LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan: Luận văn “Phân tích một số nhân tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân, đư
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
TRƯƠNG THỊ NGỌC BÍCH
PHÂN TÍCH MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:TS LẠI TIẾN DĨNH
TP Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn “Phân tích một số nhân tố tác động đến nợ xấu tại các ngân hàng thương mại cổ phần niêm yết ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của bản thân, được đúc kết trong quá trình học tập và tham khảo thực tiễn trong thời gian vừa qua Những số liệu được sử dụng phục vụ cho luận văn được chính tác giả thu thập từ những nguồn đáng tin cậy, được xử lý một cách khách quan, trung thực Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan của mình
Tp.HCM, ngày 29 tháng 04 năm 2016
Trương Thị Ngọc Bích
Trang 3MỤC LỤC Trang
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BẢNG VẼ VÀ ĐỒ THỊ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 2
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
1.5 Phương pháp nghiên cứu 3
1.6 Kết cấu luận văn 3
1.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu 4
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 2.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu 5
2.1.1 Khái niệm nợ xấu 5
2.1.2 Đặc trưng, phân loại nợ xấu 7
2.1.2.1 Đặc trưng nợ xấu 7
2.1.2.2 Phân loại nợ xấu 7
Trang 42.1.3 Chỉ tiêu cơ bản phản ánh nợ xấu 8
2.1.4 Tác động của nợ xấu 9
2.2 Tóm tắt các nghiên cứu có liên quan đến các yếu tố tác động đến nợ xấu của các NHTM 11
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 3.1 Sự tăng trưởng về quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam 13
3.2 Tiền gửi khách hàng tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam 17
3.3 Cho vay khách hàng tại các NHTMCP niêm yết Việt Nam 20
3.4 Kết quả hoạt động kinh doanh tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam 23
3.5 Phân tích tình hình nợ xấu của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam 25
3.5.1 Khái quát về nợ xấu trong thời gian vừa qua 25
3.5.2 Chất lượng nợ tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam 28
3.5.3 Sơ lược về các biện pháp hạn chế nợ xấu gia tăng trong thời gian qua 33
3.5.4 Điểm lại các nguyên nhân chính yếu khiến cho tình trạng nợ xấu tại các 36
NHTMCP niêm yết ở Việt Nam tăng cao trong thời gian qua 3.7.5 Khó khăn trong việc xử lý nợ xấu trong thời gian vừa qua 38
CHƯƠNG 4: PHƯƠNG PHÁP, DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Mẫu dữ liệu nghiên cứu 43
4.2 Các biến nghiên cứu 44
4.3 Xây dựng giả thuyết nghiên cứu 46
4.3.1 Giả thuyết tốc độ tăng trưởng kinh tế 46
Trang 54.3.2 Giả thuyết tỷ lệ thất nghiệp 46
4.3.3 Giả thuyết tỷ lệ lạm phát 47
4.3.4 Giả thuyết tỷ lệ dự phòng rủi ro tín dụng trên tổng dư nợ cho vay khách hàng 47
4.3.5 Giả thuyết về lợi nhuận sau thuế trên vốn chủ sở hữu 48
4.3.6 Giả thuyết về tính không hiệu quả trong việc sử dụng chi phí 48
4.3.7 Giả thuyết về tỷ lệ nợ xấu năm trước 49
4.3.8 Giả thuyết về tỷ lệ cho vay trên tổng tài sản 49
4.4 Mô hình nghiên cứu 51
4.5 Kết quả nghiên cứu 51
4.5.1 Thống kê mô tả các biến nghiên cứu 51
4.5.2 Ma trận hệ số tương quan các biến nghiên cứu 54
4.5.3 Mô hình hồi quy 55
4.5.4 Các kiểm định và lựa chọn mô hình 56
4.5.4.1 Kiểm định lựa chọn mô hình 56
4.5.4.2 Kiểm định đa cộng tuyến 56
4.5.4.3 Đánh giá mức độ phù hợp của mô hình thông qua hệ số R2 57
4.5.5 Các kết quả hồi quy 57
4.5.5.1 Kết quả hồi quy dữ liệu theo Fixed Effect Model 57
4.5.5.2 Kết quả hồi quy dữ liệu theo Random Effect Model 58
4.5.5.3 Kết quả kiểm định Hausman Test 62
4.5.5.4 Kết quả kiểm định hiện tượng tự tương quan trong mô hình 62
4.5.5.5 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến 62
4.5.5.6 Kiểm định bỏ bớt biến trong mô hình hồi quy 63
4.5.5.7 Kết quả hồi quy dữ liệu sau khi bỏ bớt biến hiệu quả hoạt động (INEF) 65
Trang 64.5.5.8 Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến, tự tương quan trong mô hình
hồi quy sau khi bỏ bớt biến hiệu quả hoạt động (INEF) 66
4.5.5.9 Phân tích ý nghĩa các hệ số hồi quy của các biến tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam 66
CHƯƠNG 5: GIẢI PHÁP VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH NHẰM HẠN CHẾ NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM 5.1 Các ngân hàng thương mại cần thực hiện nghiêm công tác trích lập dự phòng rủi ro tín dụng 70
5.2 Chuyển nợ thành vốn góp tại doanh nghiệp vay vốn 71
5.3 Đa dạng hóa các nguồn thu nhập cho ngân hàng, giảm áp lực gia tăng lợi nhuận từ tín dụng 72
5.4 Nâng cao năng lực xử lý nợ xấu của VAMC trong thời gian tới 72
5.5 Chính phủ cần nới lỏng room giới hạn vốn góp của ngân hàng thương mại vào các doanh nghiệp vay vốn 73
5.6 Chính phủ cần giám sát hoạt động của các Doanh nghiệp Nhà nước 74
5.7 Chính phủ cần tạo điều kiện để thị trường BĐS phục hồi 74
5.8 Phát triển thị trường mua bán nợ
KẾT LUẬN
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ACB Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu
BCBS Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng
BCTC Báo cáo tài chính
BCTN Báo cáo thường niên
CTG Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam
BIDV Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và phát triển Việt Nam DNNN Doanh nghiệp nhà nước
EIB Ngân hàng thương mại cổ phần Xuất Nhập Khẩu
FEM Mô hình các ảnh hưởng cố định (Fixed effects model)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product)
IMF Quỹ tiền tệ Quốc tế (International Monetary Fund)
NCB Ngân hàng thương mại cổ phần Quốc Dân
NHNN Ngân hàng Nhà nước
NHTM Ngân hàng thương mại
NHTMCP Ngân hàng thương mại cổ phần
NHTMVN Ngân hàng thương mại Việt Nam
Trang 8NPLs Nợ xấu (Non – performing loans)
OLS Phương pháp bình phương nhỏ nhất (Ordinary least squares) REM Mô hình các ảnh hưởng ngẫu nhiên (Random EFFects model) ROA Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản
ROE Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (Returm on equity) ROEA Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu bình quân
RRTD Rủi ro tín dụng
SHB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn- Hà Nội
STB Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín
TCTC Tổ chức tài chính
TCTD Tổ chức tín dụng
TP.HCM Thành phố Hồ Chí Minh
TSĐB Tài sản đảm bảo
UBGSTCQG Uỷ ban giám sát tài chính quốc gia
VAMC Công ty Quản lý Tài sản của các Tổ chức Tín dụng Việt Nam
(Viet Nam Asset Management Company) VCB Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam VCSH Vốn chủ sở hữu
WB Ngân hàng Thế giới (World Bank)
Trang 9Danh mục các bảng biểu Trang
Bảng 2.1 : Tóm tắt các nghiên cứu các biến vĩ mô ảnh hưởng đến nợ xấu
ngân hàng 11
Bảng 2.2 : Tóm tắt các nghiên cứu các biến vi mô ảnh hưởng đến nợ xấu ngân hàng 12
Bảng 3.1 : Quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của các ngân hàng TMCP niêm yết 14
Bảng 3.2 : Tiền gửi khách hàng của các ngân hàng TMCP niêm yết 18
Bảng 3.3 : Tình hình cho vay khách hàng của các NHTMCP niêm yết 20
Bảng 3.4 : Tổng lợi nhuận trước thuế của các NHTMCP niêm yết 24
Bảng 3.5 : Tình hình tổng nợ xấu của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam 2006 - 2015 29
Bảng 4.1 : Mô tả các biến kỳ vọng sẽ tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết 50
Bảng 4.2: Bảng thống kê mô tả các biến nghiên cứu 52
Bảng 4.3: Ma trận hệ số tương quan giữa các biến 55
Bảng 4.4: Kết quả hồi quy theo Fixed Effect Model 57
Bảng 4.5 : Kết quả hồi quy theo Random Effect Model 58
Bảng 4.6 : So sánh các hệ số hồi quy NPLR theo FEM và REM 60
Bảng 4.7 : Kết quả kiểm định Hausman Test 62
Bảng 4.8 : Kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến bằng hệ số VIF 63
Trang 10Bảng 4.9 : Kiểm định bỏ bớt biến trong mô hình hồi quy 64 Bảng 4.10 : Kết quả hồi quy dữ liệu sau khi bỏ bớt biến INEF 65 Bảng 4.11 : Kết quả kiểm định hiện tượng đa cộng tuyến trong mô hình hồi
quy không có biến INEF 66
Trang 11Danh mục các hình vẽ, đồ thị
Biểu đồ 3.1 : Tình hình tổng tài sản, vốn chủ sở hữu các NHTMCP niêm
yết tại Việt nam 17 Biểu đồ 3.2 : Tình hình huy động vốn tiền gửi khách hàng của các
NHTMCP niêm yết tại Việt Nam 19 Biểu đồ 3.3 : Dư nợ cho vay khách hàng của các NHTMCP niêm yết từ
2006-2015 21 Biểu đồ 3.4 : Tổng lợi nhuận trước thuế của các NHTMCP niêm yết tại
Việt Nam 25 Biểu đồ 3.5 : Dư nợ cho vay và tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng
thương mại Việt nam giai đoạn 2006- 2015 28 Biểu đồ 3.6 : Nợ có khả năng mất vốn, tổng nợ xấu của các NHTMCP
niêm yết tại Việt Nam 33
Trang 12CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
1.1 Sự cần thiết của đề tài
Ngân hàng được xem là huyết mạch của nền kinh tế, là trung gian trong việc phân bổ vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu, chính điều này đã giúp cho nền kinh tế phát triển; tạo ra lợi nhuận để ngân hàng có thể sinh tồn và phát triển Bên cạnh đó, NHTM cũng đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp NHNN điều hành Chính sách tiền tệ quốc gia Một nền kinh tế muốn phát triển thì cần có thị trường tài chính vững chắc, hệ thống NHTM hoạt động ổn định và hiệu quả Tuy nhiên, trong những năm gần đây, nền kinh tế nước ta lại gặp nhiều khó khăn: tăng trưởng kinh tế thấp,
tỷ lệ lạm phát cao, nợ xấu ngày một gia tăng Nợ xấu tăng cao khiến cho dòng vốn
bị tắc nghẽn, không đưavào lưu thông, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế Đây là điều mà các chuyên gia trăn trở, họ e ngại có khả năng đưa hệ thống ngân hàng vào
tình thế khó khăn và sâu xa hơn là bờ vực phá sản
Hoạt động tín dụng là hoạt động mang lại nguồn thu chính yếu cho NHTM Việt Nam Nợ xấu luôn tồn tại trong quá trình cho vay là điều tất yếu; tuy nhiên làm sao
để kiểm soát nợ xấu ở tỷ lệ cho phép là điều đáng quan tâm Trong thời gian vừa qua, Chính phủ, các ngành, các cấp đã nổ lực trong việc xử lý nợ xấu; tuy nhiên bước đầu đạt kết quả đáng khích lệ, nhưng đâu đó vẫn còn nhiều thách thức Tỷ lệ nợxấu có giảm đi nhưng con số tuyệt đối thì lại gia tăng, số liệu báo cáo về nợ xấu dường như có sự khác biệt nhau Mỗi nơi báo cáo mỗi kiểu (Ủy ban thanh tra NHNN báo cáo số liệu nợ xấu cao hơn NHTM) dẫn đến tâm lý hoài nghi về thực trạng nợ xấu và biện pháp xử lý nợ xấu cũng gặp nhiều khó khăn
VAMC ra đời là bước ngoặc trong xử lý nợ xấu Các NHTM có thể bán “cục máu đông” cho VAMC Kết quả là bảng cân đối kế toán “đẹp” lên Việc này tưởng
dễ dàng nhưng rất phức tạp, bởi lẽ VAMC mua những món nợ xấu có sự chọn lọc NHTM bán nợ xấu cho VAMC thông qua trái phiếu đặc biệt thì NHTM phải trích lập dự phòng rủi ro là 20%/năm,làm tăng chi phí Hơn nữa, trong khoảng thời gian
Trang 13năm năm, VAMC không xử lý được nợ xấu này thì NHTM phải nhận lại nợ xấu của mình Vậy không có cách nào khác để hạn chế nợ xấu là mỗi NHTM phải tự ý thức được vấn đề và phải tự lực cánh sinh là điều rất cần thiết Từ những luận điểm nêu trên, tác giả nhận thấy rằng ở hiện tại và cả tương lai, nợ xấu luôn là vấn đề đặc biệt quan tâm Để giải quyết, hạn chế nợ xấu, các nhà quản lý cần hiểu đâu là nguyên nhân gây ra nợ xấu, yếu tố tác động mạnh đến nợ xấu để từ đó có giải pháp nhằm né tránh, hạn chế nợ xấu gia tăng
Chính vì lý do đó, việc thực hiện đề tài: “Phân tích một số nhân tố tác động đến nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam” là điều cần thiết
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Xem xét những nhân tố kinh tế vĩ mô và những nhân tố đặc thù ngành ngân
hàng nào được kỳ vọng là có tác động mạnh đến nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết
ở Việt Nam giai đoạn 2006 -2015 Khuynh hướng tác động của các yếu tố này, qua
đó đề xuất các khuyến nghị để hạn chế tình trạng nợ xấu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Những nhân tố kinh tế vĩ mô, đặc thù ngành ngân hàng nào được kỳ vọng là có tác động mạnh đến nợ xấu tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam giai đoạn 2006 -2015?
Trong các yếu tố trên thì nợ xấu chịu tác động mạnh bởi yếu tố nào?
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Nghiên cứu về nợ xấu ở các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam và các nhân tố tác động đến nợ xấu này
Phạm vi nghiên cứu: Tình huống nghiên cứu là một số NHTMCP niêm yết ở
Việt Nam(ACB, Eximbank, VCB, Vietinbank, NCB,MB, SHB,BIDV, Sacombank),
nghiên cứu trong giai đoạn 2006 -2015
Trang 141.5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng để làm rõ vấn đề nghiên cứu Cụ thể, tác giả phân tích thực trạng nợ xấu thời gian qua tại các NHTMCP niêm yết và các nguyên nhân gây ra nợ xấu cũng như một số nhân tốmà tác giả kỳ vọnglà có tác động mạnh đến nợ xấu trong thời gian vừa qua Qua đó, tác giả sử dụng phần mềm Eview để kiểm định xem các nhân tố đó có thật sự tác động đến nợ xấu của các NHTMCP niêm yết hay không
1.6 Kết cấu của luận văn
Luận vănđược bố cục làm 5 chương như sau:
Chương 1: Giới thiệu đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về nợ xấu và các nhân tố tác động đến nợ xấu tại các
NHTMCP niêm yết ở Việt Nam
Chương 3: Thực trạng về tình hình hoạt động kinh doanh và nợ xấu ở các
NHTMCP niêm yết ở Việt Nam
Chương 4: Phương pháp, dữ liệu và kết quả nghiên cứu
Chương 5:Giải pháp, kiến nghị nhằm hạn chế và xử lý nợ xấu tại các NHTMCP
niêm yết ở Việt Nam
Trang 151.7 Ý nghĩa khoa học của đề tài nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu thực hiện trên mẫu dữ liệu của chínNHTMCP niêm yết tại Việt Nam, số liệu mang tính cập nhật Tác giả cố gắng lấy dữ liệu trong mười năm và số liệu cập nhật đến cuối năm 2015
Tại Việt Nam đã có nhiều nghiên cứu cùng chủ đề của tác giả, điển hình như những luận văn thạc sĩ của trường Đại học Kinh Tế Tp.HCM Tuy nhiên, một số nghiên cứu này tiếp cận theo hướng: hoặc là nghiên cứu về nợ xấu tại một ngân hàng cụ thể, hoặc là nghiên cứu trong toàn hệ thống ngân hàng nhưng chưa thực hiện kiểm định giả thuyết thống kê (hay là nghiên cứu định lượng), số khác lại có sửdụng kiểm định giả thuyết thống kê nhưng mà các biến giải thích đưa vào mô hình dường như còn khiêm tốn Do đó, tác giả cố gắng đưa thêm một số biến giải thích thêm vào mô hình để kiểm nghiệm xem liệu chúng có tác động đến nợ xấu hay không?
Trang 16CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ MỘT SỐ NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TẠI CÁC NHTMCP NIÊM YẾT Ở VIỆT NAM
Nhằm tìm ra khái niệm chính xác về vấn đề nghiên cứu, tác giả đã tham khảo các tài liệu nghiên cứu trước đây Qua đó, tác giả xây dựng nên cơ sở lý thuyết về vấn
2.1 Cơ sở lý luận về nợ xấu
2.1.1 Khái niệm nợ xấu
Theo Uỷ ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS)
BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu Tuy nhiên, trong các hướng dẫn
về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng BCBS xác định: khoản nợ được xem là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện xảy ra:i) Ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi ii) Người vay đã quá hạn trả nợ trên 90 ngày
BCBS cũng đề cập đến các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi khả năng thu hồi các khoản thanh toán từ người vay là không thể Giá trị tổn thất sẽ được ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ được phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng Như vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không được cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dưới dạng tiền mặt thực tế nhận được
Theo Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF)
Trang 17Trong hướng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia, IMF định nghĩa về nợ xấu như sau: Nợ xấu gồm các khoản nợ quá hạn trả lãi và hoặc gốc 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rỏ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu,
nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên xếp vào danh mục nợ xấu cho đến thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi
được khoản vay thay thế
Theo quan điểm của Filip(2015)
Về cơ bản, một khoản nợ được xác định là nợ xấu khi quan hệ tín dụng trở nên biến chất hoặc thay đổi, không mong đợi và theo chiều hướng có hại Cụ thể, nó ngăn cản bất hợp pháp các nguồn cho vay hoặc gây ra tổn thất cho ngân hàng; nợ xấu sẽ xuất hiện trong điều kiện các bên tham gia quan hệ tín dụng có hiệu suất quản lýnguồn tài chính thấp
Một số quan niệm về nợ xấu khác
Một số quan niệm về nợ xấu khác được tác giả tìm thấy trong các nghiên cứu khác như: Louzis et al (2012) cho rằng nợ xấu là những món nợ tại thời điểm hiện tại đã chậm trễ trong thanh toán cho ngân hàng quá 90 ngày từ thời điểm mất khả năng thanh toán.Kouser and Saba (2012) cho rằng nợ xấu được xem xét như một vị thế mà nó hoặc là có thể có khả năng mất vốn hoặc chắc chắn sẽ mất vốn
Nhìn chung, tác giả nhận thấy các quan điểm trên có một số điểm chung nhất định về khái niệm “nợ xấu” Các điểm chung này cũng được tìm thấy trong khái niệm nợ xấu của giáo trình “Quản trị ngân hàng thương mại” của Trường Đại học Kinh tế Tp HCM Do đó, tác giả sử dụng khái niệm này để làm khái niệm “nợ xấu” trong bài nghiên cứu của mình; cụ thể : “Nợ xấu bao gồm những khoản nợ quá hạn
có hoặc không thể thu hồi, nợ liên quan đến các vụ án chờ xử lý và những khoản nợ
Trang 18không được Chính phủ xử lý rủi ro” và “nợ xấu (Bad debt) là những khoản nợ quá
hạn từ 91 ngày trở lên mà không đòi được và không được tái cơ cấu” (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 214)
2.1.2 Đặc trưng, phân loại nợ xấu
2.1.2.1 Đặc trưng của nợ xấu
- Khách hàng không thực hiện nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi các cam kết này
đã đến hạn
- Tình hình tài chính của khách hàng đang và có chiều hướng xấu dẫn đến có khả năng ngân hàng không thu hồi được cả vốn lẫn lãi
- Tài sản đảm bảo (thế chấp, cầm cố, bảo lãnh) được đánh giá là giá trị phát mãi
không đủ trang trãi nợ gốc và lãi (Trần Huy Hoàng, 2011, trang 214)
2.1.2.2 Phân loại nợ xấu
Nếu căn cứ vào TSĐB, nợ xấu của ngân hàng có thể chia thành các nhóm như sau:
Nợ xấu có tài sản đảm bảo, gồm có: nợ tồn đọng ngân hàng đã thu giữ tài sản dưới hình thức gán, xiết nợ; nợ tồn đọng ngân hàng chưa thu giữ tài sản như nợ có tài sản liên quan đến vụ án chờ xét xử; nợ có tài sản đảm bảo đã quá hạn trên 365 ngày
Nợ xấu không có tài sản đảm bảo và không có đối tượng để thu, gồm có : nợ xóa do thiên tai chưa có nguồn và còn hạch toán nội bảng; nợ khoanh đối với những doanh nghiệp đã giải thể, phá sản; nợ khoanh đối với doanh nghiệp thuộc cácvụ án;
nợ khoanh do thiên tai của hộ sản xuất…
Nợ xấu không có tài sản đảm bảo nhưngcon nợ vẫn còn tồn tại, đang hoạt động, gồm có: Nợ khoanh doanh nghiệp khó thu hồi; nợ tín dụng chính sách còn có khả năng thu hồi; nợ quá hạn trên 360 ngày
Trang 19 Ngoài ra, còn có nhóm nợ là những khoản nợ không thu được nhưng không đủ
điều kiện để khoanh nợ, xóa nợ.(Trần Huy Hoàng, 2011, trang 214)
Theo NHNN (2014b) thì nợ xấu bao gồm 3 nhóm:nhóm 3,4,5, tức nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn; chi tiết từng nhóm nợ này được tác giả đề cập ở Phụ lục 1: Chi tiết nhóm nợ 3,4,5, theo Thông tư số 02/2013/TT – NHNN
2.1.3 Những chỉ tiêu cơ bản phản ảnh nợ xấu
Đo lường chất lượng tín dụng là nội dung quan trọng trong việc phân tích hiệu
quả hoạt động kinh doanh và tính an toàn của NHTM Một khoản vay tốt là khoản vay mà khách hàng thanh toán đủ nợ gốc và lãi cho ngân hàng đúng hạn Để đánh
giá chất lượng tín dụng ta có thể xem xét chỉ tiêu tỷ lệ nợ quá hạn:
Tỷ lệ nợ quá hạn = (Dư nợ quá hạn / Tổng dư nợ) *100%
Chỉ tiêu nợ xấu cho ta số liệu cụ thể hơn để đo lường chất lượng nghiệp vụ tín dụng Chỉ tiêu này luôn nhỏ hơn chỉ tiêu nợ quá hạn và phần nào cho thấy chất lượng tín dụng của các NHTM.Các ngân hàng có chỉ số này thấp đã chứng minh được chất lượng cao của mình và ngược lại
Tỷ lệ nợ xấu = (Số dư nợ xấu / Tổng dư nợ )*100%
Thông thường thì tỷ lệ nợ quá hạn tốt nhất là ở mức không quá 5%, tỷ lệ nợ xấu
là không quá 3% Tuy nhiên, chỉ tiêu này đôi khi cũng chưa phản ánh hết chất lượng tín dụng của một ngân hàng Bởi vì, bên cạnh những ngân hàng có được tỷ lệ nợ quá hạn hợp lý do đã thực hiện tốt các khâu trong qui trình, còn có những ngân hàng
có được tỷ lệ nợ quá hạn thấp thông qua việc cho vay đảo nợ, không chuyển nợ quá hạn theo đúng qui định
Hệ số RRTD =(Tổng dư nợ cho vay/ Tổng tài sản có) *100%
(Trần Huy Hoàng, 2011)
Trang 20Hệ số này cho thấy tỷ trọng khoản mục tín dụng trong tổng tài sản có, tỷ trọng này càng cao thì lợi nhuận càng lớn nhưng cùng với đó là RRTD càng cao, hiệu quả hoạt động quản trị RRTD thấp
2.1.4 Tác động của nợ xấu
Đối với nền kinh tế
Tác động đầu tiên là việc chuẩn bị nguồn vốn để xử lý nợ xấu là không có (vì trích lập dự phòng thực tế không có) Khi nợ xấu cao thì điều cần thiết là phải xử lý
nợ xấu trong khi đó các ngân hàng thương mại không thể tự mình xử lý hết được vì nguồn trích lập dự phòng không đúng với thực tế, vậy nên việc xử lý nợ xấu có lẽ phải trông cậy vào ngân sách hạn hẹp của Nhà nước Về dài hạn, nếu việc xử lý nợ xấu gây bội chi ngân sách sẽ tìm ẩn rủi ro lạm phát Bên cạnh đó, nợ xấu ngày càng tăng là nguyên nhân chính làm ảnh hưởng thanh khoản của hệ thống ngân hàng Thanh khoản bấp bênh, đe dọa sự an toàn của hệ thống ngân hàng Nếu nợ xấu không được xử lý kịp thời có thể gây ra sự đổ vỡ cho một số ngân hàng yếu kém, gây mất niềm tin của người dân, nhà đầu tư vào hệ thống ngân hàng, nghiêm trọng hơn có thể dẫn đến sự sụp đổ của hệ thống tài chính quốc gia
Do ngân hàng không minh bạch nợ xấu (mỗi nơi báo cáo khác nhau, không xác định chính xác số nợ xấu của ngành ngân hàng là bao nhiêu vì số liệu đã bị bóp méo) Từ đó, những chính sách hỗ trợ tiếp theo không được chính xác, cũng như không thể dự báo chính xác được tình hình phát triển của nền kinh tế
Nợ xấu gây nên tình trạng trì trệ nền kinh tế Nợ xấu tăng cao, NHTM không thu hồi được vốn, tốn nhiều chi phí hơn trong việc trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, lượng vốn đưa vào nền kinh tế bị suy giảm, mạch máu nền kinh tế bị tắc nghẽn Điều này làm cho tình trạng thất nghiệp tăng cao, bất ổn nền kinh tế
Do không đảm bảo đúng chuẩn mực Báo cáo tài chính quốc tế (IFRS) và IAS 39
Ủy ban chuẩn mực quốc tế, tình trạng nợ xấu ngày một tăng cao làm ảnh hưởng đến
Trang 21mức độ tín nhiệm của doanh nghiệp, của Chính phủ trong việc vay vốn nước ngoài
để đầu tư phát triển, ảnh hưởng đến việc mời gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam
Đối với ngân hàng thương mại
Nợ xấu làm giảm lợi nhuận của các NHTM Nợ xấu phát sinh đồng nghĩa với một phần vốn kinh doanh của ngân hàng bị tồn đọng trong các khoản nợ, ngân hàng mất đi cơ hội kinh doanh khác, giảm vòng quay vốn, giảm doanh số cho vay của ngân hàng, từ đó làm giảm hiệu quả sử dụng vốn Khi nợ xấu tăng, thu nhập của ngân hàng giảm do không thu hồi được nợ và phát sinh thêm các chi phí khác như chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý và xử lý nợ xấu… Ngoài ra, nếu nợ xấu cao, NHTM có thể bị NHNN đưa vào diện giám sát đặc biệt, hạn chế khả năng mở
rộng và kinh doanh
Nợ xấu làm ảnh hưởng xấu tới khả năng thanh khoản và kế hoạch kinh doanh của
ngân hàng Do hiện tại hoạt động chủ yếu của các NHTM là huy động tiền gửi và cho vay Khi các khoản cho vay gặp rủi ro, thu hồi nợ khó khăn hoặc không thu hồi
đủ nợ vốn và lãi Trong khi đó, ngân hàng phải thanh toán đầy đủ, đúng hạn các khoản tiền gửi Sự mất cân đối trên ảnh hưởng rất lớn tới tính thanh khoản cũng như
kế hoạch kinh doanh của ngân hàng
Nợ xấu làm giảm uy tín của ngân hàng Do hoạt động kinh doanh chủ yếu bằng tiền của người khác nên tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng cao tức là chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp Ngân hàng gặp vấn đề thiếu thanh khoản, làm mất lòng tin đối với người gửi tiền, gây áp lực cho việc thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng cũ, làm giảm đáng kể các quan hệ giao dịch của ngân hàng, gây áp lực nguồn vốn huy động để cho vay là rất nặng nề Đối với NHTM có niêm yết cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, thì với tỷ lệ nợ xấu cao, sẽ ảnh hưởng đến giá trị tài sản của ngân hàng trên thị trường, ảnh hưởng đến tâm lý nhà đầu tư Nếu tỷ lệ nợ xấu cao thì uy tín của ngân hàng sẽ giảm sút, là bất lợi trong cạnh tranh, trong quá trình hội nhập và phát triển
Trang 22Tác động khác của nợ xấu đối với các ngân hàng là nguy cơ phá sản Đây là ảnh hưởng nghiêm trọng nhất của nợ xấu Nếu nợ xấu ở mức cao không sớm được hạn chế sẽ dẫn đến hàng loạt các tác động và cuối cùng là sự phá sản Nợ xấu gây tổn thất về tài sản cho ngân hàng, ăn sâu dần vào vốn chủ sở hữu, làm giảm uy tín của ngân hàng Một ngân hàng kinh doanh liên tục thua lỗ, khả năng thanh toán kém có thể dẫn đến sự rút tiền hàng loạt của khách hàng và phá sản là con đường khó tránh khỏi
2.2 Tóm tắt các nghiên cứu liên quan đến các yếu tố ảnh hưởng tới nợ xấu của các NHTM
Nhiều nghiên cứu tiến hành xác định các yếu tố tác động đến nợ xấu của NHTM Dưới đây sẽ tóm tắt những nghiên cứu thực nghiệm cụ thể cho việc hỗ trợ đánh giá mối tương quan của những yếu tố vĩ mô, nhóm các yếu tố đặc thù ngành ngân hàng
Dash and Kabra (2010),Sala
và cộng sự (2002), Khemraj and Pasha(2009); Louzis, Vouldis and Metaxas(2011) Ảnh hưởng cùng
chiều (+) Inekwa Murumba(2013)
Tỷ lệ thất nghiệp, lãi
suất thực
Ảnh hưởng cùng chiều (+)
Louzis, Vouldis and Metaxa(2011), Bofondi and
Ropele(2011)
Tỷ lệ thất nghiệp, chỉ Ảnh hưởng cùng Baboucek and Jancar(2005)
Trang 23số giá tiêu dùng chiều (+)
Tóm lại, có nhiều quan điểm và cách đo lường nợ xấu, luận văn này tác giả đồng
tình với quan điểm cho rằng: nợ xấu là các khoản nợ trên 90 ngày mà không thu hồi được hoặc không tái cơ cấu được Nợ xấu tác động rất lớn đến nền kinh tế Vậy nhân tố nào kỳ vọng có tác động mạnh đến nợ xấu tuy vào điều kiện mỗi quốc gia nghiên cứu
NPL
Bằng chứng thực nghiệm
sản (ROA)
Ảnh hưởng ngược chiều (-) Godlewski(2004)
Dự phòng rủi ro khoản
vay trên tổng khoản vay
(LLP/TL)
Ảnh hưởng cùng chiều(+) Hasan and Wall(2004) Ảnh hưởng ngược
chiều(-) Boudriga et al (2009) Tốc độ tăng trưởng
khoản cho vay (Aloan)
Ảnh hưởng cùng chiều
(+)
Saurina(2006); Khemraj and Pasha(2009); Dash and Kabra(2010)
Trang 24CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VỀ TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
VÀ NỢ XẤU TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI CỔ PHẦN NIÊM YẾT
Ở VIỆT NAM
Nợ xấu là chủ đề thời sự và được xã hội rất quan tâm hiện nay, những con số về
nợ xấu hay cách thức xử lý nợ xấu, kết quả đạt được luôn được mọi người quan tâm Tác giả cố gắng thu thập dữ liệu để có thể phản ánh thực trạng nợ xấu của hệ thống NHTMVN nói chung và các NHTMCP nói riêng trong giai đoạn gần đây, qua
đó có cái nhìn tổng quát hơn về vấn đề này
3.1 Sự tăng trưởng về quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam
Trang 25Bảng 3.1 : Quy mô tổng tài sản, vốn chủ sở hữu của chín NHTMCP niêm yết
(Nguồn: Tổng hợp từ BCTN của các NHTMCP niêm yết)
Trước áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt cũng như nhằm muốn tăng cường tiềm lực tài chính để nâng cấp, mở rộng mạng lưới, phát triển công nghệ ngân hàng thì việc tăng trưởng nguồn vốn, tăng trưởng quy mô tài sản là điều tối cần thiết đối với các ngân hàng
Theo nghị định 140/2006/NĐ-CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ quy định: vốn pháp định áp dụng cho các NHTM đến cuối năm 2010 (được gia hạn đến năm 2011)
SẢN( Tỷ đ)
TỐC ĐỘ TĂNG,GIẢM (%)
VCSH (Tỷ đ)
TỐC ĐỘ TĂNG,GIẢM (%)
Trang 26là 3,000 tỷ VNĐ Thực tế cho thấy tất cả các NHTM đều đạt yêu cầu trong thời gian này Một nguyên nhân nữa khiến cho vốn chủ sở hữu ngân hàng tăng lên là do: vào thời điểm năm 2007, Việt Nam chính thức gia nhập vào tổ chức thương mại thế giới, các cơ quan quản lý nhà nước và ngành ngân hàng dự đoán là sẽ có cuộc xâm nhập của các ngân hàng nước ngoài vào Việt Nam khi mà nước ta mở cửa ngành ngân hàng vào năm 2011 Vì thế, các ngân hàng trong nước đã có cuộc đua tăng vốn điều lệhay vốn chủ sở hữu nhiều hơn nữa nhằm đảm bảo năng lực tài chính, giữ thị phần trước sự cạnh tranh của các ngân hàng ngoại đổ bộ vào Việt Nam Yêu cầu tăng vốn chủ yếu xuất từ qui mô vốn chủ sở hữu cũng như tài sản của cácngân hàng nước ta là quá bé nhỏ so với các ngân hàng trong khu vực và thế giới Nhìn chung, vốn chủ sở hữu của chín NHTMCP niêm yết đều tăng trưởng qua các năm, năm sau cao hơn năm trước Nếu như năm 2006, vốn chủ sở hữu của chín NHTMCP niêm yết là 33,237 tỷ VNĐ thì đến năm 2015 con số này là 229,359 tỷ VNĐ, tăng gấp bảy lần so với năm 2006 Trong giai đoạn quan sát, vốn chủ sở hữu của nhóm chín ngân hàng niêm yết tăng mạnh nhất là vào năm 2007, kế đến là năm 2010, bởi lẽ vào năm 2007- năm đánh dấu bước ngoặc phát triển của ngành ngân hàng, các ngân hàng ồ ạt mở rộng mạng lưới khắp các tỉnh thành và theo quy định của NHNN thì một ngân hàng muốn mở rộng thêm một chi nhánh thì cần tăng thêm vốn điều lệ là
100 tỷ đồng và tương tự cho phòng giao dịch là 20 tỷ đồng Do đó, các ngân hàng này không ngại tăng vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh của mình Còn nói đến năm 2010, đó là năm mà NHNN áp đặt mức vốn điều lệ tối thiểu là 3,000 tỷ VNĐ;
vì thế trong thời gian qua, các ngân hàng tìm đủ mọi phương án nâng vốn chủ sở hữu để đáp ứng yêu cầu của NHNN và nếu ngân hàng nào đã đáp ứng yêu cầu trên rồi thì họ cũng có xu hướng càng muốn gia tăng hơn nguồn vốn chủ sở hữu cho mình để nhằm chiếm giữ thị phần Kết quả là cuối năm 2010, các NHTMCP niêm yết đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức xa so với yêu cầu vốn pháp định tối thiểu ngoại trừ NCB đạt 2,022 tỷ VNĐ Trước tình hình không hiếm hoi này, thì NHNN đã cho lùi thời gian thực hiện mức vốn pháp định tối thiểu sang năm 2011
và NCB thời gian này cũng đã cán mức yêu cầu với 3,216 tỷ VNĐ
Trang 27Bên cạnh yếu tố vốn chủ sở hữu thì tổng tài sản của các ngân hàng tăng nhanh dần qua các năm (năm 2006 tổng tài sản của chín NHTMCP niêm yết đạt 567,426
tỷ VNĐ và đến cuối năm 2015 đạt 3,398,641 tỷ VNĐ, tăng gần sáu lần so với năm 2006) Trong đó, ngân hàng BIDV là ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất trong khối
chín NHTMCP niêm yết, NCB đứng cuối bảng ở chỉ tiêu này (chi tiết được đề cập
ở phụ lục 3) Cũng như vốn chủ sở hữu, tổng tài sản của chín NHTMCP niêm yết
cũng có tốc độ tăng nổi bật vào năm 2007 và năm 2010 và tăng thấp nhất là vào năm 2012 Năm 2007 là năm các ngân hàng ồ ạt tăng vốn, hoạt động kinh doanh đầy thuận lợi, thị trường bất động sản, thị trường chứng khoán phát triển nóng, các ngân hàng này đã mạnh tay trong việc bom nguồn vốn vào nền kinh tế thông qua hoạt động cho vay, đầu tư để sinh lời cho đồng vốn của mình Đến năm 2010- được cho là năm đánh dấu sự tăng trưởng vốn chủ sở hữu lần hai của cácngân hàng nói chung, với nguồn vốn được mở rộng thì yêu cầu được đề ra là phải sinh lời trên đồng vốn đó; do đó hoạt động cho vay rất được quan tâm thời kỳ này, tốc độ tăng tổng tài sản của các NHTMCP niêm yết đạt trên 36% so với năm 2009 Bước sang năm 2011, NHNN thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ, áp chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng không vượt quá 20% so với năm 2010, vì vậy các ngân hàng nhìn chung đã hạn chế cho vay và tình hình này còn kéo dài cho năm 2012 Kết quả là cuối năm
2012, tốc độ tăng tổng tải sản của nhóm NHTMCP niêm yết giảm sâu, tăng khoản 6,85% so với năm 2011 Nhưng đến năm 2013, tình hình khởi sắc hơn, Chính phủ muốn đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế để hoàn thành mục tiêu tăng trưởng kinh tế- xã hội đã đặt ra trong bối cảnh lạm phát đã được kiểm soát Tuy còn nhiều khó khăn nhưng hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nói chung và của nhóm NHTMCP niêm yết nói riêng có sự cải thiện hơn với tổng tài sản năm 2013 đạt 2,444,641 tỷ VNĐ, tức tăng 10,52% so với năm 2012 và tăng dần lên cho đến năm
2015
Trang 28Biểu đồ 3.1 : Tình hình tổng tài sản, vốn chủ sở hữu các NHTMCP niêm yết
3.2Tiền gửi khách hàng tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam
0 500,000
Trang 29Bảng 3.2: Tiền gửi khách hàng của 09 NHTMCP niêm yết(ĐVT: Tỷ VNĐ)
(Nguồn:Tổng hợp từ BCTN của các NHTMCP niêm yết)
Huy động vốn là hoạt động thường xuyên và khá quan trọng trong hoạt động
kinh doanh của các NHTM Thiếu vốn các ngân hàng sẽ không thể cung cấp tín
dụng cho khách hàng, mà tín dụng là hoạt động chính yếu mang lại nguồn thu nhập
cho các NHTMVN Nguồn vốn huy động tăng trưởng và ổn định vừa giúp các ngân
hàng đảm bảo tính thanh khoản, vừa tạo điều kiện tăng trưởng tín dụng Điều này sẽ
giúp cho nhu cầu vốn của các thành phần kinh tế và dân cư, góp phần thúc đẩy nền
kinh tế tăng trưởng
Huy động vốn tiền gửi của khách hàng ở các NHTMCP niêm yết tăng nhanh
trong giai đoạn 2006 - 2010 là do trong giai đoạn này các NHTM chủ yếu sử dụng
công cụ lãi suất để cạnh tranh huy động vốn tiền gửi Chính điều này tạo nên sự bất
ổn trong nguồn vốn huy động, do các ngân hàng thay vì nâng cao chất lượng sản
Vietinbank 91,506 112,425 121,634 148,919 205,919 257,274 289,105 364,497 424,181 492,960 Vietcombank 119,779 141,589 157,067 169,072 204,756 227,017 285,382 332,246 422,204 500,528 Sacombank 17,512 44,232 46,129 60,526 78,335 75,092 157,459 131,645 163,057 260,998 ACB 29,395 55,283 64,217 86,919 106,957 142,218 125,236 138,111 154,614 174,919 Eximbank 13,141 22,906 30,878 38,766 58,151 53,652 70,459 79,472 101,372 98,431
MB 10,313 17,785 27,163 39,978 65,741 89,549 117,747 136,089 167,609 181,565 SHB 368 2,805 9,508 14,672 25,634 34,786 77,549 90,761 123,228 148,813 BIDV 113,724 135,336 163,397 187,280 244,701 240,508 303,060 338,902 440,472 564,589 NCB 550 6,140 6,022 9,630 10,721 24,822 12,273 18,377 24,440 34,177
Cộng 396,288 538,501 626,015 755,762 1,000,915 1,144,918 1,438,270 1,630,100 2,021,177 2,456,980
Trang 30phẩm để thu hút hay giữ chân khách hàng thì lại cạnh tranh bằng lãi suất, khiến cho các khoản tiền gửi này nhanh chóng biến động số dư, khách hàng loay hoay trong vòng lẩn quẩn, rút ra nơi này và gửi lại nơi khác có lãi suất cao hơn Tuy nhiên, từ năm 2010 đến năm 2011, việc huy động vốn có phần chững lại, một phần do Thông
tư 02/2011/TT-NHNN ấn định trần lãi suất huy động bằng VNĐ áp dụng cho các NHTM là 14%/năm Mức lãi suất mới này được cho là thấp hơn nhiều so với mức lãi suất huy động trước kia, dẫn đến những khó khăn nhất định cho NHTM trong việc giữ chân khách hàng của mình, cũng như duy trì và tăng trưởng số dư huy động vốn Với mức trần lãi suất huy động 14%/năm khiến nhiều khách hàng chọn ngân hàng có uy tín, quy mô lớn để gửi tiền thay vì cơ hội lựa chọn ngân hàng có lãi suất cao hơn như trước kia Giai đoạn từ cuối năm 2011 trở đi, tăng trưởng huy động vốn tiền gửi khách hàng có phần ổn định hơn Bảng 3.2cho thấy, huy động lượng tiền gửi lớn nhất trong nhóm NHTMCP niêm yết là BIDV và thấp nhất là NCB
Biểu đồ 3.2 : Tình hình huy động vốn tiền gửi khách hàng của các NHTMCP niêm
yết tại Việt Nam
3.3 Cho vay khách hàng tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam
396,288 538,501 626,015
755,762 1,000,915
1,144,918 1,438,270 1,630,100
2,021,177 2,456,980
1 -
Trang 31Bảng 3.3: Tình hình cho vay khách hàng của chín NHTMCP niêm yết
(Nguồn:Tính toán của tác giả từ BCTN của các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam)
Cho vay khách hàng là một trong những chỉ tiêu được quan tâm hàng đầu khi xem xét hoạt động kinh doanh của các NHTM Bởi lẽ, tín dụng là hoạt động mang lại thu nhập chính yếu cho các NHTM Việt Nam Vì lý do trên, các NHTM rất chú trọng và không ngừng cải thiện, đa dạng hóa các sản phẩm cấp tín dụng đến với khách hàng
Tăng trưởng tín dụng cao nhất là vào năm 2007 (tăng 48.46% so với năm 2006) chủ yếu là do thị trường bất động sản tăng trưởng nóng, các ngân hàng ồ ạt tập
Trang 32trung cho vay vào lĩnh vực này Tuy nhiên đến năm 2008, thị trường bất động sản bắt đầu trầm lắng, tốc độ tăng trưởng tín dụng có xu hướng chậm lại, giảm đáng kể
so với năm 2007, chỉ khoảng một phần ba tốc độ tăng trưởng của năm 2007 Bước sang năm 2009, tình hình cho vay có phần khởi sắc, tăng trở lại, nguyên nhân chính
là do chính sách kích cầu, hỗ trợ lãi suất từ Chính phủ nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế
Biểu đồ 3.3: Dư nợ cho vay khách hàng của 09 NHTMCP niêm yết từ 2006-2015
Dựa vào biểu đồ 3.3 cho ta thấy tốc độ tăng trưởng dư nợ nói chung có phần chững lại kể từ cuối năm 2010 trở đi –đây là thời điểm lãi suất cho vay từ từ cao dần, cùng với đó là các doanh nghiệp trong nước gặp phải khó khăn do ảnh hưởng suy thoái kinh tế thế giới, hàng tồn kho ứ đọng, chi phí sản xuất gia tăng, kết quả là các doanh nghiệp không mặn mà trong việc mở rộng sản xuất kinh doanh, nhu cầu vốn vay ngân hàng hạn chế Thêm vào đó là Chỉ thị 01/CT- NHNN ra đời (01/03/2011), NHNN yêu cầu các NHTM xây dựng kế hoạch tăng trưởng tín dụng cho năm 2011 là không vượt quá 20% so với dư nợ cuối năm 2010 và phải được NHNN phê duyệt; do đó các NHTM rất hạn chế cho vay, mức độ tăng trưởng tín dụng xuống thấp kể từ năm 2011 Năm 2012 tín dụng của toàn hệ thống tăng trưởng gần 9%, đây là mức giảm khá sâu so với năm 2007; trong khi đó các NHTMCP
992,251 18.25
Trang 33niêm yết tăng trưởng tín dụng 15.47% so với năm 2011, đảm bảo được giới hạn NHNN đưa ra
Trước tình hình tín dụng tăng trưởng thấp vào năm 2012, thì đến năm 2013 NHNN đặt ra mục tiêu tốc độ tăng trưởng tín dụng là 12% nhằm để tháo gở khó khăn cho doanh nghiệp, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế sau một thời gian bị ảnh hưởng bởi khủng hoảng kinh tế thế giới và suy thoái toàn cầu Với những nổ lực từ Chính phủ, NHNN nhưng đến cuối năm 2013 (12/12/2013) thì NHNN đã thống kê được tốc độ tăng trưởng tín dụng là 8.83% Các NHTMCP niêm yết cũng không ngoại lệ, với tốc độ tăng trưởng tín dụng đạt 13.97% so với năm 2012 Đây được cho là năm đầy khó khăn trong hoạt động tín dụng, khi mà tốc độ tăng trưởng tín dụng kém, nhưng tốc độ gia tăng nợ xấu tăng nhanh.Từ năm 2014 trở lại đây thì tình hình sáng sủa hơn hẳn, với tốc độ tăng trưởng tín dụng của toàn hệ thống luôn vượt kế hoạch đặt ra Năm 2014 đến năm 2015 NHNN đưa ra mục tiêu tăng trưởng tín dụng lần lượt là 12- 14% và 13- 15%, kết quả lại quá bất ngờ so với năm 2013, cũng như so với mong đợi của NHNN Thực tế qua hoạt động kinh doanh của hệ thống ngân hàng cho thấy, cùng với đà phục hồi tích cực của nền kinh tế, tín dụng đã thực sự tăng trưởng mạnh trở lại, do vậy không những đạt mục tiêu đề ra mà còn vượt mức với kết quả năm 2014 là 14.16% và xấp xỉ 18% cho năm 2015
So với mặt bằng chung thì tốc độ tăng trưởng tín dụng ở các NHTMCP niêm yết luôn cao hơn Năm 2014 tốc độ tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống ngân hàng đạt lần lượt 14.16% và xấp xỉ 18% thì khối các ngân hàng niêm yết đạt lần lượt 15.89%
và 24.69%
Trong số chín NHTMCP niêm yết thì BIDVđược cho là ngân hàng thường xuyên dẫn đầu về dư nợ cho vay khách hàng và NCB và đơn vị đứng cuối bảng ở chỉ tiêu này Dư nợ cho vay của NCB chỉ là phần trăm không đáng kể so với dư nợ của
BIDV (chi tiết được đề cập ở phụ lục 4)
Trang 343.4 Kết quả hoạt động kinh doanh tại các NHTMCP niêm yết ở Việt Nam từ năm 2006 - 2015
Năm 2006, đặc biệt là năm 2007- đây được cho là năm tăng trưởng kinh tế nóng, điều kiện sản xuất kinh doanh có phần đầy thuận lợi thì đến năm 2008, nền kinh tế Việt Nam lại phải hứng chịu ảnh hưởng nặng nề từ cuộc suy thoái kinh tế thế giới, tình trạng lạm phát và thanh khoản hệ thống ngân hàng trở nên nghiêm trọng Chính phủ ưu tiên kiềm chế lạm phát thông qua một số chính sách thắt chặt tiền tệ nhằm làm giảm lượng tiền trong lưu thông - nguyên nhân chính gây ra mức lạm phát cao Tuy nhiên, biện pháp này vẫn không mang lại hiệu quả là bao, tình hình thanh khoản của một số ngân hàng khó khăn hơn
Lợi nhuận trước thuế của chín NHTMCP niêm yết liên tục tăng từ năm 2006 đến năm 2010 nhưng tốc độ tăng lại có xu hướng giảm, tăng trưởng đạt mức cao nhất vào năm 2007 (52.4% so với năm 2006) Đến năm 2012, do nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, hơn nữa đây là thời điểm mà nợ xấu đã tỏ rỏ sự bùng nổ, các ngân hàng cần phải tăng cường trích lập dự phòng rủi ro tín dụng, làm tăng chi phí hoạt động cho ngân hàng Hơn nữa, nguồn thu từ hoạt động chính yếu (tín dụng) suy giảm nghiêm trọng nên tổng lợi nhuận trước thuế cũng suy giảm mạnh còn 28,437 tỷ VNĐ,tương đương giảm 14.23% so với năm 2011
Trang 35Bảng 3.4: Tổng lợi nhuận trước thuế của chín NHTMCP niêm yết
(Nguồn:Tổng hợp từ BCTN 09 NHTMCP niêm yết)
Tình hình này còn kéo dài đến năm 2013 và sang năm 2014 với lợi nhuận trước
thuế đạt 27,619 tỷ VNĐ và 27,749 tỷ VNĐ, tức giảm lần lượt 2.88% và 0.47% Sang năm 2015- là năm nước rút, năm cuối của Đề án 254 “Cơ cấu lại các tổ chức tín dụng giai đoạn 2011-2015” và là năm mà NHNN phải đưa nợ xấu của toàn hệ thống ngân hàng về mức dưới 3% Do đó, NHNN cùng các cấp, các Ngành, kể cả NHTM phải quyết liệt và mạnh tay trong việc đẩy lùi nợ xấu Kết quả là cuối năm
2015, tỷ lệ nợ xấu của cả hệ thống ngân hàngchỉ còn 2.55% Chính điều này đã giúp cho lợi nhuận trước thuế của các NHTMCP niêm yết tăng lên vào năm 2015 với con
số tuyệt đối là 30,921 tỷ VNĐ, tăng 11.43% so với cuối năm 2014
Trang 36Biểu đồ 3.4: Tổng lợi nhuận trước thuế của chín NHTMCP niêm yết
3.5 Phân tích tình hình nợ xấu của các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam
3.5.1 Khái quát về tình hình nợ xấu của hệ thống NHTMVN trong thời gian vừa qua
Tín dụng là hoạt động luôn tiềm ẩn rủi ro, nợ xấu luôn tồn tại trong hoạt động cho vay của các ngân hàng Nền kinh tế tăng trưởng nóng trong năm 2007, cùng với
đó là cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới, suy thoái kinh tế toàn cầu, khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn ở Mỹvào năm 2008 đã ảnh hưởng không nhỏ và tác động tiêu cực đến nền kinh tế Việt Nam.Thị trường chứng khoán lao dốc, thị trường bất động sản dần đóng băng, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp khó khăn,
từ đấy làm cho nợ xấu của các TCTD có chiều hướng gia tăng trong thời gian qua Trước bối cảnh nền kinh tế gặp nhiều khó khăn như vậy thì vấn đề giải quyết nợ xấu của các ngân hàng là bài toán nan giải nhất Nợ xấu ngân hàng được xem là nguyên nhân cơ bản gây tắc nghẽn lưu thông lành mạnh của nền kinh tế, gây mất an toàn cho hệ thống ngân hàng và cũng phản ánh tình trạng sản xuất kinh doanh ngày càng khó khăn của các doanh nghiệp Điển hình nhất là vào năm 2012, do bị ảnh hưởng bởi rất nhiều nguyên nhân nên hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thua lỗ nặng Hệ quả dẫn đến là nợ xấu của các ngân hàng không ngừng tăng
Trang 37lên và trở thành “điểm nghẽn” của nền kinh tế, nó cản trở sự lưu thông dòng vốn tín dụng
Nợ xấu tại các ngân hàng không phải mới phát sinh trong thời gian gần đây mà thực chất đã tích tụ từ nhiều năm trước Khi tình hình kinh tế vĩ mô xấu đi, hoạt động sản xuất kinh doanh trì trệ thì cũng là lúc nợ xấu sinh sôi nảy nở Theo nhận định của các chuyên gia thì tỷ lệ nợ xấu có xu hướng gia tăng từ năm 2008 và tăng cao từ năm 2011, đỉnh điểm nhất là vào năm 2012 Nếu như năm 2006 tỷ lệ nợ xấu tính chung cho toàn ngành ngân hàng là 3%, năm 2007 tỷ lệ nợ xấu có sự suy giảm
rỏ rệt ở mức 1,55% thì đến năm 2008 tỷ lệ nợ xấu lại quay ngược đầu ở mức 2.17%
và cứ thế gia tăng mãi cho đến cuối năm 2012 là 4.07% - đây được xem là năm đen tối trong hoạt động tín dụng của các NHTM Những con số nợ xấu tuy có sự gia tăng nhưngnhìn chung vẫn nằm trong tầm kiểm soát và chưa được đánh giá là vấn
đề đặc biệt nghiêm trọng gây ra bất ổn tài chính quốc gia Nợ xấu chỉ được quan tâm đúng mức từ cuối năm 2011, đầu năm 2012; do đó,các NHTM thời kỳ từ trước năm 2011dường như phải tự mình xử lý nợ xấu bằng những biện pháp như: trích lập
dự phòng rủi ro tín dụng, xử lý tài sản đảm bảo, hoặc cơ cấu giản nợ.Đến cuối năm
2011, nợ xấu bắt đầu gia tăng về số tuyệt đối (chiếm khoản 85,000 tỷ VND) và số tương đối (3.3% trên tổng dư nợ) Hơn nữa, các NHTM gặp rắc rối về thanh khoản
và kết quả hoạt động kinh doanh ngân hàng có phần chững lại Có lẽ là do chính sách tiền tệ có phần thắt chặt, nợ xấu bùng phát sau nhiều năm tích tụ, tình trạng doanh nghiệp làm ăn thua lỗ ngày càng gia tăng, thị trường bất động sản ảm đạm,
mà phần không nhỏ các khoản cấp tín dụng lại là tín dụng trung và dài hạn cho thị trường bất động sản Khi nợ xấu gia tăng, điều này ảnh hưởng đến hệ thống NHTM như: phải gia tăng trích lập dự phòng rủi ro tín dụng để xử lý rủi ro phát sinh, lợi nhuận ngân hàng suy giảm, rủi ro thanh khoản và có thể đổ vỡ hệ thống ngân hàng Tuy nhiên, đến đây thì các giải pháp để xử lý nợ xấu dường như cũng còn phân tán, tùy thuộc vào mỗi ngân hàng như siết chặt khâu thẩm định tín dụng, tuân thủ quy định cho vay (đặc biệt cho vay các doanh nghiệp nhà nước)…
Trang 38Năm 2012, tỷ lệ nợ xấu bùng nổ là kết quả tất yếu Tuy nhiên, thời điểm này xuất hiện hỏa mù về số liệu nợ xấu Theo thống kê NHNN, giai đoạn 2008-2011, tốc độ tăng trưởng tín dụng bình quân là 26.25%, thì tốc độ tăng trưởng nợ xấu là 51% Do đó, nợ xấu trong năm này là chủ đề nóng bỏng, không chỉ được quan tâm
ở cấp NHTM hay NHNN nữa, mà lên nghị trường Quốc hội lẫn Chính phủ Số liệu
về nợ xấu thì không có gì quá rõ ràng, mỗi nơi báo cáo, thống kê mỗi kiểu và con số thống kê lại chênh lệch đáng nghi ngờ Cụ thể điển hình như vào ngày 31/05/2012: Các TCTD báo cáo nợ xấu của cả hệ thống là tầm 118 ngàn tỷ đồng, chiếm 4.47% Theo cơ quan thanh tra giám sát NHNN thì con số này có thể lên đến 8.6%, và điều bất ngờ hơn nữa đó chính là số liệu của Fitch Ratings cho biết tỷ lệ nợ xấu Việt Nam là 13%
Theo thống kê của NHNN Việt Nam, nợ xấu cuối năm 2012 là 4.08% Đến cuối năm 2013, tỷ lệ nợ xấu bắt đầu suy giảm sau khoảng thời gian dài trên đà tăng liên tục, đạt mức 3.61% và cứ thế suy giảm xuốngmức 2.55% vào cuối năm 2015 nhưng con số tuyệt đối về nợ xấu thì lại cứ phình to theo thời gian, là do trong giai đoạn này dư nợ cho vay có sự gia tăng mạnh trở lại Nợ xấu đang đe dọa đến hệ thống ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia Những con số này báo động chất lượng tín dụng và tình hình hoạt động kinh doanh của các NHTM Tổng cầu nền kinh tế suy giảm, tiêu thụ hàng hóa kém, hàng tồn kho cao, năng lực tài chính của các doanh nghiệp mỗi lúc mỗi suy kiệt, hàng loạt doanh nghiệp rơi vào tình thế phá sản… khiến cho tốc độ tăng trưởng tín dụng chậm lại trong năm 2011 và còn dư âm về sau, ngược lại là nợ xấu ngày càng gia tăng và ở mức nghiêm trọng Hơn nữa, trong thời gian dài, các NHTMVN có sự tăng trưởng nóng, chất lượng quản lý tín dụng chưa cao, chưa đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa rủi ro, định giá TSĐB cao hơn giá trị thực tế, TSĐB không đủ tính pháp lý, tài sản tranh chấp… Vì vậy, khi nền kinh tế rơi vào khó khăn, cũng là lúc nợ xấu gia tăng nhưng việc xử lý nợ xấu, phát mãi TSĐB đầy nhiêu khê Bên cạnh đó là năng lực thanh tra, giám sát ngân hàng của NHNN còn hạn chế nhất định, chưa phát huy hiệu quả trong việc phát hiện,
Trang 39ngăn chặn, xử lý kịp thời các vi phạm trong qui định về cho vay, đầu tư quá mức
vào một số lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao (Vũ Minh, 2012)
Biểu đồ 3.5: Dư nợ cho vay và tỷ lệ nợ xấu của hệ thống ngân hàng giai đoạn 2006-
2015
3.5.2 Chất lượng nợ tại các NHTMCP niêm yếtở Việt Nam
Chất lượng nợ thường được xem xét phổ biến thông qua chỉ số tỷ lệ nợ xấu trên
tổng dư nợ Theo phân loại nợ, nợ xấu của các TCTD bao gồm nợ nhóm 3, 4, 5 tức
là nợ dưới chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn
Trang 40Bảng 3.5: Tình hình tổng nợ xấu của chín NHTMCP niêm yết tại Việt Nam
2006 - 2015
Tỷ lệ trung bình nợ xấu(%)
(Nguồn: Tổng hợp của tác giả từ BCTN của các NHTMCP niêm yết tại Việt
Nam qua các năm)
Tỷ lệ nợ xấu trong bảng 3.5được tính bằng số dư nợ xấu trên tổng dư nợ cho vay khách hàng Có thể thấy rằng nếu các NHTM công bố phản ánh đúng tình hình thực
tế của các đơn vị thì nợ xấu ở các ngân hàng không ở mức đáng lo ngại Nợ xấu trung bình của chín ngân hàng niêm yết dao động từ mức 1.51%/năm - 2.7% năm, mật độ tập trung chủ yếu quanh mức 2% năm, chỉ có năm 2006 thì con số này là