1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Các yếu tố tâm lý, nhận thức tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo tại tỉnh Bến Tre

107 47 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,97 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH NGUYỄN THANH LONG CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ, NHẬN THỨC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA HỘ CẬN NGHÈO TẠI TỈNH BẾN TRE C

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THANH LONG

CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ, NHẬN THỨC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA HỘ CẬN NGHÈO

TẠI TỈNH BẾN TRE

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH

NGUYỄN THANH LONG

CÁC YẾU TỐ TÂM LÝ, NHẬN THỨC TÁC ĐỘNG ĐẾN SỰ THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA HỘ CẬN NGHÈO

TẠI TỈNH BẾN TRE

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Phạm Khánh Nam

Tp Hồ Chí Minh, Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

*

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 24 tháng 4 năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyễn Thanh Long

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

DANH MỤC CÁC BẢNG

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

1.5 Phương pháp nghiên cứu 3

1.6 Kết cấu luận văn 4

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Một số khái niệm 5

2.1.1 Bảo hiểm 5

2.1.2 Bảo hiểm y tế 5

2.1.3 Hộ nghèo, hộ cận nghèo 8

2.2 Bản chất của BHYT 11

2.3 Vai trò của BHYT 15

2.4 Tâm lý, nhận thức và mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi 17

2.4.1 Tâm lý là gì 17

2.4.2 Hoạt động nhận thức là gì 17

2.4.3 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi 18

2.5 Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng 19

2.5.1 Hành vi người tiêu dùng 19

2.5.2 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu 21

2.5.3 Các mô hình về tâm lý và nhận thức tác động đến hành vi tiêu dùng 27

2.6 Mô hình và giả thiết nghiên cứu 31

CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU 34

Trang 5

3.1 Quy trình nghiên cứu 34

3.2 Thiết kế nghiên cứu 39

3.2.1 Quy trình nghiên cứu 39

3.2.2 Thiết kế mẫu 40

3.2.3 Phân tích Cronbach’s Alpha 40

3.2.4 Phân tích nhân tố khám phá EFA 41

CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 43

4.1 Tình hình thực hiện bảo hiểm y tế cho các hộ cận nghèo ở Bến Tre 43

4.1a Thống kê mô tả mẫu khảo sát 45

4.2 Kết quả kiểm định độ tin cậy của thang đo 46

4.3 Kết quả phân tích nhân tố khám phá EFA 48

4.3.1 Kết quả phân tích EFA các nhân tố độc lập 48

4.3.2 Phân tích EFA nhân tố phụ thuộc 50

4.4 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết 50

4.4.1 Phân tích tương quan 50

4.4.2 Phân tích hồi quy bội 51

4.4.3 Dò tìm sự vi phạm giả định cần thiết trong hồi quy bội 53

4.4.4 Kiểm định các giả thuyết 56

4.5 Kiểm định sự khác biệt về các nhân tố ảnh hưởng đến sự tham gia BHYT của hộ cận nghèo tỉnh Bến Tre 57

4.5.1 Kiểm định sự khác biệt theo trình độ 57

4.5.2 Kiểm định sự khác biệt theo nghề nghiệp 58

4.5.3 Kiểm định sự khác biệt theo chi tiêu bình quân đầu người 58

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT ỨNG DỤNG KẾT QUẢ 60

5.1 Những kết luận chính 60

5.2 Đề xuất ứng dụng kết quả vào thực tiễn 60

5.2.1 Yếu tố chi phí 60

5.2.3 Nâng cao niêm tin của người tham gia với BHYT 63

5.3 Nâng cao sự hiểu biết của người về BHYT thông qua việc đẩy mạnh công tác tuyên truyền 66

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 6

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT

EFA: Phân tích nhân tố khám phá

ITA: Hiệp hội nhãn hiệu thương mại quốc tế

WIPO: Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới

BHYT: Bảo hiểm y tế

BHXH: Bảo hiểm xã hội

BHTM: Bảo hiểm thương mại

DNBH: Doanh nghiệp bảo hiểm

KCB: Khám chữa bệnh

HĐND: Hội đồng nhân dân

UBND: Ủy ban nhân dân

GTTB: Giá trị trung bình

Trang 7

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 2.1: Mô hình hành vi của người mua (Philip Kotler, 2005)

Hình 2.2: Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

Hình 2.3: Mẫu thức chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng Hình 2.4: Mô hình thuyết hành động hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975) Hình 2.5: Mô hình hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991)

Hình 2.6: Mô hình hành vi có kế hoạch phiên bản lần 2 của Ajzen (1994) Hình 2.7: Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu của Perugini và Bagozzi Hình 2.8: Mô hình nghiên cứu đề xuất

Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu

Hình 4.1: Biểu đồ phân tán Scatterplot

Hình 4.2: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa

Hình 4.3: Đồ thị Q-Q Plot của phần

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1a: Thang đo ban đầu

Bảng 3.1b: Kết quả thang đo sơ bộ sau khi hiệu chỉnh

Bảng 4.1: Thống kê nhân khẩu học

Bảng 4.3a: Kết quả phân tích EFA nhân tố độc lập

Bảng 4.3b: Ma trận các thành được xoay

Bảng 4.3c: Tổng phương sai trích

Bảng 4.4: Kết quả phân tích EFA nhân tố phụ thuộc

Bảng 4.4a: Tổng phương sai trích

Bảng 4.5: Phân tích tương quan Pearson

Bảng 4.6: Kết quả phân tích hồi quy

Bảng 4.7: Tổng hợp kết quả kiểm định giả thuyết

Bảng 5.1: GTTB của các thành phần yếu tố chi phí

Bảng 5.2: GTTB của các thành phần yếu tố niềm tin

Bảng 5.3: GTTB của các thành phần yếu tố Công tác tuyên truyền của cơ quan hữu quan về BHYT

Bảng 5.4: GTTB của các thành phần yếu tố hiểu biết của người dân về BHYT

Trang 9

TÓM TẮT NGHIÊN CỨU

Mục tiêu của nghiên cứu này là xác định và đo lường các yếu tố về mặt tâm lý, nhận thức ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo Đồng thời, trên cơ sở phân tích đó, tác giả sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm giúp gia tăng sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo tỉnh Bến Tre

Kết quả nghiên cứu cung cấp cái nhìn tổng quát về mẫu nghiên cứu theo trình độ, nghề nghiệp, chi tiêu bình quân trên đầu người Qua bước kiểm định thang đo theo hệ

số tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tố EFA cho thấy các thang đo đều đạt

độ tin cậy cần thiết Kết quả phân tích hồi quy cho thấy mô hình nghiên cứu phù hợp với dữ liệu Ngoài việc đánh giá thang đo và kiểm định mô hình lý thuyết, nghiên cứu cũng phân tích mức độ quan trọng của những nhân tố tác động đến ý định tham gia BHYT của hộ cận nghèo Theo kết quả hồi quy, tác giả nhận thấy những nhân tố được

đề xuất đưa vào mô hình đều cho thấy các yếu tố đều tác động đến ý định tham gia BHYT của hộ cận nghèo Bao gồm:

 Sự tác động của yếu tố chi phí y tế đến ý định tham gia BHYT của hộ cận nghèo Tỉnh Bến Tre (β=0,194) cho thấy rằng hộ cận nghèo có ý định tham gia BHYT vì cảm thấy rất khó khăn để đáp ứng chi phí y tế lớn bất ngờ, mong đợi tham gia BHYT người dân sẽ được hưởng rất nhiều quyền lợi khi khám và chữa bệnh và cảm nhận rằng chi phí y tế đang gia tăng nhanh chóng

 Sự tác động của yếu tố niềm tin của đối tượng với BHYT đến ý định tham gia BHYT của hộ cận nghèo Tỉnh Bến Tre (β=0,264) cho thấy rằng hộ cận nghèo có ý định tham gia BHYT vì tin rằng BHYT đem lại nhiều lợi ích, tin tưởng chất lượng về khám chữa bệnh và nguồn thuốc men mà BHYT cung cấp, chính sách tuyên truyền của Chính phủ làm tăng nhận thức của

xã hội về chăm sóc sức khỏe, chính sách BHYT tạo một cảm giác an toàn

về chăm sóc y tế đối với người tham gia

 Sự tác động của yếu tố truyền thông và sự hiểu biết của người dân về BHYT đến ý định tham gia BHYT của hộ cận nghèo Tỉnh Bến Tre với (β=0,321) và (β=0,184) Như vậy, chính sách truyền thông đóng vai trò rất lớn đến ý định tham gia BHYT của hộ cận nghèo bằng cách thông qua

Trang 10

chương trình truyền thông sẽ giúp người dân hiểu biết về chương trình BHYT

Trên cơ sở phân tích, tác giả đề xuất một số hàm ý liên quan đến Yếu tố chi phí, niềm tin của người tham gia với BHYT, sự hiểu biết của người dân về BHYT, công tác tuyên truyền nhằm tăng sự tham gia của hộ cận nghèo

Trang 11

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1.1 Lý do chọn đề tài

Phát triển nhanh và bền vững đang là mục tiêu quan trọng trong cải cách kinh tế -

xã hội của đất nước ta Bên cạnh việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, công tác giảm đói nghèo được Nhà nước coi là một bộ phận quan trọng của mục tiêu phát triển Trong những năm qua, chúng ta đã đạt được nhiều thành tựu trong cải cách kinh tế, từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân, nhờ đó trong vòng 20 năm (1990-2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được thành tựu ấn tượng về giáo dục và y tế Tỷ lệ nhập học ở bậc tiểu học của người nghèo là trên 90% và ở bậc trung học cơ sở là 70% Mặc dù có được tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng vẫn còn thiếu yếu tố bền vững, bởi vì trong số những người nghèo còn lại hiện nay thì phần lớn là những hộ gặp rất nhiều khó khăn để giảm nghèo và đồng thời những hộ thuộc diện cận nghèo cũng rất dễ bị tái nghèo khi gặp phải những rủi ro, nhất

là khi gặp phải những vấn đề về sức khỏe và y tế

Tại tỉnh Bến Tre, công tác hỗ trợ về y tế được thực hiện kịp thời, đồng bộ Trong năm 2013, toàn tỉnh đã mua 110.892 thẻ Bảo hiểm y tế cho nhân khẩu thuộc diện hộ nghèo, tổng kinh phí thực hiện 65.778.700.500 đồng; hỗ trợ 100% mệnh giá thẻ bảo hiểm y tế cho 30.720 người thuộc hộ cận nghèo theo Quyết định số 705/QĐ-TTg ngày

08 tháng 5 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng mức hỗ trợ đóng bảo hiểm y tế cho một số đối tượng thuộc hộ gia đình cận nghèo, kinh phí thực hiện 9.742.061.920 đồng

Tuy được Tỉnh rất quan tâm hỗ trợ chính sách bảo hiểm y tế đối hộ cận nghèo, nhà nước hỗ trợ mức đóng bảo hiểm y tế rất cao, nhưng người cận nghèo tham gia bảo hiểm y tế vẫn chưa cao vì một số hạn chế sau đây:

Thứ nhất, người dân chưa hiểu rõ nghĩa vụ và quyền lợi của mình khi đến khám

và chữa bệnh tại các cơ sở y tế công, do đó nhiều người bị bệnh nhưng không dám đến điều trị tại bệnh viện mà chỉ tự điều trị cho đến khi bệnh quá nặng cán bộ y tế mới biết

và đưa họ vào điều trị tại bệnh viện

Trang 12

Thứ hai, BHYT đối với những người cận nghèo, đặc biệt là những người sống ở vùng nông thôn thì hầu như chưa được thụ hưởng đầy đủ các chính sách hỗ trợ tài chính đã được ban hành để đảm bảo cho họ được công bằng trong tiếp cận dịch vụ y

tế

Thứ ba, Tỉnh chưa có cơ chế rõ ràng cho việc thanh toán, hỗ trợ cho đối tượng cận nghèo Việc khó khăn triển khai thực hiện chương trình hỗ trợ này được cho là bị vướng mắc ở cả khâu xác định đối tượng cũng như là việc huy động các nguồn lực tài chính

Cuối cùng, phần lớn các cán bộ y tế ở trạm y tế xã ngoài việc khám chữa bệnh tại trạm còn tổ chức khám chữa bệnh tại nhà dân, xong chưa có quy định của cơ quan BHYT cho thanh toán BHYT đối với các trường hợp khám ngoại trạm bởi lý do không

có bằng chứng để chứng minh Hơn nữa, danh mục thuốc khám BHYT đôi khi chưa phù hợp với thực trạng bệnh tật của người dân nên ngoài việc thanh toán BHYT theo khung giá trần (đối với các dịch vụ được cơ quan bảo hiểm quy định) người bệnh còn phải trả các khoản chi phí khác cho khám chữa bệnh của họ Đó cũng là một trong những lý do người bệnh đến khám, chữa bệnh theo thẻ bảo hiểm y tế tại tuyến xã còn hạn chế

Trong khi các nghiên cứu trước đây tập trung phân tích các nguyên nhân về mặt kinh tế xã hội, nguồn lực đối với việc mua bảo hiểm y tế, đề tài này tập trung vào các nguyên nhân thuộc về nhóm tâm lý, nhận thức Đề tài phân tích “ Các yếu tố tâm lý, nhận thức tác động đến sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Bến Tre”, từ đó đề xuất các giải pháp trong thời gian tới để cho những người

thuộc diện này tham gia bảo hiểm y tế đầy đủ, có cơ hội được tiếp cận với các chính sách về xóa đói giảm nghèo của Đảng và Nhà nước, vừa góp phần thúc đẩy nhanh quá trình tăng trưởng kinh tế, vừa góp phần làm tốt hơn nữa công tác xóa đói giảm nghèo vào năm 2020

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện với các mục tiêu sau đây:

- Đo lường sự tác động của các yếu tố về mặt tâm lý, nhận thức đến ý địnhtham

gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Bến Tre

Trang 13

- Trên cơ sở phân tích kết quả khảo sát, tác giả sẽ đề xuất một số kiến nghị nhằm

giúp gia tăng sự tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo tỉnh Bến Tre

1.3 Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết được mục tiêu nghiên cứu thì đề tài cần tìm câu trả lời cho các câu hỏi sau:

Thứ nhất, sự tác động của những yếu tố về mặt tâm lý, nhận thức đến ý định tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Bến Tre như thế nào?

Thứ hai, những giải pháp và kiến nghị nào làm gia tăng sự tham gia BHYT của

hộ cận nghèo tỉnh Bến Tre?

1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố tâm lý, nhận thức có khả năng ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo Như vậy đề tài này chỉ tập trung vào việc tìm kiếm các tác động của nhóm yếu tố tâm lý, nhận thức quyết định đến việc tham gia bảo hiểm y tế và giả định tác động của các nhóm yếu tố khác là cố định

 Đối tượng khảo sát: Hộ cận nghèo được ngân sách nhà nước hỗ trợ 70% mệnh giá thẻ BHYT theo Quyết định số 797/QĐ-TTg ngày 26 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc nâng mức hỗ trợ đóng BHYT cho người thuộc gia đình cận nghèo

 Phạm vi khảo sát: Tỉnh Bến Tre

 Khoảng thời gian khảo sát: Thời gian thực hiện khảo sát từ tháng 10 đến tháng

12 năm 2014

1.5 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu trong luận văn này bao gồm các phương pháp sau:

 Nghiên cứu định tính được tiến hành nhằm xác định các khái niệm về tâm lý và nhận thức dùng trong thang đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Bến Tre Nghiên cứu được thực hiện dưới hình thức một cuộc thảo luận nhóm Thành viên của nhóm thảo luận được chia thanh hai nhóm, nhóm thứ nhất bao gồm 10 học viên lớp cao

Trang 14

học Kinh tế, đây là những người có khả năng đánh giá thang đo Còn nhóm thứ hai bao gồm 10 người thuần túy là những người thuộc hộ cận nghèo để đánh giá thang đo sơ bộ về mặt ngữ nghĩa, rõ ràng nhằm phát triển các thang đo các thành phần và là cơ sở cho cuộc khảo sát định lượng sau đó

 Nghiên cứu định lượng: Nghiên cứu đo lường các yếu tố tâm lý, nhận thức bằng các thang đo phát triển từ lý thuyết Hành vi có kế hoạch của Azjen (1994) Bảng câu hỏi do đối tượng tự trả lời (self-administered questionnaire) là công

cụ chính để thu thập dữ liệu định lượng Phương pháp chọn mẫu trong cuộc nghiên cứu này là phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên Công cụ hệ số tin cậy Cronbach’s alpha và phân tích nhân tố khám phá EFA được sử dụng để gạn lọc các khái niệm dùng trong nghiên cứu Phần mềm thống kê SPSS-20 được dùng trong quá trình xử lý dữ liệu Phép thống kê hồi quy tuyến tính được sử dụng để tìm ra mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia bảo hiểm y tế của hộ cận nghèo trên địa bàn tỉnh Bến Tre

1.6 Kết cấu luận văn

Đề tài này được chia thành 5 chương như sau:

Chương 1: Tổng quan về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu

Chương 5: Kết luận, hạn chế của đề tài và hướng nghiên cứu tiếp theo

Trang 15

Theo Hiệp hội các nhà bảo hiểm Anh thì Bảo hiểm là sự thỏa thuận qua đó một bên (người bảo hiểm) hứa thanh toán cho bên kia (người được bảo hiểm hay người tham gia bảo hiểm) một khoản tiền nếu sự cố xảy ra gây tổn thất tài chính cho người được bảo hiểm Để chấp nhận trách nhiệm thanh toán này, người bảo hiểm đòi người được bảo hiểm một khoản tiền, đó là phí bảo hiểm

Dưới góc độ tài chính, người ta cho rằng: Bảo hiểm là một hoạt động dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những chi phí mất không mong đợi

Dưới góc độ kinh doanh bảo hiểm, các doanh nghiệp, các tập đoàn thương mại trên thế giới lại đưa ra khái niệm: Bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức, chuyển nhượng rủi ro cho DNBH, doanh nghiệp

đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm

Có thể nói, các khái niệm trên đã lột tả được bản chất của bảo hiểm trên các khía cạnh về rủi ro Sự chuyển giao rủi ro giữa DNBH và người được bảo hiểm thông qua phí bảo hiểm và số tiền bồi thường hoặc chi trả khi người được bảo hiểm gặp rủi ro tổn thất Và một cách đơn giản, bảo hiểm chính là một cách xử lý rủi ro, nhờ đó việc chuyển giao, phân tán rủi ro

2.1.2 Bảo hiểm y tế

BHYT được định nghĩa là: một nhóm người đóng góp tài chính vào một quỹ chung, thông thường do một bên thứ ba giữ Nguồn quỹ này sau đó sẽ được sử dụng để thanh toán cho toàn bộ hoặc một phần các chi phí nằm trong phạm vi gói quyền lợi của người tham gia bảo hiểm Bên thứ ba có thể là BHXH nhà nước, các cơ quan bảo hiểm

Trang 16

công khác, các quỹ do chủ sử dụng lao động tự điều hành quản lý hoặc do các quỹ tư nhân đảm nhiệm

Trên thế giới, hầu như không có một quốc gia nào lại không phải bao cấp cho nhu cầu KCB của người dân mà đều phải huy động một phần từ sự đóng góp của cộng đồng xã hội Ở nước ta cũng vậy, ngân sách Nhà nước đã dành cho y tế tăng dần qua các năm, nhưng theo tính toán cũng chỉ đáp ứng được khoảng 30% nhu cầu KCB của

xã hội Vì vậy ngay từ năm 1989, Hội đồng Bộ trưởng nay là Chính Phủ đã ban hành Quyết định 45/HĐBT để thực hiện việc thu một phần viện phí, nhằm thông qua sự đóng góp của nhân dân, tạo thêm kinh phí cho các bệnh viện cải thiện chất lượng dịch

vụ y tế, đảm bảo tốt hơn công tác chăm sóc sức khỏe của nhân dân Tuy nhiên, chế độ thu một phần viện phí chỉ có thể giúp một bộ phận dân cư, những người có thu nhập khá được KCB, mà số lượng này lại không lớn trong xã hội Đại bộ phận những người

có thu nhập từ trung bình đến những người nghèo lại khó có điều kiện tiếp cận với dịch vụ y tế của Nhà nước do giá viện phí cao Việc thu chi phí KCB trực tiếp từ người bệnh rõ ràng ảnh hưởng tới sự đảm bảo công bằng trong KCB giữa các tầng lớp dân cư trong xã hội Theo kinh nghiệm của các nước trên thế giới, thì rất ít khi người ta để cho một cá nhân tự phải chịu mọi cho phí y tế khi điều trị mà thường là thông qua hình thức chia sẻ rủi ro cho nhiều người qua hình thức BHYT.Tức là chia sẻ khó khăn về tài chính cho nhau, người khỏe mạnh giúp đỡ người ốm đau còn khi mình ốm đau thì nhiều người khỏe sẽ giúp đỡ mình

Đúc rút kinh nghiệm của các nước trên thế giới, ngày 15/8/1992 Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) đã ban hành Nghị định số 299/HĐBT ban hành Điều lệ BHYT, khai sinh ra chính sách BHYT ở Việt Nam, BHYT Việt Nam chính thức ra đời, được coi là một loại hình bảo hiểm đặc biệt, là chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện mang ý nghĩa cộng đồng sâu sắc Hay BHYT là cơ chế kinh tế, là nơi tập trung nguồn lực tài chính từ sự đóng góp của cộng đồng xã hội để chi phí KCB cho người tham gia đóng góp vào quỹ khi họ gặp phải rủi ro về sức khỏe cần phải KCB.Theo quy định của pháp luật nước ta: BHYT là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người lao động, người sử dụng lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí KCB cho người có thẻ BHYT khi ốm đau Tôn chỉ của BHYT không nằm ngoài mục tiêu an sinh xã hội, không vì mục tiêu lợi nhuận Đây không phải là loại hình bảo hiểm thương mại Đặc

Trang 17

điểm khác biệt cơ bản của BHYT xã hội so với các loại hình bảo hiểm thương mại là mức đóng góp dựa vào khả năng thu nhập của mỗi nhóm dân cư, nhưng mức thụ hưởng lại theo nhu cầu điều trị Khi số người tham gia BHYT càng đông thì khả năng đáp ứng quyền lợi của người tham gia BHYT càng tốt, ngược lại nếu số người tham gia càng ít thì việc đảm bảo quyền lợi cho người tham gia cũng bị hạn chế theo do khả năng dàn trải rủi ro trong cộng đồng là không cao

Khái niệm về BHYT được trình bày trong cuốn “Từ điển Bách khoa Việt Nam I”

xuất bản năm 1995, nhà xuất bản Bách khoa – trang 151 như sau: “BHYT: loại hình

bảo hiểm do Nhà nước tổ chức, quản lý nhằm huy động sự đóng góp của cá nhân, tập thể và cộng đồng xã hội để chăm lo sức khỏe, khám bệnh và chữa bệnh cho nhân dân”

Mặt khác, BHYT là một trong chín nội dung của BHXH được quy định tại Công ước 102 ngày 28/6/1952 của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) về các tiêu chuẩn tối thiểu cho các loại trợ cấp BHXH Do đó, khi nói tới BHYT, cần hiểu đó là BHYT xã hội hoặc còn được gọi là BHXH về y tế, nó khác với BHYT tư nhân (bảo hiểm thương mại) Như vậy BHYT đã được nhà nước quy định, đang từng bước luật hóa tạo những chuẩn mực nhằm bảo vệ người tham gia trước những rủi ro về bệnh tật

Ở Cộng hòa liên bang Đức cũng như ở các nước công nghiệp phát triển khái niệm

về BHYT là: “BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau,

nó có nhiệm vụ gìn giữ, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT” Như vậy, trong hoạt động BHYT thì tính đoàn kết cùng chia

sẻ rủi ro rất cao, nó là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khỏe mạnh và người ốm yếu, giữa thanh niên với người già và giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở sự đoàn kết không điều kiện của sự hợp tác cùng chung lòng chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau Theo định nghĩa BHYT nêu trên thì sự đoàn kết tương trợ vừa mang ý nghĩa tự giác, vừa mang ý nghĩa cùng chịu trách nhiệm và vừa có sự thống nhất quan điểm chung Đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải có nghĩa vụ đóng góp

Xét trên tổng thể nền kinh tế quốc dân và phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì BHXH nói chung và BHYT nói riêng là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại sau công cụ thuế góp phần đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội

Trang 18

Nếu nhìn nhận dưới góc độ kinh tế thì BHYT được hiểu là sự hợp nhất kinh tế của số lượng lớn những người cùng phải đối mặt với một loại rủi ro do bệnh tật gây ra

mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được Cân đối về chi phí khám chữa bệnh cơ bản được thực hiện giữa một bên là tổng số chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và một bên là tổng số đóng góp của những người tham gia

Đa số các quốc gia trên thế giới, từ những quốc gia phát triển đến những quốc gia đang phát triển đều coi BHYT là một trong những giải pháp tài chính chủ yếu trong lĩnh vực y tế, được xem như một chính sách xã hội quan trọng, không thể thiếu trong chiến lược chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân

2.1.3 Hộ nghèo, hộ cận nghèo

Phương pháp chung để xác định nghèo đói là dựa vào nhu cầu chi tiêu để bảo đảm các nhu cầu cơ bản của con người Có hai cách hiểu về nghèo khổ: Cách hiểu theo tiêu chuẩn thống kê thuần túy (thu nhập bình quân, calorie, v.v…) và cách hiểu theo chuẩn xã hội Tại Việt nam ngưỡng nghèo được đánh giá thông qua chuẩn nghèo, dựa trên các tính toán của các cơ quan chức năng như Tổng cục Thống kê hay Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (MOLISA) Chuẩn nghèo của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội được xác định một cách tương đối bằng cách làm tròn số và áp dụng cho từng khu vực và vùng miền khác nhau (nông thôn miền núi, hải đảo, nông thôn đồng bằng, thành thị)

Chuẩn nghèo theo Tổng cục Thống kê được xác định dựa trên cách tiếp cận của Ngân hàng Thế giới (WB), gồm hai mức:

Nghèo lương thực thực phẩm: tổng chi dùng chỉ tính riêng cho phần lương thực thực phẩm, làm sao để đảm bảo lượng dinh dưỡng tối thiểu cho một người là 2100 kcal/ngày đêm;

Nghèo chung: tổng chi dùng cho cả giỏ hàng tiêu dùng tối thiểu, được xác định bằng cách ước lượng tỷ lệ: 70% chi dùng dành cho lương thực thực phẩm, 30% cho các khoản còn lại

Trước hết người ta tính mức chi tiêu cho nhu cầu lương thực thực phẩm, gọi là đường nghèo lương thực thực phẩm (thông thường người ta tính rổ hàng hóa với một

số mặt hàng nhất định)

Theo tiêu chuẩn của Tổng cục Thống kê Việt Nam, dựa vào phương pháp quốc

Trang 19

tế, theo đó tiêu chuẩn nghèo là số tiền cần thiết để mua 1 lượng thực phẩm tối thiểu cung cấp đủ 2100 Kcal mỗi ngày mỗi người (đây cũng là tiêu chuẩn mà hầu hết các nước đang phát triển cũng như các tổ chức quốc tế hiện nay sử dụng) và số tiền cần thiết cho những nhu cầu phi lương thực Những người có mức chi tiêu dưới mức chi phí cần thiết để đạt được lượng calo này gọi là nhóm nghèo về lương thực thực phẩm Chi phí lương thực chiếm 70% và phi lương thực 30% Tổng chi tiêu cho lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm được gọi là đường nghèo hay chuẩn nghèo (đó là đường nghèo chung) Để tiện cho việc tính toán, đánh giá, người ta chuyển từ mức chi tiêu sang mức thu nhập Như vậy, đường đói nghèo chung sẽ ở mức cao hơn đường đói nghèo về lương thực, thực phẩm

Ví dụ: Năm 1993 đường đói nghèo chung có mức chi tiêu là 1,16 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm là 55%) Năm

1998 là 1,79 triệu đồng/năm/người (cao hơn đường đói nghèo lương thực, thực phẩm

là 39%) Năm 1998 chuẩn nghèo lương thực thực phẩm của Việt nam bằng 107.234 VND/tháng; chuẩn nghèo chung bằng 149.156 VND/tháng

Khi xác định người nghèo phải gắn chặt với tính thu nhập bình quân của hộ gia đình Tuy vậy, tỷ lệ hộ nghèo không đồng nghĩa với tỷ lệ người nghèo Thông thường, trong một quốc gia thì tỷ lệ người nghèo bao giờ cũng cao hơn tỷ lệ hộ nghèo Vì quy

mô hộ gia đình của nhóm nghèo cao hơn nhóm không nghèo

Chuẩn nghèo là một khái niệm động, nó biến đổi theo không gian và thời gian

Về không gian nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng vùng, chẳng hạn, đô thị, nông thôn đồng bằng và nông thôn miền núi Về thời gian, nó biến đổi theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội của từng giai đoạn lịch sử

* Sự thay đổi các chuẩn nghèo của Việt Nam từ năm 1990 đến nay:

Căn cứ vào mức sống thực tế của các địa phương, Bộ Lao động – Thương binh

và Xã hội đã nhiều lần công bố chuẩn nghèo tính theo thu nhập bình quân đầu người cho các giai đoạn cụ thể khác nhau Việc điều chỉnh chuẩn nghèo căn cứ chủ yếu vào các yếu tố sau: (1) Mức tăng thu nhập thực tế của dân cư, đặc biệt là nhóm nghèo trong thời kỳ điều chỉnh; (2) Tốc độ lạm phát cùng kỳ

Vào những năm 1990, chuẩn nghèo ở Việt Nam được xác định theo mức: những

hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo

từ 45.000 đồng/người/tháng (540.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu

Trang 20

vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 70.000 đồng/người/tháng (840.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Từ 1993 đến nay Chính phủ Việt Nam đã nhiều lần điều chỉnh mức chuẩn nghèo Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, trong đó phê duyệt "Chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói và giảm nghèo giai đoạn 2001-2005", thì những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người ở khu vực nông thôn miền núi và hải đảo từ 80.000 đồng/người/tháng (960.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực nông thôn đồng bằng những hộ gia đình có thu nhập bình quân đầu người từ 100.000 đồng/người/tháng (1.200.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo, ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập bình quân đầu người từ 150.000 đồng/người/tháng (1.800.000 đồng/người/năm) trở xuống là hộ nghèo

Theo Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 27 tháng 9 năm 2001, chuẩn nghèo của Việt Nam giai đoạn 2001-2005 như sau: khu vực

hộ nghèo ở nông thôn miền núi, hải đảo là hộ có mức thu nhập bình quân từ 80.000đ/người/tháng trở xuống; ở nông thôn đồng bằng là hộ có mức thu nhập bình quân 100.000đ/người/tháng; ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân 150.000đ/người/tháng

Chuẩn nghèo 2001-2005 so với giai đoạn trước đó tăng 1,5 lần, còn về phương pháp tiếp cận và xác định vẫn dựa trên cơ sở thu nhập của hộ Trong chuẩn nghèo mới không có tiêu chí hộ đói vì tỷ lệ hộ đói không còn đáng kể Sở dĩ có lựa chọn phương

án tăng lên 1,5 lần là vì trong 5 năm 1996-2000 mức sống dân cư Việt Nam tăng lên khoảng 1,47 lần và giai đoạn 1991-2000 tăng 1,97 lần Theo chuẩn trên, đầu năm 2001 Việt Nam có khoảng 2,8 triệu hộ nghèo, chiếm tỷ lệ 17,2% Tuy nhiên, theo nhận xét của một số chuyên gia quốc tế thì chuẩn về hộ nghèo của nước ta thấp hơn so với tình hình thực tế, chỉ ngang bằng một số nước trong khu vực, thấp hơn Trung Quốc, Thái Lan… Chính phủ lựa chọn chuẩn nghèo thấp trong giai đoạn này là nhằm tập trung nguồn lực cho đối tượng nghèo nhất nhằm giải quyết nhu cầu ăn và mặc; còn về y tế, giáo dục nhà nước có thể áp dụng chính sách trợ giúp Hạn chế của chuẩn nghèo thấp

là chưa phản ánh đúng thực trạng nghèo ở Việt Nam, nhiều người vượt qua ngưỡng

Trang 21

nghèo mà cuộc sống vẫn khó khăn; vì vậy theo xu hướng hội nhập khu vực, từ năm

2006 Chính phủ đã áp dụng chuẩn nghèo mới Chuẩn nghèo này tính trên cơ sở bảo đảm 2100 kcal mỗi ngày và có tính đến nhu cầu phi phương thực, thực phẩm (mặc, y

tế, giáo dục, nhà ở, văn hóa, đi lại, giao tiếp xã hội) Ước tính nhu cầu phi lương thực, thực phẩm chiếm khoảng 40% tổng giá trị chi tiêu

Tiếp đó, theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam số TTg ký ngày 08 tháng 7 năm 2005 về việc ban hành chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006 – 2010: Khu vực Hộ nghèo ở nông thôn 200.000đ/người/tháng trở xuống và

170/2005/QĐ-ở thành thị từ 260.000đ/người/tháng tr170/2005/QĐ-ở xuống

Xét theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và xã hội, Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số 09/2011/QĐ–TTg về việc ban hành chuẩn hộ nghèo giai đoạn 2011- 2015 như sau: hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (từ 4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống; hộ cận nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 401.000 đồng đến 520.000 đồng/người/tháng; hộ cận nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 501.000 đồng đến 650.000 đồng/người/tháng

Theo quyết định trên ta có thể thấy, chuẩn nghèo từ nay (năm 2011) đến năm

2015 thể hiện một sự biến thiên của các chuẩn nghèo luôn theo xu hướng tăng dần kể

từ năm 1990 đến nay Một mặt, chuẩn nghèo đó phản ánh sự tăng lên thu nhập bình quân đầu người, có thể giảm thiểu tỷ lệ nghèo đói (theo nghĩa tuyệt đối) ở một mức nào đó

xã hội Chính vì vai trò cực kì quan trọng của BHXH như vậy, cho nên ở mọi quốc gia trên thế giới, hoạt động của BHXH luôn do nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện theo

hệ thống pháp luật về BHXH Đó cũng là một cơ sở quan trọng để phân biệt loại hình BHYT này với BHYT trong Bảo hiểm thương mại (BHTM) Ở các nước công nghiệp

Trang 22

phát triển thì loại hình BHYT trong BHTM cũng được phát triển và cũng tồn tại song song với BHYT của Nhà nước Vì vậy, nói đến BHYT ở đây là chúng ta hiểu là đang

đề cập đến BHYT của Nhà nước hay nói cách khác là BHYT theo luật pháp

BHYT sẽ đảm bảo cho những người tham gia BHYT và gia đình họ những khả năng để phòng tránh bệnh tật, phát hiện sớm bệnh tật, chữa trị và khôi phục sức khỏe sau bệnh tật Do các chế độ BHXH về khám chữa bệnh (KCB), chế độ thai sản và chế

độ ốm đau đều có cùng phương thức hoạt động và các nguyên tắc cơ bản chung, cho nên tùy theo đặc điểm lịch sử, tập quán của từng nước mà BHYT có thể bao gồm cả chế độ KCB, chế độ thai sản và chế độ ốm đau hoặc được tách ra theo từng chế độ riêng biệt Điều đó liên quan đến phạm vi đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và đối tượng tham gia BHXH, đến mức đóng góp và các chế độ được hưởng

Ở các nước công nghiệp phát triển người ta định nghĩa BHYT trước hết là một tổ chức cộng đồng đoàn kết tương trợ lẫn nhau, nó có nhiệm vụ gìn giữ sức khỏe, khôi phục lại sức khỏe hoặc cải thiện tình trạng sức khỏe của người tham gia BHYT Như vậy trong hoạt động BHYT thì tính cộng đồng đoàn kết cùng chia sẻ rủi ro rất cao, là nền tảng cho lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, nó điều tiết mạnh mẽ giữa người khỏe mạnh với người ốm yếu, giữa thanh niên với người già cả, giữa những người có thu nhập cao và những người có thu nhập thấp Sự đoàn kết tương trợ lẫn nhau trong BHYT là sự đảm bảo cho từng người dựa trên cơ sở của sự đoàn kết không điều kiện, của sự hợp tác cùng chung lòng, chung sức và gắn kết chặt chẽ với nhau Đây cũng chính là bản chất nhân văn của hoạt động BHYT mà chúng ta thường đề cập đến Tuy nhiên đoàn kết tương trợ không chỉ là quyền được nhận mà còn phải là nghĩa vụ đóng góp Sự công bằng và bình đẳng của một chế độ xã hội được gắn bó với sự đoàn kết được thể hiện ở chỗ: ai muốn đạt được sự bền chặt và đoàn kết thì phải thực hiện nhiều hơn sự công bằng Điều đó chỉ có thể được tạo ra thông qua sự điều chỉnh trong thực

tế, vì “sự công bằng” là yếu tố động, nó chỉ đạt được tại một thời điểm, còn lại đều là

sự không công bằng Đây là một trong những yếu tố tác động đến sự phát triển xã hội

Do vậy cần có sự tích cực điều chỉnh thực tế một cách thường xuyên nhằm đảm bảo mối quan hệ tương thích giữa nghĩa vụ và quyền lợi trong hoạt động BHYT

Nếu nhìn trên giác độ tổng thể nền kinh tế quốc dân và xét về phương diện điều tiết kinh tế vĩ mô thì công cụ BHYT là công cụ thứ hai trong quá trình phân phối lại (công cụ thứ nhất là thuế) góp phần đảm bảo sự bình đẳng và công bằng xã hội Hệ

Trang 23

thống BHYT ngay từ khi hình thành đã không định hướng theo mức độ rủi ro mà định hướng theo nguyên tắc đáp ứng đặc biệt và không phải chi trả trực tiếp Điều đó được thể hiện rất rõ là: khi bị ốm đau thì người bệnh sẽ được chữa trị cho đến khi khỏe mạnh trở lại bằng phương pháp, kỹ thuật tiên tiến hiện thời mà không căn cứ vào trước

đó họ đã đóng góp BHXH được bao nhiêu Nếu định hướng theo mức độ rủi ro thì khi

ốm đau họ sẽ được đền bù với mức là bao nhiêu căn cứ vào trước đó họ đã đóng góp theo mức nào như trong BHYT tư nhân hay còn gọi là bảo hiểm thương mại Chính định hướng này đã làm nền tảng cho các nguyên tắc cơ bản về BHYT Chính vì vậy, BHYT luôn mở rộng phạm vi đối tượng tham gia theo nghĩa vụ (mang tính chất bắt buộc) và ban đầu BHYT cho người làm thuê rồi đến BHYT cho người lao động làm thuê rồi đến BHYT cho người lao động tự do, cho người lao động trong nông nghiệp…cho đến khi BHYT toàn dân

Nếu nhìn nhận dưới giác độ kinh tế thì BHYT trước hết được hiểu là sự hợp nhất kinh tế của số lượng những người trước cùng một loại hiểm nguy do bệnh tật gây nên

mà trong từng trường hợp cá biệt không thể tính toán trước và lo liệu được Nhưng cái chung đó cần phải đáp ứng được bằng nguồn tài chính dự trữ một cách thỏa đáng thông qua hệ thống cân bằng rủi ro tương ứng do nhà nước đứng ra tổ chức thực hiện

Cụ thể như sau: Tổng chi phí cho KCB = Tổng số tiền đóng góp của những người tham gia BHYT

Như vậy cân đối về chi phí KCB được thực hiện cân bằng giữa một bên là tổng chi phí KCB cho những người có nhu cầu và cần phải KCB và bên kia là tổng số đóng góp của tất cả những người tham gia BHYT bất kể họ có hoặc không có nhu cầu KCB Thời gian cân đối về thu chi của BHYT thông thường là một năm Có những nước người ta tính toán cân đối để dự trù kinh phí chi trả cho thời gian thêm một tháng Việc cân đối thu chi còn có thể được bổ sung thêm tùy tình hình cụ thể của từng nước và từng năm cụ thể Trong tổng số chi còn phải tính thêm khoản chi phí cho bộ máy quản

lý làm công tác BHYT Trong khoản thu có thể bao gồm cả các khoản thu từ đóng góp của ngân sách địa phương, của Trung ương và các khoản thu khác

Nguyên tắc cộng đồng chia sẻ rủi ro với ý tưởng nhân văn cao cả của nó đã loại trừ mục tiêu lợi nhuận thương mại của cộng đồng những người tham gia BHYT Do vậy, hoạt động BHYT không có khoản thu lợi nhuận và đương nhiên cũng không vì mục đích lợi nhuận Vì vậy tỷ lệ đóng góp chỉ được nâng lên theo đòi hỏi quyền lợi

Trang 24

chung của quá trình thực hiện BHYT Tức là tỷ lệ đóng góp BHYT chỉ được nâng lên theo nhu cầu chữa trị bệnh tật, nhu cầu nâng cao chất lượng KCB và ứng dụng những thành tựu khoa học tiên tiến và công tác KCB của cả cộng đồng

Phương thức đoàn kết chia sẻ rủi ro phải được thực hiện bằng sự điều tiết nhằm cân bằng mang tính xã hội Việc lập ra quỹ BHYT và từng bước mở rộng phạm vi đối tượng tham gia từ đó đã mở rộng phạm vi cân bằng, chia sẻ rủi ro trong cộng đồng những người tham gia BHYT

Nguyên tắc đoàn kết tương trợ chia sẻ rủi ro chỉ được thực hiện một cách đầy đủ

và hợp lý thông qua những giới hạn nhất định BHYT chỉ bao gồm những đối tượng là những người về nguyên tắc luôn có nhu cầu được bảo vệ về sức khỏe Những đối tượng cụ thể sẽ được quy định theo pháp luật

BHYT trước hết được thực hiện đối với những người lao động phụ thuộc, tức là người lao động không có tư liệu sản xuất và phải đi làm thuê hay những người có quan

hệ lao động Đây là loại hình BHXH nghĩa vụ, nó mang tính bắt buộc đối với mọi người lao động phụ thuộc và chủ sử dụng lao động Sau đó do bản chất ưu việt nên nó được mở rộng ra các đối tượng lao động khác như người hành nghề tự do, lao động nông lâm, ngư nghiệp…và BHYT theo đơn vị gia đình

Vấn đề KCB không chỉ đơn thuần liên quan đến vấn đề kỹ thuật y tế mà còn liên quan một cách rất chặt chẽ đến các yếu tố kinh tế như: các khoản chi trả cho các nghiệp vụ chuyên môn kỹ thuật (khám bệnh, phẫu thuật, thủ thuật…) của các bác sỹ, chi phí cho bệnh viện với các trang thiết bị, vật tư y tế phục vụ cho KCB và thuốc men – nếu nhìn dưới giác độ kinh tế - đó là “Cung” của ngành y tế Còn phía “Cầu” là bệnh tật, những bệnh tật này cần đến các dịch vụ KCB và những hàng hóa cần thiết cho sức khỏe Vì vậy khi thực hiện BHYT, ở các nước công nghiệp phát triển bên cạnh việc sử dụng vai trò điều tiết của Nhà nước, người ta còn chú trọng sử dụng quan hệ cung – cầu điều tiết trên thị trường sức khỏe hay còn gọi là thị trường y tế nhằm đảm bảo hiệu quả sử dụng nguồn quỹ đóng góp của những người tham gia BHYT và nâng cao chất lượng KCB Trong các nước công nghiệp phát triển ở Châu Âu, số người tham gia BHYT theo luật pháp chiếm tới 90% dân số, chỉ 10% dân số còn lại không tham gia BHXH Nhóm người này không thuộc đối tượng điều chỉnh của luật BHYT và phần lớn trong số họ là những người giàu có, họ có đủ khả năng tự lo liệu khi ốm đau hoặc tham gia BHYT tư nhân để hưởng những quyền lợi cao hơn khi ốm đau

Trang 25

Ở nước ta BHYT được tiến hành từ năm 1992 và cho đến nay vẫn thực hiện BHYT bắt buộc đối với người lao động có quan hệ việc làm giữa người sử dụng lao động với người lao động Những đối tượng xã hội như: người có công với cách mạng, thân nhân sỹ quan quân đội, người nghèo cũng được Nhà nước cấp kinh phí để tham gia BHYT Các đối tượng là trẻ em dưới 6 tuổi được KCB miễn phí bằng nguồn ngân sách Nhà nước và địa phương và đang được xem xét để tham gia BHYT Hình thức BHYT tự nguyện đang được vận động thực hiện đối với học sinh, sinh viên và nhóm cộng đồng theo địa bàn dân cư hoặc theo tổ chức xã hội…

2.3 Vai trò của BHYT

BHYT là một phạm trù kinh tế tất yếu của xã hội phát triển, đóng vai trò quan trọng không những đối với người tham gia bảo hiểm, các cơ sở y tế, mà còn là thành tố quan trọng trong việc thực hiện chủ trương xã hội hóa công tác y tế nhằm huy động nguồn tài chính ổn định, phát triển đa dạng các thành phần tham gia KCB cho nhân dân Vai trò của BHYT được thể hiện như sau:

Thứ nhất: BHYT là nguồn hỗ trợ tài chính giúp người tham gia khắc phục những

khó khăn về kinh tế khi bất ngờ ốm đau, bệnh tật Bởi vì trong quá trình điều trị bệnh chi phí rất tốn kém ảnh hưởng đến ngân sách gia đình, trong khi đó thu nhập của họ bị giảm đáng kể thậm chí mất thu nhập

Thứ hai: Góp phần giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước Các quốc gia trên

thế giới thường có các khoản chi từ ngân sách cho hệ thống y tế Tuy nhiên ở một số quốc gia khác, đặc biệt là quốc gia đang phát triển khoản chi này thường chưa đáp ứng được nhu cầu ngành y Ở phần lớn các quốc gia, chính phủ chỉ đầu tư khoảng 60% ngân sách y tế Có nhiều biện pháp mà chính phủ các nước đã thực hiện để giải quyết vấn đề này, như sự đóng góp của cộng đồng xã hội, trong đó có biện pháp thu viện phí của người đến khám, chữa bệnh Nhưng đôi khi giải pháp này lại vấp phải vấn đề trở ngại từ mức sống của dân cư.Vì vậy biện pháp hiệu quả nhất là thực hiện BHYT để giảm gánh nặng cho ngân sách nhà nước, khắc phục sự thiếu hụt về tài chính, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng của người dân

Thứ ba: BHYT góp phần thực hiện nâng cao chất lượng và thực hiện mục tiêu

công bằng xã hội trong chăm sóc sức khỏe nhân dân, thể hiện rõ nét tính nhân đạo, cộng đồng xã hội sâu sắc Những người tham gia BHYT, dù ở địa vị, hoàn cảnh nào, mức đóng là bao nhiêu, khi ốm đau cũng nhận được sự chăm sóc y tế bình đẳng như

Trang 26

nhau, xoá bỏ khoảng cách giàu nghèo khi thụ hưởng chế độ KCB Sự thiếu hụt trong ngân sách y tế đã không đảm bảo nhu cầu KCB Số lượng và chất lượng cơ sở vật chất trang thiết bị của ngành y tế không những không theo kịp sự phát triển nhu cầu KCB của người dân mà còn bị giảm sút Vì vậy thông qua việc đóng góp vào quỹ BHYT sẽ

hỗ trợ ngân sách y tế, nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng phục vụ của ngành y

Thứ tư: BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó mọi thành viên trong xã hội

Trên cơ sở quy luật số lớn, phương châm của BHYT là “mình vì mọi người, mọi người

vì mình”, “lá lánh đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều” Vì vậy mọi thành viên trong xã hội gắn bó và tính cộng đồng được nâng cao.Đặc biệt là giúp giáo dục trẻ em ngay từ khi còn nhỏ tuổi về tính cộng đồng thông qua loại hình BHYT học sinh – sinh viên

Thứ năm: BHYT làm tăng chất lượng khám chữa bệnh và quản lý y tế thông qua

hoạt động quỹ BHYT đầu tư Lúc đó trang thiết bị về y tế sẽ hiện đại hơn, có kinh phí

để sản xuất các loại thuốc đặc trị chữa bệnh hiểm nghèo, có điều kiện nâng cấp các cơ

sở KCB một cách có hệ thống và hoàn thiện hơn, giúp người dân đi KCB được thuận lợi Đồng thời đội ngũ cán bộ y tế sẽ được đào tạo tốt hơn, các y, bác sỹ sẽ có điều kiện nâng cao tay nghề, tích luỹ kinh nghiệm, có trách nhiệm đối với công việc hơn, dẫn đến sự quản lý dễ dàng và chặt chẽ hơn trong KCB

Thứ sáu: Chỉ tiêu phúc lợi xã hội trong mỗi nước cũng biểu hiện trình độ phát

triển của nước đó Do vậy, BHYT là một công cụ vĩ mô của Nhà nước để thực hiện tốt phúc lợi xã hội, đồng thời tạo nguồn tài chính hỗ trợ, cung cấp cho hoạt động chăm sóc sức khỏe của người dân

Thứ bảy: BHYT còn góp phần đề phòng và hạn chế những bệnh hiểm nghèo theo

phương châm “Phòng bệnh hơn chữa bệnh” Với việc kết hợp với các cơ sở KCB BHYT kiểm tra sức khỏe, chăm sóc sức khỏe cho đại đa số những người tham gia BHYT, từ đó phát hiện kịp thời những bệnh hiểm nghèo và có phương pháp chữa trị kịp thời, tránh được những hậu quả xấu, mà nếu không tham gia BHYT tâm lý người dân thường sợ tốn kém khi đi bệnh viện, do đó mà coi thường hoặc bỏ qua những căn bệnh có thể dẫn đến tử vong

Thứ tám: BHYT còn góp phần đổi mới cơ chế quản lý y tế, cụ thể: để có một lực

lượng lao động trong xã hội có thể lực và trí lực, không thể không chăm sóc bà mẹ và trẻ em, không thể để người lao động làm việc trong điều kiện vệ sinh không đảm bảo,

Trang 27

môi trường ô nhiễm… Vì thế việc chăm lo bảo vệ sức khỏe là nhiệm vụ của mỗi người, mỗi tổ chức, mỗi doanh nghiệp và cũng là nhiệm vụ chung của toàn xã hội Đồng thời để đảm bảo cho mọi người lao động khi ốm đau được KCB một cách thuận tiện, an toàn, chất lượng thì cần có mạng lưới y tế đa dạng và rộng khắp, có đội ngũ thầy thuốc giỏi và tận tâm với người bệnh, có cơ sở vật chất y tế đầy đủ, hiện đại… Thông qua BHYT, mạng lưới KCB sẽ được sắp xếp lại, sẽ không còn phân tuyến theo địa giới hành chính một cách máy móc, mà phân theo tuyến kỹ thuật, đảm bảo thuận lợi cho người bệnh, tạo điều kiện cho họ lựa chọn cơ sở điều trị có chất lượng phù hợp BHYT ra đời đòi hỏi người được sử dụng dịch vụ y tế và người cung cấp dịch vụ này phải biết rõ chi phí của một lần KCB đã hợp lý chưa, chi phí cho quá trình vận hành bộ máy của khu vực KCB đã đảm bảo chưa, những chi phí đó phải được hạch toán và quỹ bảo hiểm phải được trang trải, thông qua đó đòi hỏi cơ chế quản lý của ngành y tế phải đổi mới, để tạo ra chất lượng mới trong dịch vụ y tế phù hợp với tiến trình đổi mới đất nước và định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta

2.4 Tâm lý, nhận thức và mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi

2.4.1 Tâm lý là gì?

Khái niệm tâm lý rất rộng và có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Tùy thuộc vào tình huống, hoàn cảnh cụ thể hay cách tiếp cận, chúng ta có thể đưa ra nhiều quan điểm về tâm lý

Thuật ngữ “tâm lý” trong khoa học là rất rộng, đó là tất cả các hiện tượng tinh thần xảy ra trong đầu óc của con người, gắn liền và điều hành mọi hoạt động, hành động của con người Theo cách hiểu này thì tâm lý con người là nhận thức, trí tuệ, cảm xúc, tình cảm, ý chí và tự ý thức, là nhu cầu, năng lực, đến các động cơ hành vi, đến các hứng thú và khả năng sáng tạo, khả năng lao động đến các tâm thế xã hội và những định hướng giá trị,…Tất cả những hiện tượng đó tạo ra 4 lĩnh vực tâm lý cơ bản của con người, đó là nhận thức, tình cảm – ý chí, giao tiếp và nhân cách

2.4.2 Hoạt động nhận thức là gì?

Hoạt động nhận thức là hoạt động phản ánh bản thân hiện thực khách quan Đó là hoạt động nhận biết đánh giá về thế giới quanh mình Khi chúng ta nhìn nhận, xem xét một vấn đề nào đó, khi chúng ta tìm hiểu đánh giá một con người thì có nghĩ là chúng

ta đang tiến hành nhận thức chúng

Hoạt động nhận thức là cơ sở của mọi hoạt động tâm lý khác của con người, nhờ

Trang 28

có nhận thức con người mới có tình cảm, xúc cảm, ý chí và hành động Có nhận thức đúng về đối tượng thì chúng ta mới có những tình cảm, xúc cảm đúng đắn, mới có những hành động đúng hợp với quy luật của sự vật hiện tượng

Hoạt động nhận thức diễn ra theo hai mức độ khác nhau, mức độ thấp nhất là nhận thức cảm tính, mức độ cao nhất là nhận thức lý tính

2.4.3 Mối quan hệ giữa nhận thức và hành vi

Nhận thức là một trong ba mặt cơ bản của đời sống tâm lý con người (nhận thức, tình cảm, ý chí) Nó có mối quan hệ chặt chẽ với các mặt kia và với các hiện tượng tâm lý khác của đời sống con người Nhận thức là một quá trình Ở con người, quá trình này thường gắn với mục đích nhất định nên nhận thức của con người là một hoạt động Đặc trưng nổi bật nhất của hoạt động nhận thức là phản ánh hiện thực khách quan Hoạt động này bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, gắn bó chặt chẽ với nhau, thể hiện những mức độ phản ánh hiện thực khách quan (cảm giác, tri giác, tư duy, tưởng tượng…) và mang lại những sản phẩm khác nhau về hiện thực khách quan (hình ảnh, hình tượng, biểu tượng, khái niệm)

Nhận thức cảm tính có được nhờ sự hoạt động của các giác quan nhận biết của con người, như thính giác, thị giác, xúc giác… Nó được tiến hành thông qua ba hình thức nhận biết quan trọng là cảm giác, tri giác và biểu tượng Cảm giác là hình thức đầu tiên của sự phản ánh hiện thực khách quan và là nguồn gốc của tri thức Cảm giác

là một liên hệ trực tiếp của ý thức với thế giới bên ngoài, là sự biến thể, chuyển hóa của năng lượng tác động bên ngoài thành yếu tố của ý thức, là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan Tri giác nảy sinh trên cơ sở phối hợp, bổ sung lẫn nhau của nhiều cảm giác, đưa lại cho chủ thể nhận thức sự hiểu biết tương đối đầy đủ hơn về đối tượng phản ánh Biểu tượng là hình ảnh của đối tượng nhận thức với những thuộc tính, mối liên hệ nổi bật của nó được lưu giữ và tái hiện lại trong đầu óc chủ thể Biểu tượng thể hiện năng lực ghi nhận, lưu giữ, tái hiện thông tin của bộ óc con người Chính những thông tin này là những dữ liệu căn cứ làm tiền đề cơ bản cho việc hình thành các khái niệm, phạm trù

Nhận thức cảm tính cung cấp những hiểu biết ban đầu về đối tượng nhận thức, nhưng những hiểu biết đó mới chỉ dừng lại ở những nét bề ngoài của đối tượng Từ những tri thức trực quan, cảm tính bề ngoài đó, người ta chưa thể phân biệt hoặc xác định được cái bản chất và không bản chất, cái tất nhiên và ngẫu nhiên, tính phổ biến và

Trang 29

cá biệt Hơn nữa, nhận thức cảm tính luôn có giới hạn nhất định, vì sự hoạt động của các giác quan nhận biết không thể lan rộng ra ngoài ngưỡng của cảm giác Trên thực

tế, con người không thể nhìn thấy mọi không gian, màu sắc, nghe được mọi âm thanh, ngửi và nếm được tất cả mùi vị hay tiếp xúc được với những khối lượng cực lớn, cực nhỏ Trong khi đó, nhiệm vụ của nhận thức là phải nắm bắt bản chất của đối tượng trong tính tất yếu và tính quy luật của nó Để làm được như vậy, nhận thức phải chuyển lên một giai đoạn, trình độ cao hơn - nhận thức lý tính

Nhận thức lý tính có được nhờ sự hoạt động của tư duy trừu tượng, nó được tiến hành qua ba hình thức: khái niệm, phán đoán, suy luận Khái niệm là một hình thức của tư duy trừu tượng, phản ánh những mối liên hệ và thuộc tính bản chất, phổ biến của một lớp các sự vật hiện tượng nào đó Nó là dữ liệu cơ bản tạo thành nội dung của

ý thức, tư duy con người, đồng thời, là những viên gạch xây dựng nên lâu đài của tri thức khoa học nhân loại Phán đoán là sự liên kết các khái niệm tạo thành một mệnh đề

có cấu trúc ngôn ngữ chặt chẽ nhằm khẳng định hay phủ định một thuộc tính, mối liên

hệ nào đó của hiện thực khách quan Suy luận phản ánh quá trình vận động của tư duy

đi từ những cái đã biết đến việc nhận thức những cái chưa biết một cách gián tiếp, dựa trên cơ sở sử dụng những tri thức đã có

Nhiệm vụ của nhận thức lý tính là cải biến những tri thức cảm tính và kết quả là sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù, quy luật, nguyên lý Tất cả chúng là những trừu tượng khoa học phản ánh các mặt, các mối liên hệ bản chất, tất yếu của thế giới hiện thực Nói cách khác, nhận thức lý tính (tư duy trừu tượng) mang lại cho chủ thể nhận thức những hình ảnh về bản chất của đối tượng nhận thức, thể hiện qua các khái niệm, phạm trù, quy luật

Những phân tích trên đã cho chúng ta thấy vai trò to lớn của nhận thức con người trong việc sáng tạo nên các khái niệm, phạm trù nói chung và trong cuộc sống xã hội nói riêng Nhận thức là thành tố của ý thức, là cơ sở của hành động

Trong cuộc sống xã hội, nhận thức chính là một trong những yếu tố quan trọng giúp cá nhân định hướng hành vi của mình vì không nhận thức được các chuẩn mực, giá trị xã hội thì con người sẽ không có được các hành vi đúng đắn

2.5 Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng

2.5.1 Hành vi người tiêu dùng: Theo Kotler (2005), nghiên cứu về hành vi tiêu dùng

của khách hàng là một nhiệm vụ khá quan trọng có ảnh hưởng rất lớn trong qui trình

Trang 30

các quyết định về tiếp thị của các doanh nghiệp Trong những thời gian đầu tiên, những người làm tiếp thị có thể hiểu được người tiêu dùng thông qua những kinh nghiệm bán hàng cho họ hàng ngày.Thế nhưng sự phát triển về quy mô của các doanh nghiệp và thị trường đã làm cho nhiều nhà quản trị tiếp thị không còn điều kiện tiếp xúc trực tiếp với khách hàng nữa

Hình 2.1: Mô hình hành vi của người mua (Kotler, 2005)

Điểm xuất phát để hiểu được người mua là mô hình tác nhân phản ứng được thể hiện trong hình 2.1.Tiếp thị và những tác nhân của môi trường đi vào ý thức của người mua.Những đặc điểm và quá trình quyết định của người mua dẫn đến những quyết định mua sắm nhất định Nhiệm vụ của người làm tiếp thị là hiểu được điều gì xảy ra trong ý thức của người mua giữa lúc các tác nhân bên ngoài bắt đầu tác động và lúc quyết định mua Ta sẽ tập trung vào hai câu hỏi sau: - Những đặc điểm nào của người mua, ảnh hưởng đến hành vi mua sắm? - Người mua thông qua quyết định mua sắm như thế nào? Theo Kotler (2005), quá trình mua hàng của khách hàng bị tác động bởi một số nhân tố mà những nhà quản trị tiếp thị không thể kiểm soát được như yếu tố văn hóa, yếu tố xã hội, yếu tố cá nhân và yếu tố tâm lý Tuy vậy những nhân tố này phải được đưa vào để xem xét một cách đúng mức nhằm đạt được hiệu quả về mục tiêu khách hàng

Trang 31

Hình 2.2: Mô hình chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tiêu dùng

2.5.2 Những yếu tố chính ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu

“Người tiêu dùng không quyết định trong sự trống không Việc mua sắm của họ chịu tác động mạnh mẽ của những yếu tố văn hoá, xã hội, cá nhân và tâm lý” (Kotler,

2000, P226) Đa số các nhân tố này đều không kiểm soát được, nhưng chúng có tác động mạnh mẽ đến hành vi của người tiêu dùng Theo Kotler (2005), thì các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi của người tiêu dùng như sau:

Hình 2.3: Mẫu thức chi tiết các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi người tiêu dùng

 Các yếu tố về văn hoá

“Các yếu tố văn hóa có tác động rộng rãi nhất và sâu xa nhất đến hành vi của người tiêu dùng, bao gồm có: văn hóa, tiểu văn hóa và tầng lớp xã hội đối với người tiêu dùng” (Kotler, 2000, P227)

Văn hóa là yếu tố quyết định cơ bản nhất của hành vi và ước muốn của người tiêu dùng, nó bao gồm những giá trị, nhận thức, thị hiếu, cách thế ứng xử cơ bản, mà

- Nghề nghiệp

- Hoàn cảnh kinh

tế

- Cá tính và sự tự nhận thức

Tiêu dùng

Trang 32

người ta học được từ gia đình và những định chế quan yếu khác Các tiểu văn hóa là

“văn hóa có trong văn hóa” – nhóm quốc tịch, nhóm tôn giáo và nhóm địa lý, đều có những giá trị và phong cách sống khác nhau Những người thuộc về những văn hóa, tiểu văn hóa, đặc trưng tầng lớp xã hội khác nhau thì có những sở thích khác nhau về sản phẩm và hiệu hàng

Nhánh Văn hóa: Mỗi nền văn hóa đều có những nhánh văn hóa nhỏ hơn tạo nên những đặc điểm đặc thù hơn và mức độ hòa nhập với xã hội cho những thành viên của

nó Các nhánh văn hóa tạo nên những khúc thị trường quan trọng và những người làm tiếp thị thường thiết kế các sản phẩm và chương trình tiếp thị theo các nhu cầu của chúng (Kotler, 2005)

Tầng lớp xã hội: Hầu như tất cả các xã hội loài người đều thể hiện rõ sự phân tầng xã hội Sự phân tầng này đôi khi mang hình thức, một hệ thống đẳng cấp theo đó những thành viên thuộc các đẳng cấp khác nhau được nuôi nấng và dạy dỗ để đảm nhiệm những vai trò nhất định Hay gặp hơn là trường hợp phân tầng thành các tầng lớp xã hội Các tầng lớp xã hội là những bộ phận tương đối đồng nhất và bền vững trong xã hội, được xếp theo theo thứ bậc và gồm những thành viên có chung những giá trị, nỗi quan tâm và hành vi (Kotler, 2005)

 Các yếu tố xã hội

Hành vi của người tiêu dùng cũng chịu ảnh hưởng của những yếu tố xã hội như các nhóm tham khảo, gia đình và vai trò của địa vị xã hội (Kotler, 2005) Nhóm tham khảo: Nhiều nhóm có ảnh hưởng đến hành vi của một người Nhóm tham khảo của một người bao gồm những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp (mặt đối mặt) hay gián tiếp đến thái độ hay hành vi của người đó Những nhóm có ảnh hưởng trực tiếp đến một người gọi là những nhóm thành viên Đó là những nhóm mà người đó tham gia và có tác động qua lại Có những nhóm là nhóm sơ cấp, như gia đình, bạn bè, hàng xóm láng giềng và đồng nghiệp, mà người đó có quan hệ giao tiếp thường xuyên Các nhóm sơ cấp thường là có tính chất chính thức hơn và ít đòi hỏi phải có quan hệ giao tiếp thường xuyên hơn Những người làm tiếp thị cố gắng nhận diện những nhóm tham khảo của các khách hàng mục tiêu của mình Người ta chịu ảnh hưởng khá mạnh của các nhóm tham khảo ít nhất là theo ba cách Các nhóm tham khảo tạo điều kiện để một

cá nhân tiếp xúc với những hành vi và lối sống mới Những nhóm này cũng ảnh hưởng

Trang 33

đến thái độ và tự ý niệm của mỗi người, bởi vì người đó thường muốn hòa nhập vào

đó Những nhóm này tạo ra những áp lực buộc phải tuân theo những chuẩn mực chung

và có thể tác động đến cách lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu trong thực tế của người

đó Ảnh hưởng của nhóm mạnh đối với những sản phẩm mà những người được người mua kính trọng để nhìn thấy

Gia đình: Các thành viên trong gia đình là nhóm tham khảo quan trọng có ảnh hưởng lớn nhất Ta có thể phân biệt hai gia đình trong đời sống người mua Gia đình định hướng gồm bố mẹ của người đó Do từ bố mẹ mà một người có được một định hướng đối với tôn giáo, chính trị, kinh tế và một ý thức về tham vọng cá nhân, lòng tự trọng và tình yêu Ngay cả khi người mua không còn quan hệ nhiều với bố mẹ, thì ảnh hưởng của bố mẹ đối với hành vi của người mua vẫn có thể rất lớn Ở những nước mà

bố mẹ sống chung với con cái đã trưởng thành thì ảnh hưởng của họ có thể là cơ bản Một ảnh hưởng trực tiếp hơn đến hành vi mua sắm hàng ngày là gia đình riêng của người đó, tức là vợ chồng và con cái Gia đình là một tổ chức mua hàng tiêu dùng quan trọng nhất trong xã hội và nó đã được nghiên cứu rất nhiều năm Những người làm tiếp thị quan tâm đến vai trò và ảnh hưởng tương đối của chồng, vợ và con cái đến việc mua sắm rất nhiều loại sản phẩm và dịch vụ khác nhau Vấn đề này sẽ thay đổi rất nhiều đối với các nước và các tầng lớp xã hội khác nhau Người làm tiếp thị bao giờ cũng phải nghiên cứu những dạng mẫu đặc thù trong từng thị trường mục tiêu cụ thể Trong trường hợp những sản phẩm và dịch vụ đắt tiền, vợ chồng cùng bàn bạc để thông qua quyết định chung Người làm tiếp thị phải xác định xem thành viên nào thường có ảnh hưởng lớn hơn đến việc lựa chọn những sản phẩm khác nhau Thông thường đó là vấn đề ai có quyền lực hay thông thạo hơn

Vai trò và địa vị: Trong đời mình một người tham gia vào rất nhiều nhóm - gia đình, các câu lạc bộ, các tổ chức Vị trí của người đó trong mỗi nhóm có thể xác định căn cứ vào vai trò và địa vị của họ Mỗi vai trò đều gắn với một địa vị Thẩm phán Tòa

án tối cao có địa vị cao hơn một người quản lý tiêu thụ và người quản lý tiêu thụ có địa

vị cao hơn một thư ký văn phòng Người ta lựa chọn những sản phẩm thể hiện được vai trò và địa vị của mình trong xã hội

 Các yếu tố cá nhân

Tuổi tác, đoạn đường đời, nghề nghiệp, hoàn cảnh kinh tế, phong cách sống, cá

Trang 34

tính và những đặc tính riêng tư khác của người mua, đều có những ảnh hưởng đến các quyết định mua của người ấy Giới người tiêu thụ trẻ có những nhu cầu và ước muốn khác với giới lớn tuổi; nhu cầu của những cặp vợ chồng trẻ mới cưới thì khác với những cặp vợ chồng già; người tiêu thụ có lợi tức cao sẽ mua khác với những người phải chi tiêu tằn tiện Phong cách sống của người tiêu thụ – kết cấu tổng thể của sự tác động và tác động trở lại trong cuộc sống – cũng là một ảnh hưởng quan trọng đến sự lựa chọn của người mua

Tuổi tác và giai đoạn của chu kỳ sống: Người ta mua những hàng hóa và dịch vụ khác nhau trong suốt đời mình Sử dụng thức ăn cho trẻ sơ sinh trong những năm đầu tiên, phần lớn thực phẩm trong nhưng năm lớn lên và trưởng thành và những thức ăn kiêng cữ trong những năm cuối đời Thị hiếu của người ta về quần áo, đồ gỗ và cách giải trí cũng tùytheo tuổi tác Việc tiêu dùng cũng được định hình theo giai đoạn của chu kỳ sống của gia đình Những người làm tiếp thị thường hay chọn các nhóm của chu kỳ sống làm thị trường mục tiêu của mình Một số công trình mới đây đã xác định các giai đoạn tâm lý của chu kỳ sống Những người lớn tuổi đã trải qua những thời kỳ hay những biến đổi nhất định trong quá trình sống Người làm tiếp thị theo dõi rất sát những hoàn cảnh sống luôn thay đổi, ly hôn, góa bụa, tái giá và tác động của những thay đổi đó đến hành vi tiêu dùng Nghề nghiệp: Nghề nghiệp của một người cũng ảnh hưởng đến cách thức tiêu dùng của họ Người công nhân sẽ mua quần áo lao động, giày đi làm, bữa ăn trưa đóng hộp và trò chơi giải trí hai người Chủ tịch doanh nghiệp

sẽ mua quần áo đắt tiền, đi du lịch bằng đường hàng không, tham gia các câu lạc bộ và thuyền buồm lớn Người làm tiếp thị cố gắng xác định những nhóm nghề nghiệp có quan tâm trên mức trung bình đến các sản phẩm và dịch vụ của mình Doanh nghiệp

có thể thậm chí chuyên môn hóa sản phẩm của mình cho những nhóm nghề nghiệp nhất định

Hoàn cảnh kinh tế: Việc lựa chọn sản phẩm chịu tác động rất lớn từ hoàn cảnh kinh tế của người đó Hoàn cảnh kinh tế của người ta gồm thu nhập có thể chi tiêu được của họ (mức thu nhập, mức ổn định và cách sắp xếp thời gian), tiền tiết kiệm và tài sản (bao gồm cả tỷ lệ phần trăm tài sản lưu động), nợ, khả năng vay mượn, thái độ đối với việc chi tiêu và tiết kiệm Những người làm tiếp thị những hàng hóa nhạy cảm với thu nhập phải thường xuyên theo dõi những xu hướng trong thu nhập cá nhân, số tiền tiết kiệm và lãi suất Nếu các chỉ số kinh tế có sự suy thoái tạm thời, thì những

Trang 35

người làm tiếp thị có thể tiến hành những biện pháp thiết kế lại, xác định lại vị trí và định giá lại cho sản phẩm của mình để chúng tiếp tục đảm bảo giá trị dành cho các khác hàng mục tiêu

Lối sống: Những người cùng xuất thân từ một nhánh văn hóa, tầng lớp xã hội và cùng nghề nghiệp có thể có những lối sống hoàn toàn khác nhau Lối sống của một người là một cách sống trên thế giới của họ được thể hiện ra trong hoạt động, sự quan tâm và ý kiến của người đó Lối sống miêu tả sinh động toàn diện một con người trong quan hệ với môi trường của mình Những người làm tiếp thị sẽ tìm kiếm những mối quan hệ giữa sản phẩm của mình và các nhóm theo lối sống

Nhân cách và ý niệm về bản thân: Mỗi người đều có một nhân cách khác biệt có ảnh hưởng đến hành vi của người đó Ở đây nhân cách có nghĩa là những đặc điểm tâm lý khác biệt của một người dẫn đến những phản ứng tương đối nhất quán và lâu bền với môi trường của mình Nhân cách thường được mô tả bằng những nét như tự tin có uy lực, tính độc lập, lòng tôn trọng, tính chan hòa, tính kín đáo và tính dễ thích nghi Nhân cách có thể là một biến hữu ích trong việc phân tích hành vi của người tiêu dùng, vì rằng có thể phân loại các kiểu nhân cách và có mối tương quan chặt chẽ giữa các kiểu nhân cách nhất định với các lựa chọn sản phẩm và nhãn hiệu Nhiều người làm tiếp thị đã sử dụng một khái niệm gắn liền với nhân cách là ý niệm về bản thân

 Các yếu tố tâm lý

Việc lựa chọn mua sắm của một người còn chịu ảnh hưởng của bốn yếu tố tâm lý

là động cơ, nhận thức, tri thức, niềm tin và thái độ (Kotler, 2005) Động cơ: Tại bất kỳ một thời điểm nhất định nào con người cũng có nhiều nhu cầu Một số nhu cầu có nguồn gốc sinh học Chúng nảy sinh từ những trạng thái căng thẳng về sinh lý như đói, khát, khó chịu Một số nhu cầu khác có nguồn gốc tâm lý Chúng nảy sinh từ những trạng thái căng thẳng về tâm lý, như nhu cầu được thừa nhận, được kính trọng hay được gần gũi về tinh thần Hầu hết những nhu cầu có nguồn gốc tâm lý đều không đủ mạnh để thúc đẩy con người hành động theo chúng ngay lập tức Một nhu cầu sẽ trở thành động cơ khi nó tăng lên đến một mức độ đủ mạnh Một động cơ (hay một sự thôi thúc) là một nhu cầu đã có đủ sức mạnh để thôi thúc người ta hành động.Việc thỏa mãn nhu cầu sẽ làm giảm bớt cảm giác căng thẳng Các nhà tâm lý học đã phát triển những lý thuyết về động cơ của con người Trong số những lý thuyết nổi tiếng nhất có

ba lý thuyết là lý thuyết của Sigmund Freud, của Abraham Maslow và của Frederick

Trang 36

Herzberg Những lý thuyết này chứa đựng những hàm ý hoàn toàn khác nhau đối với việc phân tích người tiêu dùng và chiến lược tiếp thị Trong luận văn này tác giả xin sử dụng lý thuyết của Abraham Maslow

Lý thuyết động cơ của Maslow: Abraham Maslow đã tìm cách giải thích tại sao những thời điểm khác nhau, người ta lại bị thôi thúc bởi những nhu cầu khác nhau Tại sao có người đã dành ra nhiều thời gian và sức lực để đảm bảo an toàn cá nhân và có người lại cố gắng giành được sự kính trọng của người xung quanh? Ông cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp trật tự theo thứ bậc, từ cấp thiết nhất đến ít cấp thiết nhất Theo thứ tự tầm quan trọng các nhu cầu đó được sắp xếp như sau: Những nhu cầu sinh lý, những nhu cầu an toàn, những nhu cầu xã hội, những nhu cầu được tôn trọng và những nhu cầu tự khẳng định mình Con người sẽ cố gắng thỏa mãn trước hết

là những nhu cầu quan trọng nhất Khi người ta đã thỏe mãn được một nhu cầu quan trọng nào đó thì nó sẽ không còn là động cơ hiện thời nữa và người ta lại cố gắng thỏa mãn nhu cầu quan trọng nhất tiếp theo

Lý thuyết của Maslow (1935) đã giúp người làm tiếp thị hiểu được các sản phẩm khác nhau phù hợp như thế nào với các ý đồ, mục đích và đời sống của những người tiêu dùng tiềm ẩn

2.5.3 Các mô hình về tâm lý và nhận thức tác động đến hành vi tiêu dùng

Từ lý thuyết hành vi tiêu dùng của Kotler (2000) ở trên (đặc biệt là hình 2.2 bao gồm các nhóm yếu tố tác động khác nhau), phân dưới đây tập trung phân tích cơ sở lý thuyết của nhóm các yếu tố tâm lý và nhận thức

 Mô hình TRA của Fishbein và Ajzen (1975)

Mô hình thuyết hành động hợp lý (Theory of reasoned action) được Martin Ajzen

và Icek Fishbein xây dựng từ năm 1975 và được xem là học thuyết tiên phong trong lĩnh vực nghiên cứu tâm lý xã hội và hành vi tiêu dùng (Sheppard, Hartwick và Warshaw, 1998) Mối quan hệ giữa ý định và hành vi đã được đưa ra và kiểm chứng thực nghiệm trong rất nhiều nghiên cứu ở nhiều lĩnh vực (Ajzen, 1988; Ajzen và Fishbein, 1980; Canary và Seibold, 1984)

Mô hình này cho thấy được “ý định hành vi” là yếu tố quan trọng nhất để dự đoán hành vi người tiêu dùng Theo Ajzen (1975), ý định bao gồm các yếu tố động cơ

có ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, các yếu tố này cho thấy mức độ sẵn sàng hoặc nỗ lực mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi

Trang 37

Ý định hành vi (Behavior intention – BI) là một dấu hiệu của sự sẵn sàng của một

cá nhân để thực hiện một hành vi nhất định Theo Fishbein, ý định hành vi được xác định bởi hai yếu tố là cá nhân và xã hội, hay còn gọi là yếu tố thái độ và chuẩn chủ quan Trong đó, thái độ (Attitude - Att) là biểu hiện yếu tố cá nhân, thể hiện niềm tin tích cực hay tiêu cực của một cá nhân về hành vi thực hiện (Fishbein và Ajzen, 1975, p.216) Còn chuẩn chủ quan (Subjective norm – SN) thể hiện ảnh hưởng của quan hệ

xã hội lên cá nhân, là nhận thức của con người rằng hầu hết những người quan trọng với họ sẽ nghĩ họ nên hay không nên thực hiện hành vi (Fishbein và Ajzen, 1975, p.302)

Trong mô hình TRA, thái độ (Attitude – Att) được đo lường bằng nhận thức về các thuộc tính của sản phẩm Người ta thấy được những thuộc tính mang lại các lợi ích cần thiết và có mức độ quan trọng khác nhau

Mô hình thuyết hành động hợp lý TRA được Fishbein và Ajzen (1975) xây dựng

và mở rộng theo thời gian:

Hình 2.4: Mô hình thuyết hành động hợp lý của Fishbein và Ajzen (1975)

Nguồn: Schiffman và Kanuk, 1987

Niềm tin đối với các thuộc

Sự thúc đẩy làm theo ý muốn

của người ảnh hưởng

Thái độ

Chuẩn chủ quan

Ý định hành vi

Hành vi thực sự

Trang 38

Mô hình TPB của Ajzen (1991)

Ajzen cho rằng ý định hành vi không phải lúc nào cũng dẫn đến hành vi thực tế

Vì vậy, Ajzen (1975) đã thêm khái niệm kiểm soát hành vi cảm nhận vào mô hình TRA, tạo nên Mô hình hành vi dự định TPB (Theory of Planned Behavior – TPB) Mô hình TPB đã được chấp nhận rộng rãi và giúp các nhà khoa học dự đoán hành vi con người

Kiểm soát hành vi cảm nhận (Perceived Bahavior Control): Là nhận thức về sự

dễ dàng hay khó khăn khi thực hiện hành vi (Ajzen, 1991, p.188) Các nhân tố kiểm soát có thể là bên trong của một người như kỹ năng, kiến thức… hoặc là bên ngoài như thời gian, cơ hội, sự phụ thuộc vào người khác… Mô hình hành vi có kế hoạch được thể hiện như sau:

Hình 2.5: Mô hình hành vi có kế hoạch của Ajzen (1991)

(Nguồn: Ajzen, 1991)

Niềm tin hành vi tạo ra thái độ thích hay không thích về hành vi; niềm tin chuẩn mực tạo ra kết quả là các áp lực xã hội nhận thức hay quy chuẩn chủ quan; niềm tin kiểm soát làm gia tăng sự kiểm soát hành vi cảm nhận được Từ đó, ba yếu tố thái độ, quy chuẩn chủ quan và kiểm soát hành vi cảm nhận dẫn đến sự hình thành dự định hành động hay ý định

Đến năm 1994, Ajzen (1991) tiếp tục sửa đổi mô hình TPB bằng cách thêm vào khái niệm kiểm soát hành vi thực tế Kiểm soát hành vi thực tế liên quan đến mức độ

mà một người có được những kỹ năng, nguồn lực và những điều kiện cần thiết khác để

Kiểm soát hành vi cảm nhận

Ý định hành vi

Hành vi thực sự

Trang 39

thực hiện hành vi Sự thực hiện thành công hành vi không chỉ phụ thuộc vào ý định mà còn phụ thuộc vào mức khả năng kiểm soát hành vi Đến một mức độ mà kiểm soát hành vi cảm nhận là chính xác, nó có thể đáp ứng như một biểu thị của kiểm soát thực

tế và có thể sử dụng để dự báo hành vi Mô hình hành vi có kế hoạch phiên bản lần 2 được thể hiện như sau:

Hình 2.6: Mô hình hành vi có kế hoạch phiên bản lần 2 của Ajzen (1994)

(Nguồn: Ajzen, 1994)

 Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu MGB của Perigini và Bagozzi (2001)

Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu (MGB) được xây dựng dựa trên Mô hình hành vi có kế hoạch (TPB) của Ajzen (1991) Mô hình này xem các thành phần cơ bản của lý thuyết hành vi có kế hoạch liên quan đến mục tiêu hơn là hành vi

Trong mô hình MGB thì mong muốn đóng một vai trò quan trọng Mong muốn được xem là yếu tố dự báo hành vi mạnh hơn so với thái độ và chuẩn chủ quan Mong muốn là một yếu tố tạo nên động lực để hình thành nên ý định, mà ý định được giả định là yếu tố tác động đến hành vi Các yếu tố của mong muốn bao gồm cảm xúc mong đợi tích cực và tiêu cực Nó được xem là những phản ứng tình cảm được mong đợi dẫn đến thất bại và thành công Hơn nữa, những cảm xúc mong đợi tích cực và tiêu cực được đánh giá độc lập với quan điểm của thất bại và thành công Những cảm xúc mong đợi tích cực là sự tưởng tượng đến mục tiêu thành công, mang lại sự thú vị và bổ ích Vì vậy, chủ thể cần được thúc đẩy để cố gắng đạt được mục tiêu phấn đấu Những

Kiểm soát hành vi cảm nhận

thực sự

Kiểm soát hành vi thực tế

Trang 40

cảm xúc mong đợi có chức năng làm ảnh hưởng đến quyết định thực hiện hành vi Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu được thể hiện như sau:

Hình 2.7: Mô hình hành vi hướng tới mục tiêu của Perugini và Bagozzi

(Nguồn: Perugini và Bagozzi, 2001)

Trong mô hình MGB thì hành vi trong quá khứ phản ánh những thói quen trong quá khứ và có tác động độc lập với ý định Theo Ajzen (1991), mặc dù hành vi trong quá khứ có thể phản ánh tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định và hành vi, nó

có thể không được coi là một yếu tố nguyên nhân theo đúng nghĩa của nó Hành vi trong quá khứ ảnh hưởng đến giai đoạn tạo động lực trong quá trình ra quyết định Từ

đó cho thấy, hành vi trong quá khứ có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định thực hiện hành

vi Sự quen thuộc và thường xuyên lặp đi lặp lại của một hành vi trong quá khứ sẽ ảnh hưởng đến ý định thực hiện những hành động này với quy tắc đơn giản, ít có sự tham gia của suy nghĩ khi thực hiện lại hàng vi đó trong tương lai Và các hành vi trong quá khứ là yếu tố dự báo chỉ có hiệu quả khi các tình huống ổn định

Tóm lại, mô hình MGB định nghĩa lại lý thuyết của việc ra quyết định và kết hợp

ba yếu tố lý thuyết mới mà mô hình TPB trước đó chưa đề cập đến như: mong muốn, cảm xúc và thói quen trong quá khứ Trong khi mô hình MGB thể hiện sự tác động của những phản ứng tình cảm được mong đợi vào mục tiêu thay vì hành vi Trọng tâm của những phản ứng tình cảm có thể được xác định ở mức độ kết quả hành vi hoặc kết quả mục tiêu Mục tiêu đóng vai trò trung tâm trong việc giải thích nhiều hành vi vì những

Kiểm soát hành vi cảm nhận

Kiểm soát hành vi cảm nhận

Ngày đăng: 31/08/2020, 13:54

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm