Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy, mô hình năm yếu tố thu được từ phân tích nhân tố khám phá EFA thì có bốn yếu tố gồm: cho con bú tự hiệu quả, thái độ, chuẩn chủ quan, kiến thức nu
Trang 1
NGUYỄN VĂN LUYỆN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH NUÔI CON HOÀN TOÀN BẰNG SỮA MẸ TRONG SÁU THÁNG ĐẦU CỦA BÀ MẸ MANG THAI TẠI TP HCM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2015
Trang 2
NGUYỄN VĂN LUYỆN
CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN Ý ĐỊNH NUÔI CON HOÀN TOÀN BẰNG SỮA MẸ TRONG SÁU THÁNG ĐẦU CỦA BÀ MẸ MANG THAI TẠI TP HCM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 60310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS BÙI THỊ THANH
Thành phố Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3Trong quá trình thực hiện luận văn “Các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại
TP HCM” tôi đã vận dụng kiến thức đã học và với sự nghiên cứu, thu thập các tài liệu liên quan, đồng thời được sự góp ý, hướng dẫn của PGS TS Bùi Thị Thanh để hoàn thành luận văn này
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các số liệu và kết quả trong luận văn này là trung thực
TP HCM, tháng 5 năm 2015
Tác giả
Nguyễn Văn Luyện
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU 1
Giới thiệu 1
1.1 Lý do nghiên cứu 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 5
1.4 Phương pháp nghiên cứu 5
1.5 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu 6
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 7
Giới thiệu 7
2.1 Ý định hành vi (Behavioural Intention – BI) 7
2.2 Các lý thuyết về ý định hành vi 7
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) 8
2.2.2 Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB) 9
2.2.3 Thuyết cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory – BSET) 11
2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan 14
2.3.1 Nghiên cứu của Mutuli và Walingo (2014) về ý định nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ sau khi sinh con tại Kenya 14
2.3.2 Nghiên cứu của Nguyen, Q.T và cộng sự (2013) về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM 16
Trang 52.3.3 Nghiên cứu của Hussein (2012) về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong sáu tháng đầu tại Indonesia 17
2.3.4 Nghiên cứu của Aquilina (2011) về mối quan hệ giữa cho con bú tự hiệu quả và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tại New York, Hoa Kỳ 20
2.4 Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM 23
2.4.1 Khái niệm sữa mẹ 23
2.4.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ 23
2.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất 24
2.4.3.1 Thái độ 26
2.4.3.2 Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội) 26
2.4.3.3 Nhận thức kiểm soát hành vi 27
2.4.3.4 Cho con bú tự hiệu quả 27
2.4.3.5 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ 27
2.4.3.6 Giá trị cảm nhận 28
2.4.3.7 Ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu 28
Tóm tắt chương 2 29
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 30
Giới thiệu 30
3.1 Quy trình nghiên cứu 30
3.2 Nghiên cứu định tính 31
3.2.1 Thiết kế nghiên cứu định tính 31
3.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính 32
3.3 Nghiên cứu định lượng 39
3.3.1 Thiết kế mẫu nghiên cứu 39
3.3.2 Thiết kế bảng câu hỏi và quá trình thu thập dữ liệu 40
3.3.3 Phương pháp phân tích dữ liệu 41
3.3.3.1 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 41
3.3.3.2 Kiểm định thang đo bằng phân tích nhân tố khám phá (EFA) 42
Trang 63.3.3.3 Phân tích tương quan và hồi quy bội (Multiple Linear Regression –
MLR) 44
3.3.4 Kiểm định sự khác biệt về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM theo các biến định tính bằng ANOVA 45
Tóm tắt chương 3 46
CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 47
Giới thiệu 47
4.1 Mô tả mẫu khảo sát 47
4.2 Đánh giá sơ bộ thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha 50
4.3 Phân tích nhân tố khám phá (EFA) 51
4.3.1 Kết quả phân tích EFA các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu 51
4.3.2 Kết quả phân tích EFA biến phụ thuộc ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu 54
4.4 Phân tích hồi quy bội MLR (Multiple Linear Regession) 55
4.4.1 Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 55
4.4.2 Xây dựng mô hình hồi quy 56
4.4.2.1 Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình 57
4.4.2.2 Xác định tầm quan trọng của các biến trong mô hình 58
4.4.2.3 Dò tìm sự vi phạm các giả định cần thiết trong hồi quy tuyến tính 59
4.5 Kiểm định sự khác biệt về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM theo các đặc điểm cá nhân của bà mẹ 63
4.5.1 Kiểm định sự khác biệt theo độ tuổi 63
4.5.2 Kiểm định sự khác biệt theo tình trạng hôn nhân 64
4.5.3 Kiểm định sự khác biệt theo trình độ học vấn 65
4.5.4 Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp 66
4.5.5 Kiểm định sự khác biệt theo thu nhập hộ gia đình 67
Trang 7Tóm tắt chương 4 68
CHƯƠNG 5: THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ KIẾN NGHỊ 70
Giới thiệu 70
5.1 Tóm tắt nội dung nghiên cứu 70
5.2 Thảo luận kết quả nghiên cứu 72
5.2.1 Cho con bú tự hiệu quả 72
5.2.2 Thái độ 73
5.2.3 Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội) 73
5.2.4 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ 74
5.2.5 Nhận thức kiểm soát hành vi 74
5.3 Một số kiến nghị cho các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe tại TP HCM 75
5.3.1 Cho con bú tự hiệu quả 75
5.3.2 Thái độ 76
5.3.3 Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội) 77
5.3.4 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ 78
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 78 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Nội dung thảo luận nhóm
Phụ lục 2: Bảng câu hỏi nghiên cứu định lượng
Phụ lục 3: Mô tả mẫu khảo sát
Phụ lục 4: Kết quả đánh giá các thang đo bằng hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha Phụ lục 5: Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA)
Phụ lục 6: Kết quả phân tích hồi quy bội
Phụ lục 7: Kết quả kiểm định ANOVA
Trang 8DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AAP: Học viện nhi khoa Hoa Kỳ (American Academy of Pediatrics)
AB: Thái độ hướng tới hành vi (Attitude toward behavior)
ABM: Học viện y học nuôi con bằng sữa mẹ (Academy of Breastfeeding Medicine) ANOVA: Phân tích phương sai (ANalysis Of VAriance)
BK: Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ (Breastfeeding Knowledge)
BI: Ý định hành vi (Behavioural Intention)
BSE: Cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy)
BSES: Mức độ cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Scale)
BSET: Thuyết cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory)
EFA: Phân tích nhân tố khám phá (Exploratory Factor Analysis)
ELM: Mô hình khả năng xây dựng (Elaboration Likelihood Model)
KMO: Hệ số Kaiser-Meyer-Olkin
MLR: Hồi quy bội (Multiple Linear Regression)
SCT: Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory)
Sig: Mức ý nghĩa (Significant level)
SN: Chuẩn chủ quan (Subjective norm)
SPSS: Phần mềm thống kê cho khoa học xã hội (Statistical Package for the Social Sciences)
PBC: Nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioural control)
PCA: Phương pháp trích nhân tố (Principal Component Analysis)
PTTH: Phổ thông trung học
PT: Thuyết triển vọng (Prospect Theory)
PV: Giá trị cảm nhận (Perceived Value)
TP HCM: Thành phố Hồ Chí Minh
TPB: Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour)
TRA: Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action)
TVE: Tổng phương sai trích (Total Variance Explained)
VIF: Hệ số phóng đại phương sai (Variance Inflation Factor)
WHO: Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU
Bảng 2.1: Bảng tổng kết các điểm chính của các nghiên cứu trước đây 22
Bảng 3.1: Thang đo thái độ 33
Bảng 3.2: Thang đo chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội) 34
Bảng 3.3: Thang đo nhận thức kiểm soát hành vi 35
Bảng 3.4: Thang đo cho con bú tự hiệu quả 36
Bảng 3.5: Thang đo kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ 37
Bảng 3.6: Thang đo ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu 39
Bảng 4.1: Thống kê giai đoạn mang thai của bà mẹ 47
Bảng 4.2: Thống kê số lần bà mẹ đang chuẩn bị sinh con 48
Bảng 4.3: Thống kê mẫu nghiên cứu theo đặc điểm cá nhân của bà mẹ 49
Bảng 4.4: Kết quả đánh giá các thang đo bằng Cronbach’s Alpha 50
Bảng 4.5: KMO và kiểm định Bartlett 51
Bảng 4.6: Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) 52
Bảng 4.7: Kết quả phân tích EFA các nhân tố độc lập 53
Bảng 4.8: KMO và kiểm định Bartlett 54
Bảng 4.9: Tổng phương sai trích (Total Variance Explained) 55
Bảng 4.10: Ma trận nhân tố 55
Bảng 4.11: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 56
Bảng 4.12: Tóm tắt mô hình hồi quy 57
Bảng 4.13: Kết quả phân tích ANOVAa 57
Bảng 4.14: Trọng số hồi quya 57
Bảng 4.15: Kết quả kiểm định các giả thuyết nghiên cứu chính thức 59
Bảng 4.16: Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 63
Bảng 4.17: Kết quả ANOVA 63
Bảng 4.18: Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 64
Bảng 4.19: Kết quả ANOVA 64
Bảng 4.20: Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 65
Bảng 4.21: Kết quả ANOVA 65
Trang 10Bảng 4.22: Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 66
Bảng 4.23: Kết quả ANOVA 66
Bảng 4.24: Kiểm định Levene phương sai đồng nhất 67
Bảng 4.25: Kết quả ANOVA 67
Bảng 5.1: Kết quả giá trị trung bình và mức độ quan trọng của các biến độc lập 75
Trang 11DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA) 8
Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB) 10
Hình 2.3: Mô hình cho con bú tự hiệu quả (BSET) 13
Hình 2.4: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ tại Kenya 15
Hình 2.5: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại Tp HCM 17
Hình 2.6: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu tại Indonesia 19
Hình 2.7: Mô hình mối quan hệ giữa tự hiệu quả và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tại New York, Hoa Kỳ 21
Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu đề xuất 29
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu 30
Hình 4.1: Đồ thị phân tán Scatterplot 60
Hình 4.2: Đồ thị tần số Histogram 61
Hình 4.3: Đồ thị tần số P-P plot 61
Trang 12Nghiên cứu này vận dụng 2 phương pháp chủ yếu là nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung với một nhóm đối tượng gồm 11 bà mẹ mang thai từ 28 tuần trở lên đang sinh sống tại TP HCM có ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thành phần và thang đo các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng kỹ thuật phỏng vấn trực tiếp với một mẫu có kích thước n = 271 bà mẹ mang thai từ 28 tuần trở lên đang sinh sống tại TP HCM, nhằm khẳng định các yếu tố cũng như giá trị, độ tin cậy của thang đo các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu Dữ liệu sau khi thu thập được phân tích bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS 20.0
Kết quả nghiên cứu cho thấy các thang đo lường các khái niệm nghiên cứu sau khi điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu tại TP HCM, đều đạt được
độ tin cậy và giá trị Kết quả kiểm định cho thấy mô hình nghiên cứu chính thức phù hợp với dữ liệu khảo sát Kết quả phân tích hồi quy bội cho thấy, mô hình năm yếu tố thu được từ phân tích nhân tố khám phá (EFA) thì có bốn yếu tố gồm: cho con bú tự hiệu quả, thái độ, chuẩn chủ quan, kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ là tác động có ý nghĩa đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM và chưa có cơ sở để khẳng định yếu tố nhận thức
Trang 13kiểm soát hành vi tác động có ý nghĩa đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM Mô hình giải thích được 62,3% sự biến thiên của biến phụ thuộc ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM
Kết quả kiểm định sự khác biệt về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM theo các biến định tính bằng phương pháp kiểm định ANOVA cho thấy, với mẫu nghiên cứu n = 271 và độ tin cậy 95% thì không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu đối với các đặc điểm độ tuổi của bà mẹ, trình độ học vấn và thu nhập hộ gia đình; ngược lại, với độ tin cậy 95%, có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu đối với các đặc điểm tình trạng hôn nhân và nghề nghiệp của bà mẹ Trong đó, nhóm bà
mẹ đã kết hôn có mức độ trung bình về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu cao hơn các nhóm bà mẹ có tình trạng hôn nhân còn lại; và nhóm các bà mẹ là học sinh/ sinh viên có mức độ trung bình về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu thấp hơn các nhóm bà mẹ có nghề nghiệp còn lại
Kết quả nghiên cứu này giúp cho các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe tại
TP HCM hiểu rõ hơn các yếu tố và mức độ tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, từ đó hoạch định các chương trình can thiệp phù hợp Kết quả nghiên cứu còn góp phần bổ sung vào hệ thống thang đo và mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Theo Tổ chức Y Tế Thế giới (World Health Organization - WHO, 1991), sữa
mẹ là thức ăn tốt nhất cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ Nuôi con bằng sữa mẹ đã được chứng minh là rất có lợi cho sức khỏe trẻ sơ sinh, đồng thời mang lại lợi ích cho các
bà mẹ, gia đình và xã hội nói chung Nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (WHO, 2000; Jones và cộng sự, 2003), nuôi con bằng sữa mẹ được chứng minh là một biện pháp quan trọng giúp cải thiện sức khỏe của bà mẹ và trẻ em trong suốt cuộc đời (Wolf, 2003) Hơn nữa, việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ từ khi trẻ được sinh ra đến khi trẻ được sáu tháng tuổi là điều quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng và nền kinh tế, mang lại lợi ích sâu rộng trong giới hạn của môi trường, kinh tế và xã hội vì nó giúp loại bỏ sự phụ thuộc vào các sản phẩm và thiết bị thay thế sữa mẹ gây tốn kém Nghiên cứu của Gartner và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng, chi phí tiết kiệm được cho chăm sóc sức khỏe nhờ việc nuôi con bằng sữa mẹ ở Hoa
Kỳ là 3,6 tỷ USD mỗi năm
Để đạt được lợi ích tối ưu, các khuyến cáo của nhiều tổ chức cho rằng tất cả các trẻ sơ sinh nên được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ (Exclusive Breastfeeding – EBF) trong sáu tháng đầu, với việc dần dần bổ sung thực phẩm và tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ sau đó cho ít nhất một năm hoặc lâu hơn, miễn là cả mẹ và con mong muốn (AAP, 2005; ABM, 2008; WHO, 2011) Tuy nhiên, để khuyến khích phụ nữ nuôi con bằng sữa mẹ là một thách thức lớn cho các chuyên gia chăm sóc sức khỏe Mặc dù nỗ lực tăng số lượng bà mẹ lựa chọn việc nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng tỉ lệ
Trang 15bắt đầu và tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ ở nhiều quốc gia vẫn còn thấp hơn tối ưu, chỉ có 35% trẻ nhỏ dưới năm tháng tuổi bú sữa mẹ hoàn toàn trên toàn thế giới (WHO, 2010) Ngay cả những nước phát triển và đang phát triển ở Đông Nam Á, tỷ
lệ trẻ nhỏ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu tiên sau khi sinh vẫn còn quá thấp, ví dụ, tỷ lệ này ở Singapore là 0% (Foo và cộng sự, 2005), ở Malaysia là 14,5% (Tan, 2011) và Thái Lan là 14,5% (Hangchaovanich và Voramongkol, 2006)
Việt Nam bắt đầu thực hiện Chương trình nuôi con bằng sữa mẹ từ năm 1992 cho đến nay, chương trình đã được pháp luật và các chính sách khác hỗ trợ, bảo vệ thông qua Nghị định 21/2006/NĐ – CP Ngoài ra, nuôi con bằng sữa mẹ là một trong những giải pháp ưu tiên được lồng ghép trong các chủ trương, chính sách của ngành y tế về Chăm sóc sức khỏe bà mẹ và trẻ em Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện Dinh Dưỡng Quốc Gia (2012), tỷ lệ trẻ được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ cho đến sáu tháng tuổi của Việt Nam năm 2010 là 19,6% Tỷ lệ này thấp hơn rất nhiều
so với tỷ lệ trung bình của thế giới Vậy nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng trên? Những yếu tố nào tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ tại Việt Nam nói chung và tại TP HCM nói riêng?
Trên thế giới, các nghiên cứu đã nhiều lần phát hiện ra rằng bà mẹ có ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là những người có hiểu biết cao về kiến thức cho con bú (Swanson và cộng sự, 2006; Wen và cộng sự, 2009) Những nghiên cứu cho rằng thái độ và giá trị cảm nhận của bà mẹ, vai trò của ông bố và người thân có tác động mạnh mẽ tới ý định nuôi con bằng sữa mẹ (Hussein, 2012; Mutuli và Walingo, 2014) Một nghiên cứu định tính được tiến hành ở Anh của Graffy và Taylor (2005)
mô tả là các bà mẹ có cảm giác chưa thực sự sẵn sàng để nuôi con bằng sữa mẹ và
họ rất cần thông tin để nâng cao nhận thức vấn đề này; do đó, nghiên cứu của Bolling (2007) đã phát hiện ra rằng phụ nữ có nhiều khả năng để bắt đầu nuôi con
và tiếp tục duy trì việc nuôi con bằng sữa mẹ khi nhận được khuyến khích tích cực
từ bạn bè hay mẹ của họ, hay được tư vấn từ nhân viên y tế (Raj và Plichta, 1998); hoặc nghiên cứu của Swanson và Power (2004) tại Scotland, nước Anh cho thấy
Trang 16nhân viên y tế kết hợp với người chồng, gia đình và bạn bè có vai trò tích cực đến hành vi nuôi con bằng sữa mẹ Bên cạnh đó, sự tự tin của chính bản thân bà mẹ có ảnh hưởng tích cực đến ý định và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ (McCarter-Spaulding và Gore, 2009; Aquilina, 2011)
Tại TP HCM, với sự xuất hiện của nền công nghiệp sản xuất thực phẩm thay thế sữa mẹ, sự nhận thức và kiến thức về lợi ích của sữa mẹ, niềm tin về truyền thống nuôi con bằng sữa mẹ dẫn đến thái độ và ý định hành vi sẽ thay đổi như thế nào? Vai trò của nhân viên y tế, người thân và bạn bè có tác động tích cực đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ của các bà mẹ hay không?
Theo kết quả báo cáo toàn văn điều tra ban đầu 11 tỉnh tại Việt Nam của dự
án Alive và Thrive (2012) cho thấy rằng, có những thiếu hụt rất lớn về kiến thức
của bà mẹ về việc nuôi con bằng sữa mẹ và việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu dường như không phải là một chuẩn mực xã hội ở Việt Nam
hiện nay Bên cạnh đó, theo nghiên cứu định tính của Lundberg và Tran (2012) về
thái độ và thực hành nuôi con bằng sữa mẹ tại TP HCM cho thấy, các bà mẹ tin rằng họ không có đủ sữa cho trẻ sơ sinh của họ và một số bà mẹ không đủ tự tin để tham gia vào việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ; điều đó cũng phù hợp với kết quả nghiên cứu của Nguyen, P.H và cộng sự (2013) báo cáo rằng 90% bà mẹ Việt Nam đánh giá quá cao khối lượng dạ dày của trẻ sơ sinh và đánh giá thấp sản lượng sữa của họ khi sinh Một số bà mẹ Việt Nam nghĩ rằng, việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là cho con bú sữa mẹ và bổ sung thêm thực phẩm hoặc đồ uống khác (Duong và cộng sự 2005) Tương tự như các quốc gia khác, nhận thức sai lầm phổ biến ở bà mẹ Việt Nam là trẻ nhỏ sẽ phát triển khỏe mạnh khi trẻ được nuôi dưỡng bằng cách kết hợp cả sữa mẹ và sữa bột công thức, sữa bột công thức cung cấp vitamin và tốt như hoặc tốt hơn sữa mẹ Do đó, những quan sát cho rằng một chương trình can thiệp nên tạo ra các chuẩn mực mới cho việc nuôi con bằng sữa
mẹ trong toàn dân để các bà mẹ nhận thức và thực hành theo một chuẩn mực, cũng cần cung cấp cho các bà mẹ những kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ, các kỹ năng hỗ
Trang 17trợ cho các thành viên khác trong gia đình và nhân viên y tế tuyến đầu (United States Department of Health và Human Services, 2011)
Ngoài ra, một số nghiên cứu tại TP HCM cũng cho thấy rằng, việc giáo dục nuôi con bằng sữa mẹ trước khi sinh, hỗ trợ tập trung vào việc cải thiện sự tự tin và khả năng kiểm soát của bà mẹ cho con bú có thể làm tăng ý định nuôi con bằng sữa
mẹ (Mogensen và Westin, 2009; Nguyen, Q.T và cộng sự, 2013); hay sự tham gia của người cha trong việc chăm sóc liên tục, cả tại các cơ sở chăm sóc y tế và tại các
hộ gia đình, có thể làm tăng tỷ lệ các bà mẹ áp dụng việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu (Tran và cộng sự, 2014)
Mặc dù hiện nay trên thế giới đã xuất hiện nhiều lý thuyết, mô hình nghiên cứu về việc nuôi con bằng sữa mẹ (Hussein, 2012; Mutuli và Walingo, 2014 ) và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ (McCarter-Spaulding và Gore, 2009; Aquilina, 2011), nhưng dựa trên cơ sở dữ liệu được tìm kiếm bởi tác giả thì đến nay, tại Việt Nam chỉ có một số nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu (Nguyen, Q.T và cộng sự, 2013), các yếu tố tác động đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ (Mogensen và Westin, 2009) Từ đó cho thấy, bên cạnh việc các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe chưa thật sự quan tâm thì cũng chưa có nhiều nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu tại Việt Nam
Xuất phát từ những lý do trên, với mong muốn có thể hiểu rõ hơn về các yếu
tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, tác giả
thực hiện đề tài nghiên cứu “Các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn
bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM”, nhằm
cung cấp cơ sở cho các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe tại TP HCM hoạch
định các chương trình can thiệp hiệu quả
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong sáu tháng đầu;
Trang 18- Xác định mức độ tác động của từng yếu tố đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu;
- Đề xuất một số hàm ý để giúp các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe tại
TP HCM hiểu rõ hơn các yếu tố và mức độ tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, từ đó hoạch định các chương trình can thiệp phù hợp
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu là ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ và các yếu
tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
- Đối tượng khảo sát là các bà mẹ mang thai từ 28 tuần trở lên đang sinh sống tại TP HCM, có độ tuổi từ 18 đến 45 Các bà mẹ này có vai trò ra quyết định trong việc lựa chọn hình thức nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
- Phạm vi nghiên cứu là các lý thuyết, các nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Nghiên cứu này chỉ giới hạn trong việc nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành thông qua hai phương pháp chủ yếu: nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng
- Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua kỹ thuật thảo luận nhóm tập trung với một nhóm đối tượng gồm 11 bà mẹ mang thai từ 28 tuần trở lên đang sinh sống tại TP HCM có ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, nhằm khám phá, điều chỉnh và bổ sung các thành phần và thang đo các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
- Nghiên cứu định lượng được thực hiện bằng kỹ thuật thu thập thông tin trực tiếp từ các bà mẹ mang thai từ 28 tuần trở lên thông qua bảng câu hỏi và được thực hiện tại TP HCM, nhằm khẳng định các yếu tố cũng như giá trị, độ tin cậy của
Trang 19thang đo các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu Mẫu khảo sát được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện Dữ liệu sau khi thu thập sẽ được phân tích bằng phần mềm xử lý thống kê SPSS 20.0 Thang đo được kiểm định bằng hệ số tin cậy (Cronbach’s Alpha) và phân tích nhân
tố khám phá (EFA) Sau khi đánh giá, các thang đo tiếp tục được đưa vào phân tích hồi quy bội, kỹ thuật ANOVA cũng được sử dụng để kiểm định sự khác biệt về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu theo đặc điểm cá nhân của bà mẹ
1.5 Ý nghĩa và đóng góp của nghiên cứu
Về mặt lý thuyết:
Kết quả nghiên cứu góp phần bổ sung vào hệ thống thang đo và mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu tại TP HCM
Về mặt thực tiễn:
Thứ nhất, kết quả nghiên cứu này giúp cho các nhà quản trị trong lĩnh vực
sức khỏe tại TP HCM hiểu rõ hơn các yếu tố và mức độ tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, từ đó hoạch định các chương trình can thiệp phù hợp
Thứ hai, kết quả của nghiên cứu này nhằm cung cấp thông tin và những luận
cứ khoa học giúp cho các cơ sở y tế, các phòng truyền thông của bệnh viện tại TP HCM hiểu được những mong đợi của bà mẹ, những thuận lợi hay khó khăn khi hướng tới ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, từ đó đề ra các phương pháp truyền thông khuyến khích các bà mẹ thực hành nuôi con bằng sữa mẹ một cách hiệu quả hơn
Thứ ba, nghiên cứu này có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho các nhà
nghiên cứu về các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Trang 20CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU
Giới thiệu
Chương 1 giới thiệu tổng quan về nghiên cứu Chương 2 nhằm giới thiệu cơ
sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu Trên cơ sở này, một mô hình lý thuyết và các giả thuyết được xây dựng Chương này bao gồm hai phần chính: (1) cơ sở lý thuyết
về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ; (2) mô hình nghiên cứu và các giả thuyết
2.1 Ý định hành vi (Behavioural Intention – BI)
Theo lý thuyết hành vi hoạch định (Theory of Plan Behaviour – TPB) thì ý định là yếu tố tác động mạnh mẽ đến hành vi (Ajzen, 1991) Hay nói cách khác, nghiên cứu về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ sẽ cho dự đoán tốt đối với hành vi nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
Theo Ajzen (1991, trang 181), ý định được giả định là “bao gồm các yếu tố
động lực có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân; các yếu tố này cho thấy mức
độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi” Như một
quy tắc chung, mỗi cá nhân có ý định càng mạnh để tham gia vào một hành vi, thì
cá nhân đó càng có nhiều khả năng sẽ thực hiện thành công hành vi đó
Ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà
mỗi bà mẹ sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ (Hussein,
2012; Mutuli và Walingo, 2014)
2.2 Các lý thuyết về ý định hành vi
Nuôi con bằng sữa mẹ có thể được coi là hành vi tâm lý xã hội con người Vì vậy, có một nền tảng tâm lý và kiến thức về hành vi con người là điều cần thiết cho các nhà quản trị trong lĩnh vực sức khỏe để đạt được mục tiêu chiến lược tốt hơn khi xây dựng các chương trình khuyến khích thực hành nuôi con bằng sữa mẹ Một
số lý thuyết đã được đề xuất để nghiên cứu ý định hành vi con người trong những năm gần đây như: thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA), thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB), thuyết cho con bú
Trang 21tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory - BSET) là những lý thuyết được
sử dụng rộng rãi nhất
2.2.1 Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA)
Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) được Ajzen và Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội (Sheppard và cộng sự, 1988) Mô hình TRA cho thấy hành vi được quyết định bởi ý định thực hiện hành vi đó Ý định của một cá nhân là một chức năng của hai yếu tố quyết định cơ bản: một cá nhân trong trạng thái tự nhiên (thái độ hướng tới hành vi) và phản ánh ảnh hưởng từ xã hội (chuẩn chủ quan)
Hình 2.1: Mô hình thuyết hành động hợp lý (TRA)
Nguồn: Fishbein và Ajzen (1975)
Trong đó:
- Thái độ (Attitude toward behaviour - AB): là một yếu tố quyết định của ý
định hành vi Nó được định nghĩa bởi “cá nhân đánh giá tích cực hay tiêu cực về
hành vi thực hiện mục tiêu” (Fishbein và Ajzen, 1975, trang 216) Dựa trên TRA,
thái độ là một chức năng của niềm tin Niềm tin làm nền tảng cho thái độ của một
cá nhân đối với hành vi được gọi là niềm tin về hành vi (Fishbein, 1980)
- Chuẩn chủ quan (Subjective norm - SN): là “nhận thức của cá nhân về
những ảnh hưởng xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991,
trang 188) Chuẩn chủ quan được xác định bởi nhận thức của cá nhân về việc nhận
Niềm tin về lợi
Trang 22được những khuyến khích của người thân, bạn bè và xã hội để thực hiện hành vi Ảnh hưởng xã hội được đo bằng cách đánh giá của các nhóm xã hội khác nhau Do
đó, niềm tin theo chuẩn tương tự như chuẩn chủ quan, ngoại trừ việc nó liên quan đến các nhóm hoặc các cá nhân cụ thể, các nhóm hoặc các cá nhân này có mức độ ảnh hưởng khác nhau đối với từng tình huống hành vi cụ thể (Ajzen và Fishbein, 1980)
Cơ sở giả định của TRA là cá nhân hành động có lý trí và cá nhân thường xem xét những ảnh hưởng đến hành vi của họ trước khi họ quyết định thực hiện hay không thực hiện một hành vi nhất định; nói cách khác, hành vi thường được lý giải trước (Fishbein, 1980)
Sheppard và cộng sự (1988) đã đề xuất một số hạn chế trong TRA:
- Thứ nhất, khi hành vi của một cá nhân không phải là dưới sự kiểm soát của
ý chí, TRA có thể không dự đoán chính xác hành vi của cá nhân đó Nói cách khác, nhiều trở ngại tiềm năng mà có thể ngăn chặn một ý chí của cá nhân xuất hiện, chẳng hạn như thời gian, nguồn lực và sự sẵn có của sản phẩm
- Thứ hai, khi tình huống liên quan đến một vấn đề lựa chọn, TRA tập trung vào các yếu tố quyết định và thực hiện một hành vi đơn lẻ; tuy nhiên, cá nhân thường xuyên phải đối mặt với một sự lựa chọn giữa các địa điểm, sản phẩm, nhãn hiệu, mẫu mã, kích cỡ và màu sắc TRA không xem xét khả năng lựa chọn trong số các hành vi thay thế, đó là một trong những hạn chế
- Thứ ba, khi những tình huống mà trong đó ý định của cá nhân được đánh giá, nhưng họ lại không có tất cả các thông tin cần thiết để hình thành một ý định hoàn toàn tự tin
2.2.2 Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB)
Thuyết hành vi hoạch định (Theory of Planned Behaviour - TPB) được đề xuất bởi Ajzen (1991) là một phần mở rộng của lý thuyết hành động hợp lý (Fishbein và Ajzen, 1975; Ajzen và Fishbein, 1980) bởi những hạn chế của mô hình ban đầu, khi dự đoán việc thực hiện các hành vi của cá nhân mà họ không thể kiểm
Trang 23soát được Trong trường hợp này, các yếu tố về thái độ đối với hành vi thực hiện và chuẩn chủ quan của người đó không đủ giải thích cho hành động của họ
Thuyết hành vi hoạch định (TPB) được Ajzen (1991) xây dựng đã hoàn thiện thêm mô hình TRA bằng cách bổ sung thêm yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi, có nguồn gốc từ khái niệm tự hiệu quả trong lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT) của Bandura (1977) Các nghiên cứu cho thấy rằng, hành
vi của cá nhân bị ảnh hưởng mạnh bởi sự tự tin của họ trong khả năng của mình để thực hiện hành vi đó (Bandura và cộng sự, 1980); khái niệm tự hiệu quả được áp dụng rộng rãi góp phần giải thích các mối quan hệ khác nhau giữa niềm tin, thái độ,
ý định và hành vi TPB cho rằng thái độ đối với hành vi, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi cùng hình thành ý định hành vi và hành vi của một cá nhân
Hình 2.2: Mô hình thuyết hành vi hoạch định (TPB)
Nguồn: Ajzen (1991), trang 182
Trong đó, nhận thức kiểm soát hành vi (Perceived behavioural control
-PBC), “với sự hiện diện hay vắng mặt của các nguồn lực và cơ hội cần thiết, nhận
thức của một cá nhân là thuận lợi hoặc khó khăn trong việc thực hiện các hành vi
cụ thể” (Ajzen, 1991, trang 188) Nhận thức kiểm soát hành vi được giả định là
phản ánh trên kinh nghiệm quá khứ và một phần từ các thông tin cũ thông qua trao đổi thông tin của gia đình, bạn bè và các yếu tố có thể kiểm soát mức độ khó hay dễ của việc thực hiện hành vi cụ thể (Ajzen, 1991)
Theo TPB, nhận thức kiểm soát hành vi cùng với ý định hành vi, có thể được
sử dụng trực tiếp để dự đoán việc thực hiện hành vi Ajzen (1991) cho rằng, nhận thức kiểm soát hành vi được xác định bởi tổng số các niềm tin kiểm soát có thể thiết
Chuẩn chủ quan
Thái độ
Nhận thức kiểm soát hành vi
Trang 24lập Niềm tin kiểm soát là niềm tin của một cá nhân về sự hiện diện của các yếu tố
về nguồn lực và cơ hội có thể tạo điều kiện thuận lợi hoặc cản trở hiệu suất của hành vi Do đó, cũng giống như niềm tin về lợi ích của hành vi được xem như xác định thái độ đối với hành vi, niềm tin tiêu chuẩn được xem như xác định các chuẩn chủ quan, niềm tin về nguồn lực và cơ hội được xem như cơ sở cho nhận thức kiểm soát hành vi (Ajzen, 1991)
Tóm lại, TPB phân biệt giữa ba loại: niềm tin – hành vi, tiêu chuẩn - kiểm soát, và giữa các cấu trúc liên quan đến thái độ, chuẩn chủ quan, và nhận thức kiểm soát hành vi Về mặt lý thuyết, đánh giá cá nhân của một hành vi (thái độ), định kiến xã hội của hành vi (chuẩn chủ quan) và sự tự tin đối với hành vi (nhận thức kiểm soát hành vi) với những khái niệm khác nhau và có vai trò quan trọng trong nghiên cứu ý định hành vi (Ajzen, 1991) Do đó, với yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi được bổ sung, mô hình TPB được xem như tối ưu hơn TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của cá nhân trong cùng một nội dung và hoàn cảnh nghiên cứu
2.2.3 Thuyết cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory – BSET)
Tương tự với khái niệm nhận thức kiểm soát hành vi trong TPB của Ajzen (1991), lý thuyết cho con bú tự hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Theory - BSET) được đề xuất bởi Dennis (1999) cũng xuất phát từ khái niệm tự hiệu quả trong lý thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT) của Bandura (1977)
* Thuyết nhận thức xã hội (Social Cognitive Theory – SCT)
Bandura (1977) đã giải thích chi tiết hơn về hành vi con người so với các nhà tâm lý học hành vi xã hội trước đó Mô hình SCT của Bandura (1977) là khái niệm về những quyết định tương tác lẫn nhau và ảnh hưởng của nó đối với hành vi trong mối quan hệ của ba yếu tố: hành vi, các yếu tố cá nhân (bao gồm cả nhận thức) và môi trường Mối quan hệ hai chiều của hành vi và môi trường là động lực
để phát triển hành vi cá nhân Hành vi của một cá nhân sẽ điều chỉnh một số khía
Trang 25cạnh của môi trường và đồng thời môi trường sẽ thay đổi hành vi của cá nhân đó Suy nghĩ và cảm xúc của một cá nhân tương tác với hành động của mình trên một mức độ hành vi cá nhân Cuối cùng, sự tương tác giữa các đặc điểm cá nhân (niềm tin, năng lực nhận thức) và môi trường cho phép phát triển và thay đổi những đặc điểm của môi trường Khái niệm tự hiệu quả, một cấu trúc quan trọng của SCT, giải thích cách thức con người thực hiện hành vi như thế nào
Tự hiệu quả (Self-Efficacy): Bandura (1986) mô tả khái niệm tự hiệu quả
trong SCT như khả năng nhận thức của một cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ hoặc hành vi cụ thể Bandura (1986) cho rằng một kinh nghiệm có vai trò ảnh hưởng đến năng lực của một cá nhân để đạt được một hành vi nhất định và theo dõi kết quả Kinh nghiệm bản thân giúp nâng cao nhận thức của cá nhân về khả năng của mình Quá trình tâm lý của cá nhân bắt đầu tạo ra và củng cố thêm sự mong đợi của tự hiệu quả Tự hiệu quả không chỉ ảnh hưởng khi bắt đầu một hành vi, mà quá trình tâm lý còn hướng dẫn mức độ nỗ lực của cá nhân đặt vào một hành vi và duy trì hành vi đó mặc dù cá nhân có những điều kiện không thuận lợi
Theo Bandura (1986), tự hiệu quả bao gồm hai phần: (1) kết quả mong đợi, niềm tin rằng một hành vi nhất định sẽ dẫn đến một kết quả cụ thể cho dù có hay không có một cảm nhận về khả năng thực hiện hành vi, và (2) sự mong đợi hiệu
quả, đánh giá khả năng của một cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định
* Thuyết cho con bú tự hiệu quả (BSET):
Dennis (1999) đã công nhận tự hiệu quả từ SCT là một khái niệm quan trọng trong việc bà mẹ liên tục tự tin nuôi con bằng sữa mẹ Căn cứ vào SCT của Bandura
(1977), Dennis (1999) đã phát triển lý thuyết cho con bú tự hiệu quả
Cho con bú tự hiệu quả được định nghĩa là “sự tự tin của một bà mẹ rằng họ
có thể tổ chức và thực hiện các hành động cần thiết trong khả năng của mình để nuôi con bằng sữa mẹ” (Dennis, 1999, trang 197) Đo lường mức độ cho con bú tự
hiệu quả (Breastfeeding Self-Efficacy Scale - BSES), được xác định bởi: (1) cho dù một bà mẹ có chọn cho con bú hay không, (2) bà mẹ sẽ sử dụng bao nhiêu nỗ lực, (3) cho dù bà mẹ có tự nâng cao hoặc tự loại bỏ những kiểu suy nghĩ, và (4) làm thế
Trang 26nào bà mẹ có phản ứng cảm xúc với những khó khăn trong việc nuôi con bằng sữa
mẹ (Dennis, 1999) Các bà mẹ với tự hiệu quả cao sẽ có nhiều khả năng để lựa chọn việc cho con bú, kiên trì khi đối đầu với những khó khăn, sử dụng những suy nghĩ
tự khuyến khích, và phản ứng tích cực với những khó khăn (Dennis, 1999)
Theo Dennis (1999), bốn nguồn thông tin được tạo nên mô hình BSET: (1) thành tích thực hiện đã cũng cố thêm khả năng kiểm soát của bà mẹ trong việc nuôi con bằng sữa mẹ; (2) kinh nghiệm gián tiếp đã hỗ trợ bà mẹ trong việc nhận biết vai trò của mình; (3) thông qua việc được thuyết phục bằng lời khuyên và mục tiêu để
có một kinh nghiệm chắc chắn trong việc nuôi con bằng sữa mẹ đã thúc đẩy bà mẹ tiếp thu kỹ năng và kinh nghiệm của những người có ảnh hưởng; và (4) giảm thiểu các vấn đề về trạng thái sinh lý và cảm xúc của bà mẹ để nâng cao khả năng cho con bú tự hiệu quả Dựa trên những mối quan hệ giữa các nguồn thông tin của việc nuôi con bằng sữa mẹ, mức độ cho con bú tự hiệu quả (BSES) đã được phát triển để xác định những bà mẹ có nguy cơ ngừng cho trẻ bú sớm (Dennis và Faux, 1999)
Hình 2.3: Mô hình cho con bú tự hiệu quả (BSET)
Nguồn: Dennis (1999), trang 197
Trong mô hình, Dennis (1999) đã mô tả bốn tiền đề của cho con bú tự hiệu quả, bao gồm: thành tích thực hiện; kinh nghiệm gián tiếp; thuyết phục bằng lời khuyên; trạng thái sinh lý và cảm xúc Hệ quả của cho con bú tự hiệu quả là sự lựa chọn hành vi của cá nhân, nỗ lực và kiên trì, kiểu suy nghĩ và phản ứng cảm xúc
Trang 27Cuối cùng, hệ quả sẽ dẫn đến hoạt động, các loại hoạt động là khởi đầu, thực hiện
và duy trì hành vi Nuôi con bằng sữa mẹ đại diện cho một hành vi sức khỏe với các tiềm năng để có một tác động tích cực đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của người mẹ và trẻ nhỏ
Mặc dù, cho con bú tự hiệu quả của Dennis (1999) và nhận thức kiểm soát hành vi (PBC) trong TPB của Ajzen (1991) đều có nguồn gốc từ khái niệm tự hiệu quả trong SCT của Bandura (1977), tuy nhiên, một số nghiên cứu thực nghiệm đã phân biệt sự khác nhau giữa cho con bú tự hiệu quả và PBC Trong dự đoán ý định hành vi, khái niệm của PBC là phản ánh mức độ mà cá nhân nhận thức hành vi trong vòng kiểm soát của họ, còn cho con bú tự hiệu quả được mô tả như là mức độ
mà một cá nhân nhận thức được rằng hành vi mong muốn là dễ dàng hay khó khăn
để thực hiện (Povey và cộng sự, 2000; Hussein, 2012) Trong trường hợp nghiên cứu về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ với điều kiện là duy trì ít nhất trong sáu tháng đầu, yếu tố cho con bú tự hiệu quả cho dự đoán tốt nhất về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ sẽ duy trì được bao lâu (McCarter-Spaulding và Gore, 2009) Do
đó, Hussein (2012) đã đề xuất cả hai yếu tố cho con bú tự hiệu quả và PBC được đưa vào cùng một mô hình để dự đoán ý định nuôi con bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.3 Các nghiên cứu trước có liên quan
2.3.1 Nghiên cứu của Mutuli và Walingo (2014) về ý định nuôi con bằng sữa
mẹ của bà mẹ sau khi sinh con tại Kenya
Mutuli và Walingo (2014) đã sử dụng mô hình TPB của Ajzen (1991) để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ qua đó thực hiện tối ưu hành vi nuôi con bằng sữa mẹ của 220 bà mẹ sau khi sinh một ngày tại miền Tây Kenya vào năm 2014 Mẫu được lấy ngẫu nhiên, tiêu chuẩn chọn mẫu bao gồm các
bà mẹ mới sinh con đầu lòng, đã được tham dự các lớp tiền sản và sinh ra con khỏe mạnh với trọng lượng của trẻ sơ sinh hơn 2500 gram khi sinh Mutuli và Walingo (2014) đề xuất ba yếu tố tác động đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ, bao gồm: (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội), (3) Nhận thức kiểm soát
Trang 28hành vi Ý định hành vi sẽ phát triển để thực hiện hành vi, yếu tố nhận thức kiểm soát hành vi cũng tác động trực tiếp tới hành vi
Các khái niệm trong mô hình của Mutuli và Walingo (2014) sẽ được trình bày sau đây:
- Thái độ là xu hướng tâm lý của bà mẹ phản ánh những cảm xúc tích cực
hay tiêu cực đối với việc phát triển một ý định, thái độ tích cực hơn có giá trị hướng đến việc tăng cường ý định nuôi con bằng sữa mẹ
- Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội) là nhận thức của bà mẹ về khả
năng tiềm năng họ sẽ chấp thuận hay không chấp thuận ý định nuôi con bằng sữa
mẹ của mình khi nhận được những lời khuyên nuôi con bằng sữa mẹ từ những người có ảnh hưởng đến họ Mức độ ảnh hưởng từ xã hội sẽ tác động đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ
- Nhận thức kiểm soát hành vi là dự đoán mức độ dễ hay khó để phát triển
một ý định nuôi con bằng sữa mẹ và sự tự tin trong khả năng của bà mẹ để thực hiện hành vi này Với sự gia tăng nguồn lực và cơ hội, thêm vào đó là sự kiểm soát nhận thức về ý định nuôi con bằng sữa mẹ, nhiều khả năng bà mẹ sẽ thực hiện hành
vi nuôi con bằng sữa mẹ
- Ý định nuôi con bằng sữa mẹ là mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi bà mẹ
sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi nuôi con bằng sữa mẹ
Hình 2.4: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ tại
Kenya Nguồn: Mutuli và Walingo (2014)
Trang 29Kết quả nghiên cứu của Mutuli và Walingo (2014) cho thấy rằng:
- Các yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi có ảnh hưởng tích cực đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ Trong đó, thái độ của bà mẹ là yếu tố ảnh hưởng tích cực nhất trong việc dự đoán ý định nuôi con bằng sữa mẹ
- Ý định nuôi con bằng sữa mẹ có thể được tăng lên nếu bà mẹ nhận thấy rằng hầu hết những người có ảnh hưởng muốn hỗ trợ họ trong việc thực hiện hành
vi nuôi con bằng sữa mẹ Với sự hỗ trợ chuyên nghiệp từ nhân viên y tế và động lực
từ các thành viên trong gia đình và xã hội nói chung, chuẩn chủ quan tạo điều kiện
để các bà mẹ thực hiện hành vi nuôi con bằng sữa mẹ
- Các đo lường về nhận thức kiểm soát hành vi cho thấy rằng mặc dù bà mẹ
có những trở ngại khác để hướng tới ý định nuôi con bằng sữa mẹ, nhưng họ vẫn tự tin hơn vào khả năng của mình để thực hiện hành vi này
- Cuối cùng, ý định nuôi con bằng sữa mẹ đã được phát triển để thực hiện tối
ưu hành vi nuôi con bằng sữa mẹ
2.3.2 Nghiên cứu của Nguyen, Q.T và cộng sự (2013) về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM
Nguyen, Q.T và cộng sự (2013) đã sử dụng mô hình TPB của Ajzen (1991)
để xác định các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM vào năm 2013 Đối tượng khảo sát bao gồm 180 bà mẹ mang thai trên 28 tuần đến khám thai tại bệnh viện Từ Dũ, TP HCM Ngoài ba yếu tố: thái độ, chuẩn chủ quan (hay ảnh hưởng của xã hội) và nhận thức kiểm soát hành vi; Nguyen, Q.T và cộng sự (2013) đã mở rộng mô hình TPB bằng cách bổ sung thêm yếu tố kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ cùng với các thành phần của TPB tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Trong đó, kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ (breastfeeding knowledge) là sự hiểu biết của bà mẹ về những lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ và cách thức thích hợp để thực hiện việc nuôi con bằng sữa mẹ
Trang 30
Hình 2.5: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại Tp HCM
Nguồn: Nguyen, Q.T và cộng sự (2013)
Kết quả nghiên cứu của Nguyen, Q.T và cộng sự (2013) cho thấy rằng, tất
cả các yếu tố dự báo: thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi và kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ cùng tác động tích cực đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.3.3 Nghiên cứu của Hussein (2012) về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong sáu tháng đầu tại Indonesia
Hussein (2012) đã sử dụng kết hợp ba mô hình, bao gồm: TPB, thuyết triển vọng (Prospect Theory – PT) và mô hình khả năng xây dựng (Elaboration Likelihood Model - ELM) để nghiên cứu ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của 279 phụ nữ trên 18 tuổi đang mang thai tại vùng Malang, tỉnh Đông Java, Indonesia vào năm 2012 Trong đó, Hussein (2012) đã mở rộng mô hình TPB bằng cách bổ sung thêm yếu tố giá trị cảm nhận cùng với các thành phần của TPB tạo nên một lý thuyết mới trong tiếp thị xã hội, ngoài việc nghiên cứu tác động của các yếu tố thái độ, chuẩn chủ quan (hay ảnh hưởng của xã hội), nhận thức kiểm soát hành vi và giá trị cảm nhận đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, Hussein (2012) còn khám phá mối quan hệ giữa yếu tố giá trị cảm nhận với thái độ và chuẩn chủ quan Hussein (2012) kết hợp giữa PT và ELM
để xây dựng một mô hình các yếu tố tác động tiềm năng: PT là cơ sở để giải thích
Thái độ
Nhận thức kiểm soát hành vi
Chuẩn chủ quan
Ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
- Tuổi của bà mẹ
- Thu nhập hộ gia đình
Trang 31tác động của khung thông tin, còn ELM được sử dụng cho việc kiểm tra các mức độ tác động của khung thông tin khi kết hợp với độ tin cậy của nguồn thông tin
Về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, Hussein (2012) đề xuất năm yếu tố tác động, bao gồm: (1) Thái độ, (2) Chuẩn chủ quan (hay ảnh hưởng của xã hội), (3) Nhận thức kiểm soát hành vi, (4) Giá trị cảm nhận, (5) Khung thông tin
Trong đó:
- Khung thông tin (Message Framing) là cách thức thông tin được trình bày,
một trong những kỹ thuật truyền thông thuyết phục thường được sử dụng để thúc đẩy hành vi mới về sức khỏe (Hussein, 2012)
- Độ tin cậy của nguồn thông tin (Source Credibility) là mức độ mà các
nguồn thông tin được xem như kiến thức chuyên môn có liên quan đến vấn đề sức khỏe có thể được tin cậy để cung cấp cho một đánh giá khách quan (Ohanian, 1990; trích trong Hussein, 2012) Khi hành vi nuôi con bằng sữa mẹ có thể được phân loại như là một hành vi phòng ngừa, thuyết triển vọng đề xuất rằng một thông tin tích cực, được đóng khung có độ tin cậy cao sẽ đem lại hiệu quả cao hơn cho bà mẹ trong việc tìm hiểu thông tin
- Giá trị cảm nhận (Perceived Value) là đánh giá chung của bà mẹ về những
lợi ích của việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ dựa trên cảm nhận về những gì bà
mẹ nhận được và những gì bỏ ra để theo đuổi mục tiêu nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ Vai trò quan trọng của việc xây dựng giá trị cảm nhận cũng đã được nghiên cứu trong lĩnh vực hành vi sức khỏe Sự kết hợp giữa giá trị cảm nhận với các thành phần của TPB tạo nên một nền tảng lý thuyết mới trong tiếp thị xã hội với việc khuyến khích thực hiện hành vi nâng cao sức khỏe, cũng như ứng dụng của mô hình này để quảng bá cho hành vi nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu (Hussein, 2012)
Trang 32Hình 2.6: Mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ trong sáu tháng đầu tại Indonesia
Nguồn: Hussein (2012)
Kết quả nghiên cứu của Hussein (2012) cho thấy rằng:
- Các yếu tố thái độ và giá trị cảm nhận có tác động tích cực đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
- Chuẩn chủ quan tác động không có ý nghĩa đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu nhưng lại có tác động tích cực đến thái độ và giá trị cảm nhận Vì vậy, có thể là chuẩn chủ quan ban đầu chỉ mới tác động đến thái độ
và giá trị cảm nhận trước khi tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
- Nhận thức kiểm soát hoành vi tác động không có ý nghĩa đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu Tuy nhiên, Hussein (2012) kiến nghị trong nghiên cứu tiếp theo nên đưa yếu tố cho con bú tự hiệu quả vào mô hình
để đánh giá tác động của yếu tố này đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Độ tin cậy của
nguồn thông tin
Khung
thông tin
Chuẩn chủ quan
Ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Thái độ
Giá trị cảm nhận
Nhận thức kiểm soát hành vi
Trang 33- Khung thông tin tác động không có ý nghĩa đến thái độ, giá trị cảm nhận và
ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu Ngược lại, khung thông tin lại có tác động tích cực đến nhận thức kiểm soát hành vi, bên cạnh đó, khi khung thông tin được kết hợp với độ tin cậy của nguồn thông tin thì lại có tác động tích cực đến thái độ, giá trị cảm nhận, nhận thức kiểm soát hành vi và ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu Như vậy, khung thông tin có tác động tích cực trên PBC ngay cả khi có hay không có độ tin cậy của nguồn thông tin
Sự tác động tích cực khi kết hợp giữa khung thông tin và độ tin cậy của nguồn thông tin đến ý định định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu chỉ
ra rằng độ tin cậy của nguồn thông tin đóng một vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả của khung thông tin trên ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.3.4 Nghiên cứu của Aquilina (2011) về mối quan hệ giữa cho con bú tự hiệu quả và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ tại New York, Hoa Kỳ
Aquilina (2011) đã sử dụng mô hình cho con bú tự hiệu quả (BSET) của Dennis (1999) để nghiên cứu mối quan hệ giữa cho con bú tự hiệu quả và thời gian nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ mới sinh con tại phía Tây New York, Hoa Kỳ Một mẫu thuận tiện gồm 77 bà mẹ mới sinh con từ 24 – 48 giờ, trên 18 tuổi, sinh ra con khỏe mạnh Sau đó, các bà mẹ này được tiếp tục theo dõi qua điện thoại tại các thời điểm 2 tuần, 1 tháng, 2 tháng, 4 tháng và 6 tháng sau khi sinh để đo lường thời gian nuôi con bằng sữa mẹ
Aquilina (2011) đề xuất, thời gian nuôi con bằng sữa mẹ bị tác động bởi các yếu tố: cho con bú tự hiệu quả, ý định nuôi con bằng sữa mẹ và các yếu tố nhân khẩu học; bên cạnh đó, yếu tố cho con bú tự hiệu quả tác động đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ
Trong đó:
- Cho con bú tự hiệu quả: một bà mẹ cảm thấy có khả năng và đủ tự tin vào
năng lực của mình để nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện không thuận lợi
Trang 34- Thời gian nuôi con bằng sữa mẹ đo lường và ghi nhận lại một bà mẹ nuôi
con bằng sữa mẹ trong bao lâu
Hình 2.7: Mô hình mối quan hệ giữa tự hiệu quả và thời gian nuôi con bằng
sữa mẹ tại New York, Hoa Kỳ
Nguồn: Aquilina (2011)
Kết quả nghiên cứu của Aquilina (2011) cho thấy rằng:
- Cho con bú tự hiệu quả và ý định nuôi con bằng sữa mẹ tác động không có
ý nghĩa đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ Ngược lại, cho con bú tự hiệu quả lại
có tác động tích cực đến ý định nuôi con bằng sữa mẹ
- Các yếu tố nhân khẩu học (tuổi của người mẹ, tình trạng hôn nhân, dân tộc, trình độ học vấn và thu nhập hộ gia đình) tác động không có ý nghĩa đến cho con bú
tự hiệu quả, chỉ có yếu tố nghề nghiệp của bà mẹ có ảnh hưởng đến khả năng cho con bú tự hiệu quả; các bà mẹ ở nhà làm công việc nội trợ hay chỉ làm công việc
chăm sóc con, thường có khả năng cho con bú tự hiệu quả cao hơn
- Các yếu tố nhân khẩu học bao gồm cả yếu tố nghề nghiệp tác động không
có ý nghĩa đến thời gian nuôi con bằng sữa mẹ
con bằng sữa mẹ
Ý định nuôi con bằng sữa mẹ Các yếu tố nhân khẩu học
Trang 35Bảng 2.1: Bảng tổng kết các điểm chính của các nghiên cứu trước đây
Tên nghiên cứu Mô hình Các yếu tố tác động
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý
định nuôi con bằng sữa mẹ của bà mẹ sau
khi sinh con tại Kenya của Mutuli và
định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai
tại TP HCM của Nguyen, Q.T và cộng
định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong sáu tháng đầu tại Indonesia của
Nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý
định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ
trong sáu tháng đầu tại New York, Hoa
Kỳ của Stuebe và Bonuck (2011)
E-TPB
- Thái độ
- Kiến thức nuôi con bằng sữa
mẹ Nghiên cứu mối quan hệ giữa cho con bú
tự hiệu quả và thời gian nuôi con bằng
sữa mẹ tại New York, Hoa Kỳ của
Aquilina (2011)
BSET - Cho con bú tự hiệu quả
Nghiên cứu cho con bú tự hiệu ở phụ nữ
gốc Phi tại Massachusetts của
McCarter-Spaulding và Gore (2009)
BSET - Cho con bú tự hiệu quả
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả)
Nhận xét: Các nghiên cứu trên về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu thường sử dụng mô hình lý thuyết TPB và BSET Các yếu tố thường được quan tâm và tác động có ý nghĩa trong mô hình của các nghiên cứu trước là thái độ, chuẩn chủ quan (hay ảnh hưởng của xã hội), nhận thức kiểm soát hành vi, giá trị cảm nhận, cho con bú tự hiệu quả và kiến thức nuôi con bằng sữa
mẹ
Trang 362.4 Mô hình nghiên cứu các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu của bà mẹ mang thai tại TP HCM
2.4.1 Khái niệm sữa mẹ
Sữa mẹ là thức ăn tốt nhất cho sức khỏe và sự phát triển toàn diện của trẻ
nhỏ Các yếu tố chống nhiễm khuẩn, đặc biệt là kháng thể chỉ có trong sữa mẹ có tác dụng giúp trẻ phòng, chống bệnh tiêu chảy, nhiễm khuẩn đường hô hấp và một
số bệnh nhiễm khuẩn khác (WHO, 1991) Sữa mẹ được tạo thành từ vú của người phụ nữ sau khi có thai, bắt đầu có nhiều từ khoảng 24 đến 48 tiếng sau khi sinh
Nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ là trẻ sơ sinh chỉ nhận được sữa từ mẹ mà
không cần bất kỳ thực phẩm bổ sung hoặc thức uống, thậm chí không uống nước Trong quá trình nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, trẻ sơ sinh có thể nhận được vitamin, khoáng chất và thuốc (WHO, 1991)
2.4.2 Lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ
Nuôi con bằng sữa mẹ đã được chứng minh là rất có lợi cho sức khỏe trẻ sơ sinh, đồng thời mang lại lợi ích cho các bà mẹ, gia đình và xã hội nói chung Nuôi con bằng sữa mẹ được chứng minh là một biện pháp quan trọng giúp cải thiện sức khỏe của bà mẹ và trẻ em trong suốt cuộc đời (Wolf, 2003)
- Những lợi ích của sữa mẹ đối với trẻ Nuôi con bằng sữa mẹ giúp trẻ giảm
nguy cơ nhiễm trùng ở đường hô hấp và đường tiêu hóa, viêm tai giữa, tiêu chảy, hoặc béo phì ở trẻ nhỏ (Oddy, 2001; Kramer và Kakuma, 2002; Ip và cộng sự, 2007; Duijts và cộng sự, 2010); Sự phát triển về thể chất của trẻ được cải thiện, giảm nguy cơ trẻ bị béo phì trong tương lai (AAP, 2010; Hediger và cộng sự, 2001); Trẻ được tăng cường phát triển nhận thức (Lucas và cộng sự, 1992); Trẻ được tăng cường khả năng miễn dịch và gắn bó với mẹ hơn (Simopoulos, 1984) Đặc biệt, nhiều nghiên cứu đã chứng minh rằng việc nuôi con bằng sữa mẹ góp phần làm giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ (WHO, 2000; Jones và cộng sự, 2003)
- Những lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với các bà mẹ Về ngắn
hạn, việc nuôi con bằng sữa mẹ giúp cho các bà mẹ khả năng phục hồi sau sinh nhanh chóng hơn (Labbok, 2001); chu kỳ kinh nguyệt của bà mẹ trở lại chậm hơn
Trang 37và giảm nguy cơ bệnh tật của bà mẹ sau khi sinh (Langer- Gould và cộng sự, 2009)
Về lâu dài, kết hợp với việc tăng thời gian nuôi con bằng sữa mẹ, bà mẹ cũng giảm
đi một số nguy cơ phát triển bệnh ung thư vú hoặc ung thư buồng trứng (Galson, 2008)
- Những lợi ích của việc nuôi con bằng sữa mẹ đối với gia đình và xã hội
Nuôi con bằng sữa mẹ giúp tiết kiệm kinh phí cho gia đình vì nó giúp loại bỏ sự phụ thuộc vào các sản phẩm và thiết bị thay thế sữa mẹ gây tốn kém, qua đó mang lại lợi ích sâu rộng trong giới hạn của môi trường, kinh tế và xã hội Với những lợi ích nuôi con bằng sữa mẹ giúp giảm các nguy cơ bệnh tật cho cả bà mẹ và trẻ em, qua
đó nó giúp giảm chi phí chăm sóc sức khỏe cho nền kinh tế - xã hội của một quốc gia Ví dụ, theo nghiên cứu của Gartner và cộng sự (2005) đã chỉ ra rằng, chi phí tiết kiệm được cho chăm sóc sức khỏe nhờ việc nuôi con bằng sữa mẹ ở Hoa Kỳ là 3,6 tỷ USD mỗi năm
Do đó, các khuyến cáo của nhiều tổ chức cho rằng tất cả các trẻ sơ sinh nên được nuôi hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu, với việc dần dần bổ sung thực phẩm và tiếp tục nuôi con bằng sữa mẹ sau đó cho ít nhất một năm hoặc lâu hơn, miễn là cả mẹ và con mong muốn (AAP, 2005; ABM, 2008; WHO, 2011)
2.4.3 Mô hình nghiên cứu đề xuất
Trên cơ sở các lý thuyết TPB và BSET, các nghiên cứu trước về việc nuôi con bằng sữa mẹ đã được phân tích ở trên, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu trên
cơ sở kế thừa nghiên cứu của Nguyen, Q.T và cộng sự (2013); đồng thời, bổ sung thêm hai yếu tố: giá trị cảm nhận (theo Hussein, 2012) và tự hiệu quả cho con bú (theo Aquilina, 2011), vì một số lý do như sau:
Giá trị cảm nhận là một khái niệm trong tiếp thị xã hội, nó là bước đầu tiên
và là một yếu tố quan trọng trong việc tạo ra các can thiệp tiếp thị xã hội mà hiệu quả có thể được sử dụng để thay đổi hành vi cá nhân (Zainuddin và cộng sự, 2011)
TP HCM là một thành phố có dân số đông, cộng đồng dân cư đa số là dân nhập cư từ nhiều địa phương khác nhau nên đa dạng về trình độ văn hóa, thu nhập, tuổi tác, ngành nghề Nhận thức của bà mẹ vẫn còn những thiếu hụt về kiến thức
Trang 38nuôi con bằng sữa mẹ, có những nhầm lẫn về niềm tin nuôi con bằng sữa mẹ và việc nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu dường như không phải là một chuẩn mực xã hội Trước đây, bà mẹ có những kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
từ những thông tin truyền thông một cách giáo điều, tức là chỉ tập trung vào việc cung cấp kiến thức cho các bà mẹ hơn là so với việc định hình hành vi Parkinson
và cộng sự (2012) cho rằng, với chương trình truyền thông như vậy thì chưa có tác dụng thúc đẩy bà mẹ có ý định và thực hiện hành vi nuôi con bằng sữa mẹ Còn hiện nay, các tổ chức chăm sóc sức khỏe cộng đồng đã thực hiện theo cách thức của tiếp thị xã hội là lắng nghe những mong muốn và nhu cầu của bà mẹ sau đó hoạch định các chương trình can thiệp có liên quan Do đó, trong số các biến nghiên cứu
về lĩnh vực hành vi sức khỏe (giá trị cảm nhận, ý thức về sức khỏe, vấn đề tôn giáo
và mối quan tâm về an toàn thực phẩm) thì giá trị cảm nhận được xem là một trong những yếu tố có tác động đáng kể đến ý định
Do đó, ngoài yếu tố kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ, việc bổ sung yếu tố giá trị cảm nhận cùng với các thành phần của TPB như thái độ, chuẩn chủ quan, nhận thức kiểm soát hành vi tạo nên một lý thuyết TPB mở rộng trong việc nghiên cứu về
ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Một số nghiên cứu thực nghiệm đã phân biệt sự khác nhau giữa cho con bú
tự hiệu quả và nhận thức kiểm soát hành vi (Povey và cộng sự, 2000; Hussein, 2012) Trong trường hợp nghiên cứu về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ với điều kiện là duy trì ít nhất trong sáu tháng đầu, thì yếu tố cho con bú tự hiệu quả cho
dự đoán tốt nhất về thời gian nuôi con bằng sữa mẹ để đảm bảo bà mẹ có thể duy trì hành vi này trong sáu tháng đầu (McCarter-Spaulding và Gore, 2009), nên yếu tố cho con bú tự hiệu quả cũng cần được đưa vào mô hình để nghiên cứu
Do vậy, tác giả đề xuất mô hình các yếu tố tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu gồm 06 biến độc lập, bao gồm: (1) thái
độ, (2) chuẩn chủ quan (hay ảnh hưởng của xã hội), (3) nhận thức kiểm soát hành
vi, (4) cho con bú tự hiệu quả, (5) kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ, (6) giá trị cảm
Trang 39nhận; và biến phụ thuộc là ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
Các thành phần trong mô hình nghiên cứu đề xuất được trình bày dưới đây:
2.4.3.1 Thái độ
Thái độ là một yếu tố quyết định của ý định hành vi Nó được định nghĩa bởi
“cá nhân đánh giá tích cực hay tiêu cực về hành vi thực hiện mục tiêu” (Fishbein và
Ajzen, 1975, trang 216) Trong nghiên cứu về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa
mẹ, thái độ là xu hướng tâm lý của bà mẹ phản ánh những cảm xúc tích cực hay tiêu cực đối với việc phát triển một ý định, thái độ tích cực hơn có giá trị hướng đến việc tăng cường ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ (Mutuli và Walingo, 2014)
Hầu hết ở các nghiên cứu trước cho thấy yếu tố thái độ tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ (Stuebe và Bonuck, 2011; Hussein, 2012; Nguyen, Q.T và cộng sự, 2013; Mutuli và Walingo, 2014) Do đó, giả thuyết được đề xuất là:
Giả thuyết H1: Thái độ có tác động tích cực (+) đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.4.3.2 Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội)
Chuẩn chủ quan (hay Ảnh hưởng của xã hội) là “nhận thức của cá nhân về
những ảnh hưởng xã hội để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi” (Ajzen, 1991,
trang 188) Về ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, chuẩn chủ quan là nhận thức của bà mẹ về khả năng tiềm năng họ sẽ chấp thuận hay không chấp thuận ý định nuôi con bằng sữa mẹ của mình khi nhận được những lời khuyên nuôi con bằng sữa
mẹ từ những người có ảnh hưởng đến họ Những người có thể ảnh hưởng và đưa ra lời khuyên cho bà mẹ về việc nuôi con bằng sữa mẹ là chồng, mẹ ruột, mẹ chồng, bạn bè, nhân viên y tế (bác sỹ, nữ hộ sinh, y tá…) Mức độ ảnh hưởng từ gia đình
và xã hội sẽ tác động đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ Dưới sự ảnh hưởng và áp lực của gia đình và xã hội, bà mẹ sẽ hình thành ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ ngay cả khi họ không ủng hộ cho việc thực hiện các ý định này
Trang 40(Nguyen, Q.T và cộng sự, 2013; Mutuli và Walingo, 2014) Vì vậy, giả thuyết được đề xuất là:
Giả thuyết H2: Chuẩn chủ quan có tác động tích cực (+) đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.4.3.3 Nhận thức kiểm soát hành vi
Nhận thức kiểm soát hành vi là “với sự hiện diện hay vắng mặt của các
nguồn lực và cơ hội cần thiết, nhận thức của một cá nhân là thuận lợi hoặc khó khăn trong việc thực hiện các hành vi cụ thể” (Ajzen, 1991, trang 188) Về ý định
nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ, nhận thức kiểm soát hành vi là dự đoán mức độ dễ hay khó để phát triển một ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ và sự tự tin trong khả năng để thực hiện hành vi này (Nguyen, Q.T và cộng sự, 2013; Mutuli và Walingo, 2014) Như vậy, nhận thức kiểm soát hành vi phản ánh mức độ mà bà mẹ
nhận thức được hành vi trong vòng kiểm soát của họ Do đó, giả thuyết được đề xuất là:
Giả thuyết H3: Nhận thức kiểm soát hành vi có tác động tích cực (+) đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.4.3.4 Cho con bú tự hiệu quả
Cho con bú tự hiệu quả là “niềm tin của một bà mẹ rằng họ có thể tổ chức và
thực hiện các hành động cần thiết trong khả năng của mình để nuôi con bằng sữa mẹ” (Dennis, 1999, trang 197) Theo Aquilina (2011), cho con bú tự hiệu quả là một
bà mẹ cảm thấy có khả năng và đủ tự tin vào năng lực của mình để nuôi con bằng sữa mẹ trong điều kiện không thuận lợi Như vậy, cho con bú tự hiệu quả được mô
tả như là mức độ mà một cá nhân nhận thức được rằng hành vi mong muốn là dễ dàng hay khó khăn để thực hiện Trên cơ sở đó, giả thuyết sau đây được xây dựng:
Giả thuyết H4: Cho con bú tự hiệu quả có tác động tích cực (+) đến ý định nuôi con hoàn toàn bằng sữa mẹ trong sáu tháng đầu
2.4.3.5 Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ
Kiến thức nuôi con bằng sữa mẹ là sự hiểu biết của bà mẹ về những lợi ích
của việc nuôi con bằng sữa mẹ và cách thức thích hợp để thực hiện việc nuôi con