1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Xác định tỷ giá hối đoái cân bằng của Việt Nam: Tiếp cận theo hướng tỷ giá cân bằng hành vi

134 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 134
Dung lượng 1,81 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên, lý thuyết này có những hạn chế nhất định, đặc biệt nếu xét trong ngắn hạn.3 Hơn nữa, mô hình đã bỏ qua tác động của các yếu tố vĩ mô khác như dòng chu chuyển vốn, chính sách t

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS TS HỒ VIẾT TIẾN

TP Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS Hồ Viết Tiến Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng

Nếu có bất kỳ sự gian lận nào tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm

TP.HCM, ngày tháng năm 2015

Đỗ Ngọc An Dy

Trang 4

MỤC LỤC

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN 1

MỤC LỤC 2

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU 6

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ 7

MỞ ĐẦU 1

Đặt vấn đề 1

Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu 2

Phạm vi nghiên cứu 3

Phương pháp nghiên cứu 3

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ CÂN BẰNG 6

1.1 Tỷ giá thực cân bằng (Equilibrium Real Exchange Rate – ERER) 6

1.2 Mô hình xác định tỷ giá cân bằng 8

1.2.1 Mô hình ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity- PPP) 8

1.2.2 Mô hình tỷ giá cân bằng cơ sở (Fundamental equilibrium exchange rate - FEER) 10 1.2.3 Mô hình tỷ giá cân bằng hành vi (Behavioral equilibrium exchange rates – BEER) 11

1.3 Cơ chế xác định tỷ giá 13

1.3.1 Chế độ điều hành tỷ giá 13

1.3.1.1 Chế độ tỷ giá cố định 13

1.3.1.2 Chế độ tỷ giá thả nổi 14

1.3.1.3 Chế độ neo tỷ giá 15

1.3.1.4 Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý 15

1.3.2 Phương thức can thiệp tỷ giá 16

1.3.2.1 Can thiệp trực tiếp 16

1.3.2.2 Can thiệp gián tiếp 17

1.4 Cơ chế tỷ giá tại Việt Nam 17

1.5 Kết luận chương 1 21

Trang 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ GIỮA TỶ GIÁ

HỐI ĐOÁI VÀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ 23

2.1 Tổng quan các nghiên cứu về tỷ giá cân bằng trên thế giới 23

2.2 Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá và các nhân tố vĩ mô tại Việt Nam 27

2.2.1 Các nghiên cứu về vai trò của tỷ giá đối với các nhân tố vĩ mô tại Việt Nam 27

2.2.1.1 Lạm phát 28

2.2.1.2 Cán cân thương mại 30

2.2.2 Các nghiên cứu về tỷ giá cân bằng tại Việt Nam 31

2.3 Kết luận chương 2 34

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU VÀ MÔ HÌNH THỰC NGHIỆM 36

3.1 Phương pháp kinh tế lượng 36

3.1.1 Kiểm định tính dừng 36

3.1.2 Mô hình VECM 39

3.1.3 Phương pháp phân tích đồng liên kết Johansen 40

3.1.3.1 Xác định quan hệ đồng liên kết 40

3.1.3.2 Thành phần xác định trong mô hình VECM 43

3.1.3.3 Ước lượng độ sai lệch tỷ giá 44

3.2 Xây dựng biến 45

3.2.1 Tỷ giá thực hiệu lực (REER) 47

3.2.2 Hiệu ứng Balassa-Samuelson (BSE) 49

3.2.3 Độ mở nền kinh tế (OPEN) 50

3.2.4 Chi tiêu chính phủ (GOVEX) 51

3.2.5 Dự trữ ngoại hối (FR) 52

3.2.6 Điều kiện thương mại (TOT) 54

3.3 Dữ liệu 55

3.4 Kết luận chương 3 57

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58

4.1 Kiểm định bậc liên kết 58

4.2 Phân tích đồng liên kết 59

4.3 Phân tích kết quả thực nghiệm về tỷ giá cân bằng 65

4.3.1 Giai đoạn 2000-2007: 67

4.3.2 Giai đoạn 2008-2012: 68

Trang 6

4.3.3 Giai đoạn 2012 đến nay: 72

4.4 Kết luận chương 4 73

KẾT LUẬN 75

Kết luận rút ra từ mô hình 75

Khuyến nghị 76

Hạn chế 78

TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC

Trang 7

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

ADF Augmented Dickey-Fuller – Kiểm định Dickey - Fuller mở rộng BEER Behavioral Equilibrium Exchange Rate – Tỷ giá cân bằng hành vi CPI Consumer Price Index – Chỉ số giá tiêu dùng

FDI Foreign Direct Investment – Đầu tư trực tiếp nước ngoài

FRED Federal Reserve Economic Data – Dữ liệu Cục dự trữ Liên bang GDP Gross Domestic Product – Tổng sản phẩm quốc nội

GSO General Statistics Office of Viet Nam – Tổng cục thống kê Việt Nam ILO International Labour Organization – Tổ chức Lao động quốc tế IMF International Monetary Fund – Tổ chức Tiền tệ quốc tế

NHNN Ngân hàng Nhà nước

NHTW Ngân hàng Trung Ương

NSNN Ngân sách nhà nước

OER Tỷ giá chính thức

OLS Ordinary Least Square – Phương pháp bình phương nhỏ nhất

PPP Purchasing Power Parity – Ngang giá sức mua

REER Real Effective Exchange Rate – Tỷ giá thực hiệu lực

USD United States Dollar - Đồng đô la Mỹ

VECM Vector Error Correction Model – Mô hình hiệu chỉnh sai số vector Vietcombank Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại thương Việt Nam

VND Vietnamese Dong - Đồng Việt Nam

WB World Bank – Ngân hàng thế giới

Trang 8

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 1.1: Phân loại đặc điểm các mô hình xác định tỷ giá cân bằng 7

Bảng 1.2: Cơ chế tỉ giá của Việt Nam theo thời gian 18

Bảng 2.1:4Kết quả ước lượng hệ số cân bằng dài hạn theo Hạ Thị Thiều Dao 32 Bảng 2.2:5Kết quả ước lượng phương trình tỷ giá thực cân bằng theo Nguyễn Thị Thu Hằng (2013) 34

Bảng 3.1:6Tổng hợp các mô hình nghiên cứu tỷ giá cân bằng trên thế giới 45

Bảng 3.2:7Danh sách 20 đối tác thương mại với Việt Nam và tỷ trọng ngoại thương của từng nước 48

Bảng 3.3:8Các chuỗi gốc và nguồn dữ liệu sử dụng trong mô hình 56

Bảng 3.4:9Tổng kết các biến dùng trong mô hình 57

Bảng 4.1:10Kiểm định nghiệm đơn vị đối với chuỗi thời gian gốc và sai phân bậc 1 (Tiêu chuẩn AIC, độ trễ tối đa 10) 58

Bảng 4.2:11Kết quả xác định độ trễ theo các tiêu chuẩn thông tin 59

Bảng 4.3:12Kết quả kiểm định chẩn đoán mô hình VAR với đội trễ 4 và 5 61

Bảng 4.4:13Kết quả kiểm định đồng liên kết Johansen 62

Bảng 4.5:14Trị thống kê Johansen với mô hình 3 62

Trang 9

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1:2Biểu đồ diễn biến tỷ giá USD/VNĐ chính thức và thực tế giai đoạn

2008 - 2013 20 Hình 2.1: Biểu đồ dự trữ ngoại hối và xuất khẩu của Trung Quốc từ năm 1994 đến nay 25 Hình 2.2:3Sơ đồ kênh truyền dẫn tác động từ tỷ giá đến lạm phát 28 Hình 2.3:4Tỷ giá thực, tỷ giá cân bằng và độ sai lệch dài hạn theo Hạ Thị Thiều Dao 33 Hình 2.4:5Sai lệch dài hạn và Sai lệch ngắn hạn theo Nguyễn Thị Thu Hằng 34 Hình 4.1:6Biểu đồ kiểm định nghiệm của đa thức đặc trưng 65 Hình 4.2:7Biểu đồ tỷ giá REER, tỷ giá cân bằng BEER và tỷ giá PEER 66 Hình 4.3:8Biểu đồ độ sai lệch tỷ giá ngắn hạn và dài hạn 66 Hình 4.4:9Biểu đồ tỷ giá, tăng trưởng GDP và cán cân vãng lai 2000 - 2014 67 Hình 4.5:10Biểu đồ các chuỗi thời gian trong mô hình tỷ giá cân bằng 71

Trang 10

MỞ ĐẦU Đặt vấn đề

Cùng với quá trình hội nhập của nền kinh tế đối với thị trường thương mại và tài chính toàn cầu, vấn đề tỷ giá trong đó có điều hành tỷ giá tại Việt Nam có vai trò ngày càng lớn hơn đối với nền kinh tế và là một mục tiêu quan trọng trong điều hành

vĩ mô Nếu như năm 1995, độ mở của nền kinh tế, là chỉ tiêu tổng kim ngạch thương mại so với GDP danh nghĩa, chỉ là 97% so với quy mô nền kinh tế (theo giá danh nghĩa là hơn 441 nghìn tỷ VNĐ) thì đến năm 2014, tỷ lệ này đã là 1.5 lần trên tổng quy mô nền kinh tế là 3,584 nghìn tỷ VNĐ Do đó, bất kỳ sự biến động nào của tỷ giá cũng sẽ dẫn đến những tác động lớn đối với nền kinh tế

Trong giai đoạn 2008-2011, vấn đề tỷ giá tăng thường xuyên gây tác động lớn lên mặt bằng giá cả, đặc biệt là kích thích tâm lý tích trữ ngoại tệ trong dân chúng, tạo ra những con sóng lớn trên thị trường tài chính Nguyên nhân căn bản là do chênh lệch lạm phát lớn giữa Việt Nam và thế giới, cụ thể là Hoa Kỳ, trong khi tiền đồng bị neo chặt vào USD Theo số liệu từ IMF, trong giai đoạn này, tỷ giá chính thức đã tăng khoảng 24%, trong khi chênh lệch lạm phát theo CPI giữa Việt Nam và Hoa Kỳ lên tới 34% Mặt khác, nền kinh tế cũng đối mặt với tình trạng suy giảm dòng vốn FDI đột ngột sau khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu năm 2008 Nếu như năm

2008, sau khi gia nhập WTO, vốn FDI chuyển vào Việt Nam đạt đỉnh là hơn 9.5 tỷ USD, sang năm 2009, FDI chuyển vào chỉ còn 7.6 tỷ USD

Sau giai đoạn bất ổn tỷ giá, NHNN đã nêu rõ quan điểm chính sách điều hành

tỷ giá ổn định, trên cơ sở kiềm chế lạm phát và cải thiện cán cân thanh toán Mục tiêu chính sách điều hành trong năm qua và thời gian tới là duy trì tỷ giá biến động không quá 1-2%/năm Thực tế, sau lần phá giá mạnh 9.3% vào đầu năm 2011, diễn biến tỷ giá tương đối ổn định, thị trường không có những giai đoạn biến động dài và mạnh như thời gian trước.1

Trang 11

Mặc dù được xem là một thành tựu trong điều hành chính sách vĩ mô, việc tỷ giá duy trì trong biên độ hẹp suốt thời gian qua đã làm dấy lên một số tranh luận về việc tỷ giá đã bị lên giá làm mất lợi thế cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam trên thị trường quốc tế Những năm gần đây, lạm phát tuy đã giảm đáng kể, nhưng chênh lệch lạm phát hằng năm giữa Việt Nam và Hoa Kỳ vẫn khá lớn, bình quân khoảng 4.9%/năm trong giai đoạn 2012-2014 Mặt khác, trong bối cảnh gần đây các nước thực hiện các biện pháp nới lỏng để hỗ trợ nền kinh tế, việc tiền đồng bị neo chặt với USD khiến tiền đồng lên giá đáng kể so với các quốc gia khác Cụ thể, trong vòng 1 năm từ tháng 4/2014 đến nay, theo tính toán của tác giả, đồng Euro và đồng Yên đã lần lượt mất khoảng 20% và 12% giá trị so với tiền đồng2

Hầu hết các tranh luận hiện nay chủ yếu thông qua tính toán bộ tỷ giá thực song phương hoặc đa phương được điều chỉnh lạm phát giữa Việt Nam và các nước Tuy nhiên, lý thuyết này có những hạn chế nhất định, đặc biệt nếu xét trong ngắn hạn.3

Hơn nữa, mô hình đã bỏ qua tác động của các yếu tố vĩ mô khác như dòng chu chuyển vốn, chính sách tài khóa…Vì vậy, từ thực tiễn đã đặt ra, tác giả đề xuất thực hiện nghiên cứu “Xác định tỷ giá hối đoái cân bằng của Việt Nam: tiếp cận theo hướng tỷ giá cân bằng hành vi” Thông qua mô hình định lượng, tác giả muốn góp phần làm rõ các yếu tố có ảnh hưởng lên tỷ giá cũng như xác định mức độ sai lệch so với tỷ giá cân bằng của nền kinh tế

Đối tượng nghiên cứu và mục tiêu nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là tỷ giá tại Việt Nam

So với các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, mô hình nghiên cứu này có một

số điểm khác biệt sau:

- Mô hình sử dụng kỹ thuật phân tích đồng liên kết của Johansen trong khi các nghiên cứu trước đây sử dụng kỹ thuật phân tích đồng liên kết của Engle

2 Nguồn: Tỷ giá ngoại tệ Vietcombank

3 Xem (Trần Ngọc Thơ, 2011, trang 181-191) Kết quả khảo sát sự tồn tại của PPP tại Việt Nam giai đoạn 1995-2009

Trang 12

hoặc mô hình ARDL Kỹ thuật Johansen là phép kiểm định tổng quát hơn,

áp dụng cho các mô hình có thể có nhiều mối quan hệ đồng liên kết so với

kỹ thuật Engle, đồng thời cho phép xác định mức cân bằng ngắn hạn và dài hạn của tỷ giá thực Đây cũng là kỹ thuật ước lượng mô hình tỷ giá cân bằng hành vi được đề xuất lần đầu bởi (MacDonald, 1998)

- Mô hình sử dụng dữ liệu gốc theo quý là GDP thực đại diện cho tăng trưởng năng suất và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu đại diện cho điều kiện thương mại Các tác giả trước sử dụng chuỗi thời gian được nội suy từ dữ liệu năm

- Mô hình mở rộng thời gian nghiên cứu đến thời điểm là Q3/2014 Dữ liệu

mở rộng cho phép xem xét hiệu quả của các chính sách ổn định tỷ giá được

áp dụng từ năm 2011 đến nay

Nghiên cứu có mục tiêu sử dụng mô hình thực nghiệm để xác định tỷ giá cân bằng và độ lệch so với tỷ giá cân bằng trong ngắn hạn và dài hạn.Nghiên cứu có các mục tiêu cụ thể như sau:

- Xác định giá trị cân bằng của tỷ giá trong thời kỳ nghiên cứu

- Thông qua các bằng chứng từ mô hình thực nghiệm, xác định trạng thái của

tỷ giá là cao hơn/thấp hơn hay cân bằng so với giá trị thực

- Đánh giá các tác động của chính sách tỷ giá lên nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn sau khi Việt Nam gia nhập WTO

Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu tập trung vào phân tích định lượng mức tỷ giá cân bằng và độ lệch khỏi tỷ giá cân bằng trong trường hợp của Việt Nam từ quý 1/2000 đến quý 3/2014

Phương pháp nghiên cứu

Để hoàn thành đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp: thu thập thông tin, tổng hợp và phân tích số liệu từ Internet, các bài báo, các bài nghiên cứu….Ngoài ra, tác giả tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm để xác định độ lệch giữa tỷ giá hối đoái so với giá trị dài hạn Phương pháp kinh tế lượng được sử dụng trong đề tài là mô hình ước lượng véc tơ hiệu chỉnh sai số VECM (Vector Error Correction) kết hợp với

Trang 13

kiểm định Johansen để xác định mối quan hệ đồng liên kết trong mô hình Các kỹ thuật thực nghiệm được thực hiện trên phần mềm Eviews 8

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mô hình hóa tỷ giá cân bằng tại Việt Nam trong thời kỳ nghiên cứu Thông qua các mục tiêu nghiên cứu, bài viết sẽ góp phần hoàn thiện những nghiên cứu về tỷ giá tại Việt Nam và đưa ra những khuyến nghị cho việc điều hành chính sách, cụ thể:

- Hoàn thiện phương pháp phân tích định lượng các nhân tố ảnh hưởng tới

tỷ giá của Việt Nam

- Phân tích thực trạng điều hành tỷ giá tại Việt Nam thông qua mô hình Tỷ giá cân bằng hành vi trong giai đoạn từ năm 2000 đến nay

- Ứng dụng kết quả phân tích trong điều hành tỷ giá ở Việt Nam

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục từ viết tắt, danh mục đồ thị và bảng biểu, tài liệu tham khảo và phụ lục, đề tài gồm có bốn phần chính với các nội dung như sau:

Chương 1, giới thiệu tổng quát những lý thuyết nền tảng về mô hình xác định

tỷ giá và cơ chế xác định tỷ giá Nội dung Chương 1 nhằm xem xét mô hình tỷ

giá cân bằng phù hợp với Việt Nam và làm rõ những ảnh hưởng về mặt lý thuyết

từ chính sách của NHTW đối với tỷ giá Mặt khác, tác giả cũng trình bày các khảo sát đối với cơ chế tỷ giá tại Việt Nam

Chương 2, trình bày tổng quan các nghiên cứu về tỷ giá cân bằng trên thế giới và tại Việt Nam Nội dung chương 2 thông qua khảo sát các nghiên cứu về

tỷ giá cân bằng trên thế giới làm cơ sở đề xuất các nhân tố vĩ mô có tác động lên

tỷ giá trong dài hạn Đồng thời, thông qua khảo sát các nghiên cứu trước đây tại Việt Nam, tác giả mong muốn tìm hiểu mối quan hệ giữa các nhân tố vĩ mô và tỷ giá, đồng thời so sánh với các dự báo của lý thuyết

Chương 3, trình bày phương pháp ước lượng và xây dựng mô hình Nội dung

chương 3 bao gồm việc trình bày mô hình kinh tế lượng, phương pháp xây dựng

Trang 14

biến và nguồn dữ liệu Theo đó, các mô hình và kỹ thuật kiểm định được đề xuất dựa trên kết quả khảo sát các nghiên cứu tại Chương 1 và Chương 2

Chương 4, trình bày kết quả nghiên cứu Nội dung chương 4 trình bày các

ước lượng tỷ giá cân bằng từ mô hình thực nghiệm đồng thời thực hiện phân tích diễn biến tỷ giá trong thời gian nghiên cứu cúng như đánh giá vai trò của cơ chế điều hành lên tỷ giá Trên cơ sở các phân tích, tác giá đề xuất một vài khuyến nghị tại chương Kết luận

Trang 15

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ CÂN BẰNG

1.1 Tỷ giá thực cân bằng (Equilibrium Real Exchange Rate – ERER)

Theo định nghĩa truyền thống, tỷ giá thực là mức giá cả tương đối của hàng hóa giữa 2 quốc gia (Mankiw, 2002) Đây là hình thức PPP tuyệt đối, cho rằng dưới ảnh hưởng của luật một giá mở rộng, mặt bằng giá cả ở một quốc gia phải tương đương với quốc gia khác, sau khi quy đổi theo tỷ giá danh nghĩa Theo (Trần Ngọc Thơ, 2011), do những điều kiện không hoàn hảo của thị trường, như chi phí giao dịch, hàng rào ngoại thương, bất cân xứng thông tin, hình thức PPP tuyệt đối hiếm khi tồn tại

Vì vậy, các nhà kinh tế đưa ra khái niệm tỷ giá thực theo PPP tương đối, được định nghĩa là tỷ giá danh nghĩa được hiệu chỉnh theo tỷ lệ giá cả tương đối ở trong nước

so với ngoài nước Điều này hàm ý rằng do những bất hoàn hảo kể trên mà mức giá

cả ở trong và ngoài nước không nhất thiết phải bằng nhau, nhưng những thay đổi tương đối trong mặt bằng giá cả phải được thể hiện trong tỷ giá

Tỷ giá thực đa phương hay tỷ giá thực hiệu lực (REER) là tỷ giá được hiệu chỉnh lạm phát theo một rổ các quốc gia đối tác có quan hệ thương mại REER là một chỉ

số quan trọng được nhiều nhà nghiên cứu xem là đại diện cho sức cạnh tranh của hàng hóa một quốc gia trên thị trường quốc tế và được tham khảo với chính sách tiền

tệ và tỷ giá (Ting, 2009)

(Phạm Thị Hoàng Anh, 2010) định nghĩa tỷ giá thực cân bằng là “tỷ giá được xác định tự do tại điểm giao nhau giữa đường cung và đường cầu tiền tệ trên thị trường ngoại hối mà không có bất cứ một sự can thiệp nào của NHTW Tỷ giá cân bằng được xác định theo cách này được gọi là tỷ giá cân bằng thị trường (market equilibrium exchange rate).” Khái niệm tỷ giá cân bằng trên được đề xuất ban đầu bởi (Williamson, 1985) nhằm tính toán mức độ sai lệch của tỷ giá thực so với tỷ giá cân bằng

(Ting, 2009) lưu ý cần phải xem xét đến khung thời gian khi nghiên cứu tỷ giá cân bằng (Phạm Thị Hoàng Anh, 2010) phân loại tỷ giá cân bằng gồm 3 nhóm là: tỷ giá cân bằng trong ngắn hạn, trong trung hạn, và trong dài hạn Cụ thể, tỷ giá cân bằng ngắn hạn là mức tỷ giá phản ánh những ảnh hưởng của các nhân tố kinh tế cơ

Trang 16

bản, không bao gồm những cú sốc trong nền kinh tế Tỷ giá cân bằng ngắn hạn theo

đó được tính toán dựa trên giá trị hiện tại hay giá trị ngắn hạn của các nhân tố kinh tế (current value) Tỷ giá cân bằng trung hạn là mức tỷ giá phản ánh sự cân bằng của toàn nền kinh tế, bao gồm cân bằng bên trong và cân bằng bên ngoài Theo đó, cân bằng bên trong đạt được khi nền kinh tế đạt trạng thái toàn dụng về sản lượng mà không gây ra lạm phát Đồng thời, cân bằng bên ngoài là trạng thái cân bằng của cán cân vãng lai tương ứng với tình trạng toàn dụng trong nền kinh tế Dựa trên giả định tổng cầu bằng tổng cung dài hạn, Mô hình cân bằng dài hạn của nền kinh tế được (Trần Ngọc Thơ, 2011) trình bày ngắn gọn trong công thức thâm hụt kép như sau:

C + I + G + X − M = C + S + T (1)

=> (X − M) = (S − I) − (G − T) (2) Phương trình (1) thể hiện tổng sản lượng cân bằng với tổng cầu trong nền kinh

tế Phương trình (2) thể hiện cán cân mậu dịch bằng tổng tiết kiệm ròng trừ đi chi tiêu ròng của khu vực công Như vậy, bất kỳ sự mất cân bằng nào trong nội bộ nền kinh

tế có thể dẫn đến trạng thái thâm hụt trên cán cân thanh toán nếu mức tiết kiệm là không đổi

Cuối cùng, tỷ giá cân bằng dài hạn là mức tỷ giá cân bằng khi nền kinh tế đạt trạng thái cân bằng về vốn và sản lượng, dựa trên giá trị dài hạn của các biến số kinh

tế vĩ mô

Bảng 1.1: Phân loại đặc điểm các mô hình xác định tỷ giá cân bằng

thời gian

Giả thuyết thống kê

Biến phụ thuộc

Ngang giá sức

mua (PPP)

-Thay đổi của tỷ giá trong tương lai bằng chênh lệch lạm phát giữa hai quốc gia -Tỷ giá thực bằng 1 trong dài hạn

Dài hạn Dừng Tỷ giá danh

Trang 17

(loại bỏ mức bù rủi ro)

Ngắn hạn (Dự báo

- Thay đổi của tỷ giá thực trong tương lai được xác định bởi các yếu tố kinh tế

cơ bản

Ngắn hạn (Dự báo

tỷ giá)

Không dừng

Dài hạn Không

dừng

Tỷ giá thực

Nguồn:Trích từ (Rebecca, 2005)

1.2 Mô hình xác định tỷ giá cân bằng

Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong việc tính toán tỷ giá thực, (Iimi, 2006) cho rằng có 3 mô hình chủ yếu được sử dụng đó là: mô hình PPP, mô hình tỷ giá cân bằng cơ sở FEER và mô hình tỷ giá cân bằng hành vi BEER

1.2.1 Mô hình ngang giá sức mua (Purchasing Power Parity- PPP)

(Ting, 2009) đánh giá PPP là một khung lý thuyết truyền thống đã được ứng dụng rộng rãi khi tính toán tỷ giá cân bằng Như đã trình bày, khái niệm PPP bao gồm

Trang 18

hai loại là: PPP tuyệt đối dựa trên giả định về ngang giá sức mua, trong khi PPP tương đối dựa trên giả định về chênh lệch lạm phát PPP tương đối là giả thiết được ứng dụng rộng rãi trong nghiên cứu thực nghiệm để tính toán tỷ giá cân bằng, được biểu diễn theo công thức sau:

ef = (1+Ih)(1+If)− 1 ≈ Ih − If (3) Trong đó, ef : Mức thay đổi giá trị của đồng ngoại tệ

- Vấn đề hàng hóa ngoại thương và phi ngoại thương Trong thực tế có rất nhiều mặt hàng không thể trao đổi được giữa các quốc gia Ảnh hưởng của khu vực phi ngoại thương dưới tác động của hiệu ứng Balassa – Samuelson góp phần làm tỷ giá chệch khỏi mức cân bằng ngang giá

- Hàng rào mậu dịch giữa các quốc gia PPP giả định rằng hàng hóa được

tự do trao đổi giữa 2 quốc gia, trên thực tế, các chính phủ đã áp đặt nhiều giới hạn lên hoạt động ngoại thương như thuế, hạn ngạch, hàng rào bảo hộ…

- Chất lượng hàng hóa giữa 2 quốc gia

- Thông tin bất cân xứng

4 (Edwards, 1989) cho rằng số giá đại diện phải là chỉ số thể hiện sức cạnh tranh của quốc gia trên thị trường quốc tế Trong thực tế, các nhà nghiên cứu dùng nhiều chỉ số giá như: chỉ số giá tiêu dùng (CPI), chỉ số giá bán buôn (WPI), chỉ số giảm phát GDP, và chỉ số chi phí tiền lương Tuy vậy, không có chỉ số nào là thực sự hoàn hảo

Trang 19

FEER là mô hình cân bằng được sử dụng phổ biến trong thực nghiệm Được

đề xuất đầu tiên bởi (Williamson, 1985, trang 14), FEER được định nghĩa là “mức

tỷ giá kỳ vọng cho phép trạng thái thặng dư hay cân bằng của cán cân vãng lai tương ứng với dòng chu chuyển vốn cơ bản bỏ qua các biến động mang tính chu kỳ, mà tại đó nền kinh tế đạt đến trạng thái cân bằng bên trong mà không có biện pháp hạn chế ngoại thương nào lên cán cân vãng lai.” Như vậy, tỷ giá cân bằng được xác định dựa trên trạng thái dài hạn ổn định của cán cân vãng lai và trạng thái toàn dụng của nền kinh tế Phương trình FEER có thể được biểu diễn như sau:

𝐶𝐴 = −𝐾̅ =∝ + 𝛽1𝑆𝑟 + 𝛽2𝑌̅ + 𝛽𝑑 3𝑌̅ 𝑓 (4) Phương trình (4) thể hiện trạng thái cân bằng cơ bản của cán cân thanh toán, cán cân vãng lai (CA) cân bằng với cán cân vốn trung hạn (K̅), đồng thời, cán cân vãng lai được xác định bởi tỷ giá thực (Sr), sản lượng dài hạn trong nước (Y̅̅̅) sản lượng ddài hạn ngoài nước (Y̅) Phương trình (4) được viết lại như sau: f

𝐹𝐸𝐸𝑅 = −𝐾̅−∝− 𝛽2𝑌̅̅̅̅−𝛽𝑑 3𝑌̅̅̅̅𝑓

Khái niệm FEER được xem là mức tỷ giá lý tưởng đối với trạng thái cân bằng

vĩ mô của nền kinh tế trong trung hạn (Wren-Lewis, 1992), tuy nhiên giả thiết tỷ giá cân bằng phụ thuộc vào trạng thái dài hạn của cán cân vãng lai vấp phải nhiều chỉ trích Một mặt, việc xác định mức trạng thái lý tưởng của cán cân vãng lai bị cho là mang tính chủ quan (Bayoumi, 1994) đã xác định mức thặng dư cán cân vãng lai mục tiêu cho các nước công nghiệp trong thập niên 1970 bằng 1% GDP dựa trên các giả định của chính phủ Mỹ Mặt khác, phương trình FEER đã bỏ qua ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên cán cân vãng lai Thực tế, (Phạm Thị Hoàng Anh, 2010) cho

Trang 20

rằng ảnh hưởng của chính sách tài khóa lên cán cân vãng lai phụ thuộc vào hệ số nhân của chi tiêu chính phủ và mức độ thay đổi của thu nhập (MacDonald, 1998) cho rằng bản thân FEER không thể hiện một lý thuyết xác định tỷ giá do nó chỉ được tính toán

từ trạng thái ổn định của chu chuyển vốn Cuối cùng, (Ting, 2009) cho rằng vấn đề quan trọng là sự không chắc chắn trong việc xác định tiêu chuẩn cân bằng bên trong

và bên ngoài, đặc biệt là đối với các nền kinh tế chuyển đổi nhanh chóng như Trung Quốc

1.2.3 Mô hình tỷ giá cân bằng hành vi (Behavioral equilibrium exchange rates – BEER)

Tỷ giá cân bằng hành vi BEER được đề xuất lần đầu bởi (MacDonald, 1998) được mô tả là “…Mô hình xác định giá trị ngắn hạn của tỷ giá thông qua ước lượng một phương trình rút gọn cho phép giải thích hành vi của tỷ giá thực trong thời kỳ mẫu” Phương trình REER được mô tả đầy đủ như sau:

𝑞𝑡 = 𝛽′𝑍𝑡 + 𝜏′𝑇𝑡 + 𝜀𝑡 (6) Trong đó:

qt : Tỷ giá thực hiệu lực (REER)

Zt: véc tơ các nhân tố kinh tế cơ bản có tác động lên tỷ giá thực

β’: Véc tơ hệ số rút gọn

Tt: Véc tơ các nhân tố tạm thời có tác động ngắn hạn lên tỷ giá thực trong ngắn hạn

τ: Véc tơ hệ số rút gọn

ε: nhiễu ngẫu nhiên

Từ phương trình REER, (MacDonald, 1998) đề xuất khái niệm tỷ giá BEER là

tỷ giá thực được xác định bởi giá trị ngắn hạn của các nhân tố kinh tế cơ bản:

𝑞𝑡′ = 𝛽′𝑍𝑡 (7)

Từ đó, độ lệch ngắn hạn (current misalignment) được xác định là mức sai lệch của REER so với BEER:

𝑐𝑚𝑡 = 𝑞𝑡− 𝑞𝑡′ = 𝜏′𝑇𝑡+ 𝜀𝑡 (8)

Trang 21

Mặt khác, (MacDonald, 1998) đề xuất khái niệm tỷ giá thực cân bằng ổn định (Permanent Equilibrium Exchange Rates), được xác định bởi giá trị lý tưởng hay dài hạn của các nhân tố kinh tế:

𝑞̅ = 𝛽′𝑍𝑡 ̅ 𝑡 (9) Trong đó:

𝑞̅ : Tỷ giá thực hiệu lực (REER) 𝑡

Zt : véc tơ giá trị dài hạn của các nhân tố kinh tế cơ bản

Từ phương trình (9), các tác giả đề xuất khái niệm độ lệch dài hạn (total misalignment) như là độ sai lệch của REER so với PEER:

𝑡𝑚𝑡 = 𝑞𝑡− 𝑞̅ = 𝑞𝑡 𝑡− 𝛽′𝑍̅ 𝑡 (10) Bằng cách thêm vào các phép biến đổi, các tác giả chuyển thành dạng phương trình sau:

Mô hình BEER đã được ứng dụng rộng rãi trong nhiều nghiên cứu về tỷ giá thực trên thế giới (MacDonald, 1998) đã sử dụng mô hình BEER để tính toán giá trị cân bằng của đồng Mark Đức, đồng Yên Nhật và đô la Mỹ giai đoạn 1960-1996 (Iimi, 2006) trong một nghiên cứu của IMF đã sử dụng một mô hình BEER để tính toán tỷ giá thực cân bằng trong trường hợp của Botswana Đặc biệt, nhiều nghiên cứu

đã được thực hiện để kiểm định giá trị cân bằng của đồng Nhân dân tệ (NDT) của Trung Quốc như của (Zhang, 2001), (Goh, 2006), (Wang, 2007), (Ting, 2009) và (Cui, 2013) (MacDonald, 1998) tuyên bố rằng mô hình BEER mang tính tổng quát hơn mô hình FEER trong việc tính toán tỷ giá cân bằng, đặc biệt là trong trường hợp các quốc gia đang phát triển

Trang 22

Trong một nghiên cứu được thực hiện để khảo sát các mô hình BEER trong quá khứ, (Zhang, 2010) đã khái quát các đặc trưng của mô hình BEER trong một định nghĩa chính thức như sau “Mô hình BEER sử dụng một bộ dữ liệu kinh tế vĩ mô để tính toán tỷ giá thực hoặc tỷ giá danh nghĩa cân bằng, sử dụng phép ước lượng phương trình đơn, kiểm định nghiệm đơn vị và phân tích đồng liên kết.”

1.3 Cơ chế xác định tỷ giá

1.3.1 Chế độ điều hành tỷ giá

Chế độ tỷ giá được hiểu là cách thức NHTW thực hiện quản lý giá trị đồng tiền của quốc gia so với các đồng tiền nước ngoài và quản lý thị trường ngoại hối Cơ chế điều hành tỷ giá là một phần của lý thuyết bộ ba bất khả thi, phản ánh sự lựa chọn các công cụ điều hành chính sách tiền tệ của NHTW và phản ứng của NHTW trước các cú sốc Trong các giai đoạn mang tính chu kỳ của nền kinh tế, đặc biệt là trong giai đoạn khủng hoảng, các phản ứng của chính sách điều hành tỷ giá đóng vai trò quan trọng lên các chỉ số vĩ mô khác như lạm phát, cán cân thanh toán và tăng trưởng kinh tế

Chế độ tỷ giá ở mỗi nước và mỗi thời kỳ nói chung là khác nhau nhưng về cơ bản bao gồm: chế độ tỷ giá hối đoái cố định, chế độ tỷ giá thả nổi, và các cơ chế trung gian nằm giữa hai chế độ vừa nêu

1.3.1.1 Chế độ tỷ giá cố định

Dưới chế độ tỷ giá cố định, giá trị đồng nội tệ được giữ cố định không đổi hoặc cho phép biến động trong một biên độ hẹp Đồng nội tệ có thể được giữ cố định theo một ngoại tệ (thông thường là USD) hoặc một rổ ngoại tệ được quyết định bởi NHTW Nói chung, bất kỳ biến động nào trong giá trị nội tệ sẽ được NHTW dập tắt nhanh chóng để ổn định tỷ giá

Chế độ tỷ giá cố định có ưu điểm là tạo ra một thị trường ngoại hối ổn định, giảm chi phí cho nền kinh tế do các doanh nghiệp không phải bận tâm về rủi ro tỷ giá (tạo ra chi phí bảo hiểm tỷ giá) Mặt khác, tỷ giá cố định tạo ra niềm tin của người dân đối với chính sách điều hành của chính phủ

Trang 23

Tuy nhiên, nền kinh tế sẽ gặp bất lợi nếu các quốc gia trên thế giới thực hiện phá giá tiền tệ để kích thích nền kinh tế Khi đó, do tỷ giá bị neo chặt theo tỷ giá chính thức, đồng nội tệ sẽ lên giá so với các đồng tiền khác và làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa trong nước, hậu quả là xuất khẩu giảm Thâm hụt cán cân thanh toán tăng lên và làm tăng thất nghiệp

Hơn nữa, chế độ tỷ giá cố định cũng bị chỉ trích bởi vì nó đòi hỏi chi phí lớn để

ổn định tỷ giá Khi đồng nội tệ mất giá, NHTW bắt buộc phải sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối, trong trường hợp dự trữ ngoại hối không đủ có thể dẫn đến khủng hoảng Điều này đã được chỉ ra trong các mô hình khủng hoảng tiền tệ bắt nguồn từ thâm hụt lớn trên cán cân thanh toán hoặc chi tiêu của chính phủ hoặc cả hai (thâm hụt kép).6

Cuối cùng, lý thuyết bộ ba bất khả thi cho rằng khi một quốc gia thực hiện kiểm soát tỷ giá và tự do hóa tài khoản vốn, NHTW bắt buộc phải từ bỏ chính sách tiền tệ Các phân tích từ mô hình Mundell-Fleming cũng cho rằng dưới chế độ tỷ giá cố định chính sách tiền tệ không có hiệu quả lên tổng cầu7

1.3.1.2 Chế độ tỷ giá thả nổi

Khác với chế độ tỷ giá cố định, NHTW không can thiệp vào thị trường ngoại hối để duy trì tỷ giá trong chế độ tỷ giá thả nổi Tỷ giá được xác định bởi các lực cung cầu trên thị trường ngoại hối

Tỷ giá thả nổi cho phép NHTW dễ dàng điều chỉnh tổng cầu trong nền kinh tế bằng các công cụ của chính sách tiền tệ mà không cần phải quan tâm đến giá trị của đồng nội tệ Nó cũng không làm sụt giảm dự trữ ngoại hối của quốc gia để ổn định tỷ giá Điều này có thể dễ dàng nhận thấy sau khủng hoảng tài chính 2008, Mỹ đã thực hiện nhiều gói nói lỏng định lượng để ổn định nền kinh tế mà không cần quan tâm đến tỷ giá

Trang 24

Tuy nhiên, thả nổi tỷ giá cũng làm thị trường ngoại hối khó đoán hơn, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện phòng ngừa rủi ro và làm tăng chi phí Hơn nữa, việc thả nổi tỷ giá cũng gây ra những e ngại về tình trạng đầu cơ trên thị trường tài chính vốn có thể làm trầm trọng thêm những khó khăn của nền kinh tế

1.3.1.3 Chế độ neo tỷ giá

Tương tự chế độ tỷ giá cố định, hệ thống neo tỷ giá cũng cố định theo một tỷ giá chính thức được công bố, tuy nhiên tỷ giá được phép dao động trong một biên độ xoay quanh tỷ giá chính thức Các NHTM chỉ được phép niêm yết và giao dịch tỷ giá trong giới hạn đã công bố Mức tỷ giá chính thức có thể được điều chỉnh theo những bước nhỏ tùy theo tín hiệu thị trường và điều kiện vĩ mô của nền kinh tế

Trong hệ thống này, nhà điều hành cam kết ổn định tỷ giá xoay quanh mức đã

tỷ giá chính thức, vì vậy tạo niềm tin cho người dân đối với chính sách tiền tệ Mặt khác, vì tỷ giá được dao động trong biên độ cho phép nên cũng phản ánh những biến động trên thị trường tiền tệ, là tín hiệu để NHTW kịp thời can thiệp Hơn nữa, NHTW

có thể điều chỉnh tỷ giá chính thức theo những bước nhỏ định kỳ, như vậy tạo không gian cho phép các điều chỉnh lên chính sách tiền tệ phù hợp với điều kiện vĩ mô tại từng thời điểm

Tuy nhiên, điểm quan trọng trong cơ chế này là NHTW phải có đủ khả năng

để ổn định tỷ giá trong những giai đoạn biến động mạnh trên thị trường tiền tệ Nếu không, NHTW có thể cuối cùng phải từ bỏ cơ chế neo tỷ giá và thả nổi đồng tiền Điều này sẽ làm mất niềm tin của công chúng đối với chính sách Vì vậy, cơ chế này đòi hỏi NHTW phải theo sát mọi diễn biến và can thiệp kịp thời trên thị trường

1.3.1.4 Chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý

Trong cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý, nhà điều hành cho phép tỷ giá được tự

do giao dịch trên thị trường Tuy nhiên, NHTW sẽ can thiệp khi tỷ giá vượt quá một mức nào đó trên thị trường, theo một biên độ tỷ giá được xác định bởi NHTW nhưng không được công bố chính thức

Về cơ bản, đây là hệ thống gần với tỷ giá thả nổi nhưng trong từng thời điểm có thể có sự can thiệp của NHTW để đạt được các mục tiêu chính sách khác nhau (Trần

Trang 25

Ngọc Thơ, 2011) trên cơ sở tổng hợp các nghiên cứu cho rằng, về dài hạn can thiệp của NHTW thường không có tác động rõ ràng lên tỷ giá, và thường bị các lực đầu cơ trên thị trường áp đảo

1.3.2 Phương thức can thiệp tỷ giá

Trong chế độ tỷ giá cố định hoặc các chế độ trung gian, để ổn định tỷ giá NHTW thông thường sẽ sử dụng các công cụ để can thiệp lên thị trường tiền tệ Dựa vào cách thức can thiệp của NHTW, các nhà nghiên cứu phân loại thành 2 phương thức cơ bản, bao gồm: can thiệp trực tiếp và can thiệp gián tiếp

1.3.2.1 Can thiệp trực tiếp

Can thiệp trực tiếp là hành động can thiệp của NHTW lên cung và cầu bằng cách sử dụng quỹ dự trữ ngoại hối để thực hiện mua hoặc bán ngoại tệ trên thị trường Hậu quả của can thiệp sẽ làm tăng/giảm cung tiền tùy thuộc hành động mua/bán ngoại

tệ trên thị trường Việc tăng/giảm cung tiền có thể gây ra hiệu ứng kích thích hoặc giảm tổng cầu và gây ra những bất ổn vĩ mô nghiêm trọng Vì vậy, NHTW có thể cân nhắc kết hợp can thiệp tỷ giá với điều chỉnh cung tiền bằng các công cụ nợ như tín phiếu để giữ cho mức cung tiền không thay đổi Khi đó, can thiệp được gọi là can thiệp vô hiệu hóa

Can thiệp vô hiệu hóa là một công cụ hữu ích vừa có thể tạo cân bằng trên thị trường ngoại hối vừa không làm ảnh hưởng đến cung tiền Tuy nhiên, việc phát hành tín phiếu làm phát sinh chi phí cho NHTW và trong nhiều trường hợp vượt quá khả năng của nhà điều hành dẫn đến chính sách can thiệp bị thất bại Điều này đã được (Trần Ngọc Thơ, 2011) chỉ rõ trong trường hợp của Việt Nam năm 2008 Sau khi gia nhập WTO năm 2007, Việt Nam đón nhận một dòng vốn đầu tư khổng lồ từ nước ngoài tương đương 10 tỷ USD trong năm 2008 NHNN bắt buộc phải mua vào số lượng ngoại tệ này để ổn định tỷ giá, kết quả là tương đương 160 nghìn tỷ VNĐ đã được đưa ra thị trường Để thu hồi số lượng VNĐ này, NHNN đã phát hành tín phiếu trên thị trường mở; tuy nhiên, kết quả phát hành không thành công do lãi suất tín phiếu thấp hơn lãi suất thị trường Kết quả là sự mở rộng cung tiền đã đẩy lạm phát lên đến 20% trong năm đó

Trang 26

1.3.2.2 Can thiệp gián tiếp

Can thiệp gián tiếp là can thiệp của NHTW bằng công cụ lãi suất để ổn định tỷ giá NHTW có thể thực hiện tăng hoặc giảm lãi suất để tăng hoặc giảm nhu cầu nắm giữ đồng nội tệ để cuối cùng làm tăng hay giảm giá trị đồng nội tệ Bằng cách tăng lãi suất, NHTW có thể chặn đà sụt giảm của tỷ giá nhưng hành động này có thể làm giảm tổng cầu, gây hậu quả nghiêm trọng đối với nền kinh tế Ngược lại, giảm lãi suất có thể mở rộng tổng cầu trong ngắn hạn nhưng có thể gây ra rủi ro đảo ngược dòng vốn Cơ chế can thiệp gián tiếp đòi hỏi mức độ tự do hoá của lãi suất và thị trường tài chính

1.4 Cơ chế tỷ giá tại Việt Nam

Trong phần này, tác giả trình bày lại các quy định của chính phủ Việt Nam liên quan đến chế độ tỷ giá cũng như kết quả khảo sát của giới nghiên cứu về chế độ tỷ giá của Việt Nam Theo quy định tại Nghị định 70/2014/NĐ-CP ngày 17/07/2014, chế độ tỷ giá của Việt Nam là chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý được xác định trên cơ

sở “cung cầu ngoại tệ trên thị trường có sự điều tiết của Nhà nước Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thực hiện điều tiết tỷ giá hối đoái thông qua việc sử dụng các công

cụ của chính sách tiền tệ và thực hiện phương án can thiệp trên thị trường ngoại tệ.”8

Từ tháng 3/1989, chính sách tỷ giá của Việt Nam chuyển sang cơ chế neo tỷ giá, theo đó NHNN công bố một mức tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường được dao động trong biên độ cho phép là 5% Từ sau năm 1999, NHNN chuyển từ cơ chế xác định

tỷ giá chính thức theo tỷ giá đấu thầu trên sàn giao dịch sang cơ chế xác định tỷ giá chính thức theo tỷ giá bình quân trên thị trường liên ngân hàng Cơ chế này cho phép

tỷ giá chính thức phản ánh phù hợp hơn cung cầu và diễn biến thị trường Đồng thời, NHNN cũng thực hiện điều chỉnh tỷ giá chính thức theo diễn biến thị trường, điều chỉnh từng bước theo hướng bám sát dần tỷ giá trên thị trường tự do Diễn biến chính

8 Nghị định số 70/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 17/07/2014 quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối và Pháp lệnh Sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh Ngoại hối

Trang 27

sách điều hành tỷ giá của Việt Nam trong những năm vừa qua đã được (Tô Trung Thành, 2014) và nhiều tác giả tổng hợp và cập nhật từ NHNN

Bảng 1.2: Cơ chế tỉ giá của Việt Nam theo thời gian Giai đoạn Cơ chế áp dụng Đặc điểm chế độ tỷ giá thực tế (de facto)

1997-1998 Neo tỷ giá với

biên độ được điều chỉnh (crawling bands)

- Biên độ tỷ giá tại các ngân hàng thương mại so với OER9 được nới rộng từ +/-1% lên +/-5% (02/97)và từ +/-5% lên +/-10% (13/10/97) và sau

đó được điều chỉnh xuống không quá 7% (7/8/98)

- OER được điều chỉnh lên 11.800 VND/USD (16/02/98) và 12.998 VND/USD (07/08/98) 1999-

2000

Cơ chế tỉ giá neo

(conventional fixed peg arrangement)

- OER công bố là tỷ giá liên ngân hàng trung bình ngày làm việc hôm trước (28/2/1999)

- Biên độ tỷ giá tại các ngân hàng thương mại giảm xuống không quá 0.1%

- OER được giữ ổn định ở mức 14,000 VND/USD

2001-

2007

Cơ chế neo tỉ giá

có điều chỉnh (crawling peg)

- OER được điều chỉnh dần từ mức 14,000 VND/USD năm 2001 lên 16,100 VND/USD năm

2007

- Biên độ tỷ giá tại các NHTM được điều chỉnh lên mức +/-0.25% (từ 1/7/02 đến 31/12/06) và +/-0.5% năm 2007

2008-2011 Neo tỷ giá với

biên độ được điều

- OER được điều chỉnh dần từ mức khoảng 16,100 VND/USD vào đầu năm 2008 lên 16,500 VND/USD (06/08 đến 12/08), lên 17,000 VND/

9 Ghi chú: tỷ giá chính thức

Trang 28

chỉnh (crawling bands)

USD (01/09 đến 11/09), lên 17,940 VND/USD (12/09 đến 01/10), lên 18,544 VND/USD (từ 02/10 đến 08/2010), lên 18,932 VND/USD (từ 08/10 đến 02/11), và sau đó lên 20,693 (từ 02/2011) và điều chỉnh tăng dần đến 20,828 vào

- Biên độ tỷ giá tại các NHTM được điều chỉnh nhiều lần lên mức +/-0.75% (từ 23/12/07 đến 09/03/08), +/-1% (10/03/08 đến 25/06/08), +/-2% (26/05/08 đến 05/11/08), +/-3% (06/11/08 đến 23/03/09), +/-5% (24/03/09 đến 25/11/09), và +/-3% (26/11/09 đến 11/02/2011), và sau đó được thu hẹp xuống +/-1% (từ 11/02/2011)

2012

-2015

Cơ chế tỷ giá neo cố định (conventional fied

peg arrangement)

- OER giữ nguyên ở 20,828 VND/USD từ tháng 1/2012 đến 28/6/2013, tăng lên 21,036 (từ 29/6/2013 đến 18/6/2014), tăng lên 21,246 (từ 19/6/2014 đến 06/1/2015), tăng lên 21,458 (từ 6/1/2015 đến 6/5/2015), và giữ nguyên 21,673 VND/USD từ ngày 7/5/2015

- Biên độ giao dịch được giữ cố định +/-1%

Nguồn: Tác giả cập nhật từ (Tô Trung Thành, 2014) và NHNN

Kết quả khảo sát của các tác giả cho thấy một đặc điểm trong cơ chế tỷ giá, đó

là xu hướng mất giá mạnh và nới rộng biên độ dao động trong những giai đoạn biến động mang tính chu kỳ của nền kinh tế Cụ thể, biên độ được nới rộng lên 10% trong giai đoạn 1997-1999 và 5% trong giai đoạn 2008-2011, tương ứng lần lượt với cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á và khủng hoảng tài chính toàn cầu Sau giai đoạn này,

tỷ giá có xu hướng quay lại cơ chế neo cố định với biên độ hẹp Điều này một mặt thể hiện sự thích nghi đối với các cú sốc vĩ mô nhưng nó cũng cho thấy các nguồn lực hạn chế của NHNN trong việc ổn định tỷ giá

Trang 29

Thông thường NHTW các nước thực hiện đăng ký với IMF về chế độ tỷ giá của nước mình, tuy nhiên hầu hết các nhà nghiên cứu và bản thân IMF thường dựa trên mức độ can thiệp của Chính phủ lên tỷ giá trong thực tế để đánh giá chế độ tỷ giá của quốc gia đó (Trần Ngọc Thơ, 2011) Mặc dù NHNN xác định chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, nói chung các nhà nghiên cứu qua khảo sát hầu hết thống nhất đặc điểm chế

độ tỷ giá của Việt Nam là chế độ neo tỷ giá10

Cơ chế tỷ giá trung gian giữa cố định và thả nổi của Việt Nam cũng được khẳng định trong nghiên cứu của (Patnaik, 2010) Tác giả sử dụng một mô hình hồi quy tuyến tính tỷ giá chính thức theo một tập các tỷ giá giá chéo, kết quả rút ra từ mô hình cho thấy R2 của Việt Nam tương đương 0.87 (nếu R2 tiến về 1 tỷ giá là cố định hoàn toàn) Điều này cho thấy mức độ neo tỷ giá của Việt Nam trên thực tế là khá cứng nhắc Diễn biến tỷ giá chính thức của Việt Nam thời gian vừa qua có thể thấy là những giai đoạn cố định tỷ giá trong thời gian dài xen giữa những lần điều chỉnh tỷ giá Điều này cho thấy chính sách tỷ giá thời gian vừa qua dù có đặc điểm của cơ chế neo tỷ giá nhưng thực tế cho thấy tỷ giá bị cố định trong thời gian dài, chưa có sự uyển chuyển trong điều hành

Hình 1.1: 1 Biểu đồ diễn biến tỷ giá USD/VNĐ chính thức và thực tế giai đoạn

Trang 30

Mặt khác, sau quá trình cải cách, cơ chế nhiều tỷ giá trong giao dịch chính thức

đã không còn tồn tại, nhưng trong dân chúng vẫn còn tồn tại một thị trường ngoại tệ

tự do, hoạt động độc lập, mặc dù bất hợp pháp nhưng lại có thể đáp ứng linh hoạt các nhu cầu của người dân Sự tồn tại cơ chế hai tỷ giá, trong đó, tỷ giá chính thức bị cố định so với tỷ giá tự do dao động linh hoạt, gây tốn kém chi phí cho nền kinh tế trong khi tạo ra sự bất bình đẳng trong việc tiếp cận tỷ giá Thực tế cho thấy trong nhiều thời điểm, tỷ giá chính thức đã không phản ánh chính xác cung cầu trên thị trường, kích hoạt thị trường tự do và tạo ra những căng thẳng kéo dài mà kết quả sau đó là sự phá giá VNĐ của cơ quan điều hành

Nội dung chương 2 tổng hợp các kết quả nghiên cứu trước đây về xác định tỷ giá cân bằng theo mô hình BEER trên thế giới và tại Việt Nam, đồng thời trình bày

Trang 31

vai trò của cơ chế điều hành tỷ giá trong mối tương quan với các chỉ số vĩ mô tại Việt

Nam

Trang 32

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ MỐI QUAN HỆ

GIỮA TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI VÀ CÁC NHÂN TỐ VĨ MÔ 2.1 Tổng quan các nghiên cứu về tỷ giá cân bằng trên thế giới

Nghiên cứu tỷ giá cân bằng đã được thực hiện tại nhiều quốc gia trên thế giới

để kiểm định độ lệch của tỷ giá thực Trong phần này, bài viết giới thiệu một số nghiên cứu trên thế giới, đồng thời tập trung vào các nghiên cứu tại Trung Quốc là quốc gia có thể chế kinh tế tương đồng với Việt Nam

(MacDonald, 1998) đã đề xuất và áp dụng mô hình BEER để tính toán độ lệch khỏi tỷ giá cân bằng trong trường hợp đồng USD, đồng Mark Đức và đồng Yên Nhật Tác giả sử dụng dữ liệu theo năm từ 1960-1996 để khảo sát mô hình 5 biến bao gồm: điều kiện thương mại, chênh lệch giá hàng phi ngoại thương so với hàng ngoại thương, tài sản nước ngoài ròng, nợ chính phủ và chênh lệch lãi suất thực Kết quả cho thấy, đồng USD đã lên giá mạnh trong thập niên 80 Tương tự, đồng Mark Đức cũng lên giá mạnh trong thập niên 70 Tác giả cũng so sánh với các kết quả của mô hình FEER, cho thấy độ lệch ngắn hạn trong mô hình BEER là tương đương nhưng

độ lệch dài hạn thì không

(Iimi, 2006) trong một nghiên cứu của IMF đã sử dụng mô hình của Macdonald

để tính toán chênh lệch tỷ giá thực theo dữ liệu năm tại Botswana giai đoạn

1980-2004 Kết quả cho thấy đồng nội tệ nước này bị định giá thấp trong thập niên 80 nhưng đã lên giá thực khoảng 5 đến 10% do sự chuyển đổi sang cơ neo tỷ giá Tác giả kết luận nước này có lợi thế lạm phát tương đối thấp để duy trì cơ chế neo tỷ giá tuy nhiên tình trạng thất nghiệp sẽ là một cản trở quan trọng

(Shehu Usman Rano, 2007) trên cơ sở mô hình trên, điều chỉnh thành mô hình

6 biến bao gồm: tài sản nước ngoài ròng, điều kiện thương mại, chỉ số biến động giá dầu, chi tiêu chính phủ, chỉ số trạng thái chính sách tiền tệ, dự trữ ngoại hối Với dữ liệu theo quý từ năm 1986-2006, kết quả ước lượng các biến đều tác động tăng tỷ giá thực ngoại trừ dự trữ ngoại hối và chi tiêu chính phủ

(Antonia López, 2006) ước lượng tỷ giá thực cân bằng trong trường hợp của

Trang 33

lũy tài khoản vãng lai, chênh lệch lãi suất thực Kết quả ước lượng các biến đều có ý nghĩa dài hạn và làm tăng tỷ giá thực

Gần đây, (Rimgailaite, 2012) đã ước lượng mô hình 7 biến cho trường hợp của Lithuania và Thụy Sĩ, bao gồm: chênh lệch năng suất, điều kiện thương mại, chênh lệch độ mở nền kinh tế, tài sản nước ngoài ròng, chênh lệch chi tiêu chính phủ, chênh lệch đầu tư, chênh lệch cân đối tài khóa Kết quả cho thấy chênh lệch độ mở nền kinh

tế, tài sản nước ngoài ròng, điều kiện thương mại, chênh lệch năng suất, chênh lệch cân đối tài khóa có ý nghĩa thống kê với tỷ giá thực của Thụy Sĩ, trong khi ba biến cuối có tác động đối với tỷ giá của Lithuania Với dữ liệu theo quý từ năm 200-2010, tác giả kết luận trong năm cuối cùng đồng tiền Thụy Sĩ bị định giá cao khoảng 14% trong năm 2010, trong khi đồng tiền Lithuania bị định giá cao khoảng 7% trong quý gần nhất

Sự trỗi dậy của kinh tế Trung Quốc trong 2 thập niên vừa qua với tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và dự trữ ngoại hối liên tục tăng được nhìn nhận là có đóng góp của chính sách tỷ giá11 Theo đó, Trung Quốc lựa chọn một cơ chế trung gian, cho phép kiểm soát vốn và neo chặt tỷ giá với đồng USD Theo (Ting, 2009) Trung Quốc thực hiện cải cách chế độ tỷ giá từ năm 1994, trong đó bao gồm việc quy định một tỷ giá chính thức và thực hiện phá giá NDT Trung Quốc đã phá giá NDT từ mức 5.8 NDT/USD lên 8.7 NDT/USD, tức tỷ lệ phá giá 50% Sự lớn mạnh của khu vực xuất khẩu được hỗ trợ từ việc phá giá nội tệ, khiến dự trữ ngoại hối liên tục tăng, đến giữa năm 2005 đạt khoảng 711 tỷ USD

11 Xem (Trần Ngọc Thơ, 2011, trang 279)

Trang 34

Hình 2.2: Biểu đồ dự trữ ngoại hối và xuất khẩu của Trung Quốc từ năm

(Zhang, 2010) điều tra giá trị thực của NDT thông qua bốn biến: tổng vốn cố định đại diện cho nhân tố cung nội địa và cải tiến công nghệ, chi tiêu chính phủ đại diện cho chính sách tài khóa, tăng trưởng xuất khẩu đại diện cho điều kiện thương mại và độ mở của nền kinh tế thay thế cho mức độ bảo hộ mậu dịch của chính phủ Khảo sát mẫu dữ liệu theo năm từ 1952 đến 1997 cho thấy chính sách tài khóa và điều kiện thương mại làm tăng tỷ giá thực, trong khi đầu tư và độ mở nền kinh tế làm nội tệ giảm giá Kết quả ước lượng chi tiêu chính phủ và độ mở phù hợp với kết luận của mô hình cổ điền trong nền kinh tế nhỏ và mở cửa Ước lượng độ sai lệch tỷ giá, tác giả kết luận tỷ giá bị định dưới giá ở 12 năm trong thời kỳ 1978 đến 1997 Diễn biến này cho thấy các cải cách trong chính sách tỷ giá cho phép Trung Quốc điều hành tỷ giá chủ động hơn và sử dụng công cụ tỷ giá như một biện pháp để đạt được các mục tiêu đối với khu vực sản xuất

0 100 200 300 400 500 600 700

Trang 35

Với dữ liệu thời gian từ 1978-2002, (Goh, 2006) mở rộng mô hình với 6 biến bao gồm: chi tiêu chính phủ, chính sách ngoại thương (độ mở nền kinh tế), cải tiến công nghệ (hiệu ứng Balassa-Samuelson) cho bởi GDP bình quân đầu người, tổng vốn cố định, kiểm soát vốn (tổng tài sản và nợ nước ngoài), chính sách vĩ mô (tín dụng nội địa thực) Trong đó, tác giả tìm thấy ba biến đầu tiên có ảnh hưởng dài hạn lên tỷ giá thực Tương tự (Zhang, 2001), kết quả ước lượng cho thấy 1% biến động của chi tiêu chính phủ và độ mở nền kinh tế làm tỷ giá thực tăng và giảm lần lượt khoảng 1.2% và 1.1% Ngoài ra, chênh lệch năng suất tăng 1% làm tỷ giá thực tăng khoảng Tác giả cũng tìm thấy bằng chứng tỷ giá bị định dưới giá trị trong giai đoạn 1985-1996 trong khi lại lên giá trong giai đoạn 1997-1998, tương ứng với thời kỳ khủng hoảng tiền tệ ở Châu Á

(Wang, 2007) đã sử dụng một mô hình 4 biến bao gồm: tỷ số giá xuất khẩu so với giá nhập khẩu đại diện cho điều kiện thương mại, GDP bình quân đầu người thay cho hiệu ứng Balassa-Samuelson, dự trữ ngoại hối, cung tiền Sử dụng dữ liệu theo năm từ năm 1980-2004, kết quả kiểm định cho thấy điều kiện thương mại không có

ý nghĩa dài hạn lên tỷ giá thực, trong khi dự trữ ngoại hối và GDP bình quân đầu người làm tăng tỷ giá thực, còn lại cung tiền làm giảm tỷ giá thực Tác giả cũng kết luận không tìm thấy tỷ giá thực bị định dưới giá trị với giá trị lớn nhất khoảng 5% trong thập niên 90

(Ting, 2009) đã sử dụng chuỗi dữ liệu ngắn hơn từ Q1/1999-Q4/2007 để đo lường độ lệch tỷ giá thực theo quý Tác giả đề xuất mô hình 5 biến bao gồm: điều kiện thương mại, độ mở của nền kinh tế, chi tiêu chính phủ, năng suất cho bởi GDP bình quân đầu người, cung tiền (M2) Kết quả ước lượng cho thấy điều kiện thương mại không có ý nghĩa thống kê, trong khi biến chi tiêu chính phủ và GDP bình quân đầu người làm tăng tỷ giá thực, trong khi độ mở nền kinh tế và cung tiền làm giảm tỷ giá thực Khác với các nghiên cứu trước, kết quả tính toán cho thấy tỷ giá bắt đầu thấp hơn giá trị thực từ cuối năm 2004 với độ lệch khoảng 6.7% trong kỳ gần nhất, trong khi tỷ giá cao hơn giá trị thực trong các giai đoạn trước

Trang 36

Gần đây, (Cui, 2013) đã sử dụng một mô hình 5 biến để nắm bắt mức độ sai lệch của tỷ giá với chuỗi thời gian theo tháng từ năm 1997 đến 2012 Các biến được khảo sát bao gồm: hiệu ứng Balassa-Samuelson (tỷ số giá tiêu dùng so với giá sản xuất), điều kiện thương mại, độ mở của nền kinh tế, dự trữ ngoại hối và FDI Từ phương trình đồng liên kết, kết quả ước lượng cho thấy dự trữ ngoại hối không có ý nghĩa thống kê, các biến điều kiện thương mại, độ mở của nền kinh tế và FDI có tác động cùng chiều với tỷ giá thực, tuy nhiên hiệu ứng Balassa-Samuelson cho kết quả

âm không phù hợp với lý thuyết Với kết quả ước lượng độ lệch trong dài hạn, tương

tự (Ting, 2009) tác giả nhận thấy xu hướng giảm giá thực bắt đầu từ năm 2003 và mức độ dưới giá khoảng 20% trong tháng 6/2005 Tuy nhiên, sau khi Trung Quốc tuyên bố thực hiện các cải cách trong cơ chế tỷ giá và cho phép mức độ thả nổi lớn hơn vào tháng 7/2005 và tháng 6/2010 đã dẫn đến sự lên giá của đồng nhân dân tệ và làm giảm bớt mức độ sai lệch Mặc dù vậy, mức điều chỉnh là không nhiều, độ lệch vào giữa năm 2011 vẫn đạt khoảng 25%

2.2 Tổng quan các nghiên cứu về mối quan hệ giữa tỷ giá và các nhân tố

vĩ mô tại Việt Nam

2.2.1 Các nghiên cứu về vai trò của tỷ giá đối với các nhân tố vĩ mô tại Việt Nam

Nền kinh tế Việt Nam đã hội nhập ngày càng sâu rộng hơn với khu vực và thế giới biểu hiện qua việc gia nhập các khu vực thương mại tự do cũng như đón nhận dòng vốn đầu tư quốc tế, vì vậy ảnh hưởng của các cú sốc từ bên ngoài lên trạng thái

vĩ mô của Việt Nam là không thể tránh khỏi và với mức độ ngày càng lớn hơn Trong bối cảnh đó, việc nghiên cứu vai trò của tỷ giá hối đoái trong mối liên hệ với các điều kiện vĩ mô trong nước đã được nhiều tác giả đặt ra Một đặc điểm quan trọng trong các nghiên cứu trước đây là việc xây dựng biến tỷ giá hối đoái phụ thuộc vào mục tiêu của nhà nghiên cứu, có thể là tỷ giá thực hoặc tỷ giá danh nghĩa, song phương hoặc đa phương Các kết quả rút ra xác nhận tỷ giá hối đoái có tác động quan trọng đối với các biến nghiên cứu

Trang 37

2.2.1.1 Lạm phát

Cơ chế tác động của tỷ giá đối với lạm phát trong nước được (Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012) khái quát lại thông qua 3 kênh truyền dẫn chính bao gồm: xuất nhập khẩu ròng, cán cân thanh toán, giá nhập khẩu ròng

Hình 2.2: 3 Sơ đồ kênh truyền dẫn tác động từ tỷ giá đến lạm phát

Nguồn: (Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012)

 Kênh xuất khẩu ròng: dưới tác động mất giá của đồng nội tệ, xuất khẩu có xu hướng tăng lên, cải thiện cán cân thương mại Do cán cân thương mại là một phần của tổng cầu, xuất khẩu ròng tăng lên làm tăng tổng cầu và làm lạm phát tăng lên

 Kênh cán cân thanh toán: Do xuất khẩu ròng là một phần của cán cân thanh

tổng cầu làm đường IS dịch chuyển sang phải (theo mô hình IS-LM), lãi suất trong nước tăng lên và kích thích dòng vốn từ bên ngoài chuyển vào, khi đó NHTW có thể thực hiện can thiệp trực tiếp bằng cách mua vào ngoại tệ để ổn định tỷ giá Cung tiền tăng lên và làm tăng lạm phát

 Kênh giá hàng nhập khẩu: sự mất giá của đồng nội tệ làm tăng chi phí nhập khẩu hàng hóa Nếu một quốc gia sản xuất hàng hóa có tỷ lệ nhập lượng là hàng hóa nhập khẩu cao sẽ làm tăng chi phí sản xuất và làm tăng giá bán, dẫn đến lạm phát Ảnh hưởng của tỷ giá lên lạm phát càng lớn khi quốc gia mở rộng hội nhập kinh

tế quốc tế và dòng vốn đầu tư từ bên ngoài (Nguyễn Thị Thái Hưng, 2012) cho rằng

Lạm phát

Tổng cầu (AD)

Giá hàng nhập khẩu

Cán cân thanh toán

Xuất nhập khẩu ròng

Tỷ giá

danh nghĩa

Cung tiền (M2)

Trang 38

mức độ tự do hóa lãi suất và cán cân vốn cũng như độ co giãn (độ nhạy cảm) của xuất nhập khẩu đối với tỷ giá là những yếu tố quan trọng

(Trần Ngọc Thơ, 2013) trong một nghiên cứu gần đây đã sử dụng một mô hình SVAR với dữ liệu tháng từ năm 1998-2012 để nghiên cứu cơ chế truyền dẫn của chính sách tiền tệ lên sản lượng và lạm phát trong nước ( đại diện bởi CPI), tác giả cũng phân tách hiệu ứng truyền dẫn thành 2 thời kỳ trước và sau WTO để thấy rõ những chuyển biến trong điều kiện vĩ mô Kết quả cho thấy phản ứng cùng chiều của lạm phát đối với một cú sốc tăng lên của tỷ giá (VNĐ mất giá) Tác giả cũng kết luận lạm phát có xu hướng nhạy cảm hơn đối với cú sốc tỷ giá hậu WTO Tuy nhiên mức

độ thay đổi của lạm phát theo sốc tỷ giá không lớn, tương ứng với cú sốc phá giá VNĐ khoảng 0.13%, lạm phát tăng lên khoảng 0.006% sau 2 – 3 kỳ

(Nguyễn Thị Liên Hoa, 2013) cũng thực hiện một nghiên cứu sử dụng kỹ thuật SVAR với dữ liệu tháng giai đoạn 2001-2011 để nghiên cứu phản ứng của lạm phát với các cú sốc như: giá hàng hóa nước ngoài (giá gạo và giá dầu), chi phí sản xuất, giá nhập khẩu, tỷ giá, tổng cầu Kết quả cho thấy phản ứng của lạm phát sau 4 kỳ và không lớn đối với sốc tỷ giá, tuy nhiên tác giả cũng lưu ý nguyên nhân là tỷ giá đã bị neo khá chặt trong thời kỳ nghiên cứu Một phát hiện từ mô hình đó là lạm phát phản ứng tương đối mạnh và dai dẳng đối với các cú sốc tiền tệ và chi phí đầu vào như giá nhập khẩu và giá sản xuất Tác giả nhấn mạnh ảnh hưởng khá chậm nhưng tăng dần của cung tiền lên lạm phát, thấy rõ ít nhất sau 6 tháng tăng dần lên 27% sau 12 tháng Cuối cùng, tác giả kết luận lạm phát tại Việt Nam chủ yếu chịu ảnh hưởng của các nhân tố cung tức chi phí đẩy chứ không phải do cầu kéo

(Phạm Thị Tuyết Trinh, 2013) đã thực hiện một nghiên cứu tác động của các cú sốc từ bên ngoài như giá hàng hóa quốc tế và bên trong như chính sách tiền tệ, tổng cầu lên các chỉ số giá trong nước (bao gồm giá nhập khẩu, giá sản xuất và giá tiêu dùng) thông qua biến trung chuyển là tỷ giá danh nghĩa đa phương Kết quả thực nghiệm cho thấy tác động lan truyền từ các cú sốc trung chuyển qua tỷ giá đến chỉ số giá nhập khẩu là mạnh nhất và chỉ số giá tiêu dùng là yếu nhất Ngoài ra, tác động trực tiếp của cú sốc tỷ giá không phản ánh hết biến động của các chỉ số giá nhưng

Trang 39

cũng có vai trò quan trọng Kết quả phân rã phương sai cho thấy biến động tỷ giá giải thích khoảng 10% giá nhập khẩu, 19% giá sản xuất và 16% giá tiêu dùng Đặc biệt, tác giả rút ra kết luận rằng, cú sốc tỷ giá không lan truyền đến chỉ số giá tiêu dùng

mà chỉ dừng ở chỉ số giá nhập khẩu trong giai đoạn trước 2006 Điều này phù hợp với diễn biến hội nhập của nền kinh tế

2.2.1.2 Cán cân thương mại

Lý thuyết kinh tế cho rằng can thiệp của NHTW thông qua chính sách tiền tệ trong đó có tỷ giá có tác động trực tiếp đối với cán cân thương mại Sự tác động của

tỷ giá đối với cán cân thương mại được cho bởi điều kiện Marshall-Lerner (hiệu ứng tuyến J), theo đó, lập luận rằng sự phá giá tiền tệ ngay lập tức sẽ làm xấu đi cán cân thương mại Bởi vì phá giá ngay lập tức làm giảm giá xuất khẩu và tăng giá nhập khẩu, tức giá trị xuất khẩu giảm trong khi nhập khẩu tăng Tuy nhiên, trong dài hạn, giá xuất khẩu giảm và giá nhập khẩu tăng kích thích nhu cầu đối với hàng hóa trong nước và giảm nhu cầu tiêu dùng hàng hóa nước ngoài Kết quả là lượng cầu tăng lên

bù đắp sự mất đi do giá giảm đối với xuất khẩu và ngược lại đối với nhập khẩu, cán cân thương mại được cải thiện Như vậy, điều kiện để cán cân thương mại cải thiện

đó là mức độ phản ứng của xuất khẩu và nhập khẩu phải lớn hơn sự mất đi do ảnh hưởng của giá Nói cách khác, độ co giãn của xuất khẩu và nhập khẩu đối với giá cả phải lớn hơn 1

(Phan Thanh Hoàn, 2007) sử dụng dữ liệu theo quý từ năm 1995-2005 đã mô hình hóa ảnh hưởng của tỷ giá đối với cán cân thương mại bằng phương trình đồng liên kết và cơ chế hiệu chỉnh sai số, kết quả cho thấy tỷ giá thực lên giá 1% (VNĐ mất giá) làm tăng tỷ số thương mại (xuất khẩu so với nhập khẩu) khoảng 0.7%, cán cân thương mại cải thiện Phân tích ngắn hạn cũng cho thấy hiệu ứng tỷ giá tác động lên cán cân thương mại sau khoảng 3 kỳ

(Phạm Hồng Phúc, 2009) sử dụng mô hình 3 biến bao gồm GDP, tỷ số thương mại và tỷ giá thực để kiểm định ảnh hưởng của tỷ giá với cán cân thương mại Với mẫu quan sát từ năm 2001 đến 2008, phương trình hồi quy cho thấy khi tỷ giá thực tăng 1% thì tỷ số thương mại tăng 1.078%

Trang 40

Gần đây, (Diệp Gia Luật, 2013) sử dụng một mô hình hệ phương trình với thủ tục OLS để kiểm định hiệu ứng tỷ giá đối với cán cân thương mại Với bộ dữ liệu mở rộng từ năm 1992-2012, kết quả cũng xác nhận hiệu ứng tích cực của cán cân thương mại do tăng tỷ giá thực

2.2.2 Các nghiên cứu về tỷ giá cân bằng tại Việt Nam

Gần đây, các nghiên cứu tại Việt Nam đã đề cập nhiều đến cơ chế tỷ giá, theo

đó hầu hết các phê phán cho rằng tỷ giá bị neo quá chặt vào đồng USD trong khi lạm phát trong nước lại cao hơn nhiều các nước khác, điều này gây ra khó khăn cho NHNN trong việc tạo dựng niềm tin của công chúng đối với chính sách cũng như gây bất lợi cho hoạt động xuất khẩu, vốn là động lực tăng trưởng của nền kinh tế (Nguyễn Thị Thu Hằng, 2010) đề xuất rằng, Việt Nam cần phải chuyển hẳn sang cơ chế tỷ giá thả nổi có quản lý nhằm cho phép nền kinh tế hoạt động hiệu quả hơn, xóa bỏ cơ chế hai tỷ giá bao gồm thị trường tự do và thị trường chính thức Tuy nhiên, để cơ chế này hoạt động hiệu quả, bài nghiên cứu cũng đề xuất rằng NHNN cần phải độc lập hơn nữa để ổn định lạm phát, qua đố tạo ra một “neo” danh nghĩa trong chính sách tiền tệ; mặt khác thị trường tiền tệ cần phải phát triển nhiều loại công cụ tài chính cho phép các chủ thể trong nền kinh tế có thể hạn chế rủi ro do tỷ giá biến động nhiều hơn (Tô Trung Thành, 2014) cho rằng trong ngắn hạn các điều kiện vĩ mô chưa cho phép Việt Nam thực hiện tỷ giá thả nổi có quản lý, vì vậy, nghiên cứu đề xuất mở rộng biên độ dao động để tỷ giá linh hoạt hơn và cho phép điều chỉnh tỷ giá mà không gây sốc đối với nền kinh tế Mặt khác, cơ chế neo tỷ giá theo một giỏ tiền tệ cũng có thể là một lựa chọn chính sách, có thể góp phần hạn chế sự lên giá gián tiếp của VNĐ

do sự phá giá tiền tệ của các nước

Nhằm làm rõ các khuyến nghị chính sách, một số nghiên cứu đã được thực hiện

để định lượng tỷ giá thực của Việt Nam so với tỷ giá cân bằng (Hạ Thị Thiều Dao, 2012) trên cơ sở khảo sát các nghiên cứu trước đây, đã đề xuất một mô hình 6 biến

để đo lường tỷ giá cân bằng, bao gồm: độ mở nền kinh tế, điều kiện thương mại, chi tiêu chính phủ, năng lực sản xuất, tín dụng nội địa, tài sản nước ngoài ròng Tác giả

sử dụng chuỗi thời gian theo quý từ Q1/2000-Q3/2010, trong đó, riêng điều kiện

Ngày đăng: 31/08/2020, 14:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w