Hạn chế của phương pháp thu thập này: - Người trả lời không trung thực, người nghiên cứu phải chuẩn bị ñể có thể biết ñược người trả lời không trung thực - Tốn kém soạn, in phiếu, xử lý…
Trang 1Một số ñề thi môn phương pháp nghiên cứu khoa học
(có giá trị tham khảo)
ĐỀ THI SỐ 1
1 Hạn chế của phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi ? cho ví dụ (1ñ)
2 Phân biệt ñối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu? cho ví dụ (1ñ)
3 Hãy so sánh phân tích ñịnh lượng và nghiên cứu ñịnh lượng? (2ñ)
4 Vận dụng phương pháp xây dựng khái niệm và ñịnh nghĩa ñể thiết lập một câu hỏi trắc nghiệm về lý thuyết phương pháp nghiên cứu khoa học (2ñ)
5 Biến nghiên cứu là gì? Căn cứ xác ñịnh biến ñộc lập và biến phụ thuộc trong phân tích ñịnh lượng? (2ñ)
6 Một cuộc ñiều tra ngẫu nhiên (10000 người) về việc làm và thu nhập tại một thành phố về các chỉ tiêu: thu nhập/tháng (VNĐ); trình ñộ ñào tạo (chưa ñựợc ñào tạo; sơ cấp; trung cấp; cao ñẳng; ñại học; thạc sỹ; tiến sỹ); tuổi; giới tính Anh/chị hãy cho biết có thể có những phân tích dữ liệu nào từ tập hợp dữ liệu này (2ñ)
1 Hạn chế của phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi ? cho ví dụ (1ñ)
Yêu cầu
Bảng hỏi ñã ñược quy chuẩn chung cho mọi ñối tượng
Chọn mẫu ñại diện hết sức nghiêm ngặt
Cộng tác viên ñòi hỏi phải ñược tập huấn chu ñáo
Bảng hỏi phải thể hiện ñược nội dung nghiên cứu, ñảm bảo tính lô-gích hợp lý
Ưu nhược ñiểm
+Tiết kiệm ñược kinh phí (cùng một lúc thu ñược ý kiến của nhiều người)
+Thông tin thu ñược có ñộ tin cậy tương ñối cao
+Phù hợp cho những nghiên cứu ñịnh lượng
-Phải ñầu tư nhiều thời gian công sức soạn thảo một bảng hỏi quy chuẩn
-Thu hồi lại bảng hỏi thường gặp khó khăn, do ñó ảnh hưởng trực tiếp tới tính ñại diện của thông tin
-Nhiều câu hỏi không nhận ñược sự trả lời của khách thể hạn chế tính ñầy ñủ của thông tin
-
BẢNG CÂU HỎI
Ưu ñiểm:
+ Là phương pháp hữu hiệu nhất ñể thu thập thông tin phân tích công việc
+ Cung cấp thông tin nhanh hơn và dễ thực hiện hơn so với hình thức phỏng vấn
+ Hỏi ñược nhiều người
+ Hỏi ñược nhiều câu hỏi
- Nhược ñiểm:
+ Thông tin thu ñược có thể không chính xác hoặc tính chính xác thấp
+ Có thể không thu lại ñược nhiều phiếu
+ Có thể số câu hỏi ñược trả lời không nhiều
2.BẢN CÂU HỎI
- Biện pháp nâng cao chất lượng bản câu hỏi:
+ Cấu trúc của các câu hỏi: cần xoay quanh trọng
Trang 2tâm các vấn ñề phải nghiên cứ và bản câu hỏi
nên ngắn gọn
+ Cách thức ñặt câu hỏi: câu hỏi cần ñơn giản, dễ
hiểu, dễ trả lời và có thể trả lời ngắn gọn (nếu có
thể nên ñặt câu hỏi ñóng - mở)
+ Nơi thực hiện: nên ñể nhân viên thực hiện bản
câu hỏi ngay tại nơi làm việc
1/ Hạn chế của phương pháp thu thập thông tin bằng bảng hỏi ? cho ví dụ (1ñ)
Đây là phương pháp mà người nghiên cứu thiết kế sẵn một phiếu câu hỏi với những câu
hỏi ñược sắp xếp theo một thứ tự logic
Hạn chế của phương pháp thu thập này:
- Người trả lời không trung thực, người nghiên cứu phải chuẩn bị ñể có thể biết
ñược người trả lời không trung thực
- Tốn kém (soạn, in phiếu, xử lý…) vì thế cần thiết phải phối hợp với các phương pháp khác
-Phải ñầu tư nhiều thời gian công sức soạn thảo một bảng hỏi quy chuẩn
-Thu hồi lại bảng hỏi thường gặp khó khăn, do ñó ảnh hưởng trực tiếp tới tính ñại diện của thông tin
-Nhiều câu hỏi không nhận ñược sự trả lời của khách thể hạn chế tính ñầy ñủ của thông tin
+ Thông tin thu ñược có thể không chính xác hoặc tính chính xác thấp
+ Có thể không thu lại ñược nhiều phiếu
+ Có thể số câu hỏi ñược trả lời không nhiều
2/ Phân biệt ñối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu? cho ví dụ (1ñ)
Khách thể nghiên cứu, ñối tượng nghiên cứu là những khái niệm công cụ luôn ñược sử dụng trong quá trình thực hiện một ñề tài
Đối tượng nghiên cứu là bản chất sự vật hoặc hiện tượng cần ñược xem xét và làm rõ
trong nhiệm vụ nghiên cứu
VD: Đối tượng nghiên cứu của triết học là các quy luật phổ quát của sự vật
Trang 3Khách thể nghiên cứu là hệ thống sự vật tồn tại khách quan trong các mối liên hệ mà
người nghiên cứu cần khám phá, là vật mang đối tượng nghiên cứu Khách thể nghiên cứu chính là nơi chứa đựng những câu hỏi mà người nghiên cứu cần tìm câu trả lời
VD: Khách thể nghiên cứu của đề tài “Sử dụng thời gian nhàn rỗi của sinh viên” là các trường đại học
3/ Hãy so sánh phân tích định lượng và nghiên cứu định lượng? (2đ)
Phân tích định lượng là việc xử lý tốn học đối với các thơng tin định lượng để xác định diễn biến của tập hợp số liệu thu thập được hay cịn gọi là xác định quy luật thống kê của tập hợp
số liệu nhằm phục vụ cho việc nghiên cứu định lượng
Nghiên cứu định lượng là những nghiên cứu sử dụng những cơng cụ đo lường, tính tốn để
đi tìm lời giải cho câu hỏi bao nhiêu?, mức nào? …
4/ Vận dụng phương pháp xây dựng khái niệm và định nghĩa để thiết lập một câu hỏi trắc nghiệm về lý thuyết phương pháp nghiên cứu khoa học (2đ)
1 Anh/ Chị đã từng tham gia nghiên cứu khoa học Cĩ Khơng
Nếu câu trả lời là “khơng”, xin trả lời câu số 2
Nếu câu trả lời là “cĩ”, xin trả lời câu số 3
2 Anh chị đã cĩ hướng lựa chọn đề tài luận văn Cĩ Khơng
Nếu câu trả lời là cĩ, xin trả lời câu số 3
3 Xin cho biết đề tài của Anh/ Chị thuộc loại hình nào:
Nghiên cứu cơ bản thuần túy Ngiên cứu cơ bản định hướng
Nghiên cứu ứng dụng Triển khai
Mơ tả Giải thích Dự báo Sáng tạo
4 Anh chị cho biết một định nghĩa về khoa học:
………
………
5/ Biến nghiên cứu là gì? Căn cứ xác định biến độc lập và biến phụ thuộc trong phân tích định lượng? (2đ) (Câu này em khơng cĩ tài liệu anh Lộc bổ sung giúp em nhé)
Đối tượng nghiên cứu: là sự vật, quá trình hay hiện tượng cần làm rõ BẢN CHẤT, quy luật vận động
Khách thể nghiên cứu: là hệ thống sự vật, quá trình, hiện tượng tồn tại khách quan, vật mang đối tượng nghiên cứu
• Biến độc lập (cịn gọi là nghiệm thức): là các yếu tố, điều kiện khi bị thay đổi trên đối
tượng nghiên cứu sẽ ảnh hưởng đến kết quả thí nghiệm Như vậy, đối tượng nghiên cứu chứa một hoặc nhiều yếu tố, điều kiện thay đổi Nĩi cách khác kết quả số liệu của biến phụ thuộc thu thập được thay đổi theo biến độc lập
Thí dụ:
Trang 4Biến độc lập cĩ thể là liều lượng phân bĩn, loại phân bĩn, lượng nước tưới, thời gian chiếu sáng khác nhau,… (hay cịn gọi là các nghiệm thức khác nhau)
Trong biến độc lập, thường cĩ một mức độ đối chứng hay nghiệm thức đối chứng (chứa các yếu tố, điều kiện ở mức độ thơng thường) hoặc nghiệm thức đã được xác định mà người nghiên cứu khơng cần tiên đốn ảnh hưởng của chúng Các nghiệm thức cịn lại sẽ được so sánh với nghiệm thức đối chứng hoặc so sánh giữa các cặp nghiệm thức với nhau
• Biến phụ thuộc (cịn gọi là chỉ tiêu thu thập): là những chỉ tiêu đo đạc và bị ảnh
hưởng trong suốt quá trình thí nghiệm, hay cĩ thể nĩi kết quả đo đạc phụ thuộc vào sự thay đổi của biến độc lập Thí dụ: khi nghiên cứu sự sinh trưởng của cây mía, các biến phụ thuộc ở đây cĩ thể bao gồm: chiều cao cây, số lá, trọng lượng cây,… và kết quả
đo đạc của biến phụ thuộc ở các nghiệm thức khác nhau cĩ thể khác nhau
Thí dụ:
Đề tài: “Ảnh hưởng của liều lượng phân N trên năng suất lúa Hè Thu” cĩ các biến như sau:
+ Biến độc lập: liều lượng phân N bĩn cho lúa khác nhau Các nghiệm thức trong thí nghiệm
cĩ thể là 0, 20, 40, 60 và 80 kgN/ha Trong đĩ nghiệm thức “đối chứng” khơng bĩn phân N
+ Biến phụ thuộc: cĩ thể là số bơng/m2, hạt chắt/bơng, trọng lượng hạt và năng suất hạt (t/ha)
6/ Một cuộc điều tra ngẫu nhiên (10000 người) về việc làm và thu nhập tại một thành phố về các chỉ tiêu: thu nhập/tháng (VNĐ); trình độ đào tạo (chưa đựợc đào tạo; sơ cấp; trung cấp; cao đẳng; đại học; thạc sỹ; tiến sỹ); tuổi; giới tính Anh/chị hãy cho biết cĩ thể cĩ những phân tích dữ liệu nào từ tập hợp dữ liệu này (2đ)
Trả lời :
Cĩ thể cĩ những cách xử lý dữ liệu sau :
1 Trình độ ảnh hưởng tới viêc làm và thu nhập như thế nào
2 Giới tính ảnh hưởng tới việc làm và thu nhập như thế nào
3 Tuổi ảnh hưởng tới việc làm và thu nhập như thế nào
4 Trình độ và giới tính hưởng tới việc làm và thu nhập như thế nào
ĐỀ THI SỐ 2
1 Nghiên cứu khoa học là gì? Phân loại nghiên cứu khoa học (1,5đ)
2 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu là gì ?cho ví dụ (2đ)
3 Thơng tin sơ cấp là gì? (0,5) Nêu các phương pháp thu thập thơng tin thơng tin sơ cấp (1,5đ)
4 Giống và khác nhau giữa mơ tả định lượng, phân tích định lượng, nghiên cứu định lượng (3đ) Cho ví
dụ (1,5đ)
Trang 52 Đối tượng nghiên cứu, khách thể nghiên cứu là gì ?cho ví dụ (2đ)
* Đối tượng nghiên cứu: là sự vật, quá trình hay hiện tượng cần làm rõ BẢN CHẤT, quy luật vận động
VD: Đối tượng nghiên cứu của triết học là các quy luật phổ quát của sự vật
* Khách thể nghiên cứu: là hệ thống sự vật, quá trình, hiện tượng tồn tại khách quan, vật mang đối tượng nghiên cứu
Vd: Khách thể nghiên cứu của đề tài “Sử dụng thời gian nhàn rỗi của sinh viên” là các
trường đại học
Khách thể nghiên cứu của đề tài “Xác định biện pháp hạn chế rủi ro của các ngân hàng
thương mại quốc doanh” là các ngân hàng thương mại quốc doanh
ĐỀ THI SỐ 3
1 Vấn đề nghiên cứu là gì? Cho ví dụ (2đ)
2 Nêu trình tự logic của một nghiên cứu khoa học (1,5đ)
3 Khái niệm là gì? Cho một ví dụ thuộc lĩnh vực khoa học kinh tế, quản trị kinh doanh và chỉ rõ các nội hàm;(2đ) Thực hiện mở rộng khái niệm và đặt tên cho khái niệm mới (1đ)
4 Nêu các phương pháp phân tích đa biến, chỉ rõ các yêu cầu về loại biến (định tính hoặc định lượng) trong từng phương pháp (3,5đ)
1 Vấn đề nghiên cứu là gì? Cho ví dụ (2đ)
Vấn đề khoa học cũng được gọi là vấn đề nghiện cứu hoặc câu hỏi nghiên cứu là câu hỏi
được đặt ra khi người nghiên cứu đứng trước mâu thuẫn giữa tính hạn chế của tri thức khoa
học hiện cĩ với yêu cầu phát triển tri thức đĩ ở trình độ cao hơn
Vấn đề nghiên cứu cần được trình bày dưới dạng một câu nghi vấn Fred Kerlinger khuyên:
“Hãy trình bày vấn đề nghiên cứu một cách rõ ràng, khúc chiết nằng một câu nghi vấn”
VD: những câu hỏi trong phần sau đều là ví dụ của vấn đề nghiên cứu Phần này khá hay,
mời các anh chị cùng tham khảo:
Đặt câu hỏi
Bản chất của quan sát thường đặt ra những câu hỏi, từ đĩ đặt ra “vấn đề” nghiên cứu cho nhà khoa học và người nghiên cứu Câu hỏi đặt ra phải đơn giản, cụ thể, rõ ràng (xác định giới hạn, phạm vi nghiên cứu) và làm sao cĩ thể thực hiện thí nghiệm để kiểm chứng, trả lời Thí
dụ, câu hỏi: “Cĩ bao nhiêu học sinh đến trường hơm nay?” Câu trả lời được thực hiện đơn giản bằng cách đếm số lượng học sinh hiện diện ở trường Nhưng một câu hỏi khác đặt ra:
“Tại sao bạn đến trường hơm nay?” Rõ ràng cho thấy rằng, trả lời câu hỏi này thực sự hơi khĩ thực hiện, thí nghiệm khá phức tạp vì phải tiến hành điều tra học sinh
Cách đặt câu hỏi thường bắt đầu như sau: Làm thế nào, bao nhiêu, xảy ra ở đâu, nơi nào, khi nào, ai, tại sao, cái gì, …? Đặt câu hỏi hay đặt “vấn đề” nghiên cứu là cơ sở giúp nhà khoa học chọn chủ đề nghiên cứu (topic) thích hợp Sau khi chọn chủ đề nghiên cứu, một cơng
Trang 6việc rất quan trọng trong phương pháp nghiên cứu là thu thập tài liệu tham khảo (tùy theo loại nghiên cứu mà có phương pháp thu thập thông tin khác nhau)
Phân loại “vấn ñề” nghiên cứu khoa học
Sau khi ñặt câu hỏi và “vấn ñề” nghiên cứu khoa học ñã ñược xác ñịnh, công việc tiếp theo cần biết là “vấn ñề” ñó thuộc loại câu hỏi nào Nhìn chung, “vấn ñề” ñược thể hiện trong 3 loại câu hỏi như sau:
a/ Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm
b/ Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức
c/ Câu hỏi thuộc loại ñánh giá
a/ Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm
Câu hỏi thuộc loại thực nghiệm là những câu hỏi có liên quan tới các sự kiện ñã xảy ra hoặc các quá trình có mối quan hệ nhân-quả về thế giới của chúng ta Để trả lời câu hỏi loại nầy, chúng ta cần phải tiến hành quan sát hoặc làm thí nghiệm; Hoặc hỏi các chuyên gia, hay nhờ người làm chuyên môn giúp ñở Câu hỏi thuộc loại nầy có trong các lãnh vực như sinh học, vật lý, hóa học, kinh tế, lịch sử,… Thí dụ: Cây lúa cần bao nhiêu phân N ñể phát triển tốt? Một số câu hỏi có thể không có câu trả lời nếu như không tiến hành thực nghiệm Thí dụ, loài người có tiến hóa từ các ñộng vật khác hay không? Câu hỏi này có thể ñược trả lời từ các NCKH nhưng phải hết sức cẩn thận, và chúng ta không có ñủ cơ sở và hiểu biết ñể trả lời câu hỏi nầy Tất cả các kết luận phải dựa trên ñộ tin cậy của số liệu thu thập trong quan sát và thí nghiệm Những suy nghĩ ñơn giản, nhận thức không thể trả lời câu hỏi thuộc loại thực nghiệm nầy mà chỉ trả lời cho các câu hỏi thuộc về loại quan niệm
b/ Câu hỏi thuộc loại quan niệm hay nhận thức
Loại câu hỏi này có thể ñược trả lời bằng những nhận thức một cách logic, hoặc chỉ là những suy nghĩ ñơn giản cũng ñủ ñể trả lời mà không cần tiến hành thực nghiệm hay quan sát Thí
dụ “Tại sao cây trồng cần ánh sáng?” Suy nghĩ ñơn giản ở ñây ñược hiểu là có sự phân tích nhận thức và lý lẽ hay lý do, nghĩa là sử dụng các nguyên tắc, qui luật, pháp lý trong xã hội
và những cơ sở khoa học có trước Cần chú ý sử dụng các qui luật, luật lệ trong xã hội ñã
ñược áp dụng một cách ổn ñịnh và phù hợp với “vấn ñề” nghiên cứu
c/ Câu hỏi thuộc loại ñánh giá
Câu hỏi thuộc lọai ñánh giá là câu hỏi thể hiện giá trị và tiêu chuẩn Câu hỏi này có liên quan tới việc ñánh giá các giá trị về ñạo ñức hoặc giá trị thẩm mỹ Để trả lời các câu hỏi loại nầy, cần hiểu biết nét ñặc trưng giữa giá trị thực chất và giá trị sử dụng Giá trị thực chất là giá trị hiện hữu riêng của sự vật mà không lệ thuộc vào cách sử dụng Giá trị sử dụng là sự vật chỉ
có giá trị khi nó ñáp ứng ñược nhu cầu sử dụng và nó bị ñánh giá không còn giá trị khi nó không còn ñáp ứng ñược nhu cầu sử dụng nữa Thí dụ: “Thế nào là hạt gạo có chất lượng cao?”
Cách phát hiện “vấn ñề” nghiên cứu khoa học
Các “vấn ñề” nghiên cứu khoa học thường ñược hình thành trong các tình huống sau:
* Quá trình nghiên cứu, ñọc và thu thập tài liệu nghiên cứu giúp cho nhà khoa học phát hiện hoặc nhận ra các “vấn ñề” và ñặt ra nhiều câu hỏi cần nghiên cứu (phát triển “vấn ñề” rộng hơn ñể nghiên cứu) Đôi khi người nghiên cứu thấy một ñiều gì ñó chưa rõ trong những nghiên cứu trước và muốn chứng minh lại Đây là tình huống quan trọng nhất ñể xác ñịnh
“vấn ñề” nghiên cứu
Trang 7* Trong các hội nghị chuyên đề, báo cáo khoa học, kỹ thuật, … đơi khi cĩ những bất đồng, tranh cải và tranh luận khoa học đã giúp cho các nhà khoa học nhận thấy được những mặt yếu, mặt hạn chế của “vấn đề” tranh cải và từ đĩ người nghiên cứu nhận định, phân tích lại
và chọn lọc rút ra “vấn đề” cần nghiên cứu
* Trong mối quan hệ giữa con người với con người, con người với tự nhiên, qua hoạt động thực tế lao động sản xuất, yêu cầu kỹ thuật, mối quan hệ trong xã hội, cư xử, … làm cho con người khơng ngừng tìm tịi, sáng tạo ra những sản phẩm tốt hơn nhằm phục vụ cho nhu cầu
đời sống con người trong xã hội Những hoạt động thực tế này đã đặt ra cho người nghiên
cứu các câu hỏi hay người nghiên cứu phát hiện ra các “vấn đề” cần nghiên cứu
* “Vấn đề” nghiên cứu cũng được hình thành qua những thơng tin bức xúc, lời nĩi phàn nàn nghe được qua các cuộc nĩi chuyện từ những người xung quanh mà chưa giải thích, giải quyết được “vấn đề” nào đĩ
* Các “vấn đề” hay các câu hỏi nghiên cứu chợt xuất hiện trong suy nghĩ của các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu qua tình cờ quan sát các hiện tượng của tự nhiên, các hoạt động xảy
ra trong xã hội hàng ngày
* Tính tị mị của nhà khoa học về điều gì đĩ cũng đặt ra các câu hỏi hay “vấn đề” nghiên cứu
2 Nêu trình tự logic của một nghiên cứu khoa học (1,5đ)
Trình tự logic của NCKH
– Phát hiện vấn đề (câu hỏi NC)
– Đặt giả thuyết (câu trả lời sơ bộ)
– Phương pháp thu thập thông tin (xác định luận chứng)
– Luận cứ lý thuyết (cơ sở lý luận)
– Luận cứ thực tiễn (quan sát, thực nghiệm, phỏng vấn…)
– Phân tích, bàn luận kết quả xử lý thông tin
– Tổng hợp kết quả, kết luận và khuyến nghị
3 Khái niệm là gì? Cho một ví dụ thuộc lĩnh vực khoa học kinh tế, quản trị kinh doanh và chỉ rõ các nội hàm;(2đ) Thực hiện mở rộng khái niệm và đặt tên cho khái niệm mới (1đ)
Khái niệm? Là hình thức tư duy của con người, phản ánh những thuộc tính chung nhất, chủ yếu, bản chất của sự vật, hiện tượng
Nội hàm của khái niệm: toàn thể những thuộc tính chung nhất, bản chất được phản ánh trong khái niệm
Mở rộng ngoại diên:
Là thu hẹp nội hàm –mở rộng ngoại diên bằng việc bỏ bớt các thuộc tính trong nội hàm
• VÍ dụ: cty cổ phần
• (i)Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần;
Trang 8• (ii)Cổ ñông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn ñã góp;
• (iii)Cổ ñông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp cổ ñông sở hữu cổ phần ưu ñãi biểu quyết;
• (iv)Cổ ñông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ ñông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối ña
• Được quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng
Bài tham khảo
MỘT SỐ KHÁI NIỆM CỦA LÝ THUYẾT KINH TẾ HỌC PHÁT TRIỂN ĐANG ĐƯỢC VẬN DỤNG Ở NƯỚC TA HIỆN NAY
TS TRẦN ANH PHƯƠNG
Trong hơn 20 năm ñổi mới của Việt Nam vừa qua ñã và ñang có khá nhiều các khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển ñược vận dụng vào thực tiễn nước ta Tuy nhiên, trên thực tế cũng như trong nhận thức của chúng ta chưa hẳn ñã có sự thống nhất về nội hàm khoa học và cơ sở thực tiễn của các khái niệm ñó Bài viết này sẽ góp phần trao ñổi thêm với bạn ñọc những thông tin cơ bản về một số khái niệm ñó và thực tiễn vận dụng vào nước ta
Đã có rất nhiều khái niệm của lý thuyết kinh tế học phát triển mà cơ sở xuất phát của nó là
từ các khái niệm rất cơ bản của lý thuyết kinh tế học hiện ñại ñã có trên thế giới từ hơn nửa thế kỷ qua (chủ yếu là từ các nước phương Tây ñã có nền công nghiệp TBCN phát triển)
ñược du nhập và vận dụng vào công cuộc ñổi mới, phát triển kinh tế thị trường theo ñịnh
hướng XHCN ở nước ta hơn 20 năm vừa qua Dưới ñây, chỉ ñề cập ñến một số khái niệm cơ bản nhất ñã ñược chính thức hoá trong các văn kiện của Đảng, Nhà nước ta và nhiều công trình khoa học, các sách, báo thông tin, phản ánh Đó là các khái niệm: tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế, và phát triển bền vững
1 Tăng trưởng kinh tế
Theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển, tăng trưởng kinh
tế là một phạm trù kinh tế diễn tả ñộng thái biến ñổi về mặt lượng của nền kinh tế của một quốc gia
Để ño lường kết qủa sản xuất xã hội hàng năm, dùng làm thước ño so sánh quốc tế về mặt
lượng của trình ñộ phát triển kinh tế giữa các nước, các nước có nền kinh tế thị trường vẫn thường sử dụng 2 loại chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: Tổng sản phẩm quốc dân ( Gross National Product, viết tắt là GNP), tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Product, viết tắt là GDP) Hai chỉ tiêu này khi sử dụng có tác dụng khác nhau: GNP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng hoá và dịch vụ của quốc gia ñối với các nước có nền kinh
tế mở ñã khá phát triển, còn GDP phản ánh quá trình gia tăng giá trị tổng sản lượng hàng
Trang 9hoá và dịch vụ của quốc gia ñối với những nước có nền kinh tế khép kín hoặc ñã mở nhưng còn chậm phát triển; và do ñó cùng dẫn theo mức tăng tương ứng của các chỉ tiêu ñó tính theo bình quân ñầu người dân Các chỉ tiêu này phản ánh mức tăng trưởng sản xuất hàng hoá và dịch vụ của mỗi quốc gia sau một giai ñoạn nhất ñịnh nào ñó ñược biểu thị bằng chỉ
số % (thường là 1 năm)
Theo ñó, liên hệ với việc vận dụng vào Việt Nam suốt hơn 20 năm ñổi mới vừa qua, chúng ta vẫn sử dụng chỉ số GDP và tương ứng theo GDP/người là phù hợp với trình ñộ phát triển kinh tế hiện tại của nước ta và thông lệ quốc tế
2 Phát triển kinh tế
Cũng theo lý thuyết tăng trưởng và phát triển kinh tế của kinh tế học phát triển: Phát triển kinh tế là khái niệm có nội dung phản ánh rộng hơn so với khái niệm tăng trưởng kinh tế Nếu như tăng trưởng kinh tế về cơ bản chỉ là sự gia tăng thuần tuý về mặt lượng của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp: GNP, GNP/ñầu người hay GDP, GDP/ñầu người… thì phát triển kinh
tế ngoài việc bao hàm quá trình gia tăng ñó, còn có một nội hàm phản ánh rộng lớn hơn, sâu sắc hơn, ñó là những biến ñổi về mặt chất của nền kinh tế - xã hội, mà trước hết là sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,HĐH và kèm theo ñó là việc không ngừng nâng cao mức sống toàn dân, trình ñộ phát triển văn minh xã hội thể hiện ở hàng loạt tiêu chí như: thu nhập thực tế, tuổi thọ trung bình, tỷ lệ chết của trẻ sơ sinh, trình ñộ dân trí, bảo vệ môi trường, và khả năng áp dụng các thành tựu khoa học - kỹ thuật vào phát triển kinh tế -
xã hội…
Với nội hàm rộng lớn trên ñây, về cơ bản khái niệm phát triển kinh tế ñã ñáp ứng ñược các nhu cầu ñặt ra cho sự phát triển toàn diện nhiều lĩnh vực kinh tế, văn hoá, xã hội… Tuy nhiên như ñã biết, trong khoảng hơn hai thập niên vừa qua, do xu hứớng hội nhập, khu vực hoá, toàn cầu hoá phát triển ngày càng mạnh mẽ hơn nên ñã nảy sinh nhiều vấn ñề dù là ở phạm vi từng quốc gia, lãnh thổ riêng biệt, song lại có ảnh hưởng chung ñến sự phát triển của cả khu vực và toàn thế giới, trong ñó có những vấn ñề cực kỳ phức tạp, nan giải ñòi hỏi phải có sự chung sức của cả cộng ñồng nhân loại, ví dụ như: môi trường sống, thiên tai, dịch bệnh, chiến tranh, khủng bố… Từ ñó ñòi hỏi sự phát triển của mỗi quốc gia, lãnh thổ và
cả thế giới phải ñược nâng lên tầm cao mới cả về chiều rộng và chiều sâu của sự hợp tác, phát triển Thực tiễn ñó ñã thúc ñẩy sự ra ñời một khái niệm mới về phát triển mang nội hàm phản ánh tổng hợp hơn, toàn diện hơn tất cả các khái niệm về tăng trưởng kinh tế, phát triển kinh tế…, ñó là khái niệm phát triển bền vững mà sau ñây ta sẽ xem xét kỹ hơn
3 Phát triển bền vững
Khái niệm “phát triển bền vững” xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường từ những năm ñầu của thập niên 70 của thế kỷ 20 Năm 1987, trong Báo cáo “Tương lai chung của chúng ta” của Hội ñồng Thế giới về Môi trường và Phát triển (WCED) của Liên hợp quốc,
“phát triển bền vững” ñược ñịnh nghĩa “là sự phát triển ñáp ứng ñược những yêu cầu của
Trang 10hiện tại, nhưng khơng gây trở ngại cho việc đáp ứng nhu cầu của các thế hệ mai sau”
Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Mơi trường và phát triển tổ chức ở Rio de Janeiro
(Braxin) năm 1992 và Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức ở Johannesburg (Cộng hồ Nam Phi) năm 2002 đã xác định “phát triển bền vững” là quá trình phát triển cĩ sự kết hợp chặt chẽ, hợp lý và hài hồ giữa 3 mặt của sự phát triển, gồm: phát triển kinh tế (nền tảng là tăng trưởng kinh tế), phát triển xã hội (mục tiêu là thực hiện tiến bộ, cơng bằng xã hội; xố đĩi giảm nghèo và giải quyết việc làm) và bảo vệ mơi trường (mục tiêu là xử lý, khắc phục ơ nhiễm, phục hồi và cải thiện chất lượng mơi trường; phịng chống cháy và chặt phá rừng; khai thác hợp lý và sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên) Tiêu chí để đánh giá sự phát triển bền vững là sự tăng trưởng kinh tế ổn định; thực hiện tốt tiến bộ và cơng bằng xã hội; khai thác hợp lý, sử dụng tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, bảo
vệ và nâng cao được chất lượng mơi trường sống
Phát triển bền vững là nhu cầu cấp bách và xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của xã hội lồi người, vì vậy đã được các quốc gia trên thế giới đồng thuận xây dựng thành
Chương trình nghị sự cho từng thời kỳ phát triển của lịch sử Tại Hội nghị Thượng đỉnh Trái
đất về Mơi trường và phát triển được tổ chức năm 1992 ở Rio de Janeiro (Braxin), 179 nước
tham gia Hội nghị đã thơng qua Tuyên bố Rio de Janeiro về mơi trường và phát triển bao gồm 27 nguyên tắc cơ bản và Chương trình nghị sự 21 (Agenda 21) về các giải pháp phát triển bền vững chung cho tồn thế giới trong thế kỷ 21 Hội nghị khuyến nghị từng nước căn
cứ vào điều kiện và đặc điểm cụ thể để xây dựng Chương trình nghị sự 21 ở cấp quốc gia, cấp ngành và địa phương Mười năm sau, tại Hội nghị Thượng đỉnh Thế giới về Phát triển bền vững tổ chức năm 2002 ở Johannesburg (Cộng hồ Nam Phi), 166 nước tham gia Hội nghị đã thơng qua Bản Tuyên bố Johannesburg và Bản Kế hoạch thực hiện về phát triển bền vững Hội nghị đã khẳng định lại các nguyên tắc đã đề ra trước đây và tiếp tục cam kết thực hiện đầy đủ Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Từ sau Hội nghị Thượng đỉnh Trái đất về Mơi trường và phát triển được tổ chức tại Rio de Janeiro (Braxin) năm 1992 đến nay đã cĩ 113 nước trên thế giới xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững cấp quốc gia và 6.416 Chương trình nghị sự
21 cấp địa phương, đồng thời tại các nước này đều đã thành lập các cơ quan độc lập để triển khai thực hiện chương trình này Các nước trong khu vực như Trung Quốc, Việt Nam Thái Lan, Singapore, Malaysia…đều đã xây dựng và thực hiện Chương trình nghị sự 21 về phát triển bền vững
Về phía Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta từ nhiều năm qua đã luơn nhận thức sâu sắc về tầm quan trọng của sự phát triển bền vững khơng chỉ riêng với Việt Nam mà cịn cĩ liên đới trách nhiệm với sự phát triển bền vững chung của tồn cầu Chính phủ ta đã cử nhiều đồn cấp cao tham gia các Hội nghị nĩi trên và cam kết thực hiện phát triển bền vững; đã ban hành và tích cực thực hiện “Kế hoạch quốc gia về Mơi trường và Phát triển bền vững giai
đoạn 1991-2000″ (Quyết định số 187-CT ngày 12 tháng 6 năm 1991), tạo tiền đề cho quá
trình phát triển bền vững ở Việt Nam Quan điểm phát triển bền vững đã được khẳng định trong Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 25 tháng 6 năm 1998 của Bộ Chính trị về tăng cường cơng