khái niệm, đặc điểm của văn bản công chứng; giá trị thi hành và giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng. Từ đó đưa ra được những giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thông pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
Trang 1HỌC VIỆN TƯ PHÁP KHOA ĐÀO TẠO CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ CÁC CHỨC DANH KHÁC
-BÁO CÁO KẾT THÚC HỌC PHẦN CÔNG CHỨNG VIÊN VÀ NGHỀ CÔNG CHỨNG
Chuyên đề: Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 30 tháng 8 năm 2020
Trang 2MỤC LỤC
Mở đầu 1
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu 1
2 Mục đích, nhiệm vụ, đối tượng nghiên cứu 2
2.1 Mục đích nghiên cứu 2
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.3 Đối tượng nghiên cứu 3
3 Cơ cấu của bài báo cáo 3
Chương I: Khái quát chung về công chứng, văn bản công chứng 4
1 Khái niệm, đặc điểm của công chứng 4
1.1 Khái niệm công chứng 4
1.2 Đặc điểm của công chứng 5
2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở Việt Nam 7
2.1 Trước năm 1945 7
2.1.1 Thời kỳ phong kiến 7
2.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc 7
2.2 Từ năm 1945 đến trước khi có Luật Công chứng 8
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1991 8
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2006 8
2.3 Từ khi có Luật Công chứng đến nay 10
2.3.1 Luật Công chứng năm 2006 10
2.3.2 Luật Công chứng năm 2014 10
3 Khái niệm, đặc điểm của văn bản công chứng 10
3.1 Khái niệm văn bản công chứng 10
3.2 Đặc điểm của văn bản công chứng 12
Chương II: Quy định pháp luật về giá trị pháp lý của văn bản công chứng 15
1 Một số quy định về hiệu lực và giá trị pháp lý của văn bản công chứng 15
1.1 Hiệu lực của văn bản công chứng 15
1.2 Giá trị pháp lý của văn bản công chứng 16
1.2.1 Giá trị thi hành của văn bản công chứng 17
1.2.2 Giá trị chứng cứ không phải chứng minh của văn bản công chứng 18
Trang 32 Một số quy định pháp luật có ảnh hưởng đến giá trị pháp lý của văn bản công
chứng 20
2.1 Tiêu chuẩn của công chứng viên 20
2.2 Trình tự, thủ tục công chứng 21
2.3 Lưu trữ hồ sơ công chứng 22
2.4 Trách nhiệm pháp lý của công chứng viên 23
2.5 Thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong tổ chức và hoạt động công chứng.… 23
Chương III: Giải pháp, kiến nghị các quy định của pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng 24
1 Nâng cao nhận thức về công chứng 24
2 Giải pháp, kiến nghị các quy định của pháp luật về giá trị văn bản công chứng 25 2.1 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giá trị chứng cứ không phải chứng minh 25
2.2 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về giá trị thi hành 26
Kết luận 28
Danh mục tài liệu tham khảo 29
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của việc nghiên cứu
Hiện nay cùng với sự phát triển của kinh tế - xã hội thì vai trò, vị trí của phápluật trong đời sống cũng ngày càng được nâng cao Các giao dịch dân sự về muabán, tặng cho, chuyển nhượng, thế chấp ngày càng phổ biến Các giao dịch nàymang lại lợi ích về kinh tế tuy nhiên cũng chứa đựng rất nhiều rủi ro, dẫn đếnnhững hậu quả bất lợi, những tranh chấp ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của cácbên tham gia vào giao dịch Công chứng chính là một giải pháp hiệu quả và đượcnhiều người lựa chọn để giải quyết vấn đề này Nhận thấy được hiện trạng này,Nhà nước đã đưa ra các quy định để đảm bảo về giá trị pháp lý của văn bản, giấy
tờ được công chứng
Việc tham gia vào quá trình giao kết hợp đồng của công chứng viên có thểđược thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau và kết quả cuối cùng của quátrình đó được thể hiện dưới một hình thức chung nhất là những hợp đồng, giaodịch đã được công chứng hay còn gọi là văn bản công chứng
Các văn bản công chứng có giá trị pháp lý và độ tin cậy hơn hẳn các loại giấy
tờ không có chứng nhận xác thực hoặc chỉ trình bày bằng miệng Các văn bảncông chứng bảo đảm sự an toàn của các giao dịch từ đó tạo nên sự yên tâm, tintưởng của khách hàng, hạn chế đến mức thấp nhất các tranh chấp có thể xảy ra Từ
đó cũng góp phần làm giảm đáng kể việc giải quyết tranh chấp luôn là gánh nặngcủa các cơ quan chức năng và giúp các cơ quan chức năng quản lý tốt hơn các hoạtđộng giao dịch
Theo thông lệ của các nước có hệ thống công chứng La tinh, văn bản côngchứng có giá trị chứng cứ và giá trị thi hành Gía trị thi hành và giá trị chứng cứcủa văn bản công chứng thể hiện ở chỗ các hợp đồng, giao dịch đã được côngchứng thì có hiệu lực thi hành đối với các bên tham gia trong hợp đồng, giao dịch
đó và có hiệu lực với bên thứ ba Nếu vì một lý do nào đó mà một bên không thựchiện nghĩa vụ của mình thì bên kia có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo quyđịnh của pháp luật, trừ trường hợp các bên tham gia hợp đồng, giao dịch có thỏathuận khác
Trang 5Trong trường hợp muốn bác bỏ hiệu lực của văn bản công chứng thì phải khởikiện ra tòa án và khi đó thì các tình tiết, sự kiện đã ghi trong hợp đồng, giao dịch
đó sẽ trở thành chứng cứ hiển nhiên trước tòa, không cần phải xác minh, ngườimuốn bác bỏ nó phải xuất trình được chứng cứ ngược lại Đặc điểm nêu trên củavăn bản công chứng có ý nghĩa rất lớn thể hiện vai trò phòng ngừa, bảo đảm antoàn pháp lý cho các bên trong hợp đồng, giao dịch, đồng thời hạn chế được rấtnhiều các vụ kiện tụng ra Tòa án gây tốn kém, lãng phí Luật Công chứng năm
2014 nhằm khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý chobước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nângcao chất lượng và tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triểnnghề công chứng ở Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế, đưa công chứng nước
ta tiến gần hơn với thông lệ của Công chứng La tinh trên thế giới, thể hiện vai tròcủa công chứng với chức năng bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợpđồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, đồng thời hạn chế nhiều vụ kiện tại Tòa
án Bên cạnh Luật Công chứng, nhiều văn bản quy phạm pháp luật hiện hành cũng
có những quy định liên quan đến giá trị pháp lý của văn bản công chứng như Bộluật Dân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và gia đình, Luật Hộ tịch…Tuy nhiên, hiện nay Luật Công chứng năm 2014 đang bộc lộ những hạn chế, bấtcập như văn bản công chứng không đạt được một sức mạnh chứng cứ và hiệu lựccưỡng chế thi hành như một văn bản của cơ quan công quyền, một số quy định cònchưa rõ hoặc có nội dung chồng chéo, thậm chí vô hiệu dẫn đến tình trạng nhiều cơquan, tổ chức và cá nhân chưa nhận thức đúng, đầy đủ về văn bản công chứngcũng như giá trị pháp lý của loại văn bản này Chính vì lý do đó, học viên lựa chọn
đề tài “Văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng” làm đề tài
Trang 6của văn bản công chứng hiện nay; đề xuất các giải pháp giúp hoàn thiện văn bảncông chứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng.
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Trên cơ sở nhận thức chung về văn bản công chứng và giá trị pháp lý của vănbản công chứng đưa ra khái niệm, đặc điểm Đánh giá những kết quả đạt được, làm
rõ những tồn tại, hạn chế của văn bản công chứng và giá trị pháp lý của văn bản
Đề xuất được các giải pháp nhằm hoàn thiện văn bản công chứng
2.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài báo cáo là văn bản công chứng và giá trị pháp lýcủa văn bản công chứng, tập trung vào một số nội dung chủ yếu như: xác định rõkhái niệm về công chứng và văn bản công chứng; hình thức, những nội dung cơbản của văn bản công chứng; làm rõ giá trị chứng cứ không phải chứng minh vàgiá trị thi hành của văn bản công chứng; đề xuất quan điểm, định hướng nhằmhoàn thiện các quy định của pháp luật về văn bản công chứng và giá trị pháp lý củavăn bản công chứng, đồng thời xây dựng cơ chế bảo đảm quy định của pháp luật
về giá trị thi hành của văn bản công chứng
3 Cơ cấu của bài báo cáo
Bài báo cáo gồm 3 chương:
Chương I: Khái quát chung về công chứng và văn bản công chứng
Chương II: Thực tiễn pháp luật Việt Nam về giá trị pháp lý của văn bản côngchứng
Chương III: Giải pháp, kiến nghị các quy định của pháp luật đối với văn bản côngchứng và giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Trang 7CHƯƠNG I KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÔNG CHỨNG VÀ VĂN BẢN CÔNG CHỨNG
1 Khái niệm, đặc điểm của công chứng
1.1 Khái niệm công chứng
Có thể nói cuộc sống của mỗi con người chính là sự tổng hòa của nhiều mốiquan hệ, trong đó những quan hệ về giao dịch dân sự được diễn ra ngày càng phổbiến Việc mua bán, trao đổi hàng hóa, tài sản nói chung không chỉ được thực hiệnthông qua giao dịch bằng miệng mà còn dưới hình thức giao dịch bằng văn bản.Người có tài sản (theo quy định của Bộ luật Dân sự) có quyền định đoạt tài sản củamình theo nhiều hình thức bằng văn bản như: mua bán, tặng cho, thế chấp, để lạithừa kế bằng di chúc… Các quan hệ giao dịch đó phải được xác lập và thực hiệntheo một trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật Một số trường hợp hợp đồng,giao dịch liên quan đến việc định đoạt tài sản như hợp đồng, giao dịch về chuyểnnhượng quyền sử dụng đất; chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liềnvới đất; hợp đồng thế chấp tài sản… pháp luật quy định bắt buộc phải công chứnghoặc chứng thực thì các bên tham gia giao dịch phải tuân thủ và không thể làm trái.Mặt khác, theo quy định của pháp luật về dân sự nói chung và Luật Côngchứng nói riêng thì các hợp đồng, giao dịch dân sự được thực hiện theo nguyên tắcchung là phải có sự thỏa thuận về ý chí, đảm bảo về năng lực hành vi dân sự củacác bên tham gia giao kết hợp đồng; đồng thời các hợp đồng, giao dịch phải cómục đích và nội dung không trái pháp luật và đạo đức xã hội Ngoài các hợp đồng,giao dịch mà pháp luật bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực thì các giao dịchkhác như hợp đồng thuê nhà, hợp đồng đặt cọc… nếu đáp ứng được các quy địnhcủa pháp luật và các bên tham gia có yêu cầu công chứng thì vẫn được công chứng.Một công việc khác cũng được quy định trong thẩm quyền công chứng đó làviệc công chứng bản dịch các giấy tờ, văn bản và được quy định chi tiết tại Điều
61, Luật công chứng năm 2014 Theo đó, việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việtsang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải
do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện.Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà
Trang 8thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổchức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch domình thực hiện Công chứng viên tiếp nhận bản chính giấy tờ, văn bản cần dịch,kiểm tra và giao cho người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức mình thực hiện.Người phiên dịch phải ký vào từng trang của bản dịch trước khi công chứng viênghi lời chứng và ký vào từng trang của bản dịch Từng trang của bản dịch phảiđược đóng dấu chữ “Bản dịch” vào chỗ trống phía trên bên phải; bản dịch phảiđược đính kèm với bản sao của bản chính và được đóng dấu giáp lai Lời chứngcủa công chứng viên đối với bản dịch phải ghi rõ thời điểm, địa điểm công chứng,
họ tên công chứng viên, tên tổ chức hành nghề công chứng; họ tên người phiêndịch; chứng nhận chữ ký trong bản dịch đúng là chữ ký của người phiên dịch;chứng nhận nội dung bản dịch là chính xác, không vi phạm pháp luật, không tráiđạo đức xã hội; có chữ ký của công chứng viên và đóng dấu của tổ chức hành nghềcông chứng Công chứng viên không được nhận và công chứng bản dịch trong cáctrường hợp như công chứng viên biết hoặc phải biết bản chính được cấp sai thẩmquyền hoặc không hợp lệ; bản chính giả; giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch đã bịtẩy xoá, sửa chữa, thêm, bớt hoặc bị hư hỏng, cũ nát không thể xác định rõ nộidung; giấy tờ, văn bản được yêu cầu dịch thuộc bí mật nhà nước; giấy tờ, văn bản
bị cấm phổ biến theo quy định của pháp luật
Việc công chứng các hợp đồng, giao dịch và công chứng bản dịch phải do côngchứng viên làm việc tại một tổ chức hành nghề công chứng thực hiện
Do vậy, theo Khoản 1, Điều 2, Luật Công chứng năm 2014 thì: “Công chứng
là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch), tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt (sau đây gọi là bản dịch) mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
1.2 Đặc điểm của công chứng
Hoạt động công chứng vừa mang tính công quyền vừa mang tính chất dịch vụcông Tính công quyền được thể hiện ở chổ đó là công chứng viên của Phòng công
Trang 9chứng hay Văn phòng công chứng đều do Bộ trưởng Bộ tư pháp bổ nhiệm Côngchứng viên nhân danh Nhà nước trong quá trình thực hiện hoạt động công chứng,chứng thực Nếu như thời điểm trước chỉ có Phòng công chứng (công chứng Nhànước) thì bây giờ nhằm đáp ứng nhu cầu về công chứng, chứng thực của người dânNhà nước đã cho phép được thành lập các Văn phòng công chứng (công chứng tưnhân) Các Văn phòng công chứng được nhà nước trao quyền để thực hiện các dịch
vụ mang tính chất công với mục đích nhằm giảm bớt gánh nặng về công chứng,chứng thực cho các Phòng công chứng, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Khi hànhnghề công chứng, bên cạnh việc tuân thủ các quy định của pháp luật về côngchứng, công chứng viên của tổ chức hành nghề công chứng còn phải tuân thủ theocác nguyên tắc được quy định trong pháp luật nội dung như Hiến pháp, Bộ luậtDân sự, Luật Đất đai, Luật Nhà ở, Luật Hôn nhân và gia đình… Hoạt động côngchứng được xác định là một nghề, do vậy ngoài phải tuân thủ theo các quy định tạiLuật Công chứng và các văn bản pháp luật hướng dẫn liên quan thì còn phải tuânthủ theo các nguyên tắc hành nghề công chứng Đây chính là quy định có ý nghĩaxuyên suốt trong quá trình hành nghề của công chứng viên Theo quy định tại Điều
4, Luật Công chứng năm 2014 thì nguyên tắc hành nghề công chứng của công
chứng viên gồm 4 nguyên tắc đó là “(1) Tuân thủ Hiến pháp và pháp luật; (2)
Khách quan, trung thực; (3) Tuân theo quy tắc đạo đức hành nghề công chứng; (4) Chịu trách nhiệm trước pháp luật và người yêu cầu công chứng về văn bản công chứng” Do vậy, để đảm bảo được giá trị pháp lý của văn bản công chứng cũng
như an toàn cho công chứng viên thì hoạt động công chứng có những đặc điểm sauđây:
Thứ nhất, hoạt động công chứng phải do công chứng viên thực hiện Công
chứng viên là người tiếp nhận hồ sơ yêu cầu công chứng, kiểm tra các giấy tờ, xácđịnh năng lực hành vi dân sự, giải thích cho các bên hiểu rõ về quyền lợi, nghĩa vụ
và hậu quả pháp lý sau khi ký kết hợp đồng, giao dịch
Thứ hai, nội dung công chứng là xác định tính xác thực, tính hợp pháp của hợp
đồng, giao dịch Tính xác thực của các tình tiết, sự kiện có trong văn bản đó đãđược công chứng viên xác nhận
Trang 10Thứ ba, có hai loại hợp đồng giao dịch thực hiện hoạt động công chứng, đó là
các loại hợp đồng giao dịch theo yêu cầu của pháp luật bắt buộc phải công chứng
và các hợp đồng giao dịch do cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng
Thứ tư, ý nghĩa pháp lý của hoạt động công chứng là bảo đảm giá trị thực hiện
cho các hợp đồng giao dịch, phòng ngừa tranh chấp và cung cấp chứng cứ nếu cótranh chấp xảy ra
2 Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về công chứng ở Việt Nam
Sự hình thành và phát triển công chứng Việt Nam gắn liền với các giai đoạnlịch sử của nước ta và được chia thành các giai đoạn sau:
2.1 Trước năm 1945
2.1.1 Thời kỳ phong kiến
Cấu trúc bộ máy Nhà nước của chế độ phong kiến đó là tập trung quyền lựcvào một người - vua Việc tổ chức các cơ quan hành pháp, tư pháp theo bổ nhiệm,không qua dân chủ bầu cử Việc thực hiện các quan hệ, giao dịch dân sự của cánhân mang tính tự phát Hình thức văn bản giao dịch dân sự chủ yếu là được lậpdưới dạng văn tự, nội dung còn đơn giản Trong trường hợp nếu có tranh chấp xảy
ra thì việc giải quyết tranh chấp được thực hiện tại cấp làng, xã hoặc cao hơn làkéo nhau lên quan phủ, quan huyện để phân giải
2.1.2 Thời kỳ Pháp thuộc
Công chứng đã có ở Việt Nam kể từ khi thực dân Pháp xâm lược và coi ViệtNam là một nước thuộc địa Hoạt động công chứng lúc này chủ yếu phục vụ chochính sách cai trị của Pháp tại Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Tiêubiểu là sắc lệnh ngày 24 tháng 8 năm 1931 của Tổng thống Cộng hòa Pháp về tổchức công chứng (được áp dụng ở Đông Dương theo quyết định ngày 7 tháng 10năm 1931 của Toàn quyền Đông Dương P.Pasquies) Theo đó, người thực hiệncông chứng là công chứng viên mang quốc tịch Pháp do Tổng thống Pháp bổnhiệm và giữ chức vụ suốt đời Khi đó Việt Nam chỉ có một văn phòng công chứng
ở Hà Nội, ba văn phòng công chứng ở Sài Gòn Ngoài ra ở các thành phố HảiPhòng, Nam Định, Đà Nẵng thì việc công chứng do Chánh lục sự Tòa án sơ thẩmkiêm nhiệm
Trang 112.2 Từ năm 1945 đến trước khi có Luật Công chứng
2.2.1 Thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1991
Sau khi Cách mạng tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dânchủ Cộng hòa, ngày 01 tháng 10 năm 1945 Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Vũ TrọngKhánh đã ký quyết định về một số vấn đề liên quan đến hoạt động công chứng như:bãi chức công chứng viên người Pháp tên là Deroche tại văn phòng công chứng; bổnhiệm một công chứng viên người Việt Nam là ông Vũ Quý Vỹ để tiếp tục duy trìhoạt động công chứng Các quy định về công chứng của Pháp vẫn được áp dụng,trừ những quy định không phù hợp với chính thể Việt Nam dân chủ cộng hòa
Để đáp ứng các nhu cầu giao dịch dân sự của nhân dân, ngày 15 tháng 11 năm
1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 59/SL quy định về thể lệ thị thực cácgiấy tờ trong đó có chứng thực các giao dịch về bất động sản Xét về nội dung đâychỉ là một thủ tục hành chính càng về sau việc áp dụng Sắc lệnh 59/SL càng mangtính hình thức, chủ yếu xác nhận ngày tháng năm, chữ ký và địa chỉ thường trú củađương sự Sau đó, vào ngày 29 tháng 2 năm 1952 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký banhành Sắc lệnh số 85/SL quy định về thể lệ trước bạ về các việc mua, bán, cho, đổinhà cửa, ruộng đất Do hoàn cảnh lịch sử bấy giờ Sắc lệnh số 85/SL chỉ áp dụngđối với những vùng thuộc Ủy ban kháng chiến Cũng theo sắc lệnh này, Ủy bankháng chiến cấp xã hoặc thị xã được nhận thực vào văn tự theo hai nội dung: nhậnthực chữ ký của các bên mua, bán, cho, đổi nhà cửa, ruộng đất; nhận thực ngườiđứng ra bán, cho, đổi là chủ của những nhà cửa, ruộng đất, đem bán, cho hay đổi.Theo quy định của Nghị định số 143/HĐBT ngày 22 tháng 11 năm 1981 doHội đồng Bộ trưởng ban hành quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chứccủa Bộ Tư pháp, Bộ Tư pháp đã ra Thông tư số 574/QLTPK ngày 10 tháng 10 năm
1987 về hướng dẫn thực hiện công tác công chứng Nhà nước để Ủy ban nhân dâncác cấp thực hiện; đồng thời có sự chỉ đạo để Thành phố Hà Nội và Thành phố HồChí Minh thí điểm thành lập Phòng công chứng Nhà nước Sau đó, để tạo điều kiệncho các địa phương tiếp cận gần hơn với hoạt động công chứng, Bộ Tư pháp đãban hành tiếp Thông tư số 858/QLTPK ngày 15 tháng 10 năm 1987 hướng dẫnthực hiện các việc làm công chứng Tại thời điểm này, chủ thể thực hiện côngchứng duy nhất là Phòng công chứng
Trang 12Tại miền Nam Việt Nam sau khi pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1954, côngchứng dưới thời chính quyền Ngụy- Sài Gòn được điều chỉnh bằng văn bản Dụ số
43 ngày 29 tháng 11 năm 1954 quy định về ngạch chưởng khế (chưởng khế làngười Việt Nam) do Bảo Đại ký với tư cách là Quốc trưởng Mục đích ban hànhchưởng khế là nhằm thiết lập trong quản hạt của mỗi Tóa án cấp sơ thẩm thuộc Bộ
Tư pháp có một phòng công chứng, song trên thực tế chỉ thiết lập được duy nhấtmột văn phòng chưởng khế tại Sài Gòn và văn phòng đó đã hoạt động cho đến năm1975
2.2.2 Thời kỳ từ năm 1991 đến năm 2006
Trước những yêu cầu về giao dịch dân sự ngày càng phát triển để tăng cườngvai trò quản lý của Nhà nước và đảm bảo cho các giao dịch dân sự an toàn về pháp
lý, tránh sự tranh chấp, rủi ro cho các cá nhân, tổ chức khi họ tham gia ký kết cáchợp đồng giao dịch, Chính phủ đã ban hành một số nghị định về công chứng gồm:Nghị định số 45/HĐBT ngày 27/2/1991 về tổ chức và hoạt động công chứngnhà nước gồm 4 chương, 36 điều Lần đầu tiên trong văn bản quy phạm pháp luật
của Việt Nam khái niệm về công chứng được đưa ra: “Công chứng Nhà nước là
việc chứng nhận tính xác thực của các hợp đồng và giấy tờ theo quy định của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân và cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội (sau đây gọi chung là các tổ chức), góp phần phòng ngừa vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa” Trong Nghị định
đã quy định các nguyên tắc chung, các điều kiện để công chứng và các việc côngchứng Nghị định này có hiệu lực đến hết ngày 17/5/1996
Ngày 18/5/1996, Chính phủ ban hành Nghị định số 31/CP về tổ chức và hoạtđộng công chứng Nhà nước Nghị định này gồm có 6 chương, 36 điều Nghị địnhnày có hiệu lực đến ngày 31/3/2001
Ngày 08/12/2000, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2000/NĐ-CP về côngchứng chứng thực có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/4/2001, gồm có 10 chương,
75 điều Đây là Nghị định quy định ghép về công chứng và chứng thực trong mộtvăn bản quy phạm Tại Điều 2, Nghị định này quy định về công chứng như sau:
“Công chứng là việc Phòng công chứng chứng nhận tính xác thực của hợp đồng được giao kết hoặc giao dịch khác được xác lập trong quan hệ dân sự, kinh tế,
Trang 13thương mại và quan hệ xã hội khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) và thực hiện các việc khác theo quy định của Nghị định này” Nghị định này chấm dứt hiệu
lực thi hành vào ngày 01/7/2007
2.3 Từ khi có Luật Công chứng đến nay
2.3.1 Luật Công chứng năm 2006
Từ ngày 17/10 đến ngày 29/11/2006, tại kỳ họp thứ 10, Quốc hội nước Cộnghòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã ra Nghị quyết thông qua Luật Côngchứng năm 2006, Luật có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2007 Lần đầu tiên
trong Luật Công chứng năm 2006 đưa ra khái nệm mới về công chứng: “Công
chứng là việc công chứng viên chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch khác (sau đây gọi là hợp đồng, giao dịch) bằng văn bản mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Trong Luật Công chứng năm 2006 đã xác định công chứng là một
nghề, công chứng viên là người hành nghề công chứng Với kết cấu 8 chương, 67điều, bao gồm các chế định về phần chung, về tổ chức và hoạt động công chứng,
về quản lý Nhà nước về công chứng Luật Công chứng năm 2006 là bước đột phámới về công chứng, đưa hoạt động công chứng ở Việt Nam đi vào chuyên nghiệphóa, chuyển dần xã hội hóa hoạt động công chứng
2.3.2 Luật Công chứng năm 2014
Trước yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước thì Luật Công chứng năm
2014 được ban hành thay thế Luật Công chứng năm 2006 và có hiệu lực thi hành
kể từ ngày 01/01/2015 Với kết cấu 10 chương, 81 điều Sau khi Luật Công chứngnăm 2014 có hiệu lực thi hành, Chính phủ ban hành Nghị định số 29/2015/NĐ-CPngày 15/3/2015 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Côngchứng Thông tư số 06/2015/TT-BTP ngày 15/6/2015 quy định chi tiết và hướngdẫn thi hành một số điều của Luật Công chứng
3 Khái niệm, đặc điểm của văn bản công chứng
3.1 Khái niệm văn bản công chứng
Theo hệ thống pháp luật của các nước theo trường phái công chứng La tinh thìvăn bản công chứng chính là sản phẩm của công chứng viên do công chứng viênsoạn thảo hoặc xác nhận đáp ứng được những yêu cầu chính xác về mặt nội dung,
Trang 14hình thức và có giá trị pháp lý cao Ở những nước theo hệ thống luật thành văn,những nhà lập pháp tin tưởng coi công chứng viên như những công chức Nhà nước
và văn bản do họ soạn thảo, chứng nhận có giá trị như văn bản của cơ quan côngquyền Theo Điều 7, Nghị định 45-HĐBT ngày 27 tháng 2 năm 1992 về tổ chức và
hoạt động công chứng nhà nước thì “Văn bản công chứng phải được thể hiện rõ
ràng và theo đúng mẫu thống nhất do Bộ Tư pháp quy định Hồ sơ, văn bản công chứng và sổ công chứng phải được lưu trữ, bảo quản đầy đủ, chặt chẽ, lâu dài tại phòng công chứng Nhà nước” Như vậy, vào năm 1992 thuật ngữ văn bản công
chứng đã được sử dụng nhưng các nhà làm luật vẫn chưa đưa ra khái niệm mộtcách cụ thể và chính xác Nghị định số 31/CP ngày 18 tháng 5 năm 1996 về tổchức và hoạt động công chứng nhà nước thay thế nghị định 45/HĐBT cụ thể là bên
cạnh thuật ngữ công chứng còn có nội dung công chứng quy định “Nội dung công
chứng phải được thể hiện rõ ràng và theo đúng mẫu thống nhất do Bộ Tư pháp quy định Các văn bản công chứng phải được công chứng viên ký, đóng dấu và ghi vào
sổ công chứng.” Với sự hoàn thiện và phát triển của các chế định công chứng qua
các thời kỳ, có thể thấy rằng đến thời điểm này các quy định mang tính nền tảng;nội dung, hình thức của văn bản công chứng đã dần hình thành một cách rõ nét.Đến năm 2006, Luật Công chứng ra đời thì khái niệm và nhiều quy định của vănbản công chứng đã dần hoàn thiện hơn Theo quy định tại Điều 4, Luật Công
chứng năm 2006 thì: “Hợp đồng, giao dịch bằng văn bản đã được công chứng theo
quy định của Luật này gọi là văn bản công chứng.Văn bản công chứng bao gồm các nội dung sau đây: Hợp đồng, giao dịch; Lời chứng của công chứng viên Văn bản công chứng có hiệu lực kể từ ngày được công chứng viên ký và có đóng dấu của tổ chức hành nghề công chứng.” Qua đó khẳng định văn bản công chứng gồm
hai bộ phận là hợp đồng, giao dịch và phần lời chứng của công chứng viên Tuy
nhiên theo quy định tại Khoản 4, Điều 2, Luật Công chứng năm 2014 thì: “Văn bản
công chứng là hợp đồng, giao dịch, bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật này” Như vậy, văn bản công chứng được chia thành hai
nhóm chính đó là:
- Hợp đồng, giao dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định củaLuật Công chứng
Trang 15- Bản dịch đã được công chứng viên chứng nhận theo quy định của Luật Côngchứng.
3.2 Đặc điểm của văn bản công chứng
Hoạt động công chứng góp phần tích cực và quan trọng trong việc phòng ngừatranh chấp và vi phạm pháp luật, cung cấp các tài liệu có giá trị chứng cứ phục vụcho việc giải quyết tranh chấp Do đó để đảm bảo được những giá trị trên thì vănbản công chứng phải đáp ứng được những đặc điểm sau:
Thứ nhất đó là tính chính xác.
Theo quy định tại Khoản 2, Điều 45, Luật Công chứng năm 2014 thì văn bảncông chứng phải chính xác về thời điểm công chứng Ngày, tháng, năm phải chínhxác vì đó là ngày, tháng, năm giao kết hợp đồng, giao dịch; ngày, tháng, năm côngchứng viên ký là ngày văn bản công chứng có hiệu lực thi hành; ngày, tháng, nămtrong lời chứng của công chứng viên phải được thể hiện bằng số và bằng chữ.Trong một số trường hợp như công chứng di chúc, theo yêu cầu của người yêu cầucông chứng hoặc công chứng viên thấy cần thiết thời gian công chứng còn phảichính xác cả giờ, phút Các số liệu sau phần ghi bằng số phải ghi bằng chữ để tránhsửa chữa, sai lệch
Có thể nói chủ thể yêu cầu công chứng là yếu tố quyết định đến tính chính xáccủa văn bản công chứng Việc chính xác về chủ thể yêu cầu công chứng có vai tròrất quan trọng trong việc đảm bảo được giá trị pháp lý của văn bản công chứng.Chủ thể yêu cầu công chứng là cá nhân hoặc pháp nhân phải có đủ năng lực hành
vi dân sự theo quy định của pháp luật; thông tin về chủ thể phải đầy đủ, đúng vớinhững giấy tờ mà họ đã cung cấp vì nếu có sai sót sẽ có thể dẫn đến sự nhầm lẫn,tranh chấp, gây mất hiệu lực của văn bản công chứng
Chính xác về địa điểm công chứng: Trong văn bản công chứng phải ghi rõ địađiểm công chứng Việc công chứng phải được thực hiện tại trụ sở, tuy nhiên tại
Khoản 2, Điều 44, Luật Công chứng năm 2014 có quy định: “Việc công chứng có
thể được thực hiện ngoài trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng trong trường hợp người yêu cầu công chứng là người già yếu, không thể đi lại được, người đang
bị tạm giữ, tạm giam, đang thi hành án phạt tù hoặc có lý do chính đáng khác không thể đến trụ sở của tổ chức hành nghề công chứng”.
Trang 16Ý chí của các bên phải được thể hiện rõ ràng trong văn bản công chứng vì đây
sẽ là cơ sở cho việc thực hiện hoạt động công chứng Về mặt bản chất, công chứngviên chỉ là người trung gian ở giữa đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp giữa cácbên Do vậy, công chứng viên không được tác động, can thiệp vào việc thỏa thuậngiữa các bên với bất kỳ lý do nào trừ trường hợp những thỏa thuận đó trái pháp luật
và trái đạo đức xã hội
Thứ hai, được tuân thủ về mặt hình thức.
Văn bản công chứng phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật về hình thức đểđảm bảo tính chính xác và giá trị pháp lý của văn bản công chứng
Ví dụ: Ông A chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà B thì hình thức vănbản bắt buộc phải là hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà không phải làmột văn bản chuyển nhượng nào khác; hoặc các bên yêu cầu công chứng, chứngnhận hợp đồng cầm cố tài sản thì công chứng viên không thể soạn thảo và côngchứng hợp đồng thế chấp được
Ngoài ra, văn bản công chứng cũng cần tuân thủ các quy định về chữ viết, sửalỗi kỹ thuật, ghi số tờ, số trang trong văn bản, ký tên hoặc điểm chỉ, lời chứng củacông chứng viên… Mọi chi tiết trong văn bản công chứng phải được thể hiện rõràng, chính xác, không viết tắt, không viết xen hoặc đè dòng; việc sửa lỗi kỹ thuậtcũng phải thực hiện đúng quy định để người nhận hoặc thực hiện các băn bản đó
có thể nhận biết đúng các nội dung đã được chỉnh sửa, tránh nhẫm lẫn hoặc gâykhó hiểu cho họ
Thứ ba, tính phù hợp với pháp luật, đạo đức xã hội của văn bản công chứng.
Sự phù hợp của nội dung văn bản công chứng với pháp luật, đạo đức xã hội làđiều kiện cơ bản, quan trọng để văn bản công chứng đó có giá trị pháp lý căn cứ
theo Khoản 1, Điều 2, Luật Công chứng năm 2014 “Công chứng là việc công
chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng” Do
vậy khi thực hiện việc công chứng, công chứng viên phải có trách nhiệm xem xét