phủ và thâm hụt thương mại thông qua giả thuyết thâm hụt kép, đây là một cách tiếp khác so với cách tiếp cận trực tiếp là dựa trên chi tiêu chính phủ Trước đây có rất nhiều bài nghiên cứu ủng hộ giả thuyết thâm hụt kép truyền thống nhấn mạnh có mối quan hệ nhân quả từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt thương mại
Nghiên cứu của Akbostanci và Tunc (2002) dựa trên phân tích đồng liên kết và ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số để kiểm định mối quan hệ thâm hụt ngân sách và thâm hụt tài khoản vãng lai của Thổ Nhĩ Kỳ thông qua việc sử dụng dữ liệu theo năm từ 1987 đến 2001 Dựa trên những phương pháp này chúng ta có thể phân tích
Trang 30mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn Kết quả đạt được từ phân tích thực nghiệm cho thấy rằng có tồn tại mối quan hệ trong dài hạn giữa hai loại thâm hụt này; và trong ngắn hạn, một
sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ làm cho thâm hụt thương mại trở nên trầm trọng hơn
Trong một nghiên cứu vào năm 2008 về giả thuyết thâm hụt kép ở Hy Lạp giai đoạn 1960-2007, Panagiotis và các cộng sự đã thực hiện một hướng nghiên cứu hoàn toàn mới khi tập trung phân tích tính dai dẳng của thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách Với suy luận rằng, nếu các biến xuất khẩu và nhập khẩu có mối quan hệ cân bằng dài hạn thì sẽ tồn tại tính dai dẳng của thâm hụt thương mại, và tương tự đối với thâm hụt ngân sách Các tác giả đã sử dụng kiểm định Trace - Johansen kết hợp với việc ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) để phát hiện mối quan hệ đồng liên kết và phân tích mối quan hệ dài hạn giữa các biến Kết quả thực nghiệm cho thấy chỉ có tính dai dẳng yếu ở cả hai loại thâm hụt được nghiên cứu Kiểm định nhân quả Granger cũng được tác giả thực hiện và nhận thấy có mối quan
hệ nhân quả trong ngắn hạn từ thu ngân sách đến chi tiêu ngân sách và không có mối quan hệ nào theo chiều ngược lại Và cũng không có bằng chứng nào về mối quan hệ nhân quả ngắn hạn giữa hai biến xuất khẩu và nhập khẩu Tuy nhiên, nghiên cứu lại tìm thấy bằng chứng về giả thuyết thâm hụt kép trong cả ngắn hạn lẫn dài hạn Nghĩa là, có một mối quan hệ nhân quả từ thâm hụt ngân sách đến thâm hụt thương mại ở Hy Lạp trong cả ngắn hạn và dài hạn
Ngoài ra, với việc sử dụng dữ liệu bảng, Afonso và Rault (2009) một lần nữa đưa ra bằng chứng thực nghiệm về giả thuyết thâm hụt kép ở các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) như Cộng hòa Séc, Phần Lan, Ý, Hungary, Ba Lan… trong giai đoạn 1970-2007 Các tác giả đã dùng cách tiếp cận dữ liệu bảng của Konya (2006) dựa trên mô hình tự hồi quy vector (VAR) hai biến (cán cân ngân sách và cán cân tài khoản vãng lai) và ba biến (thêm tỷ giá hối đoái thực hiệu lực) để phân tích mối quan hệ nhân quả giữa hai loại thâm hụt Và kết quả cho thấy dự hiện diện của mối quan hệ nhân quả Granger một chiều từ cán cân ngân sách chính phủ đến cán cân tài
Trang 31khoản vãng lai ở phần lớn các quốc gia châu Âu, bất kể đối với mô hình hai biến hay ba biến Điều đó cho thấy, việc có hiện diện biến tỷ giá hối đoái hiệu lực trong
mô hình hay không cũng không ảnh hưởng đến kết quả kiểm định nhân quả
2.2.2 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu
Giả thuyết này cho rằng một sự suy giảm trong cán cân thương mại sẽ dẫn đến sự sụt giảm trong chi tiêu chính phủ Một sự gia tăng trong thâm hụt cán cân thương mại phản ảnh sự sụt giảm trong tăng trưởng kinh tế; vì thế, chính phủ sẽ gia tăng chi tiêu để vực dậy nền kinh tế, điều này có thể dẫn đến thâm hụt ngân sách Chẳng hạn, khi một quốc gia trải qua một cuộc khủng hoảng tài chính hoặc khủng hoảng cán cân thanh toán do thâm hụt mậu dịch có thể đối mặt với tình huống mà lượng lớn quỹ công được bơm vào để phục hồi ngành tài chính đang gặp khó khăn, cải thiện hệ thống quản trị doanh nghiệp, nhằm chặn đứng cuộc suy thoái, vực dậy nền kinh tế Ví dụ, thâm hụt tài khóa tại Hàn Quốc có thể được pháp tăng đáng kể cho mục đích hỗ trợ các hoạt động kinh tế, tăng cường sức mạnh mạng lưới an toàn xã hội sau cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 Theo Summers (1988), mối quan hệ nhân quả đảo ngược từ cán cân mậu dịch đến cán cân ngân sách được gọi là cán cân mậu dịch mục tiêu Ông cho rằng điều chỉnh cán cân bên ngoài có thể dẫn đến sự thay đổi trong cán cân ngân sách
Trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 1988, Khalid và Guan đã sử dụng chuỗi thời gian với mẫu lựa chọn bao gồm cả những nước phát triển và đang phát triển có mức chi tiêu chính phủ và thâm hụt cán cân thương mại cao cho nghiên cứu của mình để có được sự so sánh giữa các quốc gia Các nước phát triển gồm Mỹ, Anh, Pháp, Canada, Úc, còn các quốc gia đang phát triển là Ấn Độ, Indonesia, Pakistan, Ai Cập và Mexico Nghiên cứu này có hai mục đích chính: thứ nhất là kiểm định sự hiện diện của mối quan hệ dài hạn (đồng liên kết) giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt cán cân thương mại bằng phương pháp Engle – Granger Test và Johansen – Trace Test, thứ nhất là kiểm định sự hiện diện của mối quan hệ dài hạn (đồng liên kết) giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt cán cân thương mại bằng
Trang 32phương pháp Granger Causality Test dựa trên mô hình VAR Và kết quả thực nghiệm cho thấy rằng, có hiện diện mối quan hệ dài hạn giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở 4 trong số 5 quốc gia đang phát triển được kiểm định Trong khi đó, không quốc gia phát triển nào có hiện diện mối quan hệ này Kết quả từ kiểm định quan hệ nhân quả Granger cho thấy có mối quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại ở Indonesia và Pakistan, trong khi mối quan hệ nhân quả theo chiều ngược lại ở Ai Cập và Mexico Đối với các nước phát triển, không tồn tại mối quan hệ nhân quả nào giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại ở Mỹ và Úc, nhưng có bằng chứng yếu về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt cán cân thương mại ở Canada
Theo một nghiên cứu khác của Anoruo và Ramchander(1998) phân tích chuỗi thời gian đa biến bao gồm chi tiêu chính phủ, thâm hụt thương mại, lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn ngắn, tỷ giá hối đoái, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) và lạm phát Mẫu được lựa chọn gồm 5 quốc gia Đông Nam Á là Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia và Philippin trong thời kỳ 1957 – 1993 Mô hình VAR được ước lượng làm nền tảng để kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa các biến Kết quả cho thấy hiện diện mối quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại (không có mối quan hệ theo chiều ngược lại) ở hầu hết các nước trong mẫu nghiên cứu, ngoại trừ trường hợp Malaysia có mối quan hệ hai chiều Kết quả này
đã củng cố thêm bằng chứng thực nghiệm hỗ trợ cho giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu Mặc khác, nghiên cứu này đã cho thấy rằng vẫn có một số biến kinh tế vĩ
mô tác động đến thâm hụt thương mại và chi tiêu chính phủ, nên cũng sẽ ảnh hưởng đến mối quan hệ nhân quả giữa hai biến vĩ mô này
Trong khi đó, Chul – Hwan Kim và Donggeun Kim (2007) đã sử dụng kiểm định WALD hiệu chỉnh theo phương pháp Toda – Yamamoto (1995) để kiểm định xem liệu chi tiêu chính phủ gia tăng làm thâm hụt ngân sách tăng cao có dẫn đến thâm hụt thương mại trầm trọng hơn ở Hàn Quốc hay không Dữ liệu được thu thập theo năm từ 1970 đến 2003; ngoài biến cán cân ngân sách và cán cân thương mại (tính theo phần trăm GDP), tác giả đưa thêm biến tỷ giá hối đoái vào mô hình Điểm khác
Trang 33biệt của nghiên này so với các nghiên cứu trước đó là dùng phương pháp kiểm định phi nhân quả Granger được đề xuất bởi Toda – Yamamoto (1995) dựa trên mô hình VAR bổ sung Điểm gãy cấu trúc trong dữ liệu cũng được xem xét để tránh bị sai lệch khi kiểm định tính dừng của các biến Kết quả thực nghiệm cho thấy bằng chứng mạnh mẽ về sự hiện hiện của mối quan hệ nhân quả từ cán cân thương mại đến cán cân ngân sách, tuy nhiên mối quan hệ theo chiều ngược lại không tồn tại Ở khía cạnh khác, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy rằng tỷ giá hối đoái có ảnh hưởng đến cả cán cân ngân sách và cán cân mậu dịch Nếu như việc tỷ giá tác động đến cán cân thương mại được giải thích bởi các lý thuyết một cách thuyết phục, thì thật khó để giải thích cho sự tác động của tỷ giá hối đoái lên chi tiêu chính phủ
Cũng tương tự nghiên cứu của Chul – Hwan Kim và Donggeun Kim (2007), trong một nghiên cứu được thực hiện vào năm 2011, Sofia Kalou và Suzanna – Maria Paleologou đã dùng mô hình hiệu chỉnh sai số vector (VECM) để xác định mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại ở Hy Lạp trong giai đoạn 1960 – 2007 Ngoài hai biến chủ đạo là thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại (tính theo phần trăm GDP), tác giả còn đưa thêm biến kinh tế vĩ mô như lãi suất ngắn hạn, tỷ giá danh nghĩa vào mô hình vì cho rằng các biến số này có thể tác động đáng kể đến mối quan hệ nhân quả đang được kiểm định Bên cạnh đó, các điểm gãy cấu trúc có thể xảy ra cũng được xem xét khi thực hiện kiểm định nghiệm đơn vị để tránh bị sai lệch Kết quả thực nghiệm cho thấy sự hiện diện của mối quan
hệ nhân quả cùng chiều từ thâm hụt thương mại đến thâm hụt ngân sách Ở một khía cạnh khác, kết quả nghiên cứu này hàm ý rằng ở các nền kinh tế nhỏ của Liên minh tiền tệ châu Âu (EMU) như Hy Lap, sự phát triển nội địa không chỉ chịu tác động bởi các cán cân bên ngoài mà còn bị ảnh hưởng một cách tương tự bởi các yếu
tố kinh tế vĩ mô khác
2.2.3 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết cân bằng Ricardo
Theo giả thuyết cân bằng Ricardo (còn được gọi là Định lý cân bằng Ricardo), giả thuyết này cho rằng không tồn tại bất kỳ mối quan hệ nhân quả nào
Trang 34Barro-giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại một sự gia tăng trong thâm hụt ngân sách sẽ không gây ảnh hưởng đến lãi suất nội địa, tỷ giá hối đoái và do đó cũng không tác động đến cán cân thương mại
Với mục tiêu nghiên cứu tác động của thâm hụt ngân sách chính phủ liên bang đến lãi suất ngắn hạn (được đo lường bằng lãi suất tín phiếu kho bạc kỳ hạn 3 tháng), McMillin (1986) đã dùng kiểm định nhân quả Granger đa biến với chuỗi dữ liệu thu thập từ nền kinh tế Mỹ giai đoạn 1957-1984 để tiến hành phân tích thực nghiệm Bên cạnh đó, tác giả cũng kiểm định tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô khác đến lãi suất ngắn hạn bao gồm sản lượng thực, lạm phát, tăng trưởng cung tiền, biến động lãi suất và cú sốc từ phía cung Và kết quả cho thấy thâm hụt ngân sách không
có mối quan hệ nhân quả Granger với lãi suất Đây có thể xem là kết luận hỗ trợ giả thuyết cân bằng Ricardo khi cho rằng thâm hụt ngân sách sẽ không tác động đến lãi suất, từ đó không gây ra áp lực lên tỷ giá hối đoái và không làm xấu đi tình hình cán cân tài khoản vãng lai Bên cạnh đó, nghiên cứu của Kustepeli (2001) khi nghiên cứu thực nghiệm ở nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 1975 – 1995 cũng cho ra kết quả tương tự
Ngoài ra, trong một nghiên cứu thực nghiệm với quy mô lớn gồm 20 nước phát triển và đang phát triển vào năm 2002, Kouassi và các cộng sự không tìm thấy bằng chứng nào về mối quan hệ nhân quả giữa chi tiêu ngân sách chính phủ và thâm hụt thương mại ở hầu hết các nước phát triển trong mẫu (Anh, Pháp, Mỹ, Úc, Canada…) Theo đó, các tác giả đã thực hiện kiểm định phi nhân quả Granger dựa trên mô hình VAR bổ sung được phát triển bởi Toda – Yamamoto (1995) đối với hai biến thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại Kết quả thực nghiệm cho thấy rằng hầu hết các nước đang phát triển đều không có bằng chứng thuyết phục về sự hiện diện của mối quan hệ nhân giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại, ngoại trừ Hàn Quốc, Thái Lan Kết quả tương tự đối với các nước phát triển khi chỉ tìm thấy mối quan hệ nhân quả một chiều từ thâm hụt thương mại sang thâm hụt ngân sách ở Ý
Trang 35Tương tự, Papadogonas và Stournaras (2006) cũng khẳng định rằng những biến đối trong cán cân ngân sách có tác động rất nhỏ đến cán cân tài khoản vãng lai khi nghiên cứu thực nghiệm về giả thuyết thâm hụt kép ở 15 quốc gia thuộc EU Theo
đó, nghiên cứu cho thấy những thay đổi trong cán cân ngân sách chính phủ sẽ dẫn đến một thay đổi tương ứng theo chiều ngược lại trong chênh lệch giữa tiết kiệm và đầu tư tư nhân, vì thế sẽ không ảnh hưởng đến cán cân tài khoản vãng lai (do tiết kiệm quốc gia vẫn không đổi nên không ảnh hưởng đến lãi suất nội địa) Chính vì vậy, không thể điều chỉnh cán cân tài khoản vãng lai bằng việc tác động vào cán cân ngân sách
2.2.4 Các nghiên cứu hỗ trợ giả thuyết về mối quan hệ nhân quả hai chiều
Giả thuyết này cho rằng có tổn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại Nghĩa là bất kỳ một sự thay đổi trong nhân tố này sẽ dẫn đến một sự thay đổi trong nhân tố kia và ngược lại Và trong quá khứ chỉ
có một số ít các nghiên cứu thực nghiệm cho ra kết quả hỗ trợ giả thuyết này
Trong số đó tiêu biểu là nghiên cứu của Faizul Islam (1998), ông đã thực hiện kiểm định mối quan hệ nhân quả giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại trong giai đoạn 1973-1991 ở Brazil với dữ liệu được thu thập theo quý Thông qua việc sử dụng kiểm định nhân quả Granger, tác giả đã tìm thấy được bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thâm hụt ngân sách và thâm hụt thương mại
Trong một nghiên cứu khác của Brahim Mansouri (1998) về mối quan hệ giữa thâm hụt tài khóa và biến động cán cân tài khoản vãng lai ở Ma Rốc, ông đã đưa ra kết luận về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa thâm hụt tài khóa và thâm hụt tài khoản vãng lai Theo đó, Mansouri đã sử dụng phương pháp kiểm định đồng liên kết Engle – Granger và ước lượng mô hình hiệu chỉnh sai số (ECM) để phân tích mối quan hệ giữa các biến Kết quả cho thấy có mối quan hệ nhân quả cả trong ngắn hạn lẫn dài hạn giữa hai cán cân đang được xem xét Điều này hoàn toàn khác so với các nghiên cứu cùng chủ đề trước đây
Trang 36Bên cạnh đó, một nghiên cứu khá mới của Selim Kayhan và các cộng sự (2013) đã đưa ra kết luận về mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại khi thực hiện nghiên cứu nền kinh tế Thổ Nhĩ Kỳ trong khoảng thời gian từ Q1/1987 đến Q3/2011 Thông qua các phương pháp nghiên cứu có độ tin cậy cao, phương pháp bootstrap của Hacker và Hatemi-J (2006) dựa trên kiểm định Toda – Yamamoto (1995) và phương pháp miền tần số, các tác giả nhận thấy rằng quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ đến thâm hụt thương mại tồn tại trong ngắn
và trung hạn, trong khi đó quan hệ nhân quả từ thâm hụt thương mại đến chi tiêu chính phủ lại tồn tại trong ngắn và dài hạn
Bảng 2.1 : Tóm tắt kết quả của các nghiên cứu thực nghiệm trước đây về mối
quan hệ giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
Kết quả hỗ trợ giả thuyết quan hệ nhân quả từ chi tiêu chính phủ đến thâm
Yi (1993) Mỹ 1973 - 1988 GE, Y, TB Two – country
neoclassical model
Trang 38Müller
Kết quả hỗ trợ giả thuyết cán cân mậu dịch mục tiêu
1957 – 1993
GE, BD,
TB, IR, EX, GDP, INF
Granger causality test
TB, EX, IR Mô hình VECM
Kết quả hỗ trợ giả thuyết cân bằng Ricardo
GE, BD, TB Phương pháp Toda –
Yamamoto (1995)
Trang 39Papadogonas
và Stournaras
(2006)
EU 1970 – 2003 GE, BD, TB Mô hình VAR
Kết quả hỗ trợ giả thuyết về mối quan hệ nhân quả hai chiều
Islam (1998) Brazil 1973 – 1991 BD, TB Granger causality test
Mansouri
Phương pháp Engle – Granger và mô hình VECM
Trang 40CHƯƠNG 3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mối quan hệ nhân quả Granger giữa chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại
Theo Granger (1969), tương lai không thể tạo ra hiện tại hoặc quá khứ Nếu một sự kiện Y xảy ra sau sự kiện X, thì Y không thể tạo ra X Vì vậy, điều cần quan tâm là liệu X có gây ra Y hay không Lý thuyết quan hệ nhân quả của Granger có thể được
áp dụng trên nhiều biến, tuy nhiên trong bài nghiên cứu này, chúng ta chỉ giới hạn phạm vi nghiên cứu trong hai biến, đó là biến chi tiêu chính phủ và thâm hụt thương mại Đối với các chuỗi thời gian, Granger cho rằng nếu Xt gây ra Yt thì giá trị hiện tại của Yt có thể được dự báo tốt hơn dựa trên việc sử dụng giá trị quá khứ của Xtbên cạnh các thông tin quá khứ của chính Yt
Điều kiện để chuỗi thời gian Xt có quan hệ nhân quả đến chuỗi thời gian Yt có thể được diễn đạt như sau:
μ(y y, x⁄ ) < 𝜇( y y⁄ ) (1) Trong đó, μ(y y, x⁄ ) là sai số trung bình của Y khi được dự báo dựa trên giá trị quá khứ của cả Y và X Còn μ(y y⁄ ) là sai số trung bình của Y khi được dự báo chỉ dựa vào giá trị quá khứ của Y
Tương tự, chuỗi Yt có quan hệ nhân quả đến Xt nếu:
μ(x x, y⁄ ) < 𝜇( x x⁄ ) (2) Nếu cả (1) và (2) xảy ra đồng thời thì sẽ tồn tại mối quan hệ nhân quả hai chiều giữa
Xt và Yt
Về bản chất, kiểm định nhân quả Granger dựa trên hệ phương trình sau:
Yt = a0+ a1Yt−1+ +apYt−p+ b1Xt−1+ +bpXt−p+ ut (3)
Xt = c0+ c1Xt−1+ +cpXt−p+ d1Yt−1+ +dpYt−p+ vt (4)