Khái niệm về đấu thầu Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2013, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mu
Trang 1NGÔ VĂN HUYNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC
ĐẦU TƯ CÔNG TẠI TỈNH CÀ MAU
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
TP Hồ Chí Minh – 2016
Trang 2NGÔ VĂN HUYNH
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC
ĐẦU TƯ CÔNG TẠI TỈNH CÀ MAU
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng Mãsố: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Giảng viên hướng dẫn: TS Nguyễn Thị Huyền
TP Hồ Chí Minh - 2016
Trang 3cứu độc lập dưới sự hướng dẫn của giáo viên hướng dẫn
Ngoài trừ những tài liệu tham khảo được trích dẫn trong luận văn này, tôi cam đoan rằng toàn phần hay những phần nhỏ của luận văn này chưa từng được công bố hoặc được sử dụng để nhận bằng cấp ở những nơi khác
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn này là trung thực chưa từng được ai công bố lần nào Tôi xin chịu trách nhiệm về nội dung và lời cam đoan này
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày /5 /2016
Tác giả luận văn
Ngô Văn Huynh
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỂU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
1.1 Vấn đề nghiên cứu: 1
1.2 Lý do nghiên cứu: 1
1.3 Câu hỏi nghiên cứu: 2
1.4 Mục tiêu nghiên cứu: 2
1.5 Đối tượng nghiên cứu: 3
1.6 Phạm vi nghiên cứu: 3
1.7 Phương pháp nghiên cứu 3
1.8 Đóng góp của nghiên cứu: 3
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU 5
2.1 Đầu tư công và dự án đầu tư công 5
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm đầu tư công và dự án đầu tư công 5
2.1.1.1 Khái niệm đầu tư công 5
2.1.1.2 Đầu tư công có một số đặc điểm 5
2.1.2 Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế xã hội 6
2.2 Lý thuyết về đấu thầu 8
2.2.1 Sự ra đời, khái niệm và bản chất của đấu thầu 8
2.2.1.1 Sự ra đời đấu thầu 8
2.2.1.2 Khái niệm về đấu thầu 11
2.2.1.3 Bản chất của đấu thầu 11
2.2.3 Vai trò của đấu thầu 12
Trang 52.4.1 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB) 19
2.4.2 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) 22
2.4.3 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) 23
2.4.4 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga 24
2.4.5 Kinh nghiệm đấu thầu của Hàn Quốc 25
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ CÔNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011-2015 26
3.1 Giới thiệu tổng quát về Cà Mau 26
3.1.1 Vị trí, địa lý, tự nhiên, dân số 26
3.1.2 Tăng trưởng kinh tế 26
3.2 Thực trạng đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015 29
3.2.1 Giới thiệu tổng quát các thành phần có liên quan đến đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư 29
3.2.2 Nguồn vốn bố trí cho các dự án: 34
3.2.3 Tổng hợp số liệu công tác đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015 35
3.3 Thống kê, mô tả số liệu kết quả thanh tra, kiểm tra về công tác đấu thầu giai đoạn 2011-2015 39
3.3.1 Cở sở pháp lý: 39
3.3.2 Nội dung kiểm tra đấu thầu theo quy định tại Điều 12 và Điều 13 Thông tư số 01/2011/TT-BKHĐT ngày 04/01/2011 40
3.3.3 Tổng hợp kết quả thanh tra, kiểm tra đấu thầu giai đoạn 2011-2015 42
Trang 63.4.2 Tổng hợp kết quả nhà thầu kiến nghị đấu thầu giai đoạn 2011-2015 46
3.4.3 Phân tích tình huống trong việc tổ chức đấu thầu: 47
3.5 Lợi ích (hiệu quả) và những hạn chế đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau 53
3.5.1 Lợi ích (hiệu quả) đấu thầu 53
3.5.2 Những hạn chế thực tiễn đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015 54
Chương 4: NHỮNG KIẾN NGHỊ VỀ ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ CÔNG TẠI TỈNH CÀ MAU 60
4.1 Xu hướng đấu thầu trong trong lĩnh vực đầu tư công ở Việt Nam 60
4.2 Những kiến nghị về đấu thầu lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau 62
4.2.1 Hoàn chỉnh hệ thống văn bản hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu 62
4.2.2 Tăng cường công tác đấu thầu qua mạng, đảm bảo công khai, minh bạch và nâng cao hiệu quả trong công tác đấu thầu 63
4.2.3 Xây dựng và hoàn thiện các công cụ đăng tải thông tin 64
4.2.4 Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ trực tiếp thực hiện công tác đấu thầu 65
4.2.5 Tiến hành thanh tra, kiểm tra thường xuyên công tác đấu thầu 65
4.2.6 Thường xuyên giám sát, theo dõi hoạt động đấu thầu 66
4.3 Giới hạn và hướng nghiên cứu tiếp theo 66
4.3.1 Giới hạn trong nghiên cứu 67
4.3.2 Hướng nghiên cứu tiếp theo 67
KẾT LUẬN 68 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7GRDP : Tổng sản phẩm trong tỉnh
Trang 8Bảng 3.2: Tổng hợp các gói thầu thực hiện đấu thầu giai đoạn 2011-2015 36Bảng 3.3: Tổng hợp tỷ lệ giảm giá gói thầu đấu thầu rộng rãi so với các gói thầu chỉ định thầu 37Bảng 3.4: Thống kê kết quả thanh tra, kiểm tra về công tác đấu thầu giai đoạn 2011-
2015 42Bảng 3.5: Về các hành vi vi phạm trong lĩnh vực đấu thầu 43Bảng 3.6: Bảng tổng hợp kết quả nhà thầu kiến nghị đấu thầu giai đoạn 2011-2015 46Bảng 3.7: Giá dự thầu của nhà thầu tình huống 1 47Bảng 3.8: Giá dự thầu của nhà thầu trong tình huống 2 49Bảng 3.9: Tổng hợp số liệu chênh lệch (khoản tiết kiệm NSNN) cho gói thầu đấu thầu rộng rãi tại tỉnh Cà Mau 54
Trang 9Cà Mau 31Hình 3.3: Biểu đồ nguồn vốn được bố trí cho các dự án 35Hình 3.4: Biểu đồ thể hiện các gói thầu thực hiện đấu thầu giai đoạn 2011-2015 37Hình 3.5: Biểu đồ thể hiện số liệu gói thầu đấu thầu rộng rãi và gói thầu số liệu chỉ định thầu 38Hình 3.6: Biểu đồ thể hiện tỷ lệ giảm giá gói thầu đấu thầu rộng rãi so với gói thầu chỉ định thầu 39Hình 3.7: Biểu đồ thể hiện kết quả công tác thanh tra, kiểm tra đấu thầu và hành vi
vi phạm trong đấu thầu 43
Trang 10CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Vấn đề nghiên cứu:
Việt Nam đang trong giai đoạn đổi mới, sự chuyển mình của đất nước đã và đang đem lại những cơ hội to lớn cũng như những thách thức đầy chông gai Để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược CNH - HĐH đất nước, các bộ, ngành nói chung và UBND tỉnh Cà Mau nói riêng phải tự nỗ lực hết mình tạo ra sự đồng bộ cho quá trình phát triển nhanh chóng của đất nước
Luật đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014 Luật này gồm 13 chương với 96 điều được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật đấu thầu năm 2005, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009 Luật Đấu thầu đã đem lại hiệu quả trong việc thực hiện đầu tư công, tiết kiệm được cho ngân sách hàng ngàn tỷ đồng Tuy nhiên, các quy định còn thiếu sót, một số quy định còn chưa rõ ràng, có cách hiểu và thực hiện chưa thống nhất Bên cạnh đó, các chế tài còn chưa đủ mạnh cho nên nhiều chủ đầu
tư thực hiện công tác đấu thầu nhiều cách khác nhau Từ đó, hiệu quả trong đấu thầu chưa cao, phát sinh nhiều tiêu cực trong đấu thầu, thất thoát nguồn vốn ngân sách Nhà nước
Một trong các mục tiêu của đấu thầu là cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế Đây là khái niệm với ý nghĩa rất rộng, được xét trên nhiều góc độ khác nhau như giải quyết công ăn việc làm cho xã hội, phát triển cơ sở hạ tầng, tiết kiệm thời gian, tiền bạc Mặc dù có không ít các vấn đề đấu thầu đã được nghiên cứu, song do lĩnh vực đấu thầu đa dạng, có liên quan nhiều chủ thể tham gia nên việc nghiên cứu về lĩnh vực này luôn là đề tài mới, mang tính thời
sự, có ý nghĩa cả về lý thuyết lẫn thực tiễn
Để có cái nhìn tổng quát về việc thực hiện tổ chức đấu thầu trong các dự án đầu tư công của các chủ đầu tư tại tỉnh Cà Mau, tác giả chọn đề tài nghiên cứu
“Nâng cao chất lượng đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau”
1.2 Lý do nghiên cứu:
Hiện nay, việc thực hiện đầu tư công ở Việt Nam đã được thể chế bằng luật,
Trang 11cụ thể là ở Luật Đầu tư công, Luật Xây dựng và Luật Đấu thầu, dưới luật đã có nhiều Nghị định, Thông tư để hướng dẫn thực hiện Mặc dù khung pháp lý đã hoàn chỉnh nhưng thực tế triển khai thực hiện còn nhiều yếu kém, sơ hở, lách luật Từ đó, làm giảm hiệu quả đầu tư công như thất thoát, công trình rất tốn kém, chưa sử dụng
đã hỏng, nhiều công trình không được sử dụng
Đấu thầu chỉ là một khâu nhỏ nhưng đóng vai trò rất quan trọng đối với hiệu quả đầu tư công Bởi suy cho cùng, đấu thầu trong đầu tư công là cách thức mà Nhà nước thực hiện mua sắm hàng hóa công để phục vụ cho phát triển kinh tế, thực hiện các chính sách phúc lợi cho xã hội
Vì vậy, việc nghiên cứu về lĩnh vực đầu tư công nói chung, đấu thầu nói riêng có ý nghĩa lý thuyết và thực tiễn rất cao, góp phần hoàn chỉnh khung pháp lý
về đầu tư công để từ đó nâng cao hiệu quả đầu tư công, tránh lãng phí, góp phần phát triển kinh tế xã hội
1.3 Mục tiêu nghiên cứu:
- Mục tiêu tổng quát: Tăng cường cạnh tranh đấu thầu; thống nhất việc quản
lý chi tiêu tiền của Nhà nước; thể hiện tính công khai, minh bạch trong đấu thầu; bảo đảm tính công bằng, bảo đảm hiệu quả của công tác đấu thầu và phòng, chống tham nhũng trong đấu thầu
- Mục tiêu cụ thể: Nghiên cứu này nhằm đánh giá công tác tổ chức lựa chọn nhà thầu của các chủ đầu tư tại tỉnh Cà Mau Đầu tiên, thông qua kết quả thực hiện đấu thầu giai đoạn 2011-2015, so sánh tỷ lệ giảm giá giữa đấu thầu và chỉ định thầu, thống kê kết quả thanh tra, kiểm tra những năm qua và kết quả giải quyết kiến nghị đấu thầu sẽ xem xét đưa ra những lợi ích và những hạn chế cơ bản trong công tác tổ chức đấu thầu Từ đó, có các gợi ý chính sách để chúng ta cần thực hiện tốt hơn công tác đấu thầu tại tỉnh Cà Mau trong giai đoạn 2016-2020
1.4 Câu hỏi nghiên cứu:
Luận văn sẽ tập trung hướng đến hai câu hỏi nghiên cứu sau:
- Công tác đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau được thực hiện như thế nào?
Trang 12- Hình thức và kết quả thực hiện đấu thầu 5 (năm) trong lĩnh vực đầu tư công
đã mang lại những lợi ích và hạn chế gì?
1.5 Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài nghiên cứu các dự án đầu tư công đã được tổ chức đấu thầu qua các hình thức tại tỉnh Cà Mau
1.6 Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài này được giới hạn trong phạm vi các gói thầu xây dựng cơ bản nguồn vốn ngân sách nhà nước Dữ liệu nghiên cứu là kết quả đấu thầu của các gói thầu được tổ chức đấu thầu trong 5 năm 2011-2015
Về hình thức đấu thầu thì nghiên cứu các hình thức lựa chọn nhà thầu cụ thể sau: (1) đấu thầu rộng rãi, (2) đấu thầu hạn chế, (3) chỉ định thầu, (4) chào hàng cạnh tranh và các hình thức khác Đề tài chủ yếu phân tích hình thức đấu thầu rộng rãi để làm cơ sở đánh giá
1.7 Phương pháp nghiên cứu:
Đề tài sử dụng phương pháp tổng hợp, so sánh, thống kê mô tả, phân tích theo thời gian và theo hệ thống để làm rõ mục tiêu nghiên cứu
Dữ liệu cho nghiên cứu: là dữ liệu thứ cấp được thu thập tại các cơ quan quản lý đấu thầu của địa phương, trung ương, Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Cà Mau, các đơn vị được giao làm chủ đầu tư tại tỉnh và các báo cáo Sở Kế hoạch và Đầu tư
Cà Mau và UBND các huyện, thành phố
1.8 Đóng góp của nghiên cứu:
Thứ nhất, hoàn thiện, bổ sung khung pháp lý về đấu thầu ở khía cạnh thực
hiện đúng các quy định hiện có cũng như những gợi ý đề xuất, bổ sung những quy định mới cần thiết để pháp luật về đấu thầu ngày càng hoàn chỉnh hơn
Thứ hai, cung cấp bằng chứng thuyết phục để cơ quan quản lý nhà nước về
đấu thầu, các chủ đầu tư thực hiện có hiệu quả hơn về công tác đấu thầu
Thứ 3, luận văn này là bước đệm và khuyến khích cho các nhà nghiên cứu có
quan tâm về lĩnh vực đấu thầu trong tương lai
Trang 131.9 Kết cấu của luận văn nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu được trình bày trong 4 chương Các chương dự kiến được bố cục như sau:
Chương 1: Giới thiệu tổng quan về đề tài nghiên cứu
Chương 2: Tổng quan về đấu thầu
Chương 3: Thực trạng đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau giai đoan 2011-2015
Chương 4: Những kiến nghị về đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh
Cà Mau
Kết luận
Trang 14CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẤU THẦU
2.1 Đầu tư công và dự án đầu tư công
2.1.1 Khái niệm và đặc điểm đầu tư công, dự án đầu tư công
2.1.1.1 Khái niệm đầu tư công
Đầu tư công là một trong những chính sách phát triển kinh tế - xã hội rất quan trọng của bất cứ Nhà nước nào, đặc biệt có ý nghĩa đối với những quốc gia đang trong giai đoạn chuyển đổi và phát triển kinh tế thị trường như Việt Nam Tuy nhiên, việc xác định các mục tiêu và định hướng phát triển đầu tư công theo hướng nào, quy mô đến đâu là phù hợp, có đáp ứng được yêu cầu phát triển trong thực tế hay không thì tùy thuộc rất lớn vào quyết định của các nhà hoạch định chính sách trong từng hoàn cảnh, từng thời điểm của mỗi quốc gia
Theo Điều 4 Luật Đầu tư công, đầu tư công là hoạt động đầu tư của Nhà vào các chương trình, dự án xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội và đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội
Việc gia tăng tư bản tư nhân được gọi là đầu tư tư nhân Việc gia tăng tư bản
xã hội được gọi là đầu tư công Việc tăng tư bản xã hội thuộc chức năng của chính phủ, vì vậy đầu tư công thường được đồng nhất với đầu tư mà chính phủ thực hiện Như vậy, “Dự án đầu tư công là dự án đầu tư sử toàn bộ hoặc một phần vốn đầu tư công, theo quy định hiện hành Vốn đầu tư công theo quy định bao gồm: Vốn ngân sách nhà nước, vốn công trái quốc gia, vốn trái phiếu Chính phủ, vốn trái phiếu chính quyền địa phương, vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA) và vốn vay ưu đãi các nhà tài trợ nước ngoài, vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước, vốn từ nguồn thu để lại cho đầu tư nhưng chưa đưa vào cân đối ngân sách nhà nước, các
khoản vốn vay khác của ngân sách địa phương để đầu tư”
Trong đề tài này chọn khái niệm đầu tư công là việc sử dụng vốn Nhà nước
để đầu tư vào các chương trình, dự án phục vụ phát triển kinh tế - xã hội không có khả năng hoàn vốn trực tiếp
2.1.1.2 Đặc điểm đầu tư công, dự án đầu tư công
Trang 15- Đầu tư chương trình, dự án kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội;
- Đầu tư phục vụ hoạt động của cơ quan Nhà nước, đơn vị sự nghiệp, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội;
- Đầu tư hỗ trợ cung cấp sản phẩm, dịch vụ công ích;
- Đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án theo hình thức đối tác công tư;
2.1.2 Vai trò của đầu tư công đối với sự phát triển kinh tế- xã hội
Đầu tư công có ý nghĩa xã hội rất lớn trong định hướng phát triển chung của đất nước, do đó, nếu chỉ tính hiệu quả kinh tế đơn thuần thì sẽ không chính xác,
mà phải tính hiệu quả cả trong xóa đói giảm nghèo, phát triển giáo dục, an sinh xã hội
Kết cấu hạ tầng là đối tượng chính của đầu tư công, là một bộ phận đặc thù của cơ sở vật chất kỹ thuật trong nền kinh tế quốc dân có chức năng, nhiệm vụ cơ bản là đảm bảo những điều kiện chung cần thiết cho quá trình sản xuất và tái sản xuất mở rộng được diễn ra bình thường, liên tục Kết cấu hạ tầng cũng được định nghĩa là tổng thể các cơ sở vật chất, kỹ thuật, kiến trúc đóng vai trò nền tảng cho các hoạt động kinh tế - xã hội được diễn ra một cách bình thường
Toàn bộ kết cấu hạ tầng có thể được phân chia thành nhiều loại khác nhau dựa trên các tiêu chí khác nhau Cụ thể như:
được phân chia thành: kết cấu hạ tầng phục vụ kinh tế, kết cấu hạ tầng phục vụ hoạt động xã hội và kết cấu hạ tầng phục vụ an ninh quốc phòng Tuy nhiên, trên thực tế, ít có loại kết cấu hạ tầng nào chỉ phục vụ kinh tế mà không phục vụ hoạt động xã hội và ngược lại
tầng có thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng trong công nghiệp, trong nông nghiệp, giao thông vận tải, bưu chính viễn thông, xây dựng, hoạt động tài chính, ngân hàng, y tế, giáo dục, văn hoá xã hội…
- Nếu căn cứ theo khu vực dân cư, vùng lãnh thổ thì kết cấu hạ tầng có
Trang 16thể được phân chia thành: kết cấu hạ tầng đô thị, kết cấu hạ tầng nông thôn; kết cấu hạ tầng kinh tế biển (ở những nước có kinh tế biển, và nhất là khi kinh tế biển lớn như nước ta), kết cấu hạ tầng đồng bằng, trung du, miền núi, vùng trọng điểm phát triển, các thành phố lớn…
Kết cấu hạ tầng trong mỗi lĩnh vực, mỗi ngành, mỗi khu vực bao gồm những công trình đặc trưng cho hoạt động của lĩnh vực, ngành, khu vực và những công trình liên ngành đảm bảo cho hoạt động đồng bộ của toàn hệ thống Trong nhiều công trình nghiên cứu về kết cấu hạ tầng, các tác giả thường phân chia kết cấu hạ tầng thành 2 loại cơ bản, gồm: kết cấu hạ tầng kinh tế và kết cấu hạ tầng xã hội
Kết cấu hạ tầng kinh tế: thuộc loại này bao gồm các công trình hạ tầng kỹ
thuật như: năng lượng (điện, than, dầu khí) phục vụ sản xuất và đời sống, các công trình giao thông vận tải (đường bộ, đường sắt, đường biển, đường sông, đường hàng không, đường ống), bưu chính- viễn thông, các công trình thủy lợi phục vụ sản xuất nông- lâm -ngư nghiệp…Kết cấu hạ tầng kinh tế là bộ phận quan trọng trong hệ thống kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế phát triển nhanh, ổn định, bền vững
và là động lực thúc đẩy phát triển nhanh hơn, tạo điều kiện cải thiện cuộc sống dân cư
Kết cấu hạ tầng xã hội: xếp vào loại này gồm nhà ở, các cơ sở khoa học,
trường học, bệnh viện, các công trình văn hoá, thể thao… và các trang, thiết bị đồng bộ với chúng Đây là điều kiện thiết yếu để phục vụ, nâng cao mức sống của cộng đồng dân cư, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực phù hợp với tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Như vậy, kết cấu hạ tầng xã hội là tập hợp một số ngành có tính chất dịch vụ xã hội; sản phẩm do chúng tạo ra thể hiện dưới hình thức dịch vụ và thường mang tính chất công cộng, liên hệ với sự phát triển con người cả về thể chất lẫn tinh thần
Với tính chất đa dạng và thiết thực, kết cấu hạ tầng là nền tảng vật chất có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của mỗi quốc gia cũng như vùng lãnh thổ Có kết cấu hạ tầng đồng bộ và hiện đại, nền kinh tế
Trang 17mới có điều kiện để tăng trưởng nhanh, ổn định và bền vững Có rất nhiều công trình nghiên cứu đã đi đến kết luận rằng, phát triển kết cấu hạ tầng có tác động tích cực đến phát triển kinh tế-xã hội ở cả các nước phát triển và đang phát triển Trình độ phát triển của kết cấu hạ tầng có ảnh hưởng đến trình độ phát triển của đất nước, có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế và công tác xoá đói giảm nghèo
2.2 Lý thuyết về đấu thầu
2.2.1 Sự ra đời, khái niệm và bản chất của đấu thầu
2.2.1.1 Sự ra đời đấu thầu
Lịch sử đấu thầu nước ta từ khi có quy chế đấu thầu được ban hành lần đầu tiên năm 1994 đến nay đã nhiều lần được bổ sung, nâng cấp hoàn chỉnh thành luật lần đầu tiên có tên gọi là Luật Đấu thầu số 61/2005/QH11 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 1/4/2006 Theo quy định của Luật Đấu thầu (Điều 60), Người có thẩm quyền
có trách nhiệm phê duyệt hoặc ủy quyền phê duyệt HSMT, kết quả đấu thầu Tuy
nhiên đến ngày 01/8/2009 thì Chủ đầu tư là người có thẩm quyền phê duyệt HSMT,
kết quả đấu thầu (Điều 2 Luật số 38 /2009/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều liên
quan đến đầu tư xây dựng cơ bản Luật đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014 Luật này gồm 13 chương với 96 điều được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật Đấu thầu năm 2005, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009
Theo đó, Luật đấu thầu năm 2013 có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2014 Luật này gồm 13 chương với 96 điều được xây dựng trên cơ sở sửa đổi toàn diện Luật Đấu thầu năm 2005, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của các luật liên quan đến đầu tư xây dựng cơ bản năm 2009
Cụ thể, Luật Đấu thầu năm 2013 có những 10 điểm mới căn bản
Thứ nhất, Luật Đấu thầu năm 2013 ưu tiên phát triển nguồn lực, tạo cơ hội cho nhà thầu trong nước trúng thầu và tạo công ăn việc làm cho lao động trong nước, ưu đãi đối với nhà thầu và hàng hóa sản xuất trong nước nhằm thực hiện chủ trương của Bộ Chính trị về “Khuyến khích người Việt Nam ưu tiên dung hàng Việt
Trang 18Nam” đồng thời từng bước giúp nhà thầu Việt Nam tiếp nhận công nghệ và kinh nghiệm quản lý tiên tiến, tự chủ, nâng cao năng lực, sức cạnh tranh để tiến tới trở thành nhà thầu độc lập thực hiện các gói thầu lớn, công nghệ cao, phức tạp không chỉ tại thị trường Việt Nam mà cả trên thị trường quốc tế
Thứ hai, Luật Đấu thầu năm 2013 đã sửa đổi một số quy định hiện hành nhằm đơn giản hóa thủ tục hành chính trong hoạt động đấu thầu theo tinh thần Nghị quyết số 25/NQ-CP ngày 2/6/2010 và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 27/12/2010 của Chính phủ, đồng thời quy định cụ thể hơn về các quy trình lựa chọn nhà thầu đối với từng trường hợp cụ thể
Thứ ba, Luật quy định rõ phương pháp đánh giá HSMT theo từng lĩnh vực cụ thể Bên cạnh đó, Luật cũng bổ sung một số phương pháp mới trong đánh giá HSMT nhằm đa dạng hóa phương pháp đánh giá để phù hợp với từng loại hình và quy mô của gói thầu, đồng thời khắc phục tình trạng bỏ thầu giá thấp nhưng không
đủ năng lực, kinh nghiệm để thực hiện gói thầu
Thứ tư, Luật quy định hình thức mua sắm tập trung để áp dụng rộng rãi trong công tác đấu thầu Theo hình thức này, thay vì tổ chức mua sắm ở hàng trăm cơ quan khác nhau thì cơ quan mua sắp tập trung sẽ chịu trách nhiệm tổ chức mua sắm chuyên nghiệp một lần Hình thức này không chỉ giúp tăng tính chuyên nghiệp trong hoạt động mua sắm mà còn tạo điều kiện nâng cao hiệu quả, rút ngắn thời gian và chi phí tổ chức mua sắm, đồng thời hỗ trợ phát triển sản xuất trong nước và khuyến khích nhà thầu nâng cao chất lượng hàng hóa, dịch vụ
Thứ năm, Luật Đấu thầu năm 2013 có một mục quy định về thuốc, vật tư y tế
sử dụng vốn nhà nước, nguồn quỹ bảo hiểm y tế, nguồn thu từ dịch vụ khám chữa bệnh và nguồn thu hợp pháp khác của cơ sở y tế công lập Riêng đối với đấu thầu mua thuốc, Luật đấu thầu năm 2013 quy định bổ sung hình thức đàm phán đánh giá đối với gói thầu mua thuốc chỉ có từ một đến hai nhà sản xuất, thuộc biệt dược gốc, thuốc hiếm, thuốc trong thời gian còn bản quyền và các trường hợp đặc thù khác theo quy định của Chính phủ
Trang 19Thứ sáu, Luật bổ sung quy định mang tính nguyên tắc về thủ tục, phương pháp lựa chọn nhà đầu tư trên cơ sở tổng hợp các thông lệ quốc tế tốt và rút kinh nghiệm từ thực tiễn lựa chọn nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước thực hiện các
dự án kết cấu hạ tầng và dịch vụ công cộng tại Việt Nam trong thời gian qua Đi đôi với giải pháp phát triển quyết liệt để thực hiện dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư (PPP) nhằm thúc đẩy tái cơ cấu đầu tư công, quy định này góp phần tạo cơ
sở pháp lý vững chắc cho việc thu hút, lựa chọn nhà đầu tư một cách minh bạch, cạnh tranh; xây dựng niềm tin của nhà đầu tư đối với môi trường đầu tư tại Việt Nam
Thứ bảy, Luật Đấu thầu năm 2013 đã sửa đổi một số quy định hiện hành về
ký kết thực hiện và quản lý hợp đồng; quy định hợp đồng trọn gói là loại hợp đồng
cơ bản, khi quyết định áp dụng loại hợp đồng theo đơn giá cố định, đơn giá điều chỉnh thì người phê duyệt kế hoạch lựa chọn nhà thầu phải đảm bảo loại hợp đồng này phù hợp hơn so với hợp đồng trọn gói
Thứ tám, khác với Luật Đấu thầu năm 2005, Luật Đấu thầu năm 2013 phân cấp triệt để việc quyết định hình thức chỉ định thầu cho Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch UBND các cấp mà không yêu cầu trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định Để việc phân cấp gắn với trách nhiệm giải trình, tránh khép kín trong đấu thầu, Luật đấu thầu năm 2013 đã bổ sung quy định về trách nhiệm giải trình của người dân có thẩm quyền, chủ đầu tư trong quá trình tổ chức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Thứ chín, Luật cũng bổ sung quy định về yêu cầu giám sát của cộng đồng trong quá trình lựa chọn nhà thầu và thực hiện hợp đồng, bổ sung trách nhiệm về giám sát của người có thẩm quyền, cơ quan quản lý nhà nước về đấu thầu, đồng thời quy định rõ trách nhiệm của cá nhân đối với từng hoạt động trong quá trình đấu thầu để có cơ sở quy định chế tài xử lý vi phạm tương ứng với từng hành vi vi phạm
Thứ mười, Luật Đấu thầu năm 2013 bổ sung một số hành vi bị cấm trong đấu thầu, đồng thời quy định thêm biện pháp xử phạt đối với cá nhân được giao trách
Trang 20nhiệm xử phạt nhưng không tuân thủ quy định, các biện pháp phạt bổ sung như đăng tải công khai các tổ chức, cá nhân vi phạm trên phương tiện thông tin đại chúng, buộc phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về đấu thầu hoặc bồi thường thiệt hại theo quy định
2.2.1.2 Khái niệm về đấu thầu
Theo Khoản 12 Điều 4 Luật Đấu thầu năm 2013, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi
tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà đầu tư để ký kết hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế
2.2.1.3 Bản chất của đấu thầu
Thực chất đấu thầu là quá trình cạnh tranh với các nhà thầu khác về khả năng đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, tiến độ, chi phí xây dựng do bên mời thầu đặt ra
Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu có khả năng đáp ứng tốt nhất các yêu cầu về chất lượng, tiến độ và chi phí xây dựng công trình Theo Nghị định số 63/2013/NĐ-CP ngày 26 tháng 6 năm 2014 của Chính phủ, đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu Mục tiêu của đấu thầu là tạo nên sự cạnh tranh, công bằng và minh bạch trong quá trình lựa chọn nhà thầu phù hợp, bảo đảm hiệu quả kinh tế của dự án đầu tư
Theo đó, trong quá trình đấu thầu có sự tham dự của 3 chủ thể có liên quan đến dự án (gói thầu):
- Người có thẩm quyền là người quyết định phê duyệt dự án hoặc người quyết định mua sắm theo quy định của pháp luật Trường hợp lựa chọn nhà đầu tư, người có thẩm quyền là người đứng đầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
- Chủ đầu tư là tổ chức sở hữu vốn hoặc tổ chức được giao thay mặt chủ sở hữu vốn, tổ chức vay vốn trực tiếp quản lý quá trình thực hiện dự án
- Các nhà thầu:
Trang 21+ Nhà thầu chính là nhà thầu chịu trách nhiệm tham dự thầu, đứng tên dự
thầu và trực tiếp ký, thực hiện hợp đồng nếu được lựa chọn Nhà thầu chính có thể
là nhà thầu độc lập hoặc thành viên của nhà thầu liên danh
+ Nhà thầu phụ là nhà thầu tham gia thực hiện gói thầu theo hợp đồng được
ký với nhà thầu chính Nhà thầu phụ đặc biệt là nhà thầu phụ thực hiện công việc quan trọng của gói thầu do nhà thầu chính đề xuất trong HSMT, hồ sơ đề xuất trên
cơ sở yêu cầu ghi trong HSMT, hồ sơ yêu cầu
+ Nhà thầu nước ngoài là tổ chức được thành lập theo pháp luật nước ngoài
hoặc cá nhân mang quốc tịch nước ngoài tham dự thầu tại Việt Nam
+ Nhà thầu trong nước là tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam
hoặc cá nhân mang quốc tịch Việt Nam tham dự thầu
2.2.3 Vai trò của đấu thầu
Đấu thầu là chế độ được áp dụng rộng rãi ở các nước có nền kinh tế thị trường Việc đấu thầu mang lại những lợi ích thiết thực với chủ đầu tư, nhà thầu và
cả nền kinh tế quốc dân
Đối với chủ đầu tư, thông qua việc thực hiện đấu thầu, chủ đầu tư sẽ tìm được nhà thầu có khả năng đáp ứng cao nhất các yêu cầu thực hiện dự án đầu tư trên cả phương diện chất lượng, tiến độ và chi phí Hiệu quả vốn đầu tư được tăng cường nhờ vốn được quản lý chặt chẽ, khắc phục được tình trạng thất thoát vốn Đấu thầu cũng giúp chủ đầu tư giải quyết được tình trạng phụ thuộc vào một nhà thầu như trong hình thức giao thầu hoặc chỉ định thầu Tuy nhiên, để bảo đảm hiệu quả thiết thực của đấu thầu, chủ đầu tư phải am hiểu sâu sắc các quy định về đấu thầu Có được đội ngũ cán bộ có năng lực chuyên môn tốt, có đạo đức nghề nghiệp
để lập HSMT có chất lượng, đánh giá đúng các HSMT và lựa chọn đúng nhà thầu
có đủ năng lực thực hiện yêu cầu công trình
Đối với nhà thầu, việc thực hiện chế độ đấu thầu sẽ phát huy được tính chủ động, sáng tạo và linh hoạt tìm kiếm việc làm thông qua việc nắm bắt thông tin về
dự án, về đối thủ cạnh tranh, thiết lập quan hệ với các chủ thể kinh tế khác Đấu thầu cũng tạo nên sức ép với các nhà thầu trong việc đổi mới công nghệ, nâng cao
Trang 22trình độ cán bộ và công nhân viên, qua đó nâng cao khả năng cạnh tranh để tăng xác suất trúng thầu Thông qua đấu thầu, các nhà thầu cũng sẽ tích luỹ được thêm kinh nghiệm thi công, kinh nghiệm lập HSMT và xác định chiến lược phát triển dài hạn của mình
Đối với Nhà nước, thông qua đấu thầu, các cơ quan quản lý Nhà nước có đủ thông tin thực tế và cơ sở khoa học để đánh giá đúng thực lực của các chủ đầu tư và các nhà thầu Ngoài ra, đối với Nhà nước đấu thầu là phương thức quản lý các hoạt động xây dựng thông qua việc ủy quyền cho chủ đầu tư (bên mời thầu) theo chế độ công khai tuyển chọn nhà thầu Những điều đó giúp Nhà nước phát huy đúng được vai trò của mình trong nền kinh tế thị trường: tổ chức thị trường xây dựng, tạo sự cạnh tranh lành mạnh và tăng cường trật tự, kỷ cương trong thực hiện quá trình đầu
tư
2.3 Đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công ở Việt Nam
2.3.1 Văn bản pháp lý về đấu thầu ở Việt Nam
Hiện nay, pháp luật về đấu thầu tại Việt Nam đã được ban hành tương đối hoàn chỉnh từ Luật đến Nghị định, Thông tư, Quyết định của UBND tỉnh Các văn bản này thường được bổ sung, điều chỉnh để ngày càng sát thực tế hơn Các văn bản quy phạm pháp luật về đấu thầu còn hiệu lực đến ngày 31/12/2015 như (1) Luật Đấu thầu (LĐT) và Luật Xây dựng (LXĐ), (2) Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014 của Chính phủ về việc hướng dẫn thi hành Luật Đấu thầu và lựa chọn nhà thầu theo Luật Xây dựng) một số Thông tư của Bộ Kế hoạch và Đầu tư về việc ban hành các biểu mẫu có liên quan đến đấu thầu như Thông tư về việc ban hành các biểu mẫu lập HSMT xây lắp quy mô lớn, quy mô nhỏ, mẫu HSMT dịch
vụ tư vấn, mua sắm hàng hóa, mẫu báo cáo đánh giá HSMT xây lắp, mua sắm hàng hóa, mẫu báo cáo thẩm định kết quả đấu thầu
2.3.2 Các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
Bảng 2.1: Các hình thức lựa chọn nhà thầu theo quy định
Trang 231 Đấu thầu rộng
rãi
Theo quy định Điều 20 Luật Đấu thầu:
- Đấu thầu rộng rãi là hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư trong đó không hạn chế số lượng nhà thầu, nhà đầu tư tham dự
- Đấu thầu rộng rãi được áp dụng cho các gói thầu,
dự án thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật này, trừ trường hợp quy định tại các điều 21, 22, 23, 24, 25,
26 và 27 của Luật này
Theo quy định Điều 21 Luật Đấu thầu:
- Đấu thầu hạn chế được áp dụng trong trường hợp gói thầu có yêu cầu cao về kỹ thuật hoặc kỹ thuật có tính đặc thù mà chỉ có một số nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu
Theo quy định Điều 22 Luật Đấu thầu:
- Chỉ định thầu đối với nhà thầu được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Gói thầu cần thực hiện để khắc phục ngay hoặc để
xử lý kịp thời hậu quả gây ra do sự cố bất khả kháng; gói thầu cần thực hiện để bảo đảm bí mật nhà nước; gói thầu cần triển khai ngay để tránh gây nguy hại trực tiếp đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của cộng đồng dân cư tại hoặc để không ảnh hưởng nghiêm trọng đến công trình liền kề; gói thầu mua thuốc, hóa chất, vật tư, thiết bị y tế để triển khai công tác phòng, chống dịch bệnh trong trường hợp cấp bách;
+ Gói thầu cấp bách cần triển khai nhằm mục tiêu bảo vệ chủ quyền quốc gia, biên giới quốc gia, hải đảo;
Trang 24+ Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa phải mua từ nhà thầu đã thực hiện trước đó do phải bảo đảm tính tương thích
về công nghệ, bản quyền mà không thể mua được từ nhà thầu khác; gói thầu có tính chất nghiên cứu, thử nghiệm; mua bản quyền sở hữu trí tuệ;
+ Gói thầu cung cấp dịch vụ tư vấn lập báo cáo nghiên cứu khả thi, thiết kế xây dựng được chỉ định cho tác giả của thiết kế kiến trúc công trình trúng tuyển hoặc được tuyển chọn khi tác giả có đủ điều kiện năng lực theo quy định; gói thầu thi công xây dựng tượng đài, phù điêu, tranh hoành tráng, tác phẩm nghệ thuật gắn với quyền tác giả từ khâu sáng tác đến thi công công trình;
+ Gói thầu di dời các công trình hạ tầng kỹ thuật do một đơn vị chuyên ngành trực tiếp quản lý để phục
vụ công tác giải phóng mặt bằng; gói thầu rà phá bom, mìn, vật nổ để chuẩn bị mặt bằng thi công xây dựng công trình;
+ Gói thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công, gói thầu có giá gói thầu trong hạn mức được áp dụng chỉ định thầu theo quy định của Chính phủ phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội trong từng thời kỳ
- Việc thực hiện chỉ định thầu đối với gói thầu quy định tại các điểm b, c, d, đ và e khoản 1 Điều này phải đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
+ Có quyết định đầu tư được phê duyệt, trừ gói thầu
tư vấn chuẩn bị dự án;
+ Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt;
Trang 25+ Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu;
+ Có dự toán được phê duyệt theo quy định, trừ trường hợp đối với gói thầu EP, EC, EPC, gói thầu chìa khóa trao tay;
+ Có thời gian thực hiện chỉ định thầu kể từ ngày phê duyệt hồ sơ yêu cầu đến ngày ký kết hợp đồng không quá 45 ngày; trường hợp gói thầu có quy mô lớn, phức tạp không quá 90 ngày;
+ Nhà thầu được đề nghị chỉ định thầu phải có tên trong cơ sở dữ liệu về nhà thầu của cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động đấu thầu
+ Đối với gói thầu thuộc trường hợp chỉ định thầu quy định tại khoản 1 Điều này và đáp ứng điều kiện chỉ định thầu quy định tại khoản 2 Điều này nhưng vẫn có thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu khác quy định tại các điều 20, 21, 23 và 24 của Luật này thì khuyến khích áp dụng hình thức lựa chọn nhà thầu khác
- Chỉ định thầu đối với nhà đầu tư được áp dụng trong các trường hợp sau đây:
+ Chỉ có một nhà đầu tư đăng ký thực hiện;
+ Chỉ có một nhà đầu tư có khả năng thực hiện do liên quan đến sở hữu trí tuệ, bí mật thương mại, công nghệ hoặc thu xếp vốn;
+ Nhà đầu tư đề xuất dự án đáp ứng yêu cầu thực hiện dự án khả thi và hiệu quả cao nhất theo quy định của Chính phủ
Trang 26tranh - Chào hàng cạnh tranh được áp dụng đối với gói
thầu có giá trị trong hạn mức theo quy định của Chính phủ và thuộc một trong các trường hợp sau đây:
+ Gói thầu dịch vụ phi tư vấn thông dụng, đơn giản; + Gói thầu mua sắm hàng hóa thông dụng, sẵn có trên thị trường với đặc tính kỹ thuật được tiêu chuẩn hóa và tương đương nhau về chất lượng;
+ Gói thầu xây lắp công trình đơn giản đã có thiết
kế bản vẽ thi công được phê duyệt
- Chào hàng cạnh tranh được thực hiện khi đáp ứng
đủ các điều kiện sau đây:
+ Có kế hoạch lựa chọn nhà thầu được phê duyệt; + Có dự toán được phê duyệt theo quy định;
+ Đã được bố trí vốn theo yêu cầu tiến độ thực hiện gói thầu
tiếp
Theo quy định Điều 24 Luật Đấu thầu:
- Mua sắm trực tiếp được áp dụng đối với gói thầu mua sắm hàng hóa tương tự thuộc cùng một dự án,
dự toán mua sắm hoặc thuộc dự án, dự toán mua sắm khác
- Mua sắm trực tiếp được thực hiện khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
+ Nhà thầu đã trúng thầu thông qua đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế và đã ký hợp đồng thực hiện gói thầu trước đó;
+ Gói thầu có nội dung, tính chất tương tự và quy
mô nhỏ hơn 130% so với gói thầu đã ký hợp đồng trước đó;
Trang 27+ Đơn giá của các phần việc thuộc gói thầu áp dụng mua sắm trực tiếp không được vượt đơn giá của các phần việc tương ứng thuộc gói thầu tương tự đã ký hợp đồng trước đó;
+ Thời hạn từ khi ký hợp đồng của gói thầu trước đó đến ngày phê duyệt kết quả mua sắm trực tiếp không quá 12 tháng
- Trường hợp nhà thầu thực hiện hợp đồng trước đó không có khả năng tiếp tục thực hiện gói thầu mua sắm trực tiếp thì được áp dụng mua sắm trực tiếp đối với nhà thầu khác nếu đáp ứng các yêu cầu về năng lực, kinh nghiệm, kỹ thuật và giá theo HSMT và kết quả lựa chọn nhà thầu trước đó
Theo quy định Điều 25 Luật Đấu thầu:
- Tự thực hiện được áp dụng đối với gói thầu thuộc
dự án, dự toán mua sắm trong trường hợp tổ chức trực tiếp quản lý, sử dụng gói thầu có năng lực kỹ thuật, tài chính và kinh nghiệm đáp ứng yêu cầu của gói thầu
Theo quy định Điều 26 Luật Đấu thầu:
- Trường hợp gói thầu, dự án xuất hiện các điều kiện đặc thù, riêng biệt mà không thể áp dụng các hình thức lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư quy định tại các điều 20, 21, 22, 23, 24 và 25 của Luật này thì người
có thẩm quyền trình Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định phương án lựa chọn nhà thầu, nhà đầu tư
8
Tham gia thực
hiện của cộng
đồng
Theo quy định Điều 27 Luật Đấu thầu:
Cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương nơi có gói thầu được giao thực hiện toàn bộ
Trang 28hoặc một phần gói thầu đó trong các trường hợp sau đây:
- Gói thầu thuộc chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ xóa đói giảm nghèo cho các huyện, xã miền núi, vùng sâu, vùng xa, hải đảo, vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn;
- Gói thầu quy mô nhỏ mà cộng đồng dân cư, tổ chức, tổ, nhóm thợ tại địa phương có thể đảm nhiệm
Nguồn: trích dẫn theo quy định Luật Đấu thầu năm 2013
2.4 Kinh nghiệm các nước về đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công
2.4.1 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Thế giới (WB)
Ngân hàng Thế giới là một tổ chức quốc tế quản lý các khoản cho vay với
185 nước thành viên Để quản lý các hoạt động mua sắm, Ngân hàng Thế giới ban hành hai văn bản quy định riêng rẽ Những quy định này được các nhà lập pháp Việt Nam tham khảo nhiều trong quá trình xây dựng quy chế đấu thầu và điều hành hoạt động đấu thầu ở Việt Nam từ những ngày đầu tiên cho đến bây giờ Hai quy định riêng rẽ đó gồm:
- Hướng dẫn mua sắm bằng vốn vay IBRD (Ngân hàng Tái thiết và Phát triển quốc tế và tín dụng IDA (Hiệp hội Phát triển quốc tế) của Ngân hàng Thế giới đối với hàng hoá và xây lắp
- Kinh nghiệm thứ nhất hướng dẫn của Ngân hàng Thế giới về tuyển dụng chuyên gia tư vấn Việc ban hành riêng rẽ hai loại hoạt động đấu thầu có nhiều điểm riêng biệt của Ngân hàng Thế giới cũng là một trong những kinh nghiệm đầu tiên có thể xem xét trong điều kiện của nước ta vì những quy định về đấu thầu của nước ta hiện nay quá dài, hơn nữa các quy định đó lại thay đổi thường xuyên nên có thể gây nhiễu khi áp dụng
Kinh nghiệm thứ hai có thể xem xét trong bối cảnh của nước ta là việc quy định rõ tính hợp lệ của Nhà thầu Một trong những nhân tố quan trọng để Nhà thầu
Trang 29được phép tham dự thầu với tư cách một Nhà thầu độc lập là nó phải tự chủ về tài chính Có như vậy các Nhà thầu khi tham gia đấu thầu mới tránh được sự chỉ đạo, điều hành của các cơ quan quản lý trực tiếp hoặc tránh bị lệ thuộc vào một cấp quản
lý nhất định Điều này đặt ra câu hỏi lớn ở Việt Nam là các Công ty, doanh nghiệp trực thuộc ngành của một Bộ chủ quản có được tham gia đấu thầu các gói thầu do các Bộ đó tổ chức, giám sát, quản lý hay không? Điều này có ảnh hưởng rất lớn đến việc bảo đảm yêu cầu vô tư, công bằng, bình đẳng giữa các Nhà thầu
Ngân hàng Thế giới quy định rõ các hình thức đấu thầu gồm đấu thầu cạnh tranh Quốc tế (ICB) và các cách mua sắm khác, như Đấu thầu Quốc tế hạn chế (LIB), Đấu thầu cạnh tranh trong nước (NCB), Chào hàng cạnh tranh (Quốc tế và Trong nước); Hợp đồng trực tiếp hoặc tự làm Việc lựa chọn hình thức nào phải trên nguyên tắc đảm bảo phát huy khả năng có cạnh tranh đủ rộng về giá, gồm các Nhà thầu có đủ khả năng kết hợp, kinh tế và hiệu quả các hình thức đấu thầu được áp dụng cho từng gói thầu được xác định theo thoả thuận giữa ngân hàng và bên vay
Kinh nghiệm thứ ba có thể học tập từ quy định cũng như thực hành đấu thầu của Ngân hàng Thế giới yêu cầu việc đấu thầu cạnh tranh quốc tế (ICB) phải thông báo mời thầu công khai trên tờ báo “Kinh doanh phát triển” của Liên Hợp Quốc (Development Business) Ngân hàng Thế giới quy định:Việc thông báo đúng lúc về các cơ hội đấu thầu cực kỳ quan trọng trong đấu thầu cạnh tranh Đối với các dự án mua sắm theo thể thức ICB, bên vay phải chuẩn bị và nộp cho Ngân hàng một dự thảo Thông báo chung về mua sắm (General Procurement Notice) Ngân hàng sẽ thu xếp việc đăng thông báo đó trên báo Kinh doanh Phát triển của LHQ Hướng dẫn này còn quy định rõ: “Mọi người dự thầu đều phải được cung cấp những thông tin như nhau và phải cùng được bảo đảm cơ hội bình đẳng trong việc nhận thông tin
bổ sung kịp thời Bên vay phải tạo điều kiện thuận lợi cho những người có thể dự thầu đến thăm địa điểm dự án” Ngân hàng Thế giới cũng yêu cầu tránh nói đến tên nhãn hiệu trong HSMT để tăng cường tính cạnh tranh trong đấu thầu:” Yêu cầu kỹ thuật phải dựa trên cơ sở các đặc tính kỹ thuật và hoặc yêu cầu về tính năng sử dụng Cần tránh nói đến các tên nhãn hiệu, số catalo hoặc các cách phân loại tương
Trang 30tự Nếu cần phải trích dẫn tên nhãn hiệu hoặc số catalo của một nhà sản xuất nào đó thì mới nêu rõ và đầy đủ yêu cầu kỹ thuật được thì phải, nói thêm “hoặc tương đương sau đó” Những quy định rõ ràng về ngôn ngữ sử dụng, đồng tiền sử dụng và cách quy đổi từ các loại đồng tiền khác nhau về một đồng tiền chung theo tỷ giá hối đoái do cơ quan nào phát hành và thời điểm xác định tỷ giá chung là cơ sở thống nhất cho việc đánh giá các HSMT Đây được xem là nhân tố quan trọng trong việc bảo đảm tính công bằng, minh bạch và hiệu quả
Tiêu chuẩn lựa chọn Nhà thầu trúng thầu để trao hợp đồng dựa trên tiêu chuẩn năng lực và có đơn dự thầu được xác định là: (i) về cơ bản đáp ứng HSMT:
và (ii) có giá chào thầu được đánh giá là có chi phí thấp nhất” Người dự thầu sẽ không bị đòi hỏi phải chịu trách nhiệm về các công việc không mâu thuẫn nêu trong HSMT hay buộc phải sửa đổi đơn dự thầu khác đi so với khi nộp lúc đấu thầu như
là một điều kiện để được trúng thầu
Trong quy định của mình, Ngân hàng Thế giới cũng dành một chương mục cho việc quy định ưu đãi đối với Nhà thầu trong nước và hàng hoá sản xuất trong nước Theo Ngân hàng Thế giới, Đối với hợp đồng xây dựng được trao trên cơ sở ICB, khi được Ngân hàng đồng ý, các bên vay trong điều kiện đủ tiêu chuẩn hợp lệ
có thể dành một mức ưu đãi 7,5% cho các Nhà thầu trong nước Điều đó có nghĩa là cộng thêm 7,5% vào giá dự thầu của Nhà thầu nước ngoài, với điều kiện các Nhà thầu trong nước có sở hữu trong nước chiếm đa số
Ngân hàng Thế giới quy định rõ chính sách của Ngân hàng đối với những mua sắm sai quy định và gian lận tham nhũng trong đấu thầu “Chính sách của Ngân hàng là huỷ bỏ phần vốn vay phân bổ cho những hàng hoá và công trình xây lắp đã mua sắm sai quy định” Chính sách của Ngân hàng Thế giới là rất rõ ràng đối với hành động gian lận và tham nhũng, ví dụ: Ngân hàng sẽ bác bỏ đề nghị trao hợp đồng nếu Ngân hàng xác định được rằng người dự thầu được kiến nghị để trao hợp đồng có hành vi tham nhũng hoặc gian lận trong khi cạnh tranh giành hợp đồng đó;
Trang 31Ngân hàng sẽ huỷ bỏ phần vốn vay đã phân cho hợp đồng hàng hoá hoặc công trình nếu bất kỳ khi nào xác định được rằng đại diện của Bên vay hoặc người hưởng lợi từ vốn vay có hành động tham nhũng hoặc gian lận trong quá trình mua sắm hoặc thực hiện hợp đồng mà Bên vay không có hành động kịp thời và phù hợp
để chấn chỉnh tình hình thoả mãn được yêu cầu của Ngân hàng
2.4.2 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC)
Điểm giống nhau cơ bản giữa hướng dẫn đấu thầu của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) và Ngân hàng WB và ngân hàng ADB là đều ban hành hai loại văn bản tách rời nhau: Hướng dẫn tuyển dụng tư vấn của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) (Guidelines for the Employment of Consultants under JBIC ODA Loans) Hướng dẫn mua sắm của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) ( Guidelines for Procurement under JBIC ODA Loans) Một trong những kinh nghiệm quan trọng nhất được quy định thành điều khoản trong hướng dẫn mua sắm hàng hoá và công trình là của Ngân hàng Hợp tác Quốc tế Nhật Bản (JBIC) là :
“Ngân hàng cho rằng trong hầu hết các trường hợp đấu thầu, Hình thức Đấu thầu cạnh tranh Quốc tế ICB là giải pháp tốt nhất để thoả mãn các yêu cầu mua sắm hàng hoá và dịch vụ cho các dự án đã được đề ở trên (hướng dẫn này) Ngân hàng, vì vậy, thông thường yêu cầu bên vay mua sắm hàng hoá, công trình và dịch vụ thông qua đấu thuầ cạnh tranh quốc tế ICB phù hợp với các thông lệ được trình bày trong phần II của hướng dẫn này” Điều thứ hai có thể được coi là thông tin tham khảo là việc Ngân hàng JBIC không có quy định nào và cũng không thực hiện chế độ ưu đãi nào đối với Nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu Đây là điểm khác cơ bản với những quy định của Ngân hàng Thế giới (WB) và Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) Đây là sự thể hiện cao nhất yêu cầu đảm bảo sự công bằng bình đẳng trong đấu thầu của JBIC Tóm lại, nghiên cứu những kinh nghiệm trong việc xây dựng tổ chức hoạt động đấu thầu xây dựng của một số nước, một số tổ chức quốc tế có ý nghĩa rất lớn để góp phần hoàn thiện quy chế đấu thầu ở nước ta cũng như tìm ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động phổ biến này Qua những kinh
Trang 32nghiệm nêu trên, người viết thấy nổi lên một số điểm chính là: (1) có thể nghiên cứu xây dựng các quy quy định về đấu thầu tách rời giữa đấu thầu mua sắm hàng hoá dịch vụ và công trình xây dựng với đấu thầu tuyển chọn tư vấn; (2) nghiên cứu áp dụng tổ chức hoạt động đấu thầu tập trung trên phạm vi toàn quốc hoặc từng vùng (Bắc, Trung, Nam) để tăng tính khách quan, vô tư, công bằng bình đẳng; (3) áp dụng cơ chế giám sát , xử phạt nghiêm minh các tổ chức, cơ quan và cá nhân vi phạm trong đấu thầu và thực hiện các hợp đồng Ngoài ra còn có một số điểm khác nữa sẽ được nghiên cứu để áp dụng vào hoàn cảnh của nước ta
2.4.3 Kinh nghiệm đấu thầu của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB)
Cũng giống như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) cũng có hai quy định riêng rẽ cho hai lĩnh vực mua sắm là tuyển dụng tư vấn và mua sắm (hàng hoá và công trình xây lắp) Hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển châu Á về tuyển dụng chuyên gia tư vấn (Guidelines on the use of consultants by Asian Development Bank and its Borrowers) Hướng dẫn của Ngân hàng Phát triển châu Á về mua sắm (Guidelines for Procurement under Asian Development Bank Loans) Ngân hàng Phát triển châu Á cũng quy định các hình thức mua sắm gồm: Đấu thầu cạnh tranh Quốc tế rộng rãi (ICB) và các hình thức mua sắm khác như Chào hàng cạnh tranh Quốc tế (International Shopping), Đấu thầu cạnh tranh trong nước (LCB), Đấu thầu hạn chế (Limited Tendenring or Repeat Order), mua sắm trực tiếp Theo quy định của Ngân hàng Phát triển châu Á việc áp dụng hình thức mua sắm nào đó đều phải được sự chấp thuận của Ngân hàng Đây là một trong những ràng buộc đảm bảo cho việc sử dụng vốn vay của Ngân hàng Phát triển châu
Á được xem là cách kỹ lưỡng trước khi công khai Cũng giống như Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á cũng quy định rõ việc chống tham nhũng và gian lận trong đấu thầu Ngân hàng Phát triển châu Á cũng sẽ từ chối trao hợp đồng nếu
bị phát hiện có hành động tham nhũng và gian lận trong quá trình cạnh tranh giành hợp đồng Ngân hàng Phát triển châu Á cũng đình chỉ cấp vốn đối với phần vốn vay đã phân bổ cho hợp đồng ở bất kỳ thời gian nào phát hiện ra có tham nhũng và gian lận trong suốt quá trình mua sắm và thực hiện hợp đồng xây dựng công trình
Trang 33sau khi đã nhận được ý kiến góp ý của Ngân hàng nhưng vẫn không có gì thay đổi nhằm đáp ứng những đòi hỏi của Ngân hàng Ngân hàng cũng sẽ thực hiện việc tuyên bố công khai danh tính của các công ty không đủ tư cách hợp lệ vĩnh viễn hoặc trong một thời hạn về thời gian nhất định Khác với Ngân hàng Thế giới, Ngân hàng Phát triển châu Á không có chương trình mục riêng cho việc thực hiện
ưu đãi đối với Nhà thầu trong nước khi tham gia đấu thầu, nhưng việc ưu đãi các Nhà thầu vẫn được áp dụng cho từng trường hợp và được quy định rõ trong HSMT của các trường hợp đó Về quảng cáo và thông báo mới thầu phải đảm bảo cơ hội cạnh tranh cho các Nhà thầu thuộc tất cả các nước thành viên của ADB và do đó phải được thu xếp để đăng tải công khai trên tạp chí “Cơ hội kinh doanh ADB” của Ngân hàng (ADB business Opportunties) cũng giống như một tờ báo lưu hành rộng
rãi trong nước của Bên vay (ít nhất trên một tờ báo tiếng Anh, nếu có
2.4.4 Kinh nghiệm đấu thầu xây dựng của nước Nga
Ở Nga, để quản lý hoạt động đấu thầu, Tổng thống Nga ban hành Nghị định kèm theo quy chế đấu thầu về mua sắm hàng hoá, xây lắp công trình, dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Một trong những kinh nghiệm tổng quan chi phí hoạt động đấu thầu của nước Nga là sự phù hợp cao của quy chế đấu thầu quốc tế Nó đảm bảo cho các hoạt động đấu thầu quốc tế diễn ra ở nước Nga không phải tốn nhiều công sức vào việc nghiên cứu tìm hiểu các quy định của các tổt chức quốc tế trước khi tiến hành chúng Do vậy, đây là một trong những căn cứ quan trọng góp phần thực hiện một trong những yêu cầu của nâng cao chất lượng đấu thầu là tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của chủ đầu tư và tạo sự dễ dàng cho quá trình thực hiện Cơ chế quản lý, giám sát, xử phạt nghiêm minh các hành vi tiêu cực trong các hoạt động đấu thầu ở nước Nga đảm bảo chấm dứt tình trạng lạm dụng quyền lực của các quan chức chính phủ trong việc đấu thầu mua sắm hàng hoá, xây lắp và dịch vụ cho các nhu cầu quốc gia Có thể nói, ở Nga, chính sách xử phạt thích đáng những cá nhân, tổ chức vi phạm quy chế đấu thầu đã thúc đẩy việc thực hiện các yêu cầu công bằng, bình đẳng trong đấu thầu; hạn chế đến mức thấp nhất các hiện tượng thiếu minh bạch, thiếu vô tư của những người làm công tác xét thầu
Trang 34Đây là một kinh nghiệm quý báu chúng ta có thể nghiên cứu học tập để nâng cao chất lượng đấu thầu xây dựng nói chung và các công trình giao thông nói riêng
2.4.5 Kinh nghiệm đấu thầu của Hàn Quốc
Theo quy định của Hàn Quốc, “Luật hợp đồng” mà trong đó Nhà nước là bên tham gia là luật điều chỉnh các hoạt động đấu thầu Luật này quy định những nguyên tắc cơ bản và thủ tục mua sắm công Trên cơ sở luật đó Tổng thống, Thủ tướng ban hành các hướng dẫn để thực hiện Bộ Kinh tế và Bộ Tài chính ban hành hướng dẫn chi tiết việc thực hiện Hệ thống mua sắm của Hàn Quốc là hệ thống tập trung thống nhất cao Hàn Quốc có một cơ quan tập trung có tên viết tắt là Sarok có một số lượng cán bộ chuyên gia lớn lên tới hàng ngàn người có nhiệm vụ tổ chức thực hiện đấu thầu tất cả các nhu cầu mua sắm công lớn của đất nước Tuy nhiên, những nhu cầu mua sắm có giá trị nhỏ cũng được phân cấp Có thể nói nhiều nhà thầu Việt Nam đang có kỳ vọng đề nghị Chính phủ xem xét áp dụng kinh nghiệm này, vì việc tổ chức đấu thầu rất phân tán hiện nay ở nước ta có thể đã đẩy hoạt động này đi theo chiều hướng tạo thuận lợi cho các tệ nạn phát sinh như cục bộ, địa phương chủ nghĩa, áp dụng thiếu thống nhất, thiếu nhất quán giữa các địa phương, các ngành
Kết luận chương 2
Trong chương 2, đề tài tập trung đầy đủ các lý chung về đấu thầu như: khái niệm, đặc, vai trò, sự ra đời, bản chất, văn bản pháp lý, các hình thức đấu thầu và quy chế đấu thầu và tìm hiểu kinh nghiệm các nước về đấu thầu đầu tư công Những nội dung nghiên cứu ở Chương 2 làm nền tảng để phân tích thực trạng và đáng giá được lợi ích, những hạn chế cơ bản đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau trong chương 3 và chương 4 đưa ra những kiến nhằm nâng cao chất lượng đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công giai đoạn 2016-2020 tại tỉnh Cà Mau
Trang 35CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ĐẤU THẦU TRONG LĨNH VỰC ĐẦU TƯ
CÔNG TẠI TỈNH CÀ MAU GIAI ĐOẠN 2011-2015
3.1 Giới thiệu tổng quát về Cà Mau
3.1.1 Vị trí, địa lý, tự nhiên, dân số
Cà Mau là tỉnh ở cực Nam của Tổ quốc, thuộc vùng Đồng bằng sông Cửu
danh có ý nghĩa kinh tế chính trị, có ý nghĩa thiêng liêng đối với nhân dân cả nước,
có khả năng phát triển du lịch tham quan gắn với du lịch sinh thái
Phía Bắc của tỉnh tiếp giáp với tỉnh Kiên Giang và tỉnh Bạc Liêu;
Phía Nam và phía Đông tiếp giáp với Biển Đông;
Phía Tây tiếp giáp với vịnh Thái Lan
đồng bằng sông Cửu Long và bằng 1,58% diện tích cả nước Tỉnh được phân chia thành 9 đơn vị hành chính cấp huyện: gồm thành phố Cà Mau và các huyện: Thới Bình, U Minh, Trần Văn Thời, Cái Nước, Phú Tân, Đầm Dơi, Năm Căn, Ngọc Hiển Dân số Cà Mau năm 2014 là 1.220.481 người Trong đó: nam 612.926 người; nữ 607.555 người Dân số thành thị 263.624 người, dân số nông thôn 956.857 người (Theo quy hoạch phát triển tổng thể kinh tế xã hội tỉnh Cà Mau đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030)
Tỉnh Cà Mau có chiều dài bờ biển 254 km và thuộc hành lang kinh tế ven biển phía Đông của vùng biển Tây Nam Bộ (từ Bạc Liêu - Gành Hào - Cà Mau - Năm Căn) Có vị trí ở trung tâm vùng biển các nước Đông Nam Á, nhất là trong vùng Vịnh Thái Lan, là những khu vực có trữ lượng dầu khí lớn, có tiềm năng du lịch sinh thái và du lịch biển đảo
3.1.2 Tăng trưởng kinh tế
Trong giai đoạn 2006 – 2010, kinh tế tỉnh Cà Mau đạt tốc độ tăng trưởng cao, tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân tăng 13,8%/năm (trong đó: khu
Trang 36vực ngư nông lâm nghiệp tăng 6,8%, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 23,5%, khu vực dịch vụ tăng 13,4%) GRDP của tỉnh năm 2010 đạt 18.765 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010), trong đó khu vực ngư nông lâm nghiệp đạt 6.590 tỷ đồng, khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 7.478 tỷ đồng và khu vực dịch vụ đạt 4.697 tỷ đồng Đây là giai đoạn triển khai đầu tư xây dựng cụm Khí Điện Đạm Cà Mau và đưa vào vận hành đường ống dẫn khí PM3, 02 nhà máy điện Cà Mau 1, 2 với tổng công suất 1.500 MW (sản lượng điện sản xuất năm 2010 đạt 9,1 tỷ KWh, chiếm trên 10% sản lượng điện sản xuất của cả nước tại cùng thời điểm)
Tuy nhiên, khi bước vào triển khai thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2011 – 2015, đã xuất hiện những bất lợi từ tình hình kinh tế thế giới tác động đến nền kinh tế nước ta, ảnh hưởng đến ổn định kinh tế vĩ mô; từ đó Chính phủ chỉ đạo, điều hành theo hướng tập trung ưu tiên kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, thắt chặt đầu tư công; đồng thời như đã phân tích nêu trên do nguồn lực đầu tư thiếu hụt, tiến độ triển khai một số chương trình, dự án quan trọng khó khăn và chậm hơn dự kiến, nhất là đối với Khu Kinh tế Năm Căn, các khu cụm công nghiệp, từ đó đã ảnh hưởng nhiều đến mục tiêu đầu tư phát triển và tăng trưởng đề ra trong quy hoạch, kết quả tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh trong giai đoạn 2011 – 2015 (theo số liệu tính toán của tỉnh) chỉ tăng bình quân 8,1%/năm (trong đó: khu vực ngư nông lâm nghiệp tăng 7,2%, khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 6,7%, khu vực dịch vụ tăng 11,2%) GRDP của tỉnh năm 2015 (giá so sánh năm 2010) ước đạt 27.672 tỷ đồng, trong đó khu vực ngư nông lâm nghiệp đạt 9.350 tỷ đồng, khu vực công nghiệp – xây dựng đạt 10.346 tỷ đồng và khu vực dịch
vụ đạt 7.976 tỷ đồng
Theo số liệu công bố của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) tại văn bản số 535/TCTK-TKQG ngày 24/7/2015: tốc độ tăng GRDP của tỉnh Cà Mau bình quân giai đoạn 2011 – 2015 của tỉnh dự kiến đạt khoảng 6%/năm (trong đó: năm 2011 tăng 6,93%, năm 2012 tăng 5,76%, năm 2013 tăng 6,1%, năm 2014 tăng 6,25%, năm 2015 dự kiến tăng 5,02%), cao hơn tốc độ tăng trưởng bình quân của cả nước trong cùng giai đoạn (bình quân tăng khoảng 5,82%/năm)
Trang 37Bảng 3.1: Tăng trưởng kinh tế tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015
Chỉ tiêu
Tốc
độ tăng bình quân 2006-
2010 (%)
Thực hiện năm
2011
Thực hiện năm
2012
Thực hiện năm
2013
Thực hiện năm
2014
Thực hiện năm
2015
Tốc
độ tăng bình quân 2011-
2015 (%)
Tổng sản phẩm trong
tỉnh (GRDP) giá năm
2010, trong đó:
và bằng khoảng 75% mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước
Trang 383.2 Thực trạng đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công tại tỉnh Cà Mau giai đoạn 2011-2015
3.2.1 Giới thiệu tổng quát các thành phần có liên quan đến đấu thầu trong lĩnh vực đầu tư công
3.2.1.1 Cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu
Theo quy định Luật Đấu thầu, cơ quan quản lý Nhà nước về đấu thầu ở Trung ương là Bộ Kế hoạch và Đầu tư và ở địa phương là Sở Kế hoạch và Đầu tư Nhiệm vụ của cơ quan quản lý đấu thầu tại địa phương bao gồm:
- Thẩm định kế hoạch đấu thầu đối với dự án do Chủ tịch UBND tỉnh cấp Quyết định đầu tư trừ các dự án quy định tại khoản 3 Điều 104 Nghị định số 63/2014/NĐ-CP ngày 26/6/2014, phê duyệt kế hoạch đấu thầu (các dự án được UBND tỉnh ủy quyền phê duyệt);
- Thẩm định kết quả đấu thầu, phê duyệt kết quả đấu thầu (các dự án được UBND tỉnh ủy quyền phê duyệt)
- Hướng dẫn pháp lý về đấu thầu cho các chủ đầu tư trong tỉnh;
- Chủ tịch Hội đồng tư vấn giải quyết kiến nghị về kết quả đấu thầu
3.2.1.2 Chủ đầu tư
Theo quy định của Luật Xây dựng, chủ đầu tư xây dựng công trình là người
sở hữu vốn hoặc là người được giao quản lý và sử dụng vốn để đầu tư xây dựng công trình Chủ đầu tư trong đề tài nghiên cứu này là Giám đốc các Sở Xây dựng, Giao thông Vận tải, Công thương, Nông nhiệp & Phát triển nông thôn, Văn hóa Thể thao và Du lịch, Giáo dục và Đào tạo, Y tế, Chủ tịch UBND 08 huyện, thành phố Cà Mau và các chủ đầu tư các ngành khác được giao quản lý và sử dụng vốn Trong việc tổ chức đấu thầu, chủ đầu phải hoàn chỉnh cơ sở pháp lý để tổ chức đấu thầu như:
- Lập kế hoạch đấu thầu và trình tự phê duyệt kế hoạch đấu thầu, kế hoạch vốn cho dự án;
- Lập, thẩm tra, phê duyệt thiết kế bản vẽ thi công - dự toán Trong bước lập, thẩm tra thiết kế bản vẽ thi công - dự toán chủ đầu tư có thể thuê đơn vị tư vấn có
Trang 39- Giải quyết tình huống trong đấu thầu;
- Giải quyết kiến nghị về kết quả đấu thầu (nếu có)
Trường hợp 1: Chủ đầu tư các Sở, ban ngành cấp tỉnh
Hình 3.1: Quy trình đấu thầu của các chủ đầu tư là các Sở, ban, ngành cấp tỉnh
Theo hình 3.1, cột bên phải thể hiện trình tự các công việc phải thực hiện từ bước lập HSMT Tại bước thẩm định, nếu không đạt thì quay lại thực hiện bước trên Cột bên trái thể hiện các đơn vị thực hiện tương ứng các công việc được nêu tại cột bên phải
Trường hợp 2: Chủ đầu tư là UBND các huyện và thành phố Cà Mau
Khi UBND các huyện và thành phố Cà Mau làm chủ đầu tư thì thành lập