BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM ---o0o--- HOÀNG LÊ KIỀU TRANG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRONG KHU VỰC ĐÔN
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
-o0o -
HOÀNG LÊ KIỀU TRANG
TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI MỘT SỐ NƯỚC TRONG
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính –Ngân hàng
Mã số: 60340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Phạm Văn Năng
Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Văn Năng Số liệu thống kê là trung thực, nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn này chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào cho tới thời điểm hiện nay
TP.HCM,ngày…tháng…năm 2016
Tác giả
Hoàng Lê Kiều Trang
Trang 4MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu 3
4 Phương pháp nghiên cứu 3
5 Bố cục luận văn 3
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 4
1.1 Tổng quan lý thuyết 4
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài 4
1.1.2 Khái niệm tăng trưởng kinh tế 4
1.1.3 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế 5
1.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế 7
1.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế 14
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 21
Trang 5CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 22
2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á 22
2.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Indonesia 24
2.1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaysia 25
2.1.3 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Philippines 26
2.1.4 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Singapore 27
2.1.5 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan 29
2.1.6 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam 30
2.2 Phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của một số nước trong khu vực Đông Nam Á 31
2.2.1 Mô hình nghiên cứu 31
2.2.2 Dữ liệu nghiên cứu 38
2.2.3 Phương pháp nghiên cứu 39
2.2.4 Kết quả nghiên cứu 43
2.2.4.1 Phân tích thống kê mô tả 43
2.2.4.2 Ma trận tương quan đơn tuyến tính giữa các cặp biến 46
2.2.4.3 Kiểm định đa cộng tuyến 48
2.2.4.4 Kiểm định hiện tượng phương sai thay đổi phần dư - Greene (2000) 50
2.2.4.5 Kiểm định hiện tượng tự tương quan phần dư – Wooldridge (2002) và Drukker (2003) 51
2.2.4.6 Phân tích kết quả hồi quy GMM 51
Trang 6KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 57
CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP THU HÚT DÒNG VỐN ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐỂ THÚC ĐẨY TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ TẠI VIỆT NAM 59
3.1 Kết quả nghiên cứu chính 59
3.2 Đề xuất một số giải pháp nhằm thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam 61
3.2.1 Hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách liên quan đến đầu tư, kinh doanh 61 3.2.2 Cải cách hệ thống tài chính 63
3.2.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 64
3.2.4 Mở cửa thương mại định hướng xuất khẩu, hội nhập kinh tế 66
3.2.5 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng 66
3.3 Hạn chế và hướng mở rộng đề tài 67
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 68
Trang 7DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ICOR Incremental Capital Output Ratio Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư
Asean Association of Southeast Asian
Nations
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á
FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài
GDP Gross Domestic Product Tổng sản phẩm quốc nội
GMM General Method of Moments Mô hình Moments Tổng quát GNI Gross national income Tổng thu nhập quốc gia
IMF International Monetary Fund Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế
NNP Net national product Sản phẩm quốc gia ròng
R&D Research and Development Nghiên cứu và phát triển
WTO World Trade Organization Tổ chức thương mại Thế Giới
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1 : Tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm trước 17
Bảng 2.1: Mô tả các biến trong mô hình nghiên cứu và kỳ vọng về dấu của từng biến: 37
Bảng 2.2: Thống kê mô tả giữa các biến trong mô hình 44
Bảng 2.3: Kết quả ma trận tự tương quan 47
Bảng 2.4: Kết quả kiểm tra đa cộng tuyến với nhân tử phóng đại phương sai 48
Bảng 2.5: Kết quả kiểm tra phương sai thay đổi mô hình 50
Bảng 2.6: Kết quả kiểm tra tự tương quan mô hình 51
Bảng 2.7: Tổng hợp kết quả hồi quy mô hình GMM 52
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Indonesia giai đoạn 1990 -2014 (%/năm) 24Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Malaysia giai đoạn 1990 -2014(%/năm) 25Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Philippines giai đoạn 1990 -2014(%/năm) 27Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Singapore giai đoạn 1990-2014(%/năm) 27Biểu đồ 2.5: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Thái Lan giai đoạn 1990 – 2014(%/năm) 29Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014(%/năm) 30
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Cộng đồng quốc tế, các học giả, các nhà ban hành và thi hành luật trên toàn thế giới đều cho rằng những nước đang phát triển cần nguồn vốn từ bên ngoài đổ vào để bù đắp thâm hụt tiết kiệm, thiếu hụt cán cân thanh toán, và tiến tới phát triển bền vững Điều này lại càng quan trọng hơn đối với các quốc gia tại khu vực Đông Nam Á (Asean), nơi mà mức thu nhập chưa cao Tuy nhiên nhờ nguồn tài nguyên khổng lồ, sự cải tiến chế độ dân chủ , cải tiến chế độ quảy lý đã làm khu vực này trở nên hấp dẫn thương mại và đầu tư Ổn định chính trị, xã hội và viễn cảnh hội nhập kinh tế khu vực là động lực đưa dòng chảy tư bản của thế giới về Đông Nam Á Mặc dù dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng giảm ở năm 2014, nhưng FDI đầu
tư vào Asean lại tăng, chiếm 11% tổng vốn FDI toàn cầu, đóng góp khoảng 30% FDI của khu vực Châu Á Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vẫn là nguồn lớn nhất
và đáng tin cậy nhất của các dòng vốn đầu tư cho phát triển trong khu vực FDI được coi là một nguồn quan trọng để bổ sung nguồn vốn trong nước cho phát triển thông qua các yếu tố như chuyển giao công nghệ, mở rộng thị trường, tạo việc làm
và đào tạo nhân lực Mặc dù các nước khu vực Đông Nam Á từ lâu đã được coi là điểm đến hấp dẫn đối với FDI vì nguồn tài nguyên thiên nhiên rộng lớn, tuy nhiên một số nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số yếu tố khác cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sức hấp dẫn của quốc gia đối với nhà đầu tư, bao gồm tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, sự ổn định chính trị, cải thiện chính sách tài khóa, tiền tệ Câu hỏi đặt ra là liệu các dòng vốn FDI tăng có mang lại hiệu quả tăng trưởng kinh
tế như mong đợi cho các nước Asean hay không? Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu được tiến hành, nhưng kết quả vẫn không thuyết phục Sự thiếu đồng thuận về hiệu quả của dòng vốn FDI được quy cho sự khác biệt về địa lý và đặc trưng của mỗi quốc gia Do đó, bài nghiên cứu xem xét trường hợp đối với các nước Asean khi khu vực này đang ngày càng được công nhận như là một điểm đến đầu tư, đặc biệt
là đối với FDI Rõ ràng, phân tích này là quan trọng bởi vì nó sẽ cung cấp một sự hiểu biết tốt hơn về mối quan hệ FDI tăng trưởng và do đó giúp đỡ để phát triển
Trang 11chính xác hơn lý thuyết của tự do hóa tài khoản vốn và quyết định chính sách tốt hơn ở Asean
Báo cáo của UNCTAD (2000) lưu ý rằng việc sử dụng hiệu quả dòng vốn để nâng cao tốc độ tăng trưởng là không thể thực hiện nếu không có cơ chế kiểm soát quản lý thích hợp Báo cáo của UNECA (2006) cũng chỉ ra rằng cơ chế quản lý được xem như yếu tố quyết định và cũng là yếu tố tác động đến các dòng vốn Nhiều nghiên cứu khác cũng đã lưu ý rằng việc thiếu thành công của các chương trình tự do hóa ở nhiều nước đang phát triển là do chế độ quản lý không đầy đủ hoặc không thích hợp Tuy nhiên, vẫn chưa có bất kỳ nghiên cứu thực nghiệm nào
để kiểm tra mối quan hệ này để hướng dẫn các nhà hoạch định chính sách Bài nghiên cứu “Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á” sẽ góp phần đáng kể trong giải thích này
2 Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
- Thứ nhất, đánh giá tác động của dòng vốn FDI đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á
- Thứ hai, xem xét hệ thống luật, quy định có tác động như thế nào đến mối quan hệ FDI – tăng trưởng
- Và cuối cùng đưa ra một số gợi ý chính sách dựa trên các kết quả thực nghiệm nhằm thu hút vốn đầu tư nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế tại Việt Nam
Các mục tiêu nghiên cứu ở trên hướng vào trả lời các câu hỏi nghiên cứu:
- Thứ nhất, FDI có tác động thế nào đến tăng trưởng kinh tế?
- Thứ hai, vai trò của các luật,quy định đối với tăng trưởng kinh tế?
- Thứ ba, sự tương tác giữa FDI và các luật, quy định có ảnh hưởng như thế nào đến tăng trưởng kinh tế?
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu
Không gian: Bài nghiên cứu xem xét tác động của FDI đến tăng trưởng kinh
tế của 6 nước trong khu vực Đông Nam Á (Asean) bao gồm: Việt Nam, Singapore, Malaysia, Indonesia, Philippin, Thái Lan
Thời gian: Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu được thu thập từ năm 1990 – 2014
để tạo ra bộ dữ liệu bảng (Panel Data) Dữ liệu được thu thập và tổng hợp từ trang web World Bank và Fraser Institute (2013)
4 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu áp dụng phương pháp ước lượng GMM (General Method of Moments) trên nền tảng kiểm định Sargan để kiểm định mối quan hệ giữa dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế Sử dụng phần mềm stata 12 để
hỗ trợ xử lý dữ liệu
5 Bố cục luận văn
Nội dung chính của luận văn bao gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
Chương 2: Thực trạng tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế tại một số nước khu vực Đông Nam Á
Chương 3: Kết luận và đề xuất giải pháp thu hút dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam
Trang 13CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ 1.1 Tổng quan lý thuyết
1.1.1 Khái niệm đầu tư trực tiếp nước ngoài
Việc quốc tế hóa thị trường đã khuyến khích các công ty xây dựng cách tiếp cận đa dạng để kinh doanh quốc tế, dẫn đến hoạt động rộng lớn như đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) Tồn tại nhiều định nghĩa về FDI, chẳng hạn theo Griffin & Pustay (2007), FDI được xem là việc kiểm soát 10% hoặc hơn chứng khoán có quyền biểu quyết của doanh nghiệp hoặc các lợi ích tương đương trong một doanh nghiệp chưa hợp nhất Farrell (2008) định nghĩa FDI như là một gói vốn, công nghệ, quản lý và điều hành cho phép công ty có thể hoạt động và cung cấp hàng hóa, dịch vụ trong một thị trường nước ngoài
Theo Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (International Monetary Fund, IMF) định nghĩa:
“đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment, FDI) là một công cuộc đầu
tư ra khỏi biên giới quốc gia, trong đó người đầu tư trực tiếp (direct investor) đạt được một phần hay toàn bộ quyền sở hữu lâu dài một doanh nghiệp đầu tư trực tiếp (direct investment enterprise) trong một quốc gia khác Quyền sở hữu này tối thiểu phải là 10% tổng số cổ phần của doanh nghiệp”
Tổ chức thương mại Thế Giới (World Trade Organization, WTO) cho rằng:
“Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) xảy ra khi một nhà đầu tư từ một nước (nước đầu tư) có được một tài sản ở một nước khác (nước nhận đầu tư) cùng với quyền quản lý tài sản đó Phương diện quản lý là thứ để phân biệt FDI với các công cụ tài chính khác Trong phần lớn trường hợp, cả nhà đầu tư lẫn tài sản mà người đó quản
lý ở nước ngoài là các cơ sở kinh doanh Trong những trường hợp đó, nhà đầu tư thường được gọi là “công ty mẹ” và các tài sản được gọi là “công ty con” hay “chi nhánh công ty”.”
1.1.2 Khái niệm tăng trưởng kinh tế
Trang 14Tăng trưởng kinh tế được hiểu khá thống nhất là sự tăng sản lượng thực tế của một nền kinh tế trong một khoảng thời gian Thước đo phổ biến là mức tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một năm hoặc mức tăng GDP bình quân đầu người trong một năm Một số nước sử dụng các chỉ số khác để xác định mức tăng trưởng kinh tế như: GNP (tổng sản phẩm quốc gia); GNI (tổng thu nhập quốc gia); NNP (sản phẩm quốc gia ròng) hoặc NNI (thu nhập quốc gia ròng) (Các chỉ số trên thường được tính trong một năm và đều có thể sử dụng theo tiêu chí bình quân trên đầu người)
“Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng bền vững về sản phẩm tính theo đầu người hoặc theo từng công nhân”, Simon Kuznet (1966) Hay như định nghĩa do Douglass C.North và Robert Paul Thomas (1973) đưa ra: “Tăng trưởng kinh tế xảy ra nếu sản lượng tăng nhanh hơn dân số”
Các nhà kinh tế học cổ điển đã sử dụng hai chỉ tiêu: tổng sản phẩm quốc dân (GNP) bình quân đầu người (GNP/người) và tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đầu người (GDP/người) để đo lường tốc độ tăng trưởng của một nền kinh tế
1.1.3 Các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế
Hiện nay có rất nhiều nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế của quốc gia nhưng tựu chung lại gồm có các nhân tố cơ bản sau:
Thứ nhất, nguồn nhân lực; Nhiều nhà kinh tế cho rằng nguồn nhân lực hay
vốn con người là yếu tố quan trọng nhất trong tăng trưởng kinh tế Theo Schultz (1961), vốn con người bao gồm thể trạng, trình độ học vấn, kỹ năng, kinh nghiệm, ý thức tổ chức và kỷ luật lao động Có thể nói: “nguồn lực con người là nguồn lực của mọi nguồn lực”, là “tài nguyên của mọi tài nguyên”
Vì vậy, con người có sức khoẻ, trí tuệ, tay nghề cao, có động lực và nhiệt tình, được tổ chức chặt chẽ sẽ là nhân tố cơ bản của tăng trưởng kinh tế
Thứ hai, vốn đầu tư; Vốn đầu tư là một trong những nhân tố quan trọng của
quá trình sản xuất Vốn đầu tư bao gồm: đầu tư tư nhân, đầu tư chính phủ và đầu tư nước ngoài Các quốc gia đang phát triển muốn tích lũy vốn trong
Trang 15tương lai cần có sự hy sinh tiêu dùng cá nhân trong hiện tại Vốn đầu tư của toàn xã hội không chỉ là máy móc, thiết bị dùng cho sản xuất, mà còn bao gồm
cả lượng vốn đầu tư để phát triển lợi ích chung của toàn xã hội Đó là lượng vốn đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng của quốc gia, mà phần lớn là do chính phủ đầu tư Ngoài ra, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài cũng đóng vai trò quan trọng không kém Các nhà kinh tế học đã chỉ ra mối liên hệ giữa tăng GDP với tăng vốn đầu tư Harod Domar đã nêu công thức tính hiệu suất sử dụng vốn, viết tắt là ICOR (Incremental Capital Output Ratio) Đó là tỷ lệ tăng đầu tư chia cho tỷ lệ tăng của GDP Những nền kinh tế thành công thường khởi đầu quá trình phát triển kinh tế với các chỉ số ICOR thấp, thường không quá 3%,
có nghĩa là muốn tăng 1% GDP thì vốn đầu tư phải tăng 3%
Thứ ba, tiến bộ công nghệ; Tiến bộ công nghệ có tác dụng thúc đẩy tăng
trưởng vì nó góp phần làm tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tiết kiệm lao động và vốn trên sản phẩm nên cùng lượng chi phí nhưng sản phẩm tạo ra nhiều hơn và mở ra các ngành nghề và sản phẩm mới Ngày nay với đà phát triển công nghệ nhất là công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới đã góp phần gia tăng hiệu quả sản xuất
Thứ tư, xuất khẩu; Tác động của xuất khẩu đối với tăng trưởng kinh tế được
thuật ngữ kinh tế gọi là “export-led growth”, nghĩa là tăng trưởng kinh tế dựa vào xuất khẩu Xuất khẩu có thể có tác động đến tăng trưởng kinh tế một cách trực tiếp vì nó là một thành phần của tổng sản phẩm hay một cách gián tiếp thông qua ảnh hưởng của nó đến các nhân tố của tăng trưởng Xuất khẩu làm tăng nhu cầu trong nền kinh tế và do vậy mở rộng thị trường cho sản xuất nội địa Việc hướng về xuất khẩu và cởi mở thương mại cải thiện quá trình tái phân bổ nguồn lực, làm tăng năng lực sử dụng nguồn lực và cạnh tranh của quốc gia Xuất khẩu làm tăng đầu tư trong nước cũng như thu hút đầu tư nước ngoài Xuất khẩu giúp giảm bớt thâm hụt cán cân thương mại Xuất khẩu thúc đẩy thay đổi công nghệ và cải thiện nguồn nhân lực, qua đó làm tăng năng suất
và cuối cùng xuất khẩu tạo thêm cơ hội việc làm, tăng thu nhập
Trang 16 Thứ năm, tài nguyên thiên nhiên; Mặc dù tiến bộ độ khoa học kỹ thuật không
ngừng phát triển và được áp dụng sâu rộng trong sản xuất Các yếu tố nhập lượng có nguồn gốc từ thiên nhiên ngày càng được sử dụng tiết kiệm và hiệu quả Tuy nhiên nhiều nguồn tài nguyên thiên nhiên vẫn đóng vai trò quyết định trong sản xuất sản phẩm của ngành và quốc gia (nông nghiệp, công nghiệp khai khoáng …) Thực tiễn minh chứng quốc gia nào có nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng, giàu về trữ lượng và chất lượng sẽ có nhiều thuận lợi trong thu hút FDI và ngược lại
1.2 Tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
Trong sự biến động của các dòng vốn vào những năm 1990, FDI là dòng vốn chính chảy vào các nước đang phát triển Không giống như nhưng dòng vốn khác, FDI ít biến động hơn và không thể hiện những xu hướng chu kỳ Do đó FDI trở thành dòng vốn được ưa thích ở những nước đang phát triển Dòng vốn FDI tăng nhanh chóng ở khắp các khu vực trên thế giới trong giai đoạn những năm 1980 và
1990 đã tạo nên những cuộc tranh cãi về lợi ích và chi phí của dòng vốn này Có một số luận điểm cho rằng, với một mức độ phát triển nhất định và một thể chế phù hợp, FDI có thể đóng vai trò then chốt trong quá trình tạo nên một môi trường kinh
tế tốt hơn Mặt khác, FDI vẫn còn tồn tại những mặt hạn chế như làm suy yếu cán cân thanh toán do việc chuyển lợi nhuận từ nước nhận đầu tư về nước đầu tư, tác động tiêu cực đến khả năng canh trạnh của các doanh nghiệp trong nước Hiện tại,
có một quan điểm chung cho rằng có một mối quan hệ tích cực giữa FDI và tăng trưởng ở những quốc gia đã đạt được một mức độ phát triển tối thiểu về giáo dục, công nghệ và cơ sở hạ tầng
Do thâm hụt tiết kiệm và thiếu hụt thanh khoản ở các nước đang phát triển, FDI được xem là một nguồn quan trọng trong việc bổ sung nguồn vốn mới cả về vật chất lẫn con người (Busse and Groizard, 2008) FDI được kỳ vọng sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tăng trưởng thông qua sự gia tăng nguồn vốn ở nước nhận đầu tư và gián tiếp thông qua phát triển nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ tiên tiến
Trang 17(de Mello,1999) Tuy nhiên, về mặt lý thuyết, tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Mô hình tăng trưởng tân cổ điển cho rằng tiến bộ công nghệ và lực lượng lao động là yếu tố ngoại sinh, FDI chỉ làm tăng sản lượng mà không giúp tăng trưởng kinh tế trong dài hạn FDI chỉ có thể kích thích tăng trưởng trong dài hạn thông qua tác động lên việc phát triển công nghệ và lực lượng lao động (Solow, 1956)
Trái ngược với mô hình tăng trưởng tân cổ điển, các mô hình tăng trưởng nội sinh nhấn mạnh rằng FDI có thể thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn thông qua các yếu tố như nghiên cứu và phát triển (Research and Development, R&D), nguồn nhân lực và hiệu ứng tràn (Romer, 1986; Lucas, 1988; Grossman và Helpman, 1991) Sự khác biệt nổi bật giữa hai mô hình này là trong khi mô hình tăng trưởng tân cổ điển giả định năng suất biên của vốn giảm dần trong dài hạn thì mô hình tăng trưởng nội sinh dựa trên giả định năng suất tăng theo quy mô Các tài liệu tăng trưởng nội sinh còn chỉ ra rằng, FDI không chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế thông qua việc hình thành vốn và chuyển giao công nghệ (Blomstrom et al, 1996; Borensztein et al, 1995) mà còn thông qua việc điều chỉnh tăng mức độ kiến thức thông qua đào tạo lao động và kỹ năng sát nhập và mua lại (de Mello 1997, 1999) Trong khuôn khổ của mô hình tăng trưởng nội sinh, FDI có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua ba kênh chính sau:
Thứ nhất, FDI tăng tích lũy vốn, tăng năng suất, cung cấp công nghệ mới cho các nước tiếp nhận (Dunning, 1993; Blomstrom et al, 1996; Borensztein et al 1998.) FDI không chỉ bổ sung nguồn vốn đầu tư phát triển mà còn là luồng vốn ổn định hơn so với các luồng vốn đầu tư quốc tế khác, bởi FDI dựa trên quan điểm dài hạn về thị trường, về triển vọng tăng trưởng và không tạo ra nợ cho chính phủ nước nhận đầu tư, do vậy ít có thay đổi khi có tình huống bất lợi Trong những lý thuyết tăng trưởng mới, tầm quan trọng của việc thay đổi công nghệ cho tăng trưởng kinh tế đã được nhấn mạnh (Grossman và Helpman, 1991; Barro và Sala-i-Martin, 1995) Tốc độ tăng trưởng của các nước kém phát triển được cho là có thể phụ thuộc nhiều vào mức độ mà các
Trang 18quốc gia này có thể áp dụng và triển khai công nghệ mới có sẵn từ các nước phát triển Bằng cách thích ứng các ý tưởng mới về công nghệ, các nước kém phát triển có thể bắt kịp với trình độ công nghệ của các nước phát triển Một trong những kênh quan trọng để các nước kém phát triển có thể tiếp cận và thực hiện các công nghệ mới chính là FDI FDI được coi là nguồn quan trọng
để phát triển công nghệ của nước nhận đầu tư Vai trò này được thể hiện qua hai khía cạnh chính là chuyển giao công nghệ có sẵn từ bên ngoài vào và sự phát triển công nghệ của các cơ sở nghiên cứu, ứng dụng của nước chủ nhà
Do có công nghệ cùng với trình độ quản lý được nâng lên nên đối với các ngành sản xuất thì việc tăng năng suất là điều tất yếu Không những thế những công nghệ này còn cho ra những sản phẩm có chất lượng cao hơn, tính năng
đa dạng hơn, bền hơn và với những mẫu mã đa dạng, hàng hoá lúc này sẽ nhiều và tất nhiên sẽ rẻ hơn so với trước Điều này chính là cung tăng lên nhưng thực ra nó tăng lên để đáp ứng lại lượng cầu cũng tăng lên rất nhanh do quá trình đầu tư tác động vào Tốc độ quay của vòng vốn tăng lên nhanh hơn,
do vậy sản phẩm cũng được sản xuất ra nhiều hơn và tiêu thụ cũng nhiều hơn
Do sự tiêu thụ được tăng lên do vậy các ngành sản xuất, dịch vụ được tiếp thêm một luồng sức sống mới, nhân lực, máy móc và các nguyên vật liệu được đem ngay vào sản xuất, từ đó đóng góp của các ngành này vào GDP cũng tăng lên
Thứ hai, FDI làm tăng mức độ kiến thức và kỹ năng ở nước sở tại thông qua lao động và quản lý đào tạo (de Mello, 1996, 1999), giúp phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm Phát triển nguồn nhân lực và tạo việc làm là nhân tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Mục tiêu của nhà đầu tư nước ngoài
là thu được lợi nhuận tối đa, củng cố vị thế và duy trì lợi thế cạnh tranh trên thị trường thế giới Do đó, nhà đầu tư nước ngoài đặc biệt quan tâm đến việc tận dụng nguồn lao động rẻ ở các nước tiếp nhận đầu tư Số lượng lao động trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp FDI có xu hướng tăng nhanh ở các nước đang phát triển Ngoài ra, các hoạt động cung ứng dịch vụ và gia công
Trang 19cho các dự án FDI góp phần tạo thêm nhiều cơ hội nghề nghiệp FDI cũng có tác động tích cực trong phát triển nguồn nhân lực của nước tiếp nhận đầu tư Các cá nhân làm việc cho các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có cơ hội học hỏi, nâng cao trình độ bản thân khi tiếp cận với công nghệ và kỹ năng quản lý tiên tiến Các doanh nghiệp FDI cũng có thể tác động tích cực đến việc cải thiện nguồn nhân lực làm việc tại các doanh nghiệp khác có mối quan hệ, đặc biệt là các doanh nghiệp đối tác Những cải thiện về nguồn nhân lực ở các nước tiếp nhận đầu tư còn có thể đạt hiệu quả lớn hơn khi các cá nhân làm việc trong các doanh nghiệp FDI chuyển sang làm việc cho các doanh nghiệp trong nước hoặc tự thành lập doanh nghiệp mới
Thứ ba, FDI tăng tính cạnh tranh trong ngành công nghiệp nước tiếp nhận đầu
tư bằng cách vượt qua những rào cản gia nhập thị trường Cùng với việc gia nhập thị trường của các nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường nội địa, nơi mà các nhà đầu tư trong nước chiếm giữ phần lớn thị phần, tuy nhiên ưu thế về thị phần sẽ không kéo dài đối với nhà đầu tư trong nước khi ưu thế về nguồn lực của nhà đầu tư nước ngoài trội hơn hẳn Chính vì vậy các nhà đầu tư trong nước phải đổi mới cả quá trình sản xuất của mình từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ bằng việc cải tiến công nghệ và phương pháp quản lý để có thể trụ vững trên thị trường Đây chính là một trong những thử thách tất yếu của nền kinh tế thị trường đối với các nhà sản xuất trong nước
Các lý thuyết liên quan đến FDI cho rằng tác động tích cực của FDI đến tăng trưởng phụ thuộc vào điều kiện địa phương và khả năng hấp thụ Điều kiện địa phương gồm điều kiện tự nhiên (vị trí địa lý, địa hình, khí hậu…) và tài nguyên thiên nhiên (khoáng sản, tài nguyên đất, rừng…) Một quốc gia có điều kiện tự nhiên thuận lợi về địa hình, khí hậu cũng như nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú sẽ là lợi thế trong giao lưu với các nền kinh tế Do đó sẽ thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài vì ở đó sẽ đảm bảo cho ổn định sản xuất và thuận lợi cho xuất khẩu hàng hóa Khả năng hấp thụ của một quốc gia bao gồm trình độ nguồn nhân lực, độ mở của thương mại, thị trường tài chính, hệ thống chính sách, chất lượng cơ
Trang 20sở hạ tầng… Ở các nước đang phát triển, các nghiên cứu vĩ mô về mối quan hệ FDI-tăng trưởng đã chỉ ra rằng: một số nhân tố quan trọng như chế độ thương mại, nguồn nhân lực, các quy định của thị trường tài chính, hệ thống ngân hàng và mức
độ mở cửa của nền kinh tế - góp phần làm FDI tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế chung ( Balasubramanyam và cộng sự, 1996, 1999; Borensztein và cộng sự, 1998; Nair-Reichert và Weinhold, 2001; Aitken and Harrison, 1999)
Độ mở cửa thương mại: cũng đóng vai trò như một nhân tố cần thiết cho mối
quan hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế Nền kinh tế càng mở cửa thì mức độ giao thương, buôn bán càng mạnh, các doanh nghiệp sẽ có thị trường xuất nhập khẩu lớn hơn và có nhiều cơ hội hơn trong đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh
Lý thuyết tăng trưởng nội sinh, tiên phong của Romer (1986) và Lucas (1988) cũng đã cung cấp bằng chứng thuyết phục cho đề xuất sự gia tăng trong hoạt động xuất nhập khẩu có tác động dương đến tăng trưởng kinh tế Balasubramanyam và cộng sự (1996); UNCTAD (1998) đề xuất rằng tác động tích cực của FDI còn phụ thuộc vào độ mở cửa thương mại FDI góp phần mở rộng thị trường xuất khẩu thông qua các giao dịch của công ty đa quốc gia – kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ từ nước này sang nước khác
Nguồn nhân lực: Nguồn lực về con người thể hiện qua chất lượng và số lượng
lao động Mọi hoạt động sản xuất kinh doanh muốn thực hiện được phải cần nhân tố con người Khi một nên kinh tế có nguồn lao động dồi dào và đáp ứng được nhu cầu sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư nhanh chóng đưa dự
án vào hoạt động Số lượng lao động phụ thuộc vào quy mô dân số và tỉ lệ dân
số ở trong độ tuổi lao động, quốc gia có một nguồn lao động dồi dào sẽ đáp ứng được nhu cầu mở rộng quy mô sản xuất và vận hành dự án có quy mô lớn của nhà đầu tư nước ngoài Tuy nhiên, số lượng lao động nhiều vẫn chưa đủ, vấn đề quan trọng hơn hết là chất lượng lao động Khi lao động có chất lượng cao, họ
sẽ tham gia vào sản xuất tốt hơn vì những kiến thức họ có không phải là nhỏ, bao gồm cả những kiến thức cơ bản và kinh nghiệm qua thời gian Hơn nữa, họ
sẽ tiếp thu nhanh hơn những kiến thức về khoa học kỹ thuật, giảm bớt chi phí
Trang 21đào tạo cho nhà đầu tư Một số tác giả cho rằng việc ứng dụng các công nghệ mới và kỹ năng quản lý đòi hỏi đầu vào từ lực lượng lao động Những loại hàng hóa sử dụng mức thâm dụng vốn cao cần phải được kết hợp với lao động có trình độ để hiểu và làm việc với các công nghệ mới đó Borensztein và cộng sự (1998) đã tìm thấy mối liên hệ tích cực giữa FDI, tăng trưởng kinh tế và trình
độ của lực lượng lao động Những quốc gia có trình độ lao động cao sẽ đạt được nhiều lợi ích từ FDI hơn những quốc gia có trình độ lao động thấp thông qua quá trình chuyển giao công nghệ
Sự ổn định môi trường kinh tế vĩ mô được nhìn nhận thông qua sự ổn định về
kinh tế xã hội, ổn định về chính trị, môi trường kinh doanh và ổn định trong các chính sách tiền tệ Một quốc gia muốn thu hút vốn đầu tư cho phát triển kinh tế
xã hội, trước hết, đó phải là nơi không xảy ra các cuộc chiến tranh và khủng bố
Đó phải là một quốc gia có các chính sách ổn định, các chính sách tiền tệ phải làm sao hạn chế được lạm phát và chống giảm phát, song vấn đề là ở chỗ làm sao để kiểm soát được lạm phát, giữ nó ở một tỷ lệ có lợi cho phát triển, tránh mất giá đồng tiền quá lớn Các nhà đầu tư không thể yên tâm và ổn định sản xuất tại một nước mà giá trị của đồng tiền nước đó liên tục thay đổi, nó ảnh hưởng trực tiếp đến việc xuất nhập khẩu của doanh nghiệp
Chất lượng cơ sở hạ tầng là yếu tố góp phần quan trọng hấp dẫn dòng vốn
FDI và là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến mối quan hệ FDI – tăng trưởng Chỉ có xây dựng một kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội phù hợp, thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh thì mới có thể thu hút vốn đầu tư, hấp dẫn dòng FDI đổ vào trong nước và tạo nền móng cho các dự án đầu tư được thực hiện nhanh chóng và hiệu quả Nếu hạ tầng cơ sở yếu kém và thiếu đồng bộ thì nhà đầu tư rất khó để triển khai dự án, chi phí đầu tư tăng cao, quyền lợi của nhà đầu tư không được bảo toàn
Hệ thống luật, quy định và các chính sách khyến khích đầu tư, kinh doanh:
Thời gian gần đây, một loạt các nghiên cứu được công bố đã kiểm tra mối liên
hệ giữa hiệu quả các quy định của thị trường tài chính, FDI và tăng trưởng Về
Trang 22bản chất, Hermes và Lensink (2003), Durham (2004) và Alfaro et al (2004) thấy rằng tất cả các nước có hệ thống tài chính tốt và các quy định của thị trường tài chính hiệu quả thì có thể khai thác FDI hiệu quả hơn và đạt được tốc
độ tăng trưởng cao hơn Những nghiên cứu này cho thấy rằng, các nước không chỉ cần một hệ thống ngân hàng ổn định, mà còn cần một cấu trúc thị trường tài chính phù hợp cho phép các doanh nghiệp có thể tiếp cận nguồn vốn tín dụng
để bắt đầu bắt đầu hoặc mở rộng hoạt động kinh doanh Ngoài ra một môi trường đầu tư thông thoáng và thuận tiên luôn là nơi mà các nhà đầu tư tìm đến
Có rất nhiều lý thuyết đề cập đến vấn đề các nhân tố tác động đến FDI ở các nước đang phát triển, và đều cho thấy tầm quan trọng của cơ sở hạ tầng, kỹ năng, môi trường vĩ mô ổn định và một hệ thống tài chính lành mạnh trong việc thu hút dòng vốn FDI (Borghesi and Giovannetti, 2003) Theo de Mello (1997) và OECD (2002), cho rằng các nước đang phát triển phải đạt được một mức độ nhất định của
sự phát triển, giáo dục và cơ sở hạ tầng, trước khi họ có thể nắm bắt những lợi ích tiềm năng liên quan đến FDI
Mặc dù đã có những lý thuyết ủng hộ cho những lợi ích của FDI, nhưng vẫn tồn tại quan điểm cho rằng FDI có thể sẽ tác động tiêu cực đến nước nhận đầu tư như lấn át đầu tư nội địa, chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, đe dọa an ninh quốc gia, làm mất ổn định tài chính và phụ thuộc vào vốn nước ngoài FDI không chỉ là chuyển quyền sở hữu từ trong nước cho người nước ngoài mà còn là một cơ chế giúp cho các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện quản lý và điều khiển các doanh nghiệp nội địa, là một cơ chế quản trị công ty Việc chuyển quyền kiểm soát từ các doanh nghiệp nội địa sang các doanh nghiệp FDI không phải lúc nào cũng mang lại lợi ích cho nước nhận đầu tư bởi vì vấn đề lựa chọn đối nghịch (Krugman, 1998) Thông qua FDI, các nhà đầu tư nước ngoài có được thông tin nội bộ quan trọng về năng lực của các doanh nghiệp thuộc quyền kiểm soát của họ Điều này mang lại cho họ một lợi thế thông tin hơn những nhà đầu tư trong nước – những cổ đông không tham gia kiểm soát Lợi dụng thông tin tốt này, các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài sẽ có xu hướng giữ lại các doanh nghiệp có năng suất cao thuộc sở hữu của
Trang 23mình và bán doanh nghiệp có năng suất thấp cho các nhà đầu tư nội địa không nắm
rõ thông tin Và với vấn đề lựa chọn đối nghịch này có thể dẫn đến việc đầu tư quá mức “overinvestment” của các nhà đầu tư nước ngoài
Việc sử dụng đòn bẩy quá mức cũng hạn chế lợi ích của FDI Cụ thể là các dự
án đầu tư tiến hành bởi các doanh nghiệp FDI chủ yếu dựa vào vốn vay từ thị trường tín dụng trong nước Và kết quả là tỷ lệ đầu tư tài trợ bằng nguồn vốn FDI không nhiều như kỳ vọng (vì các công ty con nước ngoài có thể vay với tài sản thế chấp trong nước và sau đó chuyển tiền lại cho công ty mẹ)
1.3 Các nghiên cứu thực nghiệm về tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế
Nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã cố gắng giải thích mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng Trong phần này, tác giả muốn tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm
đã có trước đây để có cái nhìn tổng quan về tác động của FDI lên tăng trưởng Wai-Mun et al (2008), sử dụng kiểm định Augmented Dickey-Fuller (ADF) Unit root tests, kiểm định Phillips-Peron (PP) test và phân tích hồi quy Ordinary Lest Square (OLS), dữ liệu chuỗi thời gian trong giai đoạn 1970 – 2005, bài nghiên cứu cho thấy mối quan hệ tích cực và có ý nghĩa giữa FDI và tăng trưởng ở Malaysia Do đó chính phủ nên khuyến khích các biện pháp để thu hút FDI, áp dụng những chính sách hỗ trợ giúp các doanh nghiệp trong nước có thể tiếp thu được những chuyển giao công nghệ từ FDI Đồng thời nên kiểm soát vấn đề tham nhũng, lạm phát và biến động tỷ giá
Li và Liu (2005) kiểm định mối quan hệ giữa FDI và tăng trưởng thông qua dữ liệu chéo của 84 quốc gia trong giai đoạn 1970 – 1999 và thấy rằng mối liên hệ mạnh mẽ giữa FDI và tăng trưởng ở cả nước phát triển và đang phát triển không chỉ dựa trên FDI mà còn dựa trên sự tương tác giữa FDI và những nhân tố quan trọng khác Theo phân tích của họ, mối quan hệ FDI, tăng trưởng chỉ thật sự có ý nghĩa từ giữa những năm 1980 Họ khẳng định lại quan điểm những quốc gia có thị trường rộng lớn sẽ thu hút được FDI Đồng thời, nguồn nhân lực và khả năng tiếp thu công
Trang 24nghệ không chỉ là nhân tố thu hút FDI, mà còn là nhân tố thúc đẩy tăng trưởng kinh
tế
Nghiên cứu của Nair (2010) Nghiên cứu này khảo sát tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ cho giai đoạn 1970-2007 Tác giả cho rằng quyết định của một công ty đa quốc gia đầu tư ra nước ngoài là bởi những lợi thế của năng suất cao và chi phí thấp Từ quan điểm của nước nhận đầu tư, lợi ích của FDI không chỉ tập trung ở tăng trưởng kinh tế; các công ty đa quốc gia còn mang về những quy trình và công nghệ sản xuất mới, giúp đào tạo lực lượng lao động Tuy nhiên dòng vốn FDI đổ vào một quốc gia còn bị ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố khác Sử dụng kiểm định nhân quả Granger Causality Tests, bài nghiên cứu tìm thấy hai nhân tố đặc biệt quan trọng ảnh hưởng đến tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Ấn
Độ đó là nguồn nhân lực sẵn có và độ mở cửa thương mại Kết quả chỉ ra rằng, mối liên kết tích cực giữa FDI và tăng trưởng trở nên mạnh hơn khi kết hợp với hai biến tương tác trên
Borensztein và cộng sự (1995) kiểm định về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở 69 nước đang phát triển, giai đoạn 1970 – 1989 Kết quả nghiên cứu cho thấy nhìn chung FDI có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, mặc dù mức độ tác động phụ thuộc vào nguồn vốn nhân lực sẵn có ở nước nhận đầu tư Hồi quy xuyên quốc gia cũng cho thấy ảnh hưởng tích cực của FDI đến đầu tư nội địa và tác động của FDI lên mỗi quốc gia sẽ khác nhau phụ thuộc vào mức độ phát triển của nguồn vốn nhân lực quốc gia đó
Akinlo (2004) đã thực hiện một nghiên cứu thực nghiệm về FDI và tăng trưởng ở Nigeria trong giai đoạn 1970 – 2001 Sử dụng kiểm định ADF, PP tests và phân tích tương quan, tác giả kết luận rằng FDI ở Nigeria có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế với một độ trễ nhất định Kết quả cho thấy rằng FDI trong lĩnh vực khai thác dầu mỏ có thể không kích thích tăng trưởng kinh tế bằng FDI trong lĩnh vực sản xuất Bài nghiên cứu cũng chỉ ra rằng xuất khẩu, lao động và nguồn vốn nhân lực có mối liên hệ tích cực đến tăng trưởng Tác giả cũng kiến nghị chính
Trang 25phủ nên có những chính sách để khuyến khích dòng vốn FDI vào những ngành có năng suất cao, đặc biệt là ngành sản xuất, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết của việc ngăn chặn sự chuyển vốn ra khỏi quốc gia, việc này làm FDI tác động tiêu cực đến nền kinh tế trong ngắn hạn
Trong bài nghiên cứu thực nghiệm của Saqib và cộng sự (2013), nghiên cứu
về tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở Pakistan giai đoạn 1981 – 2010, sử dụng sáu biến trong đó GDP là biến phụ thuộc, biến độc lập là các biến FDI; tổng nợ; tổng tiết kiệm trong nước; lạm phát; ngoại thương Kết quả cho thấy một mối quan hệ tiêu cực và có ý nghĩa giữa FDI và biến phụ thuộc GDP Các biến còn lại như tổng nợ, lạm phát, ngoại thương cũng thể hiện mối quan hệ tiêu cực với GDP Kết luận của bài nghiên cứu là đầu tư nội địa ở Pakistan mang lại nhiều lợi ích hơn
là sử dụng nguồn vốn FDI Và đề xuất chính phủ Pakistan nên có những chính sách
để khuyến khích tiết kiệm và đầu tư nội địa
Carkovick and Levine (2002) với nghiên cứu “Does Foreign Direct
Investment Accelerate Economic Growth?” sử dụng ước lượng Generalize Method
of Monments (GMM), dữ liệu bảng trong giai đoạn từ 1960 - 1995 của 72 quốc gia, cho thấy không có mối liên hệ giữa FDI và tăng trưởng kinh tế
Bài nghiên cứu sử dụng dữ liệu bảng kiểm định tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế ở 12 nước Châu Phi tiểu Sahara giai đoạn 1975 – 1999 của Sukar và cộng sự (2011) Kết quả chỉ ra rằng tác động của FDI đối với tăng trưởng kinh tế là tích cực nhưng không đáng kể và không có ý nghĩa thống kê ở mức ý nghĩa 5% Kết quả này phù hợp với nghiên cứu của Aitken và Harrison (1999), cho rằng tác động của FDI đến tăng trưởng kinh tế là yếu
Adams, S (2015) với nghiên cứu nhằm kiểm định ảnh hưởng của FDI đến tăng trưởng kinh tế và xem xét cơ chế quản lý tác động thế nào đến mối quan hệ FDI – tăng trưởng của 22 nước tiểu Châu Phi khu vực Saharan ,trong giai đoạn 1980-2011 Sử dụng mô hình GMM, kỹ thuật ước lượng, bài nghiên cứu chỉ ra cả FDI và các điều luật (luật thị trường tín dụng, luật kinh doanh và luật về thị trường
Trang 26lao động ) đều ko có ý nghĩa tác động nếu tách riêng, mà sự tương tác giữa chúng mới có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Điều này ngụ ý rằng hiệu ứng tăng trưởng kinh tế của FDI sẽ xảy ra trong điều kiện các quy định , luật phải hiệu quả Do đó cần có những biện pháp để tăng cường thêm hiệu quả của luật ở các nước tiểu châu phi Saharan để có thể thu được lợi ích từ FDI
Dựa trên bảng 1.1, tổng hợp kết quả của những nghiên cứu trước đây về mối quan hệ FDI, tăng trưởng của Ozturk (2007), có thể thấy rõ trong hầu hết các nghiên cứu, FDI đều có tác động tích cực đến tăng trưởng
Bảng 1.1 : Tổng hợp những nghiên cứu thực nghiệm trước
Tác giả Mẫu nghiên cứu Thời gian Tác động của FDI lên tăng
1950 - 1985 Mối tương quan cùng chiều và
có ý nghĩa thống kê giữa FDI
và tăng trưởng Fry (1993) 16 nước đang
phát triển (trong
đó có 5 nước thuộc khu vực Đông Á)
1966 – 1988 Cùng chiều cho toàn bộ mẫu
Trang 271970 – 1989 FDI chỉ tác động cùng chiều
đến tăng trưởng chỉ khi nước nhận đầu tư đạt một trình độ nhất định về nguồn vốn nhân lực
1970 – 1985 Cùng chiều cho toàn bộ mẫu
nghiên cứu
Mody and
Wang (1997)
7 vùng duyên hải Trung Quốc
1985 – 1989 Cùng chiều
Oloffsdotter
(1998)
50 nước đang phát triển
1980 – 1990 Cùng chiều
Nyatepe-Coo
(1998)
4 nước khu vực Đông Nam Mỹ,
4 nước Mỹ Latinh, 4 nước Châu Phi tiểu Saharan
1963 – 1992 Cùng chiều
Bosworth and
Collins (1999)
58 nước đang phát triển
1978 – 1995 Cùng chiều thông qua tác động
lên năng suất các nhân tố tổng hợp
Trang 28De Mello
(1999)
15 nước thuộc OECD và 15 nước không thuộc OECD
1970 – 1990 Cùng chiều, nhưng tác động
yếu đối với những nước OECD; tác động ngược chiều đối với những nước không thuộc OECD
1970 - 1994 FDI có tác động cùng chiều
đến tăng trưởng ở 3 trên 5 nước thuộc mẫu nghiên cứu FDI có tác động ngược chiều đến tăng trưởng ở Singapore
và Thái Lan
UNCTAD
(2000)
100 nước kém phát triển
1970 – 1995 Cùng chiều
Bengoa (2000) 18 nước Mỹ
Latinh
1972 – 1997 Mối tương quan cùng chiều và
có ý nghĩa thống kê giữa FDI
và tăng trưởng nếu tồn tại một ngưỡng tối thiểu của sự phát triển "năng lực xã hội”
Nair-Reichert
and Weinhold
(2001)
24 nước đang phát triển
1971 – 1995 Cùng chiều
Lensink and 115 nước 1975 – 1998 Cùng chiều
Trang 29Cùng chiều nhưng còn phụ thuộc vào độ mở cửa thương mại
Hermes and
Lensink
(2003)
67 nước đang phát triển
1970 – 1995 Tác động cùng chiều đến tăng
trưởng ở 37 nước thuộc khu vực Mỹ Latinh và Châu Á; những nước còn lại thì không tác động
Trang 30KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Trong chương 1, tác giả tổng hợp cơ sở lý thuyết về đầu tư trực tiếp nước ngoài và tăng trưởng kinh tế Đồng thời chương 1 còn giới thiệu một số bài nghiên cứu thực nghiệm phân tích các yếu tố tác động đến tăng trưởng và cụ thể hơn là FDI tác động thế nào đến tăng trưởng để tạo tiền đề đi vào nghiên cứu và phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của các nước trong khu vực Đông Nam Á trong chương 2
Trang 31CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TÁC ĐỘNG CỦA ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI ĐẾN TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ CỦA MỘT SỐ NƯỚC
KHU VỰC ĐÔNG NAM Á 2.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại một số nước trong khu vực Đông Nam Á
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations – ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 phản ánh nguyện vọng của 5 nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines) với mong muốn hình thành một tổ chức khu vực vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển
Năm 1984 Brunei gia nhập ASEAN, tiếp theo là Việt Nam vào năm 1995, Lào
và Myanmar năm 1997, và Campuchia năm 1999 Với chặng đường gần 45 năm xây dựng và phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của các nước nghèo, chậm phát triển đã vươn lên thành khu vực phát triển kinh tế năng động với dân số gần 600 triệu người, diện tích 4,5 triệu km2, quy mô GDP đạt gần 900 tỷ và tổng giá trị thương mại khoảng 800 tỷ USD (Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Hoàng Giáp, 2012)
Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (Association of Southeast Asian Nations – ASEAN) được thành lập ngày 8/8/1967 phản ánh nguyện vọng của 5 nước Đông Nam Á (Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Philippines) với mong muốn hình thành một tổ chức khu vực vì mục tiêu hòa bình, hợp tác và phát triển
Năm 1984 Brunei gia nhập ASEAN, tiếp theo là Việt Nam vào năm 1995, Lào
và Myanmar năm 1997, và Campuchia năm 1999 Với chặng đường gần 45 năm xây dựng và phát triển, ASEAN từ Hiệp hội của các nước nghèo, chậm phát triển đã vươn lên thành khu vực phát triển kinh tế năng động với dân số gần 600 triệu người, diện tích 4,5 triệu km2, quy mô GDP đạt gần 900 tỷ và tổng giá trị thương mại khoảng 800 tỷ USD (Nguyễn Thị Quế và Nguyễn Hoàng Giáp, 2012)
ASEAN là khu vực rất năng động trên thế giới và có tốc độ tăng trưởng hàng năm ở mức cao, đạt 5.2% năm 2013, và ước tính đạt mức 5.5% năm 2014 Tỷ lệ
Trang 32lạm phát bình quân của khu vực cũng ở mức độ không cao, dưới mức ngưỡng lạm phát 11% (theo Khan và Sehadji, 2001)
Năm 2013, dòng vốn FDI chảy vào khu vực Asean đã tăng nhanh chóng đạt mức 126 tỷ USD, đẩy mức FDI tích lũy đạt 1,6 nghìn tỷ USD Mặc dù dòng vốn FDI toàn cầu có xu hướng giảm ở năm 2014, nhưng FDI đầu tư vào khu vực này lại tăng, đạt 133 tỷ USD năm 2014, chiếm 11% tổng vốn FDI toàn cầu
Đi vào phân tích tình hình của sáu quốc gia trong mẫu nghiên cứu, ta thấy hầu hết các quốc gia đều chịu ảnh hưởng từ 2 cuộc khủng hoảng kinh tế năm 1997 –
1998 và khủng hoảng tài chính 2007 – 2008
Tăng trưởng GDP bình quân đầu người
Đối với cả 6 quốc gia trong bài nghiên cứu: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam đều chịu ảnh hưởng từ cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và 1998 Xu hướng chung của tăng trưởng GDP bình quân đầu người của các quốc gia này có sự sụt giảm nghiêm trọng, thể hiện sự suy giảm đột ngột từ khi khủng hoảng nổ ra
Xu hướng này tiếp tục diễn ra sau cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 bắt nguồn từ Mỹ và lan rộng ra toàn thế giới, Asean không phải là một ngoại lệ
Tăng trưởng GDP bình quân đầu người của các quốc gia Asean có xu hướng phục hồi sau khủng hoảng, tuy nhiên mức độ phục hồi là không giống nhau cho các quốc gia Vì vậy, trong phân tích của mỗi quốc gia sẽ tập trung các giai đoạn mà ở
đó có sự khác biệt nếu so sánh giữa các quốc gia
Tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP
Khác với tăng trưởng GDP bình quân đầu người, tình hình tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP đối với cả 6 quốc gia trong bài nghiên cứu: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam diễn biến khá phức tạp Vẫn tồn tại biến động chung của tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP, tuy nhiên xu hướng này không thực sự quá rõ ràng
Trang 33Vì vậy, trong phân tích trọng tâm đi vào từng quốc gia cụ thể sẽ tập trung vào những nguyên nhân gây ra sự không đồng nhất trong xu hướng biến động của tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP
Philippines và Thái Lan là 2 quốc gia trong 6 nước trên có tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP tăng trong năm 1998 Tuy nhiên đây không phải là điều đi ngược lại tác động của cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và 1998,
vì chỉ vài năm sau đó, xu hướng giảm mới là xu hướng chung của 2 quốc gia này Giải thích cho điều này, chính là việc cả 2 quốc gia đều chậm chịu tác động của cuộc khủng hoảng
Indonesia, Malaysia, Singapore, và Việt Nam là 4 quốc gia chịu ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng kinh tế Châu Á 1997 khi ngay lập tức thể hiện sự sụt giảm khi khủng hoảng xảy ra
Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 tiếp tục cho thấy sự khác biệt về xu hướng của tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP cho mỗi quốc gia Nói chung, tùy vào tình hình của mỗi quốc gia mà tác động của các cuộc khủng hoảng là không giống nhau
2.1.1 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Indonesia
Biểu đồ 2.1: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Indonesia giai đoạn 1990 -2014 (%/năm)
Nguồn: Từ nguồn số liệu tác giả tự tổng hợp
Trang 34Chính phủ Indonesia nhìn nhận FDI như là một nguồn lực đầy tiềm năng cho phát triển kinh tế cũng như xóa đói giảm nghèo (WorldBank, 2011) Dòng vốn FDI vào Indonesia thay đổi tương ứng với những thay đổi chính sách, dù đôi khi có những khoảng lặng Những cải cách chính sách quan trọng giữa những năm 1980 đã mang đến một sự thay đổi đột biến của dòng vốn FDI Indonesia cũng được hưởng lợi từ sự bùng nổ đầu tư ra nước ngoài của Nhật Bản sau Hiệp ước Plaza 1985, đồng Yên tăng giá đã đẩy các doanh nghiệp Nhật Bản đầu tư ra các nước Đông Nam Á Sau đó, các doanh nghiệp từ các nước công nghiệp mới cũng bắt đầu di chuyển cơ
sở sản xuất đến các địa điểm chi phí thấp hơn trong khu vực châu Á Một lượng lớn các doanh nghiệp FDI định hướng xuất khẩu tập trung vào khu vực sản xuất thâm dụng lao động như dệt và may mặc
Những cải cách tiếp theo năm 1994 đã thúc đẩy lượng FDI tăng gấp đôi trong năm 1995 Những nỗ lực đó đã giúp Indonesia thu hút lượng FDI vượt qua hầu hết các quốc gia châu Á vào năm 1996 và trở thành điểm đến phổ biến nhất thứ tám đối với dòng vốn FDI trong khu vực các quốc gia đang phát triển trong năm đó
Các cuộc khủng hoảng tài chính châu Á vào năm 1997 và 1998 đã giáng một đòn chí mạng làm sụt giảm dòng vốn FDI vào Indonesia Kể từ năm 2000, nền kinh
tế Indonesia phục hồi tương đối chậm so với các nước châu Á bị ảnh hưởng khủng hoảng khác, đặc biệt là về dòng vốn FDI và xuất khẩu Với sự ổn định kinh tế vĩ mô
và chính trị dần dần phục hồi, niềm tin của nhà đầu tư đã bắt đầu quay trở lại FDI
đã đóng góp 2,03% GDP của Indonesia trong 2010
2.1.2 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Malaysia
Biểu đồ 2.2: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Malaysia giai đoạn 1990 -2014(%/năm)
Trang 35Nguồn: Từ nguồn số liệu tác giả tự tổng hợp
Malaysia nổi bật là một trong những nước phát triển kinh tế thành công tại Châu Á trong vài thập kỷ qua Từ một nước nông nghiệp khi mới độc lập với sản phẩm cao su và thiếc chiếm một nửa GDP, Malaysia đã trở thành một nước có nền kinh tế mở và đa dạng
Trong thập niên 1990, Malaysia đã phải đối mặt với rất nhiều khó khăn về tiết kiệm và đầu tư Trước tình hình đó, Malaysia đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế thông qua hoạt động mở rộng mạnh mẽ tiêu dùng và đầu tư, tiếp theo là tự do hóa thương mại và tài chính, trở thành một điểm đến hấp dẫn cho nhà đầu tư ở trên thế giới Thông qua việc tham gia tự do hóa tài chính, cải cách, ổn định kinh tế vĩ mô và tư nhân hóa, Malaysia đã tăng nhanh dòng vốn nước ngoài Với những nỗ lực của Malaysia trong tiến trình chuyển giao từ tiềm năng tăng trưởng cao và thu hút dòng vốn vào ổn định dưới hình thức đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Trong nền kinh tế Malaysia, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài định hướng xuất khẩu đóng vai trò đầu tàu trong phát triển kinh tế Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu thời kỳ năm 2008 -2009, dòng vốn đầu tư nước ngoài đã giảm mạnh nhưng lại nhanh chóng lấy lại đà tăng trưởng vào năm 2010 Năm 2011 dòng vốn FDI có giảm nhẹ, sau đó tăng đều từ năm 2012 trở lại đây Dự kiến trong các năm tới, dòng vốn FDI sẽ ổn định và tăng dần
2.1.3 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Philippines
Trang 36Biểu đồ 2.3: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Philippines giai đoạn 1990 -2014(%/năm)
Nguồn: Từ nguồn số liệu tác giả tự tổng hợp
Cùng với sự nỗ lực tự do hóa trong đầu những năm 1990, dòng vốn FDI đã tăng ổn định trong giai đoạn 1991 – 1994 Mặc dù dòng vốn FDI vào Philippines giảm đáng kể trong năm 2001, một số phục hồi đã xảy ra như FDI tăng từ năm 2004 đến năm 2007 Trong điều kiện của FDI phân theo ngành, một sự thay đổi cấu trúc được diễn ra, dòng vốn vào lĩnh vực sản xuất chậm lại trong khi dòng vốn vào lĩnh vực dịch vụ tài chính và viễn thông đặc biệt là tiếp tục tăng
2.1.4 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Singapore
Biểu đồ 2.4: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Singapore giai đoạn 1990-2014(%/năm)
Nguồn: Từ nguồn số liệu tác giả tự tổng hợp
Trang 37Trong khi nhiều nước ASEAN có thế mạnh về tài nguyên và con người nhưng vẫn luẩn quẩn trong vòng thu nhập trung bình, thì Singapore lại có những bước phát triển thần kỳ, dù khi mới trở thành một nhà nước tự chủ năm 1959, nước này có xuất phát điểm thấp, với nguồn tài nguyên gần như ở con số không Có được điều này một phần quan trọng là nhờ vào nguồn vốn FDI quy mô lớn, liên tục chảy vào quốc đảo ngay cả trong những năm gần đây kinh tế thế giới rơi vào khủng hoảng Singapore đã xác định rõ việc thu hút nguồn vốn FDI tập trung vào ba lĩnh vực cần ưu tiên là: ngành sản xuất mới, xây dựng và xuất khẩu Bên cạnh đó, tùy từng điều kiện cụ thể của mỗi thời kỳ, Singapore chủ trương thu hút FDI vào các ngành thích hợp Ban đầu, do cơ sở kinh tế ở điểm xuất phát thấp, Singapore chủ trương sử dụng FDI vào các ngành tạo ra sản phẩm xuất khẩu, như: dệt may, lắp ráp các thiết
bị điện và phương tiện giao thông… Cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghiệp điện tử và một số công nghệ tiên tiến khác, hướng sử dụng nguồn vốn đầu tư tập trung vào những ngành, như: sản xuất máy vi tính, điện tử, hàng bán dân dụng, công nghiệp lọc dầu và kỹ thuật khai thác mỏ để khai thác ưu thế về vị trí địa lý, cũng như khắc phục sự thiếu hụt về tài nguyên thiên nhiên, phù hợp với trình độ phát triển cao của nền kinh tế, thu hút FDI còn hướng vào việc tạo ra một hệ thống các ngành dịch vụ thúc đẩy đầu tư quốc tế
Chính phủ Singapore đã tạo nên một môi trường kinh doanh ổn định, hấp dẫn cho các nhà đầu tư nước ngoài Chính phủ đã công khai khẳng định, không quốc hữu hoá các doanh nghiệp nước ngoài Bên cạnh đó, Singapore cũng rất chú trọng xây dựng kết cấu hạ tầng, phục vụ cho hoạt động sản xuất Thủ tục cấp giấy phép đơn giản, thuận tiện, có những dự án xin cấp giấy phép rồi đi vào sản xuất chỉ trong vòng vài tháng, có những dự án chỉ trong vòng 49 ngày đã có thể đi vào sản xuất Hiện tượng này được gọi là “kỳ tích 49 ngày” ở Singapore Đặc biệt, Singapore đã xây dựng được hệ thống pháp luật hoàn thiện, nghiêm minh, công bằng và hiệu quả
Tệ nạn tham nhũng được xét xử rất nghiêm, tất cả các doanh nghiệp không kể trong nước, ngoài nước đều được đối xử như nhau, mọi người đều làm việc, tuân thủ theo pháp luật Bên cạnh đó, Nhà nước trả lương rất cao cho viên chức Hàng tháng họ
Trang 38phải trích lại một phần lương coi như là một khoản tiền tiết kiệm khi về hưu, nếu trong quá trình công tác mà phạm tội tham ô thì sẽ bị cắt khoản tích lũy này và cách chức Họ không những mất số tiền do mình tích cóp nhiều năm, mà có thể phải chịu hình phạt tù Nhiều người gọi đây là quỹ dưỡng liêm cho quan chức
Chính phủ Singapore đã ban hành những chính sách khuyến khích các nhà tư bản nước ngoài bỏ vốn vào đầu tư Singapore áp dụng chính sách ưu đãi rất đặc biệt, đó là: Khi kinh doanh có lợi nhuận, nhà đầu tư nước ngoài được tự do chuyển lợi nhuận về nước; Nhà đầu tư có quyền cư trú nhập cảnh (đặc quyền về nhập cảnh
và nhập quốc tịch); Nhà đầu tư nào có số vốn ký thác tại Singapore từ 250.000 Đô
la Singapore trở lên và có dự án đầu tư thì gia đình họ được hưởng quyền công dân Singapore
2.1.5 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Thái Lan
Biểu đồ 2.5: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Thái Lan giai đoạn 1990 – 2014(%/năm)
Nguồn: Từ nguồn số liệu tác giả tự tổng hợp
Tại Thái Lan, thu hút FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan trọng đối với nền kinh tế Mặc dù dòng vốn nước ngoài suy giảm do ảnh hưởng của bất ổn chính trị, nhưng nhờ biết cách tập trung vào những lĩnh vực quan trọng như thu hút thêm các dự án chế tạo có giá trị gia tăng cao cũng như các dự án đầu tư vào lĩnh vực công nghệ cao và sinh thái…, đồng thời đơn giản hóa thủ tục
Trang 39hành chính, Thái Lan vẫn được xem là điểm đến đầu tư hấp dẫn Để thu hút được lượng lớn vốn FDI từ nước ngoài, Thái Lan đã có một số khung chính sách khuyến khích hoạt động đầu tư như: trình tự thủ tục cấp giấy phép đầu tư, các lĩnh vực khuyến khích đầu tư hoặc bị hạn chế đầu tư, chính sách ưu đãi đầu tư
2.1.6 Tình hình đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam
Biểu đồ 2.6: Tăng trưởng GDP bình quân đầu người và tỷ trọng dòng vốn FDI vào ròng trên GDP của Việt Nam giai đoạn 1990 – 2014(%/năm)
Nguồn: Từ nguồn số liệu tác giả tự tổng hợp
Trong giai đoạn 1990 – 1992, FDI chưa có tác động rõ rệt đến tình hình kinh
tế - xã hội, do mới thực thi Luật Đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam nên kết quả thu hút FDI còn ít
Thời kỳ 1993 – 1996, dòng vốn FDI đã tăng lên và có tác động tích cực đến tình hình kinh tế - xã hội, cụ thể là dòng vốn FDI vào ròng chiếm tỷ trọng 9.71% GDP ở năm 1996, đạt mức gần 2.4 tỷ USD gấp gần 13 lần lượng vốn FDI ở năm
1990, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế từ mức 3.12% năm 1990 lên 7.6% năm
1996 Đây được xem là thời kỳ “bùng nổ” FDI tại Việt Nam Các nhà đầu tư nước ngoài bị thu hút bởi tiềm năng của một nền kinh tế đang trong thời kỳ chuyển đổi với một thị trường phần lớn còn chưa được khai thác Thêm đó, các nhà đầu tư nước ngoài còn bị hấp dẫn bởi hàng loạt các yếu tố tích cực khác như lực lượng lao động dồi dào, nhân công giá rẻ, tỷ lệ biết chữ cao
Trang 40Trong cuộc khủng hoảng tài chính 1997 – 1998, Việt Nam cũng trải qua một giai đoạn tụt dốc của FDI Năm nước đầu tư lớn nhất vào Việt Nam (Đài Loan, Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hồng Kông) đều từ khu vực Châu Á và phải đối mặt với những khó khăn thực sự tại quốc gia của mình Để bảo đảm cho hoạt động kinh doanh tại nước mình, các nhà đầu tư này đã buộc phải hủy hoặc hoãn các kế hoạch mở rộng ra nước ngoài, làm cho lượng vốn FDI vào chỉ còn xấp xỉ khoảng 1.3 tỷ USD, chiếm khoảng 3.7% GDP trong những năm 1999 – 2001 Sau đó là giai đoạn phục hồi chậm của dòng vốn FDI vào Việt Nam Khi cuộc khủng hoảng tiền tệ trong khu vực xảy ra, mặc dù nằm ngoài “tâm bão” nhưng Việt Nam lại là một trong những nước có FDI giảm sút mạnh nhất Trong năm nước trực tiếp xảy ra khủng hoảng kinh tế, chỉ có Indonesia, nước có cả bất ổn về chính trị là có tỷ lệ giảm FDI nhiều hơn Việt Nam Còn Thái Lan, Philippines và Hàn Quốc sau khủng hoảng, FDI đều tăng hơn trước Do vậy, tình hình giảm sút FDI chủ yếu là do nguyên nhân chủ quan từ hệ thống pháp luật thiếu minh bạch, nhất quán, cho đến việc thực thi pháp luật không nghiêm minh, thủ tục hành chính phiền hà, chi phí đầu
tư và kinh doanh tương đối cao, đã làm cho môi trường đầu tư ở Việt Nam kém hấp dẫn hơn trước
Trong giai đoạn 2007-2009, vốn FDI vào Việt Nam đã có sự gia tăng mạnh
mẽ từ trở lại Thậm chí, trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế thế giới (2010-2012), dòng vốn đầu tư toàn cầu suy giảm nhưng FDI vào Việt Nam vẫn đạt mức đăng ký cao và đã có sự phục hồi trở lại từ năm 2013
2.2 Phân tích tác động của đầu tư trực tiếp nước ngoài đến tăng trưởng kinh tế của một số nước trong khu vực Đông Nam Á
2.2.1 Mô hình nghiên cứu
Mô hình nghiên cứu định lượng dựa trên cơ sở mô hình nghiên cứu của Adams (2015), trong đó biến độc lập và biến phụ thuộc được lượng hóa theo nguyên tắc cơ bản là giữ nguyên bản chất của biến và công thức tính toán Mô hình