Hình 1.4 Cơ cấu – Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ Hình 1.5 Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ Hình 1.6 Mô hình viên kim cương của Porter về lợi thế cạnh tranh của các qu
Trang 1LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN VĂN SÁNG
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH, 2015
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích luận văn
có nguồn gốc rõ ràng, đã được công bố theo quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận văn do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất cứ nghiên cứu nào khác Tác giả
Phạm Văn Dũng
Trang 3MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
6 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH
CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ
1.1.1 Khái niệm công nghiệp hỗ trợ……… ………… …1
1.1.1.1 Khái niệm “Công nghiệp hỗ trợ” ……… 1
1.1.1.2 Các khái niệm liên quan……….6
1.1.2 Phân loại công nghiệp hỗ trợ……… ……… 7
1.1.2.1 Phân loại theo ngành nghề sản xuất ra sản phẩm cuối cùng………8
1.1.2.2 Phân loại theo ngành/công nghệ sản xuất linh kiện……….8
1.1.3 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ……….……….9
1.1.4 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ……….………….10
1.2 Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo……… 14
1.2.1 Nội dung ngành công nghiệp cơ khí……….………14
1.2.2 Nội dung Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo……… … 16
1.2.3 Mối quan hệ giữa ngành CKCT và CNHT ngành CKCT ……….…… 16
1.2.4 Một số đặc điểm của ngành CNHT ngành CKCT………18
1.2.5 Vai trò của CNHT ngành CKCT đến sự phát triển của ngành CKCT…….… ….21
Trang 41.3 Phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo……… .24
1.3.1 Yêu cầu của hội nhập kinh tế quốc tế đối với phát triển CNHT ngành CKCT… 24 1.3.2 Khái niệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo………… 29
1.3.3 Các tiêu chí phát triển công nhiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo ………… … 30
1.3.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của CNHT ngành CKCT……….……33
1.4 Bài học kinh nghiệm về phát triển công nghiệp hỗ trợ……… ……34
1.4.1 Kinh nghiệm Malaysia……….…… 34
1.4.2 Kinh nghiệm Trung Quốc……… … 35
1.4.3 Bài học cho công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo tại Bình Dương………….37
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020 TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 2.1 Khái quát về công nghiệp cơ khí tỉnh Bình Dương……….……….…… ….40
2.1.1 Vai trò của ngành CKCT tỉnh Bình Dương trong phát triển kinh tế xã hội… ….40 2.1.2 Hiện trạng ngành cơ khí chế tạo của tỉnh Bình Dương……… … … 41
2.2 Thực trạng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo Bình Dương 2.2.1 Các nhân tố ảnh hưởng đến CNHT ngành CKCT của tỉnh Bình Dương….….….45 2.2.2 Thực trạng phát triển CNHT ngành CKCT tại tỉnh Bình Dương ……… 47
2.3 Đánh giá chung về công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo của Bình Dương 2.3.1 Những điều kiện cần thiết để phát triển CNHT ngành CKCT tại Bình Dương…56 2.3.2 Thành tựu đạt được trong quá trình phát triển……… … 57
2.3.2.1 Kết quả đạt được ……… 57
2.3.2.2 Nguyên nhân của những kết quả đã đạt được ……….…….… ….58
2.3.3 Những hạn chế trong quá trình phát triển ……… ….… …59
2.3.3.1 Những yếu kém, tồn tại ……… …… ….59
2.3.3.2 Nguyên nhân của những yếu kém tồn tại ……… ……….60
2.3.4 Những vấn đề đặt ra trong phát triển CNHT ngành CKCT tại Bình Dương ……62
Trang 5CHƯƠNG 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH
CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BÌNH DƯƠNG ĐẾN NĂM 2020 TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP KINH TẾ QUỐC TẾ 3.1 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đến CNHT ngành cơ khí chế tạo của Bình Dương
3.1.1 Xu thế phát triển CNHT ngành CKCT thế giới trong quá trình hội nhập KT quốc tế…65 3.1.2 Tác động của hội nhập kinh tế quốc tế đối với CNHT ngành CKCT trên địa bàn tỉnh
Bình Dương………… … ……….….….… 66
3.2 Định hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo của tỉnh Bình Dương đến năm 2020 3.2.1 Quan điểm phát triển……….……….…………70
3.2.2 Định hướng phát triển……….…….… 70
3.2.3 Mục tiêu……….……….…… 72
3.3 Các giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020……… …… ……….…… 72
3.3.1 Nhóm giải pháp chính sách ……… ….…… 72
3.3.2 Nhóm giải pháp có tính tương hợp với thị trường……….……… .83
3.3.3 Các điều kiện và yêu cầu hỗ trợ nhằm thực thi giải pháp……… .88
3.3.3.1 Đánh giá điều kiện thực thi các giải pháp……… ……… … 88
3.3.3.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao khả năng thực thi các nhóm giải pháp……… 89
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 6FDI Foreign Direct Investment
GDP Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm quốc nội
HĐH Hiện đại hóa
JETRO Japan External Trade Organization
Cơ quan Hợp tác thương mại hải ngoại Nhật Bản JICA Japan International Coorporation Agency
Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản
MNC Multinational Company
Công ty Đa quốc gia
ODA Official Development Assistance
Hỗ trợ phát triển chính thức
SME Small and Medium Enterprices
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
VDF Vietnam Development Forum
Diễn đàn phát triển Việt Nam
WTO World Trade Organization
Tổ chức thương mại thế giới
Trang 7DANH MỤC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1 Khái niệm chung ngành công nghiệp hỗ trợ
Hình 1.2 Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ theo MITI
Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản
Hình 1.4 Cơ cấu – Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ
Hình 1.5 Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ
Hình 1.6 Mô hình viên kim cương của Porter về lợi thế cạnh tranh của các quốc gia Hình 1.7 Quá trình sản xuất cơ khí
Hình 1.8 Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
Hình 1.9 Mối quan hệ giữa ngành cơ khí và công ngiệp hỗ trợ ngành cơ khí
Hình 1.10 Chuỗi giá trị trong một ngành công nghiệp
Hình 2.1 Trình độ công nghệ ngành cơ khí chế tạo
Hình 2.2 Trình độ công nghệ của ngành công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí (%)
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành cơ khí giai đoạn 2001 – 2010
Bảng 2.2 Đóng góp của ngành công nghiệp CKCTvào tốc độ tăng trưởng GTSX công nghiệp
Bảng 2.3 Số lượng cơ sở sản xuất ngành công nghiệp cơ khí chế tạo tỉnh Bình Dương Bảng 2.4 Lao động ngành công nghiệp cơ khí chế tạo
Bảng 2.5 Cơ cấu lao động các ngành công nghiệp (%)
Bảng 2.6 Vốn sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cơ khí tỉnh Bình Dương
Bảng 2.7 Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ngành cơ khí giai đoạn 2001 – 2010
Bảng 2.8 Năng suất lao động tính theo chỉ tiêu giá trị sản xuất giá thực tế
Bảng 2.9 Thị trường tiêu thụ sản phẩm ngành cơ khí chế tạo 2010
Bảng 2.10 Hình thức sản xuất và cung cấp nguyên liệu cho các ngành cơ khí chế tạo Bảng 2.11 Nguồn cung cấp nguyên liệu cho ngành công nghiệp cơ khí (%)
Bảng 2.12 Số lượng doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ cho ngành cơ khí
Bảng 2.13 Số doanh nghiệp chia theo quy mô nguồn vốn năm 2013
Bảng 2.14 Doanh nghiệp chia theo thành phần kinh tế (Năm 2013)
Bảng 2.15 Một số chỉ tiêu bình quân cho một doanh nghiệp và một lao động trong công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí (2013)
Bảng 2.16 Số lượng lao động công nghiệp hỗ trợ cho ngành cơ khí
Bảng 2.17 Cơ cấu lao động trong ngành cơ khí của tỉnh Bình Dương
Bảng 2.18 Giá trị sản xuất công nghiệp hỗ trợ cho ngành cơ khí (Theo giá thực tế) Bảng 2.19 Công tác x c tiến thương mại công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí (%)
Bảng 2.20 Đối tượng tiêu thụ trong nước sản phẩm CNHT ngành cơ khí (%)
Bảng 2.21 Đối tượng tiêu thụ ngoài nước sản phẩm CNHT ngành cơ khí (%)
Bảng 3.1 Tiêu chí điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực cần đánh giá
Bảng 3.2 Tiêu chí về năng lực hoạch định và thực thi chính sách công nghiệp cần đánh giá
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Bình Dương thuộc miền Đông Nam Bộ, nằm trong vùng tứ giác kinh tế trọng điểm phía Nam, là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, phát triển công nghiệp năng động của cả nước Trong những năm gần đây, tốc độ tăng trưởng kinh tế luôn ở mức cao, GDP tăng bình quân khoảng 14%/năm Cơ cấu công nghiệp chiếm tỷ trọng cao, đến cuối năm 2013, tỷ lệ công nghiệp chiếm 61,5% trong cơ cấu GDP của tỉnh Tuy nhiên, để phát triển bền vững cần xây dựng một nền công nghiệp dựa trên nền tảng là các ngành CNHT hiện đại về công nghệ và phải tham gia vào chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, nhất là trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và sự cạnh tranh trong khu vực ngày càng gay gắt Đứng trước những thách thức đó, phát triển CNHT được coi
là một giải pháp chiến lược ưu tiên hàng đầu Phát triển CNHT cũng gi p doanh nghiệp không nhất thiết phải đầu tư vào sản xuất từ A đến Z mà vẫn có thể tổ chức sản xuất các sản phẩm công nghiệp có chất lượng cao cũng như tạo điều kiện thuận lợi để thu h t đầu
tư nước ngoài
Cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện
sự nghiệp CNH, HĐH của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang trong giai đoạn đầu quá trình công nghiệp hóa Bản chất kỹ thuật của quá trình CNH là xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế mà trong đó các sản phẩm được sản xuất ra bằng máy móc Chức năng chủ yếu của công nghiệp cơ khí là chế tạo ra máy móc, thiết bị Chính vì vậy, sẽ không thể hoàn thành công nghiệp hóa một cách vững chắc hoặc xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững nếu ngành công nghiệp cơ khí không đủ mạnh Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, tùy theo lợi thế của từng nước mà có thể thực hiện quá trình công nghiệp hóa theo các cách khác nhau nhưng đều ch trọng phát triển mạnh các chuyên ngành
cơ khí Đến nay, chưa có một nước nào đã hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa mà
công nghiệp cơ khí vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu trong nền kinh tế. Với vai trò quan trọng
như vậy, CNHT ngành cơ khí chế tạo có một ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ ngành cơ
Trang 10khí vì là ngành cung cấp đầu vào, linh kiện, phụ kiện cho ngành cơ khí chế tạo Nếu một quốc gia có một nền công nghiệp cơ khí vững mạnh, hoàn chỉnh và phát triển bền vững thì phải có CNHT ngành cơ khí tương ứng nhằm đáp ứng được cả về số lượng cũng như chất lượng của các linh kiện, chi tiết máy, có như vậy mới tạo ra được các sản phẩm có chất lượng đảm bảo khả năng cạnh tranh khi các sản phẩm cơ khí của quốc gia đó tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Đặc biệt trong một thế giới mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, áp lực cạnh tranh từ bên ngoài ngày càng trở nên lớn hơn, nếu không tự xây dựng cho mình một nền công nghiệp cơ khí dựa trên nàng tảng của CNHT vững mạnh mà phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung từ bên ngoài sẽ biến quốc gia này trở thành một công trường làm thuê cho thị trường cơ khí thế giới, khi đó giá trị gia tăng
có được chỉ dựa vào một nền cơ khí lắp ráp sẽ là vô cùng thấp, chi phí cấu thành sản phẩm lại tăng cao do phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung cấp các linh kiện, chi tiết máy nhập từ bên ngoài, chi phí cao sẽ làm giảm khả năng cạnh tranh của sản phẩm không những ở thị trường nước ngoài mà ngay trong lãnh thổ quốc gia, vì không chỉ là người tiêu dùng sản phẩm cuối cùng mà các nhà sản xuất lấy sản phẩm của ngành cơ khí làm đầu vào sẽ dễ dàng nhập khẩu sản phẩm tương ứng ở thị trường bên ngoài
Trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương hầu hết s dụng nguyên liệu nhập khẩu để sản xuất thành phẩm, đặc biệt là cơ khí chính xác đòi hỏi trình độ công nghệ tiên tiến Tuy nhiên CNHT ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương nói riêng và cả nước nói chung chưa đáp ứng nhu cầu linh phụ kiện cho sản xuất trong nước cả về số lượng lẫn chất lượng Việc thiếu quy hoạch đầu tư phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ nói chung, CNHT ngành cơ khí nói riêng cộng thêm thiếu các chính sách khuyến khích phát triển CNHT của Trung ương trong một thời gian dài là nguyên nhân chủ yếu khiến công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí trên địa bàn tỉnh Bình Dương cũng như cả nước nói chung kém phát triển
Tình hình trên đòi hỏi phải phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí như là một nền tảng cần thiết cho công nghiệp cơ khí phát triển, góp phần th c đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa đất nước Chính vì vậy, vấn đề nghiên cứu, xây dựng các giải pháp nhằm ”phát triển CNHT ngành CKCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế” là một yêu cầu cấp thiết
Trang 112 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Mục tiêu của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ, đề xuất các giải pháp phát triển CNHT ngành cơ khí chế tạo, xét cả trên phương diện lý luận và thực tiễn
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng của luận văn là nghiên cứu sự phát triển ngành CNHT và lấy CNHT ngành cơ khí chế tạo để cụ thể hóa nội dung nghiên cứu
- Phạm vi sẽ được giới hạn trong địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2000 đến năm
2013 có xét đến năm 2020
- Đối tượng nghiên cứu của luận văn được đặt trong không gian của Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế
4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp luận nghiên cứu mang tính chất nền tảng là phương pháp Biện chứng duy vật và biện chứng lịch s , phương pháp tiếp cận logic - hệ thống, trong đó đặt CNHT ngành CKCT trong mối quan hệ hữu cơ với tổng thể ngành công nghiệp của tỉnh Bình Dương và cả nước, cũng như CNHT ngành CKCT là một bộ phận hữu cơ của tổng thể ngành CNHT
- Phương pháp kế thừa: Luận văn s dụng kết quả nghiên cứu và số liệu thứ cấp từ các công trình khoa học có liên quan đến CNHT và ngành Cơ khí chế tạo Đặc biệt
là số liệu thứ cấp được cung cấp bởi Cục thống kê Bình Dương, niên giám thống kê Bình Dương và Sở công thương tỉnh Bình Dương Để phạm vi nghiên cứu được thống nhất, thuận tiện cho việc nghiên cứu, tác giả giới hạn số liệu về Công nghiệp
hỗ trợ ngành cơ khí trong các mã ngành 25, mã ngành 27, mã ngành 28 Theo hệ
Trang 12thống phân ngành kinh tế quốc dân Việt Nam được ban hành theo Quyết định 10/2007/QĐ-TTg ngày 23 tháng 1 năm 2007
- Phương pháp thống kê so sánh và phân tích đánh giá tổng hợp: Luận văn phân tích
hệ thống số liệu theo chuỗi thời gian về CNTH của tỉnh Bình Dương và so sánh trong các giai đoạn khác nhau trong phạm vi nghiên cứu Hàm thống kê được s dụng chủ yếu trong luận văn là hàm về Tốc độ tăng trưởng
5 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
- Khái niệm về “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được M.Porter nhắc đến lần trong tác phẩm “Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia” (The competitive advantage of nations, Harvard business review, 1990), trong đó khái niệm về CNHT không được định nghĩa rõ ràng nhưng nội dung có thể hiểu CNHT như là một trong năm yếu tố tạo nên sức mạnh cạnh tranh của một quốc gia
- Kyoshiro Ichikawa, Tư vấn đầu tư cao cấp, Cục X c tiến Ngoại thương Nhật Bản tại Hà Nội (JETRO), (2004), “ Xây dựng và tăng cường ngành công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam” Báo cáo này được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá về thực trạng ngành CNHT ở Việt Nam Tác giả đã khẳng định CNHT ở Việt Nam đã bắt đầu hình thành Mặc dù CNHT có vai trò rất quan trọng nhưng nhận
thức của các cơ quan Chính phủ và doanh nghiệp về CNPT còn rất thấp và chưa đầy đủ, các doanh nghiệp tư nhân và khối doanh nghiệp FDI đang vươn lên và khá chủ động trong việc nắm bắt các cơ hội để th c đẩy CNPT phát triển đóng góp vào thu h t đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI và đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng ổn định, bền vững
- Diễn đàn phát triển Việt Nam - VDF, (2007), “Xây dựng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam”, GS Kenichi Ohno chủ biên, Nhà xuất bản Lao động Xã hội Cuốn sách đã đưa ra kết quả khảo sát về thực trạng các ngành CNHT; trong Chương 1 “Công nghiệp
hỗ trợ Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”, với 11 nội dung đánh giá tổng quan về thực trạng và vấn đề phát triển CNHT hiện nay ở Việt Nam; Chương 2
“Công nghiệp hỗ trợ: Tổng quan về khái niệm và sự phát triển”, đã tổng kết lịch s ra đời và năm khái niệm liên quan đến CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam
Trang 13- Trần Đình Thiên (chủ biên), 2007 Phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ -
đánh giá thực trạng và hệ quả, đề tài khoa học cấp Bộ Đề tài đã tập trung phân tích và làm rõ khái niệm CNHT, xác định vai trò, chức năng và yêu cầu phát triển CNHT trong việc thực hiện chiến lược CNH, HĐH của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế Đồng thời, đề tài còn phân tích và đánh giá thực trạng ngành CNHT ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển các ngành CNHT trong tổng thể chiến lược CNH, HĐH của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế
- Lê Thế Giới, 2010 Phát triển công nghiệp hỗ trợ ở Việt Nam Lý thuyết, thực tiễn và chính sách Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Trong nghiên cứu này, tác giả có xu hướng đi sâu vào việc vận dụng lý thuyết, kinh nghiệm nước ngoài cho vùng kinh tế trọng điểm miền Trung trong đó tập trung vào phân tích đặc điểm, lợi thế của một vùng kinh tế và mối quan hệ liên kết kinh tế để phát triển CNHT với các vùng kinh
tế khác mang tính chất liên kết vùng và liên kết với phần còn lại của nền kinh tế
- Hoàng Văn Châu (chủ biên), 2010 Chính sách phát triển công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản thông tin và truyển thông Cuốn sách được kết cấu thành năm chương: Trong Chương I, các tác giả nêu những vấn đề khái quát chung về CNHT và các mô hình phát triển CNHT; Chương II, tác giả đã đi sâu phân tích chính sách phát triển CNHT của một số nước như Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc,
Malaysia từ đó r t ra những bài học kinh nghiệm cho quá trình phát triển CNHT tại Việt Nam Chương III, trên cơ sở đánh giá thực trạng năm ngành công nghiệp chủ đạo, thông qua đó các tác giả đã đánh giá khái quát thực trạng CNHT Việt Nam Trong
chương IV, tác giả đi vào phân tích chính sách phát triển CNHT đối với một số ngành
Từ đó đánh giá việc thực hiện và hiệu quả của những chính sách theo nhóm doanh
nghiệp và nhóm tác giả Đặc biệt, ở chương V, trên cơ sở dự báo những yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT của Việt Nam đến năm 2020, nhóm tác giả đã nêu ra quan điểm phát triển CNHT Việt Nam đến năm 2020 Từ đó, đề xuất thể chế và chính sách phát triển CNHT cho từng ngành công nghiệp nói chung và cả ngành CNHT nói riêng
Trang 14- Trương Thị Chí Bình, (2010), “Phát triển công nghiệp hỗ trợ trong ngành điện
t gia dụng ở Việt Nam”; Luận án tiến sĩ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân Tác giả đã phân tích các luận cứ lý thuyết và thực tiễn về cách thức phát triển CNHT ngành điện t gia dụng Làm rõ bản chất, các yếu tổ ảnh hưởng đến phát triển CNHT, từ đó khẳng định quan điểm “hợp lý” về phát triển CNHT cho Việt Nam Với vai trò tích cực của các MNCs và các nhà cung ứng quốc tế Tác giả còn phân tích quy trình sản xuất các sản phẩm điện t gia dụng, xác định phạm vi của CNHT ngành điện t gia dụng bao gồm quá trình sản xuất 3 nhóm sản phẩm chính: linh kiện điện và điện t , linh kiện kim loại, linh kiện nhựa và cao su Nghiên cứu lý do CNHT ngành điện t gia dụng ở Việt Nam chưa phát triển và khẳng định, CNHT ngành điện t gia dụng có thể phát triển, khi Việt Nam tham gia được vào các lớp cung ứng trong mạng lưới sản xuất của các MNCs
- Goodwill Consultant JSC và diễn đàn phát triển Việt Nam (VDF), 2011,
“Survey on comparision of backgrounds, polycy measuares and outcomes for
development of supporting industries in ASEAN (Malaysia and Thailand in comparion with VietNam)” (Điều tra so sánh bối cảnh, biện pháp, chính sách và kết quả phát triển CNHT ở ASEAN), Publishing House of Communication and Transport, Nhà xuất bản Giao thông Vận tải Trong trong tài liệu này các tác giả đi sâu vào phân tích Malaysia và Thái Lan, là hai trong số các nước ở ASEAN đã có rất nhiều chương trình dành cho CNHT từ những năm 1980 Thông qua việc phân tích các vấn đề về: bối cảnh; tổ chức chính sách và các bên liên quan; định nghĩa và phạm vi của CNHT; các biện pháp chính sách; ảnh hưởng chính sách và kết quả đạt được các tác giả đã đưa ra những so sánh với Việt Nam trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng CNHT Việt Nam, những thành tựu và bất cập về khung chính sách
- Trần Hoàng Long, 2012 Chính sách thương mại đối với sự phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Việt Nam Tác phẩm trình bày những vấn đề lý luận về chính sách thương mại đối với sự phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ Phân tích thực trạng, nêu quan điểm và giải pháp hoàn thiện chính sách thương mại nhằm phát triển công nghiệp
hỗ trợ ở Việt Nam đến năm 2020
- Nguyễn Thị Dung Huệ, 2013 Phát triển công nghiệp hỗ trợ dệt may của Việt
Trang 15Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế Hà Nội, Nhà xuất bản chính trị quốc gia – Sự thật Tác giả luận án đã luận giải làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển CNHT ngành dệt may như: khái niệm CNHT ngành dệt may, mối quan hệ giữa ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may, vai trò của ngành CNHT dệt may với sự phát triển của ngành công nghiệp dệt may Từ đó tác giả đưa ra những tiêu chí đánh giá sự phát triển của ngành dệt may, trên cơ sở những tiêu chí đánh giá thực trạng ngành công nghiệp dệt may và CNHT ngành dệt may Tác giả đã đưa ra những giải pháp ở cả tầm vĩ
mô và vi mô để th c đẩy CNHT ngành dệt may Việt Nam phát triển
- Hà Thị Hương Lan, 2014 Công nghiệp hỗ trợ trong một số ngành công nghiệp
ở Việt Nam Luận án tiến sĩ Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Trong Luận án, tác giả đi sâu nghiên cứu vấn đề: CNHT trong một số ngành công nghiệp ở Việt Nam Bằng nghiên cứu về CNHT, tác giả đi sâu làm rõ vai trò của phát triển CNHT đối với nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành công nghiệp ở Việt Nam nói riêng; đặc biệt là nghiên cứu sâu và làm rõ vai trò có tính hai mặt trong điều kiện gia tăng của xu hướng toàn cầu hoá kinh tế, quá trình phân công lao động quốc tế sâu rộng, liên doanh, liên kết ngày càng phát triển, sự gia tăng mối quan hệ trong sản xuất các sản phẩm công nghiệp
Đánh giá chung về kết quả của các công trình khoa học đã nghiên cứu:
Dù tiếp cận dưới góc độ lý luận hay thực tiễn, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập và phản ánh nhiều góc cạnh trên các giác độ khác nhau về CNHT và phát triển CNHT ở Việt Nam Một số vấn đề đã được tập trung phân tích như: lý luận chung về CNHT, chỉ ra những quan niệm khác nhau về CNHT, cấu tr c ngành CNHT, phân tích
cơ sở lý luận chung về CNHT trong một số ngành như điện t gia dụng, dệt may, da giày Làm rõ một số đặc điểm của CNHT trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Phân tích các nhân tố ảnh hưởng, vai trò và sự cần thiết phát triển CNHT trong nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của nền kinh tế Các nghiên cứu cũng trình bày kinh nghiệm của một số nước trong phát triển CNHT trên các khía cạnh chiến lược phát triển CNHT, thu h t đầu tư nước ngoài cho CNHT, từ đó chỉ ra một số kinh nghiệm, gợi ý cho quá trình hoạch định cơ chế, chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam Một số công trình đã bước đầu nghiên cứu tổng quan thực trạng ngành CNHT trong quá trình phát
Trang 16triển của một số ngành công nghiệp điển hình như xe máy, ô tô, điện, điện t gia dụng , chỉ rõ ưu điểm, thành tựu, hạn chế và những nguyên nhân trong phát triển CNHT của các ngành, qua đó đi đến khẳng định sự hạn chế, yếu kém của CNHT làm giảm sức cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp nói riêng, nền kinh tế quốc dân nói chung Ngoài ra, các công trình còn đề cập đến phát triển CNHT ở Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, chỉ rõ những thuận lợi, khó khăn trong phát triển CNHT ở Việt Nam, từ đó đưa ra những gợi ý, giải pháp định hướng phát triển ngành CNHT trong quá trình phát triển kinh tế -
xã hội và chỉ ra những định hướng phát triển CNHT cho một số ngành công nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Những kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học trên là tài liệu có giá trị tham khảo vô cùng quý giá cho tác giả trong quá trình thực hiện đề tài
Một số khía cạnh còn trống để đề tài tiếp tục nghiên cứu, khai thác
Mặc dù có khá nhiều công trình khoa học nghiên cứu, khảo sát về CNHT, song ở tầm
vi mô, các công trình khoa học nghiên cứu vẫn chưa đề cập đến:
- Nội hàm của CNHT dưới góc độ kinh tế chính trị
- Vai trò của CNHT đối với một ngành công nghiệp cụ thể là ngành CKCT trong phạm vi của một địa phương là tỉnh Bình Dương
- Đánh giá thực trạng CNHT ngành CKCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương
- Những thuận lợi, khó khăn và nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngành CKCT hiện nay ở Bình Dương
- Giải pháp nhằm phát triển CNHT ngành CKCT trên địa bàn tỉnh Bình Dương
Trang 176 KẾT CẤU CỦA LUẬN VĂN
Bên cạnh phần mở đầu, kết luận, các hình vẽ và bảng biểu minh họa, nội dung của luận văn gồm 3 chương được trình bày tóm tắt như sau:
Chương I Cơ sở lý luận về phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương II Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Chương III Một số giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo trên địa bàn tỉnh Bình Dương đến năm 2020 trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 18CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ
NGÀNH CƠ KHÍ CHẾ TẠO TRONG QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP
KINH TẾ QUỐC TẾ 1.1 Tổng quan về Công nghiệp hỗ trợ
1.1.1 Khái niệm Công nghiệp hỗ trợ
1.1.1.1 Khái niệm “Công nghiệp hỗ trợ”
Cụm từ tiếng Anh “supporting industry” được bắt gặp khá nhiều trong các tài liệu tiếng Việt viết về CNHT và thường được dịch ra theo hai cách là “công nghiệp hỗ trợ” hoặc là “công nghiệp phụ trợ” Theo (Ohno, Kenichi 2007) thì đây là một cụm từ Anh – Nhật được các DN Nhật Bản sử dụng từ lâu trước khi nó trở thành một thuật ngữ chính thức Thuật ngữ này trở nên thông dụng ở Nhật Bản khoảng vào giữa những năm 1980 khi được chính phủ Nhật Bản sử dụng trong các văn bản và tài liệu của mình và do làm sóng đầu tư sang các quốc gia châu Á khác của Nhật đã biến khái niệm này bắt đầu được sử dụng rộng rãi Mặc dù vậy thuật ngữ này đến nay vẫn rất mơ hồ và không có một định nghĩa thống nhất
Hình 1.1 Khái niệm chung ngành công nghiệp hỗ trợ
Nguồn: Ichikawa, 2004
Xét trên nghĩa tổng quát nhất, CNHT là thuật ngữ chỉ một hệ thống sản xuất, cung cấp những yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất sản phẩm cuối cùng (Hoàng Văn Châu, 2010) Trong sản xuất hiện đại ngày nay trong một thế giới phẳng, quá trình chuyên môn hóa diễn ra sâu sắc, bất kể cộng đồng, nền kinh tế hay biên giới lãnh thổ quốc gia
Trang 19thì các linh kiện, phụ tùng, bán thành phẩm đều được sản xuất ra bên ngoài nhà máy lắp ráp thành sản phẩm cuối cùng Tất cả hệ thống này tạo nên ngành CNHT
Theo nghĩa hẹp, CNHT gắn với chức năng cung cấp linh kiện, phụ tùng và công cụ cho một số ngành công nghiệp nhất định (Ohno, Kenichi 2007) Ví dụ CNHT của công nghiệp xe máy cung cấp các nguyên liệu đầu vào và qui trình sản xuất chúng, và các dịch vụ cho các nhà lắp ráp xe máy Tuy nhiên CNHT cũng được hiểu rộng hơn thế và không có ranh giới cụ thể Một xu hướng dễ nhận thấy là một nhà cung cấp có thể sản xuất và cung ứng linh kiện cho các khách hàng ở nhiều ngành sản xuất khác nhau Ví dụ như một nhà máy sản xuất thép có thể cung ứng sản phẩm của mình cho ngành đóng tàu, ô tô, cơ khí, điện - điện tử Nói cách khác có một sự giao thoa giữa các ngành sản xuất khác nhau trong việc sử dụng hệ thống cung cấp hỗ trợ Điều này có nghĩa là để hoạch định được chính sách phù hợp thì phạm vi của CNHT cần phải được các nhà hoạch định chính sách qui định một cách cụ thể và mang tính chiến lược nhằm đảm bảo
sự tương thích giữa định nghĩa với mục tiêu mà chính sách ấy theo đuổi (Ohno, Kenichi 2007)
Hình 1.2 Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ theo MITI
Nguồn: Hiệp hội DN hải ngoại Nhật Bản, JOEA(1994:19) trích bởi Ohno, Kenichi 2007
Việc sử dụng khái niệm rộng hẹp như thế nào hoàn toàn phụ thuộc vào tính chủ quan
và mục đích của người sử dụng chúng, thông thường ở tầm vĩ mô, nghĩa rộng của khái niệm gắn với chiến lược phát triển công nghiệp quốc gia tổng thể Ở tầm hoạch định ngành hoặc vi mô, nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định nội hàm chuỗi cung ứng
cụ thể, gắn liền với phát triển ngành – sản phẩm để có chiến lược phát triển phù hợp Hai cấp độ khái niệm này hoàn toàn không loại trừ nhau mà giao thoa nội hàm và bổ sung cho nhau (Trần Đình Thiên, 2012)
Trang 20Bộ Kinh tế, thương mại và công nghiệp Nhật Bản (METI) định nghĩa về CNHT trong Chương trình phát triển CNHT châu Á (1993) là “các ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện và vốn,… cho các ngành công nghiệp lắp ráp (bao gồm ô tô, điện và điện tử)” (Lê Thế Giới, 2010, trang 20)
Hình 1.3 Công nghiệp hỗ trợ theo quan điểm của Nhật Bản
Nguồn: J.Mori, 2005 trích bởi Hoàng Văn Châu, 2010
Việt Nam tiếp nhận thuật ngữ “Công nghiệp hỗ trợ” tương đối muộn Thời kỳ tập trung bao cấp và lấy phát triển công nghiệp nặng làm nền tảng công nghiệp, các DN quốc doanh sản xuất xe đạp, xe máy, máy nông nghiệp, ô tô cũng đòi hỏi lượng đầu vào trên qui mô rộng, nhưng Việt Nam thời kỳ đó chưa có một khái niệm nào về CNHT, quy trình sản xuất linh phụ kiện được sản xuất ra trong cùng một DN theo cách thức tổ chức công nghiệp tích hợp theo chiều dọc Sản phẩm được sản xuất ra từ các linh phụ kiện được sản xuất trong cùng một DN từ A tới Z
Sau khi hội nhập lại với nền kinh tế khu vực và thế giới, khi các nhà đầu tư nước ngoài bắt đầu vào Việt Nam từ giữa những năm 1990, họ gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm những nhà cung cấp sản phẩm đầu vào đáp ứng được yêu cầu về chất lượng và dịch vụ Nhằm giúp Việt Nam cải thiện môi trường kinh doanh và đầu tư, Nhật Bản đã
hỗ trợ thông qua dự án Ishikawa (1995) và Sáng kiến chung Việt Nam – Nhật Bản (2003) Sáng kiến này bao gồm việc xây dựng qui hoạch tổng thể phát triển CNHT, lập
cơ sở dữ liệu về CNHT và thành lập khu công nghiệp cho CNHT Những chương trình này mang lại lợi ích cho cả hai bên, trong khi Việt Nam có thể thu hút được nhiều đầu tư nước ngoài nhằm tranh thủ nguồn vốn, công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến từ các
Trang 21công ty FDI, thì các công ty này sẽ được hưởng môi trường đầu tư và kinh doanh tốt hơn (Nguyễn Thị Dung Huệ, 2013)
Tài liệu có tính pháp lý chính thức mới nhất ở Việt Nam về CNHT được đưa ra trong Qui hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020 của bộ công thương Việt Nam được thủ tướng ký ban hành tháng 12 năm 2011 (Thủ tướng Chính phủ, 2011a) trong đó CNHT được định nghĩa như sau:
Hình 1.4 Cơ cấu – Phạm vi của công nghiệp hỗ trợ
Nguồn: Ohno, Kenichi 2007
i) Công nghiệp hỗ trợ: Là các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, linh kiện phụ
tùng, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành công nghiệp sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng
ii) Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ gồm: vật liệu, phụ tùng, linh kiện, phụ kiện, bán
thành phẩm để cung cấp cho khâu lắp ráp, sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh
iii) Dự án sản xuất sản phẩm công nghiệp hỗ trợ là dự án đầu tư tại Việt Nam (kể cả
đầu tư mới và đầu tư bổ sung) để sản xuất sản phẩm CNHT
Công nghiệp hỗ trợ là cần thiết cho cả các ngành công nghiệp chế tạo như sản xuất ô
tô, xe máy, điện tử, cơ khí cũng như các ngành công nghiệp chế biến như may mặc, da giày, nhưng CNHT của mỗi ngành này lại có những đặc điểm khác nhau, yêu cầu khác nhau, thậm chí mục đích khác nhau trong từng giai đoạn phát triển của ngành Do đó, một định nghĩa mang tính chất bao quát chung chung cần được làm rõ ràng hơn, cụ thể hơn khi đi vào xây dựng chính sách cho từng ngành cụ thể nhằm đạt được tính khả thi
Trang 22chính sách cao hơn Trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế và toàn cầu hóa như hiện nay mà Việt Nam không thể tách rời, đặc biệt với nguồn ngân sách hạn hẹp, nền móng công nghiệp còn đang trong quá trình hoàn thiện thì khái niệm hẹp về CNHT cần được nhấn mạnh nhiều hơn để có được sự thực dụng trong chính sách và hành động nhằm huy động tối đa mọi nguồn lực để xây dựng và phát triển các sản phẩm CNHT cụ thể, theo qui trình một cách hiệu quả Nhận định trên căn cứ vào hiện trạng phát triển CNHT của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay là phù hợp và để đạt được tính phù hợp, tính khả thi khi soạn thảo chính sách về CNHT cũng như hành động để đạt được các mục tiêu chính sách ấy Với phạm vi nghiên cứu là Công nghiệp hỗ trợ chỉ cho ngành cơ khí chế tạo và giới hạn trên địa bàn của tỉnh Bình Dương, tác giả nhận thấy rằng sẽ hợp lý hơn nếu tiếp cận về công nghiệp hỗ trợ ở khái niệm hẹp ở tầm hoạch định ngành hoặc vi mô Nghĩa hẹp của khái niệm có giá trị xác định nội hàm chuỗi cung ứng cụ thể, gắn liền với phát triển ngành cơ khí chế tạo và có các sản phẩm cụ thể sẽ là thích hợp hơn để có chiến lược phát triển phù hợp Do vậy, tác giả đề xuất lấy định nghĩa của Ohmo định nghĩa về
CNHT làm cơ sở nền tảng xuyên suốt luận văn này, tức Công nghiệp hỗ trợ “là một
nhóm các hoạt động công nghiệp cung cấp các đầu vào trung gian (gồm linh kiện, phụ tùng và các công cụ để sản xuất ra các linh kiện, phụ tùng này) cho các ngành công nghiệp lắp ráp, chế tạo và chế biến” (Ohno, Kenichi 2007, trang 39)
Mối quan hệ giữa công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp chính được thể hiện như sau:
Hình 1.5 Quan hệ giữa công nghiệp chính và công nghiệp hỗ trợ
Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ
Trang 231.1.1.2 Các khái niệm liên quan
Công nghiệp liên quan và hỗ trợ
Thuật ngữ “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” (related and industries) được M Porter
sử dụng như là một yếu tố quyết định của lợi thế cạnh tranh quốc gia Trong cuốn “Lợi thế cạnh tranh quốc gia” (M.Porter, 1990), ông giới thiệu mô hình kim cương gồm bốn yếu tố chính liên kết chặt chẽ với nhau tạo nên lợi thế cạnh tranh và có thể áp dụng cho các quốc gia, vùng và các ngành công nghiệp
Hình 1.6 Mô hình viên kim cương của Porter về lợi thế cạnh tranh của các quốc gia
Nguồn: M Porter, 1990
Trong bốn yếu tố này, “công nghiệp liên quan và hỗ trợ” được định nghĩa là “sự tồn tại của ngành công nghiệp cung cấp và ngành công nghiệp liên quan có năng lực cạnh tranh quốc tế” Ông chia yếu tố này thành hai phần, gồm CNHT và công nghiệp liên quan CNHT tạo ra lợi thế cho các ngành công nghiệp hạ nguồn vì chúng sản xuất ra những đầu vào được sử dụng rộng rãi và có tầm quan trọng trong việc cải tiến và quốc tế hóa, còn công nghiệp liên quan là những ngành trong đó DN có thể phối hợp hoặc chia
sẻ các hoạt động trong cùng chuỗi giá trị khi họ cạnh tranh với nhau, hoặc là những ngành sản xuất ra những sản phẩm có tính bổ sung cho nhau (M.Porter, 1990)
Thầu phụ
Khái niệm “thầu phụ” được sử dụng khá lâu trong giới công nghiệp thế giới nhưng không được định nghĩa cụ thể Định nghĩa này được Tổ chức phát triển công nghiệp Liên hợp quốc (UNIDO) diễn giải “là sự thỏa mãn giữa hai bên – nhà thầu chính và nhà thầu phụ” (Ohno, Kenichi , 2007, trang 36) Nhà thầu chính giao cho một hoặc một vài
DN sản xuất linh phụ kiện hoặc cụm linh kiện và /hoặc cung cấp dịch vụ công nghiệp cần thiết cho việc sản xuất sản phẩm cuối cùng của mình Nhà thầu phụ thực hiện công
Trang 24việc tuân theo sự chỉ định của nhà thầu chính Không như CNHT, thầu phụ nhấn mạnh vào các cam kết và quan hệ lâu dài giữa DN lớn và nhà thầu phụ mà không bao gồm các loại hình giao dịch khác, như sản xuất tại chỗ hoặc mua ngoài
Công nghiệp phụ thuộc
Thuật ngữ này được định nghĩa trong luật (Phát triển và Điều chỉnh) công nghiệp năm 1951 của Ấn Độ là “hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp có liên quan đến hoặc có
dự định liên quan đến việc chế tạo hoặc sản xuất linh kiện, phụ tùng, cụm linh kiện, công cụ hoặc hàng hóa trung gian, hoặc cung cấp dịch vụ…” Thuật ngữ này chỉ được
sử dụng phổ biến trong lãnh thổ Ấn Độ, nguyên nhân có thể do công nghiệp phụ thuộc được xếp là một phần của công nghiệp qui mô nhỏ nên đã không thể tìm thấy được sự quan tâm, chính sách hoặc chiến lược riêng cho sự phát triển của ngành công nghiệp này, kể cả ở Ấn Độ
Công nghiệp linh phụ kiện
Không có định nghĩa riêng biệt cho thuật ngữ “công nghiệp linh phụ kiện”, nhưng thuật ngữ này thường được hiểu là những ngành công nghiệp sản xuất phụ tùng, linh kiện và được sử dụng rộng rãi trong ngành công nghiệp lắp ráp như xe máy, ô tô và điện
tử Đây là thuật ngữ có phạm vi hẹp nhất vì nó không bao gồm các đầu vào khác có thể
có trong khái niệm về CNHT như dịch vụ, công cụ, máy móc và nguyên liệu Công nghiệp linh phụ kiện có thể được xem là trung tâm của CNHT, là yếu tố quan trọng cho việc đánh giá nội địa hóa
Người cung cấp
Khái niệm “người cung cấp” cũng không được định nghĩa cụ thể, chỉ được hiểu chung là người bán các hàng hóa và dịch vụ cho ngành công nghiệp Thuật ngữ này được sử dụng nhiều ở Malaysia và các nước Nam Á khác để chỉ các DN vừa và nhỏ hoạt động như nhà thầu phụ của các DN lớn “Người cung cấp” dùng để chỉ từng DN đơn lẻ thay vì chỉ một DN tổng thể Về cơ bản, những người cung cấp là một bộ phận của CNHT, có vai trò quyết định cho sự phát triển của ngành công nghiệp này
1.1.2 Phân loại công nghiệp hỗ trợ
Việc phân loại CNHT có thể được thực hiện theo các cách thức khác nhau (Hoàng Văn Châu, 2010) đã phân loại CNHT theo hai tiêu thức như sau:
Trang 251.1.2.1 Phân loại theo ngành nghề sản xuất ra sản phẩm cuối cùng
Theo cách tiếp cận về CNHT là một hệ thống bao trùm chuỗi giá trị sản xuất ra một sản phẩm, một chủng loại sản phẩm cụ thể, CNHT có thể phân thành các ngành phù hợp với các sản phẩm cuối cùng chính như:
- Công nghiệp hỗ trợ da giày, may mặc;
- Công nghiệp hỗ trợ các ngành cơ khí: có thể chia nhỏ thành:
Công nghiệp hỗ trợ ngành xe máy;
Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế biến nông lâm thủy sản;
Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí gia dụng;…
Cách phân loại CNHT này được sử dụng khá phổ biến cả trong thực tế và trong nghiên cứu, nhất là trong nghiên cứu từng ngành sản xuất riêng lẻ Ưu điển của nó là xác định rõ ràng các đối tượng tham gia một hệ thống ngành công nghiệp, đóng góp vào chuỗi giá trị để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng
Nhược điểm có thể nhận thấy ở cách phân loại này là những khó khăn gặp phải khi một DN hỗ trợ tham gia vào nhiều ngành sản xuất khác nhau Khi đó sẽ khó có thể xác định nhà sản xuất này tham gia vào một ngành sản xuất đơn nhất nào Chính sự giao thoa này làm hạn chế khả năng tiếp cận các DN sản xuất hỗ trợ, kể cả về mặt nghiên cứu
và chính sách
1.1.2.2 Phân loại theo ngành/công nghệ sản xuất linh kiện
Với cách tiếp cận CNHT là ngành sử dụng chung cho nhiều ngành sản xuất khác nhau, một cách thức phân loại CNHT là phân loại theo sản xuất linh kiện, căn cứ vào chủng loại sản phẩm DN sản xuất ra hoặc công nghệ mà DN đó sử dụng Ví dụ một DN CKCT khuân mẫu có thể sản xuất và cung cấp sản phẩm cho khách hàng trong ngành nhựa (chế biến sản phẩm gia dụng), ngành ô tô, cơ khí nông nghiệp, điện, điện tử … Với cách tiếp cận phân loại trên, một số ngành CNHT, sử dụng các công nghệ liên quan tới các vật liệu điển hình là:
- Các ngành sản xuất gia công kim khí như: Rèn; Dập; Đúc; Gia công khuôn mẫu; Mạ; Cắt; Gia công nhiệt; Gia công cơ khí chính xác
- Ngành sản xuất linh kiện cao su;
- Ngành sản xuất hóa chất; … …
Trang 26Cách phân loại này khắc phục được phẩn nào những hạn chế của cách phân loại trên khi một DN cung cấp tham gia vào nhiều ngành sản xuất sản phẩm cuối cùng khác nhau Nhược điểm của cách phân loại này là nó không bao trùm hết toàn bộ ngành CNHT Đứng từ góc nhìn của các nhà đầu tư nước ngoài, đối tượng các nhà cung cấp
mà họ thường cần tới là những nhà sản xuất với các công nghệ và sản phẩm cụ thể như rèn, dập, đúc, gia công kim loại … Việc phân loại CNHT theo công nghệ sản xuất cho phép các DN và người lập chính sách tại các nước đang phát triển xác định đúng đối tượng ưu tiên trong chính sách của mình
1.1.3 Đặc điểm của công nghiệp hỗ trợ
Theo (Hoàng Văn Châu, 2010), thì Công nghiệp hỗ trợ có một số đặc điểm sau:
1.1.3.1 Tính đa cấp
Đặc điểm đầu tiên của CNHT cần xem xét là tính đa cấp của ngành công nghiệp này Các DN tham gia CNHT nằm ở chuỗi giá trị khác nhau trong chuỗi giá trị sản xuất ra sản phẩm cuối cùng Mỗi sản phẩm đều trải qua một quá trình sản xuất, bắt đầu từ
nguyên liệu thô, qua các giai đoạn khác nhau cho tới khi giá trị được tích lũy vào thành phẩm cuối cùng Trong chuỗi giá trị này, các nhà cung cấp được phân loại theo cấp độ,
vị trí họ tham gia vào hệ thống Trên nhất là nhà lắp ráp sản phẩm cuối cùng, tiếp đó lần lượt nhà cung ứng các lớp thấp hơn Các nhà cung cấp ở các cấp khác nhau về qui mô vốn, qui mô sản xuất, về sở hữu, công nghệ, về quản lý, mối quan hệ với khách hàng…
1.1.3.2 Phát triển mang tính hệ thống liên kết theo qui trình sản xuất, theo khu vực và phụ thuộc vào ngành công nghiệp chính
Nằm trong chuỗi giá trị, các DN trong CNHT có mối quan hệ liên kết với nhau trong qui trình sản xuất Mối liên hệ này dẫn đến yêu cầu phát triển công nghiệp theo hệ thống
và tập trung theo khu vực Trong hệ thống CNHT, sự phát triển của các DN mua linh kiện tạo nhu cầu và kích thích sự phát triển của các DN cung cấp Ngược lại, sự phát triển của các nhà cung cấp tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, đem lại lợi thế canh tranh cho những DN mua linh kiện, kích thích sự phát triển của đối tượng này Mối quan
hệ của mạng lưới CNHT cũng phụ thuộc vào tổ chức không gian, sự phụ thuộc này cũng tùy thuộc vào đặc điểm của từng ngành công nghiệp chính Một số ngành như sản xuất điện tử, ưu thế do vị trí gần nhau, tiết kiệm được chi phí vận chuyển nhưng chi phí này
Trang 27không lớn như những ngành sản xuất các linh kiện cồng kềnh như sản xuất ô tô Tuy nhiên việc phát triển những cụm công nghiệp (cluster) vẫn có những lợi thế lớn của nó, không chỉ trong việc tiết kiệm chi phí vận chuyển và còn trong quá trình trao đổi thông tin, giải quyết sự cố hay phát triển sản phẩm mới
1.1.3.3 Đa dạng về công nghệ và trình độ công nghệ
Sự đa dạng về công nghệ sản xuất trong CNHT xuất phát từ đòi hỏi sản xuất các loại linh kiện phong phú để có được sản phẩm cuối cùng Với các sản phẩm có mức độ phức tạp cao như ô tô, hàng chục ngàn linh kiện của một chiếc xe đòi hỏi vô số công nghệ, liên quan tới hầu hết các lĩnh vực sản xuất, từ sản xuất cao su, nhựa cho tới gia công kim khí, điện tử điều khiển chính xác Giá trị gia tăng của việc sản xuất các linh kiện, các qui trình cũng khác nhau rất nhiều Nhiều bộ phận tinh xảo có giá trị gia tăng lớn, đòi hỏi kỹ thuật sản xuất, công nghệ rất cao, ngược lại có những chi tiết đòi hỏi kỹ thuật sản xuất không quá khó có thể mua sắm từ những nhà cung cấp cấp thấp để lắp ráp thành những cụm linh kiện Các sản phẩm của các nhà cung cấp cấp thấp thường có giá trị gia tăng không cao Ở các nước đang phát triển khi những nhà sản xuất nội địa tham gia vào CNHT thường là những nhà cung cấp cấp thấp, tận dụng lao động rẻ và sử dụng công nghệ không cao để tiết kiệm chi phí
1.1.3.4 Thu hút số lượng lớn các doanh nghiệp nhỏ và vừa
Một đặc điểm khác của CNHT là nó thu hút một lượng lớn các SMEs Do tính chất
đa cấp và phát triển theo hình cây của hệ thống CNHT, số lượng các DN ở cấp thấp hơn
là rất lớn Đặc tính này của CNHT cho thấy tầm quan trọng của chính sách phát triển ngành công nghiệp này cũng như phát triển các SMEs, đặc biệt tại các nước đang phát triển Phát triển CNHT là cơ sở cho DN tham gia vào hệ thống sản xuất của các MNCs, tiếp nhận công nghệ, tham gia hệ thống toàn cầu Phát triển CNHT không chỉ là một phương thức hiệu quả thu hút đầu tư nước ngoài mà còn là cơ sở tạo lập một cơ sở công nghiệp bền vững trong nước với một số lượng lớn các DN tham gia
1.1.4 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ
1.1.4.1 Công nghiệp hỗ trợ là nền tảng thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa
Mác đã nhận xét: “Từ lâu đã chín muồi niềm tin vững chắc rằng ở thời đại hiện nay không một nước nào có thể giữ được vị trí xứng đáng với mình trong hàng ngũ các dân
Trang 28tộc văn minh, nếu như nó không có nền công nghiệp cơ khí…” Khi bàn đến sự phát triển của chủ nghĩa tư bản, V I Lenin đánh giá “Công nghiệp cơ khí, do phá hủy triệt
để nền tảng sản xuất riêng lẻ đã xã hội hóa lao động” Khi bàn về xây dựng chủ nghĩa
xã hội, Lenin đã khẳng định: “Cơ sở vật chất duy nhất của chủ nghĩa xã hội chỉ có thể là nền đại công nghiệp cơ khí có khả năng cải tạo nông nghiệp” (Trần Việt Hùng, 2011)
Cơ khí đặc biệt quan trọng trong quá trình CNH Bản chất kỹ thuật của quá trình CNH
là xây dựng nền tảng vật chất kỹ thuật cho nền kinh tế mà trong đó các sản phẩm được sản xuất ra bằng máy móc Chức năng chủ yếu của công nghiệp cơ khí là chế tạo ra máy móc, thiết bị Chính vì vậy, sẽ không thể hoàn thành CNH một cách vững chắc hoặc xây dựng một nền kinh tế phát triển bền vững nếu ngành công nghiệp cơ khí không đủ mạnh Kinh nghiệm của các nước phát triển cho thấy, tùy theo lợi thế của từng nước mà
có thể thực hiện quá trình CNH theo các cách khác nhau nhưng đều chú trọng phát triển mạnh các chuyên ngành cơ khí Đến nay, chưa có một nước nào đã hoàn thành giai đoạn CNH mà công nghiệp cơ khí vẫn chỉ giữ vai trò thứ yếu trong nền kinh tế
“Nội dung cốt lõi của quá trình CNH, HĐH là cải biến lao động thủ công, lạc hậu thành lao động sử dụng kỹ thuật tiên tiến, hiện đại để đạt tới năng suất lao động xã hội cao” (Hội đồng lý luận trung ương, 2013, trang 502) Vì một trong những tính chất của CNHT là ngành cung cấp đầu vào cho một số lượng lớn các ngành công nghiệp khác, nên ngành CNHT phát triển chắc chắn sẽ góp một phần không nhỏ vào sự phát triển của toàn bộ nền công nghiệp nói riêng và kinh tế nói chung Quá trình cải biến lao động thủ công lạc hậu thành lao động sử dụng công nghệ tiên tiến hiện đại chính là quá trình chuyên môn hóa Phát triển CNHT giúp các DN không phải thực hiện mọi khâu trong quá trình sản xuất ra một sản phẩm với khoản chi phí khổng lồ Các DN sẽ chuyển từ tổ chức sản xuất theo chiều dọc sang sản xuất theo chiều ngang Với sự phát triển của CNHT, các DN chỉ cần tập trung chuyên môn hóa vào những khâu mà mình có lợi thế tương đối với khả năng thực hiện tốt nhất với chi phí hợp lý nhất Các nhà lắp ráp hay chế biến sản phẩm cuối cùng sẽ không phải lo nhập khẩu hay sản xuất đầu vào nữa vì họ
đã có thể yên tâm vào các sản phẩm đầu vào mua ngay ở trong nước Kết quả là xã hội
có sự phân công và chuyên môn hóa ngày càng sâu sắc Chính sự chuyên môn hóa này làm cho nhu cầu sử dụng công nghệ ngày càng hiện đại hơn Với những nước đang phát
Trang 29triển thì ngành CNHT phải tận dụng lợi thế của người đi sau, tiết kiệm thời gian phát triển công nghệ, mà thay vào đó là tiếp thu công nghệ hiện đại từ những nước có nền công nghiệp phát triển thông qua hình thức FDI hoặc viện trợ ODA,… Chính vì thế trong quá trình CNH, HĐH, ngành CNHT là ngành có nhu cầu nhất trong việc sử dụng công nghệ hiện đại
1.1.4.2 CNHT góp phần thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng trong dài hạn
Theo (Ohno, Kenichi 2007) thì trong tiêu chuẩn sản xuất của Nhật Bản, tính cạnh tranh của một sản phẩm CNHT phụ thuộc vào ba yếu tố là Chất lượng, Chi phí và Giao hàng (QCD – Quality, Cost, Delivery) Nếu cả ba yếu tố trên được giải quyết thì theo (Hoàng Văn Châu, 2010), ngành CNHT sẽ trở nên cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trong dài hạn vì:
Thứ nhất, một quốc gia với ngành CNHT cạnh tranh có thể duy trì nguồn vốn FDI
cho ngành lắp ráp cuối cùng tương đối lâu hơn một quốc gia không có ngành CNHT cạnh tranh vì lợi ích mà họ nhận được từ việc sử dụng các đầu vào cạnh tranh có thể bù đắp được chi phí lao động đang tăng cao
Thứ hai, sản phẩm của ngành CNHT có thể được xuất khẩu tới các quốc gia mà
ngành lắp ráp cuối cùng ở đó đang có nhu cầu thông qua xuất khẩu gián tiếp, khi đó, các
bộ phận sản xuất ra là một khâu mắt xích tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu
Cuối cùng, việc phát triển CNHT, đặc biệt là việc thu hút các DN FDI vào lĩnh vực
này đã đồng thời là con đường tiếp nhận nguồn vốn, chuyển giao công nghệ, kỹ năng quản lý tiên tiến thì các nền kinh tế phát triển
1.1.4.3 Công nghiệp hỗ trợ góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp
CNHT không được xem xét như một tiêu chí để đánh giá khả năng cạnh tranh nhưng
nó lại tác động gián tiếp đến năng lực cạnh tranh của DN, cụ thể:
Thứ nhất, CNHT phát triển sẽ tạo được nguồn cung đầu vào ổn định, chất lượng, từ
đó đảm bảo được khả năng giao hàng cho các ngành công nghiệp chính
Thứ hai, CNHT làm giảm giá thành sản xuất, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao giá trị
gia tăng cho sản phẩm cuối cùng do các DN sẽ tập trung vào việc giảm chi phí nhằm
Trang 30tăng khả năng cạnh tranh do chủ động hơn về mặt thời gian, đúng hẹn góp phần giảm bớt lượng hàng lưu kho, giảm giá thành sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh
Tiến trình CNH ngày nay tiến hành trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế là sự lựa chọn và tận dụng cơ hội phát triển thông qua sự phân công lao động quốc tế mới Và, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức để các nước đi sau thực hiện CNH nền kinh tế đất nước (Nguyễn Xuân Thắng, 2007) Mà chiến lược công nghiệp lại cần được xây dựng dựa trên khả năng cạnh tranh quốc tế Khả năng cạnh tranh quốc tế lại được xây dựng bằng nhiều yếu tố, như chất lượng sản phẩm, chi phí, thời gian,… Mà nhân tố chi phí, như trình bày ở trên, lại phụ thuộc vào nguồn sẵn có hay không các sản phẩm
CNHT
1.1.4.4 CNHT làm tăng khả năng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài
CNHT có vai trò đặc biệt quan trọng trong thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhất là FDI trong ngành sản xuất các loại máy móc Một công ty FDI đang đầu tư sản xuất, lắp ráp tại một quốc gia nếu lựa chọn các nhà cung cấp địa phương sẽ giúp các DN FDI linh hoạt hơn trong đàm phán và kiểm soát chất lượng, góp phần tiết kiệm được chi phí vận chuyển và những rủi ro trong quá trình vận chuyển so với việc nhập khẩu Từ phân tích ở trên có thể thấy ngay là công nghiệp hộ trợ phát triển sẽ tạo điều kiện thu hút FDI Tuy nhiên, có trường hợp FDI đi trước và lôi kéo các công ty kể
cả FDI và bản xứ đầu tư phát triển CNHT Nếu các DN CNHT trong nước phát triển, cũng sẽ tạo điều kiện thúc đẩy các DN FDI đầu tư vào ngành công nghiệp chính, chính các DN FDI này sẽ tạo lực hút thúc đẩy sự phát triển của các DN CNHT và khi hệ thống các DN hỗ trợ này lớn mạnh lại tạo hiệu ứng để các DN FDI mở rộng sản xuất, quá trình
ấy cứ như vậy và tạo nền móng cho công nghiệp trong nước phát triển
1.1.4.5 Công nghiệp hỗ trợ giúp tiếp thu chuyển giao công nghệ
Các DN FDI đến đầu tư thường từ các nước công nghiệp phát triển hơn, do đó họ cũng sẽ mang đến những công nghệ sản xuất, kỹ năng, trình độ quản lý tiên tiến hơn mà
từ đó các DN trong nước có thể học tập Việc chuyển giao công nghệ từ các công ty FDI
cho các DN trong nước thường được tiến hành qua 2 hình thức: Thứ nhất, chuyển giao
công nghệ theo hàng ngang Hoạt động này thường là do các MNCs chuyển giao cho
các công ty con của mình đang hoạt động tại thì trường nước ngoài Thứ hai, là chuyển
Trang 31giao hàng dọc giữa các DN Đây là hình thức liên kết phổ biến nhất của các DN FDI, thường các DN FDI sẽ tìm kiếm những đối tác đủ năng lực để cung cấp linh phụ kiện cho mình, và thông qua quan hệ liên kết kinh tế này, các DN FDI sẽ chuyển giao công nghệ sản xuất và kỹ năng quản lý cho các đối tác của mình
1.1.4.6 CNHT thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đối với một quốc gia đang trong giai đoạn đầu của quá trình CNH thì khả năng về nguồn vốn, trình độ nhân lực, công nghệ là rất hạn chế, do đó khuyến khích hình thành các SMEs được coi là một trong những giải pháp tối ưu nhằm phát triển kinh tế nhằm tận dụng tối đa những nguồn lực hạn hẹp trong nước Đặc điểm của các sản phẩm
CNHT thường được sản xuất với các DN có qui mô nhỏ, thực hiện bởi các SMEs Do
đó, phát triển ngành CNHT sẽ kéo theo sự phát triển của các SMEs
1.2 Tổng quan về công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
1.2.1 Nội dung ngành công nghiệp cơ khí
Quá trình sản xuất và chế tạo đó bao gồm nhiều giai đoạn khác nhau Có thể tóm tắt
quá trình này theo sơ đồ dưới đây:
Hình 1.7 Quá trình sản xuất cơ khí
Nguồn: Hoàng Tùng và cộng sự, 2008
Trang 32Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở Wikipedia cũng như từ điển Encarta, định nghĩa khái niệm về Công nghiệp, là một bộ phận của nền kinh tế, là lĩnh vực sản xuất hàng hóa vật chất mà sản phẩm được "chế tạo, chế biến" cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo Cũng theo định nghĩa của Wikipedia, thì Cơ khí là một ngành khoa học giới thiệu quá trình sản xuất cơ khí và phương pháp công nghệ gia công kim loại và hợp kim để chế tạo các chi tiết máy hoặc kết cấu máy
Quá trình sản xuất cơ khí là quá trình sản xuất cơ bản nhất, then chốt của quá trình sản xuất công nghiệp để tạo ra các chi tiết máy hoặc kết cấu máy (Hoàng Tùng và đồng
sự, 2008) Từ các ý trên, tác giả xin đề xuất một cách khái quát nhất về Công nghiệp cơ
khí là ngành bộ phận của nền kinh tế, cung cấp các phương pháp công nghệ, các quá trình sản xuất và sản xuất với qui mô lớn các sản phẩm cơ khí từ việc gia công kim loại
và hợp kim để chế tạo ra các chi tiết máy hoặc kết cấu máy dựa trên những tiến bộ về khoa học và công nghệ để từ đó tạo nên những sản phẩm hoàn chỉnh phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hoặc phục vụ hoạt động kinh doanh tiếp theo
Quá trình sản xuất sản phẩm CKCT gồm các khâu: Chế tạo vật liệu, Chế tạo phôi,
Gia công cắt gọt, Xứ lý và bảo vệ, cuối cùng là tạo ra các chi tiết máy Trong đó, chế tạo vật liệu chính là quá trình luyện kim để biến quặng kim loại như quặng sắt, quặng đồng, nhôm boxit thành các dạng vật liệu là đầu vào của quá trình sản xuất cơ khí như Gang, Thép, Đồng, Nhôm hay Hợp kim Chế tạo phôi là hoạt động tác động vào các vật liệu đã
có ở bước trước đó thông qua các hoạt động như Đúc, Cán, Rèn dập, Hàn … để tạo ra phôi Gia công cắt gọt kim loại là một quá trình công nghệ được thực hiện bằng phương pháp cắt một lớp kim loại (phoi) ra khỏi phôi để có được các vật phẩm với hình dạng và kích thước cần thiết Tiến trình này được thực hiện bằng các máy công cụ như Tiện, Phay, Mài, Bào, Khoan …
Sản phẩm trong ngành cơ khí là một danh từ qui ước chỉ vật phẩm được tạo ra ở giai
đoạn chế tạo cuối cùng của một cơ sở sản xuất ( ví dụ như ở một tổ sản xuất hoặc một phân xưởng của nhà máy) Sản phẩm không chỉ là máy móc hoàn chỉnh đem sử dụng được mà còn có thể là cụm hay chỉ là chi tiết máy (Hoàng Tùng và đồng sự , 2008)
Trang 331.2.2 Nội dung công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
Căn cứ vào các khái niệm đã trình bày ở trên về Công nghiệp hỗ trợ cũng như Khái
niệm tác giả đề xuất về Công nghiệp cơ khí và quá trình sản xuất cơ khí (Hình 1.8.) thì hoạt động sản xuất sản phẩm hỗ trợ cho ngành cơ khí rất đa dạng bao gồm nhiều hoạt động sản xuất cụ thể khác nhau Khái niệm sản xuất sản phẩm hỗ trợ ngành CKCT sẽ bao gồm các hoạt động cụ thể sau: Đúc, Cán, Rèn, Dập, Hàn… để Chế tạo phôi; Gia công cắt gọt kim loại bằng các máy công cụ như Tiện, Khoan, Phay …; Xử lý và bảo vệ
bề mặt kim loại thông qua Nhiệt luyện, Hóa nhiệt luyện, xi mạ … để có được các chi tiết máy và Ghép tổ hợp các chi tiết máy đó thành các Bộ phận máy hay các phân cụm
và cụm chi tiết để phục vụ cho Cơ khí lắp ráp tiến hành lắp ráp tổng thành để tạo ra Bán thành phẩm hay sản phẩm cuối cùng đưa ra thị trường phục vụ tiêu dùng hay là đầu vào
cho các hoạt động sản xuất kinh doanh tiếp theo
Hình 1.8 Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
Nguồn: Quy hoạch phát triển công nghiệp hỗ trợ, Sở công thương tp HCM, 2013
1.2.3 Mối quan hệ giữa ngành cơ khí chế tạo và CNHT ngành cơ khí chế tạo
Toàn bộ các hoạt động sản xuất sản phẩm hỗ trợ ngành cơ khí kể trên là những hoạt động nối tiếp nhau trong quá trình sản xuất các chi tiết máy, là đầu vào cho hoạt động lắp ráp thành tổng để tạo ra sản phẩm cuối cùng cho người tiêu dùng hoặc đầu vào cho các ngành công nghiệp khác
Nhìn nhận từ khâu đầu tiên là khai thác tài nguyên thiên nhiên trải qua nhiều giai đoạn, mỗi giai đoạn làm gia tăng giá trị của vật phẩm để có thể tạo ra sản phẩm cuối cùng đến tay người tiêu dùng là một quá trình liên tục, không đứt đoạn, liên quan chặt
Trang 34chẽ với nhau, có thể nói là CNHT ngành cơ khí và Công nghiệp cơ khí có liên hệ mật thiết với nhau, sự phát triển của ngành này sẽ tạo tiền đề để ngành kia phát triển
Căn cứ vào (Hình 1.8) và (Hình 1.9) có thể mô tả Mối quan hệ giữa ngành cơ khí và CNHT cơ khí theo bảng dưới đây
Hình 1.9 Mối quan hệ giữa ngành cơ khí và công ngiệp hỗ trợ ngành cơ khí
Nguồn: Tác giả tổng hợp và đề xuất
CNHT ngành cơ khí được coi như chân núi, tạo nền tảng để hình thành nên thân núi
và đỉnh núi chính là Công nghiệp cơ khí Công nghiệp hỗ trợ cơ khí tạo ra các linh kiện, chi tiết máy, tạo ra các phân cụm và cụm chi tiết, chính là thượng nguồn trong chuỗi giá trị, làm nền tảng để phát triển khu vực hạ nguồn của ngành công nghiệp cơ khí Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí phát triển có thể tạo ra cho ngành cơ khí những sản phẩm tốt, góp phần gia tăng giá trị, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm cơ khí và đẩy nhanh quá trình CNH theo hướng chuyên môn hóa sâu hơn Đặc biệt trong quá trình toàn cầu hóa
và hội nhập kinh tế quốc tế, sự phát triển của CNHT ngành cơ khí sẽ giúp định vị vị trí của ngành này trong chuỗi giá trị toàn cầu Do có quan hệ hữu cơ và gắn bó chặt chẽ với nhau, nếu CNHT yếu kém sẽ kéo theo sự suy yếu của ngành công nghiệp cơ khí vì nó là cái gốc của sự phát triển Công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí kém phát triển sẽ dẫn đến
Trang 35các DN cơ khí phải phụ thuộc nhiều vào nguồn linh kiện, chi tiết nhập từ bên ngoài, điều này sẽ làm tăng chi phí để sản xuất ra sản phẩm cuối cùng, đồng thời dẫn đến việc thiếu tính chủ động trong hoặt động kinh doanh Các MNCs sẽ gặp khó khăn trong quản
lý dây chuyền cung ứng nếu như phải nhập khẩu lớn các linh kiện, bộ phận và các sản phẩm CNHT khác Ngược lại, ngành công nghiệp cơ khí lại đóng vai trò là thị trường đầu ra cho các sản phẩm CNHT ngành cơ khí, nếu ngành cơ khí phát triển sẽ tạo ra một thị trường tiêu thụ các sản phẩm của CNHT ngành cơ khí Điều đó có nghĩa khu vực hạ nguồn là ngành công nghiệp chính, chỉ có thể phát triển khi khu vực thượng nguồn phát triển, và khi khu vực hạ nguồn đã phát triển sẽ tạo động lực thúc đẩy phát triển khu vực thượng nguồn
1.2.4 Một số đặc điểm của ngành công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo
tô, máy bay )
+ CNHT cho Phân ngành cơ khí thiết bị toàn bộ, sản xuất ra các linh kiện, chi tiết, cụm linh kiện phục vụ cho việc lắp ráp thành sản phẩm là máy tiện, máy phay, máy bào, đột dập; máy phục vụ cho các ngành giao thông, năng lượng, nông nghiệp) sử dụng nhiều kim loại, đòi hỏi trình độ kỹ thuật cao, lao động lành nghề, thường tập trung ở các vùng luyện kim tại các nước công nghiệp phát triển
+ CNHT cho Phân ngành cơ khí máy công cụ sản xuất ra các linh kiện, chi tiết, cụm linh kiện phục vụ cho việc lắp ráp thành sản phẩm cho giao thông: ô tô, mô tô, ca nô; cho nông nghiệp: máy bơm, xay sát; cho công nghiệp: máy dệt, may) có mặt ở hầu hết các nước phát triển và các nước đang phát triển với mức độ khác nhau
+ CNHT cho Phân ngành cơ khí hàng tiêu dùng sản xuất ra các linh kiện, chi tiết, cụm linh kiện phục vụ cho việc lắp ráp thành sản phẩm cơ khí dân dụng: máy giặt, tủ lạnh, máy phát điện và động cơ điện loại nhỏ) có hai xu hướng phát triển và phân bố:
Trang 36các sản phẩm có chất lượng cao được tập trung ở các nước công nghiệp phát triển, còn sản xuất theo mẫu có sẵn, sửa chữa, lắp ráp tập trung nhiều tại các nước đang phát triển + CNHT cho Phân ngành cơ khí chính xác sản xuất ra các linh kiện, chi tiết, cụm linh kiện phục vụ cho việc lắp ráp thành sản phẩm thiết bị y tế, quang học, thiết bị nghiên cứu, kỹ thuật điện, chi tiết máy của ngành hàng không, vũ trụ) chỉ có ở các nước công nghiệp phát triển vì đòi hỏi sự đầu tư lớn về khoa học công nghệ, vốn, lao động kỹ thuật
1.2.4.2 Đặc điểm về tổ chức sản xuất và mối quan hệ với các ngành khác
Các xí nghiệp của CNHT ngành CKCT có sự liên kết chặt chẽ với nhau và với các xí nghiệp của các ngành công nghiệp khác Vì thế, ngành này có khả năng phát triển rộng rãi hình thức chuyên môn hoá và hợp tác hoá với xu hướng tập trung thành từng cụm và trung tâm công nghiệp gồm nhiều nhà máy có sự phân công và hợp tác sản xuất các bộ phận, chi tiết, thiết bị
+ Đối với các linh kiện, phụ tùng có kích thước nhỏ, hao tốn ít nguyên vật liệu, được sản xuất tích hợp với trình độ công nghệ cao, thì hầu hết được vận chuyển từ nơi sản xuất đến các nhà máy lắp ráp trên toàn thế giới nên không yêu cầu sự tập trung hóa trong tổ chức sản xuất
+ Các linh kiện chi tiết máy móc có kích thước lớn, hao tốn nhiều nguyên liệu, lưu kho, khó khăn và tăng chi phí khi vận chuyển, công nghệ sản xuất đơn giản hơn thì được thực hiện sản xuất hoặc thuê sản xuất tại các quốc gia có nhà máy lắp ráp hoặc tại thị trường tiêu thụ, như là vỏ máy giặt, khung, thùng xe ô tô,…
Ngoài nhiệm vụ chế tạo, CNHT ngành CKCT còn sản xuất ra các linh kiện, phụ kiện, phụ tùng cung cấp cho việc sửa chữa các máy móc, thiết bị cho tất cả các ngành công nghiệp Vì thế cùng với xu hướng phân bố tập trung, nó còn có xu hướng phân bố phân tán khắp các vùng để đáp ứng nhu cầu sửa chữa
1.2.4.3 Đặc điểm về thị trường
i) Dung lượng thị trường: Mặc dù phụ thuộc vào đặc điểm linh kiện, việc sản xuất
linh kiện của CNHT ngành CKCT tại địa điểm lắp ráp chỉ hầu như chỉ phát triển đối với các quốc gia có dung lượng thị trường ở khu vực hạ nguồn lớn Tuy đầu tư cho các dây chuyền lắp ráp các sản phẩm CNHT ngành CKCT là không cao, nhưng đây lại là ngành
Trang 37chịu khá nhiều cạnh tranh, rủi ro và phụ thuộc vào chính sách công nghiệp của nước sở tại Ở các quốc gia đang phát triển, thường có dung lượng thị trường về sản phẩm cơ khí phục vụ cho sản xuất là vô cùng lớn, ngành này luôn được các doanh nghiệp quan tâm mạnh mẽ khi đầu tư, chính lý do này là một phần nguyên nhân để các MNCs chuyển dịch các nhà máy lắp ráp các sản phẩm cơ khí từ các nước đang phát triển sang các nước
có nhu cầu cao về sản phẩm ngành hàng này vì dung lượng thị trường ở các nước đó có
xu thế bão hòa nhưng lại tăng cao ở các quốc đang trong quá trình công nghiệp hóa
ii) Năng lực sản xuất của địa phương: Dung lượng thị trường ở các quốc gia đong
trong giai đoạn CNH do nhu cầu cao về các sản phẩm ngành cơ khí không phải là điều kiện duy nhất để thu hút được đầu tư vào ngành này Năng lực sản xuất nội địa với các yêu cầu về trình độ và tính chuyên nghiệp của người lao động trong lắp ráp, việc giao hàng đúng thời hạn, đúng yêu cầu về số lượng và chất lượng của các doanh nghiệp sản xuất linh kiện, là yếu tố tác động tới khả năng có thu hút được đầu tư vào ngành CN cơ khí hay không Tuy nhiên, nước sở tại khi không đủ số lượng các DN CNHT FDI và các
DN CNHT bản địa cung cấp linh kiện hoặc/và trình độ công nghệ, quản lý của các DN địa phương cũng gây ra khó khăn cho nước sở tại khi muốn thu hút nhiều hơn các DN lắp ráp các sản phẩm cơ khí
iii) Chiến lược hướng vào thị trường nội địa hay hướng đến thị trường toàn cầu của các tập đoàn đa quốc gia (MNCs):
+ Các MNCs hướng vào thị trường nội địa: trong ngành CKCT, một tập đoàn đa quốc gia tại nước sở tại sẽ có xu hướng tự sản xuất hay tìm kiếm các đối tác cung cấp các linh kiện, hay bán thành phẩm có kịch thước cồng kềnh, tốn nhiều nguyên vật liệu nhưng không đòi hỏi cao về trình độ kỹ thuật như lốc máy xe ô tô, khung, thùng các phương tiện vận tải, … Các tập đoàn này sẽ có động lực mạnh mẽ trong việc nội địa hóa hay sử dụng CNHT của nước sở tại vì nhập khẩu các linh kiện này sẽ tốn kém và tập trung sản xuất các bộ phận theo địa điểm sẽ không mang lại ưu thế hơn là mua từ các DN địa phương vì rất ít các linh kiện và bộ phận trong ngành CNHT ngành CKCT vừa có kịch thước to lại có thể tạo ra giá trị gia tăng lớn, thêm vào đó các MNCs có xu hướng nội địa hóa một số công đoạn như đúc, dập, xi mạ ….Đây là những mảng mà các
MNCs thường hướng vào thị trường nội địa và hiếm khi tiến hành sản xuất nội vi
Trang 38+ Các MNCs hướng đến thị trường toàn cầu: Ngày nay, do sự phát triển của khoa học kỹ thuật, đặc biệt là công nghệ thông tin và giao thông vận tải và những hàng rào thương mại dần được dỡ bỏ trong xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới, các MNCs trong lĩnh vực CNHT ngành CKCT có thể tiến hành sản xuất các sản phẩm tại một nước nào đó để tận dụng các lợi thế cạnh tranh tại nước sở tại, nhưng lại hướng vào thị
trường toàn cầu Đó thường là các tập đoàn sản xuất các linh kiện có độ chính xác, có giá trị gia tăng cao và đòi hỏi trình độ máy móc thiết bị tiên tiến Và rõ ràng, mục tiêu nội địa hóa của các MNCs trong khu vực này là không mạnh mẽ như các DN sản xuất các sản phẩm có kích thước cồng kềnh, chi phí cao khi vận chuyển
Như vậy, với việc định vị thị trường là nội địa hay quốc tế, các MNCs sẽ có động cơ hay không có động cơ để tăng cường mục tiêu nội địa hóa Với các sản phẩm là linh kiện công kềnh, các công cụ đúc, ép, xử lý bề mặt xi mạ, các MNCs sẽ có động cơ nội địa hóa, còn các MNCs với mục tiêu hướng ra thị trường thế giới sẽ sản xuất các linh kiện nhỏ gọn, có giá trị gia tăng cao và yêu cầu cao về trình độ sản xuất
1.2.5 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chế tạo đến sự phát triển của ngành cơ khí chế tạo
Theo quan điểm của (Nguyễn Thị Dung Huệ, 2013), thì vai trò của CNHT ngành CKCTđến sự phát triển của ngành cơ khí được tác giả tổng hợp một số ý sau:
1.2.5.1 Đóng góp tỷ trọng lớn vào giá trị sản phẩm ngành cơ khí chế tạo
Công nghiệp hỗ trợ ngành CKCT có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của công nghiệp ngành cơ khí Sản phẩm đầu ra của CNHT ngành cơ khí là những chi tiết máy, các cụm chi tiết là yếu tố đầu vào không thể thiếu và có vai trò quyết định đến chất lượng của sản phẩm cuối cùng của ngành cơ khí Ngành CNHT ngành CKCT có vai trò quan trọng như vậy đối với ngành công nghiệp cơ khí bởi sản xuất ra các chi tiết máy cần có hàm lượng công nghệ tiên tiến, máy móc hiện đại hơn so với công đoạn cuối cùng của quá trình sản xuất cơ khí là Cơ khí lắp ráp để tạo ra sản phẩm cuối cùng Cơ khí lắp ráp sử dụng nhiều hơn yếu tố con người, tạo ra giá trị gia tăng thấp hơn so với CKCT linh kiện, công đoạn có giá trị gia tăng cao hơn
Trang 391.2.5.2 Đảm bảo sự phát triển bền vững và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành cơ khí chế tạo
Cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, có vai trò đặc biệt quan trọng trong thực hiện
sự nghiệp CNH, HĐH của một quốc gia, đặc biệt là các quốc gia đang trong giai đoạn đầu quá trình CNH Với vai trò quan trọng như vậy, CNHT ngành cơ khí có một ý nghĩa rất lớn đối với toàn bộ ngành cơ khí Vì là ngành cung cấp đầu vào cho ngành CKCT, là chân tháp để đỡ cho cả ngọn tháp, nên nếu một quốc gia có một nền công nghiệp cơ khí vững mạnh, hoàn chỉnh và phát triển bền vững thì phải có CNHT ngành cơ khí tương ứng nhằm đáp ứng được cả về số lượng cũng như chất lượng của các linh kiện, chi tiết máy, có như vậy mới tạo ra được các sản phẩm có chất lượng đảm bảo khả năng cạnh tranh khi các sản phẩm cơ khí của quốc gia đó tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Đặc biệt trong một thế giới mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra mạnh mẽ, áp lực cạnh tranh từ bên ngoài ngày càng trở nên lớn hơn, nếu không tự xây dựng cho mình một nền công nghiệp cơ khí dựa trên nàng tảng của CNHT vững mạnh mà phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cung từ bên ngoài sẽ biến quốc gia này trở thành một công trường làm thuê cho thị trường cơ khí thế giới
1.2.5.3 Giảm giá trị nhập siêu, tăng thặng dư thương mại hàng ngành CKCT
Vì chi phí cho các linh kiện, chi tiết máy chiếm một phần rất lớn trong tổng chi phí cấu thành một sản phẩm cơ khí hoàn chỉnh Do đó, nếu một phần lớn hoặc toàn bộ các chi tiết, cụm bộ phận cơ khí ấy được nhập khẩu từ bên ngoài do đó nếu một quốc gia sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm cơ khí mà năng lực sản xuất yếu kém và phải phụ thuộc nhiều vào nguồn linh kiện, chi tiết từ bên ngoài thì giá trị thuần xuất khấu sẽ rất thấp Để cải thiện được vấn đề trên, thì nâng cao năng lực sản xuất các sản phẩm hỗ trợ cho ngành sẽ giảm được chi phí nhập khẩu từ bên ngoài, giảm giá trị nhập siêu và gia tăng giá trị xuất khẩu ròng từ ngành hàng cơ khí
1.2.5.4 Nâng cao vị thế của sản phẩm ngành hàng cơ khí chế tạo trong chuỗi giá trị của sản phẩm ngành cơ khí chế tạo toàn cầu
Chuỗi giá trị ngành hàng cơ khí toàn cầu có thể được hiểu là một sản phẩm cơ khí được tạo ra là thành quả lao động của nhiều quốc gia hợp lại, qua nhiều công đoạn của chuỗi giá trị, từ khâu khai thác tài nguyên thiên nhiên, luyện kim để tạo ra kim loại sắt,
Trang 40thép, gang, đồng … đến các thiết kế sản phẩm, khâu tạo phôi, đúc, xử lý bề mặt …rồi lắp ghép các chi tiết để có sản phẩm hoàn chỉnh rồi đến tay nhà phân phối và đến được tay người tiêu dùng Theo các học giả thế giới thì chu trình sáng tạo ra giá trị tăng thêm của ngành công nghiệp cơ khí cũng giống như bất cứ ngành công nghiệp nào khác được chia thành ba khu vực: khu vực thượng nguồn (up-stream) bao gồm các hoạt động nghiên cứu, phát triển, thiết kế, sản xuất các bộ phận, linh kiện; khu vực trung nguồn (mid-stream) là giai đoạn lắp ráp, gia công; còn khu vực hạ nguồn (down-stream) bao gồm hoạt động khai thác thị trường, tiếp thị và xây dựng mạng lưới lưu thông, chiến lược thương hiệu Giá trị gia tăng thêm tạo ra ở hai khu vực hạ nguồn và thượng nguồn
là rất cao, còn khu vực trung nguồn là tương đối thấp Những nước có nền công nghiệp
cơ khí phát triển chủ yếu nắm giữ các khâu thượng nguồn và hạ nguồn, chuyển dịch khâu trung nguồn sang các nước đang phát triển, dó đó sẽ nắm giữ gần như hoàn toàn giá trị gia tăng của sản phẩm, và những gì các nước nhận gia công lắp ráp các sản phẩm
đó nhận được chỉ là phẩn tiền công ít ỏi với giá lao động rẻ
Hình 1.10 Chuỗi giá trị trong một ngành công nghiệp
Nguồn: Trần Văn Thọ, 2005 trích bởi Hà Thị Hương Lan, 2014
Do vậy, làm thế nào để vươn lên các công đoạn tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, gia tăng vị thế của ngành công nghiệp cơ khí trong chuỗi giá trị toàn cầu là một câu hỏi lớn Thế giới ngày nay cùng với việc mở rộng trung nguồn và thượng nguồn, thì việc phát triển CNHT là một hướng ưu tiên Việc phát triển công nghiệp cơ khí bền vững gắn liền với việc phát triển CNHT ngành CKCT là một tất yếu khách quan