1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu cho giáo dục hộ gia đình các tỉnh ven biển vùng Đồng bằng Sông Cửu Long

82 57 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 82
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá các nhân tố thuộc đặc điểm hộ gia đình tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL trên cơ sở

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

LÊ VĂN TÒNG

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘ GIA ĐÌNH ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC HỘ GIA ĐÌNH CÁC TỈNH VEN BIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

Lê Văn Tòng

ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẶC ĐIỂM HỘ GIA ĐÌNH ĐẾN CHI TIÊU CHO GIÁO DỤC HỘ GIA ĐÌNH CÁC TỈNH VEN BIỂN VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG

Chuyên ngành: Chính sách công

Mã số: 60340402

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

TS Nguyễn Hữu Dũng

Tp Hồ Chí Minh, năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

*

Tôi xin cam đoan luận văn này hoàn toàn do tôi thực hiện Các đoạn trích dẫn

và số liệu sử dụng trong luận văn đều được dẫn nguồn và có độ chính xác cao nhất trong phạm vi hiểu biết của tôi

Luận văn này không nhất thiết phản ánh quan điểm của trường Đại học Kinh tế TP.HCM

Tp.Hồ Chí Minh, ngày 20 tháng 4 năm 2015

Tác giả luận văn

Lê Văn Tòng

Trang 4

MỤC LỤC

Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các ký hiệu, chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình

PHẦN MỞ ĐẦU 1

1 Đặt vấn đề 1

2 Mục tiêu nghiên cứu 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Cấu trúc đề tài 4

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH 5

1.1 Các định nghĩa và khái niệm 5

1.1.1 Hộ gia đình 5

1.1.2 Chủ hộ 5

1.1.3 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình 6

1.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995) 7

1.3 Lý thuyết đầu tư đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình: 8

1.3.1 Lý thuyết lợi nhuận đầu tư cho giáo dục: 8

1.3.2 Mô hình Lý thuyết về lựa chọn số năm đến trường của trẻ 8

1.4 Hành vi ra quyết định của hộ gia đình 9

1.5 Các nghiên cứu có liên quan 9

1.5.1 Chi tiêu giáo dục ở vùng thành thị Trung Quốc: tác động của thu nhập, các đặc điểm hộ gia đình và nhu cầu giáo dục trong và ngoài nước (Qian và Smyth, 2010) 9

1.5.2 Tỷ lệ chi tiêu giáo dục của hộ gia đình: thể hiện tầm quan trọng của giáo dục (Huston, S J., 1995) 10

Trang 5

1.5.3 Các yếu tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở vùng nông

thôn Ấn Độ (Tilak, J B.G.,2002) 11

1.6 Khung phân tích của nghiên cứu 13

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 16

2.1 Mô hình lý thuyết kinh tế chi tiêu hộ gia đình 16

2.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm trong đề tài: 18

2.3 Lựa chọn các biến đại diện sử dụng trong mô hình 19

2.3.1 Đặc điểm kinh tế hộ gia đình 19

2.3.1.1 Chi tiêu của hộ gia đình 20

2.3.1.2 Chi tiêu thực phẩm của hộ gia đình 20

2.3.2 Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình 21

2.3.2.1 Quy mô hộ gia đình 21

2.3.2.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 21

2.3.2.3 Giới tính của chủ hộ 23

2.3.2.4 Sắc tộc của chủ hộ 23

2.3.2.5 Tình trạng hôn nhân của chủ hộ 24

2.3.2.6 Số thành viên còn đi học ở các bậc học khác và số trẻ em dưới 6 tuổi 24

2.3.2.7 Giới tính của trẻ 25

2.3.3 Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình 25

2.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu 26

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu 26

2.4.2 Dữ liệu nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHI TIÊU GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH 30

3.1 Giới thiệu tổng quát về mẫu dữ liệu 30

3.2 Tổng hợp thống kê mô tả các biến trong mô hình 31

3.3 Chi tiêu giáo dục cho trẻ theo các đặc điểm của hộ gia đình 32

3.3.1 Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình 32

3.3.2 Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình 33

3.3.2 Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình 35

Trang 6

CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG CHI TIÊU GIÁO DỤC 37

4.1 Mô hình hồi quy 37

4.2 Kiểm định mô hình 37

4.3 Giải thích kết quả của mô hình hồi quy 39

4.3.1 Đặc điểm kinh tế hộ gia đình 39

4.3.1.1 Chi tiêu bình quân hộ gia đình 39

4.3.1.2 Chi tiêu lương thực, thực phẩm bình quân hộ gia đình 40

4.3.2 Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình 40

4.3.2.1 Quy mô hộ gia đình 40

4.3.2.2 Trình độ học vấn của chủ hộ 40

4.3.2.3 Sắc tộc của chủ hộ 41

4.3.2.4 Trẻ em dưới 6 tuổi và số trẻ học cấp học khác trong hộ gia đình 41

4.3.3 Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình thành thị, nông thôn 42

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 43

5.1 Các kết quả chính của đề tài 43

5.1.1 Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình 43

5.1.2 Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình 44

5.1.3 Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình 46

5.2 Kiến nghị 47

5.3 Hạn chế và hướng nghiên cứu mới 50

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 4

Trang 7

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

OLS : Phương pháp bình phương bé nhất

UNICEF : United Nations Children’s Fund - Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc VHLSS : Bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ dân cư

ĐBSCL : Đồng bằng Sông Cửu Long

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về chi tiêu giáo dục 12

Bảng 2.1: Thông tin nguồn dữ liệu được trích xuất 27

Bảng 2.2: Bảng tóm tắt kỳ vọng các biến trong mô hình 28

Bảng 3.1: Tổng hợp giá trị trung bình của các biến chính: 31

Bảng 3.2: Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo khu vực hộ sinh sống (đơn vị: nghìn đồng/trẻ/năm) 32

Bảng 3.3: Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo sắc tộc của chủ hộ (đơn vị: nghìn đồng/trẻ/năm) 33

Bảng 3.4: Chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình theo nhóm thành viên học cấp học khác (đơn vị: nghìn đồng/trẻ/năm) 34

Bảng 4.1: Các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình 38

Trang 9

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Phân bố trẻ đang đi học theo từng tỉnh ven biển vùng ĐBSCL 30Hình 3.2: Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo các nhóm học vấn của chủ hộ 35Hình 3.3: Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo nhóm chi tiêu (nghìn đồng/trẻ/năm) 36

Trang 10

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Đặt vấn đề

Con người được trang bị bằng những tri thức hiện đại sẽ là động lực cơ bản của

sự phát triển kinh tế - xã hội Do vậy giáo dục, đào tạo giữ vai trò cốt lõi đối với mỗi quốc gia, phát triển giáo dục là nền tảng phát triển kinh tế một cách bền vững Thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng đều xem trọng sự nghiệp giáo dục và dành mọi nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục Theo Becker (1993) để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thì nhân tố ảnh hưởng quan trọng nhất là khoản đầu

tư vào giáo dục và đào tạo Đối với cá nhân thì giáo dục nâng cao khả năng tiếp cận với khoa học, công nghệ, tăng năng xuất lao động và tạo ra nhiều cơ hội kiếm tiền Đảng và Nhà nước ta cũng khẳng định quan điểm về giáo dục trong Hiến pháp (2013) “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút nguồn đầu

tư khác cho giáo dục; chăm lo giáo dục mầm non; bảo đảm giáo dục tiểu học là bắt buộc, Nhà nước không thu học phí; từng bước phổ cập giáo dục; phát triển giáo dục đại học, giáo dục chuyên nghiệp; thực hiện chính sách học bổng, học phí hợp lý Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục vùng miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; ưu tiên sử dụng, phát triển nhân tài; tạo điều kiện để người khuyết tật và người nghèo được học văn hóa và học nghề” (Điều 61, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 2013)

Theo Kết quả khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (2012), vùng ĐBSCL

có mức thu nhập bình quân đầu người trên tháng từ tiền lương, tiền công tương đối thấp, xếp hàng thứ tư so với sáu vùng trong cả nước Trong vùng có 8/13 tỉnh giáp biển, nguồn thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp và thủy sản Vấn đề đầu tư học hành cho con cái ít được quan tâm Xuất phát từ điều kiện tự nhiên thuận lợi cho nông nghiệp và khai thác thủy sản tạo tâm lý ỷ lại vào nguồn tài nguyên thiên nhiên từ đó

Trang 11

tạo ra giá trị gia tăng không cao Để giá trị gia tăng trong mọi lĩnh vực ngày càng tăng đòi hỏi nguồn nhân lực ngày một nâng cao về chất lượng và số lượng Để làm được điều đó phải dựa trên nền giáo dục có chất lượng Vì vậy cần đánh giá một cách khách quan các nhân tố thuộc đặc điểm hộ gia đình tác động đến quyết định chi tiêu giáo dục của hộ gia đình để nâng cao chất lượng giáo dục nước nhà nói chung và các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL nói riêng

Nhà nước đầu tư rất nhiều cho giáo dục, bằng nhiều nguồn lực khác nhau Bên cạnh sự đầu tư của Nhà nước, sự đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình là thật sự quan trọng và thiết thực Để nâng cao đầu tư giáo dục của hộ gia đình thì ta cần hiểu rõ nhân tố ảnh hưởng việc đầu tư giáo dục của hộ gia đình, từ đó giúp hình thành những chính sách nhằm tác động nâng cao việc đầu tư giáo dục của hộ gia đình gắn với nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo Tạo tiền đề tốt cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, tăng cường hội nhập, giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc Thể hiện sự đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình cho con em mình có thể được phản ánh qua mức chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Hộ gia đình càng quan tâm đầu tư giáo dục thì chắc chắn sẽ chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn hộ ít quan tâm

Vì vậy, việc đánh giá tác động của các nhân tố thuộc đặc điểm hộ gia đình đến quyết định chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là một vấn đề cần lưu tâm xem xét và

đánh giá Đề tài nghiên cứu: “Đánh giá tác động của đặc điểm hộ gia đình đến

chi tiêu cho giáo dục hộ gia đình ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL” nhằm góp

phần làm sáng tỏ vấn đề trên

2 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chính của đề tài là đánh giá các nhân tố thuộc đặc điểm hộ gia đình tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL trên cơ sở thống kê mô tả và phân tích định lượng các số liệu điều tra Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam (VHLSS) năm 2012

Trang 12

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở các tỉnh ven

biển vùng ĐBSCL cho con em trong hộ

Câu hỏi nghiên cứu của đề tài là các nhân tố thuộc đặc điểm hộ gia đình nào có

ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL?

Đề tài tập trung giải đáp 3 câu hỏi cụ thể như sau:

-Chi tiêu giáo dục có gia tăng khi chi tiêu của hộ gia đình tăng lên hay không? -Chi tiêu lương thực, thực phẩm có tác động như thế nào đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình?

-Các đặc điểm của hộ gia đình: sắc tộc của chủ hộ, số thành viên đang theo học các bậc học, khu vực sinh sống của hộ có ảnh hưởng đến quyết định chi tiêu giáo dục của hộ như thế nào?

Phạm vi nghiên cứu: Đề tài được thực hiện trong phạm vi thời gian và không gian

như sau:

(1) về thời gian: nghiên cứu chi tiêu giáo dục hộ gia đình các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL được thực hiện năm 2012 dựa theo bộ dữ liệu Khảo sát mức sống hộ dân

cư Việt Nam năm 2012,

(2) về không gian: chi tiêu giáo dục hộ gia đình trên phạm vi 8 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL: Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu

và Kiên Giang

4 Phương pháp nghiên cứu

Cơ sở dữ liệu : Đề tài sử dụng dữ liệu thứ cấp có được từ cuộc Khảo sát mức sống

hộ dân cư Việt Nam năm 2012 do Tổng Cục Thống kê thực hiện

Phương pháp phân tích: đề tài sử dụng kết hợp hai phương pháp chính sau: (1)

phương pháp thống kê mô tả: quá trình xử lý số liệu có so sánh, đối chiếu nhằm

Trang 13

tổng hợp lại những dữ liệu, đưa ra những nhận xét cơ bản, (2) phương pháp phân tích định lượng: hồi quy hàm chi tiêu giáo dục của hộ gia đình và kiểm định tác động của các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục Các hệ số hồi quy của mô hình được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS)

5 Cấu trúc đề tài

Chương 1: Tổng quan lý thuyết và thực tiễn Trình bày một số khái niệm, cơ sở

lý thuyết của đề tài, các nghiên cứu có liên quan để từ đó xây dựng khung phân tích của đề tài

Chương 2: Phương pháp và mô hình nghiên cứu Trình bày mô hình nghiên cứu,

lựa chọn các biến đại diện cho các khái niệm được nêu lên ở khung phân tích Đồng thời nội dung chương này cũng trình bày quy trình xử lý, tinh lọc dữ liệu từ bộ dữ liệu Khảo sát mức sống dân cư Việt Nam năm 2012

Chương 3: Thực trạng chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình Chương này sẽ tập

trung thống kê mô tả dữ liệu trên cơ sở xây dựng các bảng thống kê mô tả, đưa ra một số kết luận ban đầu về một số yếu tố có khả năng ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL

Chương 4: Mô hình yếu tố ảnh hưởng chi tiêu giáo dục Chương này sẽ trình bày

quá trình thực hiện hồi quy mô hình, giải thích ý nghĩa của các chỉ số trong kết quả

mô hình

Chương 5: Kết luận - kiến nghị Chương này sẽ tóm lược lại những kết quả quan

trọng của đề tài và đặc biệt là mô hình nghiên cứu Từ đó có những kiến nghị chính sách nhằm gia tăng mức chi tiêu giáo dục của hộ gia đình đặc biệt là hộ gia đình ở 8 tỉnh ven biển vùng ĐBSCL Ngoài ra, chương này còn đánh giá lại những hạn chế của đề tài để từ đó mở ra những hướng nghiên cứu tiếp theo

Phần phụ lục: Các kết quả phân tích đã được trình bày trong các chương

Trang 14

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ KHUNG PHÂN TÍCH

Nội dung chương này tác giả sơ lượt một số các khái niệm, định nghĩa, lý thuyết cơ bản liên quan đến hộ gia đình, bên cạnh đó để làm cơ sở cho nghiên cứu, tác giả lượt khảo một số nghiên cứu có liên quan đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Từ đó, xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu

1.1 Các định nghĩa và khái niệm

1.1.1 Hộ gia đình

Theo điều 106 Bộ luật dân sự (2005) định nghĩa hộ gia đình mà các thành viên

có tài sản chung, cùng đóng góp công sức để hoạt động kinh tế chung trong sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp hoặc một số lĩnh vực sản xuất, kinh doanh khác do pháp luật quy định và là chủ thể khi tham gia quan hệ dân sự thuộc các lĩnh vực này

Theo Blow (2004) định nghĩa hộ gia đình có thể chỉ bao gồm một thành viên hoặc gồm nhiều thành viên sống cùng một nhà, sinh hoạt và chia sẻ các công việc nhà Các thành viên trong hộ không nhất thiết phải có quan hệ huyết thống Trong

hộ gia đình sẽ có một hoặc nhiều đơn vị thành viên nhỏ, với mỗi đơn vị thành viên nhỏ có thể chỉ gồm một người lớn duy nhất, hoặc một cặp vợ chồng có hoặc không

có trẻ em phụ thuộc

Theo Tổng cục Thống kê (2012) hộ gia đình là một hoặc một nhóm người ăn chung, ở chung trong một chổ ở từ 6 tháng trở lên trong 12 tháng qua và có chung quỹ thu chi Thời gian 12 tháng qua tính từ thời điểm tiến hành phỏng vấn trở về trước

1.1.2 Chủ hộ

Theo Tổng cục Thống kê (2012) thì chủ hộ được hiểu là người có vai trò điều

hành, quản lý gia đình (nhưng không nhất thiết), giữ vị trí chủ yếu, quyết định những công việc của hộ Thông thường thì chủ hộ là người có thu nhập cao nhất trong hộ, nắm được tất cả các hoạt động kinh tế và nghề nghiệp của các thành viên

Trang 15

khác trong hộ Đa số chủ hộ theo khái niệm này trùng với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu, nhưng cũng có trường hợp chủ hộ trong cuộc khảo sát trên khác với chủ hộ theo đăng ký hộ khẩu

Theo Bộ luật Dân sự Việt Nam (2005) thì chủ hộ là đại diện của hộ gia đình trong các giao dịch dân sự vì lợi ích chung của hộ Cha, mẹ hoặc một thành viên khác đã thành niên có thể là chủ hộ

Theo Ủy ban Châu Âu (2010) chủ hộ được định nghĩa là cá nhân mà căn cứ đặc điểm của họ, chúng ta có thể phân loại và phân tích các thông tin đại diện cho

hộ gia đình mà người đó làm chủ hộ Chủ hộ có thể là người có thu nhập lớn nhất trong hộ, chủ sở hữu căn nhà hoặc là người đàn ông lớn tuổi nhất trong hộ

Tóm lại, chủ hộ là những người có đủ điều kiện cung cấp các thông tin cần thiết về các đặc điểm nhân khẩu học, thu nhập, chi tiêu và các hoạt động diễn ra trong hộ gia đình Vì vậy, các thông tin mà chủ hộ cung cấp cho các thành viên khác trong hộ và của bản thân chủ hộ có thể được sử dụng đại diện trong các nghiên cứu về hộ gia đình

1.1.3 Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình là toàn bộ chi phí của hộ gia đình dùng để trang trải cho việc tham gia các hoạt động giáo dục và đào tạo của các thành viên trong hộ gia đình Theo Ủy ban Châu Âu (2010) thì Chi tiêu giáo dục phát sinh của các hộ gia đình có thể được phân thành ba loại: chi phí trực tiếp, chi phí gián tiếp và chi phí cơ hội

-Chi phí trực tiếp là các chi phí: học phí của học sinh, chi phí cho các nhà cung cấp các khóa học nâng cao tay nghề và kỹ năng, chi phí mua sách vở và đồ dùng học tập, chi phí mua đồng phục, phí học thêm

-Chi phí gián tiếp là những khoản chi mở rộng không nằm trong chi phí trực tiếp trong quá trình học Chúng bao gồm chi phí sinh hoạt cho học sinh, chi phí đi lại, chi phí mua thức ăn và học nội trú - bán trú, chi phí mua đồ dùng học tập để tự học

Trang 16

-Chi phí cơ hội được thể hiện qua những công việc hoặc các hoạt động nghỉ ngơi mà các cá nhân phải bỏ lỡ để dành thời gian đầu tư cho học tập

Theo Lassible (1994) thì khoản chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình chia thành ba khoản như sau:

-Các khoản chi bằng tiền mặt: bao gồm học phí đóng theo quy định của nhà trường, cơ sở đào tạo; các chi phí mua bảo hiểm bắt buộc và tự nguyện, những khoản vận động tự nguyện từ phía phụ huynh đóng góp

-Các khoản chi cho việc mua đồ dùng phục vụ trực tiếp cho học tập như: sách giáo khoa, sách tham khảo, tập vở, máy tính, dụng cụ vẽ; các dụng cụ hỗ trợ khác như: đồng phục, quần áo thể dục, cặp sách, dụng cụ thể thao

-Các khoản chi phí cho dịch vụ hỗ trợ: dịch vụ đi lại hoặc đưa đón học sinh; chi phí cho nội trú, bán trú

Theo cách tính của Tổng cục Thống kê (2012), chi giáo dục đào tạo bình quân một người đi học trong 12 tháng qua được tính bằng tổng chi cho việc đi học trong

12 tháng của các thành viên đang đi học chia cho số người đi học theo từng cấp một Như vậy chi tiêu giáo dục bình quân trẻ sẽ bằng tổng chi tiêu giáo dục cho các thành viên đang học của hộ gia đình chia cho số trẻ đang học của hộ Trong đề tài này, chi tiêu giáo dục bình quân trẻ học tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông của các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL còn được gọi tắt là chi tiêu giáo dục

1.2 Vấn đề lựa chọn tiêu dùng (Mas-collet và cộng sự, 1995)

Theo Lý thuyết tiêu dùng thì quyết định tiêu dùng của người tiêu dùng cho các loại hàng hóa mang tính chất duy lý Trong điều kiện ngân sách hộ gia đình có giới hạn, người tiêu dùng sẽ lựa chọn rổ hàng hóa đảm bảo sao cho đạt mức tối đa hóa mức hữu dụng

Max u(x) ĐK: p.x < I

Trang 17

x = x(x1, x2, , xn): rổ hàng hóa tiêu dùng

p = p(p1, p2, , pn): giá của rổ hàng hóa tiêu dùng

I: ngân sách của người tiêu dùng Với mức giá p và ngân sách I cho trước, tập hợp các lựa chọn của người tiêu dùng sẽ được viết lại ở dạng sau: B (p,I) = {x thuộc n

R: p.x ≤ I}

Với giả định rằng thông tin thị trường hoàn hảo, người tiêu dùng là người chấp nhận giá, giá cả hàng hóa có dạng tuyến tính, thì để đạt mức hữu dụng cao nhất, người tiêu dùng sẽ lựa chọn tiêu dùng các hàng hóa x thuộc B (p,I)

1.3 Lý thuyết đầu tư cho giáo dục của hộ gia đình:

1.3.1 Lý thuyết lợi nhuận đầu tư cho giáo dục:

Theo tác giả Becker (1993) và Schultz (1961) cho rằng giữa hai người có trình

độ học vấn khác nhau thì thu nhập của mỗi người rất khác nhau Do vậy, con cái đi học trong bao nhiêu năm là do sự quyết định của cha mẹ và quyết định đó sẽ tùy thuộc vào kỳ vọng về mức thu nhập của con cái họ sau này

Lợi nhuận của việc đầu tư vào giáo dục là khoản chênh lệch giữa hiện giá khoản thu nhập trong tương lai trừ đi chi phí của việc đi học (bao gồm chi phí trực tiếp và chi phí cơ hội) Điều đó có nghĩa là cha mẹ như là một nhà đầu tư Họ sẽ so sánh phần lợi nhuận chênh lệch giữa việc đầu tư và không đầu tư cho trẻ đi học Nếu nhận thấy thu lợi nhuận, họ sẽ tiếp tục đầu tư cho trẻ đi học Nếu nhận thấy lỗ,

bố mẹ sẽ không cho trẻ tiếp tục đến trường

1.3.2 Mô hình Lý thuyết về lựa chọn số năm đến trường của trẻ

Theo Glick và Sahn (2000), hộ gia đình là một khối thống nhất và hộ gia đình

sẽ ra quyết định vì mục tiêu tối đa hóa hàm hữu dụng mình Trong đó, cha mẹ (hoặc người chủ chốt trong hộ gia đình) chính là người đưa ra quyết định bao gồm cả các quyết định về việc giáo dục của trẻ em trong hộ

Theo đó, số năm đi học của một đứa trẻ là một hàm số của các yếu tố: mức

Trang 18

lương của cha mẹ, thu nhập ngoài lao động, chi phí giáo dục, trình độ học vấn của cha mẹ, đặc điểm của những đứa trẻ, và các yếu tố khác của hộ gia đình và xã hội

1.4 Hành vi ra quyết định của hộ gia đình

Trong nền kinh tế nói chung hộ gia đình được xem là một bộ phận tiêu dùng,

hộ gia đình là tập hợp của nhiều thành viên và vì vậy mà hành vi ra quyết định cho một vấn đề chi tiêu sẽ không tránh khỏi sự chi phối ít nhiều từ các thành viên khác trong hộ Theo nghiên cứu của Douglas (1983) đã khẳng định lại một lần nữa các điểm cần lưu ý trong hành vi ra quyết định của hộ gia đình:

-Quy trình ra quyết định của hộ gia đình chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố bên ngoài tác động, gia đình luôn phải tính toán, cân nhắc để đưa ra được quyết định có lợi nhất, giúp tối đa hóa tổng hữu dụng của hộ gia đình, hạn chế các lựa chọn bất lợi Việc ra quyết định của hộ gia đình không những chịu tác động từ các thành viên trong hộ gia đình mà còn chịu tác động từ các tác nhân bên ngoài Các tác nhân này

có thể từ người bán hàng, hoặc các đối tượng khác có khả năng tác động đến việc ra quyết định đó

-Hoàn cảnh, điều kiện sống, các chính sách tác động lên hộ gia đình cũng ảnh hưởng đến hành vi ra quyết định của hộ gia đình

Tóm lại, quá trình ra quyết định nào đó của hộ gia đình nói chung, hay một quyết định chi tiêu cụ thể chịu tác động của các yếu tố liên quan, từ đặc điểm hộ gia đình đến các điều kiện môi trường xã hội, các quy định, chính sách của chính phủ…

Do đó, quá trình ra quyết định của hộ gia đình nói chung quyết định chi tiêu giáo dục nói riêng cần phải được xem xét nghiên cứu trong trường hợp có nhiều yếu tố tác động

1.5 Các nghiên cứu có liên quan

1.5.1 Chi tiêu giáo dục ở vùng thành thị Trung Quốc: tác động của thu nhập, các đặc điểm hộ gia đình và nhu cầu giáo dục trong và ngoài nước (Qian và

Smyth, 2010)

Trang 19

Nghiên cứu được thực hiện trên bộ dữ liệu thu thập được từ 10.793 người trả lời thu thập ngẫu nhiên ở 32 thành phố trên đất nước Trung Quốc năm 2003 Bộ dữ liệu được thu thập bởi Công ty nghiên cứu marketing China Mainland nhằm đo lường các nhân tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục trong và ngoài nước của hộ gia đình ở khu vực thành thị trên đất nước Trung Quốc

Với dạng hàm Tobit, chi tiêu cho giáo dục được hồi quy với các biến độc lập dựa trên một số đặc điểm hộ gia đình như: thu nhập của hộ, nghề nghiệp của bố mẹ,

số trẻ em trong gia đình, trình độ học vấn của bố mẹ, tình trạng hôn nhân của bố mẹ

và đặc điểm nơi sinh sống của hộ Kết quả nghiên cứu có cho thấy thu nhập hộ gia đình là nhân tố có mức ảnh hưởng nhiều nhất đến các quyết định chi tiêu giáo dục của hộ gia đình.Ngoài ra, bố mẹ có trình độ học vấn càng cao và có chuyên môn nghề nghiệp, thì chi tiêu giáo dục cho trẻ càng nhiều Hộ gia đình có càng nhiều trẻ

em trong độ tuổi đến trường thì chi tiêu giáo dục hộ gia đình càng nhiều Hộ gia đình có chủ hộ là bố sống đơn thân thì khoản chi tiêu giáo dục này sẽ ít hơn hộ có đầy đủ bố mẹ Với hộ gia đình sinh sống ở vùng ven biển thì xu hướng chi tiêu cho giáo dục có sự khác biệt với những hộ gia đình sinh sống ở những vùng còn lại

1.5.2 Tỷ lệ chi tiêu giáo dục của hộ gia đình: thể hiện tầm quan trọng của giáo

dục (Huston, S J., 1995)

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu mẫu của 661 hộ gia đình được trích xuất từ bộ dữ liệu điều tra chi tiêu tiêu dùng năm 1990 -1991 với mục tiêu là phân tích tác động của thu nhập và các yếu tố khác của hộ gia đình đến tỷ lệ ngân sách của hộ gia đình chi tiêu cho giáo dục Tỷ lệ chi tiêu của hộ gia đình là biến đo lường tầm quan trọng của giáo dục đối với nhận thức của mỗi hộ gia đình

Khác với Qian và Smyth (2010), với dạng hàm Logit, Huston (1995) cũng đã thực hiện ước lượng tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục của các hộ gia đình dựa trên một số yếu tố như: thu nhập của hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi của chủ hộ, nghề nghiệp của chủ hộ, giới tính của chủ hộ, quy mô hộ gia đình, đặc điểm nơi sinh

Trang 20

sống, chủng tộc, và số trẻ em của hộ gia đình

Nghiên cứu đưa ra những kết luận là khu vực sinh sống, quy mô hộ gia đình,

và các đặc điểm của chủ hộ như: thu nhập, tuổi, giới tính, trình độ học vấn đều có tác động đến tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục Nghiên cứu cũng cho thấy chủ hộ là người

da màu có tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục ít hơn những hộ gia đình có chủ hộ có sắc da khác

1.5.3 Các yếu tố tác động đến chi tiêu cho giáo dục của hộ gia đình ở vùng nông thôn Ấn Độ (Tilak, J B.G.,2002)

Nghiên cứu được thực hiện trên bộ dữ liệu khảo sát từ 33.230 hộ gia đình nông thôn sống trong 1.765 ngôi làng, 195 địa phương và 16 bang chính của Ấn Độ từ kết quả cuộc điều tra về sự phát triển nguồn nhân lực ở khu vực nông thôn Ấn Độ năm 1994, Tilak (2002) đã ước lượng khoản chi tiêu giáo dục cho đứa trẻ của các

hộ gia đình ở khu vực nông thôn Ân Độ là một hàm số phụ thuộc vào thu nhập của

hộ, giới tính của đứa trẻ, trình độ giáo dục và nghề nghiệp của chủ hộ, quy mô của

hộ gia đình, đẳng cấp xã hội và tôn giáo của hộ, các chỉ số phát triển của làng xã nơi

hộ sinh sống, đặc điểm trường lớp và các khoản trợ cấp được nhận

Nghiên cứu rút ra kết quả, độ co giãn trong chi tiêu giáo dục hộ gia đình chịu tác động nhiều bởi thu nhập của hộ gia đình Đặc điểm hộ gia đình (bao gồm thu nhập hộ gia đình và trình độ giáo dục của chủ hộ gia đình) là nhân tố quan trọng tác động đến chi tiêu giáo dục bình quân trẻ Chủ hộ có trình độ giáo dục càng cao thì

họ sẽ mạnh dạn chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn Hộ gia đình có xu hướng ưu tiên chi tiêu giáo dục cho trẻ em nam nhiều hơn trẻ em nữ Ngoài ra, quy mô hộ gia đình

và tôn giáo cũng có tác động đến quyết định chi tiêu cho giáo dục Hộ gia đình với quy mô càng lớn thì có nhiều khoản chi phí khác nhau cho nhiều người, dẫn đến việc giảm chi tiêu cho giáo dục nhằm đảm bảo các khoản chi tiêu thiết yếu khác Một số các nhân tố được kỳ vọng như giới tính của trẻ, nghề nghiệp của bố mẹ và một số yếu tố liên quan đến đặc điểm trường lớp không có tác động hoặc có tác

Trang 21

động không đáng kể đến các quyết định chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Bảng 1.1: Tổng hợp các nghiên cứu thực nghiệm về chi tiêu giáo dục

Ân Độ thông qua cuộc điều tra về sự phát triển con người ở khu vực nông thôn Ân Độ năm 1994

Biến giải thích bao gồm: thu nhập của hộ, trình độ học vấn và nghề nghiệp của chủ

hộ, giới tính của đứa trẻ, quy mô của hộ gia đình, đẳng cấp và tôn giáo của hộ, các chỉ

số phát triển của làng xã nơi hộ sinh sống, các trợ cấp được nhận

Thu nhập là nhân tố quan trọng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Trình

độ học vấn của chủ hộ, giới tính của đứa trẻ, thu nhập của hộ cũng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ Nghề nghiệp của chủ hộ không tác động đáng

kể đến khoản chi tiêu giáo dục

Biến giải thích cho nghiên cứu bao gồm:

thu nhập của hộ gia đình; tuổi, giới tính và trình độ học vấn của chủ hộ; quy mô hộ gia đình, khu vực địa lý, số trẻ trong hộ gia đình, sắc tộc

Tuổi tác và trình độ học vấn của chủ hộ, thu nhập, khu vực địa

lý, sắc tộc và quy mô

hộ gia đình là những nhân tố có tác động đến tỷ lệ chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

3 Chi tiêu giáo

Dữ liệu được thu thập từ cuộc điều tra của China Mainland trên 32 thành phố thuộc

Hộ gia đình có thu nhập càng cao, bố mẹ

Trang 22

lãnh thổ Trung Quốc năm 2003

Biến độc lập được sử dụng là biến thu nhập

hộ gia đình, nghề nghiệp- trình độ học vấn của bố mẹ, số trẻ trong hộ gia đình, tình trạng hôn nhân của bố mẹ, đặc điểm khu vực sinh sống

có trình độ học vấn càng cao và nghề nghiệp càng chuyên nghiệp thì chi tiêu giáo dục cho trẻ càng nhiều Ngoài ra, tình trạng hôn nhân của bố mẹ,

số trẻ trong hộ gia đình

và đặc điểm khu vực sinh sống cũng có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ

2008 của Tổng cục thống kê Việt Nam với

594 quan sát là hộ gia đình ở vùng Đông Nam Bộ

Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình được dự đoán phụ thuộc vào các yếu tố: tổng chi tiêu, quy mô hộ gia đình, nơi sinh sống của

hộ, các khoản trợ cấp giáo dục, dân tộc, các đặc điểm của chủ hộ như: giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn

Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố tổng chi tiêu hộ gia đình, nơi sinh sống của

hộ, trình độ học vấn của chủ hộ, các khoản trợ cấp giáo dục được nhận định có ảnh hưởng đến khoản chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở vùng Đông Nam Bộ

1.6 Khung phân tích của nghiên cứu

Quyết định chi tiêu của người tiêu dùng chịu nhiều tác động không những từ chính bản thân người tiêu dùng mà còn chịu tác động từ các yếu tố bên ngoài Chi tiêu cho giáo dục cũng không tránh khỏi những tác động đó

Trang 23

Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình

Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình

Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình

Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Nghiên cứu về các nhân tố tác động đến chi tiêu giáo dục hộ gia đình của Tilak (2002) đã đưa ra nhiều nhóm đặc điểm có tác động đến quyết định chi tiêu giáo dục của hộ gia đình như: nhóm đặc điểm của hộ gia đình bao gồm đặc điểm kinh tế, đặc điểm xã hội của hộ (như tầng lớp xã hội, tôn giáo, dân tộc), đặc điểm nhân khẩu học, nhóm đặc điểm của chủ hộ; đặc điểm cá nhân; đặc điểm về trường lớp nơi hộ gia đình đang sinh sống; đặc điểm phát triển kinh tế địa phương

Sau khi sơ lược lý thuyết và tham khảo các nghiên cứu có liên quan, tác giả dựa vào cách phân chia các nhóm đặc điểm có tác động đến chi tiêu giáo dục hộ gia đình của Tilak (2002) làm nền tảng Kết hợp với mục tiêu nghiên cứu đã đề ra ở đầu bài là phân tích tác động của đặc điểm hộ gia đình đến chi tiêu giáo dục, tác giả xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu này Trong đó đặc điểm của hộ gia đình được chia thành ba nhóm đặc điểm cụ thể: đặc điểm kinh tế, đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình bao gồm chi tiêu bình quân đầu người và chi tiêu lương thực phẩm bình quân Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình bao gồm giới tính của chủ hộ, tình trạng hôn nhân của chủ hộ, số trẻ em dưới 6 tuổi trong hộ, dân tộc của chủ hộ, số thành viên học cấp học khác, số năm đi học của chủ hộ và tổng số người trong hộ Đặc điểm khu vực sinh sống là khu vực thành thị - nông thôn

Trang 24

Tóm tắt chương 1:

Nội dung Chương 1 đã trình bày rõ ràng các định nghĩa và khái niệm có liên quan, lý thuyết hành vi tiêu dùng, lý thuyết về quyết định đầu tư giáo dục của hộ gia đình Dựa theo các nghiên cứu tương tự ở các quốc gia khác nhau trên thế giới, tác giả đã lựa chọn và phát triển mô hình của Tilak (2002) làm nền tảng để xây dựng khung phân tích cho nghiên cứu Theo đó, chi tiêu giáo dục của hộ gia đình chịu tác động của 3 nhóm đặc điểm của hộ gia đình bao gồm: đặc điểm kinh tế của hộ gia đình, đặc điểm nhân khẩu học và sau cùng là đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình

Trang 25

CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Sau khi xây dựng được khung phân tích các đặc điểm hộ gia đình có khả năng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ở chương 1, chương này tác giả tiến hành xây dựng mô hình nghiên cứu và xem xét các biến đại diện đưa vào mô hình nghiên cứu

2.1 Mô hình lý thuyết kinh tế chi tiêu hộ gia đình

Nhà nghiên cứu Houthakker (1957) đã xem xét 3 dạng hàm gồm: tuyến tính, bán logarit và logarit kép để thành lập mô hình giải thích hiệu quả nhất cho mối quan hệ kinh tế giữa chi tiêu cho một loại hàng hóa cụ thể và tổng chi tiêu của hộ gia đình Với ưu điểm của dạng hàm logarit kép, nhà nghiên cứu đã đưa ra mô hình

cụ thể như sau:

i i

i i

Nghiên cứu Chi tiêu hộ gia đình ở Nairobi của tác giả Massell và Heyer (1969) cũng đã sử dụng mô hình tương tự như trên để ước lượng chi tiêu của hộ gia đình: log(Ei) = a0i + a1i log(E) + a2ilog(N ) + ui (2.2)

Với Ei là chi tiêu cho hàng hóa thứ i, E là tổng chi tiêu của hộ gia đình, N là số thành viên của hộ gia đình, a là các hệ số cần ước lượng của mô hình và ui là sai số Massell và Heyer (1969) đã nhận định dạng hàm logarit kép được sử dụng trong nhiều nghiên cứu nhờ vào tính đơn giản và có thể thêm vào nhiều yếu tố có liên quan khác nhằm tăng tính giải thích cho mô hình

Ndanshau (1998) xây dựng mô hình ước lượng tổng quát cho chi tiêu hộ gia

Trang 26

đình như sau:

Trong đó: Cij là phần chi tiêu của hộ gia đình thứ j cho hàng hóa thứ i; TEXj là tổng chi tiêu của hộ gia đình; Aj và Edj là biến tuổi và trình độ học vấn của chủ hộ,

là biến quy mô hộ gia đình thứ j Từ mô hình tổng quát trên, tác giả Ndanshau (1998) triển khai dạng mô hình lin-log như sau:

Ci = αi + βi 1ogTEX + ilogA + iH S + iE d + ui (2.4)

Trong bài nghiên cứu về Chi tiêu hộ gia đình cho giáo dục của Tilak (2002) đã trình bày mối quan hệ giữa các yếu tố có khả năng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình với dạng hàm tổng quát sau:

Với lnHHEX là giá trị logarit của chi tiêu giáo dục hằng năm của hộ gia đình,

Xi là các yếu tố ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình, βi là các hệ số hồi quy tương ứng, i là sai số ước lượng Các biến phụ thuộc là tổng chi tiêu giáo dục của hộ gia đình, chi tiêu giáo dục bình quân của hộ gia đình và chi tiêu giáo dục tiểu học bình quân học sinh của hộ gia đình

Ưu điểm của mô hình này chính là nhà nghiên cứu có thể đưa vào mô hình nhiều biến độc lập trên cơ sở xây dựng giả thiết nghiên cứu các yếu tố có liên quan đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Bên cạnh đó còn có thể áp dụng mô hình để tính được độ co giãn và đánh giá các nhân tố tác động đến chi tiêu giáo dục cho các bậc học khác nhau

Với những mô hình kinh tế được trình bày ở trên, hầu hết đều sử dụng dạng hàm logarit kép cho việc xác định mối quan hệ giữa chi tiêu của một loại hàng hóa với tổng chi tiêu của hộ gia đình Mối quan hệ này được thể hiện qua việc lấy logarit cho giá trị của biến giải thích tổng chi tiêu hộ gia đình và biến phụ thuộc chi tiêu cho một loại hàng hóa Ngoài ra, bên cạnh tác động của tổng chi tiêu hộ gia

Trang 27

đình, các tác giả cũng nhận thấy cần đưa thêm nhiều biến khác như quy mô hộ gia đình, trình độ học vấn của chủ hộ, tuổi của chủ hộ để tăng tính giải thích cho mô hình Các biến được đưa thêm vào mô hình có thể được thể hiện dưới dạng logarit tùy thuộc vào đặc điểm của dữ liệu, và ý nghĩa giải thích của các biến

2.2 Mô hình nghiên cứu thực nghiệm trong đề tài:

Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình được dự đoán sẽ chịu ảnh hưởng của những đặc điểm hộ gia đình như sau: đặc điểm kinh tế, đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm về khu vực sinh sống của hộ gia đình

Với mục tiêu nghiên cứu chi tiêu giáo dục của hộ gia đình đang có thành viên theo học từ lớp 1 đến lớp 12 Tác giả dựa trên mô hình toán kinh tế trong nghiên cứu của Tilak (2002) làm nền tảng để xây dựng mô hình cho nghiên cứu Bên cạnh

đó, tác giả cũng sử dụng dạng logarit tự nhiên cho đặc điểm kinh tế hộ gia đình, kế thừa từ kinh nghiệm sử dụng logarit cho biến chi tiêu trong các mô hình kinh tế chi tiêu hộ gia đình của Houthakker (1957), Ndanshau (1998), Massell và Heyer (1969) Mô hình cụ thể dưới dạng toán học được viết tổng quát như sau:

LnChiBQTH = 0 + 1lnA + 2B+ 3C + i (2.6)

Với: Ln là logarit tự nhiên

ChiBQTH: chi tiêu giáo dục bình quân trẻ của hộ gia đình

A: véctơ các đặc điểm kinh tế hộ gia đình

B: véctơ các đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình

C: véctơ các đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình

i: là các tham số ước lượng

i: là sai số

Những tham số trong mô hình trên sẽ được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS)

Trang 28

2.3 Lựa chọn các biến đại diện sử dụng trong mô hình

2.3.1 Đặc điểm kinh tế hộ gia đình

Để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định giáo dục thường phân loại theo các nhóm đặc điểm của trường lớp, đặc điểm của hộ gia đình và các chính sách của chính phủ Trong nhóm đặc điểm hộ gia đình thì đặc điểm kinh tế của hộ là nhân tố quan trọng Đặc điểm kinh tế của hộ gia đình có thể được đo lường bằng khoản chi tiêu hoặc thu nhập của hộ gia đình (Filmer và Pritchett, 1998)

Chi tiêu giáo dục ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong chi tiêu hộ gia đình, vì thế khi thu nhập/ chi tiêu của hộ gia đình gia tăng, nhiều khả năng chi tiêu giáo dục của hộ cũng gia tăng theo chiều hướng tích cực hơn Huston (1995), Zou và Luo (2010) trong các nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh tầm quan trọng của thu nhập đến các quyết định chi tiêu giáo dục Kết quả nghiên cứu của Huston (1995) nhận định rằng quyết định chi tiêu giáo dục của hộ gia đình nhạy cảm với sự thay đổi của thu nhập hộ gia đình

Thực tế khách quan ở Việt Nam khi một người được hỏi về tổng thu nhập thì

họ thường hay tìm cách từ chối, hoặc có cung cấp thì cũng không kể hết tất cả các nguồn thu nhập Từ đó dựa vào thu nhập để kết luận về tình hình kinh tế của hộ là không khách quan Từ thu nhập thì người ta chỉ có thể dự đoán được chi tiêu ở dạng tiềm năng chứ không hẳn là chi tiêu thực sự Đặc tính của người Việt có nhiều nguồn thu nhập từ các hoạt động kinh tế khác nhau và tâm lý chung là người dân không muốn thông báo chính xác các nguồn thu nhập của họ Mặt khác thì tổng chi tiêu thể hiện rõ khả năng chi tiêu thực của hộ gia đình chứ không còn ở dạng tiềm năng Khi được hỏi về chi tiêu thì khác, các số liệu chi tiêu thường dễ dàng thu thập

và có tính chính xác hơn số liệu thu nhập Do đó việc sử dụng thông tin về chi tiêu

để xác định đặc điểm kinh tế của hộ gia đình tác động như thế nào đến chi tiêu cho giáo dục của trẻ sẽ phản ản chính xác và thực tế hơn

Trang 29

2.3.1.1 Chi tiêu của hộ gia đình

Nghiên cứu chi tiêu giáo dục của hộ gia đình vùng Đông Nam Bộ của Trần Thanh Sơn (2012) cho thấy vai trò của của nhân tố tổng chi tiêu tác động tích cực đến chi tiêu giáo dục hộ gia đình Chi tiêu hộ gia đình càng tăng, hộ gia đình càng

có khả năng chi tiêu nhiều hơn cho các hoạt động giáo dục

Deolalikar (1997) sử dụng chi tiêu bình quân đầu người hằng năm làm biến độc lập để đánh giá tác động đến chi tiêu giáo dục của trẻ trong nghiên cứu ở Kenya

về tỷ lệ nhập học và chi tiêu giáo dục Trong nghiên cứu của Glick and Sahn (2010), nhóm tác giả đã sử dụng chi tiêu bình quân làm biến đại diện cho nhân tố thu nhập của hộ gia đình để đánh giá tác động của nhân tố này đến số năm đến trường của trẻ Tilak (2002) cũng đã đề nghị sử dụng biến chi giáo dục bình quân và chi tiêu bình quân để kết quả ước lượng chính xác hơn Sở dĩ, ba nghiên cứu trên điều sử dụng biến chi tiêu bình quân là để tránh trường hợp hai hộ gia đình có cùng một mức chi tiêu nhưng số thành viên trong hộ khác nhau, thì lúc này thành viên của hộ

có quy mô nhỏ hơn sẽ có cơ hội được chi tiêu nhiều hơn Do đó, nghiên cứu này sẽ

sử dụng biến chi tiêu bình quân hộ gia đình và kỳ vọng rằng khi chi tiêu bình quân

hộ gia đình gia tăng sẽ làm cho chi tiêu giáo dục cũng tăng lên

2.3.1.2 Chi tiêu thực phẩm của hộ gia đình

Tỷ trọng chi lương thực, thực phẩm trong chi tiêu đời sống hộ gia đình là một chỉ tiêu đánh giá mức sống cao hay thấp Tỷ trọng này càng cao thì mức sống càng thấp và ngược lại Việt Nam là nước còn nghèo nên tỷ trọng chi tiêu thực phẩm vẫn còn cao, tuy có xu hướng giảm từ 56,7% năm 2002 xuống còn 52,9% năm 2010, tuy nhiên năm 2012 tỷ lệ này lại tăng lê đến 56% (Tổng cục thống kê, 2012)

Giáo dục và thực phẩm là hai loại hàng hóa luôn luôn hiện hữu trong rổ hàng hóa được sử dụng của hộ gia đình Cả hai yếu tố này đều có những tác động phần nào đến vốn nhân lực Nếu như tiêu dùng lương thực, thực phẩm là cái gốc để hình thành nền tảng thể lực, gia tăng khả năng tiếp thu kiến thức và các kĩ năng, thì giáo

Trang 30

dục giữ nhiệm vụ truyền đạt các kiến thức và hình thành kỹ năng cho con người Nhưng ngân sách thì có hạn và hộ gia đình lại có nhu cầu sử dụng nhiều loại hàng hóa khác nhau nên nhiều khả năng sẽ dẫn đến tình trạng khi chi tiêu cho hàng hóa này tăng thì chi tiêu cho các hàng hóa còn lại sẽ giảm Mức tăng giảm trong chi tiêu các loại hàng hóa còn tùy thuộc vào lựa chọn, cân nhắc của từng hộ gia đình Do đó,

sử dụng biến chi tiêu lương thực, thực phẩm bình quân đại diện cho chi tiêu lương thực, thực phẩm của hộ gia đình sẽ giúp chúng ta hình dung rõ hơn mỗi quan hệ giữa hai hàng hóa này như thế nào

2.3.2 Đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình

2.3.2.1 Quy mô hộ gia đình

Quy mô hộ gia đình là tổng số người trong hộ gia đình Theo nghiên cứu của Tilak (2002) quy mô hộ gia đình có ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Chi tiêu giáo dục của hộ gia đình càng tăng khi hộ gia đình càng có nhiều thành viên Hộ gia đình có nhiều thành viên sẽ có nhiều nguồn thu nhập, ngoài chi tiêu cho các nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống của bản thân thì các thành viên cũng

có thể đóng góp chi tiêu giáo dục cho các thành viên đang đi học, chia sẽ bớt gánh nặng Do đó, kỳ vọng trong nghiên cứu này là quy hộ gia đình càng lớn ảnh hưởng tích cực đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

2.3.2.2 Trình độ học vấn của chủ hộ

Trình độ học vấn của của người thay mặt gia đình đình quyết định các việc hệ trọng trong hộ gia đình cũng là nhân tố có khả năng tác động đến chi tiêu giáo dục Ilon và Moock (1991) trong một nghiên cứu của mình ở vùng nông thôn Peru cũng đã sử dụng biến học vấn của cả bố và mẹ để đánh giá nhu cầu giáo dục của hộ gia đình Kết quả nghiên cứu cho thấy trình độ giáo dục của mẹ tác động mạnh hơn đến các quyết định giáo dục của con trẻ trong hộ gia đình Trong nghiên cứu của Glick and Sahn (2000) thì trình độ học vấn của bố mẹ có mối quan hệ tích cực với

số năm đến trường của trẻ Nghiên cứu của Lee (2008) cũng cho kết quả tương tự

Trang 31

về mối tương quan cùng chiều giữa trình độ học vấn của bố mẹ với quyết định đầu

tư giáo dục cho con cái Trình độ học vấn của bố mẹ càng cao thì họ đầu tư giáo dục cho con cái càng cao Có thể nhận định rằng, trình độ học vấn của bố mẹ có ảnh hưởng đến các quyết định giáo dục của trẻ, trong đó có cả vấn đề chi tiêu cho giáo dục của hộ

Một vài nghiên cứu khác cũng sử dụng trình độ học vấn của chủ hộ để ước lượng khả năng ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình, thay vì việc sử dụng biến trình độ giáo dục của bố mẹ Tilak (2002) nhận định rằng trình độ học vấn của chủ hộ là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Người chủ hộ trong các gia đình ở Việt Nam thường là chủ lực trong gia đình

về mặt kinh tế hoặc người được kính trọng Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012) cho thấy trình độ học vấn của chủ hộ càng cao thì chi tiêu cho giáo dục càng nhiều Chủ hộ có trình độ học vấn càng cao, khả năng thu nhập của họ cũng sẽ cao hơn và

sẽ dành nhiều sự ưu tiên cho chi tiêu giáo dục của các thành viên trong hộ gia đình Ngược lại, khi chủ hộ có trình độ học vấn thấp, thì nhiều khả năng họ có mức thu nhập thấp, từ đó chi phối đến các quyết định phân bổ ngân sách cho hoạt động giáo dục

Trình độ học vấn của chủ hộ đại diện cho trình độ nhận thức của chủ hộ và có thể được đo lường bằng nhiều cách khác nhau Theo Filmer và Pritchett (1998) thì học vấn của một người có thể đo lường bằng số năm đi học Một cách đo lường khác được Huston (1995) đề nghị và được sử dụng trong nghiên cứu của Qian và Smyth (2008) là sử dụng các biến giả đại diện cho các bậc học khác nhau (tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông…)

Dựa theo các nghiên cứu về giáo dục ở Việt Nam cũng như một số nghiên cứu nước ngoài đã sử dụng số năm đi học để đo lường trình độ học vấn và cho kết quả phù hợp với mục tiêu nghiên cứu ban đầu, Từ đó, trong nghiên cứu này tác giả cũng vận dụng số năm đi học để đo lường trình độ học vấn của chủ hộ Kỳ vọng đặt ra là

số năm đi học của chủ hộ càng nhiều thì chi tiêu giáo dục hộ gia đình càng tăng

Trang 32

Khác với một số quốc gia khác, Việt Nam là một quốc gia theo truyền thống văn hoá Phương Đông, quan niệm người đàn ông thường xem trọng sự nghiệp, mong muốn được nắm giữ những vị trí quan trọng Họ nhận thức rằng học tập sẽ giúp họ đạt được những gì kỳ vọng Giữ vai trò chủ hộ, nam giới cũng sẽ có những hành động khuyến khích các thành viên học tập nhiều hơn Nữ giới cũng chịu ảnh hưởng văn hoá lâu đời, nhưng ngược lại giới nữ lại có xu hướng e ngại cạnh tranh

và tham vọng ở các vị trí cao nên xu hướng đầu tư cho tri thức không được đặt lên hàng đầu Từ quan niệm trên, dẫn đến kỳ vọng chủ hộ là nam giới sẽ chi tiêu giáo dục nhiều hơn chủ hộ là nữ giới

2.3.2.4 Sắc tộc của chủ hộ

Việt Nam là đất nước có nhiều dân tộc anh em cùng chung sống bao đời nay Mỗi dân tộc lại có những đặc điểm, phong tục, tập quán rất không giống nhau Điều này dẫn đến có sự khác biệt trong về các vấn đề trong cuộc sống giữa các dân tộc UNICEF (2010) đưa ra kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ nhập học của trẻ em thuộc

Trang 33

dân tộc Kinh cao hơn trẻ em thuộc nhóm hộ gia đình dân tộc ít người Nghiên cứu của Diep Nang Quang (2008) cho thấy có sự khác biệt trong các quyết định chi tiêu cho giáo dục giữa các nhóm dân tộc Kinh, Hoa, Khơ me, Tày Trong số các dân tộc thì dân tộc Kinh chiếm tỷ trọng cao nhất cả nước Đồng thời nhóm dân tộc này có trình độ dân trí cao, mức quan tâm đầu tư cho giáo dục nhiều hơn Do vậy, đề tài kỳ vọng nhóm dân tộc Kinh này có mức chi tiêu giáo dục cao hơn nhóm dân tộc khác

2.3.2.5 Tình trạng hôn nhân của chủ hộ

Tình trạng hôn nhân của chủ hộ cũng là một trong những tác nhân tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Hộ gia đình với chủ hộ có đầy đủ vợ chồng họ sẵn lòng chi tiêu giáo dục nhiều hơn hộ gia đình với chủ hộ đơn thân Chủ hộ đơn thân chỉ có một nguồn thu nhập duy nhất, trong khi hộ gia đình có đầy đủ vợ/chồng có thêm sự hỗ trợ thu nhập từ người vợ/chồng còn lại Kết quả nghiên cứu từ Mauldin

và cộng sự (2001) cho thấy hộ gia đình có bố mẹ đơn thân chi tiêu cho giáo dục của con trẻ ít hơn hộ gia đình có đầy đủ bố mẹ Tình trạng hôn nhân còn đầy đủ vợ/chồng của chủ hộ được kỳ vọng sẽ có tác động tích cực đến chi tiêu giáo dục của

hộ gia đình

2.3.2.6 Số thành viên còn đi học ở các bậc học khác và số trẻ em dưới 6 tuổi

Trong các đặc điểm nhân khẩu học của hộ gia đình thì quy mô hộ gia đình cũng là một nhân tố có ảnh hưởng đến các quyết định giáo dục nói chung và chi tiêu giáo dục nói riêng Các nghiên cứu trước của Huston (1995) và Tilak (2002) đã chứng minh được quy mô hộ gia đình có tác động đến các khoản chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Tuy nhiên trên thực tế có trường hợp những hộ gia đình có nhiều thành viên, nhưng đa số các thành viên đã tham gia lao động, thì các thành viên còn lại nhiều khả năng sẽ được chi tiêu giáo dục nhiều hơn Vì vậy, trong một số nghiên cứu đánh giá nhân tố tác động đến các quyết định giáo dục đã thay thế biến quy mô

hộ gia đình bằng một vài biến phân loại cụ thể hơn Mauldin và cộng sự (2001) đã

sử dụng số trẻ em trong hộ thay thế nhân tố quy mô hộ gia đình để đánh giá tác

Trang 34

động đến việc đến trường và chi tiêu giáo dục của trẻ Nghiên cứu Chi tiêu giáo dục

hộ gia đình ở khu vực thành thị của Trung Quốc (Quian và Smith, 2010) cũng nhận thấy số trẻ em ở độ tuổi dưới 6 ảnh hưởng có ý nghĩa và tác động tiêu cực đến chi tiêu giáo dục Điều này có nghĩa là hộ gia đình có càng nhiều trẻ em dưới 6 tuổi, chi tiêu dành cho những thành viên nhỏ tuổi này sẽ làm giảm chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Bên cạnh đó, số thành viên còn lại đang đi học nhiều khả năng cũng ảnh hưởng trực tiếp đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Số thành viên còn đang đi học ở các bậc học khác càng nhiều, mức phân bổ ngân sách cho các thành viên đang đi học có thể giảm

Với nghiên cứu này, tác giả sử dụng số thành viên còn lại trong hộ đang theo học ở các bậc học khác và số trẻ dưới 6 tuổi đại diện quy mô hộ gia đình để đánh giá tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Nghiên cứu kỳ vọng số thành viên đang đi học ở các bậc học khác và số trẻ dưới 6 tuổi càng tăng thì chi tiêu giáo dục càng giảm

2.3.2.7 Giới tính của trẻ

Tư tưởng Nho giáo tồn tại rất lâu đời ở Việt Nam, hiện nay tuy quan niệm trọng nam khinh nữ đã dần được cải thiện Tuy nhiên phần lớn dân cư theo tập quán sản xuất nông nghiệp, dân cư tập trung nhiều ở vùng nông thôn tư tưởng này vẫn còn tồn tại Do đó, bé gái thường ít được gia đình đầu tư giáo dục so với bé trai Quan niệm bé gái chỉ học cho biết chữ, lớn lên lập gia đình sống bên gia đình chồng, không giúp nhiều cho gia đình Theo nghiên cứu của Tilak (2002) thì giới tính của trẻ cũng tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Kỳ vọng của nghiên cứu này chi tiêu giáo dục của hộ gia đình ảnh hưởng mạnh đối với bé trai hơn bé gái

2.3.3 Đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình

Nhiều nghiên cứu cho thấy nơi sinh sống của hộ gia đình cũng có tác động đến

Trang 35

mức chi tiêu giáo dục của hộ gia đình Nghiên cứu về chi tiêu giáo dục của bố mẹ cho trẻ được thực hiện ở Hoa Kỳ của Mauldin và cộng sự (2001) phân chia đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình thành 2 đặc điểm: hộ gia đình sinh sống ở vùng thành thị hay nông thôn và vùng miền mà hộ gia đình đang sinh sống Kết quả nghiên cứu cho thấy các hộ gia đình ở vùng Đông Bắc và phía Tây của Hoa Kỳ chi tiêu cho giáo dục ít hơn các hộ gia đình ở khu vực phía Nam, và các hộ gia đình ở khu vực thành thị chi tiêu cho giáo dục nhiều hơn hộ gia đình ở nông thôn Nghiên cứu của Trần Thanh Sơn (2012) cho thấy hộ gia đình đang sinh sống ở khu vực thành thị vùng Đông Nam Bộ có mức chi tiêu giáo dục cao hơn hộ gia đình sinh sống ở khu vực nông thôn Kỳ vọng nghiên cứu đặt ra là hộ gia đình sinh sống ở khu vực thành thị có mức chi tiêu giáo dục nhiều hơn hộ gia đình sinh sống ở khu vực nông thôn

2.4 Phương pháp và dữ liệu nghiên cứu

2.4.1 Phương pháp nghiên cứu

Đề tài sử dụng hai phương pháp nghiên cứu: (1) phương pháp thống kê mô tả các nhân tố có khả năng ảnh hưởng đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình (2) phương pháp định lượng các hệ số hồi quy mô hình được ước lượng bằng phương pháp bình phương bé nhất (OLS)

2.4.2 Dữ liệu nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng dữ liệu VHLSS 2012 của Tổng cục thống kê Việt Nam

Bộ dữ liệu có tổng cộng 9.399 hộ được điều tra thu nhập, chi tiêu và các chủ đề khác trên cả nước

Cuộc khảo sát thu thập thông tin theo 4 kỳ, mỗi kỳ một quý từ quý 1 đến quý 4 năm 2012 Phương pháp điều tra phỏng vấn trực tiếp được các phỏng vấn viên trực tiếp phỏng vấn chủ hộ và cán bộ chủ chốt của xã có địa bàn khảo sát Tiêu chí để lựa chọn hộ gia đình nghiên cứu trong đề tài này như sau: có thành viên đang theo học từ lớp 1 đến lớp 12 trong hệ thống giáo dục quốc dân của Việt Nam

Trang 36

Các thông tin được thu thập chủ yếu trên cơ sở trích xuất từ các mục:

Mục 1: Một số đặc điểm nhân khẩu học

Mục 2: Giáo dục

Mục 5: Chi tiêu

Sau khi trích lọc bộ dữ liệu nghiên cứu có 533 hộ gia đình Chi tiêu giáo dục bình quân trẻ được tính bằng tổng chi tiêu cho giáo dục của các thành viên đang theo học từ lớp 1 đến lớp 12 chia cho số thành viên đang theo học các bậc học này của hộ gia đình

Bảng 2.1: Thông tin nguồn dữ liệu được trích xuất

3 treduoi6 Số trẻ em dưới 6 tuổi trong hộ m1ac5

4 dantoc Dân tộc của chủ hộ

ttchung dantoc

6 capckhac Số thành viên đang học cấp

8 tsnguoi Tổng số người trong hộ ttchung Tsnguoi

9 chiGD_BQ Chi tiêu giáo dục bình quân trẻ M2c11k,

m2c14, m2c7

10 chitieu_BQ Chi tiêu bình quân đầu người ttchung,

muc 7

m5a1ct, m5a2ct, m5b1ct, m5b2ct, m5b3ct, m6c7,

Trang 37

m7c23, m2act, m3ct

11 chiLTTP_BQ Chi tiêu lương thực, thực

12 gioitinhtre Giới tính của trẻ đi học Mục 1,

mục 2 m1ac2, m2ct

Bảng tóm tắt kỳ vọng các biến trong mô hình

Bảng 2.2: Bảng tóm tắt kỳ vọng các biến trong mô hình

1 gioitinh Giới tính của chủ hộ Nam: 1 Nữ: 0 +

2 honnhan Tình trạng hôn nhân của chủ hộ Đơn thân: 0

3 treduoi6 Số trẻ em dưới 6 tuổi trong hộ Trẻ -

4 dantoc Dân tộc của chủ hộ Khác: 0 Kinh: 1 +

5 ttnt Khu vực thành thị - nông thôn Thành thị: 1

6 capkhac Số thành viên đang học cấp học

9 LnchiGD_BQ Ln Chi tiêu giáo dục bình quân

10 Lnchitieu_BQ Ln Chi tiêu bình quân đầu người Nghìn đồng +

11 LnchiLTTP_BQ Ln Chi tiêu lương thực, thực

12 gioitinhtre Giới tính trẻ đang đi học Nam: 1 Nữ: 0 +

Trang 38

Tóm tắt chương 2:

Chương này tác giả đã tiến hành tóm tắt các mô hình kinh tế chi tiêu hộ gia đình Từ đó đã lựa chọn được mô hình kinh tế sử dụng cho nghiên cứu này Bên cạnh đó, thông qua việc lược sơ các kết quả nghiên cứu trước đã lựa chọn được các biến đại diện cho các đặc điểm hộ gia đình phù hợp với khung phân tích đã nêu ở chương 1 Các yếu tố được dự đoán sẽ có tác động đến chi tiêu giáo dục bao gồm: chi tiêu bình quân, chi tiêu lương thực, thực phẩm bình quân, trình độ học vấn - giới tính - tình trạng hôn nhân- sắc tộc của chủ hộ, số thành viên đang theo học các bậc khác, số trẻ em dưới 6 tuổi, tổng số người trong hộ, giới tính của trẻ, khu vực sinh sống thành thị - nông thôn Phần cuối của chương 2, tác giả tóm tắt dấu kỳ vọng của các nhân tố được dự đoán có tác động đến chi tiêu giáo dục của hộ gia đình

Trang 39

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CHI TIÊU GIÁO DỤC CỦA HỘ GIA ĐÌNH

Chương này tập trung vào mô tả tổng quát thực trạng chi tiêu giáo dục của hộ gia đình các tỉnh ven biển ĐBSCL Nội dung đi sâu trình bày các phần: (i) giới thiệu tổng quát về mẫu dữ liệu; (ii) tổng hợp các biến trong mô hình; (iii) chi tiêu giáo dục của hộ gia đình theo các đặc điểm kinh tế, đặc điểm nhân khẩu học và đặc điểm khu vực sinh sống của hộ gia đình

3.1 Giới thiệu tổng quát về mẫu dữ liệu

Dữ liệu khảo sát của đề tài bao gồm 533 quan sát hộ các tỉnh ven biển ĐBSCL

có chi tiêu cho giáo dục cho trẻ đang đi học từ lớp 1 đến lớp 12 Các quan sát phân

bố cho các tỉnh Long An 80, Tiền Giang 82, Bến Tre 73, Trà Vinh 53, Kiên Giang

80, Sóc Trăng 46, Bạc Liêu 60, Cà Mau 59 [Hình 3.1]

Hình 3.1: Phân bố trẻ đang đi học theo từng tỉnh ven biển vùng ĐBSCL

Nguồn: Kết quả phân tích bộ dữ liệu VHLSS 2012

Phân theo khu vực sinh sống, số quan sát ở khu vực thành thị là 107 quan sát

và nông thôn là 426 quan sát Trong mỗi khu vực sinh sống, số hộ có dân tộc Kinh chiếm đa số 485 hộ chia ra thành thị 98 hộ, nông thôn 387 hộ; dân tộc khác là 48 hộ chia ra thành thị 9 hộ, nông thôn 39 hộ [Phụ lục 3.1]

Phân theo nhân khẩu, có 132 hộ có chủ hộ là nữ chia ra thành thị 34 hộ nông thôn 98 hộ; 401 hộ có chủ hộ là nam chia ra thành thị 73 hộ nông thôn 328 hộ Đa

Trang 40

số chủ hộ là nam và tập trung nhiều ở nông thôn [Phụ lục 3.4]

Số hộ có tình trạng hôn nhân của chủ hộ sống đơn thân 98 hộ, hộ sống đủ vợ chồng là 435 hộ Lần lượt thành thị 19 nông thôn 79, thành thị 88 nông thôn 347 [Phụ lục 3.5]

Về tình hình giáo dục của trẻ: số trẻ đang học từ lớp 1 đến lớp 12 của hộ gia đình chủ yếu một trẻ là 372 hộ, hai trẻ là 134 hộ, ba trẻ là 24 hộ và bốn trẻ là 3 hộ

[Phụ lục 3.2]

Số trẻ đang theo học ở các cấp học khác trong mỗi hộ lần lượt không trẻ là 167

hộ, một trẻ là 283 hộ, hai trẻ là 68 hộ, ba trẻ là 15 hộ [Phụ lục 3.3]

3.2 Tổng hợp thống kê mô tả các biến trong mô hình

Tổng số quan sát được sử dụng trong mô hình là 533 Giá trị trung bình của LnchiGD_BQ là 7,05 tương ứng với mức chi tiêu cho giáo dục là 1,532 triệu/trẻ/năm; Lnchitieu_BQ là 9,60 tương ứng mức chi tiêu hộ gia đình bình quân

là 16,820 triệu/người/năm; LnchiLTTP_BQ là 8,87 tương ứng với mức chi tiêu lương thực thực phẩm bình quân hộ gia đình là 7,971 triệu đồng/người/năm [Bảng 3.1]

Ngày đăng: 31/08/2020, 13:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w