DANH MỤC HÌNH Hình A: Quy trình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiệ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-Phan Văn Dũng
CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN
CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH
-Phan Văn Dũng CÁC NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG KIỂM TOÁN CỦA CÁC DOANH NGHIỆP KIỂM TOÁN VIỆT NAM
THEO ĐỊNH HƯỚNG TĂNG CƯỜNG NĂNG LỰC CẠNH TRANH
TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP QUỐC TẾ
Chuyên ngành: Kế toán
Mã số: 62.34.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS TS MAI THỊ HOÀNG MINH
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Người hướng dẫn khoa học
Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong Luận án là trung thực và chưa từng được
ai công bố trong bất kỳ công trình khoa học nào khác, ngoại trừ một số kết quả được công bố trong các công trình khoa học của chính Tác giả
Tất cả những nội dung được kế thừa, tham khảo từ nguồn tài liệu khác đều được Tác giả trích dẫn đầy đủ và ghi nguồn cụ thể trong Danh mục các tài liệu tham khảo
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
PHAN VĂN DŨNG
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu, Viện Đào tạo Sau Đại học, Khoa Kế toán - Kiểm toán Trường Đại học Kinh tế TP HCM, đặc biệt là PGS.TS Mai Thị Hoàng Minh – Người hướng dẫn khoa học đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn và tạo điều kiện trong suốt quá trình nghiên cứu và thực hiện Luận án
Xin cảm ơn sự giúp đỡ nhiệt tình và hữu ích của lãnh đạo Bộ Tài chính; Vụ Chế độ Kế toán và Kiểm toán; UBCKNN; Kiểm toán Nhà nước; VCCI; VAA; VACPA; ACCA; CPA Australia; Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm và Quý Giảng viên khoa Kế toán - Kiểm toán các trường Đại học Kinh tế TP.HCM, Đại học Kinh tế - Luật – Đại học Quốc gia TP.HCM, Đại học Kinh tế - Đại học Đà Nẵng, Đại học Ngân hàng, Đại học Sài Gòn, Đại học Công nghiệp TP HCM, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Nguyễn Tất Thành, Đại học Tài chính - Marketing, Đại học Nha Trang, Đại học Duy Tân; Tạp chí Kinh tế - Phát triển - Trường Đại học Kinh tế TP HCM, Tạp chí Kinh tế và Hội nhập, Tạp chí Kế toán - Hội Kế toán, Tạp chí Nghiên cứu khoa học về Kiểm toán - Kiểm toán Nhà nước, Hội thảo Quốc tế về Kinh tế - Tài chính - 2014 lần 1 (IFCE); Cục thuế TP HCM, Vũng Tàu, Khánh Hòa, Long An; Ban quản lý Khu chế xuất – Khu công nghiệp TP HCM; BGĐ, Kế toán trưởng các doanh nghiệp tại các Khu chế xuất – Khu công nghiệp TP HCM; Ban Quản trị, BGĐ cùng KTV các DNKT Đã hỗ trợ, trao đổi và chia sẻ, đánh giá và đóng góp ý kiến quý báu trong suốt quá trình nghiên cứu, khảo sát, thu thập dữ liệu
Xin chân thành cảm ơn Quý Thành viên Hội đồng bảo vệ Luận án các cấp, đã đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình hoàn thiện Luận án
Xin bày tỏ sự cảm ơn đến các Thân hữu, Đồng nghiệp và Gia đình đã động viên, chia sẻ và tạo điều kiện thuận lợi để Luận án được hoàn thành!
Tác giả Luận án
Trang 5MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Danh mục bảng ix
Danh mục hình x
Danh mục các chữ viết tắt xii
PHẦN GIỚI THIỆU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu nghiên cứu 2
3 Câu hỏi nghiên cứu 2
4 Đối tượng nghiên cứu 2
5 Phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 3
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án 5
8 Kết cấu của Luận án 5
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC 7
1.1 Tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện về nhân tố tác động đến CLKT và NLCT của DNKT 7
1.1.1 Các nghiên cứu đã thực hiện về nhân tố tác động đến CLKT 7
1.1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến CLKT 7
1.1.1.2 Các nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến CLKT 29
1.1.2 Các nghiên cứu đã thực hiện về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT 34
1.1.2.1 Các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT 34
1.1.2.2 Các nghiên cứu trong nước về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT 35
1.1.3 Các nghiên cứu đã thực hiện về tác động của CLKT đến NLCT của DNKT 37
1.2.Những kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước và những vấn đề tiếp tục nghiên cứu 38
1.2.1 Những kết quả đạt được từ các nghiên cứu trước 38
1.2.1.1 Đối với các nghiên cứu có liên quan đến nhân tố tác động đến CLKT 38
1.2.1.2 Đối với các nghiên cứu có liên quan đến các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT 40
1.2.1.3 Đối với các nghiên cứu có liên quan đến mối liên quan giữa CLKT và NLCT của DNKT41 1.2.2 Các vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu và được thực hiện trong Luận án 42
Kết luận Chương 1 44
Trang 6CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 45
2.1 Một số vấn đề chung và cơ sở lý thuyết có liên quan đến các nhân tố tác động đến CLKT 45 2.1.1 Một số vấn đề chung về kiểm toán và CLKT 45
2.1.1.1 Định nghĩa về kiểm toán 46
2.1.1.2 Đặc điểm của kiểm toán 46
2.1.1.3 Chất lượng và đặc điểm của chất lượng 47
2.1.1.4 Chất lượng kiểm toán 48
2.1.1.5 Chuẩn mực quốc tế về kiểm soát chất lượng (ISQC1) 51
2.1.1.6 Khuôn khổ IAASB về CLKT 51
2.1.2 Cơ sở lý thuyết các nhân tố tác động đến CLKT 53
2.1.2.1 Lý thuyết Ủy nhiệm 53
2.1.2.2 Lý thuyết Cung cầu 54
2.1.3 Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLKT được sử dụng trong Luận án 56 2.2.Một số vấn đề chung và cơ sở lý thuyết có liên quan đến các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT 58
2.2.1 Một số vấn đề chung về cạnh tranh và NLCT 58
2.2.1.1 Khái niệm về cạnh tranh 58
2.2.1.2 Đặc điểm của cạnh tranh 58
2.2.1.3 Năng lực cạnh tranh 59
2.2.2 Cơ sở lý thuyết có liên quan đến các nhân tố tác động đến NLCT và tác động của CLKT đến NLCT của DNKT 59
2.2.2.1 Lý thuyết về cạnh tranh và Lý thuyết cạnh tranh đón đầu tương lai 60
2.2.2.2 Lý thuyết cạnh tranh dựa trên Nguồn lực của doanh nghiệp (RBV) 62
2.2.2.3 Lý thuyết cạnh tranh dựa trên năng lực của doanh nghiệp (CBV) 63
2.2.3 Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến NLCT được sử dụng trong Luận án 64 2.2.4 Mô hình nghiên cứu CLKT và các nhân tố CLKT tác động đến NLCT 66
Kết luận Chương 2 68
Trang 7CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 69
3.1.Phương pháp nghiên cứu và quy trình nghiên cứu 69
3.1.1 Phương pháp nghiên cứu 69
3.1.2 Quy trình nghiên cứu 71
3.2.Nguồn dữ liệu, phương pháp thu thập và phân tích dữ liệu trong nghiên cứu định tính 72 3.2.1 Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu 72
3.2.2 Đối tượng khảo sát trong nghiên cứu định tính 74
3.2.3 Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu định tính 75
3.2.3.1 Quy trình thực hiện 75
3.2.3.2 Phương pháp phân tích dữ liệu định tính 76
3.3.Nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu trong nghiên cứu định lượng 77
3.3.1 Nguồn dữ liệu của nghiên cứu định lượng 77
3.3.2 Đối tượng khảo sát và mẫu khảo sát trong nghiên cứu định lượng 77
3.3.2.1 Đối tượng khảo sát 77
3.3.2.2 Quy mô mẫu khảo sát 77
3.3.3 Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu định lượng 78
3.4.Mô hình nghiên cứu và phương trình hồi quy tổng quát 81
3.4.1 Mô hình nghiên cứu 81
3.4.2 Phương trình hồi quy tổng quát 83
Kết luận Chương 3 84
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ BÀN LUẬN 85
4.1 Kết quả nghiên cứu về thực trạng hoạt động KTĐL, CLKT và NLCT của DNKT Việt Nam 85
4.1.1 Thực trạng CLKT và NLCT của DNKT Việt Nam 85
4.1.2 Đánh giá về CLKT và NLCT của các DNKT Việt Nam 90
4.1.3 Nguyên nhân của thực trạng 90
4.2.Kết quả nghiên cứu định tính khám phá các nhân tố tác động đến CLKT theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 91
4.2.1 Phương pháp và quy trình thực hiện 91
4.2.1.1 Phương pháp thực hiện và đối tượng khảo sát 91
4.2.1.2 Quy trình thực hiện 92
4.2.2 Kết quả nghiên cứu định tính 95
4.2.3 Kiểm tra kết quả nghiên cứu định tính 100
Trang 84.2.4 Bàn luận từ kết quả nghiên cứu định tính 101
4.3.Kết quả nghiên cứu định lượng và bàn luận 104
4.3.1 Các giả thuyết nghiên cứu 105
4.3.1.1 Các giả thuyết nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam 105
4.3.1.2 Các giả thuyết nghiên cứu các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam 105 4.3.1.3 Các giả thuyết nghiên cứu về tác động của CLKT đến NLCT của DNKT Việt Nam 106 4.3.2 Phát triển thang đo 106
4.3.3 Mẫu nghiên cứu 109
4.3.4 Kết quả đo lường các nhân tố tác động đến CLKT của các DNKT Việt Nam 110 4.3.4.1 Kết quả kiểm định chất lượng thang đo 110
4.3.4.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 112
4.3.4.3 Phân tích hồi quy đa biến (MRA) 116
4.3.4.4 Kết quả kiểm định giả thuyết các nhân tố tác động đến CLKT của các DNKT Việt Nam 119
4.3.4.5 Bàn luận từ kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLKT của các DNKT Việt Nam 120
4.3.5 Kết quả nghiên cứu các nhân tố tác động đến NLCT 121
4.3.5.1 Kết quả kiểm định chất lượng thang đo 121
4.3.5.2 Kết quả phân tích nhân tố khám phá (EFA) 123
4.3.5.3 Phân tích hồi quy đa biến (MRA) 126
4.3.5.4 Kết quả kiểm định giả thuyết các nhân tố tác động đến NLCT 129
4.3.5.5 Bàn luận về kết quả 130
4.3.6 Kết quả nghiên cứu tác động của CLKT đến NLCT của DNKT Việt Nam 132
4.3.6.1 Phân tích hồi quy đa biến (MRA) 132
4.3.6.2 Bàn luận về kết quả 135
4.3.7 Kết quả nghiên cứu các nhân tố CLKT theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 135
4.3.7.1 Giả thuyết nghiên cứu 136
4.3.7.2 Phân tích hồi quy đa biến (MRA) 136
4.3.7.3 Kết quả kiểm định giả thuyết các nhân tố tác động đến CLKT theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 140
4.3.7.4 Bàn luận về kết quả 141
Kết luận Chương 4 142
Trang 9CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH 145
5.1.Kết luận và đóng góp của nghiên cứu 145
5.1.1 Kết luận 145
5.1.2 Đóng góp của Luận án 146
5.2.Quan điểm và định hướng nâng cao CLKT, tăng cường NLCT của DNKT Việt Nam 151
5.2.1 Quan điểm nâng cao CLKT và NLCT của DNKT Việt Nam 151
5.2.2 Định hướng nâng cao CLKT, tăng cường NLCT của các DNKT Việt Nam 151
5.3.Định hướng giải pháp nâng cao CLKT và NLCT của các DNKT Việt Nam 152
5.3.1 Định hướng giải pháp nâng cao CLKT của các DNKT Việt Nam 152
5.3.2 Định hướng giải pháp nâng cao NLCT của các DNKT Việt Nam 155
5.3.3 Điều kiện để thực hiện các giải pháp 157
5.4.Ý nghĩa khoa học – thực tiễn, hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 159
5.4.1 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 159
5.4.2 Hạn chế của nghiên cứu và hướng nghiên cứu tiếp theo 160
KẾT LUẬN 161
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN xiv
TÀI LIỆU THAM KHẢO xv
Trang 10PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách các DNKT đang hoạt động tại Việt Nam 1/PL Phụ lục 2: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến các nhân tố tác động đến CLKT 6/PL Phụ lục 3: Các nhân tố tác động đến CLKT theo nghiên cứu của nước ngoài và Việt Nam 10/PL Phụ lục 4: Khuôn khổ CLKT (IAASB, 2014) 12/PL Phụ lục 5: Dàn bài thảo luận chính thức 16/PL Phụ lục 6: Danh sách Chuyên gia được phỏng vấn trong nghiên cứu định tính 17/PL Phụ lục 7: Danh sách các DNKT là thành viên các hãng KT quốc tế (15/04/2015)18/PL Phụ lục 8: Tổng hợp các nhân tố khám phá CLKT qua ý kiến phỏng vấn sâu Chuyên gia 19/PL Phụ lục 9: Tổng hợp các nhân tố khám phá NLCT qua ý kiến phỏng vấn sâu Chuyên gia 36/PL Phụ lục 10: Kết quả nghiên cứu định tính các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam 56/PL Phụ lục 11: Kết quả nghiên cứu định tính các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam 58/PL Phụ lục 12: Bảng khảo sát kiểm tra kết quả nghiên cứu định tính các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh, tác động của chất lượng kiểm toán đến năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế 60/PL Phụ lục 13: Các khái niệm phục vụ cho việc đo lường các nhân tố 63/PL Phụ lục 14: Kết quả khảo sát kiểm tra các nhân tố phát hiện trong nghiên cứu định tính 72/PL Phụ lục 15: Bảng khảo sát nghiên cứu định lượng 74/PL Phụ lục 16: Kết quả nghiên cứu nhân tố tác động đến CLKT các DNKT Việt Nam 80/PL Phụ lục 17: Kết quả nghiên cứu nhân tố tác động đến NLCT các DNKT Việt Nam 119/PL Phụ lục 18: Bảng giá trị tới hạn Chi bình phương 165/PL Phụ lục 19: Danh sách đơn vị được khảo sát 166/PL Phụ lục 20: Danh sách các đối tượng tham gia khảo sát 170/PL
Trang 11DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Tóm tắt Khuôn khổ CLKT theo IAASB, 2014 53
Bảng 3.1: Số lượng mẫu và cơ cấu đối tượng khảo sát 78
Bảng 4.1: Cơ cấu các DNKT - Theo loại hình doanh nghiệp 86
Bảng 4.2: Cơ cấu nhân viên trong ngành kiểm toán 87
Bảng 4.3: So sánh doanh thu DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam 87
Bảng 4.4: So sánh doanh thu bình quân trên DNKT của DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam 88
Bảng 4.5: So sánh năng suất bình quân trên KTV của DNKT nước ngoài và DNKT Việt Nam 89
Bảng 4.6: Tình hình chất lượng dịch vụ kiểm toán của các DNKT qua kết quả kiểm tra hàng năm 89
Bảng 4.7: Kết quả nghiên cứu định tính các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 96
Bảng 4.8: Kết quả nghiên cứu định tính các nhân tố tác động đến NLCT 97
Bảng 4.9: Các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 99
Bảng 4.10: Các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam 100
Bảng 4.11: Thang đo các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT của DNKT Việt Nam 107
Bảng 4.12: Cơ cấu mẫu khảo sát dùng trong nghiên cứu định lượng – Theo vị trí công tác 109
Bảng 4.13: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định chất lượng thang đo các nhân tố tác động đến CLKT của các DNKT Việt Nam 110
Bảng 4.14: Kết quả kiểm định các giả thuyết về các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam 119
Bảng 4.15: Tầm quan trọng của các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam 121
Bảng 4.16: Bảng tổng hợp kết quả kiểm định chất lượng thang đo các nhân tố tác động đến NLCT 121
Bảng 4.17: Kết quả kiểm định các giả thuyết về các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam 130
Bảng 4.18: Tầm quan trọng của các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam 131
Bảng 4.19: Kết quả kiểm định các giả thuyết các nhân tố tác động đến CLKT theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 140 Bảng 4.20: Tầm quan trọng của các nhân tố CLKT theo định hướng tăng cường NLCT 142
Trang 12DANH MỤC HÌNH
Hình A: Quy trình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh
trong điều kiện hội nhập quốc tế 4
Hình 1.1: Các quan điểm về CLKT 10
Hình 1.2: Mô hình CLKT của Wooten (2003) 16
Hình 1.3: Mô hình Auditqual của Duff (2004) 18
Hình 1.4: Mô hình Quả cầu các nhân tố tác động đến CLKT 20
Hình 1.5: Khung CLKT của Defond & Zhang (2014) 21
Hình 1.6: Các nhân tố tác động đến CLKT - Theo các nghiên cứu của nước ngoài 28
Hình 1.7: Các nhân tố tác động đến CLKT - Theo các nghiên cứu ở Việt Nam 33
Hình 2.1: Khung các Nhóm nhân tố tác động đến CLKT 52
Hình 2.2: Mô hình các nhân tố tác động đến CLKT 57
Hình 2.3: Mô hình 5 động lực cạnh tranh 60
Hình 2.4: Mô hình Kim Cương 61
Hình 2.5: Mối quan hệ giữa các nguồn lực, năng lực và lợi thế cạnh tranh 63
Hình 2.6: Các yếu tố chủ yếu của Mô hình APP 65
Hình 2.7: Mô hình Năng lực động 67
Hình 3.1: Quy trình nghiên cứu hỗn hợp 72
Hình 3.2: Quy trình phân tích dữ liệu định tính 76
Hình 3.3: Quy trình và phương pháp phân tích dữ liệu định lượng 81
Hình 3.4: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam 82
Hình 3.5: Mô hình nghiên cứu các nhân tố tác động đến NLCT của DNKT Việt Nam 82
Hình 3.6: Mô hình nghiên cứu CLKT và các nhân tố CLKT theo định hướng tăng cường NLCT của DNKT Việt Nam 82
Hình 3.7: Mô hình phân tích tương quan tổng quát 83
Hình 4.1: Quá trình khám phá nhân tố CLKT của DNKT Việt Nam – Qua nghiên cứu định tính 94
Hình 4.2: Quá trình khám phá nhân tố NLCT của DNKT Việt Nam – Qua nghiên cứu định tính 94
Hình 4.3: Kiểm định về tính thích hợp của phương pháp và dữ liệu thu thập (KMO and Bartlett) 112
Hình 4.4: Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố tác động đến CLKT của DNKT Việt Nam (Total Variance Explained) 112
Trang 13Hình 4.5: Ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 113
Hình 4.6: Thang đo điều chỉnh Cronbach‟s Alpha và phân tích nhân tố khám phá 115
Hình 4.7: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy (Coefficients) 116
Hình 4.8: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summary) 117
Hình 4.9: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai - ANOVA) 117
Hình 4.10: Mô hình hồi quy phụ (Model Summary) 118
Hình 4.11: Kết quả nghiên cứu định lượng các nhân tố tác động đến CLKT của các DNKT Việt Nam 119
Hình 4.12: Kiểm định tính thích hợp giữa phương pháp và dữ liệu thu thập (KMO and Bartlett's) 123
Hình 4.13: Kiểm định mức độ giải thích của các biến quan sát đối với nhân tố 123
Hình 4.14: Bảng kết quả ma trận nhân tố xoay (Rotated Component Matrixa) 124
Hình 4.15: Thang đo điều chỉnh Cronbach‟s Alpha và phân tích nhân tố khám phá 126 Hình 4.16: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy (Coefficients) 127
Hình 4.17: Kiểm định mức độ thích hợp của mô hình (Model Summary) 128
Hình 4.18: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai - ANOVA) 128
Hình 4.19: Mô hình hồi quy phụ (Model Summary) 129
Hình 4.20: Kết quả nghiên cứu định lượng các nhân tố tác động đến NLCT 130
Hình 4.21: Kết quả kiểm định tác động của CLKT đến NLCT của DNKT Việt Nam 132
Hình 4.22: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy (Coefficients) 133
Hình 4.23: Kiểm định mức độ giải thích của mô hình (Model Summary) 133
Hình 4.24: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai - ANOVA) 134
Hình 4.25: Mô hình hồi quy phụ (Model Summary) 135
Hình 4.26: Kiểm định tương quan từng phần của các hệ số hồi quy (Coefficients) 137
Hình 4.27: Kiểm định mức độ thích hợp của mô hình (Model Summary) 138
Hình 4.28: Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình (phương sai - ANOVA) 138
Hình 4.29: Mô hình hồi quy phụ (Model Summary) 139
Hình 4.30: Kết quả nghiên cứu định lượng các nhân tố tác động đến CLKT theo định hướng tăng cường NLCT trong điều kiện hội nhập quốc tế 140
Hình 5.1: Khung phân tích các nhân tố tác động đến CLKT 150
Trang 14DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
AAA American Accounting Association
(Hiệp hội Kế toán Mỹ)
ACCA Association of Chartered Certified Accountants
(Hiệp hội Kế toán công chứng Anh)
ADB Asian Development Bank
(Ngân hàng Phát triển Châu Á)
BCTC Báo cáo tài chính
CEO Chief Executive Officer
(Giám đốc điều hành)
CLKT Chất lƣợng kiểm toán
CMKiT Chuẩn mực Kiểm toán
CPAA Certified Public Accountant Australia
(Hội Kế Toán Công Chứng Úc)
DNKT Doanh nghiệp kiểm toán
DNNY Doanh nghiệp niêm yết
(Ủy ban Châu Âu)
GAO Government Accountability Office
(Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ)
GATS General Agreement on Trade in Services
(Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ)
IAASB The International Auditing and Assurance Standards Board
(Uỷ ban Chuẩn mực Kiểm toán Quốc tế)
ICAA The Institute of Chartered Accountants Australia
(Viện Kế toán công chứng Úc)
ICAEW Institute of Chartered Accountants in England and Wales
(Viện Kế toán công chứng Anh và Xứ Wales)
ICPAS Institute of Certified Public Accountants of Singapore
(Viện Kế toán công chứng Singapore)
Trang 15IDW Institute of Public Auditors in Germany
(Hội Kiểm toán viên công chứng Đức)
IFAC International Federation of Accountants
(Liên đoàn Kế toán Quốc tế)
IIA The Institute of Internal Auditors
(Hiệp hội Kiểm toán viên nội bộ)
IMD International Institute for Management Development
(Học viện Phát triển Quản trị Quốc tế)
PCAOB Public Company Accounting Oversight Board
(Ủy ban Giám sát hoạt động kiểm toán)
R&D Research & Development
(Nghiên cứu và Phát triển)
RBV Resource Based View of Firm
(Lý thuyết Nguồn lực doanh nghiệp)
SSC State Securities Commission of Vietnam
(Ủy ban Chứng khoán Nhà nước)
TPP Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement
(Hiệp định Đối tác Kinh tế Chiến lược xuyên Thái Bình Dương)
VAA Vietnam Association of Accountants and Auditors
(Hội Kế toán và Kiểm toán Việt Nam)
VACPA Vietnam Association of Certified Public Accountants
(Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam)
VCCI Vietnam Chamber of Commerce and Industry
(Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam)
(Ngân hàng Thế Giới)
WEF The World Economic Forum
(Diễn đàn Kinh tế Thế giới)
WTO World Trade Organization
(Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 16và đo lường, phụ thuộc vào cảm nhận của Người sử dụng, trong khi đó sự cảm nhận phụ thuộc rất nhiều vào sự xét đoán của từng cá nhân, do vậy khó có thể dẫn đến một quan điểm thống nhất
Việt Nam đã chính thức gia nhập WTO, là thành viên TPP, Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC) và đang tiếp tục thực hiện lộ trình đã cam kết, theo đó, từ năm 2015 sẽ
mở cửa hoàn toàn các dịch vụ tài chính; Trong xu thế toàn cầu hóa, chất lượng sản phẩm hàng hóa dịch vụ, năng lực cạnh tranh ngày càng có vai trò quan trọng trong quá trình cạnh tranh trên thị trường Do vậy, sự thành công của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam phụ thuộc rất nhiều vào chất lượng kiểm toán và khả năng cạnh tranh trên thị trường để có thể đạt được vị thế cạnh tranh bền vững Trong khi đó, theo đánh giá của Bộ Tài chính (2011, 2015): “Quy mô và chất lượng kiểm toán độc lập vẫn chưa đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội, chất lượng kiểm toán chưa đạt mong muốn và còn rất khó khăn để được khu vực và quốc tế thừa nhận, sự cạnh tranh giữa các Doanh nghiệp kiểm toán còn vì lợi ích cục bộ, chưa thông qua cạnh tranh để nâng cao trình độ, kinh nghiệm chuyên môn, cũng như phát triển nghề nghiệp kiểm toán, phát sinh tình trạng cạnh tranh không lành mạnh như giảm giá phí kiểm toán, dẫn đến chất lượng kiểm toán không đảm bảo” Thực trạng này đòi hỏi cần có nhiều nghiên cứu về chất lượng kiểm toán theo định hướng nâng cao năng lực cạnh tranh của Doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng hiện nay
Trang 17Để đáp ứng yêu cầu trên, trên cơ sở khoảng trống lý thuyết trong các nghiên cứu trước, yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tế thế giới và thực trạng chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam Tác giả
thực hiện nghiên cứu với đề tài: “Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán
của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế” nhằm góp phần làm sáng tỏ vấn đề
đang được quan tâm về mặt lý luận và đưa ra các gợi ý về mặt chính sách nhằm giúp cho các cơ quan hữu quan, đề ra các giải pháp giải quyết các vấn đề cấp thiết trong thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam một cách hữu hiệu
2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu chung của đề tài là khám phá nhân tố chất lượng kiểm toán và đo lường tác động của các nhân tố đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
Mục tiêu cụ thể:
Chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam hiện nay
Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế
3 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được 2 mục tiêu nghiên cứu trên, các câu hỏi nghiên cứu sau giúp xác lập quy trình nghiên cứu của Luận án:
Q1: Thực trạng của chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của các doanh
nghiệp kiểm toán Việt Nam trong điều kiện hiện nay?
Q2: Những nhân tố nào tác động đến chất lượng kiểm toán của các doanh nghiệp
kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong giai đoạn hội nhập kinh tế hiện nay?
4 Đối tượng nghiên cứu
Từ các mục tiêu nghiên cứu trên, đối tượng nghiên cứu trong Luận án này là các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện
hội nhập quốc tế
Trang 185 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu được thực hiện đối với các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực kiểm toán tại Việt Nam (xem Phụ lục 1: Danh sách các doanh nghiệp kiểm toán đang hoạt động tại Việt Nam) Phạm vi nghiên cứu không bao gồm hoạt động Kiểm toán Nhà nước và Kiểm toán nội bộ
Nghiên cứu được thực hiện tập trung vào việc khám phá các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán, đo lường tác động của chất lượng kiểm toán đến năng lực cạnh tranh theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam, không đi sâu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh cũng như tác động của năng lực cạnh tranh đến chất lượng kiểm toán
Thời gian nghiên cứu: Được thực hiện từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2015 Địa bàn nghiên cứu và khảo sát được thực hiện tại các khu vực tập trung nhiều doanh nghiệp kiểm toán với quy mô lớn, hoạt động kiểm toán đa dạng và phong phú như: TP Hà Nội, TP Đà Nẵng, TP Hồ Chí Minh
6 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong Luận án này là phương pháp nghiên cứu hỗn hợp, kết hợp giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Trong đó, phương pháp nghiên cứu định tính nhằm mục tiêu khảo sát sự hình thành và phát triển, thực trạng về chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam cũng như khám phá các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán
và năng lực cạnh tranh, sự tác động của chất lượng kiểm toán nói chung và nhân tố chất lượng kiểm toán nói riêng đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam qua việc phân tích tài liệu từ các nghiên cứu trước, báo cáo tổng kết và phương pháp phỏng vấn sâu Phương pháp nghiên cứu định lượng được thực hiện ở bước tiếp theo Trong đó các nhân tố được xác định trong bước nghiên cứu định tính
sẽ được sử dụng trong nghiên cứu định lượng để đo lường mức độ tác động của từng nhân tố đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam Quy trình nghiên cứu được thể hiện qua hình A: Quy trình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế”
Trang 19Vấn đề nghiên cứu
Các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Cơ sở lý thuyết
Nghiên cứu lý thuyết nền tảng về chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh,
tác động của chất lượng kiểm toán đến năng lực cạnh tranh
và tổng quan các nghiên cứu trước có liên quan đến đề tài nghiên cứu.
Nghiên cứu định tính
- Thu thập dữ liệu từ Báo cáo tổng kết và tài liệu có liên quan đến mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng Đề cương thảo luận và thực hiện phỏng vấn sâu với Chuyên gia
- Phân tích và thảo luận kết quả khảo sát, so với các nghiên cứu trước
- Khám phá các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh, tác động của chất lượng kiểm toán và các nhân tố chất lượng kiểm toán đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam làm cơ sở cho bước nghiên cứu định lượng
- Kiểm tra kết quả nghiên cứu định tính bằng phương pháp thống kê
Nghiên cứu định lượng
- Thiết kế Bảng câu hỏi khảo sát và khảo sát thử
- Xác định đối tượng khảo sát, phương pháp chọn mẫu, kích thước mẫu
- Gửi Phiếu khảo sát và nhận kết quả trả lời
- Làm sạch dữ liệu và xử lý dữ liệu
- Đánh giá độ tin cậy, kiểm định chất lượng thang đo (Cronbach’s Alpha),
phân tích nhân tố khám phá (EFA)
- Đo lường mức độ tác động của các nhân tố qua mô hình hồi quy (MRA)
- Kiểm định mức độ phù hợp của mô hình
Bàn luận và đề xuất quan điểm, định hướng nâng cao chất lượng kiểm toán, tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
trong điều kiện hội nhập quốc tế
- Bàn luận về kết quả nghiên cứu về thực trạng, đánh giá chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
- Bàn luận về kết quả nghiên cứu định tính và đưa ra quan điểm định hướng liên quan đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
- Bàn luận về kết quả nghiên cứu định lượng và đưa ra quan điểm định hướng liên quan đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
Hình A: Quy trình nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán của
doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam theo định hướng tăng cường năng lực cạnh tranh trong điều kiện hội nhập quốc tế
Trang 207 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Ý nghĩa khoa học
Trên cơ sở nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh của các nghiên cứu trước và đặc biệt là trong điều kiện cụ thể ở Việt Nam, Luận án đã khám phá các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh, các nhân tố chất lượng kiểm toán tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam và chỉ ra mức độ cũng như thứ tự tác động của các nhân tố chất lượng kiểm toán có tác động đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam
Ý nghĩa thực tiễn
Nhờ vào việc khám phá và chỉ ra các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh, tác động của các nhân tố chất lượng kiểm toán đến năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam một cách có hệ thống mà Luận án có thể là
tư liệu tham khảo cho các tổ chức và cá nhân nghiên cứu về hoạt động kiểm toán độc lập ở Việt Nam
8 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần Giới thiệu, Luận án được chia thành 5 chương được trình bày theo thứ tự với các nội dung chính như sau:
Phần Giới thiệu: Trình bày sự cần thiết của nghiên cứu, mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận án
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu trước
Chương này trình bày tổng quan và phân tích đánh giá các nghiên cứu đã thực hiện
về các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán; Kết quả đạt được từ những nghiên cứu trước và những vấn đề tiếp tục nghiên cứu Từ đó chỉ ra khoảng trống lý thuyết mà Luận án sẽ tập trung giải quyết Chương 2: Cơ sở lý thuyết
Trong Chương này trình bày một số vấn đề chung về kiểm toán, chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh, đồng thời giới thiệu các lý thuyết có liên quan được dùng làm nền tảng cho việc nghiên cứu các nhân tố tác động đến chất lượng kiểm toán
và năng lực cạnh tranh Qua cơ sở lý thuyết đã được nghiên cứu, trong Chương này sẽ đưa ra định nghĩa về chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh, thang đo chất lượng kiểm toán, năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam và mô hình nghiên cứu được sử dụng trong Luận án
Trang 21Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Trong Chương này trình bày phương pháp nghiên cứu, quy trình nghiên cứu, các bước thực hiện nghiên cứu, nguồn dữ liệu, phương pháp chọn mẫu, quy trình thu thập, phân tích và xử lý dữ liệu theo từng giai đoạn nghiên cứu định tính và định lượng Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận
Chương này trình bày kết quả của việc nghiên cứu: Thực trạng chất lượng kiểm toán và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam; Kết quả nghiên cứu định tính, định lượng và đưa ra các bàn luận về kết quả đã đạt được trong các bước nghiên cứu định tính và định lượng
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Chương này đưa ra các kết luận đã đúc kết được từ quá trình và kết quả nghiên cứu, qua đó, đưa ra các quan điểm định hướng và đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng kiểm toán, tăng cường năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp kiểm toán Việt Nam Trong chương này cũng nêu rõ ý nghĩa khoa học thực tiễn, hạn chế của nghiên cứu và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC
Chương này thực hiện việc hệ thống hóa những nghiên cứu đã thực hiện có liên quan đến các nhân tố tác động đến CLKT, NLCT và tác động của CLKT đến NLCT của các DNKT trong thời gian qua ở nước ngoài và tại Việt Nam, phân tích, đánh giá những gì các Nhà nghiên cứu trước đã thực hiện về các nhân tố tác động đến CLKT và tác động của CLKT đến NLCT của các DNKT nhằm xác định khoảng trống
lý thuyết và các vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu sâu hơn trong lĩnh vực này
1.1 Tổng quan các nghiên cứu đã thực hiện về nhân tố tác động đến CLKT và NLCT của DNKT
1.1.1 Các nghiên cứu đã thực hiện về nhân tố tác động đến CLKT
Thuật ngữ "Chất lượng kiểm toán" có nghĩa khác nhau đối với những người khác nhau Khác với các sản phẩm, dịch vụ của các hoạt động khác, CLKT không
dễ dàng quan sát hay kiểm tra, đánh giá Trong thực tế, thường có một khoảng cách nhất định về quan điểm hay mức độ thỏa mãn giữa Cơ quan quản lý, Người sử dụng và KTV đối với CLKT; Epstein & Geiger (1994) đã thực hiện khảo sát những Người
sử dụng BCTC, kết quả cho thấy 70% các Nhà đầu tư tin rằng cuộc kiểm toán phải cung cấp bảo đảm tuyệt đối rằng không có sai sót trọng yếu hoặc gian lận trong BCTC Trong khi đó, KTV có thể suy nghĩ về CLKT theo chiều hướng hạn chế tối đa sự không hài lòng của khách hàng, giảm rủi ro kinh doanh nhằm tránh kiện tụng, hạn chế thiệt hại đến danh tiếng của DNKT (Wooten, 2003) CLKT là một khái niệm phức tạp
và đa diện; Do đó, đã có nhiều nghiên cứu được thực hiện trên các khía cạnh khác nhau, dựa trên các quan điểm về CLKT khác nhau, các Nhà khoa học đã tiến hành các nghiên cứu thực nghiệm nhằm xác định các nhân tố tác động đến CLKT cũng như các biện pháp đo lường CLKT
1.1.1.1 Các nghiên cứu nước ngoài về các nhân tố tác động đến CLKT
(1) Các quan điểm về CLKT
Do CLKT khó quan sát và khó đánh giá trực tiếp, tùy thuộc vào hướng tiếp cận,
có nhiều quan điểm khác nhau về CLKT Tuy nhiên, các Nhà nghiên cứu trên thế giới
về CLKT chủ yếu tập trung vào 3 quan điểm: Quan điểm CLKT là mức độ đảm bảo khả năng phát hiện và báo cáo sai sót trên BCTC; Quan điểm CLKT là mức độ tuân thủ CMKiT và Quan điểm kết hợp mức độ tuân thủ chuẩn mực và mức độ
Trang 23đảm bảo về khả năng phát hiện và báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC Các quan điểm này được các Nhà khoa học dùng làm định hướng để đo lường CLKT và nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT
Quan điểm về CLKT, dưới góc độ mức độ đảm bảo về khả năng phát hiện và
báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC
Từ thập niên 1980, quan điểm CLKT là khả năng phát hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu trên BCTC được coi là quan điểm phổ biến của các Nhà nghiên cứu về CLKT Quan điểm này xuất phát từ định nghĩa của DeAngelo (1981): “CLKT là sự đánh giá của thị trường về khả năng một KTV phát hiện sai sót trong hệ thống kế toán của khách hàng và báo cáo sai sót” Quan điểm này đã được một số Nhà nghiên cứu áp dụng để phát triển các vấn đề lý luận về CLKT
Theo quan điểm này, một cuộc kiểm toán có chất lượng khi KTV cam kết đảm bảo
về khả năng phát hiện và báo cáo các sai sót trọng yếu trong các BCTC Nói cách khác,
vì mục tiêu của một cuộc kiểm toán để đảm bảo tính chính xác của BCTC, CLKT là khả năng mà BCTC không chứa đựng sai sót trọng yếu, nghĩa là độ tin cậy của việc kiểm toán BCTC phản ánh CLKT Người sử dụng các BCTC đã được kiểm toán có thể tin tưởng vào kết quả kiểm toán do đã thỏa mãn mong muốn của họ là các thông tin được kiểm toán là đáng tin cậy Quan điểm này cho thấy có sự kết nối song song giữa CLKT với chất lượng BCTC Một BCTC mà tất cả các vi phạm về kế toán đã được phát hiện và báo cáo là đại diện cho CLKT cao Các Nhà nghiên cứu đại diện cho quan điểm này là: Titman & Trueman (1986): “Mức độ chính xác của thông tin cung cấp cho Nhà đầu tư”; Palmrose (1988): “Khả năng KTV không phát hiện và báo cáo sai sót”; Beatty (1989): “Tính trung thực của thông tin tài chính được trình bày trên BCTC sau khi được kiểm toán”; Knechel (2009): “CLKT là đạt được mức độ đảm bảo”;
Defond & Zhang (2014): “Cung cấp CLKT cao đảm bảo BCTC chất lượng cao”
Đầu thập niên 1990, từ ảnh hưởng các cuộc khủng hoảng kinh tế - tài chính khu vực và phát sinh các vụ bê bối về kiểm toán, một số Nhà nghiên cứu đã xem xét lại hướng tiếp cận của DeAngelo và cho rằng định nghĩa của DeAngelo không nắm bắt đầy đủ các vai trò tiềm ẩn sự xung đột của nhiều đối tượng trong thị trường kiểm toán Hơn nữa, định nghĩa này giới hạn trong tính chuyên môn, chưa xem xét khía cạnh về tính độc lập và ảnh hưởng của khách hàng đến ý kiến của KTV (Sutton, 1993)
Trang 24Tritschler (2013), cho rằng CLKT theo định nghĩa của DeAngelo (1981) là không thể quan sát, đo lường một cách đơn lẻ Do những khó khăn trong việc quan sát quá trình kiểm toán, phần lớn các nghiên cứu tập trung vào việc nghiên cứu các sản phẩm thay thế cho CLKT bằng việc sử dụng một phương pháp đánh giá gián tiếp, với sự trợ giúp của các chỉ số qua các số liệu thống kê từ những tiêu thức đại diện được tiếp nhận bởi thị trường và có liên quan với đặc điểm nội tại của hai khái niệm trong định nghĩa của DeAngelo (Venkataraman & cộng sự, 2008; Krishnan & Schauer, 2000; Kaplan, 1995) Trong khi đó phương pháp đánh giá gián tiếp lại có một số hạn chế Nhiều Nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh sự hiện diện của những thất bại như nguy cơ lựa chọn bất lợi (Watts & Zimmerman, 1981; Behn & cộng sự, 1997) và thực nghiệm với các tiêu chí đo lường đơn giản dẫn đến kết quả trái ngược nhau Mới đây, bê bối tài chính (đặc biệt là các vụ Enron) và sự sụp đổ của Arthur Andersen đã khẳng định sự bất cập của phương pháp đánh giá gián tiếp trong việc đánh giá CLKT, kết quả nghiên cứu của Krishnan & cộng sự (2003) đã khẳng định rằng các tiêu chí của Big Four không thể giải thích vụ việc của Enron Do đó, các Nhà nghiên cứu đã hướng trọng tâm nghiên cứu sang việc đánh giá CLKT bằng cách so sánh mức độ thực hiện công việc kiểm toán so với các CMKiT
Theo Copley & Doucet (1993), KTV thực hiện công việc với chất lượng cao nếu
họ tuân thủ hoàn toàn các CMKiT trong suốt quá trình thực hiện kiểm toán Theo quan điểm này, mức độ phù hợp với CMKiT phản ánh mức độ CLKT Tiêu biểu cho quan điểm này là McConnell & Banks (1998), Aldhizer & cộng sự (1995), Krishnan & Schauer (2001) Dựa trên quan điểm này các Nhà nghiên cứu khác như Niemann (2004), Tritschler (2013) cũng đã sử dụng kết quả kiểm tra của PCAOB, IDW, EC cũng như các vụ kiện chống lại KTV trong việc xem xét mức độ tuân thủ các CMKiT để nghiên cứu các chỉ số đánh giá CLKT
khả năng phát hiện và báo cáo sai sót trên BCTC
Gần đây nền kinh tế toàn cầu cần phải đối mặt ngày càng nhiều với những thách thức lớn liên quan đến thị trường tài chính và đã tạo nên một hệ quả làm gia tăng số vụ bê bối kế toán của các công ty nổi tiếng toàn cầu như Enron, Parmalat dẫn đến sự sụp đổ của hãng kiểm toán hàng đầu thế giới là Arthur Andersen
Trang 25Độ tin cậy của các Nhà đầu tư và công chúng với CLKT đã được xem xét lại Bên cạnh sự can thiệp của Nhà nước qua việc ban hành các bộ luật như Sarbanes–Oxley năm 2002, thông điệp xanh của Ủy ban Châu Âu vào năm 2010 cùng với các công bố mới về CMKiT của IAASB năm 2014 cho thấy trách nhiệm của KTV đã được mở rộng để đảm bảo CLKT (Defond & Zhang, 2014) Khuynh hướng kết hợp việc xem xét CLKT theo mức độ tuân thủ chuẩn mực và khả năng KTV phát hiện sai sót và báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC đã được một số Nhà nghiên cứu về CLKT quan tâm như Skinner & Srinivasan (2012), Tritschler (2013) Quan điểm xem xét CLKT qua sự kết hợp giữa mức độ tuân thủ CMKiT và khả năng phát hiện, báo cáo sai sót trọng yếu trên BCTC cũng đã được Cơ quan Kiểm toán Nhà nước Hoa Kỳ (GAO) xem xét và áp dụng trong lĩnh vực kiểm toán của mình
Quan điểm về Chất lượng kiểm toán
Mức độ tuân thủ Chuẩn mực
DeAngelo (1981) Titman & Trueman (1986)
Palmrose (1988) Beatty (1989) Leffson (1988) Knechel (2009)
Copley & Doucet (1993) Aldhizer & cộng sự (1995) McConnell & Banks (1998) Krishnan & Schauer (2001) Niemann (2004)
Mức độ đảm bảo về khả năng phát hiện
và báo cáo sai sót trên
Trang 26(2) Các dòng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT
Các khuynh hướng nghiên cứu về CLKT và các nhân tố tác động đến CLKT Xuất phát từ các quan điểm khác nhau về CLKT, các Nhà nghiên cứu đã thực hiện việc xác định các nhân tố đại diện cho CLKT với nhiều khuynh hướng khác nhau Căn
cứ vào cơ sở của các khuynh hướng được dùng trong các nghiên cứu, có thể phân loại thành bảy nhóm nghiên cứu: (1) Nghiên cứu CLKT dựa trên phương pháp đo lường; (2) Nghiên cứu dựa trên nguồn gốc nguyên nhân của sự khác biệt; (3) Nghiên cứu dựa trên đầu vào, đầu ra và quá trình kiểm toán; (4) Nghiên cứu dựa trên khía cạnh
tổ chức; (5) Nghiên cứu dựa trên hành vi và chất lượng của KTV; (6) Nghiên cứu dựa trên nhận thức của các đối tượng có liên quan đến CLKT và (7) Các khuynh hướng nghiên cứu khác Các khuynh hướng nghiên cứu này có thể được tóm tắt như sau:
Nghiên cứu CLKT dựa trên phương pháp đo lường
Theo Arezoo Aghaei chadegani (2011), CLKT là không quan sát được trong quá trình thực hiện cuộc kiểm toán, cần phải có một đại diện hợp lệ để có thể xem xét mối quan hệ giữa CLKT thực tế và các nhân tố tác động đến CLKT
Các Nhà nghiên cứu đã thực hiện việc đo lường CLKT theo 2 nhóm: (i) Đo lường trực tiếp và (ii) Đo lường gián tiếp Nhóm đầu tiên nghiên cứu sử dụng các biện pháp trực tiếp để đo lường CLKT từ các kết quả của cuộc kiểm toán qua các tiêu thức: Báo cáo tài chính phù hợp với GAAP, kết quả KSCL, tỷ lệ kiện tụng, tỷ lệ giữa ý kiến hoạt động liên tục có liên quan đến các doanh nghiệp bị phá sản Krishnan & Schauer (2000)
đã nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô DNKT và sự tuân thủ các yêu cầu của CMKiT Krishnan & Schauer phát hiện ra rằng DNKT càng lớn sự tuân thủ yêu cầu CMKiT càng cao Geiger & Raghunandan (2002) xem xét liệu việc kiểm toán đã đưa ra sự quan tâm trong các năm trước cho khách hàng Mỹ đã kê khai phá sản Họ phát hiện ra rằng KTV ít có khả năng đưa ra một quan điểm liên tục trong năm đầu kiểm toán
so với những năm sau đó, điều này trái với lo ngại của một số Nhà nghiên cứu cho rằng một mối quan hệ lâu dài giữa khách hàng và KTV sẽ ảnh hưởng xấu đến CLKT Các biện pháp đo lường trực tiếp CLKT khác như đánh giá việc thực thi quy định của
Ủy ban Chứng khoán (Dechow & cộng sự, 1996) Tuy nhiên, các biện pháp đo lường trực tiếp CLKT gặp khó khăn trong thực tế do hạn chế từ việc tiếp cận dữ liệu, mức độ
do khái quát kết quả không cao
Trang 27Nhóm nghiên cứu thứ hai áp dụng biện pháp gián tiếp như: quy mô DNKT, nhiệm kỳ KTV, mức độ chuyên ngành, giá phí kiểm toán, uy tín làm thước đo đo lường CLKT Biện pháp gián tiếp phổ biến nhất về CLKT là quy mô DNKT DeAngelo (1981) cho rằng quy mô của DNKT là một chỉ số về CLKT vì các DNKT lớn được trang bị nhiều hơn Các nghiên cứu khác cũng thực hiện nghiên cứu mối quan hệ giữa quy mô DNKT và CLKT (Krishnan & Schauer, 2000; Ajmi, 2009; Lawrence & cộng sự, 2011) Ghosh & Mood (2005) lập luận nhiệm kỳ của KTV có thể có ảnh hưởng xấu đến CLKT KTV có nhiệm kỳ kiểm toán dài sẽ đánh mất tính độc lập của mình để giữ mối quan hệ chặt chẽ với khách hàng Theo Wooten (2003), DNKT có nhiều khách hàng trong cùng một ngành mang lại việc hiểu biết sâu hơn những rủi ro kiểm toán đặc trưng của một ngành cụ thể Đại diện cho CLKT được sử dụng trong nghiên cứu là giá phí kiểm toán và những phụ thuộc kinh tế của KTV
Nghiên cứu dựa trên nguồn gốc nguyên nhân của sự khác biệt
Theo Francis (2004), có ba nguyên nhân chính của sự khác biệt về CLKT:
sự khác biệt về thể chế giữa các quốc gia (khác biệt xuyên quốc gia), sự khác biệt giữa các văn phòng thực hiện kiểm toán (khác biệt xuyên thành phố) và khác biệt do mức độ chuyên ngành
Ở cấp quốc gia, sự lựa chọn KTV chuyên ngành của Big N là cấp độ cao hơn, nơi môi trường bảo vệ các Nhà đầu tư và chất lượng của Báo cáo tài chính là cao hơn (Ettredge & cộng sự, 2008)
Francis (2004) cho rằng cần phân tích chất lượng từng chi nhánh của các DNKT lớn thay vì phân tích đối với toàn bộ công ty sẽ cụ thể hơn Quan điểm này xuất phát
từ sự khác biệt về chất lượng giữa văn phòng kiểm toán và trụ sở chính Đánh giá về CLKT của một DNKT sẽ thay đổi đáng kể khi phân tích chất lượng từ toàn bộ công ty đến các văn phòng, chi nhánh cụ thể trong công ty
Nghiên cứu dựa trên Đầu vào, Đầu ra và Quá trình kiểm toán
Những năm gần đây, xu hướng nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT được tập trung vào các yếu tố của quá trình kiểm toán cũng như ngữ cảnh và tương tác giữa các đối tượng có liên quan đến quá trình này
Theo Francis (2011), việc kiểm toán được diễn ra trong bối cảnh một DNKT Doanh nghiệp này thực hiện việc tuyển dụng, đào tạo, trang bị cho KTV và xây dựng quy trình kiểm toán và phát hành Báo cáo kiểm toán về BCTC của khách hàng
Trang 28Trên góc độ xem xét các nhân tố CLKT theo yếu tố quá trình, ngữ cảnh và hậu quả kinh tế của cuộc kiểm toán, Francis (2011) đã đưa ra 6 nhân tố tác động đến CLKT bao gồm: Nhân tố đầu vào; Nhân tố quá trình; DNKT; Thị trường kiểm toán; Thể chế
và Hậu quả kinh tế của các cuộc kiểm toán Kết quả nghiên cứu này được sự đồng tình của nhiều Nhà nghiên cứu khác cũng như IFAC Trên cơ sở đó, IAASB đã có những nghiên cứu bổ sung và đưa ra Khuôn khổ các nhân tố tác động đến CLKT
Theo Duff (2004), có rất nhiều yếu tố đầu vào tác động đến CLKT bên cạnh các yếu tố thuộc về CMKiT Thuộc tính cá nhân KTV như kỹ năng và kinh nghiệm kiểm toán, các giá trị đạo đức và tư duy cũng là yếu tố đầu vào có vai trò quan trọng Bên cạnh
đó, yếu tố khác là nhận thức của KTV và các điều khoản hợp đồng kiểm toán cũng có ảnh hưởng nhất định, các doanh nghiệp cần thu hút cá nhân chất lượng cao có kỹ năng
và trình độ chuyên môn cần thiết để thực hiện kiểm toán có chất lượng cao
Defond & Zhang (2014), xem xét CLKT dựa trên đầu vào, đầu ra của quá trình kiểm toán để tổng kết, đánh giá các nghiên cứu được thực hiện Kết quả nghiên cứu cho thấy quá trình kiểm toán liên quan đến các vấn đề như tính đúng đắn của các phương pháp luận kiểm toán, hiệu quả của các công cụ kiểm toán được sử dụng,
sự đáp ứng đầy đủ của các phương tiện kỹ thuật, đều hướng tới việc hỗ trợ thực hiện một cuộc kiểm toán chất lượng Maijoor và Vanstraelen (2006) cũng đã thực hiện các nghiên cứu về ảnh hưởng của môi trường kiểm toán đến CLKT và đã phát hiện ra rằng một môi trường kiểm toán càng thuận lợi sẽ làm giảm ảnh hưởng của các yếu tố tác động xấu đến CLKT
Nghiên cứu dựa trên khía cạnh tổ chức
Một số Nhà nghiên cứu đã xem xét CLKT từ hai khía cạnh: DNKT và nhóm kiểm toán Trên khía cạnh DNKT, Sun & Liu (2011) đã xem xét liệu nguy cơ khách hàng kiện tụng, có ảnh hưởng cụ thể đến sự phân biệt giữa CLKT Big N và KTV phi Big N Sun & Liu (2011) phát hiện ra rằng hiệu quả của KTV Big N cao hơn so với KTV phi Big N trong hạn chế mục tiêu quản trị thu nhập lớn đối với các khách hàng có nguy cơ kiện tụng cao hơn so với khách hàng có nguy cơ kiện tụng thấp, điều này cho thấy rằng nguy cơ kiện tụng cao của khách hàng có thể buộc KTV thuộc DNKT lớn thực hiện công việc có hiệu quả hơn Trên khía cạnh nhóm kiểm toán, Carcello & cộng sự (1992) cho rằng đặc điểm liên quan đến các nhóm kiểm toán là quan trọng với CLKT hơn so với những đặc điểm liên quan đến các DNKT Schroeder & cộng sự (1986) nghiên cứu và
so sánh tác động của 15 yếu tố lên CLKT của DNKT với các nhóm kiểm toán và kết quả khẳng định rằng các yếu tố của nhóm kiểm toán là quan trọng hơn yếu tố DNKT
Trang 29 Nghiên cứu dựa trên hành vi và chất lượng của KTV
Theo Rayburn & Rayburn (1996), tính cách có liên quan trực tiếp đến định hướng đạo đức cá nhân CLKT không chỉ thiên về các CMKiT mà còn thuộc về chất lượng đào tạo mỗi con người về những chuẩn mực đạo đức Rayburn & Rayburn (1996) chỉ ra rằng các kỹ năng, phẩm chất cá nhân của lãnh đạo và nhân viên kiểm toán, sự đào tạo của nhân viên kiểm toán là những yếu tố quan trọng quyết định đến chất lượng của người KTV Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau trên nhiều quan điểm khác nhau
về khía cạnh hành vi của CLKT bị giảm sút, chẳng hạn như Sự thuyên giảm CLKT (Coram & Woodliff, 2003; Gundry & Liyanarachchi, 2007), Lý luận đạo đức (Sweeney, 1995), Mối quan hệ hành vi và quan điểm (Beattie & Fearnley, 1995; Mock & Samet, 1982), Lý luận đạo đức của KTV (Herrbach, 2001; Krohmer & Lemaître, 2010); Danh tiếng (Carey & Simnett, 2006; Baotham, 2009), Kinh nghiệm (Carcello & cộng sự, 1992), Khả năng (Baotham, 2009) và Độc lập (Daniels & Booker, 2011; Baotham, 2009)
Malone & Roberts (1996), đã phát triển một mô hình toàn diện hơn về các yếu tố
để giải thích hành vi thuyên giảm CLKT Họ xem xét mối quan hệ giữa tỷ lệ giảm CLKT và đặc điểm cá nhân của KTV, tính chuyên nghiệp của KTV, cơ cấu, thủ tục soát xét và KSCL của DNKT và nhận thức của KTV về áp lực thời gian Họ kết luận rằng chất lượng và các thủ tục soát xét, hình phạt đối với hành vi KTV làm giảm CLKT có liên quan và tỷ lệ nghịch đến các hành vi giảm CLKT
Baotham (2009), đã nghiên cứu ảnh hưởng tính độc lập trong kiểm toán đến chất lượng, uy tín, danh tiếng và thành công bền vững của các KTV ở Thái Lan Các kết quả chỉ ra rằng tính độc lập trong kiểm toán có mối quan hệ tích cực với CLKT, độ tin cậy và CLKT có mối liên hệ tích cực với sự tín nhiệm kiểm toán Tương tự như vậy, CLKT và uy tín không những ảnh hưởng đáng kể đến danh tiếng mà còn có liên quan đến thành công bền vững Để tạo tiền đề cho tính độc lập trong kiểm toán, việc tập trung
cao độ về đạo đức trong tư tưởng và hình thức bên ngoài có vai trò rất quan trọng
Nghiên cứu dựa trên nhận thức của các đối tượng có liên quan đến CLKT Warming - Rasmussen & Jensen (2001) điều tra về CLKT ở Đan Mạch, lấy mẫu nhận thức hai nhóm đối tượng sử dụng bên ngoài (cổ đông và các Nhà phân tích BCTC), BGĐ doanh nghiệp được kiểm toán và KTV đối với CLKT Nghiên cứu này
đã xác định sáu yếu tố CLKT, trong đó tập trung chủ yếu về các vấn đề luân lý và
Trang 30đạo đức Những Người sử dụng BCKT bên ngoài, có xu hướng đánh giá tất cả sáu yếu tố tác động đến CLKT, cao hơn KTV và BGĐ doanh nghiệp được kiểm toán:
Uy tín, Độc lập của KTV, Sự mở rộng trong báo cáo và các vấn đề quan tâm, Kiến thức chuyên ngành, Lòng trung thành của các cổ đông thiểu số, Thái độ hoài nghi nghề nghiệp của KTV (Duff, 2004)
Kết quả nghiên cứu đã thực hiện về Các nhân tố tác động đến CLKT
Trên cơ sở các quan điểm và khuynh hướng nghiên cứu khác nhau về CLKT và các nhân tố tác động đến CLKT, kết quả nghiên cứu có nhiều sự khác biệt Tuy nhiên, nhìn chung các mục tiêu và kết quả nghiên cứu đều hướng đến vai trò của chủ thể tác động đến CLKT là DNKT, KTV và các nhân tố bên ngoài như các quy định pháp luật
về CLKT; Một số mô hình nghiên cứu đã có ảnh hưởng đến chính sách, các quy định
về KTĐL tại nhiều Quốc gia và được quan tâm, sử dụng, làm nền tảng cho các nghiên cứu tiếp theo Các mô hình, kết quả nghiên cứu điển hình này có thể kể đến như sau:
Mô hình CLKT của Wooten (2003)
Dựa trên quan điểm về CLKT của DeAngelo (1981), Wooten đã thực hiện việc xem xét và tổng kết (Review) các nghiên cứu trước để đưa ra các nhân tố tác động đến CLKT và giải thích các nhân tố trong Mô hình CLKT của mình Theo Wooten (2003), các yếu tố tác động đến CLKT xuất phát từ hai khía cạnh có liên quan đến phát hiện sai sót và báo cáo sai sót Các yếu tố liên quan đến phát hiện sai sót bao gồm: Quy mô DNKT, Nguồn nhân lực, Kinh nghiệm chuyên ngành, Quy trình kiểm soát, Giám sát,
Kế hoạch và thực hiện, Tính chuyên nghiệp, Kinh nghiệm đối với khách hàng Các yếu tố liên quan đến báo cáo sai sót bao gồm: Tính độc lập, Dịch vụ phi kiểm toán, Giá phí kiểm toán, Nhiệm kỳ của KTV Mối quan hệ giữa các nhân tố CLKT được Wooten (2003) giải thích qua Mô hình CLKT được thể hiện qua Hình 1.2: Mô hình CLKT của Wooten (2003) Kế thừa kết quả nghiên cứu này, các Nhà nghiên cứu sau này đã phát triển trong các nghiên cứu về các nhân tố tác động đến CLKT theo đặc điểm của từng quốc gia Điển hình là nghiên cứu của Tritschler (2013) với
Mô hình quả cầu CLKT
Trang 31Nguồn
nhân lực
Nhân tố Công ty kiểm toán
Nhân tố nhóm kiểm toán
Tính độc lập
Phát hiện sai sót
Chất lượng kiểm toán
Báo cáo sai sót
Kết quả
Quy trình kiểm soát
Kinh nghiệm chuyên ngành
Giám sát
Kế hoạch
và thực hiện
Tính chuyên nghiệp
Kinh nghiệm đối với khách hàng
Kinh nghiệm chuyên ngành Nhiệm kỳ
Giá phí
Dịch vụ khác Quy mô
kiểm toán
Giá phí cao hơn
Giảm kiện tụng
Danh tiếng tốt
Khách hàng đánh giá cao hơn
Hình 1.2: Mô hình CLKT của Wooten (2003)
Nguồn: Wooten (2003)
Mô hình CLKT của Duff (2004)
Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng cao, thị trường kiểm toán tăng trưởng chậm
do ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới cuối thập niên 1990, hoạt động kiểm toán ngày càng bị ảnh hưởng bởi toàn cầu hóa Sự kiện Enron dẫn đến sự phá sản của Arthur Anderson năm 2011 đã tạo ra cuộc khủng hoảng niềm tin vào
Trang 32công chúng, nhất là sự hài lòng với CLKT của các bên có liên quan Tình trạng này đã tạo áp lực giảm giá phí kiểm toán và lợi nhuận dịch vụ kiểm toán, buộc các KTV vừa phải tập trung trí óc để nâng cao chất lượng dịch vụ cung cấp cho khách hàng, trong khi vẫn phải duy trì hoặc nâng cao hiệu quả chuyên môn nhằm phục hồi lợi nhuận
Trên cơ sở định nghĩa của DeAngelo về CLKT và quan điểm chất lượng dịch vụ
là một nguồn LTCT, phương tiện bền vững cung cấp cho khách hàng, nhằm đáp ứng nhu cầu khách hàng một cách có hiệu quả Duff (2004) đã thực hiện nghiên cứu về khoảng cách kỳ vọng và CLKT trên cơ sở phân tích các thông tin được công bố bên ngoài của 20 DNKT lớn nhất ở Anh, Duff thiết lập bảng khảo sát với 56 câu hỏi
về các khía cạnh khác nhau của CLKT, với 500 đối tượng gồm các KTV tại 16 DNKT lớn nhất nước Anh, Giám đốc tài chính các công ty tại Anh, các Nhà quản lý quỹ tại Anh và những Người sử dụng thông tin tài chính từ bên ngoài
Mục đích của nghiên cứu nhằm xác định sự khác biệt trong nhận thức về các yếu tố quyết định CLKT giữa các KTV, BGĐ DNKT và nhóm đối tượng sử dụng bên ngoài để xác định có hay không sự tồn tại khoảng cách kỳ vọng trong CLKT Bằng phương pháp nghiên cứu định lượng, phân tích và đo lường nhân tố khám phá từ 109 dữ liệu thu được, trên cơ sở Mô hình chất lượng dịch vụ (Servqual) của Parasuraman & cộng sự (1998, 1991), Duff (2004) đã đưa ra Mô hình về CLKT (Auditqual Model)
Qua kết quả nghiên cứu của Duff (2004) đã đưa ra nhận định: CLKT là một khái niệm đa diện, CLKT hình thành từ cả hai khía cạnh: Chất lượng dịch vụ và chất lượng chuyên môn (năng lực và tính khách quan của KTV) Có 9 nhân tố tác động đến CLKT, trong đó có 4 nhân tố thuộc về Chất lượng dịch vụ: Khả năng đáp ứng; Dịch vụ phi kiểm toán; Cảm thông; Dịch vụ 5 nhân tố thuộc về chất lượng chuyên môn là: Danh tiếng; Quy mô; Tính độc lập; Kỹ năng; Kinh nghiệm Các nhân tố tác động đến CLKT được thể hiện qua Hình 1.3: Mô hình Auditqual của Duff (2004)
Trang 33(Technical Quality)
Chất lượng dịch vụ
(Service Quality)
Hình 1.3: Mô hình Auditqual của Duff (2004)
Nguồn: Duff (2004)
Nghiên cứu Chất lượng của quá trình kiểm toán của Manita & Elommal (2010)
Các vụ bê bối tài chính cuối thập niên 1990 tại Mỹ và cụ thể tại Tunisia cho thấy
sự bất lực của phương pháp tiếp cận cổ điển và các chỉ số đo lường để ước tính sự phù hợp của công việc kiểm toán Manita & Elommal (2010) cho rằng việc kiểm soát CLKT phải thực hiện ở các cấp độ của quy trình kiểm toán và khuyến khích việc đánh giá CLKT được thực hiện bởi Ủy ban Kiểm toán
Theo Manita & Elommal (2010), từ định nghĩa CLKT của DeAngelo (1981) nhiều
Nhà nghiên cứu như Knapp (1991); Flint (1988); Moizer (1997) đã lựa chọn cách tiếp cận đôi để xác định CLKT, bằng cách phân biệt năng lực và kỹ thuật của các Kiểm toán viên (chất lượng phát hiện) và tính độc lập (chất lượng công bố) Một số Nhà nghiên cứu khác như Krishnan & Schauer (2000); Kaplan (1995) và Lennox (1999)
sử dụng định nghĩa này để xác định sản phẩm thay thế CLKT, từ nhận thức bởi thị trường hoặc các đặc tính tự nhiên của hai khái niệm năng lực KTV và độc lập Một số chỉ tiêu
CLKT, đã được xác định bởi các nghiên cứu như: quy mô DNKT, giá phí, danh tiếng của DNKT, kinh nghiệm chuyên ngành Các nghiên cứu này tập trung phân tích
"chất lượng của KTV", để ước lượng CLKT hơn là phân tích bản thân quy trình kiểm toán, rất ít nghiên cứu được dành riêng để đánh giá chất lượng bằng cách
sử dụng quá trình kiểm toán
Trang 34Manita & Elommal (2010) đã thực hiện việc nghiên cứu tại Tunisia, với mục đích xây dựng thước đo để đo lường chất lượng quy trình kiểm toán cho Ủy ban Kiểm toán hoặc cho cơ quan quản lý có liên quan đến CLKT Trên cơ sở Lý thuyết Ủy nhiệm, các Tác giả áp dụng phương pháp tiếp cận Churchill Kết hợp nghiên cứu định tính và định lượng dựa trên hai bảng câu hỏi nghiên cứu với các thành viên Ủy ban Kiểm toán
và KTV Qua nghiên cứu định tính Manita & Elommal (2010) đã xác định 27 yếu tố chất lượng được phân phối trên ba giai đoạn của quá trình kiểm toán Kết quả nghiên cứu định lượng bằng phương pháp phân tích hồi quy, các yếu tố này được tóm tắt vào 7 nhân tố chất lượng chủ yếu của quy trình kiểm toán, liên quan đến vấn đề kỹ thuật của quá trình kiểm toán, chất lượng KTV và các đặc điểm tổ chức của DNKT (Xem Phụ lục 2: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến
các nhân tố tác động đến CLKT)
Mô hình Quả cầu CLKT của Tritschler (2013)
Trong bối cảnh sự mất lòng tin về CLKT đã đạt được một cấp độ mới trong các cuộc khủng hoảng tài chính 2008, 2009 Sự sụp đổ của Lehman Brothers đã gây phản ứng dây chuyền đến ngành Ngân hàng trên toàn thế giới Nhiều câu hỏi được đặt ra về CLKT trong việc đánh giá các tài sản tài chính và đánh giá khả năng hoạt động liên tục theo các nguyên tắc kế toán cơ bản đã được ban hành Tritschler (2013)
đã nghiên cứu mối quan hệ tương quan giữa Tỷ lệ thất bại của KTV và các yếu tố đầu vào của CLKT Để đạt được mục tiêu này, Tritschler đã phát triển một thước đo CLKT được gọi là “Tỷ lệ thất bại của KTV (Auditor‟s Failure Rate – AFR) dựa trên lỗi BCTC của các công ty đại chúng Đức được công bố trên Công báo Liên Bang Đức Dựa trên quan điểm CLKT của DeAngelo (1981), Mô hình CLKT của Wooten (2003)
và tổng hợp (review) các nghiên cứu đã thực hiện, Tritschler (2013) đã phát triển Mô hình nghiên cứu của Wooten (2003) thành Mô hình quả cầu CLKT, trong đó hầu hết các kết quả nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm về CLKT đã được mô tả trong Mô hình này Theo đó, các nhân tố tác động đến CLKT bao gồm: Tính độc lập, Quy mô DNKT, Giá phí kiểm toán, Các dịch vụ phi kiểm toán, Nhiệm kỳ kiểm toán, Trách nhiệm pháp lý, Kiến thức về Kế toán – Kiểm toán, Mức độ chuyên ngành, Nỗ lực của KTV
và các nguồn hỗ trợ hỗn hợp, Phương pháp luận và công cụ kiểm toán, Đào tạo và giáo dục Mô hình này cũng được sử dụng làm Mô hình nghiên cứu trong Luận án
Trang 35Mô hình Quả cầu các nhân tố tác động đến CLKT được thể hiện qua Hình 1.4:
Mô hình quả cầu các nhân tố tác động đến CLKT
+
Chất lượng kiểm toán
Chất lượng kiểm toán
Ngành kiểm toán/
khách hàng/kinh nghiệm kiểm toán
Ngành kiểm toán/
khách hàng/kinh nghiệm kiểm toán Kiến thức về
kế toán và kiểm toán
Kiến thức về
kế toán và kiểm toán
Nhiệm kỳ kiểm toán
Nhiệm kỳ
phi kiểm toán
Các dịch vụ phi kiểm toán
Trách nhiệm pháp lý
Phí kiểm toán
+
+ +
+ +
+ +
Khung CLKT của Defond & Zhang (2014)
Trên cơ sở Lý thuyết Ủy nhiệm, Lý thuyết Cung cầu, quan điểm về CLKT của DeAngelo (1981) và xem xét CLKT dựa trên đầu vào, đầu ra của quá trình kiểm toán, Defond & Zhang (2014) đã tổng kết, đánh giá (review) các nghiên cứu được thực hiện
từ năm 1996 – 2013 về các nhân tố tác động đến CLKT và các phương pháp đo lường được áp dụng nhằm rút ra các nhân tố được sử dụng làm thước đo CLKT phổ biến Từ đó
hệ thống hóa và phân loại các khuynh hướng nghiên cứu chủ yếu, các quan điểm về CLKT, nhu cầu CLKT của khách hàng, khả năng cung cấp CLKT của KTV và mối quan tâm của cơ quan quản lý về CLKT Đặc biệt là xem xét sự can thiệp của Cơ quan quản lý Nhà nước vào hoạt động KTĐL tại một số nước trong thời gian gần đây
Theo Defond & Zhang (2014), CLKT là một cấu trúc liên tục, đảm bảo chất lượng BCTC CLKT cao sẽ cung cấp nhiều sự đảm bảo hơn cho một BCTC chất lượng cao Hầu hết biện pháp đo lường CLKT trong các nghiên cứu được xem xét không những thất bại mà còn thiếu khả năng để phát hiện những thay đổi tinh tế về CLKT Ít có phương pháp đo lường trực tiếp nào thuận lợi trong việc nắm bắt tính liên tục của CLKT
Trang 36Do đó không có sự đồng thuận về phương pháp đo lường nào là tốt nhất trong số các nhân tố được dùng để đo lường CLKT đã được các Nhà nghiên cứu trước sử dụng theo các nhân tố riêng lẻ, không vẽ ra một bức tranh đầy đủ về CLKT Các Nhà nghiên cứu cần
sử dụng nhiều phương pháp khác nhau để tận dụng lợi thế những điểm mạnh và hạn chế những điểm yếu của chúng
Đối với tác động của các quy định trong thị trường kiểm toán Mỹ và sự can thiệp ngày càng nhiều ở một số nước Theo Defond & Zhang (2014): mặc dù, không thể kết luận liệu các biện pháp can thiệp gần đây, đặc biệt ảnh hưởng chung của Luật Sarbanes–Oxley có hiệu quả trong việc cải thiện CLKT hay không? Tuy nhiên, các bằng chứng cho thấy quy định về Ủy ban Kiểm toán đã làm tăng nhu cầu về CLKT của khách hàng và gây bất lợi cho kiểm toán viên trong việc khuyến khích cải tiến công việc giám sát Đáng chú ý, hai vấn đề trên tập trung vào nhu cầu của khách hàng, không tác động vào phía cung của KTV Ngược lại, có rất ít bằng chứng chống lại việc cấm dịch vụ phi kiểm toán do ảnh hưởng xấu đến CLKT, trên thực tế đã có một số bằng chứng nhất định cho thấy dịch vụ phi kiểm toán nâng cao CLKT Các Tác giả còn đưa ra các gợi ý nghiên cứu về năng lực của khách hàng, là một khu vực tương đối mới và đang phát triển, cần tập trung vào việc nghiên cứu các cơ chế của khách hàng,
để đáp ứng nhu cầu về CLKT của họ
Qua kết quả nghiên cứu, Defond & Zhang (2014) đã đưa ra Khung nghiên cứu về CLKT thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu, năng lực của khách hàng, năng lực, khả năng cung cấp của DNKT và sự can thiệp, điều tiết của các cơ quan chức năng nhằm tạo nguồn cung và cầu về CLKT trên thị trường Khuôn khổ CLKT của Defond và Zhang được thể hiện qua Hình 1.5: Khung CLKT của Defond & Zhang (2014)
Nhu cầu khách hàng
Chất lượng kiểm toán
Năng lực
Can thiệp, điều tiết
Kiểm toán cung cấp
Ủy ban Kiểm toán:
Chức năng kiểm toán nội bộ
Đầu vào cho quá trình kiểm toán:
Sự thành thạo, năng lực chuyên môn
Quy định Ban Kiểm toán Sự kiểm tra, kiểm soát
Hình 1.5: Khung CLKT của Defond & Zhang (2014)
Nguồn: Defond & Zhang (2014)
Trang 37Các kết quả đạt được từ nghiên cứu của Defond & Zhang:
Thứ nhất, xác định CLKT cao, đảm bảo BCTC có chất lượng cao Định nghĩa
này phản ánh bản chất liên tục của CLKT, bao gồm trách nhiệm của KTV và thừa nhận một cách rõ ràng CLKT, như một thành phần của chất lượng BCTC
Thứ hai, cung cấp một khuôn khổ cho việc lựa chọn có hệ thống trong số các
nhân tố thường được sử dụng CLKT và đánh giá từ kết quả của họ
Thứ ba, nghiên cứu truyền thống tập trung chủ yếu ảnh hưởng của KTV vào CLKT,
ít quan tâm đến nhân tố khách hàng về phía cầu và khuyến khích các Nhà nghiên cứu trong tương lai tiếp tục mở rộng kiến thức về phía nhu cầu
Thứ tư, việc ghi nhận các nghiên cứu trước tập trung vào vận hành CLKT, ít tập trung
vào năng lực Nên khuyến khích các Nhà nghiên cứu trong tương lai khám phá thêm yếu tố liên quan đến năng lực
Thứ năm, nguy cơ đáng kể của các quy định can thiệp nhằm mục tiêu cả năng lực
của KTV cung cấp lẫn nhu cầu của khách hàng về CLKT Vậy, hướng nghiên cứu tiếp theo tìm hiểu tốt hơn quá trình điều tiết để hiểu được tác dụng quan trọng của quy trình quản lý vào CLKT
Một số nghiên cứu của các Tác giả khác
Bên cạnh các nghiên cứu tiêu biểu trên nhiều nghiên cứu khác trên thế giới cũng
đã được thực hiện và mang lại những kết quả nhất định như: Nghiên cứu của DeAngelo (1981) về ảnh hưởng của Quy mô DNKT, kết quả nghiên cứu định lượng của Mock & Samet (1982) đã chọn ra 32 nhân tố được dùng để đánh giá CLKT qua 5 thuộc tính là: Kế hoạch; Quản lý; Thủ tục; Đánh giá và Thực hiện Mở rộng nghiên cứu này Schroeder & cộng sự (1986) đã thực hiện nghiên cứu định lượng với 500 đối tượng khảo sát từ các Chủ tịch Ủy ban Kiểm toán và các Chủ phần hùn của Big Four, kết quả cho thấy các đối tượng khảo sát đánh giá nhân tố Nhóm kiểm toán có tầm quan trọng hơn nhân tố DNKT, cụ thể là người phụ trách cuộc kiểm toán được đánh giá cao hơn danh tiếng của DNKT
Sutton & Lampe (1990) qua nghiên cứu định lượng đã đưa ra mô hình 19 nhân tố tác động đến CLKT và phân loại thành 3 nhóm: Kế hoạch; Thực hiện kiểm toán và Quản lý Carcello & cộng sự (1992) bằng phương pháp nghiên cứu định lượng đã thực hiện khảo sát 3 đối tượng: Người lập; Người sử dụng BCTC và các Chủ phần hùn của các DNKT tại Mỹ Kết quả phân tích nhân tố EFA cho thấy có 12 nhân tố tác động đến CLKT Trong đó 5 nhân tố quan trọng hàng đầu là: Kinh nghiệm của KTV đối với khách hàng; Mức độ chuyên sâu; Mức độ tuân thủ chuẩn mực đạo đức; Mức độ chuyên ngành; Truyền thông giữa nhóm kiểm toán và Người phụ trách cuộc kiểm toán Bên
Trang 38cạnh đó, nghiên cứu của O'Keefe & cộng sự (1994) cho thấy chi phí thực hiện cuộc kiểm toán và những nguồn tài nguyên khác của DNKT được kết hợp trong quá trình kiểm toán cũng là một trong những nhân tố của CLKT Nghiên cứu của Libby & cộng
sự (2006) cho thấy CLKT là không đồng nhất giữa các DNKT có quy mô lớn và việc đảm bảo CLKT không chỉ phụ thuộc vào quy mô DNKT mà còn phụ thuộc vào chính các KTV – những Người trực tiếp thực hiện các cuộc kiểm toán tại công ty khách hàng
Từ những nhận định trên và kết quả nghiên cứu trên góc độ xem xét các nhân tố CLKT theo yếu tố quá trình, ngữ cảnh và hậu quả kinh tế của cuộc kiểm toán, Francis (2011) đã đưa ra 6 nhân tố tác động đến CLKT bao gồm: Nhân tố đầu vào; Nhân tố quá trình; DNKT; Thị trường kiểm toán; Thể chế và Hậu quả kinh tế của các cuộc kiểm toán Kết quả nghiên cứu này được sự đồng tình của nhiều Nhà nghiên cứu khác cũng như IFAC Trên cơ sở đó, IAASB đã có những nghiên cứu bổ sung và đưa ra Khuôn khổ các nhân tố tác động đến CLKT
(Xem Phụ lục 2: Bảng tổng hợp các nghiên cứu trước có liên quan đến các nhân
tố tác động đến CLKT)
Các nhân tố tác động đến CLKT qua kết quả nghiên cứu trước
Như đã trình bày ở phần trên, trong 3 thập kỷ qua có nhiều kết quả nghiên cứu về CLKT đã được công bố theo nhiều quan điểm và khía cạnh khác nhau, tuy nhiên hầu hết các kết quả nghiên cứu đều tập trung vào chủ thể tác động đến CLKT theo 3 nhóm: KTV/nhóm kiểm toán, DNKT và các nhân tố bên ngoài
(1) Nhóm nhân tố thuộc về KTV/Nhóm kiểm toán
Nhân tố thuộc về Phương pháp luận và tính cách của KTV
Theo Carcello & cộng sự (2002), DNKT có phương pháp luận kiểm toán càng tốt, thì càng có xu hướng phát hành BCKT công bố những vi phạm của khách hàng tốt hơn Theo Treadway (1987), KTV nếu bỏ sót hoặc không thực hiện đúng các thủ tục kiểm toán sẽ làm giảm CLKT và không phải CLKT của cùng một DNKT lúc nào cũng đạt được mà nó còn phụ thuộc vào đặc điểm KTV/nhóm kiểm toán - những Người trực tiếp thực hiện cuộc kiểm toán Wooten (2003) cũng cho rằng các KTV có tính cách luôn muốn tìm tòi có khuynh hướng phát hiện nhiều sai sót hơn
Ý thức tuân thủ Chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp là một nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến CLKT, qua đó cũng làm ảnh hưởng đến sự hài lòng của Người sử dụng đối với chất lượng dịch vụ kiểm toán (Boon & cộng sự, 2008)
Carcello & cộng sự (1992) cũng đã nhận định: “DNKT nào hiếm khi bị phát hiện thấy sự cẩu thả trong các vụ kiện thì đồng nghĩa với việc DNKT đó cung cấp một sự
đảm bảo về sự thận trọng chuyên nghiệp”
Trang 39 Trình độ năng lực, mức độ chuyên sâu trong lĩnh vực kiểm toán
Năng lực nghề nghiệp được đánh giá là nhân tố quan trọng ảnh hưởng tới CLKT,
cũng như sự hài lòng của đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán (Boon & cộng sự, 2008) Năng lực nghề nghiệp thể hiện trình độ của KTV, qua đó thể hiện sự hiểu biết và kiến thức cá nhân của KTV (Richard, 2006) Một KTV có năng lực nghề nghiệp đồng nghĩa với một KTV có chất lượng (tức là có khả năng hiểu biết và kinh nghiệm
để thực hiện công việc kiểm toán BCTC (Richard, 2006) Thành viên nhóm kiểm toán
có năng lực thường là các KTV có chất lượng, nắm vững các nguyên tắc, CMKiT trên cơ sở đó đủ khả năng phát hiện các sai sót trên BCTC
Nhân tố thuộc về kinh nghiệm của KTV: Theo Aldhizer & cộng sự (1995);
Behn & cộng sự (1999); Chen & cộng sự (2001) kinh nghiệm của KTV có ảnh hưởng đến CLKT thông qua việc đánh giá các rủi ro và thiết kế kế hoạch kiểm toán hợp lý Kết quả nghiên cứu của Boon & cộng sự (2008) cũng cho rằng, nhân tố kinh nghiệm quan trọng như mức độ chuyên sâu của KTV có ảnh hưởng tới CLKT, KTV có kinh nghiệm kiểm toán tại khách hàng, Người sử dụng kết quả kiểm toán sẽ cảm thấy hài lòng với chất lượng dịch vụ kiểm toán hơn
Mức độ chuyên sâu của KTV là một nhân tố quan trọng để đảm bảo CLKT
KTV thể hiện tính chuyên sâu nếu có hiểu biết sâu về lĩnh vực chuyên ngành của khách hàng, có năng lực nhận biết rủi ro, cơ hội và thực tế kế toán của các khách hàng qua quá trình đào tạo và kinh nghiệm thực tế đạt được trong quá trình kiểm toán (Craswell
& cộng sự, 1995; Hogan & Jeter, 1999; Solomon & cộng sự, 1999; Gramling & Stone, 2001; Velury & cộng sự, 2003)
Trong quá trình kiểm toán, KTV/nhóm kiểm toán được giao nhiệm vụ kiểm toán
có sự hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên ngành thường được đánh giá có mức độ ảnh hưởng quan trọng tới CLKT (Boon & cộng sự, 2008) KTV có hiểu biết chuyên sâu
sẽ có khả năng đánh giá được tính hợp lý trong ước tính kế toán và các xét đoán quan trọng của khách hàng khi lập và trình bày BCTC, do đó, sẽ làm tăng áp lực lên khách hàng trong việc tuân thủ nguyên tắc, CMKiT (Kwon, 1996) Để chuyên môn hóa theo lĩnh vực ngành nghề của khách hàng, các DNKT phải đầu tư vào công nghệ,
kỹ thuật, phương tiện vật chất, nhân sự dẫn đến việc nâng cao CLKT (Simunic & Stein, 1987) Maletta & Wright (1996) cho rằng, trong từng ngành kinh doanh khác nhau của khách hàng, kiểm toán luôn tiềm ẩn những rủi ro kiểm toán đặc trưng, do đó cần có các KTV am hiểu sâu về khách hàng để giảm thiểu các rủi ro này
Trang 40Một số nghiên cứu khác, cũng cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa sự chuyên môn hóa với CLKT của các cuộc kiểm toán, theo các ngành nghề đặc thù Krishnan & cộng sự (2003) đã đưa ra kết luận, khách hàng của những DNKT chuyên ngành, thường có ít các khoản ước tính kế toán tùy ý hơn, so với những khách hàng sử dụng DNKT không chuyên ngành
Tính độc lập
Tính độc lập là một yêu cầu về đạo đức nghề nghiệp và còn là quy định pháp luật trong KTĐL, là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến CLKT cũng như sự hài lòng của đối tượng sử dụng kết quả kiểm toán (Boon & cộng sự, 2008) Khi KTV/nhóm kiểm toán độc lập với khách hàng nghĩa là sẽ có khả năng cung cấp một cuộc kiểm toán có chất lượng cao hơn
Tính độc lập trong kiểm toán bao gồm độc lập trong tư tưởng và độc lập về hình thức biểu hiện Độc lập trong tư tưởng thể hiện KTV cần phải đưa ra ý kiến khách quan và vô tư (Richard, 2006) Tính độc lập về hình thức biểu hiện nhằm đáp ứng đòi hỏi về tính độc lập đối với Người sử dụng
Nhiệm kỳ kiểm toán
Với các vụ gian lận lớn và phá sản gần đây của các doanh nghiệp, vấn đề mối quan hệ giữa khách hàng và DNKT ngày càng được chú trọng nhiều hơn Theo Mautz & Sharaf (1961), nhiệm kỳ của KTV càng dài thì CLKT càng giảm bởi lẽ nó làm gia tăng sự phụ thuộc của KTV vào BGĐ của khách hàng Sự thân mật của KTV đối với khách hàng sẽ làm hạn chế thái độ hoài nghi nghề nghiệp và do vậy làm giảm tính khách quan của KTV Theo Shockley (1981), khi DNKT có một “sự tin tưởng” khách hàng do có mối quan hệ lâu dài “sự tin tưởng” này có thể khiến cho KTV
sử dụng các thủ tục kiểm toán kém hữu hiệu và không sáng tạo, KTV có thể trở nên kém nỗ lực trong việc phát hiện các sai sót trọng yếu và có khuynh hướng đồng ý với BGĐ của khách hàng về các quyết định quan trọng
(2) Nhóm nhân tố thuộc về DNKT
Quy mô, mức độ chuyên ngành của DNKT
Quy mô DNKT là một trong những tiêu chí thường được sử dụng như là nhân tố
tiêu biểu cho CLKT
DeAngelo (1981) đã tiến hành các phân tích về sự ảnh hưởng của quy mô kiểm toán đến CLKT và kết luận rằng, DNKT quy mô lớn thường có chất lượng được đánh giá (bởi thị trường) cao hơn các DNKT quy mô nhỏ Theo DeAngelo, DNKT càng nhiều khách hàng thì họ càng bị áp lực kinh tế buộc phải duy trì và nâng cao CLKT