1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY TNHH DV NHÀ HÀNG GIA ĐÌNH MỚI

97 31 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ đó, tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KTQT trong các DN kinh doanh khách sạn từ việc lập ngân sách, tính giá thành dịch vụ phòng, kiểm soát doanh thu, chi phí đến các t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

TRƯƠNG THỊ VÂN THƯ

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY TNHH DV

NHÀ HÀNG GIA ĐÌNH MỚI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HỒ CHÍ MINH

-

TRƯƠNG THỊ VÂN THƯ

TỔ CHỨC CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI CÔNG TY TNHH DV NHÀ HÀNG GIA ĐÌNH MỚI

Chuyên ngành: Kế toán

Mã số: 60340301

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC

TS TRẦN ANH HOA

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2017

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Luật kế toán Việt Nam ban hành số: 88/2015/QH13, ngày 20 tháng 11 năm

2015, đã chỉnh sửa bổ sung thêm một số nội dung về KTTC và KTQT Đối với KTTC, hệ thống này được các cơ quan quản lý nhà nước ban hành và cơ bản đã tuân theo các thông lệ và chuẩn mực kế toán quốc tế Trong khi đó, việc áp dụng các công cụ KTQT trong các DN là không bắt buộc và các công cụ này chỉ được các DN Việt Nam tự phát đưa vào áp dụng từ khi VN chuyển sang nền kinh tế thị trường Trong xu thế mở cửa, hội nhập kinh tế khu vực và quốc tế, các DN Việt Nam nói chung và các DN hoạt động trong lĩnh vực Nhà Hàng Ẩm Thực nói riêng phải đối mặt trước sự cạnh tranh vô cùng gay gắt của các công ty trong nước và quốc tế Các thương hiệu nổi tiếng nước ngoài như McDonald’s, KFC, Lotteria, Burger King, Subway, Jollibee, Pizza Hut… xuất hiện hàng loạt trên các thành phố lớn ở Việt Nam và đang khai thác tốt thị trường này Do đó, để tồn tại và phát triển, các DN hoạt động trong lĩnh vực Ẩm Thực phải hiểu thấu đáo rõ các quy luật kinh

tế, phải biết sử dụng tốt các nguồn lực sẵn có của mình, phải biết tạo ra cơ hội và nắm bắt chúng Muốn vậy, DN cần phải có những thông tin kinh tế hữu ích liên quan đến hoạt động xảy ra cả bên trong và lẫn bên ngoài DN Một hệ thống KTQT hiệu quả sẽ giúp cho DN có được những thông tin kinh tế hữu ích phục vụ cho việc hoạch định, triển khai, kiểm tra, đánh giá và ra quyết định đúng đắn, kịp thời

Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới là một công ty có vốn 100% Việt Nam, hoạt động theo chuỗi hệ thống nhà hàng chuyên cung cấp các món ẩm thực thuần Việt và Á, Âu, Mỹ, Công ty bao gồm 8 chi nhánh nhà hàng và 2 kho Tổng nằm trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai Trong những năm gần đây, tổ chức công tác kế toán của công ty vẫn đang xây dựng và dần hoàn

thiện, còn về tổ chức công tác KTQT của Công ty vẫn chưa được triển khai, Công

ty chỉ mới xuất hiện một vài biểu hiện của KTQT nhưng vẫn còn chưa rõ nét và rời rạc, chưa có hệ thống chứng từ sổ sách, công nghệ thông tin, nhân sự dành riêng cho KTQT Việc nhận thức và hiểu biết về KTQT của nhà quản trị vẫn còn nhiều

Trang 4

hạn chế Từ thực tế đó, việc tổ chức công tác KTQT tại Công ty là một yêu cầu cấp thiết nhằm giúp cho Công ty tạo thế đứng vững vàng trên thị trường cạnh tranh gay

gắt như hiện nay và đó cũng là lý do tác giả chọn đề tài “Tổ chức công tác kế toán

quản trị tại Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới” làm đề tài nghiên cứu

2 Tổng quan các nghiên cứu trước

*Các nghiên cứu ở nước ngoài liên quan đến việc tổ chức công tác KTQT tại một doanh nghiệp

(1) Abdel-Kader, M & Luther, R (2006.b) Management Accounting

Practices in the British Food and Drinks Industry British Food

Journal, 108(5), 336-357

Mục đích của nghiên cứu này nhằm điều tra và báo cáo các hoạt động KTQT liên quan đến ngành công nghiệp thực phẩm và đồ uống tại Anh

Nghiên cứu cho thấy rằng các chi phí trực tiếp, chi phí hoạt động cơ bản và

dự toán ngân sách được các nhà quản trị quan tâm nhiều Phân tích lợi nhuận sản phẩm được sử dụng thường xuyên, điều đáng ngạc nhiên là có tới 50% lợi nhuận mang lại từ các khách hàng cá nhân Trái lại, bảng điểm cân bằng và các chỉ số phi tài chính được các nhà quản trị coi là quan trọng nhưng có tới 40% các công ty không sử dụng chúng Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các nhà quản trị ngày càng quan tâm hơn đến việc tổ chức KTQT cho công ty của họ, điều này cho thấy một dấu hiệu phát triển của KTQT trong tương lai

(2) Ana C Urquidi, (2013) The Choice of Management Accounting Techniques in the Hotel Sector: The Role of Contextual Factors

Journal of Management Research, 2013, 5(2), 65-82

Nghiên cứu này phân tích các kỹ thuật KTQT hiện đang được sử dụng trong các khách sạn 4-5 sao, xem xét vai trò của các yếu tố ngữ cảnh trong việc lựa chọn

và sử dụng các kỹ thuật của KTQT Tác giả sử dụng phương pháp định tính và giải thích, nghiên cứu trong nhiều trường hợp khác nhau Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng công tác tổ chức hoạt động và môi trường văn hóa là nhân tố tạo ra các kỹ thuật KTQT mới

Trang 5

(3) Dr Okpanachi Joshua and Mohammed, Nma Ahmed (2013) Budget Target Setting and Effective Performance Measurement in Nigerian

Hospitality Industry Journal of Finance & Economics, 1(3), 39-50

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm xây dựng hệ thống dự toán ngân sách

và cách đo lường các chỉ số hiệu quả kinh doanh của ngành khách sạn ở Nigerian

Phương pháp khảo sát được áp dụng cho nghiên cứu này Đối tượng nghiên cứu bao gồm tất cả các nhà quản lý, nhân viên kế toán, nhân viên tài chính, và nhân

sự của các khách sạn nằm ở bang Kaduna Phương pháp phân tích dữ liệu được sử dụng là tính toán tỷ lệ phần trăm đơn giản và thống kê lại từ bảng câu hỏi khảo sát

Nghiên cứu cho thấy rằng các thủ tục xây dựng dự toán ngân sách trong ngành khách sạn tại bang Kaduna đã không được quan tâm nhiều trong khi dự toán ngân sách là một công cụ hiệu quả để đánh giá hiệu quả kinh doanh của các cá nhân

và DN trong ngành khách sạn Do đó, tác giả đã đề nghị các nhà quản trị khách sạn nên tập trung nỗ lực tăng cường thực hiện dự toán ngân sách để đạt mục tiêu đề ra

(4) Dung, N T N., & Masaaki Aoki (2014) The Evolution of Management Accounting Practices in Vietnam - a Survey Research

on Vietnamese Food and Beverage enterprises The Keizai Gaku,

Annual Report of Economic Society Tohoku University, 74(4), 167-184

Mục đích của nghiên cứu này là để xem xét sự phát triển của mô hình KTQT

trong các DN F&B (Food and Beverage) ở Việt Nam Tác giả tập trung vào các DN

này bởi vì đây được coi là ngành công nghiệp sản xuất lớn nhất của Việt Nam trong nhiều năm qua Tác giả sử dụng bảng câu hỏi khảo sát trong phạm vi các DN nêu trên để tìm ra DN nào sử dụng mô hình KTQT truyền thống và DN nào sử dụng mô hình KTQT hiện đại Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng: mô hình KTQT truyền thống được sử dụng rộng rãi hơn mô hình KTQT hiện đại (mô hình KTQT truyền thống là giai đoạn 1 – giai đoạn 2 của tiến trình phát triển KTQT theo mô hình của IFAC (1998) và mô hình của Nishiruma (2003) Mô hình KTQT hiện đại là giai đoạn 3 – giai đoạn 4 của tiến trình phát triển KTQT theo mô hình của IFAC và mô

hình của Nishiruma) Có 83,3% các DN sử dụng chi phí toàn bộ (obcorption

Trang 6

costing) để tính toán giá thành sản phẩm Chi phí hoạt động (activity-based costing)

và chi phí mục tiêu (target costing) được một số DN lớn sử dụng nhưng tỷ lệ rất

thấp Điều đặc biệt là không có một DN nào sử dụng phương pháp cải tiến Kaizen

để quản lý DN, cũng như không có DN nào sử dụng mô hình quản trị chiến lược hiện đại như: phân tích giá trị thương hiệu, bảng điểm cân bằng (BSC)… để vận hành bộ máy KTQT trong các DN của bài nghiên cứu

(5) Agnes Kanyan et al, (2016) Improving the Service Operations of

Fast-food Restaurants Procedia - Social and Behavioral Sciences,

Vol 224, pp.190–198

Mục tiêu của nghiên cứu này là nhằm điều tra nguyên nhân và các vấn đề phải đối mặt của một nhà hàng ở Kuching (Malaysia) Nghiên cứu còn cung cấp các gợi ý để cải thiện các vấn đề dịch vụ khách hàng yếu kém dựa trên các phương diện của quản lý hoạt động

Dịch vụ khách hàng yếu kém được xác định là vấn đề chính Nguyên nhân của vấn đề này được chia thành 4 loại: Đó là con người, môi trường, thiết bị / vật liệu và phương pháp / thủ tục Nghiên cứu này cũng cung cấp cách để cải thiện hiệu suất hoạt động cho nhà hàng và khắc phục những vấn đề của việc quản lý dịch vụ yếu kém Các phương án đề xuất bao gồm: (1) cải tiến chất lượng bằng cách xác định những gì sẽ làm hài lòng khách hàng, (2) quản lý chất lượng toàn diện, (3) sử dụng bảng đánh giá dịch vụ để tăng cường sự tương tác giữa khách hàng và nhà hàng, (4) bố cục không gian, (5) quản lý nguồn nhân lực, (6) thực hiện quản lý chuỗi cung ứng tốt, và (7) bảo trì các thiết bị nhà hàng thường xuyên

(6) Penpichcha Siriwiwattanakul, (2016) Management Accounting

Practices of Hotel Business in Thailand Proceedings of the Fourth

European Academic Research Conference on Global Business, Economics, Finance and Banking (EAR16Swiss Conference), ISBN:

978-1-943579-88-4, Paper ID: Z651

Mục tiêu của nghiên cứu này là để điều tra việc thực hiện KTQT tại các khách sạn có quy mô lớn và vừa tại Thái Lan Kết quả của nghiên cứu này cho thấy

Trang 7

rằng KTQT là một công cụ để quản lý hàng ngày tại các khách sạn ở Thái Lan Nghiên cứu cũng cho thấy rằng các kỹ thuật KTQT truyền thống bao gồm các phương pháp chi phí, đo lường chi phí, phân tích ra quyết định, phân tích tỷ số tài chính, dự toán ngân sách và đánh giá các chỉ số được sử dụng thường xuyên trong kinh doanh khách sạn ở Thái Lan Khách sạn có quy mô lớn có xu hướng sử dụng nhiều các kỹ thuật KTQT hơn các khách sạn cỡ nhỏ và trung bình

Các nghiên cứu ở trong nước liên quan đến việc tổ chức công tác KTQT tại một doanh nghiệp

(1) Huỳnh Lợi, 2008 Xây dựng kế toán quản trị trong doanh nghiệp sản

xuất ở Việt Nam Luận án tiến sĩ Đại học Kinh Tế TP Hồ Chí Minh

Luận án đi sâu vào việc xây dựng mô hình và cơ chế vận hành mô hình KTQT trong DN sản xuất ở Việt Nam Tác giả chỉ ra rằng, với mô hình và cơ chế vận hành mô hình KTQT đã mở ra hy vọng tạo nên những nội dung cụ thể, những quy trình, thủ tục phân tích thu thập thông tin thích hợp để tạo điều kiện thuận lợi

áp dụng công nghệ thông tin vào KTQT Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài

là KTQT trong DN sản xuất nói chung, những DN đảm nhận quy trình chuyển hóa nguyên liệu, vật liệu thành sản phẩm và giới hạn nghiên cứu của đề tài chỉ là KTQT trong DN sản xuất nói chung ở Việt Nam

(2) Ngô Thị Thu Hồng, 2010 Kế toán quản trị ở doanh nghiệp nhỏ và

vừa Việt Nam Tạp chí kế toán, số tháng 12/2010, trang 23-25

Tác giả cho rằng, KTQT là một trong những công cụ hữu hiệu và đắc lực nhất giúp nhà quản lý điều hành và đưa ra quyết định đúng đắn và hiệu quả Tuy nhiên, các DNNVV lại chưa chú ý đến vai trò của KTQT, các DNNVV hầu như chỉ vận dụng KTTC để phục vụ cho việc lập báo cáo tài chính và cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng ở bên ngoài DN Qua bài viết, tác giả đã định hướng cho các DNNVV các bước cần thực hiện để tổ chức hệ thống KTQT cho phù hợp với quy mô và tình hình kinh doanh của DN

(3) Phạm Ngọc Toàn, 2010 Xây dựng nội dung và tổ chức kế toán quản

trị cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam Luận án tiến sĩ Đại

Trang 8

học Kinh tế TP Hồ Chí Minh

Luận án đã tổng hợp, phân tích, trình bày các nội dung và tổ chức KTQT trong DN Luận án xây dựng nội dung KTQT áp dụng cho các DNNVV trên cơ sở phân tích hiện trạng, nhằm đưa ra cách thức tổ chức KTQT phù hợp với DNNVV ở Việt Nam Và cũng đưa ra các kiến nghị, giải pháp đối với các DNNVV, cơ quan quản lý Nhà Nước và các cơ sở đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực hỗ trợ cho các DNNVV trong công tác đào tạo nhân lực phù hợp với nội dung và cách thức tổ chức công tác KTQT hiệu quả nhất Một đóng góp mới của tác giả là xác định khá

cụ thể các mô hình tổ chức KTQT trong các DNNVV như mô hình kết hợp, mô hình tách biệt và mô hình hỗn hợp Tác giả khằng định rằng: Tổ chức KTQT theo

mô hình kết hợp là mô hình có tính thực tiễn cao và phù hợp cho các DNNVV ở Việt Nam Đưa ra được nội dung và cách thức KTQT ở một số ở một số nước như

Mỹ, Pháp và đặc biệt là một số nước trong khu vực có nền kinh tế tương đồng với Việt Nam như Thái Lan, Singapore… Từ đó rút ra được các bước cần thực hiện để thiết lập nội dung và tổ chức KTQT trong các DNNVV ở Việt Nam

(4) Nguyễn Thùy Phương, 2011 Hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại

Công ty CP Du Lịch Xanh Huế Luận văn thạc sĩ Đại học Đà Nẵng

Trong nghiên cứu này, tác giả đưa ra những điều đã làm được và chưa làm được trong công tác KTQT tại Công ty Cổ phần Du Lịch Xanh Huế, cụ thể là tại khách sạn Xanh Từ đó, tác giả đã hệ thống hóa một số vấn đề lý luận về KTQT trong các DN kinh doanh khách sạn từ việc lập ngân sách, tính giá thành dịch vụ phòng, kiểm soát doanh thu, chi phí đến các trường hợp ra quyết định của nhà quản trị cho hoạt động kinh doanh khách sạn Nghiên cứu có ý nghĩa cung cấp thông tin tốt hơn cho các nhà quản trị tại khách sạn Xanh và nó còn là một tài liệu hữu ích cho công tác quản lý của các khách sạn 4 sao tại Huế

(5) Trương Thị Trinh Nữ, 2011 Hoàn thiện kế toán quản trị chi phí tại

Công ty Dịch vụ Hàng không Sân bay Đà Nẵng Luận văn thạc sĩ Đại

học Đà Nẵng

Với nghiên cứu này, tác giả góp phần hệ thống hóa những lý luận về công tác

Trang 9

KTQT chi phí trong DN kinh doanh dịch vụ Phân tích, đánh giá thực trạng và chỉ

ra nguyên nhân tồn tại trong việc tổ chức công tác KTQT chi phí trong DN dịch vụ hàng không tại sân bay Đà Nẵng Ngoài ra tác giả cũng đã đưa ra một số đề xuất và giải pháp cụ thể để giải quyết các vấn đề quản trị chi phí tại sân bay

(6) Nguyễn Thị Phương, 2015 Hoàn thiện báo cáo kế toán quản trị tại

Công ty Cổ phần Khu Du Lịch Bắc Mỹ An – Furama Resort Đà Nẵng

Luận văn thạc sĩ Đại học Đà Nẵng

Nghiên cứu tập trung vào việc lập các báo cáo KTQT trong việc đáp ứng nhu cầu thông tin cho các nhà quản trị tại Furama Resort Đà Nẵng Ngoài ra nghiên cứu còn đề xuất một giải pháp hoàn thiện hệ thống báo cáo KTQT hiện tại nhằm đảm bảo thông tin đầy đủ, kịp thời cho các cấp quản trị tại công ty

Bên cạnh đó, nhiều tác giả khác cũng nghiên cứu về KTQT trong một số loại hình DN nhất định như sau: Tác giả Văn Thị Thái Thu (2008) với nghiên cứu

“Hoàn thiện tổ chức kế toán quản trị chi phí, doanh thu, kết quả kinh doanh trong các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn ở Việt Nam” Tác giả Lê Thị Mỹ Linh

(2013) đã nghiên cứu về “Hoàn thiện công tác kế toán quản trị tại Công ty cổ phần

XNK thủy sản Cà Ná” Tác giả Nguyễn Thị Tú Trinh (2014) nghiên cứu về “Ứng dụng kế toán quản trị trong Công ty cổ phần giao nhận kho vận ngoại thương Việt Nam (Vinatrans)” Tác giả Trần Thị Phương Thảo (2014) nghiên cứu về “Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH Vi Na Men”…

Tóm lại

Dựa theo các nghiên cứu trước về tổ chức KTQT trong lĩnh vực dịch vụ của các tác giả trong và ngoài nước, tác giả đã kế thừa vận dụng vào tổ chức công tác KTQT cho Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới – chuyên kinh doanh về dịch vụ

ăn uống Có thể khẳng định cho đến nay, chưa có một đề tài nào nghiên cứu về tổ

chức công tác KTQT tại công ty Từ đó, tác giả xác định đề tài nghiên cứu là “Tổ

chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới”

3 Mục tiêu nghiên cứu

Mục tiêu chung của luận văn là tổ chức công tác KTQT tại Công ty TNHH

Trang 10

DV Nhà Hàng Gia Đình Mới Bên cạnh đó, luận văn cũng nhằm thỏa mãn các mục tiêu cụ thể như sau:

1 Hệ thống hóa những lý thuyết liên quan đến KTQT và ứng dụng KTQT vào một doanh nghiệp

2 Phân tích về thực trạng công tác KTQT tại Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới

3 Xây dựng một số nội dung KTQT tại Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

Cụ thể là: (1) Xây dựng dự toán ngân sách, (2) Xây dựng hệ thống kế toán

trách nhiệm và (3) xây dựng hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: Các nội dung về KTQT, tổ chức công tác KTQT tại

Công ty

Phạm vi nghiên cứu: Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới

5 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp định tính với các công cụ như: quan sát, phỏng vấn, khảo sát, thu thập, tổng hợp và phân tích để hoàn thành các mục tiêu đề

ra Cụ thể như sau:

- Để hoàn thành mục tiêu thứ nhất, tác giả tổng hợp các lý thuyết về KTQT liên quan đến lĩnh vực kinh doanh nhà hàng để làm nền tảng vận dụng cho việc tổ chức công tác KTQT cho Công ty

- Để hoàn thành mục tiêu thứ hai, tác giả tiến hành thu thập và tổng hợp các báo cáo liên quan đến KTQT của Công ty Từ đó, tác giả phân tích thực trạng

và đánh giá ưu nhược điểm về công tác KTQT tại Công ty

- Để hoàn thành mục tiêu thứ ba, tác giả tiến hành so sánh giữa lý thuyết và thực tiễn nhằm xây dựng một số nội dung KTQT cho Công ty

6 Ý nghĩa thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu góp phần hệ thống hóa các lý luận về tổ chức công tác KTQT trong DN kinh doanh dịch vụ nhà hàng

Phân tích, đánh giá thực trạng công tác KTQT và chỉ ra những nguyên nhân

Trang 11

hạn chế của Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

Đưa ra một số giải pháp chủ yếu trong việc tổ chức công tác KTQT cho Công

ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

7 Hướng nghiên cứu tiếp theo

Ngoài những nội dung KTQT được trình bày ở chương 3 như: Xây dựng dự toán ngân sách, xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm, xây dựng hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí cho Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới thì vẫn còn nhiều nội dung khác của KTQT mà luận văn chưa đề cặp đến như: Phân tích điểm hòa vốn theo từng sản phẩm, lập báo cáo bộ phận theo hình thức số dư đảm phí… Tác giả đề xuất các nội dung này cho những nghiên cứu tiếp theo nhằm hoàn thiện công tác tổ chức KTQT cho công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

8 Bố cục của đề tài

Bố cục của luận văn được trình bày như sau: Phần mở đầu, phần nội dung, phần kết luận và phụ lục đính kèm Trong đó, phần nội dung bao gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán quản trị trong các doanh nghiệp

- Chương 2: Thực trạng công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới

- Chương 3: Tổ chức công tác kế toán quản trị tại Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới

Trang 12

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TRONG

CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Tình hình phát triển của kế toán quản trị

1.1.1 Trên thế giới

Tháng 3 năm 1998, Liên Đoàn Kế Toán Quốc Tế (IFAC) ban hành một báo

cáo với tên gọi “Các khái niệm về kế toán quản trị số 1 – Management Accounting

Concepts Number 1” để giải thích về quá trình tiến hóa và thay đổi của KTQT

IFAC mô tả quá trình tiến hóa của KTQT đã trải qua 4 giai đoạn

Giai đoạn 1 (trước năm 1950) tập trung chủ yếu vào xác định chi phí để tính

giá thành và kiểm soát tình hình tài chính của DN Ở giai đoạn này, KTQT được

xem như là một “hoạt động kỹ thuật – technical activity” điều mà cần thiết cho mục

tiêu của tổ chức Dự toán ngân sách và các công cụ của kế toán chi phí cũng được

sử dụng rộng rãi ở giai đoạn này

Giai đoạn 2 (từ năm 1960 đến năm 1965), ở giai đoạn này KTQT đã bắt đầu

hỗ trợ cho nhà quản trị trong quá trình lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định Kỹ

thuật chủ yếu được sử dụng trong giai đoạn này là kỹ thuật phân tích để ra quyết định và kế toán trách nhiệm KTQT ở giai đoạn này đã thay đổi từ “hoạt động kỹ

thuật – technical activity” thành “hoạt động quản lý gián tiếp – management

activity but in a staff role” Nó mang ý nghĩa như là sự hỗ trợ từ phía một nhà quản

trị gián tiếp đối với nhà quản trị trực tiếp thông qua việc cung cấp thông tin cho việc lập kế hoạch, kiểm soát và ra quyết định

Giai đoạn 3 (từ năm 1965 đến năm 1985), khoảng thời gian này là giai đoạn

phát triển vượt bậc của KTQT KTQT tập trung quan tâm vào việc làm “giảm hao

phí nguồn lực sử dụng – waste reduction” trong các quá trình hoạt động sản xuất

kinh doanh, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật phân tích quá trình và chuyển từ kế toán chi phí sang quản trị chi phí

Giai đoạn 4 (từ năm 1995 đến nay), KTQT chuyển sang quan tâm đến việc

“tạo ra giá trị – value creation” bằng cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực thông

qua việc sử dụng các kỹ thuật đánh giá các yếu tố tạo nên giá trị cho khách hàng,

Trang 13

giá trị cho cổ đông, sự thay đổi trong quy trình hoạt động kinh doanh nội bộ và học hỏi, phát triển (IFAC, 1998)

Bên cạnh quá trình hình thành và phát triển, các định nghĩa về KTQT dần được hình thành và theo như định nghĩa của IFAC (1998): “Kế toán quản trị là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội

bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó”

1.1.2 Tại Việt Nam

Ở Việt Nam, kế toán quản trị đã trải qua qua 3 giai đoạn phát triền:

Giai đoạn 1 (Trước năm 1986) Đây là giai đoạn mà ở Việt Nam hiện diện

một cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp với thành phần chủ yếu là các đơn vị kinh tế của Nhà nước Hệ thống kế toán Việt Nam dựa theo mô hình kế toán của Xô-viết cũ Hệ thống kế toán này phục vụ chủ yếu cho nhu cầu quản lý của chính phủ và cơ quan thuế, thị trường hoàn toàn không có sự cạnh tranh Thuật ngữ

“kế toán – accounting” hầu như mang ý nghĩa “ghi chép sổ sách - bookkeeping” và

không có một thuật ngữ nào về “kế toán quản trị” vào khoảng thời gian này

(Adams and Do, 2005)

Giai đoạn 2 (Từ năm 1986 đến cuối năm 1991) Từ năm 1986, Việt Nam

tiến hành “đổi mới – renovation” cơ chế quản lý kinh tế, chuyển từ cơ chế quản lý kinh tế tập trung bao cấp sang “nền kinh tế thị trường định hướng XHCN –

socialist-oriented market economy” Điều này đã bước đầu tạo ra những thay đổi

trong chính sách kế toán của Việt Nam Hệ thống báo cáo của các đơn vị kinh tế đã giảm dần tính bắt buộc mà thay vào đó có tính hướng dẫn về các báo cáo phục vụ các chức năng quản trị Tuy nhiên do vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề của kế toán thời

kỳ tập trung bao cấp nên vẫn chưa hội tụ đủ những điều kiện để KTQT ra đời

(Adams and Do, 2005)

Giai đoạn 3 (Từ năm 1991 đến nay), Việt Nam đã tiến hành xây dựng, phát

triển và hoàn thiện cơ chế kinh tế thị trường Điều này buộc nước ta phải thay đổi

Trang 14

chính sách kế toán cho phù hợp với xu thế mới của thời đại Đánh dấu cho sự mở đầu này khi Luật kế toán Việt Nam được Quốc hội khoá XI kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003 có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2004 đã quy định về KTQT ở các đơn

vị như sau: “KTQT là việc thu thập, xử lý và cung cấp thông tin tài chính theo yêu cầu và quyết định kế toán trong nội bộ đơn vị kế toán” (Luật kế toán Việt Nam - điều 3, khoản 4) Tuy nhiên, việc này chỉ được dừng lại ở góc độ nhìn nhận và xem

xét, chưa có một quyết định cụ thể hay hướng dẫn thi hành mang tính tổng quát

Đến ngày 12/6/2006, thông tư số 53/2006/TT-BTC của Bộ Tài Chính về hướng dẫn áp dụng KTQT trong DN chính thức được ra đời nhằm hướng dẫn cho các doanh nghiệp thực hiện KTQT Từ khi ra đời đến nay KTQT vẫn mò mẫm lối

đi, vẫn chưa có một tổ chức nào có đủ chuyên môn và kinh nghiệm chuyên tư vấn xây dựng hệ thống KTQT Còn đối với các DN, thì KTQT vẫn còn xa vời về mặt lý luận lẫn vận hành

1.2 Vai trò của kế toán quản trị

Quản trị là một phương thức làm cho những hoạt động tiến tới mục tiêu của

tổ chức được hoàn thành với hiệu quả cao KTQT bao gồm 4 vai trò chính:

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng hoạch định (planning): Theo

Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng hoạch định là thiết lập mục tiêu cho tổ chức và xác định con đường để thực hiện chúng, bằng việc chọn cách triển

khai hành động cụ thể

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng tổ chức – điều hành (organizing – directing): Theo Bamber et al (2008) thì vai trò phục vụ chức năng tổ chức – điều

hành là “triển khai và giám sát các hoạt động của tổ chức hằng ngày - overseeing

the company's day-to-day operations”, theo dõi việc thực hiện các kế hoạch để đạt

được các mục tiêu của tổ chức Ngoài ra, sau khi lên kế hoạch, tổ chức cần phải hướng dẫn cụ thể cách thực hiện mục tiêu đó

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng kiểm soát (controlling) là "đánh giá

các kết quả hoạt động kinh doanh của tổ chức, so sánh và điều chỉnh giữa kế hoạch

và thực hiện để luôn hướng đúng với mục tiêu của tổ chức – evaluating the results

Trang 15

of business operations against the plans and making adjustment to keep the company pressing towards its goals" (Bamber et al, 2008) Nói cách khác, giữa việc

lập kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cần phải được kiểm soát để đảm bảo hiệu quả đề

ra (Mohammad, A and Ayuba, A., 2012)

Vai trò của KTQT phục vụ chức năng ra quyết định (decision making):

KTQT liên quan đến việc hoạch định, tổ chức – điều hành và kiểm soát, điều này có nghĩa là chúng đang tham gia vào quá trình ra quyết định, đây chính là vai trò còn lại của KTQT (Mohammad, A and Ayuba, A., 2012)

Theo Mohammad Ahid & Ayuba Augustine, bốn chức năng này phụ thuộc

và liên kết chặt chẽ với nhau Mối liên kết này được thể hiện qua sơ đồ 1.1 như sau:

Sơ đồ 1.1 Mối quan hệ giữa các chức năng trong kế toán quản trị

Nguồn: Mohammad Ahid &Ayuba Augustine (2012) The Roles and Responsibilities of Management Accountants in the Era of Globalization Global Journal of Management and Business Research, Vol 12(15), pp 47

1.3 Các nội dung cơ bản của kế toán quản trị

1.3.1 Hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí

1.3.1.1 Phân loại chi phí

Sau khi tham khảo báo cáo của IFAC (1998) với tên gọi “Management

accounting concepts: International Management Accounting Practice Statement” và

nghiên cứu của Ashish Lodha (2013) về “Cost – M

ethods, Techniques of Cost Accounting and Classification of Cost”, tác giả

khái quát lại cách phân loại chi phí theo các tiêu thức phân loại cơ bản sau: (1) theo

chức năng hoạt động, (2) theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động

Ra quyết định

Hoạch định

Tổ chức - Điều hành Kiểm soát Phản hồi

Trang 16

kinh doanh, (3) theo phương pháp quy nạp, (4) sử dụng trong đánh giá thành quả quản lý, (5) theo cách ứng xử của chi phí Cách phân loại này được khái quát qua sơ

đồ 1.2 như sau:

Sơ đồ 1.2: Phân loại chi phí

(1) Phân loại chi phí theo chức năng hoạt động

Chi phí sản xuất (production cost) là toàn bộ chi phí liên quan đến việc sản

xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định Hoạt động của một DN sản xuất gắn liền với sự chuyển biến của nguyên liệu thành thành phẩm thông qua sự nỗ lực của công nhân và việc sử dụng thiết bị sản xuất, do đó CPSX của một sản phẩm trong các DN sản xuất được tạo thành từ ba yếu tố cơ bản sau: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC

Chi phí ngoài sản xuất (non-production cost) là những loại chi phí phát sinh

- Chi phí gián tiếp

- Chi phí kiểm soát được

- Chi phí không kiểm soát được

- Biến phí

- Định phí

- Chi phí hỗn hợp

Trang 17

phẩm hàng hoá, chi phí ngoài sản xuất bao gồm chi phí BH và chi phí QLDN

(2) Phân loại chi phí theo mối quan hệ với thời kỳ xác định kết quả hoạt động kinh doanh

Chi phí sản phẩm (product cost) là toàn bộ những chi phí liên quan đến việc

sản xuất hoặc mua các sản phẩm Đối với các sản phẩm sản xuất công nghiệp thì các chi phí này bao gồm: chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp và chi phí SXC Các chi phí sản phẩm được gắn liền với sản phẩm và chúng được chuyển sang

kỳ sau khi sản phẩm đang còn tồn kho chờ bán và khi sản phẩm đã được tiêu thụ thì chúng được xem là phí tổn thời kỳ và được tính trừ vào kết quả hoạt động kinh doanh trong kỳ

Chi phí thời kỳ (period cost) là những chi phí phát sinh trong một thời kỳ và

được tính hết thành phí tổn trong kỳ để xác định kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị Chi phí BH và chi phí QLDN là những chi phí thời kỳ Chi phí thời kỳ sẽ được tính đầy đủ trên các báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của đơn vị Chi phí thời kỳ ngay khi phát sinh đã được coi là phí tổn trong kỳ

(3) Phân loại chi phí theo phương pháp quy nạp

Chi phí trực tiếp (direct cost) là những chi phí khi phát sinh được tính trực

tiếp vào các đối tượng sử dụng như: Chi phí NVL trực tiếp, chi phí NC trực tiếp, nó được tính thẳng vào từng đơn đặt hàng, từng nhóm sản phẩm, từng sản phẩm…

Chi phí gián tiếp (indirect cost) là những chi phí khi phát sinh không thể tính

trực tiếp vào các đối tượng sử dụng, mà cần phải tiến hành phân bổ theo một tiêu thức phù hợp Ví dụ như chi phí SXC sẽ được phân bổ cho các đối tượng sử dụng theo giờ lao động trực tiếp, số giờ máy, số lượng sản phẩm sản xuất…

(4) Phân loại chi phí sử dụng trong đánh giá thành quả quản lý

Chi phí kiểm soát được (controllable cost) đối với một cấp quản lý là những

chi phí mà nhà quản trị cấp đó được quyền ra quyết định

Chi phí không kiểm soát được (non-controllable cost) là chi phí mà nhà

quản trị cấp đó không được quyền ra quyết định

(5) Phân loại chi phí theo cách ứng xử của chi phí

Trang 18

Việc xem xét chi phí sẽ thay đổi như thế nào khi mức độ hoạt động thay đổi gọi là sự ứng xử của chi phí Dựa trên cách ứng xử của chi phí đối với sự thay đổi của mức độ hoạt động có thể chia toàn bộ chi phí thành ba loại: Biến phí, định phí, chi phí hỗn hợp

Biến phí (variable cost) là những chi phí mà giá trị của nó sẽ tăng, giảm theo

sự tăng giảm về mức độ hoạt động Tổng số của biến phí sẽ tăng khi mức độ hoạt động tăng và ngược lại Tuy nhiên, nếu tính trên một đơn vị của mức độ hoạt động thì biến phí lại không đổi trong phạm vi phù hợp Biến phí chỉ phát sinh khi có hoạt động Biến phí được phân thành các loại sau: Biến phí tuyến tính, biến phí cấp bậc

và biến phí phi tuyến

Định phí (fixed cost) là những chi phí mà tổng số của nó không thay đổi khi

mức độ hoạt động thay đổi Nên khi mức độ hoạt động tăng thì phần định phí tính trên một đơn vị hoạt động sẽ giảm đi và ngược lại Định phí có thể chia thành hai loại như sau: Định phí bắt buộc và định phí không bắt buộc

Chi phí hỗn hợp (semi-variable cost or semi-fixed cost) là chi phí mà thành

phần của nó bao gồm cả yếu tố bất biến và yếu tố khả biến Ở mức độ hoạt đông căn bản, chi phí hỗn hợp thường thể hiện các đặc điểm của định phí, ở mức độ hoạt động vượt quá mức căn bản nó thể hiện đặc điểm của biến phí Sự pha trộn giữa định phí và biến phí có thể theo những tỷ lệ nhất định Để xác định thành phần biến phí và định phí trong chi phí hỗn hợp, có ba phương pháp cơ bản thường được sử dụng là phương pháp cực đại – cực tiểu, phương pháp đồ thị phân tán và phương pháp bình phương bé nhất

1.3.1.2 Phân tích biến động chi phí

Để kiểm soát được chi phí, các nhà quản trị cần phải phân tích sự biến động của chi phí, xem các loại CPTT đã phát sinh tăng giảm như thế nào so với dự toán, đồng thời tìm hiểu được nguyên nhân của sự tăng giảm đó để có thể đề ra những giải pháp kịp thời Theo Huỳnh Lợi (2012), phân tích sự biến động của chi phí trong

DN gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Xác lập chỉ tiêu phân tích

Trang 19

Xác định rõ nội dung chi phí cần phân tích và biểu diễn chi phí thành một biểu thức toán học trong mối liên hệ với nhiều nhân tố cần xem xét đánh giá

Bước 2: Xác định đối tượng phân tích

Đối tượng phân tích là những biến động của chỉ tiêu cần phân tích, ở đây chính là chênh lệch của chỉ tiêu chi phí cần phân tích giữa thực tế so với dự toán

Bước 3: Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến sự biến động

của CPSX kinh doanh

Tiến hành dùng các phương pháp kỹ thuật tính toán để lượng hóa mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của CPSX kinh doanh

Bước 4: Xác định nguyên nhân, xu hướng và giải pháp

Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến sự biến động của chi phí theo chiều hướng thuận lợi hay bất lợi, chỉ ra được nguyên nhân chủ quan và khách quan tác động làm tiết kiệm hay lãng phí chi phí Đồng thời chỉ rõ được những người có trách nhiệm liên quan và đề ra các giải pháp thích hợp để quản lý chi phí

1.3.1.3 Các mô hình kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm

Theo Huỳnh Lợi (2012), có ba mô hình kế toán CPSX và tính giá thành sản

phẩm thường gặp: (1) theo chi phí thực tế, (2) theo chi phí thực tế kết hợp với ước

tính và (3) theo chi phí định mức

(1) Mô hình kế toán CPSX và tính giá thành theo CPTT

Theo mô hình này, chi phí của sản phẩm sản xuất bao gồm chi phí NVL trực

tiếp thực tế, chi phí NC trực tiếp thực tế và chi phí SXC thực tế phát sinh trong quá

trình quản xuất sản phẩm

Mô hình này đảm bảo tính chính xác của CPSX thực tế phát sinh trong kỳ, giá thành thực tế trong kỳ Tuy nhiên, thông tin về giá thành sản phẩm không cung cấp kịp thời cho yêu cầu quản lý, định hướng sản xuất và kiểm soát CP trong kỳ

(2) Mô hình kế toán CPSX và tính giá thành theo CPTT kết hợp với ước tính

Theo mô hình này, chi phí của sản phẩm sản xuất được tính toán bằng cách

cộng các chi phí NVL trực tiếp thực tế, chi phí NC trực tiếp thực tế và chi phí SXC

Trang 20

ước tính phát sinh trong quá trình sản xuất sản phẩm

Sơ đồ 1.3: Phương pháp chi phí thực tế kết hợp với ước tính

Như vậy, phương pháp CPTT kết hợp với ước tính và phương pháp CPTT chỉ khác nhau ở phần chi phí SXC Trong phương pháp CPTT kết hợp với ước tính, chi phí SXC được ước tính cho các sản phẩm sản xuất bằng việc áp dụng một tỷ lệ xác định trước Tỷ lệ này được tính toán trên cơ sở các hoạt động sản xuất hoặc chi phí của hoạt động sản xuất, thí dụ như số giờ lao động trực tiếp, số giờ máy hoạt động, chi phí NC trực tiếp…

Mô hình theo CPTT kết hợp với chi phí ước tính phần nào đã giải quyết được tốc độ thông tin chi phí, giá thành trong kỳ để phục vụ cho việc điều hành sản xuất

và các quyết định quản trị chi phí, giá thành Tuy nhiên, mô hình này đòi hỏi một

quy trình điều chỉnh chi phí SXC phức tạp cuối kỳ

(3) Mô hình kế toán CPSX và tính giá thành theo chi phí định mức

Theo mô hình này, giá thành được tính theo chi phí định mức cho cả ba khoản mục phí (NVL trực tiếp, NC trực tiếp và SXC) Phần chênh lệch giữa CPTT

và chi phí định mức sẽ được xử lý vào tài khoản Giá vốn hàng bán

Để áp dụng được mô hình này, DN cần tiến hành xây dựng các định mức chi phí cụ thể cho từng loại sản phẩm và để thu hẹp khoảng cách giữa chi phí định mức

và CPTT, các định mức chi phí cần được định kỳ xem xét lại cho hợp lý

Trên đây là ba mô hình kế toán CPSX và tính giá thành sản phẩm của KTQT

mà các DN thường sử dụng Theo tác giả, mô hình theo phương pháp CPTT kết hợp

Trang 21

với ước tính và theo phương pháp chi phí định mức có tính ưu việt hơn Tuy nhiên hai mô hình này phát sinh thêm công việc cho kế toán trong quá trình xác định kết quả kinh doanh cuối kỳ Đối với các DNNVV đang kinh doanh trong lĩnh vực ăn uống, nguồn lực tài chính và nhân sự còn rất hạn chế như hiện nay, tác giả đề xuất các DNNVV này nên lựa chọn mô hình theo phương pháp thực tế để có thể tiết kiệm thời gian và chi phí lao động

1.3.2 Dự toán

1.3.2.1 Khái niệm và mục đích của dự toán

a Khái niệm về dự toán

Theo Drury et al (1993) thì dự toán là một phương pháp kỹ thuật cần thiết cho việc lập kế hoạch và kiểm soát các hoạt động của tổ chức Còn theo như Abdel-Kader, M & Luther, R (2006.b) thì dự toán được xem như là một nội dung phổ biến nhất của việc vận dụng KTQT ở các nước đã phát triển và cả những nước đang phát triển

Và trong một số tác giả trong nước nghiên cứu về dự toán thì tác giả Phạm Ngọc Toàn (2010) cho rằng dự toán là một kế hoạch mà trong đó thể hiện những mục tiêu tổ chức cần phải đạt được đồng thời chỉ rõ cách thức huy động các nguồn

để thực hiện các mục tiêu mà tổ chức đặt ra Dự toán được xác định bằng hệ thống các chỉ tiêu về số lượng và giá trị cho một khoảng thời gian xác định trong tương lai Hay “Dự toán là quá trình tính toán chi tiết cho kỳ tới, nhằm huy động và sử dụng các nguồn lực theo các mục tiêu kế hoạch đề ra trong từng thời kỳ cụ thể” (Phạm Văn Dược, Trần Văn Tùng, 2011, trang 153)

a Mục đích của dự toán

Mục đích chính của dự toán ngân sách là hoạch định và kiểm soát (Drury et

al, 1993)

Hoạch định là dự toán ngân sách buộc nhà quản trị phải dự tính những gì sẽ

xảy ra trong tương lai Nếu những dự tính sẽ xảy ra có kết quả không tốt, các nhà quản trị phải thấy được những gì cần phải làm để thay đổi kết quả không mong

muốn đó

Trang 22

Kiểm soát là quá trình so sánh kết quả thực hiện với dự toán và đánh giá việc

thực hiện dự toán đó Việc kiểm soát phụ thuộc vào dự toán, nếu không có dự toán

thì DN sẽ không có cơ sở để so sánh và đánh giá kết quả của việc thực hiện dự toán

Chức năng hoạch định đi liền với chức năng kiểm soát, kết quả hoạt động thực tế được so sánh với dự toán ngân sách Nếu DN không thực hiện việc kiểm soát thì dự toán ngân sách sẽ không phát huy hết tác dụng vốn có của nó

1.3.2.2 Phân loại dự toán

(1) Phân loại dự toán theo thời gian

Dự toán ngắn hạn (short-term budget) thường được lập cho kỳ kế hoạch là

một năm và được chia ra từng kỳ ngắn hơn là hàng quý và hàng tháng Dự toán ngắn hạn bao gồm các dự toán chức năng như dự toán doanh thu, dự toán sản xuất,

dự toán tiền… Dự toán ngắn hạn được lập hàng năm trước khi niên độ kế toán kết thúc và được xem như là một công cụ của hoạch định nhằm làm mục tiêu hành động

của năm

Dự toán dài hạn (long-term budget) có thời gian trên một năm còn được gọi

là dự toán vốn, đây là dự toán được lập liên quan đến tài sản dài hạn Dự toán dài hạn thường bao gồm việc dự toán cho các mục tiêu dài hạn của DN như các chiến lược kinh doanh, các tài sản lớn, hệ thống phân phối Đặc điểm cơ bản của dự toán dài hạn là dự toán cho một khoảng thời gian dài và định hướng mục tiêu chiến lược

của DN Dự toán dài hạn được thực hiện thông qua các dự toán ngắn hạn năm

(2) Phân loại dự toán theo phương pháp lập (theo mức độ hoạt động)

Dự toán cố định (fixed budget) là dự toán được lập theo một mức độ hoạt

động nhất định Dự toán cố định phù hợp với DN có hoạt động kinh tế ổn định Nhược điểm của dự toán cố định chỉ dựa vào một mức độ hoạt động mà không xét tới mức độ này có thể bị biến động trong kỳ dự toán, do đó, nó không có ý nghĩa cao trong kiểm soát nếu các DN thay đổi quy mô hoạt động trong kỳ do điều kiện

hoặc môi trường kinh doanh biến động

Dự toán linh hoạt (flexible budget) là dự toán về doanh thu chi phí trong

một kỳ kinh doanh theo các mức độ hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạt được

Trang 23

lập theo mối quan hệ với quá trình hoạt động, giúp xác định ngân sách dự kiến tương ứng ở từng mức độ và phạm vi hoạt động khác nhau Dự toán linh hoạt được lập trước khi tiến hành sản xuất kinh doanh được xem là công cụ của hoạch định và

dự toán linh hoạt được lập sau khi kết thúc một kỳ kinh doanh thì được xem là công

cụ của kiểm soát Thông thường dự toán linh hoạt được lập ở 3 mức độ hoạt động

cơ bản: Mức độ hoạt động trung bình, mức độ hoạt động cao nhất, mức độ hoạt

động thấp nhất

1.3.2.3 Các mô hình dự toán

Theo tài liệu của Larry M Walther (bản chỉnh sửa năm 2016) với tên gọi

“Financial Accouting: Budget Processes And Human Behavior”, có ba mô hình dự

toán như sau:

(1) Mô hình ấn định từ trên xuống (top-down budget)

Sơ đồ 1.4 Mô hình thông tin từ trên xuống (Larry M Walther, 2016)

Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán được định ra từ ban quản lý cấp cao của tổ chức, sau đó truyền xuống cho quản lý trung gian, sau khi quản lý cấp trung gian xem xét sẽ chuyển xuống cho quản lý cấp cơ sở làm mục tiêu, kế hoạch trong việc tổ chức hoạt động tại từng bộ phận trong DN

Ưu điểm: đơn giản, ít tốn kém

Nhược điểm: mang nặng tính áp đặt từ quản lý cấp cao xuống nên rất dễ làm cho cấp dưới không thực hiện được, tạo ra sự bất bình

(2) Mô hình thông tin từ dưới lên (bottom-up budget)

Quản lý cấp cao (Chủ tịch và CEO)

Quản lý cấp trung gian

Quản lý cấp cơ sở

Quản lý cấp cơ sở

Quản lý cấp cơ sở

Quản lý cấp cơ sở

Trang 24

Sơ đồ 1.5 Mô hình thông tin từ dưới lên (Larry M Walther, 2016)

Theo mô hình này, cách lập dự toán là căn cứ vào các bộ phận cấp thấp nhất, căn cứ vào khả năng, năng lực hiện có của mình lập các chỉ tiêu của bộ phận mình sau đó sẽ trình quản lý cấp trung gian Quản lý cấp trung gian tổng hợp số liệu của cấp cơ sở và căn cứ vào năng lực và tính thực tiễn của bộ phận mình để tiến hành lập dự toán và trình lên quản lý cấp cao Quản lý cấp cao sẽ tổng hợp số liệu của quản lý cấp trung gian và kết hợp với tính khả thi, mục tiêu của tổ chức để xét duyệt

và đưa ra dự toán chính thức làm căn cứ thực hiện kế hoạch trong kỳ

Ưu điểm: các bộ phận tự đề xuất các chỉ tiêu của bộ phận mình nên sẽ có trách nhiệm thực hiện các chỉ tiêu đề ra

Nhược điểm: các bộ phận có thể đặt ra các chỉ tiêu thấp hơn năng lực thực tế của mình nhằm dễ dàng thực hiện và đạt được mục tiêu

(3) Mô hình thông tin phản hồi (negotiated budget hay top-down vs bottom-up budget)

Theo mô hình này, các chỉ tiêu dự toán đầu tiên được dự thảo từ ban quản lý cấp cao nhất trong DN và được truyền xuống cho các cấp quản lý trung gian Trên

cơ sở đó, các đơn vị quản lý trung gian sẽ phân bổ các chỉ tiêu xuống cho các đơn vị cấp cơ sở Các bộ phận quản lý cấp cơ sở căn cứ vào chỉ tiêu dự thảo, căn cứ vào khả năng và điều kiện của mình để xác định các chỉ tiêu dự toán có thể thực hiện được và những chỉ tiêu dự toán cần giảm bớt hoặc tăng lên Sau đó, bộ phận quản lý cấp cơ sở bảo vệ dự toán của mình trước bộ phận quản lý cấp trung gian

Quản lý cấp cao (Chủ tịch và CEO)

Quản lý cấp trung gian

Quản lý cấp cơ sở

Quản lý cấp cơ sở

Quản lý cấp cơ sở

Quản lý cấp cơ sở

Trang 25

Bộ phận quản lý cấp trung gian, trên cở sở tổng hợp các chỉ tiêu dự toán từ các bộ phận cấp cơ sở và khả năng thực tế của bộ phận mình quản lý mà tiến hành xác định các chỉ tiêu dự kiến của bộ phận mình Sau đó tiến hành bảo vệ dự toán trước cấp trên là bộ phận quản lý cấp cao

Bộ phận quản lý cấp cao trên cở sở tổng hợp số liệu dự toán từ các bộ phận cấp trung gian, căn cứ vào mục tiêu của đơn vị và tính thực tiễn Bộ phận quản lý cấp cao sẽ xét duyệt thông qua các chỉ tiêu dự toán của bộ phận quản lý trung gian

và bộ phận quản lý trung gian xét duyệt thông qua quản lý cơ sở Khi đó, dự toán chính thức được sử dụng như định hướng hoạt động của kỳ kế hoạch

Ưu điểm: do có sự phản hồi, phối hợp giữa các bộ phận nên tính khả thi của

mô hình này rất cao

Nhược điểm: phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí

Trong 3 mô hình trên thì mỗi mô hình có ưu và nhược điểm nhất định Theo tác giả, với mô hình ấn định từ trên xuống, thì đối với các DNNVV hoạt động kinh doanh ăn uống vẫn chưa thể thực hiện được vì số lượng nhân viên nhiều mà trình độ lao động giữa các bộ phận lại có sự chênh lệch lớn, nếu áp đặt từ trên xuống thì với trình độ nhân sự hiện tại chưa thể thực hiện được các dự toán mà DN đề ra

Trong ba mô hình thì mô hình thông tin phản hồi có tính ưu việt nhất Tuy nhiên, mô hình này phức tạp, tốn kém thời gian và chi phí lao động mà quy mô của các DN trên còn nhỏ, tài chính hạn hẹp, số lượng nhân sự cần sử dụng cho KTQT chưa có Vì vậy sẽ không khả thi nếu DN áp dụng mô hình thông tin phản hồi này

Vì thế, đối với các DNNVV đang kinh doanh lĩnh vực ăn uống này, tác giả

đề xuất nên sử dụng mô hình thông tin từ dưới lên Và để khắc phục nhược điểm các bộ phận có thể đặt ra các chỉ tiêu thấp hơn năng lực thực tế của mình nhằm dễ dàng thực hiện và đạt được mục tiêu thì nhà quản trị cấp cao và cấp trung gian cần thường xuyên kiểm tra việc thực hiện dự toán, nếu các bộ phận hoàn thành dự toán một cách dễ dàng thì nhà quản trị cần xem xét tiềm năng có thể đạt được dự toán cao hơn mà điều chỉnh lại dự toán cho phù hợp với năng lực của các bộ phận nhằm giảm thiểu sự lãng phí nguồn lực

Trang 26

1.3.3 Kế toán trách nhiệm

1.3.3.1 Định nghĩa kế toán trách nhiệm

Theo như định nghĩa của Kohler, E L và cộng sự (1983) thì kế toán trách nhiệm là việc phân loại, quản lý, duy trì, đánh giá và thẩm định các tài khoản phục

vụ cho mục đích cung cấp thông tin về chất lượng, số lượng và chỉ số thực hiện được từ những người được giao quyền hạn

Hay theo như Horngren, C T và cộng sự (2011), nhóm tác giả cho rằng: Kế toán trách nhiệm là một hệ thống kế toán công nhận các trung tâm trách nhiệm khác nhau trong toàn tổ chức, phản ánh kế hoạch và thực hiện của mỗi trung tâm này bằng cách ấn định doanh thu và chi phí cụ thể cho người có trách nhiệm đứng đầu mỗi trung tâm Nó còn được gọi là kế toán lợi nhuận và kế toán hoạt động Cũng theo định nghĩa này, tổ chức được chia thành nhiều trung tâm trách nhiệm và mỗi trung tâm chịu trách nhiệm sẽ được đo lường bằng các chỉ tiêu đánh giá thành quả của từng trung tâm trách nhiệm

Hay theo như một số tài liệu nghiên cứu trong nước thì Đoàn Ngọc Quế và cộng sự (2013) có khái quát rằng: Kế toán trách nhiệm là hệ thống thu thập, xử lý

và truyền đạt thông tin có thể kiểm soát theo phạm vi trách nhiệm của từng nhà quản trị nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức Thông tin có thể kiểm soát của một bộ phận là những thông tin về doanh thu, chi phí, vốn đầu tư… mà nhà quản trị của bộ phận đó có thể đưa ra các quyết định tác động lên nó

1.3.3.2 Nội dung cơ bản của hệ thống kế toán trách nhiệm

Theo như Horngren và cộng sự (2011), kế toán trách nhiệm gồm có 4 loại trung tâm trách nhiệm:

(1) Trung tâm chi phí

Trung tâm chi phí là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền

ra quyết định đối với chi phí phát sinh trong bộ phận đó

Thành quả của trung tâm chi phí thường được đánh giá bằng việc so sánh CPTT với CPDT và phân tích các chênh lệch phát sinh

(2) Trung tâm doanh thu

Trang 27

Trung tâm doanh thu là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với doanh thu phát sinh trong bộ phận đó

Thành quả của trên tâm doanh thu thường được đánh giá bằng việc so sánh doanh thu thực tế với doanh thu dự toán và phân tích các chênh lệch phát sinh

(3) Trung tâm lợi nhuận

Trung tâm lợi nhuận là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó chỉ được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận đạt được trong bộ phận đó

Do lợi nhuận bằng doanh thu trừ chi phí, nên các nhà quản trị của trung tâm lợi nhuận có trách nhiệm cả về doanh thu và chi phí phát sinh ở bộ phận đó

Thành quả của các trung tâm lợi nhuận thường được đánh giá bằng việc so sánh các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh thực tế với các dữ liệu trên báo cáo kết quả kinh doanh tổng thể và dự toán linh hoạt

(4) Trung tâm đầu tư

Trung tâm đầu tư là một bộ phận mà các nhà quản trị của nó được quyền ra quyết định đối với lợi nhuận và vốn đầu tư của đơn vị đó

Thành quả của các trung tâm đầu tư thường được đánh giá bằng việc sử dụng các thước đo: Tỷ lệ hoàn vốn đầu tư (ROI) và lợi nhuận còn lại (RI)

Hai chỉ tiêu này được tính theo công thức sau:

Lợi nhuận hoạt động Tài sản được đầu tư

RI [ hoạt động Lợi nhuận Tài sản

được đầu tư ] x Tỷ lệ hoàn vốn

mong muốn tối thiểuTrong đó:

Lợi nhuận hoạt động để xác định ROI nói trên là lợi nhuận trước thuế và lãi

vay (EBIT) Đây là lợi nhuận do sử dụng tài sản được đầu tư mang lại mà không phân biệt nguồn tài trợ các tài sản đó (không bao gồm lợi nhuận từ các hoạt động đầu tư tài chính, lợi nhuận khác) ROI cho biết cứ một đồng tài sản đầu tư vào trung tâm đầu tư thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận ROI càng lớn thành quả quản

lý vốn đầu tư càng cao

Trang 28

Lợi nhuận còn lại là phần còn lại của lợi nhuận hoạt động sau khi trừ đi lợi

nhuận mong muốn tối thiểu từ tài sản được đầu tư của trung tâm đầu tư Lợi nhuận còn lại càng lớn thì lợi nhuận hoạt động tạo ra càng nhiều hơn lợi nhuận mong muốn tối thiểu, khi đó thành quả quản lý của các nhà quản trị ở trung tâm đầu tư được đánh giá càng cao

Hiện nay, có ba mô hình kế toán trách nhiệm được áp dụng rộng rãi trong các DN là mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên chức năng, mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên quy trình và mô hình kế toán trách nhiệm dựa trên chiến lược Trong

ba mô hình thì mô hình kế toán trách nhiệm theo chức năng là đơn giản và dễ thực hiện nhất Do đó, tác giả đề xuất các DNNVV đang kinh doanh dịch vụ nhà hàng nên xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm theo mô hình chức năng này Và về quan điểm vì sao lựa chọn mô hình này, tác giả xin trình bày ở mục 3.2.4.1 (quan điểm về xây dựng hệ thống kế toán trách nhiệm)

1.3.4 Thiết lập thông tin kế toán quản trị phục vụ việc ra quyết định

Ra quyết định là việc lựa chọn một phương án thích hợp nhất từ nhiều phương án khác nhau Ra quyết định là một trong những chức năng rất quan trọng của nhà quản trị

Căn cứ vào thời gian hiệu lực, thời gian ảnh hưởng và thực thi quyết định,

việc ra quyết định thường được chia thành hai loại là quyết định ngắn hạn và quyết

định dài hạn

Trong quá trình lựa chọn phương án để ra quyết định, việc nhận diện thông tin là rất quan trọng Nhà quản trị phải nhận diện được thông tin nào là thích hợp và thông tin nào không thích hợp Do đó, một quá trình phân tích thông tin thích hợp đối với việc ra quyết định là hết sức cần thiết Theo Huỳnh Lợi (2012), quá trình này bao gồm 4 bước như sau:

Bước 1: Tập hợp tất cả các thông tin thu thập, chi phí liên quan đến từng

phương án kinh doanh được xem xét, so sánh lựa chọn Điều cần quan tâm ở đây là thu nhập, chi phí được tập hợp không những bao gồm thu nhập, CPTT mà còn cần phải bao gồm cả thu nhập, chi phí tiềm ẩn, chi phí cơ hội

Trang 29

Bước 2: Loại bỏ các khoản chi phí chìm, là những khoản chi phí đã phát sinh

luôn tồn tại ở tất cả các phương án kinh doanh

Bước 3: Loại bỏ các khoản thu nhập, chi phí sẽ phát sinh như nhau trong

tương lai ở tất cả các phương án kinh doanh

Bước 4: Tổng hợp những thông tin còn lại sau khi thực hiện bước 2 và bước

3 chính là thông tin thích hợp cho quyết định chọn lựa phương án kinh doanh Hay nói cách khác hơn đây chính là thông tin chênh lệch, thông tin khác biệt giữa các phương án kinh doanh cần thiết để xem xét đưa ra quyết định lựa chọn phương án kinh doanh

1.4 Tổ chức công tác kế toán quản trị

1.4.1 Tổ chức bộ máy kế toán

Đây là khâu đầu tiên trong việc tổ chức công tác KTQT, theo Phạm Ngọc

Toàn (2010), có ba cách thức tổ chức bộ máy KTQT, bao gồm: (1) mô hình kết hợp,

(2) mô hình tách biệt và (2) mô hình hỗn hợp

(1) Mô hình kết hợp

Mô hình kết hợp tổ chức gắn bộ phận KTQT kết hợp chung với bộ phận KTTC trong hệ thống kế toán của DN Mô hình này có ưu điểm là sử dụng chung nhân lực giữa KTTC và KTQT nên tiết kiệm chi phí nhưng hiệu quả sẽ không cao

do KTQT không được chuyên môn hoá sâu Mô hình này có tính thực tiễn cao, nhất

là đối với các DNNVV ở Việt Nam

(2) Mô hình tách biệt

Tổ chức KTQT theo mô hình tách biệt giữa KTTC và KTQT, nghĩa là tách biệt cả nhân sự, nghiệp vụ kế toán Với mô hình này, KTQT sẽ chuyên môn hoá sâu hơn và là công cụ đắc lực hơn cho nhà quản trị, tuy nhiên vì tách biệt nên cần nhân lực nhiều hơn so với mô hình kết hợp nên sẽ tốn kém hơn Mô hình này khó khăn khi áp dụng cho các DNNVV vì thiếu điều kiện về nguồn lực để thực hiện mặc dù hiệu quả cung cấp thông tin mà hai hệ thống này mang lại sẽ cao hơn so với mô hình kết hợp

(3) Mô hình hỗn hợp

Trang 30

Tổ chức KTQT theo mô hình kết hợp vừa có tính tách rời vừa có tính kết hợp giữa hai bộ phận KTTC và KTQT Đối với các phần hành kế toán mà giữa hai bộ phận kế toán này có liên quan nhau về nội dung thì sẽ được áp dụng theo mô hình kết hợp, còn đối với các phần hành kế toán có sự khác biệt hoặc những phần hành

kế toán đặc thù riêng thì sẽ được tổ chức theo mô hình tách rời Mô hình này vận dụng kết hợp hai mô hình trên một cách linh hoạt, tuy nhiên công tác tổ chức kế toán đòi hỏi kế toán trưởng phải có trình độ cao, phân công, phân nhiệm phù hợp

Mô hình này khó áp dụng cho DNNVV vì tốn kém chi phí và không đủ trình độ thực hiện

1.4.2 Tổ chức thu thập xử lý dữ liệu đầu vào

Việc tổ chức thu thập xử lý dữ liệu đầu vào chính là thông qua việc tổ chức tài khoản kế toán có thể phục vụ cho cả KTTC lẫn KTQT, việc tổ chức tài khoản này là nhằm thu thập thông tin quá khứ phục vụ các tình huống ra quyết định của KTQT Và việc tổ chức này cũng cần được tiến hành một cách có hệ thống và khoa học, vừa đảm bảo cung cấp thông tin chi tiết theo yêu cầu quản trị, vừa đảm bảo khả năng đối chiếu giữa thông tin chi tiết với thông tin tổng hợp liên quan của các đối tượng kế toán cụ thể trong từng DN Để đáp ứng mục tiêu trên, KTQT cần dựa vào

hệ thống tài khoản nhà nước ban hành, trên cơ sở yêu cầu và mục đích quản lý chi tiết với từng đối tượng để mở các tài khoản kế toán chi tiết (tài khoản cấp 2, 3, 4…)

để chi tiết hoá các tài khoản của KTTC và theo dõi chi tiết từng đối tượng kế toán Trên tài khoản chi tiết cần kết hợp sử dụng thước đo giá trị với các thước đo khác (Phạm Ngọc Toàn, 2010)

1.4.3 Tổ chức cung cấp thông tin đầu ra thông qua hệ thống báo cáo quản trị

Việc tổ chức cung cấp thông tin đầu ra được thực hiện thông qua hệ thống báo cáo KTQT Báo cáo KTQT phản ánh các chỉ tiêu kinh tế, tài chính theo từng mặt cụ thể theo yêu cầu quản lý của DN và có ý nghĩa rất quan trọng trong việc lập

kế hoạch, kiểm tra điều hành và ra quyết định của nhà quản trị

Trên cơ sở những thông tin đã được thu thập, phân loại, xử lý ở các giai đoạn trên, KTQT sẽ tiến hành thiết kế hệ thống báo cáo bao gồm các báo cáo thường

Trang 31

xuyên, báo cáo định kỳ, báo cáo nhanh, báo cáo đột xuất… Tuy nhiên khi thiết lập

hệ thống báo cáo KTQT cần lưu ý là hệ thống báo cáo KTQT phải được xây dựng phù hợp với nhu cầu cung cấp thông tin trong nội bộ đơn vị, nội dung trong các báo cáo phải đảm bảo được sự so sánh để nhà quản trị dễ nắm bắt được những chênh lệch và nguyên nhân để có cách xử lý kịp thời, đồng thời các chỉ tiêu trong báo cáo phải phù hợp với các chỉ tiêu trong các kế hoạch, dự toán, báo cáo tài chính để đảm bảo tính thống nhất, tiện cho việc so sánh, đối chiếu (Phạm Ngọc Toàn, 2010)

1.4.4 Ứng dụng công nghệ thông tin vào tổ chức hệ thống kế toán quản trị

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong kế toán nói chung và KTQT nói riêng đã trở thành một nhu cầu và lợi ích của nó đã được công nhận rộng rãi vì việc ứng dụng công nghệ thông tin mang lại nhiều lợi ích như: Giảm khối lượng ghi chép thông tin, giảm khối lượng công việc tính toán, xử lý số liệu kế toán, tổng hợp

số liệu nhưng vẫn đảm bảo việc tìm kiếm dữ liệu, cung cấp thông tin nhanh chóng

và chính xác nhờ máy tính Việc áp dụng công nghệ thông tin làm cho bộ máy kế toán tinh giản hơn, việc bảo mật, lưu trữ cũng dễ dàng hơn…

Để tổ chức ứng dụng được công nghệ thông tin vào KTQT, DN cần trang bị những phương tiện kỹ thuật hỗ trợ bao gồm phần cứng, phần mềm và nhân sự vận hành Việc trang bị này yêu cầu tốn kém nhiều chi phí như: chi phí mua sắm, bảo trì, sữa chữa thiết bị, chi phí đào tạo, huấn luyện đội ngũ nhân viên đủ trình độ vận hành hệ thống… Do đó, DN cần căn cứ vào nhu cầu và điều kiện của mình mà trang

bị các trang thiết bị phù hợp với đặc điểm của DN, vừa tránh lãng phí vừa ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả

1.5 Đặc điểm kinh doanh ăn uống ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác KTQT

Cũng như các loại hình dịch vụ khác, kinh doanh ăn uống cũng mang nhiều nét đặc thù của ngành kinh doanh dịch vụ như: Vốn, cơ sở vật chất, địa điểm kinh doanh, tính chất lao động, chất lượng thực phẩm, môi trường cạnh tranh, sản phẩm

đa dạng với nhiều loại giá, tính dễ hư hỏng và không cất giữ được, tính thời vụ… Những đặc điểm này đều ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác KTQT cho nhà hàng Trong phần này, tác giả sẽ nêu ra một số đặc điểm đặc trưng của ngành kinh doanh

Trang 32

ăn uống mà theo tác giả nó ảnh hường đến công việc tổ chức công tác KTQT

(1) Đặc điểm về quy mô (vốn, cơ sở vật chất, địa điểm kinh doanh…)

Đánh giá sự phát triển của việc vận dụng KTQT trong các DN F&B tại Việt

Nam (The Evolution of Management Accounting Practices in Vietnam - a Survey

Research on Vietnamese Food and Beverage enterprises), tác giả Nguyen Thi

Phuong Dung & Masaaki Aoki (2014) đã kết luận rằng nhân tố quy mô DN, tuổi

DN và sự đổi mới trong việc vận dụng KTQT (size of enterprices, age of

enterprices, the attributes of MA innovations) là những nhân tố bên trong tác dụng

đáng kể đến việc tổ chức công tác KTQT tại các DN F&B

Hay trong một nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến việc vận dụng KTQT

trong các khách sạn tại Bồ Đồ Nha của Gomes, C et al (2011) (Management

accounting in Portuguese hotel enterprises: the influence of organizational and cultural factors), nghiên cứu cho thấy rằng KTQT bị ảnh hưởng bởi quy mô tổ chức

và một số yếu tố khác như: môi trường bên ngoài, công nghệ thông tin, cơ cấu tổ

chức, chiến lược kinh doanh và văn hóa dân tộc (organization size, external

environment, technology, organization structure, organization strategy and national culture)

Ngoài ra, trong nghiên cứu của Penpichcha, S (2016), tổ chức thực hiện

KTQT trong các khách sạn tại Thái Lan (Management Accounting Practices of

Hotel Business in Thailand) tác giả cũng khẳng định khách sạn có quy mô lớn có xu

hướng sử dụng nhiều các kỹ thuật KTQT hơn các khách sạn cỡ nhỏ và trung bình

Từ những nghiên cứu trên, tác giả thấy rằng đặc điểm về quy mô ảnh hưởng

nhiều đến công tác tổ chức KTQT của các DN kinh doanh dịch vụ F&B Đối với

các nhà hàng, khách sạn có quy mô lớn thì nhu cầu sử dụng thông tin KTQT nhiều Những DN này có thể vận dụng đầy đủ các nội dung KTQT để có thể cung cấp đầy

đủ thông tin cho từng bộ phận để ra quyết định Ngoài ra, các DN có quy mô lớn thì

có nhiều tiềm lực về nhân sự, công nghệ thông tin hơn nên điều kiện áp dụng KTQT cũng sẽ thuận lợi hơn Còn đối với những nhà hàng, khách sạn có quy mô nhỏ thì nhu cầu sử dụng thông tin KTQT ít hơn Do đó, các DN này chưa thể áp dụng được

Trang 33

đầy đủ các nội dung của KTQT mà chỉ nên tập trung vào một số nội dung KTQT thật sự cần thiết Theo tác giả, mô hình KTTC kết hợp với KTQT là phù hợp nhất

cho các nhà hàng, khách sạn có quy mô nhỏ

(2) Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh (sản phẩm kinh doanh, chất lượng thực phẩm, thời gian phục vụ, tính thời vụ, tính dễ hư hỏng và không cất giữ được…)

Nghiên cứu về sự thỏa mãn của khách hàng trong các nhà hàng tại Pakistan

(Customer Satisfaction in the Restaurant Industry; Examining the Model in Local Industry Perspective) (Raja, I S et al 2014) Kết quả cho thấy rằng các nhà quản trị

nhà hàng nên tập trung hơn vào bốn yếu tố là chất lượng dịch vụ, không gian, chất

lượng sản phẩm và giá cả (service quality, physical design, product quality and

price) nếu muốn làm hài lòng khách hàng của họ Trong bốn biến thì chất lượng

dịch vụ là công cụ quan trọng nhất tác động đến sự hài lòng của khách hàng Liên kết với nghiên cứu: Đánh giá sự ảnh hưởng của chất lượng sản phẩm và việc vận

dụng KTQT đến lợi thế cạnh tranh của DN (Assessing the Effects of Product

Quality and Environmental Management Accounting on the Competitive Advantage

of Firms) của Alan S Dunk (2007), kết quả cho thấy rằng chất lượng sản phẩm tác

động đến lợi thế cạnh tranh của DN khi DN vận dụng nhiều các công cụ KTQT để

tổ chức quản lý DN, và ngược lại, khi DN ít sử dụng các công cụ KTQT thì mức độ tác động này thấp

Qua những nghiên cứu trên, theo quan điểm của tác giả đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh ăn uống ảnh hưởng nhiều đến việc tổ chức công tác KTQT Chẳng hạn như sản phẩm kinh doanh trong nhà hàng là đồ ăn thức uống với nhiều loại sản phẩm khác nhau, điều này làm cho việc xác định điểm hòa vốn của nhà hàng không thể chỉ dựa vào một sản phẩm mà phải tính theo nhiều sản phẩm hoặc tính theo giá bình quân Chất lượng thực phẩm cũng ảnh hưởng đến việc tổ chức công tác KTQT, chất lượng sản phẩm phải rõ nguồn gốc, chế biến hợp vệ sinh, điều này tác động đến vai trò kiểm soát của KTQT Thời gian phục vụ trong nhà hàng tùy thuộc vào thời gian tiêu dùng dịch vụ ăn uống của khách hàng, thời gian phục

Trang 34

vụ này ảnh hưởng đến chi phí NC trực tiếp trong việc tính giá phí của sản phẩm Tính thời vụ, tính dễ hư hỏng và không cất trữ được trong kinh doanh ăn uống cũng ảnh hưởng đến việc lập dự toán của nhà hàng như: dự toán doanh thu, dự toán NVL trực tiếp… Vì vậy, theo tác giả những đặc điểm về sản phẩm kinh doanh, chất lượng thực phẩm, thời gian phục vụ, tính thời vụ, tính dễ hư hỏng và không cất giữ được đều tác động đến việc tổ chức công tác KTQT của nhà hàng

(3) Đặc điểm về lao động (trình độ quản lý, chất lượng phục vụ)

Gomes, C et al (2011) đã xác nhận rằng KTQT tại các khách sạn Bồ Đào Nha chịu ảnh hưởng bởi đội ngũ nhân viên và phong cách ra quyết định của nhà

quản trị (team work and managerial decision-making style) Và trình độ quản lý của

các nhà quản trị cũng ảnh hưởng trực tiếp đến việc tổ chức công tác KTQT trong

DN Trình độ quản lý càng cao, nhu cầu về việc vận hành bộ máy KTQT càng cấp thiết, thông tin KTQT càng phải chi tiết, nhằm giúp các nhà quản trị ra quyết định chính xác Chất lượng phục vụ cũng là yếu tố để cải thiện hiệu suất hoạt động cho nhà hàng và khắc phục những vấn đề của việc quản lý dịch vụ yếu kém Agnes Kanyan et al, (2016)

(4) Đặc điểm về cạnh tranh

Trong một nghiên cứu về thị trường cạnh tranh (Market competition, MAS

and business unit performance) của Mia, L., Clarke, B (1999) đã cho thấy rằng

mức độ cạnh tranh là yếu tố quyết định việc vận dụng KTQT trong các DN Khi cạnh tranh tăng lên, đối thủ cạnh tranh có cơ hội khai thác về các lỗi liên quan đến

hệ thống chi phí (cost system functionality) như giá phí, chi phí thuê lao động…

điều này cho thấy có mối liên quan giữa mức độ cạnh tranh và hệ thống chi phí, quản trị chi phí Santos L.L., et al (2010) cũng xác nhận rằng có một mối liên hệ đặc trưng giữa sự cạnh tranh trong ngành khách sạn Bồ Đồ Nha và việc vận dụng các kỹ thuật KTQT, nghiên cứu của Santos kết luận rằng cạnh tranh như là một nhân tố tích cực tác động đến việc chấp nhận và thực hành KTQT trong các khách sạn này Hay trong nghiên cứu của Gomes, C et al (2011) tác giả và cộng sự cũng kết luận rằng KTQT bị ảnh hưởng bởi môi trường bên ngoài, đó là sự cạnh tranh và

Trang 35

văn hóa ẩm thực Từ những nghiên cứu trên, tác giả khẳng định rằng đặc điểm về sự cạnh tranh có tác động tích cực đến việc vận dụng KTQT trong các DN kinh doanh dịch vụ nói chung cũng như dịch vụ ăn uống nói riêng Và việc vận dụng các nội dung KTQT này vào một nhà hàng cụ thể sẽ được tác giả trình bày chi tiết ở chương

2 và chương 3 trong luận văn tổ chức công tác KTQT cho Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1

KTQT là quá trình nhận diện, đo lường, tổng hợp, phân tích, soạn thảo, diễn giải và truyền đạt thông tin được nhà quản trị sử dụng để lập kế hoạch, đánh giá và kiểm tra trong nội bộ tổ chức và để đảm bảo việc sử dụng hợp lý và có trách nhiệm đối với các nguồn lực của tổ chức đó KTQT là công cụ cung cấp thông tin kịp thời cho việc thực hiện các chức năng quản trị trong DN

Trong chương 1 tác giả đã giới thiệu những vấn đề chung về KTQT, các chức năng của KTQT bao gồm chức năng hoạch định, tổ chức điều hành, kiểm soát

và ra quyết định Bên cạnh đó, tác giả cũng đề cặp rõ đến các mô hình tổ chức KTQT và những nội dung cơ bản của KTQT bao gồm hệ thống kế toán chi phí và quản trị chi phí, dự toán ngân sách, kế toán trách nhiệm và thông tin thích hợp cho việc ra quyết định Tất cả những nội dung được trình bày trong chương 1 sẽ là tiền

đề làm cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu thực trạng tổ chức công tác KTQT tại Công ty TNHH Dịch Vụ Nhà Hàng Gia Đình Mới cũng như định hướng nhằm đưa

ra các giải pháp hỗ trợ công tác tổ chức KTQT tại Công ty

Trang 36

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN QUẢN TRỊ TẠI

CÔNG TY TNHH DV NHÀ HÀNG GIA ĐÌNH MỚI

2.1 Khái quát về Công ty TNHH DV Nhà Hàng Gia Đình Mới

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển

Công ty TNHH Dịch Vụ Nhà Hàng Gia Đình Mới được thành lập vào ngày 20/7/2010 theo quyết định UBND Thành Phố Hồ Chí Minh, chính thức hoạt động vào ngày 01/09/2010 Công ty gồm hệ thống các chuỗi nhà hàng mang thương hiệu Vinaone Chi nhánh đầu tiên được thành lập ở Bình Dương Đến nay công ty đã thành lập được 8 chi nhánh nhà hàng và 2 kho Tổng nằm trên địa bàn TP Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai

*Hệ thống nhà hàng và kho của Công ty

- Nhà hàng số 1 – số 449 Đại lộ Bình Dương, Tp.Thủ Dầu Một, Bình Dương

- Nhà hàng số 2 – số 71-73 Thống Nhất, Quận Thủ Đức, HCM

- Nhà hàng số 3 – số 44 Mạc Thị Bưởi, Quận 1, HCM

- Nhà hàng số 4 – tầng B3-15, UnionSquare (Vincom Center A), 171 Đồng Khởi, P Bến Nghé, Quận 1, HCM

- Nhà hàng số 5 – SC4-1, 107 Nguyễn Đức Cảnh, P Tân Phong, Q.7, HCM

- Nhà hàng số 6 – số 85 Nguyễn Cư Trinh, P Nguyễn Cư Trinh, Q.1, HCM

- Nhà hàng số 7 – số 496C Nguyễn Thị Minh Khai, Quận 3, HCM

- Nhà hàng số 8 – số 198 Đường 30/4, P.Thanh Bình, Tp Biên Hòa, Đồng Nai

- Kho số 1 – số 15 Dân Chủ, P Bình Thọ, Q Thủ Đức, HCM

- Kho số 2 – số 78 Đường 30/4, P Thanh Bình, Tp Biên Hòa, Đồng Nai

*Ghi chú 1: Việc đánh số nhà hàng và kho dựa theo thứ tự thành lập

*Ghi chú 2: Việc đánh số thứ tự này nhằm phục vụ cho việc xây dựng hệ thống tài khoản KTQT sẽ được trình bày cụ thể ở chương 3 (Mã trung tâm trách nhiệm)

2.1.2 Giới thiệu về công ty

- Tên tiếng Việt: Công Ty TNHH Dịch Vụ Nhà Hàng Gia Đình Mới

- Tên tiếng Anh: New Family Co.ltd

- Trụ sở chính đặt tại: 71-73 Thống Nhất, Khu phố 3, Phường Bình Thọ, Quận

Trang 37

Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh

- Mã số thuế: 0310193143

- Ngành nghề kinh doanh: Công ty hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng, các món ăn Âu – Á, đặc biệt là món Phở Vinaone

- Vốn điều lệ: 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng)

- Vốn đầu tư: xấp xỉ 15.000.000.000 đồng (Mười lăm tỷ đồng)

- Vốn hoạt động nội bộ: xấp xỉ 6.000.000.000 (Sáu tỷ đồng)

“Tiêu chí xây dựng thương hiệu của nhà hàng là mang đến cho thực khách những món ăn với chất lượng ngon nhất, giá mềm nhất và được phục vụ tốt nhất”

2.1.3 Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty

(1) Đặc điểm về sản phẩm

Sản phẩm của nhà hàng là các món ăn bao gồm 2 loại: Sản phẩm tự chế và hàng hóa chuyển bán

Sản phẩm tự chế do nhà hàng tự chế biến, nó được các đầu bếp nhà hàng chế

biến theo công thức định lượng chung của toàn hệ thống để đảm bảo hương vị không có sự khác biệt giữa nhiều chi nhánh nhằm đảm bảo thương hiệu kinh doanh

Hàng hoá chuyển bán là hàng hoá đã được chế biến sẵn mà nhà hàng mua từ

các nhà cung cấp bên ngoài Nhà hàng cũng luôn ưu tiên lựa chọn những nhà cung cấp uy tín, chất lượng đảm bảo và giá cả cạnh tranh để thu hút nhiều khách hàng đến với nhà hàng

Các món ăn của nhà hàng khá đa dạng bao gồm các món phở Việt Nam, cơm tấm, beefsteak và nhiều món ăn khác theo phong cách Âu Mỹ…

*Phân loại thực đơn nhà hàng

Các món phở Việt Phở tái 50gr, phở tái nạm, phở đặc biệt…

Các món hương vị Á - Âu Gà nướng Teriyaki Nhật Bản, Gà nướng Ăng-lê…

Thức uống – Tráng miệng Chè bát bửu, nước ép trái cây…

Bảng 2.1 Thực đơn nhà hàng Vinaone

Nguồn: Thực đơn nhà hàng Vinaone năm 2016

Trang 38

*Ghi chú: Việc phân loại thực đơn nhằm phục vụ cho việc xây dựng hệ thống tài khoản KTQT sẽ được trình bày cụ thể ở chương 3 (Mã nhóm món ăn & Mã món ăn)

(2) Đặc điểm về nguyên vật liệu

Nguyên vật liệu là yếu tố cơ bản quyết định đến chất lượng món ăn, nó chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu giá thành Vì vậy, công ty rất chú trọng đến công tác thu mua, bảo quản và sản xuất liên tục nhằm hạn chế các tổn thất do nguyên liệu không đạt yêu cầu gây ra

Nguyên vật liệu chế biến ở nhà hàng gồm có 2 nguồn nguyên vật liệu chính

là NVL mua trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài Các NVL được đặt mua theo đơn đặt hàng của các quản lý nhà hàng và yêu cầu của bộ phận sản xuất tại kho Tổng NVL sau khi đặt mua sẽ được nhập hàng tại kho Tổng, sau đó phân phối cho các chi nhánh nhà hàng bằng cách vận chuyển trực tiếp bằng xe giao hàng đến các chi nhánh nhà hàng

Đối với hàng hóa được nhập khi chưa sử dụng đến đều được lưu trữ tại kho lạnh hoặc kho khô theo đúng qui định về mỗi loại mặt hàng Các bộ phận được phân công có trách nhiệm bảo quản hàng hóa của bộ phận mình

*Phân loại nguyên vật liệu

TBOM – Thịt bò Mỹ Nạc vai (beef chuck), sườn (beef rib), ức (beef brisket),

ba chỉ (beef plate)

THEO – Thịt heo Nạc lưng, sườn non, cốt lết, ba rọi, xương

CBIEN – Nguyên liệu sơ chế Beefsteak (100gr) sơ chế, Ribeye (150gr) sơ chế… NLKHO – Nguyên liệu khô Đậu xanh, đậu đen, đậu nành, đậu phộng…

RAU – Rau & củ Xà lách corol, xà lách radicchio, củ năng, hạt sen…

Bảng 2.2 Bảng phân loại nguyên vật liệu

Nguồn: Danh mục nguyên vật liệu Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

*Ghi chú: Việc phân loại NVL nhằm phục vụ cho việc xây dựng hệ thống tài khoản KTQT sẽ được trình bày cụ thể ở chương 3 (Mã nhóm nguyên vật liệu và Mã

Trang 39

(3) Đặc điểm về nguồn nhân lực

Lao động giữ vai trò vô cùng quan trọng trong lĩnh vực kinh doanh nhà hàng Bởi lẽ hoạt động trong lĩnh vực nhà hàng thì thái độ phục vụ của nhân viên là một trong những yếu tố quan trọng nhất quyết định việc khách hàng có quay trở lại hay không Nguồn nhân lực của công ty phân loại theo nhiều tiêu chí Nếu phân loại theo tính tính chất lao động thì có lao động toàn thời gian và lao động thời vụ Nếu phân loại theo các bộ phận, các phòng ban thì có bộ phận quản lý văn phòng, bộ phận quản lý kho Tổng, bộ phận quản lý nhà hàng và bộ phận nhân viên phục vụ Tùy theo yêu cầu của GĐ mà nhân sự sẽ phân loại theo các tiêu chí khác nhau

(4) Đặc điểm về quy trình sản xuất

Quá trình sản xuất trong nhà hàng bao gồm: Quy trình chế biến món ăn và

quy trình pha chế, cung cấp đồ uống Tại Công ty Gia Đình Mới, NVL được sơ chế

tại kho Tổng trở thành bán thành phẩm, các bán thành phẩm hoàn thành sẽ được vận chuyển ngay sau đó đến các chi nhánh nhà hàng Việc chế biến món ăn do bộ phận đứng bếp tại mỗi chi nhánh đảm nhiệm Bộ phận bar chịu trách nhiệm pha chế và cung cấp đồ uống cho khách hàng

Tại công ty Gia Đình Mới, quy trình sản xuất được áp dụng theo hình thức chuyên môn hóa: Mỗi cá nhân thực hiện một công việc cụ thể trong quy trình chế biến món ăn Các nhân viên được sắp xếp theo từng khu vực và theo từng nhóm

Quy trình chế biến món ăn được chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn sơ chế thực

phẩm và giai đoạn chế biến món ăn Giai đoạn sơ chế thực phẩm được thực hiện tại

kho Tổng, giai đoạn này bộ phận bếp của kho chế biến theo đơn đặt hàng của các quản lý chi nhánh nhà hàng Các nguyên liệu trải qua quá trình sơ chế theo một công thức định lượng cố định Sau khi sơ chế xong, bán thành phẩm được vận

chuyển đến các chi nhánh nhà hàng ngay lập tức Giai đoạn chế biến món ăn được

thực hiện tại chi nhánh nhà hàng theo lệnh đặt hàng của khách hàng Tại các chi nhánh nhà hàng, bán thành phẩm được mang ra chế biến và cung cấp cho khách

ngay sau đó

Quy trình pha chế, cung cấp đồ uống: Tại các chi nhánh nhà hàng, quầy bar

Trang 40

được bố trí tại một khu vực riêng biệt NVL pha chế được đặt hàng từ kho Tổng Khi nhận được đơn đặt hàng từ máy POS, nhân viên phụ trách quầy bar sẽ tiến hành pha chế theo công thức định lượng chung Sau khi pha chế hoàn thành, nhân viên

tiếp thực mang thức uống phục vụ cho khách hàng

2.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của Công ty

Công ty tổ chức bộ máy quản lý theo mô hình cơ cấu trực tiếp chức năng

Mô hình này được minh họa qua sơ đồ cơ cấu tổ chức như sau:

PHÒNG KIỂM TRA CHẤT LƯỢNG SP

PHÒNG ĐÀO TẠO

PHÒNG

KỸ THUẬT, BẢO TRÌ

BỘ PHẬN BẾP KHO TỔNG

BỘ PHẬN NHÂN VIÊN CHI NHÁNH NHÀ HÀNG

Sơ đồ 2.1 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý

Nguồn: Trích hồ sơ cơ cấu tổ chức Công ty TNHH DV NH Gia Đình Mới

2.1.5 Tổ chức bộ máy kế toán tại Công ty

Công ty tổ chức bộ máy kế toán theo hình thức vừa phân tán và vừa tập trung Công ty phân chia bộ phận kế toán thành 2 bộ phận kế toán sau: kế toán văn phòng và kế toán kho Kế toán văn phòng có trách nhiệm thu thập, phân loại chứng

từ, định khoản và theo dõi tất cả các vấn đề liên quan đến phân hệ kế toán thanh toán, kế toán công nợ, kế toán thuế và kế toán tài sản cố định Kế toán kho có trách nhiệm thu thập, phân loại chứng từ, định khoản và theo dõi các vấn đề liên quan đến

kế toán hàng hoá và kế toán giá thành Cơ cấu tổ chức bộ máy phòng kế toán được minh họa theo sơ đồ sau:

Ngày đăng: 31/08/2020, 13:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w