NGUYỄN THỊ TRỌN NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KI
Trang 1NGUYỄN THỊ TRỌN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2NGUYỄN THỊ TRỌN
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ
CỦA TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Mã số: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS,TS NGUYỄN VĂN SĨ
TP Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là đề tài do chính bản thân tôi tự nghiên cứu, các số liệu và kết quả nghiên cứu trong đề tài này là trung thực Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung của đề tài nghiên cứu này
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Trọn
Trang 4Stt Chữ viết tắt Diễn giải
Trang 5DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 Kết quả tung con xúc sắc
Bảng 2.1 Thống kê doanh thu của Bảo Việt và thị trường
Bảng 2.2 Kết quả hoạt động kinh doanh của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt Bảng 2.3 Chỉ số tài chính cơ bản và qui mô
Bảng 2.4 Chi nhánh hoạt động và lượng nhân viên
Bảng 2.5 Năng suất lao động của Bảo Việt
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ
Hình 1.1 Mô hình 5 thế lực cạnh tranh
Biểu đồ 2.1 Tăng trưởng doanh thu của Bảo Việt và thị trường
Biểu đồ 2.2 Tỷ lệ bồi thường của Bảo Việt và thị trường
Biểu đồ 2.3 Tỷ lệ bồi thường bảo hiểm gốc của tốp 5 DNBH và thị trường Biểu đồ 2.4 Thị phần doanh thu của tốp 5 DNBH đứng đầu thị trường
Biểu đồ 2.5 Thị phần doanh thu giữ lại của tốp 5 DNBH đứng đầu thị trường
Trang 61.1.4 Cơ sở kỹ thuật quan trọng và các nguyên tắc hoạt động cơ bản 9
1.1.4.2 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm 12
1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động của các DNBH PNT 16
1.3.2 Một số nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả kinh doanh của DNBH PNT 17 1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DNBH PNT 19
1.4.1 Sử dụng mô hình PEST để phân tích môi trường vĩ mô 23 1.4.2 Sử dụng mô hình 5 thế lực cạnh tranh để phân tích môi trường ngành 23
Chương 2: Phân tích hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Tổng
Trang 72.1.1 Vài nét về Tập đoàn 25
2.4 Đánh giá hiệu quả hoạt động của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt 45 2.4.1 Kết quả hoạt động chung của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt 45 2.4.2.Đánh giá các chỉ số tài chính của các DNBH tốp đầu 46
2.4.4 Đánh giá của khách hàng về thương hiệu và sản phẩm/dịch vụ 49 2.4.5 Độ hài lòng của khách hàng về sản phẩm, dịch vụ của Bảo Việt 49 2.4.6.Những tồn tại, hạn chế của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt 50
Chương 3: KIẾN NGHỊ, GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM PHI NHÂN THỌ TẠI TỔNG CÔNG TY BẢO HIỂM BẢO VIỆT
3.1 Định hướng phát triển của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt 54
3.2 Giải pháp kiến nghị với DN để nâng cao hiệu quả hoạt động KDBH PNT 54
Trang 83.2.8 Về phía khách hàng 60
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9LỜI MỞ ĐẦU
1.Lý do chọn đề tài:
Hiện nay toàn thị trường có 29 công ty và 01 chi nhánh công ty bảo hiểm nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ (xem phụ lục 1) Mỗi công ty lại có mạng lưới hoạt động trên các tỉnh, thành, nên việc cạnh tranh sẽ không chỉ dừng lại giữa 29 công ty mà thực chất là giữa trên 600 chi nhánh/công ty thành viên,chưa kể các doanh nghiệp bảo hiểm nước ngoài không có trụ sở tại Việt Nam được phép khai thác bảo hiểm qua biên giới
Môi trường cạnh tranh trên thị trường bảo hiểm Việt Nam sẽ ngày càng khốc liệt hơn, không chỉ trong nội bộ khối DN nội mà còn vươn ra giữa nhà bảo hiểm nội với nhà bảo hiểm ngoại Thị trường bảo hiểm vẫn tồn tại khá phổ biến các vấn đề về cạnh tranh không lành mạnh gây tác động không tốt đến thị trường, các DNBH cố giành lấy doanh thu bằng mọi giá nên đã bỏ qua mục tiêu lợi nhuận và cạnh tranh phi phi kỹ thuật như tăng chi phí, tăng hoa hồng, tăng quyền lợi có thể được bảo hiểm, , dù càng hoạt động càng lỗ nhưng họ vẫn chấp nhận để có thị phần Đại đa số các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ tại thị trường bảo hiểm Việt Nam không đạt được lợi nhuận từ hoạt động chính của mình là hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ hoặc hiệu quả kinh doanh kém.Đây chính là vấn đề trăn trở của lĩnh vực bảo hiểm phi nhân thọ và là lý do tôi chọn đề tài phân tích hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt nhằm mục đích tìm giải pháp cho sự phát triển bền vững của Bảo Việt trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
2.Mục tiêu nghiên cứu:
Hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề về cơ sở lý luận thuộc lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh phi nhân thọ tại Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, nhằm chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của DN để DN phát huy điểm mạnh vốn có của mình, hạn chế điểm yếu, tận dụng các cơ hội để vượt qua các thách thức mà doanh nghiệp phải đối mặt trong quá trình hoạt động
Trang 10Trên cơ sở đó kiến nghị các giải pháp nhằm gia tăng mở rộng thị phần, tăng lợi nhuận cho DN, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
3 Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan:
Liên quan đến các nghiên cứu thuộc lĩnh vực bảo hiểm thương mại gồm có:
- Nghiên cứu sinh Phí Trọng Thảo, năm 2004 đã nghiên cứu đề tài "Giải
pháp thỏa mãn nhu cầu tiềm năng về bảo hiểm nhân thọ ở Việt Nam"
- Nghiên cứu sinh Phạm Thị Định, năm 2004 đã nghiên cứu đề tài "Hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước ở Việt Nam"
- Nghiên cứu sinh Đoàn Minh Phụng, năm 2006 với đề tài nghiên cứu
"Giải pháp nâng cao hiệu quả kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của các DNBH nhà nước Việt Nam trong điều kiện mở cửa và hội nhập"
- Nghiên cứu sinh Nguyễn Quốc Trị, năm 2006 đã nghiên cứu đề tài
"Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với Tổng công ty bảo hiểm Việt Nam theo
mô hình Tập đoàn kinh doanh"
- Nghiên cứu sinh Trần Hùng Dũng, năm 2007 đã nghiên cứu đề tài "Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng phí bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam;
Tuy nhiên, đề tài "Nâng cao hiệu quả hoạt động KDBH PNT tại Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt" mà luận văn tập trung nghiên cứu được tiếp cận theo hướng khác biệt so với các tác giả khác và rất cần thiết cho doanh nghiệp trong điều kiện tái cấu trúc mô hình quản lý Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là cơ sở lý luận
và thực tiễn để doanh nghiệp xem xét, nghiên cứu và ứng dụng trong thực tiễn nhằm mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
4.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu: luận văn tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động kinh doanh bảo hiểm, phân tích điểm mạnh điểm yếu của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, trong mối liên hệ phân tích so sánh với thị trường bảo hiểm Việt
Trang 11Nam và các doanh nghiệp bảo hiểm chiếm thị phần lớn trên thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tại Việt Nam Phạm vi nghiên cứu: chủ yếu trong giai đoạn năm 2009-
2014
5 Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu trong đề tài này là phương pháp duy vật biện chứng kết hợp với các phương pháp thống kê, so sánh, đánh giá, phân tích tổng hợp các số liệu , các văn bản luật về hoạt động bảo hiểm, để đưa ra các giải pháp mang tính thực tiễn thuộc lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ
Về tài liệu thứ cấp tác giả đã thu thập một số tài liệu chuyên ngành về bảo hiểm từ các giáo trình giảng dạy bộ môn bảo hiểm, trang web của Cục giám sát bảo hiểm, trang web của công ty và các đối thủ cạnh tranh, các báo cáo tài chính đã được các DNBH phát hành công khai, tổng hợp các ý kiến đánh giá của chuyên gia trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm,
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này, tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích, đánh giá, so sánh, thống kê, phương pháp chuyên gia để phân tích hoạt động của DN kết hợp sử dụng các công cụ hỗ trợ trực tiếp : kỹ thuật phân tích SWOT, mô hình PEST, mô hình 5 thế lực cạnh tranh của M.POSTER để phân tích môi trường ngành, đối thủ cạnh tranh, cơ hội, thách thức của doanh nghiệp Từ đó, kiến nghị các giải pháp phù hợp cho việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong thời gian tới
6 Kết cấu đề tài:
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài được trình bày gồm 03 phần: Chương 1: Cơ sở lý thuyết về BHPNT và hiệu quả hoạt động kinh doanh trong DNBH PNT
Chương 2: Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Chương 3: Kiến nghị, giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ tại Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Trang 12Chương 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ BẢO HIỂM VÀ HIỆU QUẢ
HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TRONG DNBH PNT
1.1 Các lý luận chung về bảo hiểm:
1.1.1 Định nghĩa bảo hiểm:
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về bảo hiểm được xây dựng dựa trên từng góc độ nghiên cứu xã hội, pháp lý, kinh tế, kỹ thuật, nghiệp vụ, tuy nhiên trong phạm vi bài nghiên cứu này đưa ra hai khái niệm cơ bản về bảo hiểm thương mại như sau:
Luật Kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam (2000): kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm Tập đoàn bảo hiểm AIG Mỹ định nghĩa: bảo hiểm là một cơ chế, theo cơ chế này, một người, một doanh nghiệp hay một tổ chức chuyển nhượng rủi ro cho công
ty bảo hiểm, công ty đó sẽ bồi thường cho người được bảo hiểm các tổn thất thuộc phạm vi bảo hiểm và phân chia giá trị thiệt hại giữa tất cả những người được bảo hiểm
1.1.2 Phân loại bảo hiểm:
Ngoài loại hình BHTM, còn có bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp Ở gốc độ bài nghiên cứu này chỉ đề cập đến loại hình BHTM, giới hạn trong phạm vi lĩnh vực BHPNT
Căn cứ vào đối tượng được bảo hiểm, BHTM được chia thành ba loại: bảo hiểm tài sản, bảo hiểm trách nhiệm và bảo hiểm con người Mỗi loại có một đối tượng bảo hiểm cụ thể và có những quy tắc bảo hiểm đặc trưng riêng cho từng loại bảo hiểm cụ thể
Trang 13Căn cứ vào hình thức bảo hiểm, BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện
Căn cứ vào lĩnh vực kinh doanh, BHTM được chia thành hai loại: bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm phi nhân thọ
BHNT là loại bảo hiểm qua đó công ty bảo hiểm cam kết sẽ trả một số tiền thỏa thuận khi có sự kiện quy định xảy ra liên quan đến sinh mạng và sức khỏe của con người BHNT là loại hình bảo hiểm cho hai sự kiện trái ngược nhau đó là sống
và chết BHNT còn được chia ra thành: BHNT tử vong, bảo hiểm sinh kỳ, BHNT hỗn hợp Bên cạnh đó, khi triển khai BHNT các DNBH còn kết hợp triển khai các điều khoản bảo hiểm bổ sung nhằm mục đích đan dạng hóa sản phẩm và mở rộng phạm vi bảo hiểm để thu hút khách hàng
BHPNT là loại bảo hiểm mà các nghiệp vụ được quản lý theo kỹ thuật phân chia, có đối tượng là tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng và tình trạng sức khỏe của con người
BHPNT có một số đặc trưng cơ bản như sau:
- Thời hạn của hợp đồng bảo hiểm phi nhân thọ thường là một năm hoặc ngắn hơn (chuyến, khác với BHNT là dài hạn trên một năm)
- Chỉ bồi thường và chi trả tiền bảo hiểm khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra (BHNT mang tính tích lũy, tiết kiệm, )
- Phí bảo hiểm phụ thuộc vào thời hạn bảo hiểm và mức độ rủi ro của đối tượng bảo hiểm
- Cung cấp dịch vụ đảm bảo không chỉ cho các rủi ro bản thân người được bảo hiểm mà còn cho cả rủi ro về tài sản và trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba ngoài hợp đồng bảo hiểm
- Có mối quan hệ về quyền lợi, trách nhiệm bồi thường giữa người bảo hiểm, người được bảo hiểm và người thứ ba (trừ bảo hiểm con người)
Trang 14Về hình thức bảo hiểm: BHPNT có hai hình thức bảo hiểm đó là bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện Hình thức bảo hiểm bắt buộc trong bảo hiểm phi nhân thọ chỉ được áp dụng đối với loại hình bảo hiểm TNDS của chủ xe cơ giới đối với người thứ ba, một số đối tượng có nguy cơ cháy, nổ cao và mức độ ảnh hưởng lớn thuộc diện bắt buộc tham gia bảo hiểm cháy, nổ,
Bảo hiểm phi nhân thọ được phân loại như sau:
b.1 Phân loại theo đối tượng bảo hiểm:
Căn cứ vào nhóm đối tượng bảo hiểm, BHPNT được chia thành ba nhóm chủ yếu sau:
- Nhóm bảo hiểm tài sản: đây là nhóm có đối tượng được bảo hiểm là tài sản Khi xảy ra sự kiện bảo hiểm do mất mát, hư hỏng người bảo hiểm có trách nhiệm bồi thường cho bên được bảo hiểm căn cứ vào mức độ thiệt hại của tài sản và các thỏa thuận đã ký kết giữa hai bên
- Nhóm bảo hiểm con người: có đối tượng bảo hiểm là tính mạnh, sức khỏe, thương tật thân thể của người được bảo hiểm Khi xảy ra sự kiện thuộc phạm vi bảo hiểm theo thỏa thuận của hợp đồng bảo hiểm, bên bảo hiểm sẽ chi trả bảo hiểm theo nguyên tắc khoán cho người được bảo hiểm hoặc người thụ hưởng hợp pháp
- Nhóm bảo hiểm trách nhiệm dân sự: đối tượng bảo hiểm của nhóm này là trách nhiệm dân sự đối với bên thứ ba, ngoài bên bảo hiểm và bên mua bảo hiểm theo hợp đồng Trách nhiệm phát sinh do ràng buộc của pháp luật dân sự, theo đó người được bảo hiểm phái có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về vật chất, tính mạng, sức khỏe cho người khác từ hành vi của mình hoặc do sự vận hành, hoạt động của tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình gây ra và bên bảo hiểm có trách nhiệm thay mặt bên mua bảo hiểm để bồi thường cho bên bị thiệt hại
b.2 Phân loại quy định của luật:
Theo quy định của Luật KDBH , các loại hình bảo hiểm phi nhân thọ được phép triển khai trên lãnh thổ Việt Nam bao gồm: Bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm tai nạn con người, bảo hiểm tài sản và bảo hiểm thiệt hại, bảo hiểm hàng hóa vận chuyển đường bộ, đường biển, đường sông, đường sắt và đường không, bảo hiểm
Trang 15hàng không, bảo hiểm xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ, bảo hiểm thân tàu và trách nhiệm dân sự chủ tàu, bảo hiểm trách nhiệm chung, bảo hiểm tín dụng và rủi ro tài chính, bảo hiểm thiệt hại kinh doanh, bảo hiểm nông nghiệp và các nghiệp vụ bảo hiểm phi nhân thọ khác do Chính phủ quy định
Bảo hiểm thương mại nói chung và bảo hiểm phi nhân thọ nói riêng là ngành nghề kinh doanh có điều kiện Các điều kiện mà luật pháp quy định để các DNBH thực hiện rất chặt chẽ Chẳng hạn như về vốn pháp định đủ lớn để đảm bảo khả năng thanh toán và phát triển kinh doanh của doanh nghiệp Điều kiện phải ký quỹ
để đảm bảo cho DNBH thanh toán tiền bồi thường trong tình huống xấu nhất có thể xảy ra Bên cạnh đó, các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ còn phải trích lập quỹ
dự trữ, trong đó có quỹ dự trữ bắt buộc để đảm bảo khả năng thanh toán tiền bồi thường và bổ sung vốn điều lệ Quỹ dự trữ bắt buộc được trích lập từ lời nhuận sau thuế Loại quỹ này còn làm tăng khả năng tài chính cho doanh nghiệp và là một trong những tiêu chí quan trọng để đánh giá năng lực tài chính của doanh nghiệp,…
1.1.3 Vai trò và sự cần thiết của bảo hiểm:
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm dựa trên cơ sở trên cơ sở cam kết bồi thường của DNBH đối với tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm và những thiệt hại, mất mát
do những rủi ro gây ra Với vai trò là tấm lá chắn của nền kinh tế xã hội trước các rủi ro xảy ra Khi phát sinh rủi ro, DNBH chi trả bồi thường cho khách hàng để kịp thời bù đắp tổn thất, góp phần đảm bảo an ninh kinh tế, phúc lợi, an sinh xã hội Chỉ tính riêng năm 2013, năm 2014 các DNBH đã giải quyết bồi thường cho người tham gia bảo hiểm lần lượt là 18,163 tỷ đồng và 19,752 tỷ đồng Trong trường hợp không có số tiền trên để bù đắp thiệt hại khi có rủi ro xảy ra thì không ít doanh nghiệp, tổ chức kinh tế và người dân sẽ gặp khó khăn trong việc khắc phục các thiệt hại lớn, tạo gánh nặng cho ngân sách nhà nước
Tạo tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống: khi kinh doanh ngày càng phát triển, đời sống xã hội ngày càng được nâng cao thì người ta càng có nhu cầu được đảm bảo an toàn cho tương lai Môi trường kinh doanh cũng như môi trường xã hội đang dần xuất hiện những rủi ro mới Những rủi ro do thiên nhiên như
Trang 16bão lũ, hạn hán, sóng thần, cháy rừng tự nhiên đang trở nên hết sức phức tạp, khó
dự đoán do môi trường thế giới đang thay đổi theo chiều hướng xấu đi Như vậy, bảo hiểm chính là một giải pháp hữu hiệu, góp phần tích cực tạo ra tâm lý an tâm trong kinh doanh, trong cuộc sống cho con người
Bên cạnh việc giải quyết các hậu quả của rủi ro, bảo hiểm còn góp phần thực hiện một nội dung trong các biện pháp kiểm soát rủi ro Đó là đề phòng và hạn chế tới mức thấp nhất những tổn thất có thể xảy ra Nhờ đó, những thiệt hại đáng tiếc về người và tài sản được giảm thiểu và những hậu quả về kinh tế - xã hội cũng được chủ động phòng tránh Dựa trên cơ sở các rủi ro xảy ra hàng năm, các tổ chức kinh doanh bảo hiểm tiến hành nghiên cứu các rủi ro, thống kê các tai nạn, tổn thất, từ đó xác định các nguyên nhân chủ quan và khách quan dẫn đến thiệt hại Những nghiên cứu này giúp các công ty bảo hiểm có thể thực hiện hoặc phối hợp, hướng dẫn khách hàng thực hiện các biện pháp kiểm soát ngăn ngừa rủi ro hữu hiệu nhất nhằm giảm đến mức thấp nhất tổn thất có thể xảy ra, góp phần đảm bảo an toàn, hạn chế tai nạn, tổn thất trong phạm vi toàn xã hội
Với vai trò trung gian tài chính, bảo hiểm là kênh huy động vốn để đầu tư, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển Từ nguồn thu phí bảo hiểm, phần lớn được các DNBH trích lập quỹ dự phòng để đảm bảo khả năng chi trả cho khách hàng Số tiền này tạm thời được nhàn rỗi và đầu tư trở lại cho nền kinh tế.Khoản tiền đầu tư của DNBH cho nền kinh tế liên tục tăng qua các năm, đạt 105,265 tỷ đồng vào năm
2013 và đạt 131,679 tỷ đồng vào năm 2014 Nguồn vốn này khá lớn và ổn định qua các năm , chủ yếu được đầu tư vào trái phiếu Chính phủ (trên 50%) đóng góp tích cực vào sự phát triển của nền kinh tế Đặc biệt ở các nước phát triển, các nhà bảo hiểm còn bảo hiểm cho trái phiếu, nhất là trái phiếu đô thị, làm tăng tính an toàn của trái phiếu đô thị, giúp cho chính quyền địa phương và trung ương thu hút vốn từ dân
cư, đầu tư cho các dự án y tế, giáo dục, cơ sở hạ tầng và các công trình phúc lợi xã hội.Thực tế cũng cho thấy, sự tồn tại của một thị trường bảo hiểm mạnh là một trong những yếu tố cơ bản của bất cứ nền kinh tế thành công nào Trong cuốn các nguyên tắc bảo hiểm, hai tác giả người Mỹ là Mehr và Commack đã viết: Việc Anh
Trang 17Quốc nổi lên như một cường quốc thương mại và đồng thời loại hình bảo hiểm hoả hoạn cũng phát triển trong cùng một thời kỳ không phải là một sự trùng hợp ngẫu nhiên
Thúc đẩy quan hệ hợp tác: hoạt động bảo hiểm phát triển góp phần cải thiện môi trường đầu tư, giảm thiểu rủi ro trong đầu tư, tạo ra môi trường thuận lợi cho việc hợp tác kinh tế, kỹ thuật, thương mại và thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế thông qua các hoạt động tái bảo hiểm
1.1.4 Cơ sở kỹ thuật quan trọng và các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm
Không riêng ở Việt Nam mà ở nhiều nước trên thế giới, mặc dù hoạt động kinh doanh bảo hiểm ngày nay đã đạt đến trình độ phát triển cao, với rất nhiều loại hình, cũng như đối tượng được bảo hiểm ngày càng rộng mở và đa dạng.Tuy nhiên, hoạt động bảo hiểm vẫn được tiến hành trên cơ sở kỹ thuật và các nguyên tắc cơ bản của nó
1.1.4.1 Cơ sở kỹ thuật quan trọng của bảo hiểm:
* Quy luật số lớn:
Hoạt động bảo hiểm thương mại vận dụng cơ sở Lý thuyết về xác suất của
nhà toán học người Pháp, Pascal và Quy luật số lớn của Iacop Bernoulli, một nhà toán học người Thụy sỹ Luật số lớn là kết quả của quá trình thực nghiệm (tiếp nối nghiên cứu của Pascal): tung một con xúc sắc 6 mặt đồng chất, quan sát và ghi lại kết quả sau mỗi lần thực nghiệm (phép thử) Nếu số phép thử là ít, kết quả thu được
về số lần xuất hiện của các mặt (từ mặt 1 chấm đến mặt 6 chấm) có sự chênh lệch rất lớn Chẳng hạn, kết quả thu được về sự xuất hiện của mặt 3 chấm và 6 chấm như sau:
Trang 18Bảng 1.1 Kết quả tung con xúc sắc
Nếu số phép thử đủ lớn sẽ cho một kết quả với số lần xuất hiện mặt 3 chấm cũng tương đương với số lần xuất hiện của tất cả các mặt còn lại Chẳng hạn, nếu tung con xúc sắc đến 60.000 lần thì số lần xuất hiện của các mặt đều xấp xỉ bằng nhau và = 10.000 lần Như vậy, nếu thực hiện được 60.000 lần thử thì tần suất của biến cố xuất hiện bất cứ mặt nào cũng xấp xỉ bằng 1/6
Trong trò chơi con xúc sắc, nếu người chơi xem xét sự xuất hiện một mặt nào đó, mặt 6 chấm chẳng hạn thì sự xuất hiện mặt 6 chấm được coi là biến cố thuận lợi; sự xuất hiện của các mặt còn lại (từ mặt 1 chấm đến mặt 5 chấm) là những biến cố xung khắc Mỗi lần chơi đều có thể xuất hiện bất kỳ một mặt nào, do
đó, trong mỗi lần chơi số trường hợp có thể xảy ra là 6 trong khi số trường hợp thuận lợi chỉ là 1 Như vậy, khả năng xuất hiện mặt 6 chấm (biến cố thuận lợi) trong một lần chơi bằng 1/6 Người ta gọi khả năng xuất hiện biến cố thuận lợi là xác suất của biến cố đó
Khi nghiên cứu xác suất của một biến cố nào đó, nếu khả năng xuất hiện trường hợp thuận lợi là chắc chắn thì xác xuất của biến cố đó = 1, nếu không thể xảy ra trường hợp thuận lợi thì xác suất của biến cố đó = 0 Xác suất của mọi biến
cố đều nằm trong khoảng từ 0 đến 1 Trở lại thử nghiệm với con xúc sắc, kết quả đã cho thấy: nếu số phép thử đủ lớn, tần suất biến cố sẽ xích gần lại với xác suất lý thuyết của biến cố đang xem xét Như vậy, để tính xác suất của một biến cố, nếu thống kê được một số lượng đủ lớn các trường hợp đã xuất hiện biến cố đó trong
Số lần tung xúc
sắc
Số lần xuất hiện Tần suất
Số lần xuất hiện Tần suất
Trang 19thực tế, có thể xấp xỉ xác suất của biến cố bằng tần suất biến cố - kết quả tính được
từ số liệu thống kê
Quy luật số lớn là cơ sở kỹ thuật then chốt của bảo hiểm, được phát biểu như sau: "Khi số lớn các đơn vị rủi ro tương tự nhau và độc lập với nhau tăng lên thì tính chính xác tương đối của các dự đoán về những kết quả tương lai dựa vào các
đơn vị rủi ro đó cũng tăng lên"
Người bảo hiểm chấp nhận bảo hiểm cho các sự kiện ngẫu nhiên, nếu xét riêng từng hợp đồng bảo hiểm đơn lẻ có thể giống như "trò chơi may rủi", song xét trên tổng thể nhiều hợp đồng bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm hoàn toàn có thể dự đoán được về khả năng xảy ra sự kiện bảo hiểm ở mức độ chính xác có thể chấp nhận được Ví dụ : trong bảo hiểm xe cơ giới, không thể dự đoán chính xác về tai nạn gây ra đối với một cá thể ô tô, song người bảo hiểm có thể dự đoán được số vụ tai nạn và thiệt hại xảy ra hàng năm cho toàn bộ số ô tô được bảo hiểm trong phạm
vi sai sót rất nhỏ
* Thống kê tần suất xảy ra rủi ro: Công tác thống kê giúp các nhà bảo hiểm thu thập được dữ liệu quá khứ về con số rủi ro, mức độ tổn thất, giá trị tổn thất, giúp xác định được tần suất xảy ra rủi ro và giá phí trung bình một rủi ro.Qua đây, nhà bảo hiểm biết độ mức độ chi trả bảo hiểm và làm cơ sở điều chỉnh tăng hoặc giảm phí bảo hiểm cho phù hợp trong niên độ bảo hiểm kế tiếp cho khách hàng
Tại các nước có thị trường bảo hiểm phát triển, việc tổ chức thống kê không thực hiện và sử dụng riêng lẻ cho từng DNBH mà số liệu thống kê được cung cấp bởi các tổ chức thống kê nghề nghiệp hoặc tổ chức chung của kinh tế - xã hội, số liệu thống kê càng chính xác, càng có phạm vi rộng sẽ đảm bảo cho sự thống nhất
về mặt kỹ thuật giữa các nhà bảo hiểm trong cùng thị trường, tạo điều kiện thuận lợi
và nền tảng cho sự phát triển của thị trường Tuy nhiên, tại thị trường bảo hiểm Việt Nam, hiện tại các DNBH chưa có sự liên kết và chia sẻ dữ liệu liên quan đến số liệu thống kê tổn thất một cách đầy đủ và kịp thời Mặt khác, đại đa số các DNBH chưa triển khai các chương trình phần mềm hiện đại để quản lý, thống kê chuẩn xác
Trang 20nghiệp vụ, các doanh nghiệp còn sao chép, "bắt chước" sản phẩm và phí bảo hiểm lẫn nhau, giảm phí bảo hiểm đơn thuần chỉ để lôi kéo khách hàng chưa dựa trên các nền tảng về mặt kỹ thuật
1.1.4.2 Các nguyên tắc hoạt động cơ bản của bảo hiểm:
* Nguyên tắc sàng lọc: Đặc trưng của nghề nhận chuyển gia rủi ro, thực tế kinh doanh cho thấy DNBH luôn phải đối mặt với những "lựa chọn bất lợi", do đó nhà bảo hiểm phải đánh giá cân nhắc trước và trong khi thực hiện bất kỳ một quyết định nào Trước những nhu cầu bảo hiểm rất đa dạng của nhiều loại khách hàng như :có yêu cầu bảo hiểm cho rủi ro ở mức trung bình, có yêu cầu bảo hiểm với mức độ rủi ro cao hơn thậm chí là rất xấu Liệu DNBH có thể chấp nhận mọi yêu cầu bảo hiểm của người mua bảo hiểm hay không? Câu trả lời sẽ là "có" nếu người mua bảo hiểm sẵn sàng chấp nhận giá mà người bảo hiểm yêu cầu Điều đó có nghĩa là mức
độ rủi ro tỷ lệ thuận với phí bảo hiểm Sàng lọc đòi hỏi người bảo hiểm phải từ chối những trường hợp mức độ rủi ro quá lớn; phân nhóm các đối tượng bảo hiểm, rủi ro được bảo hiểm theo những tiêu thức phù hợp để có thể sắp xếp được các rủi ro có tính đồng nhất trong cùng một nhóm và định phí bảo hiểm theo từng nhóm đó Quá trình đánh giá rủi ro trước khi nhận bảo hiểm cho phép DNBH sàng lọc được rủi ro, hạn chế sự lựa chọn bất lợi và có được quyết định đúng để đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
* Nguyên tắc trung thực tuyệt đối: Tất cả các giao dịch kinh doanh cần được thực hiện trên cơ sở tin cậy lẫn nhau, công khai và minh bạch Tuy nhiên, trong bảo hiểm, điều này được thể hiện trên một nguyên tắc chặt chẽ hơn, và ràng buộc cao hơn về mặt trách nhiệm Theo nguyên tắc này, hai bên trong mối quan hệ bảo hiểm (người bảo hiểm và người được bảo hiểm) phải tuyệt đối trung thực với nhau, tin tuởng lẫn nhau, không được lừa dối nhau Các bên chịu trách nhiệm về tính chính xác, trung thực của thông tin cung cấp cho bên kia Doanh nghiệp bảo hiểm có trách nhiệm giữ bí mật về thông tin do bên mua bảo hiểm cung cấp Nếu một bên vi phạm thì hợp đồng bảo hiểm trở nên không có hiệu lực hoặc vô hiệu từng phần
Trang 21* Nguyên tắc phân tán, phân chia rủi ro: Hoạt động của BHTM là kinh doanh rủi ro, bán sự an toàn cho khách hàng và vì thế lại tiềm ẩn không ít rủi ro nguy hiểm Các phương pháp phân chia, phân tán rủi ro với mục đích "không để tất cả trứng vào trong một giỏ" mà người bảo hiểm cần phải sử dụng để giảm thiểu hậu quả bất lợi của những trường hợp đột biến của rủi ro; của hiện tuợng tích tụ, tập trung nguy cơ tổn thất quá lớn trong KDBH, khó có thể kiểm soát được
- Phân tán rủi ro: là phương pháp mà người bảo hiểm sử dụng để đối phó với
hiện tượng tích tụ, tập trung rủi ro trong một khu vực địa lý
- Phân chia rủi ro: là kỹ thuật mà người bảo hiểm sử dụng trong những
trường hợp cần thiết nhằm tránh khả năng phải tự mình gánh chịu một tổn thất quá
lớn, tránh trường hợp không đủ khả năng thanh toán trong một năm kinh doanh xấu, nhiều tổn thất lớn, liên tiếp xảy ra hoặc tránh trường hợp tích tụ rủi ro trong cùng một sự cố Hai kỹ thuật phân chia rủi ro có thể được sử dụng là đồng bảo hiểm và tái bảo hiểm
1.2 Các hoạt động trong DNBH PNT:
1.2.1 Hoạt động khai thác bảo hiểm:
Công tác khai thác bảo hiểm bao gồm việc đánh giá rủi ro cho các đối tượng trước khi nhận bảo hiểm.Sau khi đã đánh giá rủi ro và chấp nhận rủi ro ở mức phí bảo hiểm tương ứng, DNBH sẽ tiến hành cấp đơn bảo hiểm cho khách hàng Việc định phí bảo hiểm dựa trên mức độ rủi ro và số tiền bảo hiểm Số tiền bảo hiểm chính là hạn mức bồi thường tối đa mà DNBH sẽ phải bồi thường cho người được bảo hiểm tương ứng với thiệt hại toàn bộ Riêng đối với các nghiệp vụ bảo hiểm bắt buộc thì quy tắc, điều khoản bảo hiểm, đối tượng bảo hiểm, phí bảo hiểm, số tiền bảo hiểm do Bộ Tài chính quy định
Ngành bảo hiểm không giống như những ngành sản xuất khác Khi một hợp đồng bảo hiểm được ký kết, người bảo hiểm sẽ tiến hành thu phí trước Sau đó mới thực hiện các nghĩa vụ phát sinh cam kết theo hợp đồng khi xảy ra sự kiện được bảo hiểm Như vậy DNBH kinh doanh theo chu trình sản xuất ngược, giá bán được xác định trước giá thành sản phẩm Đối với các ngành sản xuất khác thì giá bán được
Trang 22tính trên cơ sở giá thành sản phẩm trong khi đó phí bảo hiểm hay giá bán của sản phẩm bảo hiểm chỉ được ước tính trên cơ sở thống kê các dữ liệu trong quá khứ, giá thành được xác định chính xác khi kết thúc năm bảo hiểm
1.2.2 Hoạt động tái bảo hiểm:
Hoạt động nhận tái bảo hiểm nhằm mục đích tăng doanh thu, lợi nhuận và tăng cường sự hợp tác giữa các nhà bảo hiểm Hoạt động nhượng tái bảo hiểm nhằm phân tái rủi ro, đảm bảo sự an toàn cho DNBH trong các vụ tổn thất có qui mô lớn, thiên tai, địch hoa,…
Theo quy định của Bộ Tài chính DNBH có thể chuyển một phần trách nhiệm bảo hiểm cho một hoặc nhiều doanh nghiệp bảo hiểm khác nhưng không được nhượng toàn bộ trách nhiệm đã nhận trong một hợp đồng bảo hiểm cho DNBH khác
để hưởng hoa hồng tái bảo hiểm
DNBH có thể nhận tái bảo hiểm trách nhiệm mà DNBH khác đã nhận bảo hiểm Khi nhận tái bảo hiểm, DNBH phải đánh giá rủi ro để đảm bảo được khả năng tài chính của doanh nghiệp.Tái bảo hiểm có thể cho phép DNBH có thể chấp nhận bảo hiểm tài sản hoặc bảo hiểm trách nhiệm với số tiền bảo hiểm lớn hơn khả năng tài chính của mình bằng cách chia sẻ rủi ro cho nhà bảo hiểm nhận tái Tái bảo hiểm thực chất là sự chia sẻ rủi ro và trách nhiệm giữa các DNDH với nhau Tuy nhiên, nếu tái bảo hiểm cho doanh nghiệp có khả năng tài chính yếu khi tổn thất lớn xãy ra, doanh nghiệp nhận tái bảo hiểm có thể phá sản sẽ làm ảnh hưởng đến doanh nghiệp đã nhượng tái vì doanh nghiệp này vẫn có nghĩa vụ bồi thường đầy đủ cho khách hàng Để hạn chế điều này, Bộ Tài chính quy định rõ chỉ tái bảo hiểm cho công ty bảo hiểm nước ngoài đạt tiêu chuẩn xếp hạng từ BBB theo xếp hạng của quốc tế
1.2.3 Giải quyết quyền lợi chi trả bảo hiểm:
Khi tiếp nhận thông báo tổn thất và/hoặc hồ sơ yêu cầu giải quyết chi trả quyền lợi bảo hiểm, DNBH sẽ tiến hành thu thập hồ sơ, xác minh, giám định thiệt hại thực tế và giải quyết chi trả bảo hiểm trong phạm vi trách nhiệm như đã cam kết theo hợp đồng với khách hàng
Trang 23Công tác giám định là khâu trung gian có vai trò hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, nó là cơ sở để DNBH tiến hành bồi thường Việc bồi thường có được tiến hành nhanh chóng, chính xác và hợp lý hay không chủ yếu phụ thuộc vào công tác giám định nhanh hay chậm, chính xác hay không chính xác Nội dung công tác giám định thường bao gồm các hoạt động chính sau đây: Thị sát hiện trường nơi xảy ra rủi ro, tổn thất để tìm hiểu nguyên nhân để từ đó xác định trách nhiệm của DNBH; Phối hợp với các bên có liên quan lập biên bản giám định ; Xác định mức độ thiệt hại thực tế và mức độ lỗi của người thứ ba (nếu có) liên quan đến đối tượng bảo hiểm;Tính toán số tiền phải bồi thường thực tế
Căn cứ vào biên bản giám định và các tài liệu khác có liên quan, DNBH tiến hành bồi thường trực tiếp cho khách hàng tham gia bảo hiểm Trong bảo hiểm phi nhân thọ, như đã đề cập ở phần trên, thuật ngữ bồi thường được sử dụng trong loại hình bảo hiểm thiệt hại, còn thuật ngữ trả tiền bảo hiểm chủ yếu sử dụng trong các nghiệp vụ bảo hiểm con người phi nhân thọ Số tiền bồi thường hay chi trả được tính toán trên cơ sở thiệt hại thực tế và số tiền bảo hiểm hay giá trị bảo hiểm Số tiền này sẽ giúp khách hàng nhanh chóng khắc phục hậu quả rủi ro để ổn định cuộc sống
và sản xuất kinh doanh Bởi vậy, hoạt động giám định và bồi thường là một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng sản phẩm bảo hiểm và hoạt động kinh doanh bảo hiểm Hoạt động này nếu thực hiện tốt sẽ trực tiếp góp phần nâng cao uy tín cho DNBH và từ đó giúp DNBH thực hiện cạnh tranh và mở rộng thị trường Ngoài ra, DNBH còn có thể làm đại lý giám định cho các DNBH khác để thu phí giám định
và ngược lại
1.2.4 Hoạt động quản lý quỹ và đầu tư vốn:
Do đặc thù của hoạt động KDBH là phí bảo hiểm được thu trước còn trách nhiệm bồi thường, trả tiền bảo hiểm của DNBH phát sinh sau thời điểm thu phí Vì đặc điểm này mà trong quá trình kinh doanh, DNBH luôn có nguồn vốn lớn tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng đến Để bảo toàn và phát triển vốn, các DNBH sử dụng các nguồn vốn nhàn rỗi tạm thời để đầu tư
Trang 24Nguồn vốn đầu tư của DNBH bao gồm: vốn điều lệ, quỹ dự trữ bắt buộc, quỹ
dự trữ tự nguyện, các khoản lãi chưa sử dụng, các quỹ hình thành từ lợi tức được sử dụng để đầu tư và nguồn vốn nhàn rỗi từ dự phòng nghiệp vụ Thông thường, nguồn vốn từ dự phòng nghiệp vụ chiếm tỷ trọng lớn nhất Các quỹ dự phòng nghiệp vụ chính là khoản nợ của DNBH đối với người được bảo hiểm, do vậy việc sử dụng nguồn vốn này trong hoạt động đầu tư được quản lý và giám sát chặt chẽ Hoạt động đầu tư vốn chịu sự điều chỉnh của các quy định pháp lý, bắt buộc các DNBH
sử dụng an toàn, hiệu quả nguồn vốn này là bảo vệ một cách gián tiếp quyền lợi của người tham gia bảo hiểm
Ngoài các hoạt động nêu trên, DNBH còn thực hiện các hoạt động đề phòng hạn chế tổn thất; trích lập dự phòng phí, dự phòng bồi thường, dự phòng dao động lớn và một số hoạt động khác theo quy định của pháp luật, như đào tạo và tư vấn; xây dựng các phương án quản lý rủi ro cho khách hàng; tổ chức các hoạt động dịch
vụ khác có liên quan,
1.3 Một số chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của các DNBH PNT:
1.3.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh:
Hiệu quả kinh doanh của DNBH là thước đo sự phát triển của bản thân doanh nghiệp và phản ánh trình độ sử dụng chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh doanh nhất định, nhằm đạt được các mục tiêu đã đề ra
- Với tư cách là thước đo sự phát triển của DNBH, hiệu quả kinh doanh thể hiện các chỉ tiêu đặc trưng kinh tế, xã hội khác nhau Nhưng không phải tất cả các chỉ tiêu kinh tế, xã hội đều là chỉ tiêu hiệu quả Các chỉ tiêu phản ánh chi phí (chẳng hạn tiền lương so với tổng chi phí) và cơ cấu kết quả kinh doanh (chẳng hạn lợi nhuận so với doanh thu) đều không phải là chỉ tiêu hiệu quả Các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh chỉ có thể xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả và chi phí Nếu lấy mỗi chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh so với một chỉ tiêu phản ánh chi phí, ta được một chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh.Khi đánh giá tốc độ phát triển kinh doanh của DNBH có thể dùng nhiều chỉ tiêu để phản ánh như: tốc độ tăng trưởng doanh thu, tốc độ tăng trưởng lợi nhuận, tình hình sử dụng chi phí kinh doanh,
Trang 25- Việc phản ánh tình hình sử dụng các loại chi phí trong việc tạo ra những kết quả kinh doanh là nội dung cơ bản của hiệu quả kinh tế nói chung và hiệu quả KDBH nói riêng Nội dung này được phản ánh bởi nhiều chỉ tiêu Mỗi chỉ tiêu hiệu quả biểu thị một mặt, một yếu tố hay một loại chi phí nào đó Xu hướng biến động nhanh hay chậm cho thấy sự tốt lên hay xấu đi trong quá trình sử dụng chi phí hoặc các nguồn lực
- Hiệu quả kinh doanh của DNBH luôn gắn liền với những mục tiêu kinh tế-
xã hội Trước hết là những mục tiêu của doanh nghiệp, sau đó là của ngành bảo hiểm và toàn bộ nền kinh tế- xã hội Theo nguyên tắc hoạt động "lấy số đông bù số ít", bảo hiểm không chỉ mang tính kinh tế mà còn mang tính xã hội Hiệu quả xã hội của DNBH phản ảnh trình độ sử dụng chi phí tạo ra những kết quả phục vụ xã hội của doanh nghiệp
- Mỗi DNBH không chỉ đơn thuần là KDBH mà còn kinh doanh nhiều lĩnh vực khác nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của mình.Những doanh nghiệp hoạt động lâu năm, quy mô lớn thì nguồn vốn nhàn rỗi thường rất lớn (thực chất là quỹ dự trữ, dự phòng, quỹ chi trả bảo hiểm chưa dùng đến) Việc đưa số vốn này vào đầu tư là cần thiết để khắc phục tình trạng lạm phát, tạo thêm lợi nhuận, góp phần làm tăng trưởng quỹ dự trữ và quỹ chi trả Ngoài ra, với việc sử dụng có hiệu quả nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi này, góp phần đáng kể vào việc tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp, tăng thu nhập cho người lao động, thậm chí có thể dùng
để thưởng cho người tham gia bảo hiểm liên tục với số tiền bảo hiểm lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khai thác bảo hiểm sau này
1.3.2 Một số nhân tố cơ bản tác động đến hiệu quả kinh doanh của DNBH PNT:
1.3.2.1 Các nhân tố khách quan:
- Sự phát triển và tăng trưởng của nền kinh tế Nếu một nền kinh tế có tốc độ phát triển nhanh và ổn định, kéo theo là trình độ dân trí và mức sống của người dân ngày càng cao sẽ làm tăng cầu tham gia bảo hiểm của người dân và các tổ chức kinh
tế, xã hội
Trang 26- Sự phát triển của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ gắn liền với sự cạnh tranh giữa các DNBH Nếu DNBH biết phát huy lợi thế cạnh tranh cũng sẽ làm cho doanh thu, hiệu quả kinh doanh của DN tăng theo
- Các chính sách kinh tế vĩ mô và luật pháp của Nhà nước Nhân tố này có thể ảnh hưởng trực tiếp hoặc ảnh hưởng gián tiếp đến các DNBH PNT hoạt động trên thị trường, như chính sách thuế, chính sách đầu tư, chính sách đóng cửa hay mở cửa thị trường bảo hiểm, Một số quy định của pháp luật làm tăng lượng khách hàng tham gia bảo hiểm, chẳng hạn quy định bắt buộc mua bảo hiểm TNDS đối với chủ xe cơ giới, bảo hiểm cháy nổ bắt buộc đối với các đối tượng có nguy cơ cháy nổ cao,
1.3.2.2 Các nhân tố chủ quan đến từ phía các DNBH:
- Mô hình tổ chức và chiến lược kinh doanh của DNBH: Nếu một DNBH PNT có mô hình tổ chức hợp lý, có chiến lược kinh doanh đúng đắn sẽ giúp doanh nghiệp chủ động trong hướng đi và phát triển tốt trong mọi hoạt động kinh doanh của mình, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực, tăng vị thế doanh nghiệp,
Mô hình tổ chức hợp lý và chiến lược kinh doanh đúng đắn còn là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp ban hành các chính sách, đưa ra những quyết định đúng đắn phù hợp với tình hình biến động và diễn biến của thị trường
- Số lượng và chất lượng các nghiệp vụ, sản phẩm bảo hiểm: Một DNBH nếu phát triển nhiều nghiệp vụ, nhiều sản phẩm thì chắc chắn lượng khách hàng mục tiêu của họ sẽ lớn hơn DNBH triển khai với số lượng ít hơn Tuy nhiên, trong thực
tế chất lượng sản phẩm mới là quan trọng Nếu chất lượng sản phẩm tốt, biểu hiện ở mức phí hạ, công tác chăm sóc và dịch vụ khách hàng quy chuẩn thì lượng khách hàng đến với doanh nghiệp ngày càng đông hơn.Khi số lượng khách hàng lớn lên thì quy luật số đông phát huy được tối đa tác dụng và cho dù có giảm phí thì doanh thu và hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp vẫn tăng lên
- Phạm vi hoạt động và kênh phân phối sản phẩm: vấn đề này tùy thuộc quy
mô của DNBH Doanh nghiệp hoạt động trong phạm vi rộng sẽ được nhiều khách
Trang 27hàng biết đến, có nhiều lợi thế trong việc mở rộng thị phần và chiếm lĩnh thị trường.Ngoài ra, do đặc thù của sản phẩm dịch vụ, các DNBH cần phài tổ chức các kênh phân phối để gia tăng khả năng bán hàng như kênh bán hàng qua đại lý, bán hàng qua môi giới, hợp tác với ngân hàng, các điểm bán hàng trực tiếp qua văn phòng đại diện,
- Khả năng tài chính của DNBH PNT: đây là một trong những nguồn lực đóng vai trò quyết định để phát triển DNBH trên nhiều phương diện khác nhau: mở rộng quy mô và thị phần, triển khai thêm các nghiệp vụ, các sản phẩm mới, mở rộng kênh phân phối,
Bên cạnh đó, nếu khả năng tài chính của doanh nghiệp mạnh thì chắc chắn khả năng nhận tái sẽ tăng và tỷ lệ nhượng tái bảo hiểm sẽ giảm, đồng nghĩa với phí bảo hiểm gốc được giữ lại lớn và DNBH thu được khoản phí nhận tái bảo hiểm ngày càng tăng lên Tuy nhiên, cho dù khả năng tài chính mạnh, nhưng kỹ thuận nhận và nhượng tái bảo hiểm không tốt, cũng có thể làm hạn chế khả năng tăng doanh thu, hiệu quả hoạt động của DNBH Kỹ thuật nhận và nhượng tái bảo hiểm của doanh nghiệp, có liên quan đến các vấn đề sau:lựa chọn đối tác; xác định mức giữ lại, mức tái đi; nghiệp vụ cần nhượng tái; nghiệp vụ cần nhận tái; phương pháp tái,
- Công nghệ quản lý và nguồn lực: trong điều kiện thị trường hiện nay, các DNBH PNT muốn phát huy hết năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường cần phải xây dựng và hiện đại hóa công nghệ thông tin và công nghệ quản lý nói chung
để quản lý và phục vụ khách hàng của mình một cách tốt nhất Bên cạnh đó, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực cũng là một nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến hiệu lực và hiệu quả quản lý, đến việc mở rộng thị trường, phát triển sản phẩm để thu hút khách hàng và phục vụ khách hàng ngày một tốt hơn
1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả hoạt động của DNBH PNT:
Theo hệ thống các chỉ tiêu giám sát doanh nghiệp bảo hiểm của Bộ Tài chính, hiệu quả hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ được thể hiện qua các chỉ tiêu:
Trang 281.3.3.1 Chỉ tiêu doanh thu phí bảo hiểm gốc:
Những thay đổi lớn về doanh thu phí bảo hiểm gốc qua các năm thường là dấu hiệu của sự mất ổn định trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp bảo hiểm Doanh thu phí bảo hiểm tăng đột biến có thể là dấu hiệu doanh nghiệp bảo hiểm tham gia vào các loại hình bảo hiểm hoặc lĩnh vực hoạt động mới một cách vội vã, không tính tới hiệu quả kinh doanh
Bên cạnh đó, doanh thu phí bảo hiểm tăng đột biến còn có thể là dấu hiệu doanh nghiệp bảo hiểm đang cố gắng tăng luồng tiền để đáp ứng các trách nhiệm chi trả bồi thường của các hợp đồng đã ký trước đây Doanh thu phí bảo hiểm giảm mạnh có thể là dấu hiệu cho thấy doanh nghiệp bảo hiểm chấm dứt khai thác một số nghiệp vụ nào đó, thu hẹp phạm vi khai thác do có nhiều tổn thất ở một số nghiệp
vụ, hoặc mất thị phần do cạnh tranh Chỉ tiêu này được tính như sau:
Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm hiện tại - Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm trước
Chỉ tiêu thay đổi _ doanh thu phí bảo hiểm gốc Doanh thu phí bảo hiểm gốc năm trước
1.3.3.2 Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường:
Tỷ lệ bồi thường là một trong các chỉ tiêu thể hiện chất lượng khai thác và quản lý rủi ro của DNBH Phần lớn phí bảo hiểm thu được dùng để giải quyết chi trả bồi thường cho khách hàng Chính vì điều này mà tỷ lệ bồi thường có ảnh hưởng lớn tới kết quả kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp (chưa tính tới kết quả hoạt động đầu tư) Tỷ lệ bồi thường cao có khả năng làm cho DNBH bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm, làm ảnh hưởng tới khả năng tài chính của DNBH Chỉ tiêu này được tính như sau:
Bồi thường thuộc trách nhiệm giữ lại
(tăng/giảm) dự phòng bồi thường Chỉ tiêu tỷ lệ bồi thường _
Doanh thu phí bảo hiểm thuần
=
=
±
Trang 291.3.3.3 Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm:
Tỷ lệ chi phí là một trong các chỉ tiêu thể hiện khả năng cạnh tranh của DNBH thông qua việc khống chế chi phí ở mức hợp lý mà vẫn đảm bảo hiệu quả kinh doanh Tỷ lệ chi phí cao làm giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp cũng như ảnh hưởng bất lợi tới lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm của doanh nghiệp Chỉ tiêu này được tính như sau:
Tổng chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm Chỉ tiêu tỷ lệ chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm Doanh thu phí bảo hiểm thuần
1.3.3.4 Doanh thu và các khoản giảm trừ doanh thu trong hoạt động của các DNBH PNT:
Doanh thu trong hoạt động của các DNBH PNT bao gồm phí bảo hiểm thu được từ các khách hàng tham gia bảo hiểm (hay còn được gọi là doanh thu bảo hiểm gốc) đây là nguồn thu chính yếu của doanh nghiệp, bên cạnh đó còn có doanh thu nhận tái bảo hiểm từ các DNBH khác, doanh thu hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; doanh thu hoạt động tài chính từ việc đầu tư vốn tạm thời nhàn rỗi (phí bảo hiểm chưa bồi thường cho khách hàng, quỹ dự phòng, các khoản vốn, ); doanh thu từ việc nhượng bán thu hồi các phế liệu sau khi đã giải quyết bồi thường, thu thanh lý tài sản, (doanh thu khác)
Các khoản làm giảm doanh thu bao gồm: phí tái bảo hiểm và các khoản giảm trừ Trong đó, các khoản giảm trừ bao gồm hoàn phí bảo hiểm gốc do hủy hợp đồng, hoàn phí nhận tái bảo hiểm, hoàn hoa hồng nhượng tái bảo hiểm; giảm phí bảo hiểm gốc, giảm phí nhận tái bảo hiểm, giảm hoa hồng nhượng tái bảo hiểm
1.3.3.5 Chi phí hoạt động của các DNBH PNT:
Các khoản chi trong hoạt động của các DNBH PNT bao gồm: chi bồi thường, dự phòng bồi thường, dự phòng phí chưa được hưởng, dự phòng dao động lớn, chi hoa hồng, chi quản lý đại lý, chi khác về kinh doanh bảo hiểm và chi phí hoạt động kinh doanh khác
=
Trang 301.3.3.6 Chỉ tiêu lợi nhuận:
Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của doanh nghiệp và là chỉ tiêu đánh
giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong DNBH PNT lợi nhuận
được hình thành từ hoạt động kinh doanh bảo hiểm và hoạt động đầu tư tài chính từ
nguồn vốn (phí bảo hiểm, quỹ dự phòng) tạm thời nhàn rỗi
Lợi nhuận = Tổng doanh thu - Tổng chi phí
Chỉ tiêu này càng lớn thể hiện hiệu hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
càng cao
1.3.3.7 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận:
Tỷ suất lợi nhuận biểu hiện mối quan hệ giữa lợi nhuận và chi phí phát sinh
thực tế, thể hiện trình độ kinh doanh của các nhà quản lý trong việc sử dụng các yếu
tố đó
Tổng số lợi nhuận
* Tỷ suất doanh lợi _ Tổng doanh thu
Chỉ số này phản ánh hiệu quả của một đồng doanh thu thì tạo ra được bao
nhiêu đồng lợi nhuận
Tổng số lợi nhuận
* Tỷ suất lợi nhuận _
trên vốn cổ phần
Vốn cổ phần
Chỉ số này phản ảnh một đồng vốn cổ phần tạo ra được bao nhiêu đồng lợi
nhuận cho doanh nghiệp
1.3.3.8 Năng suất lao động:
Chỉ tiêu này so sánh giữa tổng lợi nhuận hoặc tổng doanh thu với số lao
động của doanh nghiệp, có tác dụng khuyến khích doanh nghiệp quản lý và sử dụng
tốt nguồn lực về lao động trong doanh nghiệp
Đối với doanh nghiệp, tăng năng suất tạo ra lợi nhuận lớn hơn và thêm cơ
hội đầu tư mở rộng cho doanh nghiệp, góp phần khẳng định về năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp
Đối với người lao động, tăng năng suất lao động dẫn đến thu nhập cao hơn và
điều kiện làm việc ngày càng tốt hơn, nhận được các chính sách tốt hơn từ doanh
=
=
Trang 31nghiệp Về lâu dài, tăng năng suất lao động có ý nghĩa quan trọng đối với vấn đề tạo việc làm
Đồng thời, về phía Chính phủ, tăng năng suất lao động giúp tăng nguồn thu
từ thuế
Tổng doanh thu
* Năng suất lao động _
theo doanh thu Tổng số lao động
Tổng số lợi nhuận
* Năng suất lao động
theo lợi nhuận
Tổng lao động sử dụng trong kỳ
1.4 Một số công cụ hỗ trợ phân tích hoạt động của doanh nghiệp:
1.4.1 Sử dụng mô hình PEST để phân tích môi trường vĩ mô:
Mô hình sử dụng các yếu tố chính trị- pháp luật, kinh tế, xã hội- dân số, công nghệ và môi trường để phân tích, đánh giá môi trường vĩ mô tác động đến quá trình hoạt động của doanh nghiệp
1.4.2 Sử dụng mô hình 5 thế lực cạnh tranh của M.POSTER để phân tích môi trường ngành bảo hiểm phi nhân thọ:
Hình 1 Mô hình 5 thế lực cạnh tranh của M.POSTER
Nguy cơ cạnh tranh của sản phẩm thay thế
Trang 321.4.3 Phân tích SWOT của doanh nghiệp:
Mục đích chính của phân tích môi trường bên trong là nhận diện các nguồn tiềm năng đang có tạo ra lợi thế cạnh tranh bền vững của doanh nghiệp
Tiến hành phân tích: điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt.Qua phân tích SWOT để từ đó khai thác điểm mạnh, nắm bắt cơ hội vượt qua những thách thức, khắc phục điểm yếu để nâng cao năng lực cạnh tranh với mục đích đạt được cuối cùng là nhằm làm tăng hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp
Trang 33Chương 2: PHÂN TÍCH HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BHPNT CỦA TỔNG CÔNG TY BÀO HIỂM BẢO VIỆT
2.1 Vài nét về Tập đoàn tài chính- Bảo hiểm Bảo Việt và Tổng Công
ty Bảo hiểm Bảo Việt
2.1.1 Vài nét về Tập đoàn:
Ngày 15/01/1965, Công ty Bảo hiểm Việt Nam (gọi tắt là Bảo Việt)- tiền thân của Tập đoàn Bảo Việt, được thành lập theo quyết định số 179/CP ngày 17/12/1964 của Thủ tướng Chính phủ, đã chính thức đi vào hoạt động Trong những ngày bắt đầu hoạt động, Bảo Việt chỉ có 16 nhân viên, cung cấp các dịch vụ bảo hiểm phi nhấn thọ cho một nhóm nhỏ khách hàng xuất nhập khẩu, tàu biển thuộc Miền Bắc Doanh số thởi điểm này chỉ khoảng 800 nghìn đồng Việt Nam với tổng tài sản là 900 nghìn đồng
Năm 1975, sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước được thống nhất, Bảo Việt đã bắt đầu phát triển mạng lưới kinh doanh của mình ra các tỉnh phía nam Trong giai đoạn này, thương hiệu Bảo Việt đã được biết đến như một DNBH Nhà nước lớn nhất, duy nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam.Tuy nhiên, qui mô kinh doanh vẫn rất nhỏ bé với doanh thu khoảng 5,6 triệu đồng và tổng tài sản của doanh nghiệp là 10 triệu đồng Hoạt động kinh doanh cũng chỉ hạn hẹp trong lĩnh vực bảo hiểm hàng hải cho các đơn vị kinh tế nhà nước
Từ năm 1976 đến năm 1989, Bảo Việt đã bắt đầu mở rộng và đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ của mình sang các lĩnh vực bảo hiểm hàng không, bảo hiểm con người, bảo hiểm tàu sông, tàu cá, bảo hiểm xe cơ giới Đặc biệt, vào năm
1989 Công ty bảo hiểm Việt Nam được Chính phủ chuyển đổi thành Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam Tổng doanh thu của Bảo Việt thời điểm này đạt con số 78 tỷ đồng, với tổng tài sản 73 tỷ đồng và lợi nhuận thu được là 6,6 tỷ đồng Trong đó, cơ cấu doanh thu nghiệp vụ bảo hiểm hàng hải truyền thống chiếm khoảng 65% và 35% tỷ trọng doanh thu thuộc về các nghiệp vụ bảo hiểm con người, xe cơ giới,…
Năm 1992, thương hiệu Bảo Việt lần đấu tiên xuất hiện với hình thức một pháp nhân kinh doanh trên thị trường quốc tế Bảo Việt đã thành lập công ty đại lý
Trang 34bảo hiểm BAVINA (viết tắt của cụm từ “Bảo hiểm Việt Nam”) tại Vương Quốc Anh, nơi có thị trường kinh doanh bảo hiểm phát triển nhất trên thế giới, góp phần quảng bá thương hiệu ra thị trường quốc tế
Năm 1993, Bảo Việt cùng với Công ty Inchicap (Hồng Kong) thành lập công ty liên doanh môi giới bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam lấy tên là Inchinbrok Đây là một bước đi quan trọng nhằm thu hút dịch vụ bảo hiểm từ các nhà đầu tư nước ngoài khi mà họ có tập quán sử dụng dịch vụ môi giới bảo hiểm
Năm 1994, một công ty thành viên của Bảo Việt tại thành phố Hồ Chí Minh đã được tách ra để thành lập công ty bảo hiểm thành phố Hồ Chí Minh (tiền thân của bảo hiểm Bảo Minh), đã đánh dấu thời điểm Bảo Việt không còn hoạt động độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam
Năm 1995, Bảo Việt cùng 7 cổ đông khác thành lập công ty bảo hiểm Nhà Rồng (gọi tắt là Bảo Long) với vốn điều lệ là 24 tỷ đồng, trong đó Bảo Việt là
cổ đông lớn nhất với số vốn góp 27%
Năm 1996, Bảo Việt cùng với đối tác của Anh và Nhật thành lập Công ty liên doanh bảo hiểm đầu tiên của Việt Nam, công ty liên doanh bảo hiểm quốc tế VIA (Vietnam international Assurance) Đồng thời, cũng vào năm này, Công ty bảo hiểm nhân thọ Việt Nam trực thuộc Tổng Công ty bảo hiểm Việt Nam được thành lập theo quyết định số 568/TC/QĐ/TCCB của Bộ trưởng Bộ Tài chính Đây cũng là công ty bảo hiểm nhân thọ đầu tiên có mặt tại Việt Nam Bảo Việt trở thành công ty bảo hiểm hỗn hợp đầu tiên tại Việt Nam kinh doanh cả lĩnh vực bảo hiểm nhân thọ
và phi nhân thọ Sự phát triển bảo hiểm nhân thọ đã mang lại sự tằng trưởng gấp đôi cho Bảo Việt cũng như thị trường bảo hiểm nói chung, góp phần đưa dịch vụ này tới khoảng 5 triệu khách hàng.Trong giai đoạn này, Bảo Việt vinh dự được xếp hạng doanh nghiệp nhà nước hạng đặc biệt và là một trong 25 doanh nghiệp nhà nước lớn nhất tại Việt Nam
Năm 1999, trước triển vọng của sự hình thành thị trường vốn, thị trường chứng khoán tại Việt Nam, Bảo Việt đã thành lập công ty cổ phần chứng khoán Bảo Việt và đây cũng là công ty chứng khoán có mặt sớm nhất tại thị trường chứng
Trang 35khoán Việt Nam, vốn điều lệ 43 tỷ đồng, trong đó Bảo Việt góp vốn 80% và 20% còn lại do cán bộ, nhân viên của Bảo Việt đóng góp
Năm 2000, Bảo Việt thành lập Trung tâm đầu tư nhằm nâng cao tính chuyên môn hóa trong hoạt động đầu tư tài chính Doanh thu đầu tư tài chính của Bảo Việt năm 2004 đạt 460 tỷ đồng, tổng nguồn vốn đầu tư đạt 6.500 tỷ đồng Bảo Việt đã tham gia đầu tư vào 29 dự án đầu tư trong nhiều lĩnh vực như ngân hàng, bảo hiểm, dịch vụ giải trí, khách sạn, sản xuất kinh doanh Thông qua việc đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp này đã thề hiện được chủ trương phát triển đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, nâng cao vị thế của Bảo Việt đối với hoạt động của nền kinh tế quốc dân
Ngày 01/01/2004, Bảo hiểm Nhân thọ Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt Nhân thọ) được thành lập và chính thức đi vào hoạt động, là đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Bảo Việt Bảo Việt Nhân thọ có 60 công ty trực thuộc, chuyên kinh doanh dịch vụ bảo hiểm nhân thọ
Ngày 01/07/2004, Bảo Việt cũng đã tách hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ thành một đơn vị hạch toán độc lập với tên gọi là Bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt Việt Nam) Bảo Việt Việt Nam có 64 Công ty trực thuộc chuyên kinh doanh dịch vụ bảo hiểm phi nhân thọ
Năm 2005, Trung tâm đầu tư Bảo Việt được chuyển đổi thành Công ty Quản lý Quỹ đầu tư Chứng khoán Bảo Việt hạch toán độc lập nhằm nâng quy mô
và chuyên biệt hóa đầu tư
Ngày 28/11/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ký quyết định số 310/QĐ/2005/TTgCP thí điểm thành lập Tập đoàn tài chính- Bảo hiểm Bảo Việt Theo đó, Bảo Việt đã chính thức trở thành Tập đoàn tài chính- Bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam kinh doanh đa ngành, trong đó ngành kinh doanh chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, ngân hàng và đầu tư tài chính
Ngày 31/05/2007, Bảo Việt thực hiện thành công IPO, chính thức phát hành cổ phiếu lần đầu ra công chúng Vốn điều lệ của Tập đoàn Bảo Việt là 5.730
tỷ đồng, trong đó Bộ Tài chính nắm giữ 77,54% Bảo Việt có hai cổ đông chiến
Trang 36lược là Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam sở hữu 3,56% và Tập đoản bảo hiểm HSBC Châu á- Thái Bình Dương nắm giữ 10%
Ngày 11/12/2008, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Bảo Việt được thành lập với vốn điều lệ là 1.500 tỷ đồng, trong đó Tập đoàn Bảo Việt nắm giữ 52%
Ngày 16/06/2009, cổ phiếu của Tập đoàn Bảo Việt chính thức được niêm yết trên Sở giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh với mã cổ phiếu là BVH
Tháng 09/2009, số cổ phần của cổ đông Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam được chuyển giao cho Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC)
Tháng 01/2010 Bảo Việt hoàn tất việc phát hành riêng lẻ 53,7 triệu cổ phiếu cho cổ đông chiến lược HSBC, nâng tỷ lệ nắm giữ cổ phần của cổ đông này lên 18%, đồng thời vốn điều lệ của Bảo Việt cũng tăng lên thành 6.267 tỷ đồng
Năm 2011, Tập đoàn Bảo Việt tăng vốn điều lệ lên 6.805 tỷ đồng thông qua phát hành cổ phiếu riêng lẻ cho cổ đông hiện hữu
Năm 2012, Sumitomo Life trở thành cổ đông chiến lược của Bảo Việt Đồng thời, cũng trong năm này, Ngân hàng Bảo Việt hoàn thành tăng vốn điều lệ lên 3.000 tỷ đồng Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Sumitomo (Sumitomo Life) là Công
ty Bảo hiểm Nhân thọ hàng đầu tại Nhật Bản về thị phần doanh thu phí và tổng tài sản Sumitomo Life có lịch sử trên 100 năm phát triển Sumitomo Life có hệ thống phân phối rộng khắp nước Nhật, thị trường bảo hiểm nhân thọ lớn thứ 2 thế giới, với 71 chi nhánh, 1.567 văn phòng giao dịch, 11.497 nhân viên và 31.456 đại lý bán hàng Ngoài kênh đại lý bán hàng truyền thống, Sumitomo Life còn là doanh nghiệp bảo hiểm nhân thọ hàng đầu về phát triển kênh bancassurance với quan hệ hợp tác với hơn 300 ngân hàng và các tổ chức tài chính Năm 2013, Bảo hiểm Bảo Việt và Bảo Việt nhân thọ hoàn thành tăng vốn điều lệ lên 2.000 tỷ đồng
Về lĩnh vực kinh doanh: Tập đoàn Bảo Việt cung cấp các dịch vụ tài chính- bảo hiểm toàn diện, trọn gói bao gồm bảo hiểm, ngân hàng, quản lý quỹ, chứng khoán và đầu tư
Về địa bàn kinh doanh:
Trang 37-Mạng lưới: Mạng lưới phân phối rộng khắp các tỉnh thành trong toàn quốc, phục vụ hàng triệu khách hàng với 150 chi nhánh tại 63 tỉnh thành; 400 phòng phục vụ khách hàng của bảo hiểm phi nhân thọ và 300 phòng phục vụ khách hàng của bảo hiểm nhân thọ; trên 40 chi nhánh, phòng giao dịch cung cấp dịch vụ ngân hàng, chứng khoán, quản lý quỹ
-Khách hàng: Cơ sở khách hàng lớn trên khắp các tỉnh thành trong cả nước Phân khúc khách hàng đa dạng (thấp- trung- cao cấp)
-Sản phẩm dịch vụ: Dẫn đầu thị trường về danh mục sản phẩm đa dạng với 80 sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ, 50 sản phẩm bảo hiểm nhân thọ, đa dạng các sản phẩm ngân hàng, chứng khoán, quản lý quỹ
-Địa bàn trọng điểm: thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng, Nghệ
An, Hải Phòng, Bình Dương (chiếm trên 10% doanh thu của Bảo Việt)
2.1.2 Vài nét về Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt
Bảo Việt là doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đầu tiên có mặt trên thị trường bảo hiểm Việt Nam, được thành lập từ những năm 1964 và chính thức hoạt động vào đầu năm 1965, luôn khẳng định vị trí dẫn đầu thị trường về doanh thu bảo hiểm gốc lẫn quy mô vốn điều lệ và tiềm lực tài chính
Trong giai đoạn đầu kể từ khi mới thành lập, Bảo Việt chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ Thực hiện chiến lược phát triển Bảo Việt thành Tập đoàn tài chính- Bảo hiểm đầu tiên tại Việt Nam kinh doanh đa ngành, trong đó ngành kinh doanh chủ yếu là bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm phi nhân thọ, ngân hàng và đầu tư tài chính; ngày 01/07/2004, Bảo Việt cũng đã tách hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ thành một đơn vị hạch toán độc lập với tên gọi là Bảo hiểm Việt Nam (tên giao dịch là Bảo Việt Việt Nam, tiền thân của Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt hiện nay)
Tổng Công ty Bảo hiểm Bảo Việt là Công ty thành viên được Tập đoàn Bảo Việt đầu tư 100% vốn Với hệ thống mạng lưới gồm 67 công ty thành viên và hơn 300 phòng kinh doanh phục vụ khách hàng trên toàn quốc; hơn 3.000 cán bộ có trình độ chuyên môn, kỹ thuật đáp ứng tốt cho yêu cầu công tác kinh doanh của
Trang 38doanh nghiệp; vốn điều lệ lớn nhất thị trường bảo hiểm phi nhân thọ với 2.000 tỷ đồng
Mục tiêu của Bảo hiểm Bảo Việt là không ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng, phát triển các sản phẩm bảo hiểm cá nhân Trong những năm gần đây, Bảo hiểm Bảo Việt là một trong những doanh nghiệp bảo hiểm tiên phong trong việc triển khai mô hình kinh doanh theo định hướng quản lý tập trung, đa dạng hóa sản phẩm và kênh phân phối, đẩy mạnh công tác quản lý rủi ro và xây dựng hệ thống công nghệ thông tin tiên tiến nhằm đạt hiệu quả cao trong hoạt động kinh doanh
2.2.Hoạt động KDBH PNT của Bảo Việt giai đoạn 2009- 2014
2.2.1 Về doanh thu bảo hiểm gốc:
Biểu đồ 2.1 - Tăng trưởng doanh thu của Bảo Việt và thị trường
Nguồn : số liệu thống kê của Hiệp hội bảo hiểm Việt Nam và số liệu tính toán trên cơ sở báo cáo tài chính của Bảo Việt
Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ giai đoạn 2009-2011 đạt mức tăng trưởng khá cao (mức dao động từ 21% - 25%) Tuy nhiên, năm 2012 đà tăng trưởng của thị trường đã giảm đi một nữa khi dao động xoay quanh mức 11% Sang năm
2013 nền kinh tế vẫn tiếp tục gặp nhiều khó khăn, phục hồi chậm, tăng trưởng GDP tiếp tục thấp (5.42%), hàng loạt các doanh nghiệp giải thể, không hoạt động, Thị trường bảo hiểm phi nhân thọ tiếp tục chứng kiến sự suy giảm sâu hơn khi tăng
Trang 39trưởng chỉ đạt mức 7% trong khi các năm 2009, 2010, 2011, 2012 đều tăng trưởng hai con số (24.7%, 24.2%, 21%, 11%)
Xu hướng tăng trưởng của Bảo Việt gần giống xu hướng chung của thị trường Tuy nhiên, mức tăng trưởng của Bảo Việt giai đoạn 2009-2012 trong khoảng từ 10% đến 16.5%, thấp hơn so với xu hướng chung của thị trường Nguyên nhân chủ yếu do là doanh nghiệp có mặt sớm nhất thị trường và có quy mô doanh thu và thị phần lớn nhất thị trường nên tốc độ tăng trưởng doanh thu chậm và rất khó đạt được ở mức cao như các DNBH mới gia nhập, doanh thu nhỏ; chậm đổi mới trong công tác phục vụ khách hàng Năm 2013, Bảo Việt cũng chỉ đạt mức tăng trưởng một con số 6.5% (gần bằng với tăng trưởng chung của thị trường)
Tốc độ tăng trưởng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bị kìm hãm bởi những nỗ lực của Chính phủ trong việc kiểm soát lạm phát, thắt chặt chi tiêu công
và đầu tư trong giai đoạn sau Tăng lãi suất và thắt chặt dòng tín dụng đã được thực hiện để kiềm chế lạm phát, do đó làm giảm các hoạt động đầu tư cũng như nhu cầu
về bảo hiểm tài sản
Ngoài các nghiệp vụ tài sản và thiệt hại, một trong các nghiệp vụ có tỷ trọng doanh thu lớn nhất có mức độ tăng doanh thu thấp hơn hẳn so với các năm trước; một nghiệp vụ cũng có tỷ trọng lớn là bảo hiểm thân tàu lại chịu ảnh hưởng
từ khó khăn của ngành vận tải biển và có tốc độ tăng trưởng giảm 3% so với cùng
kỳ 2012
Khó khăn của các nghiệp vụ vốn mang lại nguồn doanh thu lớn nói trên
đã thúc đẩy nhiều doanh nghiệp lấn sân sang lĩnh vực bán lẻ, vốn còn mới mẻ và nhiều tiềm năng Đồng thời, để mở rộng thị trường từ kênh bán lẻ, nhiều chiêu thức mới được tận dụng, cùng với sự cạnh tranh không lành mạnh được các doanh nghiệp tận dụng như giảm phí, tăng hoa hồng bảo hiểm,mở rộng phạm vi bảo hiểm, kể cả bảo hiểm trách nhiệm dân sự chủ xe cơ giới được Bộ Tài chính quy định và quản lý chặt chẽ về phí góp phần không nhỏ đến việc giảm doanh thu của thị trường
Trang 40Bên cạnh các chiêu thức, những giải pháp thúc đẩy kinh doanh lành mạnh cũng được nhiều doanh nghiệp sử dụng như liên kết bảo hiểm - ngân hàng để mở rộng kênh phân phối (PTI, MIC, BIC…), đầu tư nguồn lực khai thác kênh bán hàng qua website (MIC, PVI, BIC…) hay các chương trình chăm sóc khách hàng, khuyến mại được tung ra rầm rộ, hấp dẫn của Liberty, PJICO, BIC
Trong năm 2013, các DNBH chủ yếu đầu tư mở rộng thị trường bán lẻ và tăng cường hợp tác để tiếp cận khách hàng Đặc biệt là các DNBH có vốn đầu tư nước ngoài có mức tăng trưởng mạnh: AIG tăng trưởng 43%, Fubon 31%, Samsung Vina 27,5%, ngoài ra, các DNBH đẩy mạnh khai thác qua kênh bancasurance thông qua phân phối độc quyền một số sản phẩm, khai thác triệt để khách hàng vay vốn Theo đó các DNBH có cổ đông là ngân hàng tăng trưởng mạnh như MIC tăng trưởng 41,6%, VBI (Bảo Ngân ) 28%, BIC 18%, ABIC 14%, Tuy nhiên, đây là nhóm các doanh nghiệp có thị phần doanh thu thấp trong cơ cấu thị trường nên có
sự tác động không đáng kể đến thị trường, chủ yếu là sự phân phối lại doanh thu giữa các DNBH quy mô lớn và các DNBH mới gia nhập thị trường
Nguyên nhân cuối cùng không kém phần quan trọng, đó là các DNBH đã chú trọng hơn đến hiệu quả kinh doanh, quản lý rủi ro và kiểm soát bồi thường hơn
là chạy đua nhau để tranh giành doanh thu để có thị phần, bất chấp hiệu quả kinh doanh Tập trung gia tăng lợi thế cạnh tranh thông qua việc nâng cao chất lượng dịch vụ Một minh chứng điển hình là những năm gần đây, tỷ lệ bồi thường thị trường chỉ dao động xung quanh 40%, cho thấy các doanh nghiệp đã quan tâm với vấn đề quản lý rủi ro và kiểm soát tỷ lệ bồi thường ở mức độ an toàn Đây là lý do khiến thị trường tăng trưởng chậm hơn so với các năm trước, nhưng tỷ lệ bồi thường đã và đang giảm dần
Đến năm 2014, thị trưởng bảo hiểm trở lại với đà tăng trưởng ở mức hai con số Trong đó, thị trường BHPNT tăng trưởng 12.48%; đặc biệt thị trường bảo hiểm nhân thọ với mức tăng trưởng trên 21.9%, cao hơn nhiều so với mức tăng trưởng của bảo hiểm phi nhân thọ