1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tác động của đặc điểm hội đồng quản trị đến hiệu quả hoạt động công ty

97 66 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 694,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TÓM T ẮT Luận văn này đo lường tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị HĐQT đến hiệu quả hoạt động công ty, và đã xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu, cũng như phát triển các giả thuyết n

Trang 1

NGUY ỄN THỊ TRÂM

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN

TP.H ồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 2

NGUYỄN THỊ TRÂM

TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘI ĐỒNG QUẢN

Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng

Mã s ố: 60340201

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS PHAN NỮ THANH THỦY

TP.H ồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

L ỜI CAM ĐOAN

Tác giả xin cam đoan luận văn Thạc Sĩ Kinh Tế “Tác động của đặc điểm Hội đồng

qu ản trị đến hiệu quả hoạt động công ty” là công trình nghiên cứu của riêng tác giả,

có sự hỗ trợ từ người hướng dẫn khoa học là TS Phan Nữ Thanh Thủy, và chưa

từng được công bố trước đây Các số liệu được sử dụng để phân tích, đánh giá trong

luận văn có nguồn gốc rõ ràng và được tổng hợp từ những nguồn thông tin đáng tin

cậy Nội dung luận văn đảm bảo không sao chép bất cứ công trình nghiên cứu nào khác

TP.HCM, ngàytháng năm 2015

Tác giả

Nguyễn Thị Trâm

Trang 4

M ỤC LỤC

TRANG PH ỤBÌA

L ỜI CAM ĐOAN

M ỤC LỤC

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH M ỤC CÁC HÌNH

DANH M ỤC CÁC BẢNG

TÓM T ẮT 1

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 2

1.1 Lý do chọn đề tài 2

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 4

1.3 Phạm vi nghiên cứu 4

1.4 Phương pháp nghiên cứu 5

1.5 Kết cấu của luận văn 5

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7

2.1 Lý thuyết về quản trị công ty 7

2.1.1 Lý thuyết người đại diện 7

2.1.2 Lý thuyết về quản trị 8

2.1.3 Lý thuyết ràng buộc các nguồn nhân lực 9

2.1.4 Lý thuyết các bên liên quan 10

2.2 Vai trò của Hội đồng quản trị 11

2.2.1 Vai trò kiểm soát 12

Trang 5

2.2.2 Vai trò hỗ trợ 14

2.2.3 Vai trò chiến lược 14

2.3 Đặc điểm Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động công ty 17

2.3.1 Quy mô Hội đồng quản trị 18

2.3.1.1 Mối quan hệ nghịch biến 18

2.3.1.2 Mối quan hệ đồng biến 19

2.3.1.3 Không có mối quan hệ 19

2.3.1.4 Kết luận 20

2.3.2 Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị 20

2.3.2.1 Mối quan hệ đồng biến 20

2.3.2.2 Mối quan hệ nghịch biến 21

2.3.2.3 Không có mối quan hệ 21

2.3.2.4 Kết luận 21

2.3.3 Quyền kiêm nhiệm 22

2.3.3.1 Mối quan hệ nghịch biến 22

2.3.3.2 Mối quan hệ đồng biến 22

2.3.3.3 Không có mối quan hệ 23

2.3.3.4 Kết luận 24

2.3.4 Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành 24

2.3.5 Tỷ lệ sở hữu vốn của Hội đồng quản trị 25

CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN C ỨU 27

3.1 Khung tiếp cận nghiên cứu 27

3.2 Giả thuyết nghiên cứu 28

3.2.1 Quy mô HĐQT 29

3.2.2 Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị 30

3.2.3 Tỷ lệ sở hữu vốn của Hội đồng quản trị 31

Trang 6

3.2.4 Quyền kiêm nhiệm 31

3.2.5 Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành 32

3.2.6 Biến điều tiết quy mô Hội đồng quản trị 33

3.3 Phương pháp nghiên cứu 33

3.3.1 Mẫu nghiên cứu 33

3.3.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 35

3.3.3 Biến đo lường 35

3.3.3.1 Biến phụ thuộc (Hiệu quả hoạt động công ty) 35

3.3.3.2 Biến độc lập (biến giải thích) 36

3.3.3.3 Biến kiểm soát 38

3.3.4 Quy trình nghiên cứu 41

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

4.1 Đặc điểm mẫu nghiên cứu 43

4.2 Kết quả thực nghiệm đo lường hiệu quả hoạt động bằng TobinQ 48

4.2.1 Ma trận tương quan và kiểm định đa cộng tuyến 48

4.2.2 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan 49

4.2.3 Kết quả hồi quy 50

4.3 Kết quả thực nghiệm đo lường hiệu quả hoạt động bằng ROA 52

4.4 Kết quả thực nghiệm về vai trò điều tiết của quy mô HĐQT 55

4.5 Thảo luận kết quả 57

4.5.1 Quy mô Hội đồng quản trị 58

4.5.2 Thành viên nữ trong Hội đồng quản trị 59

4.5.3 Tỷ lệ sở hữu vốn của Hội đồng quản trị 59

4.5.4 Quyền kiêm nhiệm 60

Trang 7

4.5.5 Thành viên Hội đồng quản trị không điều hành 60

4.5.6.Biến điều tiết quy mô Hội đồng quản trị 61

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 63

5.1 Những điểm chính trong luận văn 63

5.2 Tóm tắt kết quả nghiên cứu 64

5.2.1 Mối quan hệ cùng chiều 64

5.2.2 Mối quan hệ ngược chiều 65

5.2.3 Không có mối quan hệ 65

5.2.4 Mối quan hệ tương tác 65

5.3 Giới hạn và hướng nghiên cứu 65

TÀI LI ỆU THAM KHẢO

PH Ụ LỤC

Phụ lục 1: Các kết quả kiểm định khi đo lường hiệu quả hoạt động bằng TobinQ

Phụ lục 2: Các kết quả kiểm định khi đo lường hiệu quả hoạt động bằng ROA

Phụ lục 3: Các kết quả hồi quy theo phương trình (1) khi đo lường hiệu quả hoạt động bằng TobinQ

Phụ lục 4: Các kết quả hồi quy theo phương trình (1) khi đo lường hiệu quả hoạt động bằng ROA

Phụ lục 5: Các kết quả hồi quy theo phương trình (2) khi đo lường hiệu quả hoạt động bằng TobinQ

Phụ lục 6: Các kết quả hồi quy theo phương trình (2) khi đo lường hiệu quả hoạt động bằng ROA

Trang 8

DANH M ỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

HOSE – Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh HASTC – Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội

HĐQT – Hội đồng quản trị

REM – Mô hình hiệu ứng ngẫu nhiên

FEM – Mô hình hiệu ứng cố định

Trang 9

DANH M ỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Khung tiếp cận nghiên cứu 28

Hình 4.1: Chỉ số VNIndex giai đoạn từ tháng 01/2007 đến tháng 12/2013……… 44

Trang 10

DANH M ỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Mối liên hệ giữa lý thuyết quản trị công ty với vai trò của HĐQT 16

Bảng 3.1: Bảng so sánh điều kiện niêm yết các công ty trên HOSE và HATSC 34

Bảng 3.2: Bảng mô tả các biến đo lường sử dụng trong nghiên cứu 40

Bảng 4.1: Bảng tần suất phân bổ của đặc điểm Hội đồng quản trị 45

Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả các biến quan sát 47

Bảng 4.3: Bảng ma trận tương quan giữa các biến 48

Bảng 4.4: Bảng kiểm định phương sai thay đổi và hiện tượng tự tương quan 49

Bảng 4.5: Kiểm định Hausman 50

Bảng 4.6: Bảng kết quả hồi quy (phương pháp FEM có hiệu chỉnh Robust Error) 51 Bảng 4.7: Bảng kết quả hồi quy với biến phụ thuộc ROA (phương pháp FEM có hiệu chỉnh Robust Error) 53

Bảng 4.8: Bảng kết quả hồi quy kiểm định tác động điều tiết của biến quy mô HĐQT 56

Bảng 4.9:Tổng lược các mối quan hệ theo kỳ vọng và kết quả hồi quy 57

Trang 11

TÓM T ẮT

Luận văn này đo lường tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị (HĐQT) đến hiệu

quả hoạt động công ty, và đã xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu, cũng như phát triển các giả thuyết nghiên cứu dựa trên việc tham khảo các cơ sở lý thuyết liên quan, từ đó dự đoán về mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty Đặc điểm HĐQT được đo lường từ các biến như: Quy mô HĐQT, thành viên nữ trong HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT, quyền kiêm nhiệm và thành viên HĐQT không điều hành Đồng thời hiệu quả hoạt động công ty được đo lường bằng

chỉ số TobinQ và ROA

Luận văn được thực hiện trên mẫu nghiên cứu bao gồm 89 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) trong giai đoạn 2009-2013 và có tất cả

445 quan sát Luận văn cũng hướng đến việc tìm kiếm phương pháp ước lượng phù

hợp cho nghiên cứu bằng cách sử dụng các kiểm định cho mô hình.Kết quả cho thấy phương pháp ước lượng các nhân tố ảnh hưởng cố định (FEM) có hiệu chỉnhRobust Errorkhắc phục hiện tượng phương sai thay đổi là phù hợp nhất cho mẫu nghiên

cứu Do đó, luận văn sử dụng phương pháp này để ước lượng mô hình hồi quy

Kết quả nghiên cứu thực nghiệm cho thấy, quyền kiêm nhiệm và thành viên nữ trong HĐQT tác động cùng chiều đến hiệu quả hoạt động công ty.Ngược lại thành viên HĐQT không điều hành có tác động ngược chiều với hiệu quả hoạt động công

ty Tuy nhiên, trong luận văn này, quy mô HĐQT và tỷ lệ sở hữu vốn của thành viên HĐQT chưa thể kết luận tác động của hai yếu tố này đến hiệu quả hoạt động công ty

Trang 12

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

chức năng tư vấn của HĐQT bao gồm cung cấp những hướng dẫn và định hướng chiến lược cho tổng giám đốc và tiếp cận những nguồn lực, thông tin quan trọng cho công ty Chức năng này được thực hiện từ các thành viên HĐQT bên trong và bên ngoài công ty Đối với chức năng giám sát, theo Jensen và Meckling (1976) cho

rằng, HĐQT có chức năng giám sát các nhà quản lý để giảm thiểu chi phí người đại

diện và HĐQT cần phải có chức năng giám sát hiệu quả để bảo vệ lợi ích cho cổ đông Việc giám sát một cách hiệu quả các giám đốc điều hành sẽ phụ thuộc rất nhiều vào đặc điểm và tính hiệu quả trong hoạt động của HĐQT Qua đó thấy được hai chức năng tư vấn và giám sát rất quan trọng để đảm bảo hoạt động của các giám đốc luôn đi theo lợi ích của cổ đông, đảm bảo hiệu quả hoạt động cho công ty Thấy được vai trò quan trọng của HĐQT nên theo quan điểm quản trị công ty, cổ đông nên quan tâm đến các đặc điểm của HĐQT vì đặc điểm HĐQT có mối liên hệ với

hiệu quả hoạt động công ty

Trên thế giới có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm HĐQT tác động đến hiệu

quả hoạt động công ty theo nhiều góc độ nghiên cứu khác nhau như: Quy mô HĐQT (Shakir, 2008; Guest, 2009; O’Connell và Cramer, 2010),cấu trúc của HĐQT (Bhagat và Black, 1999; Ness và cộng sự, 2010), quyền kiêm nhiệm (Gill và Mathur, 2011; Peni, 2012), tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT (Uwalomwa và Olamide, 2012)

Trang 13

Tuy nhiên các công trình nghiên cứu ở nhiều góc độ như đề cập trên được nghiên

cứu ở nhiều quốc gia khác nhau và các kết quả về sự tác động vẫn chưa đi đến

thống nhất Cụ thể:

• Giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty có mối quan hệ ngược chiều (Guest, 2009; O’Connell và Cramer, 2010) và không có mối liên hệ nào (Beiner, 2004; Topak, 2011)

• Giữa thành viên nữ và hiệu quả hoạt động công ty có mối quan hệ cùng chiều (Cater và cộng sự, 2003; Hebble, 2007) và không có mối liên hệ nào (Rose, 2007; Marinova và cộng sự, 2010)

• Giữa tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty có mối quan hệ cùng chiều (Yermack, 1996; Uwalomwa và Olamide, 2012) và mối quan hệ ngược chiều(Shah và cộng sự, 2010)

• Giữa quyền kiêm nhiệm và hiệu quả hoạt động công ty có mối quan hệ cùng chiều(Gill và Mathur, 2011; Peni, 2012) và mối quan hệ ngược chiều(Kyereboah-Coleman và Biekpe, 2006; Rouf, 2011)

• Giữa các thành viên HĐQT không điều hành với hiệu quả hoạt động công ty

có mối quan hệ cùng chiều (Yermack, 2006; Fields và cộng sự, 2011) và không có mối liên quan nào (Bhagat và Black, 2002)

Tuy nhiên, ở Việt Nam từ thời điểm thị trường chứng khoán thành lập tới nay, tuy

thấy rõ tầm quan trọng của HĐQT ngày càng gia tăng nhưng các nghiên cứu thực nghiệm về đặc điểm của HĐQT ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty là rất ít Đối với các công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam chưa thực sự

hiểu về quản trị công ty do thiếu cơ sở lý thuyết quản trị công ty cũng như lý thuyết

về vai trò, đặc điểm của HĐQT, nên có những sai phạm về công bố thông tin, cấu trúc HĐQT không hợp lý dẫn đến sự suy giảm hiệu quả hoạt động của các công ty niêm yết

Trang 14

Xuất phát từ những nghiên cứu liên quan đến đặc điểm của HĐQT trong và ngoài nước, luận văn nghiên cứu: “Tác động của đặc điểm Hội đồng quản trị đến hiệu quả

hoạt động công ty” là rất cần thiết

1.2 M ục tiêu nghiên cứu

Nghiên cứu này được thực hiện với mục tiêu là kiểm định nhằm đưa ra bằng chứng

thực nghiệm về sự tác động của đặc điểm HĐQT tới hiệu quả hoạt động của các công ty ở thị trường chứng khoán Việt Nam, từ đó góp phần giúp các doanh nghiệp

Việt Nam xây dựng cơ chế quản trị công ty một cách hiệu quả, đảm bảo hiệu quả

hoạt động của công ty

Với mục tiêu như trên, có những câu hỏi nghiên cứu đặt ra:

• Có sự tác động của đặc điểm HĐQT lên hiệu quả hoạt động của công ty hay không?

• Nếu đặc điểm của HĐQT tác động lên hiệu quả hoạt động công ty thì nó sẽ tác động như thế nào?

1.3 Ph ạm vi nghiên cứu

Đối tượng mà luận văn hướng đến là đặc điểm của HĐQT ở các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM (HOSE) Mẫu nghiên cứu trong luận văn

giới hạn trong phạm vi không bao gồm các tổ chức tín dụng hoạt động trong lĩnh

vực tài chính như: ngân hàng, bảo hiểm, các công ty chứng khoán và các quỹ đầu

tư Lý do loại ra các công ty ở lĩnh vực tài chính là bởi vì các công ty này có môi trường kinh doanh đặc thù, tính đặc thù ở đây thể hiện ở chỉ số tài chính lớn và điều

kiện pháp lý tuân thủ Do đó kết quả sẽ bị sai lệch khi mẫu nghiên cứu bao gồm các công ty này

Các dữ liệu nghiên cứu được lấy từ báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của 89 công ty niêm yết trên HOSE trong giai đoạn từ năm 2009-2013 Luận văn chọn giai

Trang 15

đoạn này vì thị trường chứng khoán Việt Nam bắt đầu sôi động từ năm 2006, đồng

thời quy định của Bộ tài chính về quản trị công ty có hiệu lực đầu năm 2007 và năm

2009 là năm mà thế giới vừa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, đã ít nhiều ảnh hưởng tới các doanh nghiệp Việt Nam, do đó nghiên cứu từ năm 2009 để thấy được

những thay đổi của các doanh nghiệp Việt Nam và xem xét được những hướng phát triển tiếp theo một cách hợp lý

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Đầu tiên, các lý thuyết liên quan đến vấn đề nghiên cứu của luận văn sẽ được lược

khảo.Sau đó, luận văn sẽ xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và mô hình nghiên

cứu.Trong mô hình nghiên cứu, biến phụ thuộc là hiệu quả hoạt động công ty Các

biến độc lập bao gồm: quy mô HĐQT, thành viên nữ trong HĐQT, tỷ lệ sở hữu vốn

của HĐQT, quyền kiêm nhiệm và thành viên HĐQT không điều hành Kết quả thực nghiệm từ mô hình hồi quy sẽ được sử dụng là cơ sở chấp nhận hay bác bỏ giả thuyết nghiên cứu Ngoài ra, luận văn sẽ mở rộng để tìm hiểu vai trò của quy mô HĐQT như một biến điều tiết,tác động lên mối quan hệ giữa thành viên HĐQT không điều hành và hiệu quả hoạt động công ty Luận văn cũng sử dụng kết quả hồi quy để giải thích vấn đề này

Dữ liệu của luận văn sẽ được thu thập từ các báo cáo tài chính và báo cáo thường niên của các công ty niêm yết trên HOSE trong giai đoạn 2009-2013 Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu bảng.Luận văn sẽ sử dụng phương pháp ước lượng mô hình

hồi quy thích hợp và kiểm soát được các khuyết tật của mô hình

1.5 K ết cấu của luận văn

Luận văn gồm năm chương Các chương bố cục như sau:

Chương một giới thiệu tổng quan nghiên cứu và tầm quan trọng khi thực hiện luận

văn này

Trang 16

Chương hai trình bày cơ sở lý thuyết quản trị công ty, lý thuyết về vai trò của

HĐQT, và những nghiên cứu thực nghiệm trước đây về tác động của đặc điểm HĐQT lên hiệu quả hoạt động công ty

Chương ba sẽ xây dựng khung tiếp cận nghiên cứu, từ đó các giả thuyết nghiên cứu

và mô hình nghiên cứu sẽ được xây dựng Đồng thời chương này sẽ trình bày rõ phương pháp nghiên cứu, cách thức chọn mẫu và cách đo lường các biến nghiên

cứu

Chương bốn thể hiện kết quả nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận kết quả nghiên

cứu

C hương năm sẽ tóm tắt lại các điểm chính trong luận văn và những đóng góp của

luận văn, đồng thời cũng sẽ chỉ ra những giới hạn trong nghiên cứu và các hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Các lý thuyết liên quan đến quản trị công ty, đặc điểm Hội đồng quản trị (HĐQT)

của công ty, trong đó nhấn mạnh đến các lý thuyết về vai trò của của HĐQT và hiệu

quả hoạt động công ty sẽ được khảo sát trong chương này Chương này gồm 3 phần:

- Lý thuyết cơ bản về quản trị công ty;

- Các vai trò của HĐQT;

- Đặc điểm HĐQT ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty

2.1 Lý thuy ết về quản trị công ty

Các lý thuyết quản trị công ty được xem là nền tảng và có mối liên quan đến vai trò

của HĐQT, ngoài ra lý thuyết về quản trị công ty có thể được sử dụng làm cơ sở

giải thích cho sự tác động của đặc điểm HĐQT đến giá trị của công ty Phần này sẽ trình bày tổng quan bốn khung lý thuyết chính về quản trị công ty, bao gồm: Lý thuyết người đại diện, lý thuyết về quản trị, lý thuyết ràng buộc các nguồn lực và

cuối cùng là lý thuyết các bên liên quan

2.1.1.Lý thuy ết người đại diện

Lý thuyết người đại diện của Jensen và Meckling (1976, trang 5) là một trong

những công trình nghiên cứu về hành vi quản lý, chi phí đại diện và cấu trúc sở hữu công ty, tác giả đưa ra định nghĩa về lý thuyết người đại diện: “Lý thuyết người đại

diện tập trung vào mối quan hệ như một hợp đồng giữa người chủ và người thừa hành, theo đó người chủ thuê người thừa hành và người thừa hành sẽ đại diện người

chủ thực hiện một số nhiệm vụ và được phép đưa ra những quyết định liên quan” Tuy nhiên người thừa hành không phải bao giờ cũng hành động vì lợi ích cao nhất

của người chủ, cả hai bên đều mong muốn tối đa hoá lợi ích của mình, tuy nhiên điều kiện để tối đa hoá lợi ích của hai bên không giống nhau Cổ đông mong muốn

tối đa hoá lợi ích của mình thông qua việc tăng giá trị của doanh nghiệp, còn lợi ích

Trang 18

của nhà quản lý thường gắn trực tiếp với thu nhập nhận được Do đó người chủ phải giám sát người thừa hành và phải tốn chi phí giám sát Đồng thời người thừa hành

sẽ chấp nhận gánh chịu những chi phí ràng buộc Mâu thuẫn về lợi ích cũng tạo ra nhưng mất mát về phụ trội do lợi ích không được tối đa hóa Tổng chi phí giám sát, chi phí ràng buộc và mất mát phụ trội gọi là chi phí đại diện

Để kiểm soát chi phí đại diện có nhiều cơ chế, theo Jensen và Meckling (1976) việc

sử dụng đòn bẩy tài chính có thể làm giảm chi phí đại diện, thiết kế hợp đồng khuyến khích dưới dạng sở hữu cổ phần và quyền chọn cổ phiếu để tập trung nỗ lực

của nhà quản lý vào lợi ích của cổ đông Còn theo Jensen và Ruback (1983) cho

rằng mối đe dọa của công ty bị thâu tóm thù địch cũng có thể làm giảm chi phí đại

diện Ngoài ra, khuyến nghị việc chia cổ tức sẽ làm giảm chi phí đại diện vì chia cổ

tức là một dạng khích lệ đồng thời hạn chế các nhà quản lý lạm dụng dòng tiền tự

Theo lý thuyết quản trị, nếu chỉ theo quan điểm người đại diện là giả định con người

có tính tư lợi và khuynh hướng cá nhân thì mối quan hệ trong tổ chức sẽ càng phức

tạp hơn Từ quan điểm trên lý thuyết về quản trị ra đời để có cái nhìn một cách toàn

diện về vấn đề quản trị công ty

Lý thuyết về quản trị cho rằng, người quản lý là những cá nhân có động cơ, nhu cầu thúc đẩy làm việc.Theo (Donalson và Davis,1991) cho rằng người quản lý sẽ thể

hiện bản thân khi thực hiện công việc kinh doanh một cách hoàn hảo mà vốn dĩ vô cùng thách thức.Đồng thời người quản lý thực thi quyền hạn và trách nhiệm của mình để ngàỳ càng nhận được sự công nhận của đồng nghiệp và quản lý cấp

Trang 19

cao.Những tác giả theo thuyết quản trị cho rằng, hiệu quả hoạt động của công ty

phụ thuộc rất lớn vào các giám đốc trực tiếp điều hành, những người này luôn tối đa hóa lợi nhuận cho cổ đông Với sự hiểu biết và nắm rõ về doanh nghiệp, các giám đốc trực tiếp điều hành sẽ thực thi những quyết định tốt hơn các giám đốc độc lập thuê ngoài Do đó nên có một tỷ lệ thiết yếu các giám đốc điều hành bên trong cấu trúc HĐQT để đảm bảo về mặt ảnh hưởng và ra quyết định hiệu quả hơn

Trái ngược với quan điểm lý thuyết người đại diện, quan điểm thuộc trường phái lý thuyết quản trị cho rằng những nhà quản lý là những cá nhân thật sự đáng tin cậy,

và những nhà quản lý này luôn tối thiểu hóa chi phí đại diện vốn dĩ luôn tồn tại trong công ty Lý thuyết quản trị nhận ra tầm quan trọng của cơ cấu trao quyền cho người quản lý và trao quyền tự chủ tối đa dựa trên sự tin tưởng và khuyến khích các giám đốc điều hành tốt hơn để tối đa hóa giá trị cổ đông Theo (Hung, 1998) lý thuyết quản trị được xem là một lý thuyết thuộc trường phái tích cực và vai trò của HĐQT đóng góp về mặt tổng thể cho lý thuyết này

2.1.3.Lý thuy ết ràng buộc các nguồn nhân lực

Lý thuyết ràng buộc các nguồn nhân lực nghiên cứu về ảnh hưởng của nguồn lực bên ngoài đến hành vi của tổ chức, tập trung vào vai trò liên kết của nguồn lực bên ngoài vào doanh nghiệp dựa trên mối quan hệ của các thành viên HĐQT Ở đây các thành viên HĐQT vừa có thể hoạt động trong nhiều công ty, nhiều lĩnh vực, họ vừa đảm nhiềm vị trí quản lý ở cơ quan này, đồng thời đảm nhiệm vị trí quản lý ở cơ quan khác Những thành viên này sẽ làm cấu nối doanh nghiệp với các nguồn lực bên ngoài Với nghiên cứu Pearce và Zahra (1991) cho rằng HĐQT là một cơ chế trong công ty để định hình mối liên kết với các môi trường bên ngoài công ty, đồng

thời tiếp nhận các nguồn lực có sức ảnh hưởng và tầm quan trọng để làm bước đệm cho công ty đương đầu với những bất lợi trong môi trường kinh doanh

Lý thuyết ràng buộc các nguồn lực bên ngoài cung cấp nền tảng lý thuyết về việc coi vai trò của HĐQT như là một nguồn lực trong công ty (Hillman và cộng sự,

Trang 20

2000) Nguồn lực đối với doanh nghiệp là vô cùng quan trọng trong việc kiểm soát

và có tính cốt yếu cho sự tăng trưởng của doanh nghiệp Do đó nghiên cứu của Bathula (2008) cho rằng cấu trúc quản trị công ty và các thành phần cấu thành HĐQT được xem xét như một nguồn lực có thể làm gia tăng giá trị doanh nghiệp

Nguồn lực bên ngoài đóng vai trò quan trọng và cần thiết cho công ty, HĐQT giữ vai trò cầu nối giữa công ty với các nguồn lực, và các công ty luôn nỗ lực cố gắng

kiểm soát môi trường kinh doanh bằng các chọn lọc những nguồn lực cần thiết để

tồn tại và phát triển Do đó việc bổ nhiệm các thành viên bên ngoài vào HĐQT sẽ góp phần gia tăng khả năng tiếp nhận các nguồn lực, đóng vai trò quan trọng quyết định thành công của công ty Theo (Hillman và cộng sự, 2000), với vai trò ràng

buộc các nguồn nhân lực, thành viên HĐQT bên ngoài sẽ đem về nhiều nguồn lực cho công ty như: việc tiếp nhận và phản hồi thông tin, các kỹ năng và tri thức, khả năng tiếp cận các thành phần then chốt và tính hợp pháp trong hoạt động kinh doanh

2.1.4.Lý thuy ết các bên liên quan

Không chỉ giữ quan điểm rằng HĐQT phải đảm bảo lợi ích cho cổ đông như lý thuyết người đại diện, lý thuyết các bên liên quan còn mở rộng ra rằng HĐQT ngày nay còn phải hướng đến lợi ích của các nhóm liên quan khác nhau Nhóm các bên liên quan khác nhau này bao gồm các nhóm lợi ích có mối quan hệ thiết yếu đến

yếu tố xã hội, môi trường và ứng xử văn hóa.Và chính sự thay đổi trong vai trò của HĐQT đã dẫn đến sự phát triển của lý thuyết các bên liên quan

Về định nghĩa các bên liên quan cũng có nhiều nghiên cứu đề cập, theo (Freeman, 1984), một trong những tác giả đầu tiên đề xuất lý thuyết các bên liên quan cho

rằng, các bên liên quan là một nhóm cá nhân hay cá nhân có thể ảnh hưởng hay chịu ảnh hưởng từ những thành tựu đạt được khi thực hiện mục tiêu doanh nghiệp đề ra Các bên liên quan là những nhóm cá nhân hoặc tổ chức có những lợi ích hợp pháp

thể hiện trong từng khía cạnh riêng biệt hay tính hình thức hoạt động của công ty

Trang 21

Theo đó các bên liên quan là tập hợp nhiều nhóm cá nhân cùng tham gia và những nhóm cá nhân này sẽ theo đuổi những mục tiêu khác nhau Do đó các nhà điều hành trong công ty sẽ có hành vi quản lý tùy thuộc vào vị thế bên liên quan của họ như

2.2 Vai trò c ủa Hội đồng quản trị

Quản trị công ty cũng bao hàm mối quan hệ giữa nhiều bên, không chỉ trong nội bộ công ty cổ phần như các cổ đông, ban giám đốc điều hành, HĐQT mà còn những bên có lợi ích liên quan bên ngoài công ty: cơ quan quản lý Nhà nước, các đối tác kinh doanh và cả môi trường, cộng đồng, xã hội

Do đó, HĐQT là một yếu tố quản trị bên trong của công ty, đại diện cho sự liên kết

giữa những cá nhân cung ứng vốn với những cá nhân được phép sử dụng những nguồn vốn đó để tại ra lợi nhuận cho công ty (Fama và Jensen, 1983)

Theo Luật doanh nghiệp ban hành bởi Quốc Hội Việt Nam (2005): “HĐQT là cơ quan quản lý công ty, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông” HĐQT được xem là hoạt động hiệu quả khi cơ quan này thực hiện tất cả các vai trò

của mình một cách thành công.Nói về vai trò của HĐQT công ty đã có nhiều công trình nghiên cứu trước đây thừa nhận các vai trò khác nhau của HĐQT Theo nghiên cứu Pfeffer và Salancik (1978) thì HĐQT có ba vai trò chính: (i) Tinh lọc cách tiếp cận các nguồn lực quan trọng đối với doanh nghiệp; (ii) kiểm soát các yếu

Trang 22

tố biên gây cản trở đến doanh nghiệp và (iii) gia tăng tính pháp lý cho tổ chức Nghiên cứu của Hung (1998), theo tác giả có 6 vai trò chính của HĐQT gồm: (1)

kết nối tổ chức với môi trường bên ngoài, (2) điều phối lợi ích cho cổ đông,các bên liên quan và công chúng, (3) kiểm soát hành vi quản lý để đảm bảo doanh nghiệp đạt được mục tiêu, (4) đưa ra chiến lược rõ ràng, (5) luôn duy trì tình trạng hoạt động ổn định và hiệu quả cho công ty, (6) hỗ trợ cho các cấp quản lý Ngoài ra theo (Hillman và Dalziel, 2003) cho rằng, HĐQT có hai vai trò chính đó là kiểm soát doanh nghiệp và cung cấp cách tiếp cận các nguồn lực

Công trình nghiên cứu về vai trò của HĐQT được công nhận gần đây của Babic và

cộng sự (2011).Trong nghiên cứu này tác giả phân tích sự phát triển của vai trò HĐQT gắn liền với sự phát triển các quan điểm về lý thuyết quản trị công ty Tác

giả xác định ba vai trò chính của HĐQT gồm: (1) Vai trò kiểm soát, (2) vai trò hỗ

trợ, (3) vai trò chiến lược Quan điểm của tác giả đã nêu lên được mối quan hệ giữa

cấu trúc và phương thức hoạt động của HĐQT, đồng thời thể hiện được hiệu quả trong vai trò của HĐQT

Bài nghiên cứu này vai trò của HĐQT sẽ được trình bày theo hướng tiếp cận của Babic và cộng sự (2011) Theo cách tiếp cận này, các vai trò của HĐQT sẽ được liên kết tương ứng với các lý thuyết quản trị công ty.Mỗi liên kết này rất hữu ích và quan trọng trong việc giải thích đặc điểm HĐQT ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty, đây cũng chính là mục tiêu mà bài nghiên cứu này hướng tới Do đó, vai trò của HĐQT bao gồm: Vai trò kiểm soát, vai trò hỗ trợ và cuối cùng là vai trò chiến lược, mỗi vai trò đều có tầm quan trọng riêng và không thể thiếu trong vai trò

của HĐQT

2.2.1.Vai trò ki ểm soát

Theo (Fama và Jensen,1983) HĐQT là một cơ chế quản trị nội bộ, có quyền kiểm soát các nhà quản lý thông qua các quy trình ra quyết định, phê chuẩn và giám sát Tác giảcho rằng quy trình ra quyết định gồm bốn bước: (1) Khởi xướng, (2) phê

Trang 23

duyệt, (3) thực hiện và (4) giám sát Trong đó bước khởi xướng và thực hiện do cấp

ra quyết định thực hiện, còn các bước phê chuẩn và giám sát là vai trò cơ bản của HĐQT

Ba vai trò của HĐQT gồm (1) Vai trò kiểm soát, (2) vai trò hỗ trợ, (3) vai trò chiến lược được tập trung nghiên cứu.Trong đó vai trò kiểm soát là vai trò quan trọng

nhất trong ba vai trò trên Đồng thời theo quan điểm người đại diện, tác giả cho rằng

kiểm soát là vai trò quan trọng nhất của HĐQT, và tác giả cũng nêu rõ vai trò kiểm soát cũng liên quan đến trách nhiệm của các thành viên HĐQT thể hiện qua việc đình chỉ tổng giám đốc, giám sát công việc, giải trình các báo cáo kiểm toán và phê duyệt các quyết định

Ngoài ra theo Babic và cộng sự (2011) vai trò kiểm soát của HĐQT còn thể hiện qua việc đánh giá hiệu quả hoạt động của các nhà quản lý cấp cao và có mối quan

hệ đến các hoạt động ra quyết định, liên quan đến các vấn đề tuyển dụng, sa thải các nhà quản lý, hoặc liên quan đến việc giám sát, kiểm soát và xem xét lại hiệu quả công việc của các cấp quản lý, đảm bảo những người điều hành này sẽ hành động vì

lợi ích cho cổ đông

Phân tích rõ về vai trò kiểm soát của HĐQT, vai trò kiểm soát được chia ra làm hai

phần: kiểm soát tài chính và kiểm soát chiến lược Việc kiểm soát tài chính dựa trên

việc đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty và đưa đến việc tối đa lợi nhuận trong

ngắn hạn.Trong khi kiểm soát chiến lược chú trọng đến khả năng sinh lợi và phát triển bền vững của công ty trong dài hạn

Không chỉ dừng lại ở vai trò kiểm soát, vai trò của HĐQT ngày cảng mở rộng để thúc đẩy doanh nghiệp hoạt động ngày càng hiệu quả hơn, HĐQT còn có vai trò tư

vấn, định hướng cho cấp quản lý hay cung cấp những cách tiếp cận các nguồn lực bên ngoài Những công việc này của HĐQT thể hiện vai trò hỗ trợ trong công ty

Trang 24

2.2.2.Vai trò h ỗ trợ

Mỗi vai trò của HĐQT gắn với lý thuyết quản trị công ty tương ứng, vai trò hỗ trợ

của HĐQT khởi nguồn từ quan điểm lý thuyết ràng buộc các nguồn lực và lý thuyết

quản trị Với vai trò hỗ trợ, các thành viên HĐQT sẽ đưa ra những lời tư vấn và ý

kiến chuyên gia, cách tiếp cận các nguồn lực và tính pháp lý trong kinh doanh Đồng thời theo nghiên cứu (Hillman và Dalziel, 2003) các thành viên HĐQT đóng góp vào việc ra quyết định chiến lược bằng cách chỉ ra cách tiếp cận các nguồn lực chính liên quan đến hoạt động kinh doanh Đồng tình với quan điểm này, (Babic và

cộng sự, 2011) cho rằng HĐQT có vai trò hỗ trợ đến các hoạt động ra quyết định như: lựa chọn các yếu tố bên ngoài, nhận ra các mối liên hệ tích cực giữa các thành viên HĐQT và các nhân tố có liên quan để đảm bảo cho công ty có các nguồn lực then chốt, gia tăng danh tiếng cho công ty và tư vấn cho các cấp quản lý công ty trong suốt quá trình ra chiến lược

Ngoài ra, có một hướng tiếp cận khác về vai trò hỗ trợ của HĐQT dựa vào lý thuyết

quản trị Những người theo trường phái lý thuyết này cho rằng HĐQT là một cơ chế chiến lược quan trọng, HĐQT với kiến thức chuyên sâu của mình nên hỗ trợ tổng giám đốc ra quyết định chiến lược Trái ngược với quan điểm người đại diện, theo (Huse, 2006) cho rằng vai trò của HĐQT là hỗ trợ và giúp đỡ các nhà quản lý đạt được mục tiêu của tổ chức chứ không phải kiểm soát họ Tuy nhiên cách tiếp cận vai trò hỗ trợ dựa trên lý thuyết quản trị luôn tồn tại vai trò chiến lược của HĐQT,

do đó sẽ làm lu mờ sự phân biệt giữa vai trò hỗ trợ và vai trò chiến lược của HĐQT

2.2.3.Vai trò chi ến lược

Chiến lược là việc xác định các mục tiêu cơ bản và mục tiêu dài hạn, và việc thông qua các hành động để phân bổ các nguồn lực cần thiết nhằm thực hiện mục tiêu đã

đề ra Đề cập đến vai trò chiến lược của HĐQT theo Schwenk (1988) nghiên cứu về

quản trị chiến lược kết luận rằng, quản trị chiến lược sẽ làm gia tăng khả năng nhận

thức cho những người ra quyết định có tính chiến lược Nghiên cứu về chiến lược

Trang 25

nên tập trung vào lợi thế của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần xác định điểm mạnh

của mình để từ đó hướng đến khả năng đáp ứng cũng như cạnh tranh của mình

Thấy rõ được tầm vai trò chiến lược của HĐQT, các nhà nghiên cứu đề cao đến việc

thực thi chiến lược đó là ra quyết định mang tính chiến lược.Việc ra quyết định chiến lược rất quan trọng vì nó bao hàm nhiều các quyết định quan trọng nền tản như: các công việc cần được thực hiện, các nguồn lực được cam kết và việc thiết lập các tiền lệ đã có trước đây Do đó quyết định chiến lược sẽ quyết định phương hướng hoạt động trong tương lại của doanh nghiệp Các quyết định chiến lược sẽ có

mối quan hệ với các vấn đề cơ bản như: địa điểm phân phối sản phẩm, sản phẩm

sản xuất, vấn đề tài chính, và tất cả các yếu tố này sẽ quyết định đến khả năng tìm

kiếm lợi nhuận của doanh nghiêp Theo (Bathula, 2008) cho rằng HĐQT là một cơ

chế chiến lược quan trọng.HĐQT cần thể hiện rõ vai trò chiến lược, vì những quyết định có tính chiến lược đóng vai trò trọng tâm và ảnh hướng xuyên suốt đến quá trình phát triển của công ty, ảnh hưởng đến sự sống còn của công ty Do đó, HĐQT nên tích cực tham gia vào quá trình ra quyết định chiến lược đồng thời luôn ở trạng thái tốt nhất để đóng góp chiến lược cho công ty Hơn nữa, theo Babic và cộng sự (2011) sự gia tăng các học thuyết về các bên liên quan đã gây áp lực cho HĐQT cần

phải có trách nhiệm hơn nữa với việc ra quyết định

Vậy từ việc khảo sát các lý thuyết quản trị công ty và lý thuyết về vai trò HĐQT, có

thể nhận thấy vai trò HĐQT có mối liên hệ với các lý thuyết về quản trị công ty (Babic và cộng sự, 2011) Luận văn nghiên cứu quá trình phát triển vai trò HĐQT

từ vai trò kiểm soát đến vai trò hỗ trợ và sau cùng là vai trò chiến lược Cùng với lý thuyết quản trị công ty được thực hiện song hành và từ đó luận văn có kết luận:

• Theo lý thuyết người đại diện, vai trò chính của HĐQT là vai trò kiểm soát các nhà quản lý và bảo vệ lợi ích cho cổ đông, giảm chi phí đại diện

• Theo lý thuyết ràng buộc các nguồn lực và lý thuyết quản trị tập trung vào vai trò của HĐQT là hỗ trợ và tư vấn cho các cấp quản lý

Trang 26

• Cuối cùng, lý thuyết các bên liên quan cho rằng HĐQT có vai trò chiến lược trong việc phát triển tính bao quát ở cấp độ cao hơn trong quá trình ra quyết định của doanh nghiệp

Dưới đây là Bảng 2.1 trình bày mối liên kết giữa vai trò HĐQT với các lý thuyết

quản trị:

B ảng 2.1 Mối liên hệ giữa vai trò của HĐQTvớilý thuyết quản trị công ty

VAI TRÒ KI ỂM SOÁT VAI TRÒ H Ỗ TRỢ VAI TRÒ CHI ẾN LƯỢC

• Tối đa hóa giá trị cho cổ

thăng tiến và sa thải

• Phê duyệt các quyết định

• Tư vấn và hỗ trợ cấp quản

• Đại diện cho công ty

• Đảm bảo các nguồn lực then chốt

• Hướng dẫn cấp quản lý hoàn thành mục tiêu công

ty

• Tham gia vào việc định hình và thực hiện chiến lược

• HĐQT là cơ chế chiến lược quan trọng trong

quản trị công ty

• HĐQT và các nhà quản

lý cấp cao là những đối tác chiến lược trong quá trình ra quyết định chiến lược

• HĐQT tham gia vào các quy trình ra quyết định chiến lược và bao quát

hết các giai đoạn của

mỗi quy trình ra quyết định đó

LÝ THUY ẾT NGƯỜI

ĐẠI DIỆN

LÝ THUY ẾT RÀNG BUỘC CÁC NGUỒN NHÂN L ỰC

LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ

LÝ THUY ẾT CÁC BÊN LIÊN QUAN

Ngu ồn : Babic và cộng sự (2011, trang 146)

VAI TRÒ C ỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

LÝ THUYẾT QUẢN TRỊ CÔNG TY

Trang 27

Qua đó thấy được vai trò của HĐQT và các lý thuyết về quản trị công ty có mối liên

kết hết sức chặt chẽ.HĐQT không chỉ thực hiện một vai trò thuần nhất mà có nhiều vai trò khác nhau.Theo giai đoạn phát triển, các nhà nghiên cứu đã xây dựng lý thuyết về quản trị công ty nhằm giải thích cho từng vai trò của HĐQT.Và việc kết

hợp các lý thuyết quản trị công ty, hoặc vận dụng các đặc trưng của từng lý thuyết

quản trị công ty để giải thích tốt cho vai trò của HĐQT vì không có một lý thuyết về

quản trị công ty đơn lẻ nào có thể giải thích hết được vai trò của HĐQT

Nắm rõ vai trò của HĐQT thì HĐQT nên xác định rõ và đảm bảo hiệu quả vai trò

của mình để cải thiện hiệu quả hoạt động kinh doanh Do đó những đặc điểm cụ thể

của HĐQT là đòi hỏi cần thiết

2.3 Đặc điểm Hội đồng quản trị và hiệu quả hoạt động công ty

Thấy rõ vai trò quan trong của HĐQT trong doanh nghiệp, đã có nhiều công trình nghiên cứu về đặc điểm HĐQT với hiểu quả hoạt động công ty Các nghiên cứu này ngày càng được cập nhật và bổ sung Minh chứng từ những nghiên cứu thực nghiệm

đã từng bước làm sáng tỏ các đặc điểm của HĐQT ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động công ty Cụ thể theo nghiên cứu của (Bhagat và Black, 1999; Shakir, 2008)

kết luận rằng các thành viên HĐQT bên trong công tycó mối quan hệ cùng chiều đối vớihiệu quả hoạt động công ty Hiệu quả hoạt động công ty còn ảnh hưởng tích

cực với các thành viên HĐQT bên ngoài không điều hành (Ness và cộng sự, 2010), quyền kiêm nhiệm (Gill và Mathur, 2011; Peni, 2012), tỷ lệ sở hữu của HĐQT (Daraghma, 2010; Uwalomwa và Olamide, 2012)

Ngoài ra, có thêm các nghiên cứu cho thấy hiệu quả hoạt động công ty có mối quan

hệ tích cực với quy mô HĐQT (Kyereboah-Colemanvà Biepke, 2006; Bathula,

2008), ngược lại có quan hệ tiêu cực với quy mô HĐQT (Eisenberg, 1998; Shakir, 2008; Guest, 2009) Hơn nữa số lượng thành viên nữ trong HĐQT có quan hệ tích

cực với hiệu quả hoạt động công ty (Carter, 2003, Smith và cộng sự, 2006)

Trang 28

Qua việc khảo sát các công trình nghiên cứu về đặc điểm HĐQT ảnh hưởng đến

hiệu quả hoạt động công ty, luận văn này sẽ khái quát các đặc điểm của HĐQT thường hay được các nhà nghiên cứu đề cập và nhấn mạnh trong các công trình nghiên cứu.Các đặc điểm HĐQT nghiên cứu trong bài sẽ bao gồm: Quy mô HĐQT,

nữ giới có trong HĐQT, quyền kiêm nhiệm, thành viên HĐQT không điều hành và

tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT

2.3.1.Quy mô H ội đồng quản trị

Đã có nhiều nghiên cứu về tác động của quy mô HĐQT đến hiệu quả hoạt động công ty Đa số các tác giả lập luận rằng, ban đầu HĐQT có quy mô lớn sẽ có những thuận lợi cho công ty trong việc nâng cao chức năng của ban quản trị như việc hỗ

trợ tư vấn, giảm chuyên quyền của các nhà quản lý, tận dụng được nhiều mối quan

hệ của các thành viên HĐQT Tuy nhiên khi quy mô HĐQT tăng lên một mức nào

đó, sẽ xuất hiện những tính phi hiệu quả làm ảnh hưởng bất lợi đến những lợi nhuận ban đầu Khả năng điều phối công việc và trao đổi thông tin là hai vấn đề mà quy

mô HĐQT lớn sẽ phải đối mặt.Nói về số lượng tối ưu thành viên trong HĐQT, Jensen (1993) cho rằng quy mô HĐQT không nên có quá 7 hay 8 người vì khi đó HĐQT sẽ giảm đi các chức năng thật sự của mình và giảm tính giám sát bộ phận

quản lý công ty.Mặt khác theo quan điểm lý thuyết ràng buộc các nguồn lực, (Hillman và cộng sự, 2000) cho rằng HĐQT lớn hơn sẽ có mối liên hệ tích cực đến

hiệu quả hoạt động của công ty, khi đó các nhà điều hành sẽ nhận được những lời tư

vấn, những định hướng tốt hơn

Những nghiên cứu của các tác giả cho thấy quy mô HĐQT tác động đến hiệu quả

hoạt động của công ty theo các chiều hướng khác nhau

2.3.1.1 M ối quan hệ nghịch biến

Có nhiều nghiên cứu có kết luận tác động nghịch biến giữa quy mô HĐQT và hiệu

quả hoạt động công ty, Yermack (1996) quan sát 452 doanh nghiệp thuộc ngành

Trang 29

công nghiệp lớn ở Mỹ trong giai đoạn 1984-1991 và sử dụng chỉ số Tobin’Q để đo lường hiệu quả hoạt động công ty, kết quả là quy mô HĐQT tác động ngược chiều đến hiệu quả hoạt động công ty Đồng quan điểm này, Eisenberg và cộng sự (1998) nghiên cứu 879 công ty tư nhân nhỏ ở Phần Lan và kết luận rằng có mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô HĐQT với chỉ số lợi nhuận ròng trên tổng tài sản (ROA) Ngoài ra, nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) cho rằng vì có quá nhiều người trong HĐQT nên chi phí đại diện sẽ gia tăng, làm cho chủ sở hữu bị phân tán

dẫn đến hạn chế giám sát các giám đốc từ các cổ đông, bởi vì cổ đông này nghĩ đã

có cổ đông khác giám sát rồi

2.3.1.2 M ối quan hệ đồng biến

Đa số các nghiên cứu đều có kết luận mối quan hệ ngược chiều giữa quy mô HĐQT

với hiệu quả hoạt động của công ty, tuy nhiên cũng có một số nghiên cứu phát hiện

ra rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô HĐQT với hiệu quả hoạt động công

ty Công ty với quy mô HĐQT lớn sẽ chiếm ưu thế trong việc nắm bắt và xây dựng

hệ thống thông tin và sẽ có hiệu quả hoạt động cao hơn.Ngoài ra, công ty có quy mô HĐQT lớn sẽ có nhiều trách nhiệm hơn trong việc quản lý, giám sát và miễn nhiệm

những ban điều hành kém hiệu quả Ủng hộ quan điểm trên, theo Bhagat và Black (1999) cho rằng không đủ tính thuyết phục để kết luận mối quan hệ ngược chiều

giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty sau khi tác giả thay đổi phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động Ngoài ra, với việc nghiên cứu dữ liệu gồm 103 công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Anh, Jaafar và El-Shwa (2009) đã tìm thấy kết quả rằng có mối quan hệ cùng chiều giữa quy mô HĐQT và hiệu quả

hoạt động công ty

2.3.1.3 Không có m ối quan hệ

Cùng với những nghiên cứu cho ra kết quả về mối quan hệ cùng chiều hay ngược chiều giữa quy mô HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty, thì còn có những nghiên

cứu không có ý nghĩa thống kê khi nghiên cứu mối liên hệ giữa quy mô HĐQT và

Trang 30

hiệu quả hoạt động công ty Nghiên cứu của Beiner và cộng sự (2004) với bộ dữ

liệu là 165 công ty niêm yết trên thị trường chứng khoán Thụy Sỹ đã không tìm thấy

mối quan hệ nào giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty Cũng với kết

quả tương tự trong nghiên cứu của Topak (2011) khi nghiên cứu 122 doanh nghiệp

ở Thổ Nhĩ Kỳ trong giai đoạn từ năm 2004 đến 2009

2.3.1.4 K ết luận

Vấn đề về mối quan hệ giữa quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty có

những kết quả khác nhau và chưa đi đến thống nhất chung Những kết quả khác nhau do nhiều nguyên nhân, có thể do bối cảnh kinh tế các nước khác nhau, sử dụng phương pháp đo lường khác nhau Song phần lớn các nghiên cứu các tác giảđều khuyến nghị rằng quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động của công ty có mối liên hệ ngược chiều

2.3.2.Thành viên n ữ trong Hội đồng quản trị

Nghiên cứu về ảnh hưởng của nữ giới trong HĐQT theo Daily và cộng sự (1999) cho rằng, nữ giới góp phần tạo nên tính đa dạng cho HĐQT và hoạt động công ty

trở nên hiệu quả hơn Thành viên nữ trong HĐQT làm tăng tính đa dạng và mang

lại nhiều nguồn lực, kiến thức, kỹ năng và thông tin tốt hơn cho HĐQT để thực hiện

tốt vai trò của mình Tuy nhiên mối quan hệ giữa thành viên nữ trong quy mô HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty vẫn có nhiều quan điểm khác nhau

2.3.2.1 M ối quan hệ đồng biến

Không phủ nhận vai trò quan trọng của nữ giới trong thành phần HĐQT, theo nghiên cứu của Carter và cộng sự (2003) xác nhận nhiều tình huống quản trị tích

cực khi có sự hiện diện của thành viên nữ trong thành phần HĐQT, tác giả tìm thấy

mối quan hệ đồng biến giữa tỷ lệ nữ giới trong thành phần HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty Theo nghiên cứu của Adams và Ferreira (2007) nghiên cứu 1024 công ty ở Mỹ, kết luận có mối tương quan giữa biến động giá chứng khoán và tỷ lệ

Trang 31

nữ giới, những công ty có tỷ lệ nữ giới trong HĐQT thấp sẽ có khuynh hướng làm cho giá cổ phiếu công ty biến động hơn và giới hạn nữ giới trong thành phần HĐQT

sẽ làm giảm giá trị công ty Nghiên cứu của Stephenson (2004) nhấn mạnh, nữ giới mang lại các quan điểm khác nhau khi ra quyết định và những quan điểm này rất

cần thiết cho HĐQT

2.3.2.2 M ối quan hệ nghịch biến

Trái ngược với quan điểm ủng hộ tỷ lệ nữ giới trong thành phần HĐQT sẽ mang lại

hiệu quả cho hoạt động công ty, một số quan điểm cho rằng, với một ban điều hành

cấp cao có quá nhiều sự khác biệt dẫn đến tính không đồng thuận, sự hợp tác sẽ trở nên khó khăn và tốn nhiều chi phí Theo Hambrick, Cho và Chen (1996) cho rằng,

một HĐQT không nhất quán và đồng nhất sẽ chậm chạp khi ra quyết định, dẫn đến

một cơ chế ra quyết định kém hiệu quả, làm ngăn cản sức cạnh tranh của công ty

2.3.2.3 Không có m ối quan hệ

Bên cạnh những nhận định cùng chiều cũng như trái chiều về mối quan hệ giữa thành viên nữ trong HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty, thì có những nghiên cứu không nhất quán với những quan điểm trên Trong nghiên cứu của Rose(2007) đối

với các công ty niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Copenhagen (Đan Mạch), tác giả đưa ra kết luận là không có mối tương quan nào giữa hiệu quả hoạt động công ty và tỷ lệ nữ giới có trong HĐQT Cho ra kết quả tương tự với nghiên cứu của Marinova và cộng sự (2010) nghiên cứu trên 102 công ty niêm yết ở Hà Lan và Đan

Mạch, tác giả cũng không tìm thấy mối liên hệ nào giữa tỷ lệ nữ trong thành phần HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty

2.3.2.4 K ết luận

Có nhiều quan điểm về mối quan hệ giữa tỷ lệ nữ trong thành phần HĐQT với hiệu

quả hoạt động công ty như: có mối quan hệ đồng biến, có mối quan hệ nghịch biến

Trang 32

hay không có mối quan hệ Tuy nhiên trong đó có nhiều quan điểm tích cực cho

rằng nữ giới sẽ giúp công ty hoạt động hiệu quả hơn

2.3.3.Quy ền kiêm nhiệm

Khi chủ tịch HĐQT kiêm nhiệm chức vụ tổng giám đốc công ty thì công ty đó có quyền kiêm nhiệm.Nhiều nghiên cứu cho rằng quyền kiêm nhiệm làm giảm tính độc

lập của HĐQT, tuy nhiên tồn tại những quan điểm khác nhau về mối quan hệ giữa quyền kiêm nhiệm với hiệu quả hoạt động công ty

2.3.3.1 M ối quan hệ nghịch biến

Vai trò của HĐQT trong việc giám sát các nhà quản lý sẽ bị cản trở khi có sự chuyên quyền về quản lý và kiểm soát các quyết định của một cá nhân (Fama và Jensen, 1983) Không những vậy, theo Jensen (1993) cho rằng HĐQT sẽ gặp khó khăn vì phải chịu việc trách nhiệm với những hành động không mong muốn của ban điều hành cấp cao khi hạn chế các giám đốc độc lập Xung đột về lợi ích và chi phí đại diện có khuynh hướng tăng cao hơn khi một cá nhân cùng đảm nhận hai vị trí Tác giả cũng cho rằng hoạt động của doanh nghiệp sẽ hiệu quả hơn khi tổng giám đốc điều hành và chủ tịch HĐQT là hai người khác nhau Việc tách bạch vấn đề kiêm nhiệm giữa chủ tịch HĐQT với tổng giám đốc công ty sẽ tối thiểu hóa xung đột giữa các giám đốc và thành viên HĐQT, do đó sẽ ảnh hưởng tích cực đến hiệu

quả hoạt động công ty(Kyereboah-Coleman và Biekpe, 2006) Ngoài ra, Rouf (2011) đã tìm thấy tác động ngược chiều với chỉ số sinh lời trên tổng vốn chủ sở

hữu (ROA) khi có sự hiện hữu quyền kiêm nhiệm trong công ty khi điều tra 93 doanh nghiệp ởBangladesh trong năm 2006

2.3.3.2 M ối quan hệ đồng biến

Theo nhiều nghiên cứu với quan điểm người đại diện cho rằng hiệu quả hoạt động công ty sẽ gia tăng khi có sự tách biệt quyền kiêm nhiệm, tuy nhiên vẫn có nhiều nghiên cứu chứng minh những lợi ích từ quyền kiêm nhiệm Theo Donalson và

Trang 33

Davis (1991) cho rằng, tổng giám đốc là nhà quản trị và công việc của họ sẽ thuận

lợi nhất khi cấu trúc quản trị công ty trao cho họ những quyền hành và khả năng tự quyết cao hơn.Khi đó tổng giám đốc cũng là chủ tịch HĐQT, cá nhân đó sẽ sẵn lòng làm việc nhiều hơn cho công ty và đem lại hiệu quả cao hơn trong hoạt động của công ty.Theo Davis và Schoorman (1997), công việc quản trị sẽ tối đa hóa những

hữu dụng của các nhà quản lý khi họ đạt được mục tiêu cho tổ chức hơn là mục đích

tư lợi cá nhân Tác giả cũng cho là nhà lãnh đạo sẽ tạo ra được phong thái lãnh đạo

rõ ràng và dứt khoát hơn trong việc định hình chiến lược và thực thi chiến lược công ty khi có quyền kiêm nhiệm Từ đó tạo ra giá trị và hiệu quả hoạt động công ty

tốt hơn Ngoài ra khi nghiên cứu 91 công ty thuộc nhóm ngành sản xuất niêm yết trên sở giao dịch chứng khoán Toronto, Gill và Mathur (2011) đã phát hiện ra rằng

có mối quan hệ cùng chiều giữa quyền kiêm nhiệm với giá trị công ty thuộc nhóm ngành sản xuất

Nghiên cứu với kết quả tương tự của tác giả Peni (2012), tác giả đã chứng minh được mối quan hệ cùng chiều giữa quyền kiêm nhiệm và hiệu quả hoạt động công

ty khi nghiên cứu 300 công ty đăng tải thông tin tài chính trên S&P 500 giai đoạn 2006-2010

2.3.3.3 Không có m ối quan hệ

Ngoài những nghiên cứu có kết quả về tác động cùng chiều hay ngược chiều giữa quyền kiêm nhiệm với hiệu quả hoạt động công ty, thì nghiên cứu của Baliga và

cộng sự (1996) minh chứng rằng có rất ít mối liên hệ giữa quyền kiêm nhiệm và

hiệu quả hoạt động công ty Tương tự nghiên cứu các công ty trên hệ thống COMPUSTAT của Chen, Lin và Yi (2008) cũng kết luận rằng không có ý nghĩa

thống kê về mối quan hệ giữa quyền kiêm nhiệm và hiệu quả hoạt động công ty

Trang 34

2.3.3.4 K ết luận

Giải thích mối quan hệ giữa quyền kiêm nhiệm với hiệu quả hoạt công ty vẫn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều nhau, lý thuyết người đại diện giải thích cho mối quan hệ ngược chiều và lý thuyết quản trị giải thích cho mối quan hệ cùng chiều.Tác động

của quyền kiêm nhiệm lên hiệu quả hoạt động công ty còn tùy thuộc vào đặc trưng

nền kinh tế của từng quốc gia, truyền thống hoạt động của từng công ty, mức nghiêm trọng của vấn đề đại diện

2.3.4.Thành viên H ội đồng quản trị không điều hành

Thành viên HĐQT không điều hành là thành viên thuộc HĐQT nhưng không tham gia vào việc điều hành công ty và không có bất kỳ lợi ích nào với công ty Số lượng thành viên HĐQT không điều hành có xu hướng gia tăng khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng khó khăn Khi doanh nghiệp gặp khó khăn, HĐQT sẽ tuyển dụng thêm các thành viên không điều hànhđể những thành viên mới này cải thiện được tình

trạng khó khăn của công ty.Thành viên HĐQTkhông điều hành là chìa khóa giải quyết xung đột lợi ích giữa cổ đông lớn và cổ đông nhỏ.Bởi thành viên HĐQTkhông điều hànhtạo được đối trọng với các cổ đông lớn ở HĐQT, bảo vệ lợi ích chung cũng như cổ đông nhỏ, họ mang đến góc nhìn từ bên ngoài về chiến lược

kiểm soát, mang đến kỹ năng và kiến thức mới cho công ty

Theo Beasley (1996) điều tra 150 công ty trong giai đoạn 11 năm và phát hiện ra

rằng, một nữa công ty trong số đó có vấn đề về gian lận tài chính, và những công ty không gian lận về tài chính thì tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hànhcao hơn so

với các công ty gian lận liên quan đến báo cáo tài chính Như vậy có thể thấy rằng đối với những công ty có tỷ lệ thành viên HĐQT không điều hànhcao hơn sẽ hạn

chế được gian lận về báo cáo tài chính do có được sự kiểm soát tốt hơn từ các thành viên HĐQT không điều hànhnày Ngoài ra theo Shivdasani và Yermack (1996) cho

rằng các thành viên HĐQT không điều hànhsẽ làm gia tăng suất sinh lời cho cổđông

Trang 35

và các thành viên HĐQT không điều hànhcó mối quan hệ cùng chiều với hiệu quả

kiểm soát tốt các giám đốc điều hành để tối đa hóa giá trị công ty Nghiên cứu của Bhagat và Black (2002) cũng không tìm thấy minh chứng thể hiện những công ty có nhiều thành viên HĐQT không điều hànhsẽ có hiệu quả tốt hơn các công ty khác, đôi khi những công ty có thể hoạt động kém hiệu quả khi có quá nhiều thành viên HĐQT không điều hành Do đó theo Bhagat và Black (2002) cho rằng hiệu quả hoạt động công ty không phụ thuộc vào số lượng thành viên HĐQT không điều hành mà

mỗi doanh nghiệp khác nhau sẽ có những cơ cấu thành viên HĐQT không điều hànhkhác nhau, phụ thuộc vào quy mô và mức độ tăng trưởng của doanh nghiệp đó

2.3.5.T ỷ lệ sở hữu vốn của Hội đồng quản trị

Với quan điểm lý thuyết người đại diện, chi phí đại diện sẽ gia tăng khi có sự tách

bạch giữa quyền sở hữu và kiểm soát công ty Do đó cổ đông cần bổ nhiệm và lập

ra HĐQT, khi đó HĐQT sẽ thực hiện chức năng như một cơ chế giám sát để giảm thiểu chi phí đại diện (Fama và Jensen, 1983) Tuy nhiên có thể HĐQT chỉ đại diện cho cổ đông và đơn thuần là người thừa hành Do đó HĐQT có tỷ lệ sở hữu cao sẽ

có nhiều gắn bó lợi ích của mình với hiệu quả hoạt động công ty, họ sẽ nổ lực tìm

kiếm các dự án đầu tư để tối đa hóa giá trị doanh nghiệp (Jensen và Meckling, 1976) Có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối quan hệ cùng chiều giữa tỷlệ sở hữu vốn của HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty.Theo nghiên cứu của Yermack (1996) và Daraghma (2010) đều tìm thấy có mối tương quan cùng chiều giữa tỷ lệ vốn sở hữu

của HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty.Tuy nhiên, cũng có nhiều nghiên cứu cho

Trang 36

ra kết quả rằng tỷ lệ vốn sở hữu của HĐQT có mối quan hệ ngược chiều với hiệu

quả hoạt động công ty Nghiên cứu ở các quốc gia đang phát triển ở Nam Á, Shah

và cộng sự (2010) cho thấy những công ty cấp quản lý có tỷ lệ sở hữu cao thường

có hoạt động kém hiệu quả

Giải thích mối quan hệ giữa tỷ lệ sở hữu vốn với hiệu quả hoạt công ty vẫn tồn tại nhiều ý kiến trái chiều nhau.Tác động của tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT lên hiệu quả

hoạt động công ty còn tùy thuộc vào đặc trưng nền kinh tế của từng quốc gia, truyền

thống hoạt động và đặc điểm của từng công ty

Trang 37

CHƯƠNG 3:XÂY DỰNG GIẢ THUYẾT VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Chương này sẽ trình bày cách xây dựng các giả thuyết nghiên cứu dựa trên cơ sở lý thuyết đã được lược khảo ở Chương 2.Đồng thời, phương pháp nghiên cứu cũng được trình bày cụ thể Bố cục Chương 3 được trình bày theo ba phần Phần một mô

tả khung tiếp cận nghiên cứu, phần hai xây dựng các giả thuyết nghiên cứu và phần

ba mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu

3.1 Khung ti ếp cận nghiên cứu

Như đề cập ở các phần lý thuyết trên, có rất nhiều các nghiên cứu về mối quan hệ

giữa đặc điểm Hội đồng quản trị (HĐQT) với hiệu quả hoạt động công ty.Tuy nhiên trong hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm chỉ kiểm định mối quan hệ trực tiếp giữa đặc điểm của HĐQT với hiệu quả hoạt động công ty mà rất ít các nghiên cứu quan tâm tới ảnh hưởng của biến điều tiết (Bathula, 2008) Một số tác giả gần đây có đề

cập tới vai trò của biến điều tiết như: (Finkelstein vaF Mooney, 2003; Letendre, 2004; Carpenter và công sự, 2004; Pye và Pettigrew, 2005) Đồng quan điểm trên, nghiên cứu của Hendry và Kiel (2004) cũng đã đề xuất mô hình lý thuyết để xem xét biến điều tiết tác động lên mối quan hệ giữa đặc điểm HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty, và bằng chứng thực nghiệm của nghiên cứu đã cho kết luận rằng có

biến điều tiết ảnh hưởng tới tác động của đặc điểm HĐQT lên hiệu quả hoạt động công ty Để nhấn mạnh tầm quan trọng của biến điều tiết trong nghiên cứu tác động

của đặc điểm của HĐQT lên hiệu quả hoạt động công ty, Carpenter và cộng sự (2004) cho rằng, những nghiên cứu mà phớt lờ vai trò của biến điều tiết thường không được công nhận ở những hội đồng có uy tín hoặc không được công bố rộng rãi Nghiên cứu thực nghiệm về vấn đề này có nghiên cứu của Bathula (2008), tác

giả đã nghiên cứu tác động của đặc điểm HĐQT tới hiệu quả hoạt động công ty với

biến điều tiết là quy mô HĐQT, và tác giả cũng có kết luận quy mô HĐQT tác động lên mối quan hệ giữa các biến đại diện cho đặc điểm HĐQT với hiệu quả hoạt động

Trang 38

công ty Trong luận văn này sẽ xem xét với biến điều tiết là quy mô HĐQT với vai trò tác động lênmối quan hệ giữa thành viên HĐQT không điều hành và hiệu quả

Hình 3.1 Khung ti ếp cận nghiên cứu

3.2 Gi ả thuyết nghiên cứu

Giả thuyết nghiên cứu (còn gọi là giả thuyết khoa học) là một dự đoán về kết quả

của một nghiên cứu liên quan đến mối quan hệ tiềm năng giữa ít nhất hai biến (Jackson, 2009).Việc đặt giả thuyết nghiên cứu sẽ cung cấp những nhận định sơ bộ

về kết quả tác động của đặc điểm HĐQT đến hiệu quả hoạt động công ty.Các giả thuyết nghiên cứu trong nghiên cứu này sẽ được trình bày lần lượt như sau

Quy môHĐQT

Thành viên HĐQT không điều hành

Thành viên nữ trong HĐQT

Tỷ lệ sở hữu vốn của HĐQT

Quyền kiêm nhiệm

Biến kiểm soát

- Quy mô công ty

- Số năm thành lập công ty

Hi ệu quả hoạt động

TobinQ

ROA

Trang 39

hiệu quả hoạt động công ty tốt hơn

Mặc dù tồn tại hai quan điểm trái ngược nhau, nhưng có nhiều nghiên cứu thực nghiệm có kết luận rằng quy mô HĐQT càng lớn sẽ có tác động ngược chiều với

hiệu quả hoạt động công ty như nghiên cứu của Shakir (2008) Theo tác giả có thể

bất tiện và tăng chi phí cho việc duy trì hoạt động của HĐQT khi ban HĐQT sở hữu nhiều thành viên, đồng thời khi quy mô HĐQT lớn sẽ phát sinh chi phí đại diện và gây khó khăn cho việc hoạch định, điều phối công việc, ra quyết định, tổ chức các

cuộc họp khi công ty có quy mô HĐQT lớn

Đặc biệt hơn, nghiên cứu của Truong, Swierczek và Dang (1998) nhấn mạnh, có sự khác biệt giữa phong cách quản lý giữa Việt Nam so với quốc tế Ở Việt Nam đa số các nhà quản lý không chú trọng chia sẽ quyền lực, điều này hoàn toàn khác biệt với phong cách làm việc nhóm và ủy quyền.Các nhà quản lý Việt Nam khi phải chia sẽ quyền lực thì không nhận thức được những hành động như vậy Do đó khi quy mô HĐQT gia tăng sẽ dẫn đến sự ủy quyền và khả năng làm việc nhóm trong HĐQT sẽ

giảm

Vì những cơ sở nêu trên, giả thuyết nghiên cứu về mối quan hệ giữa quy mô HĐQT

và hiệu quả hoạt động công ty trong bài như sau:

Gi ả thuyết H 1 : Có m ối quan hệ ngược chiều giữa quy mô Hội đồng quản

tr ịvớihiệu quả hoạt động của công ty

Trang 40

3.2.2 Thành viên n ữ trong Hội đồng quản trị

Thành viên nữ trong thành phần HĐQT được nghiên cứu khá nhiều và là khía cạnh quan trọng thể hiện tính đa dạng trong HĐQT, nghiên cứu của Smith và cộng sự (2006) đưa ra những nền tảng lý thuyết mang tính tích cực về tính đa dạng của HĐQT khi có sự hiện diện của thành viên nữ khi nghiên cứu 2500 công ty ở Đan

Mạch trong giai đoạn 1993-2001 Tầm quan trọng của thành viên nữ trong HĐQT

thể hiện ở ba lý do chính Thứ nhất, thành viên nữ trong HĐQT hiểu biết đặc điểm

của thị trường cụ thể tốt hơn nam giới, do đó sẽ mang lại nhiều chất lượng hơn khi

ra quyết định cho HĐQT Thứ hai khi có sự hiện diện thành viên nữ trong HĐQT sẽ xây dựng được một hình ảnh mang tính cộng đồng tốt hơn cho doanh nghiệp do đó

hoạt động doanh nghiệp hiệu quả hơn Thứ ba khi có nữ giới được bổ nhiệm vào HĐQT, các thành viên HĐQT sẽ được gia tăng tri thức, sự hiểu biết, đồng thời nhà

quản lý nữ cấp cao có thể ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển nghề nghiệp của các thành viên nữ thuộc cấp dưới quyền Do đó sẽ góp phần gia tăng hiệu quả hoạt động

của công ty Cùng quan điểm trên, nghiên cứu của Marinova và cộng sự (2010) cho

rằng các vị trí chủ chốt trong công ty hay ở HĐQT có tỷ lệ nữ giới cao có mối liên

hệ tích cực đến khả năng sinh lời cũng như hiệu suất hoạt động công ty

Có nhiều nghiên cứu chứng tỏ rằng những công ty tỷ lệ thành viên nữ cao sẽ gia tăng hiệu quả hoạt động công ty Theo Stephenson (2004) nữ giới sẽ mang lại các quan điểm khác nhau khi ra quyết định và các quan điểm này thực sự cần thiết cho HĐQT Hơn nữa theo Huse và Solberg (2006) cho rằng với những suy tính cẩn thận

của mình thành viên nữ sẽ làm tăng chất lượng hoạt động của HĐQT

Tuy có rất nhiều nghiên cứu ủng hộ quan điểm có sự tác động cùng chiều giữa tỷ lệ thành viên nữ trong HĐQT và hiệu quả hoạt động công ty.Nhưng vẫn tồn tại những nghiên cứu chưa thống nhất với quan điểm trên.Mặc dù vậy những quan điểm mang tính tích cực về sự hiện diện của nữ giới trong thành phần HĐQT có số lượng nhiều hơn so với quan điểm tiêu cực Chính vì lý do này nên giả thuyết về thành viên nữ

giới trong thành phần HĐQT trong bài này được đặt ra như sau:

Ngày đăng: 31/08/2020, 13:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w