1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỠNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG Ở CÁC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN VÀ ĐANG PHÁT TRIỂN

72 65 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 1,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích của bài nghiên cứu này nhằm ước lượng mức ngưỡng của lạm phát mà ở đó lạm phát có thể không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng mô hìn

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM



LÂM THÚY NHI

TÁC ĐỘNG CỦA NGƯỠNG LẠM PHÁT ĐẾN TĂNG TRƯỞNG

Ở CÁC QUỐC GIA PHÁT TRIỂN VÀ

ĐANG PHÁT TRIỂN

Chuyên ngành : Tài chính ngân hàng

Mã số : 60340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT

Tp Hồ Chí Minh – Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả luận

văn là trung thực và chưa từng công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào

Lâm Thúy Nhi

Trang 4

Mục Lục

TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH

TÓM TẮT 1

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU 2

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 4 2.1 Cơ sở lý thuyết 4

2.1.1 Lạm phát 4

2.1.2 Tăng trưởng kinh tế 6

2.1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế 7

2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới 11

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

3.1 Mô hình kinh tế lượng: 27

3.2 Loại bỏ các ảnh hưởng cố định: 28

3.3 Ước tính 29

3.4 Mô hình áp dụng 30

3.5 Dữ liệu và biến 32

3.5.1 Dữ liệu: 32

3.5.2 Biến 35

CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Mô hình ngưỡng lạm phát và tăng trưởng ở các nước phát triển: 39

Trang 5

4.2 Mô hình ngưỡng lạm phát và tăng trưởng ở các nước đang phát triển: 434.3 Mô hình ngưỡng lạm phát và tăng trưởng ở 5 quốc gia ASEAN: 45Liên hệ mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Asean và Việt Nam 484.4 Thảo luận kết quả nghiên cứu 56

CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN 58 TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: So sánh chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số giá điều chỉnh (GDP) 05

Bảng 2.2: Tổng hợp quan điểm của một số lý thuyết kinh tế về mối quan hệ giữa lạm phát – tăng trưởng 11

Bảng 3.1: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong mô hình hồi quy với 49 quốc gia phát triển 33

Bảng 3.2: Thống kê mô tả các biến nghiên cứu trong mô hình hồi quy với 70 quốc gia đang phát triển 34

Bảng 3.3: Các biến sử dụng trong mô hình hồi quy, nguồn số liệu 35

Bảng 4.1: Kết quả ước lượng mô hình ngưỡng cho các nước phát triển 39

Bảng 4.2: Kết quả ước lượng mô hình ngưỡng cho các nước đang phát triển 43

Bảng 4.3: Kết quả ước lượng mô hình ngưỡng cho 5 nước Asean 46

Bảng 4.4: Thống kê dữ liệu lạm phát và tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 1993 – 2013 52

Trang 7

1989 – 2013 52

Trang 8

TÓM TẮT

Bài nghiên cứu dựa trên mô hình ngưỡng động dữ liệu bảng của Kremer và các cộng sự (2013) để ước tính các ngưỡng lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế dài hạn Dựa trên các nghiên cứu của Hansen (1999) và Caner & Hansen (2004),

mô hình ngưỡng động dữ liệu bảng cho phép việc ước lượng các tác động của ngưỡng với dữ liệu bảng ngay cả trong trường hợp các hồi quy nội sinh Phân tích thực nghiệm dựa trên một bộ dữ liệu bao gồm 49 quốc gia phát triển và 70 quốc gia đang phát triển trong giai đoạn 1984 - 2013 Kết quả của bài nghiên cứu cho thấy ngưỡng lạm phát ở các quốc gia phát triển là 1,07% và ở các quốc gia đang phát triển là 10,64% Áp dụng mô hình ngưỡng động cho 5 quốc gia ASEAN thuộc nhóm các quốc gia đang phát triển (trong đó có Việt Nam) trong giai đoạn

1994 -2013 cho thấy ngưỡng lạm phát là 5,9%

Trang 9

CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU

Mục tiêu chính của các chính sách vĩ mô là tạo dựng được một nền kinh tế phát triển mạnh và bền vững với một tỷ lệ lạm phát nhất định, nghĩa là một tỷ lệ lạm phát cần thiết để “bôi trơn các bánh xe của nền kinh tế” (Temple, 2000)

Chính vì vậy, chính phủ cần hiểu rõ được mối quan hệ giữa lạm phát và phát triển kinh tế để có thể thiết lập những chính sách phù hợp Nếu lạm phát tác động tiêu cực đến tốc độ tăng trưởng kinh tế, các nhà làm chính sách nên hướng đến việc giảm tỷ lệ lạm phát hoặc nếu lạm phát tăng giúp nền kinh tế phát triển tốt thì các nhà làm chính sách nên duy trì mức lạm phát này Vậy tỷ lệ lạm phát bao nhiêu là phù hợp? Hay nói cách khác, tại tỷ lệ lạm phát nào thì mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có sự đổi chiều

Kể từ nghiên cứu của Fisher (1993), hàng loạt các nghiên cứu về mối quan

hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng ra đời mà ở đó các nhà nghiên cứu tìm thấy được mối quan hệ đồng biến của lạm phát và tăng trưởng kinh tế khi tỷ lệ lạm phát ở mức thấp và mối quan hệ nghịch biến khi tỷ lệ lạm phát ở mức cao Các nhà nghiên cứu đã áp dụng nhiều mô hình khác nhau cùng với những mẫu dữ liệu đa quốc gia để tìm ra được mức ngưỡng lạm phát phù hợp hay một mức lạm phát tối

ưu mà tại thấy có thể thấy được dấu hiệu chuyển đổi từ tác động tích cực sang tiêu cực để từ đó các nhà hoạt định chính sách sẽ có những thay đổi phù hợp nhằm đạt được các mục đích phát triển bền vững

Mục đích của bài nghiên cứu này nhằm ước lượng mức ngưỡng của lạm phát mà ở đó lạm phát có thể không có ảnh hưởng hoặc ảnh hưởng tích cực đến tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng mô hình ngưỡng động dữ liệu bảng của Kremer và cộng sự (2013) trong bài viết “Inflation and Growth: New Evidence Form A Dynamic Panel Threshold Analysis” cho 49 quốc gia đang phát triển và 70 quốc gia phát triển trong giai đoạn 1984 – 2013 Đồng thời, bài viết áp dụng dữ

Trang 10

liệu cho 5 quốc gia đang phát triển trong khối ASEAN (trong đó có Việt Nam) để tìm ra mức ngưỡng lạm phát chung của 5 quốc gia này

Chương 2 của bài viết sẽ nêu lại các sơ sở lý thuyết theo những trường phái khác nhau Sau đó, bài viết sẽ sơ lược qua các kết quả nghiên cứu trước đây về mối quan hệ phi tuyến của lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Chương 3 của bài viết sẽ tập trung vào phần phương pháp nghiên cứu và dữ liệu nghiên cứu Phần này sẽ giới thiệu về dữ liệu, các biến sử dụng trong mô hình, bảng thống kê dữ liệu, các mô hình áp dụng, cách thức sử dụng mô hình

Chương 4 đưa ra kết quả nghiên cứu đạt được và thảo luận kết quả, phân tích tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế ở các quốc gia phát triển và các quốc gia đang phát triển, từ đó liên hệ về mối quan hệ giữ lạm phát và tăng trưởng kinh tế tại Việt Nam

Chương 5 tổng kết và kết luận những kết quả đã đạt được của bài nghiên cứu cũng như đưa ra các hạn chế còn tồn tại trong bài nghiên cứu

Trang 11

CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY

Chương 2 của bài viết sẽ sơ lược lại các lý thuyết cơ sở của bài nghiên cứu, đồng thời tóm tắt các bài nghiên cứu trước đây về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trên thế giới cũng như tại Việt Nam được thực hiện gần đây, từ

đó đặt ra các câu hỏi nghiên cứu cho bài viết này

2.1 Cơ sở lý thuyết

2.1.1 Lạm phát

Có nhiều phát biểu khác nhau về khái niệm lạm phát Trong kinh tế học, lạm phát là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của nền kinh tế Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay giảm sức mua của đồng tiền Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác

Theo Friedman (1970) “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ” Một số nhà kinh tế học cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền được cung ứng nhiều hơn mức cần thiết hoặc là do khối lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn khối lượng tiền cần thiết”, “lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”

Như vậy, lạm phát có thể được hiểu là sự suy giảm sức mua của tiền tệ và được đo lường bằng sự gia tăng mức giá chung trong nền kinh tế

Lạm phát là tỷ lệ phần trăm thay đổi liên tục của mặt bằng giá chung theo thời gian Để phản ánh lạm phát, chỉ số được sử dụng thường là chỉ số giá tiêu dùng (CPI) hoặc chỉ số điều chỉnh GDP (

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là chỉ số tính theo phần trăm để phản ánh mức thay đổi tương đối của giá hàng tiêu dùng theo thời gian Sở dĩ chỉ là thay đổi

Trang 12

tương đối vì chỉ số này chỉ dựa vào một giỏ hàng hóa đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng

Chỉ số điều chỉnh GDP (GDP deflator), còn gọi là chỉ số giảm phát GDP thường được ký hiệu là , là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng hoá, dịch vụ sản xuất trong nước Chỉ số điều chỉnh GDP cho biết một đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với mức giá của năm cơ sở phản ánh sự biến động GDP danh nghĩa do sự biến động của giá (cơ sở để đánh giá lạm phát)

Bảng 2.1: So sách chỉ số giá tiêu dùng (CPI) và chỉ số điều chỉnh GDP ( ):

Chỉ số giá tiêu dùng

(CPI)

Chỉ số điều chỉnh GDP ( )

Đo lường giá hàng hóa và dịch vụ được

mua bởi người tiêu dùng (không bao

gồm giá hàng hóa và dịch vụ được mua

bởi chính phủ, các hãng)

Đo lường tất cả giá hàng hóa và dịch vụ được sản xuất ra

Tính cho tất cả hàng hóa và dịch vụ

được mua, kể cả hàng hóa nhập khẩu

Chỉ tính cho hàng hóa và dịch vụ được sản xuất trong nước

Cố định sự ảnh hưởng Nghĩa là nó

được tính toán bởi giỏ hàng cố định

Được gọi là chỉ số Laspeyres index

Có sự thay đổi Nghĩa là nó cho phép có

sự thay đổi của giỏ hàng hóa khi mà các thành phần GDP thay đổi Được gọi là Paasche index

Đo lường chi phí cho đời sống, đôi khi

cường điệu sự gia tăng trong chi phí

Giảm bớt xu hướng gia tăng chi phí đời sống

(Nguồn: Bài giảng về chỉ số giá tiêu dùng và chỉ số điều chỉnh GDP –

Võ Thị Thanh Thương – Đại Học Duy Tân - Gregory Mankiw, Macroeconomics)

Trang 13

Do chỉ số giá tiêu dùng (CPI) được tính dựa trên rổ hàng hóa và dịch vụ với quyền số cố định, trong khi đó chỉ số điều chỉnh GDP ( có rổ hàng hóa và dịch vụ thay đổi theo thời gian vì vậy chỉ số giá tiêu dùng (CPI) có xu hướng phóng đại lạm phát, ngược lại chỉ số điều chỉnh GDP ( có xu hướng đánh giá thấp lạm phát

Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới khi đánh giá lạm phát đều dựa vào chỉ số giá tiêu dùng (CPI)

Một số khái niệm kinh tế khác liên quan đến lạm phát:

Giảm phát là tình trạng mức giá chung của nền kinh tế giảm xuống trong

một khoảng thời gian

Lạm phát phi mã là tình trạng tăng mức giá chung của nền kinh tế với tốc

độ hai hay ba chữ số

Siêu lạm phát là tình trạng lạm phát cao kéo dài và nằm ngoài vòng kiểm

soát, có tác động phá hoại nền kinh tế nghiêm trọng Thông thường, tốc độ tăng giá chung ở mức 3 chữ số hàng năm thì gọi là siêu lạm phát Khi có siêu lạm phát, tiền mất giá nghiêm trọng và lượng cầu về tiền tệ giảm đi đáng kể Siêu lạm phát biểu hiện lạm phát cao kéo dài đi kèm với tăng trưởng kinh tế chậm và thất nghiệp cao

Thiểu phát trọng kinh tế học là lạm phát ở tỷ lệ rất thấp Đây là một vấn

nạn trong quản lý kinh tế vĩ mô Theo Từ điển kinh tế ngân hàng Anh – Nga, thiểu phát là hiện tượng giảm giá hàng hoá và dịch vụ hay hiện tượng tăng sức mua của đồng tiền do lượng tiền mặt trong lưu thông sụt giảm so với lượng hàng hoá và dịch vụ hiện hữu trên các thị trường mỗi quốc gia, đó là hiện tượng ngược lại với lạm phát thường đi kèm với nó là thu hẹp sản xuất, giảm vốn đầu tư, giảm công ăn việc làm

2.1.2 Tăng trưởng kinh tế

Tăng trưởng kinh tế là sự mở rộng năng lực sản xuất hàng hóa và dịch vụ

Trang 14

của nền kinh tế Năng lực sản xuất của nền kinh tế phụ thuộc chủ yếu vào số lượng, chất lượng các nguồn lực và trình độ công nghệ sử dụng trong quá trình sản xuất, vì vậy tăng trưởng kinh tế luôn liên quan tới quá trình mở rộng và hoàn thiện các yếu tố tạo nên năng lực sản xuất Nói cách khác, tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng khối lượng hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra và nâng cao năng lực sản xuất của nền kinh tế

Tăng trưởng kinh tế được tính dựa trên sự gia tăng tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng sản phẩm quốc gia (GNP) hoặc quy mô tổng sản lượng quốc gia tính trên đầu người (PCI – Per capita income) trong một thời gian nhất định

2.1.3 Mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Mặc dù có rất nhiều yếu tố tác động đến tốc độ tăng trưởng kinh tế thì mục tiêu ổn định giá cả vẫn là mục tiêu nổi bật nhất của chính sách kinh tế vĩ mô Trong nhiều thập kỷ qua, có rất nhiều nghiên cứu cả lý thuyết và thực nghiệm tập trung vào mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Phần này xem xét các nghiên cứu lý thuyết về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Các nghiên cứu lý thuyết về tăng trưởng kinh tế bao gồm lý thuyết cổ điển, lý thuyết Tân cổ điển, lý thuyết Keynes, lý thuyết trọng tiền và các mô hình tăng trưởng nội sinh

Các nghiên cứu lý thuyết đã cho thấy một loạt kết luận về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế và có thể chia thành bốn kỳ vọng chính sau đây

Đầu tiên, các lý thuyết cho rằng lạm phát không ảnh hưởng đến tăng

trưởng kinh tế

Nhà kinh tế học Tân cổ điển Sidrauski (1967) đề cập đến sự không tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Kết quả nghiên cứu của ông là khi các

Trang 15

biến số độc lập với việc tăng cung tiền trong dài hạn thì việc tăng lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Sử dụng đường tổng cung (AS) và đường tổng cầu (AD), lý thuyết Keynes cho thấy rằng không có sự thay đổi giữa sản lượng và mức giá trong dài hạn, tuy nhiên có một sự đánh đổi giữa sản lượng và mức giá trong ngắn hạn Nghĩa là, trong ngắn hạn, muốn cho tăng trưởng kinh tế đạt tốc độ cao thì phải chấp nhận một tỷ lệ lạm phát nhất định, tốc độ tăng trưởng và lạm phát di chuyển cùng chiều Sau đó, nếu tiếp tục chấp nhận tăng lạm phát để thúc đẩy tăng trưởng thì tốc độ tăng trưởng kinh tế cũng không tăng thêm mà có xu hướng giảm đi Tuy nhiên, Dornbusch và các cộng sự (1996) chứng minh rằng sự thay đổi trong tổng cầu ảnh hưởng đến cả mức giá lẫn sản lượng

Thứ hai, các lý thuyết cho rằng có mối quan hệ tích cực giữa lạm phát và

tăng trưởng kinh tế

Các nhà kinh tế học Tân cổ điển nói lên tác động của lạm phát đến tăng trưởng kinh tế thông qua đầu tư và tích lũy vốn Tobin (1965) cho rằng lạm phát làm gia tăng chi phí giữ tiền, là nguyên nhân làm cho con người tránh giữ tiền mà chuyển tiền thành các tài sản sinh lợi Điều này sẽ làm gia tăng sự tích lũy vốn trong nền kinh tế và thúc đẩy kinh tế phát triển Do đó, có mối tương quan cùng chiều giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Ngoài ra, Shi (1999) kết luận rằng sự gia tăng cung tiền sẽ gia tăng tích lũy vốn và do đó gia tăng sản lượng

Thứ ba, các kết quả nghiên cứu khác lại cho rằng lạm phát có tác động

tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế

Với lý thuyết cổ điển, Adam Smith cho rằng tiết kiệm là yếu tố ban đầu cho đầu tư, từ đó dẫn đến tăng trưởng, hơn nữa ông ngầm cho thấy mối quan hệ nghịch giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Nhiều nhà nghiên cứu khác cũng nhấn mạnh lạm phát có tác động đến tiết kiệm thông qua lãi suất huy động thực

Trang 16

Do đó thay đổi trong tiết kiệm có thể ảnh hưởng đến sản lượng đầu ra do thay đổi trong đầu tư trong nước Gylfason (1991) cho rằng lạm phát tăng sẽ làm giảm tiết kiệm do lãi suất huy động thực tế thấp hơn, do đó làm cản trở tăng trưởng kinh tế Mặt khác, Gylfason (1998) cho rằng trong khi tác động của lạm phát đến tiết kiệm chưa được xác định, điều đó làm bóp méo năng suất thì việc ổn định giá cả

sẽ cải thiện toàn dụng vốn và do đó gia tăng việc làm

Với lý thuyết trọng tiền thì mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và mức giá được thể hiện thông qua tăng trưởng tiền tệ Friedman (1956) nhấn mạnh vai trò của tăng trưởng tiền tệ trong việc xác định lạm phát bằng lý thuyết số lượng tiền tệ hoặc tính trung lập của tiền tệ Ông cho rằng lạm phát là sản phẩm của việc gia tăng cung tiền hoặc tăng hệ số tạo tiền ở mức độ lớn hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Lập luận này cũng được thể hiện trong công thức về lý thuyết số lượng tiền tệ:

Trang 17

Tóm lại, theo lý thuyết trọng tiền, trong dài hạn, giá cả bị ảnh hưởng bởi cung tiền chứ không thực sự tác động lên tăng trưởng kinh tế Nếu cung tiền tăng nhanh hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế thì lạm phát tất yếu sẽ xảy ra Nếu giữ cung tiền và hệ số tạo tiền ổn định thì tăng trưởng cao sẽ làm giảm lạm phát

Với lý thuyết Tân cổ điển, Stockman (1981) cho rằng lạm phát tăng cao sẽ làm cho tăng trưởng giảm Ông cho rằng sự gia tăng lạm phát làm giảm sức mua của tiền tệ, từ đó làm giảm lượng tiêu thụ hàng hóa và giảm sản lượng trong dài hạn

Thứ tư, các lý thuyết cho rằng mối tương quan giữa lạm phát và tăng

trưởng là phi tuyến

Sử dụng một mô hình tăng trưởng tiền tệ, Huybens và Smith (1998, 1999) tìm thấy mối quan hệ nghịch giữa lạm phát và các hoạt động thị trường tài chính, lạm phát và các hoạt động kinh tế thực Các tác giả cho rằng lạm phát cản trở tăng trưởng kinh tế bằng cách cản trở việc tái phân bổ các nguồn lực tài chính nhưng chỉ khi lạm phát vượt quá một giá trị tới hạn nào đó Choi và các cộng sự (1996)

đề xuất rằng lạm phát cao gia tăng việc phân bổ định mức tín dụng hoặc việc lựa chọn bất lợi trong thị trường tài chính, do đó, lạm phát cao làm giảm tỷ suất sinh lợi thực Khi lạm phát gia tăng, các tác nhân kinh tế sẽ tái phân bổ tiền tệ về vốn con người hoặc vốn vật chất và thay đổi tăng trưởng sản lượng

Các quan điểm lý thuyết trên đưa ra mối quan hệ khác nhau giữa lạm phát

và tăng trưởng kinh tế nhưng quan điểm chung là quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế không phải là mối quan hệ một chiều mà là sự tác động qua lại Tác động này được truyền dẫn chủ yếu thông qua kênh tiết kiệm và đầu tư

Tóm tại, tùy từng quan điểm kinh tế tại từng giai đoạn khác nhau mà có những lý thuyết khác nhau về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế

Trang 18

Những lý thuyết này vừa đối nghịch nhau, vừa bổ sung cho nhau Theo đó, bài viết tóm tắt sơ bộ quan điểm của các lý thuyết tại Bảng 2.2

Bảng 2.2: Tổng hợp quan điểm của một số lý thuyết kinh tế về mối quan hệ lạm phát- tăng trưởng

Quan hệ ngắn hạn Quan hệ dài hạn

Lý thuyết Keynes Không hoặc dương yếu Dương

Lý thuyết trọng tiền Không hoặc dương yếu Không

2.2 Tổng quan các nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới

Mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế đã thu hút rất nhiều nhà kinh tế học nghiên cứu trong những năm gần đây Tuy nhiên, các nghiên cứu này lại cung cấp những kết quả khác nhau, chủ yếu phụ thuộc vào phương pháp nghiên cứu đã sử dụng và đặc trưng của từng quốc gia Các kết quả tập trung chủ yếu vào bốn kỳ vọng sau lạm phát không ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, lạm phát tác động tích cực đến tang trưởng kinh tế hoặc lạm phát và tang trưởng kinh tế có mối quan hệ phi tuyến,

Một trong những bài nghiên cứu đầu tiên về khả năng của mối quan hệ phi

tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng là “The role of macroeconimic factors in

growth” của Fisher (1993) Sử dụng dữ liệu bảng 93 quốc gia bao gồm cả quốc gia

phát triển và đang phát triển với phương pháp hồi quy chéo theo nhóm và hồi quy hỗn hợp, tác giả sử dụng hồi quy spline bằng cách sử dụng điểm gãy là 15% và 40%, chia lạm phát thành ba giai đoạn (≤ 15%, từ 15% đến 40% và ≥ 40%) Tác

Trang 19

giả không những chỉ ra được mối quan hệ phi tuyến giữa làm phát và tăng trưởng kinh tế mà còn cho thấy mối quan hệ tiêu cực mạnh mẽ khi lạm phát vượt trên mức 40% Tuy nhiên, việc lựa chọn các điểm gãy để đại diện cho mức ngưỡng lạm phát

là một hạn chế của bài nghiên cứu này Tương tự bài nghiên cứu của Bruno (1995)

đã cho thấy tăng trưởng kinh tế chỉ giảm đi khi lạm phát ở mức từ 20 – 25% và tốc

độ tăng trưởng sẽ gia tăng khi lạm phát giảm xuống mức 15 – 20%

Bài nghiên cứu “Non Linear Effects of Inflation on Economic Growth” của

Sarel (1996) đã tìm ra bằng chứng về điểm gãy của cấu trúc lạm phát và tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 87 quốc gia trong giai đoạn

1970 – 1990 Tác giả đã tìm thấy được điểm gãy mà ở đó ngưỡng lạm phát ước tính ở mức 8%, nghĩa là nếu lạm phát ở dưới mức này sẽ không có tác động nhiều đến tăng trưởng, nhưng nếu vượt ngưỡng 8% thì lạm phát sẽ có tác động tiêu cực mạnh mẽ đến sự phát triển của nền kinh tế

Bruno và Easterly (1998) thông quan bài nghiên cứu “Inflation Crises and

Long-run Growth” cũng đã tìm thấy được bằng chứng về sự tương quan của lạm

phát và tăng trưởng kinh tế trong dài hạn bằng cách sử dụng dữ liệu bảng và dữ liệu chéo kết hợp của chỉ số lạm phát dựa trên CPI của 26 quốc gia đã trải qua cuộc khủng hoảng lạm phát trong khoảng thời gian từ năm 1961 – 1992 Kết quả nghiên cứu đã chứng minh rằng cuộc khủng hoảng lạm phát cao dẫn đến sự sụt giảm mạnh tốc độ tăng trưởng kinh tế Với mức ngưỡng lạm phát 40%, các tác giả không tìm thấy sự tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế khi lạm phát ở dưới mức này, nhưng lại thấy có sự tương quan nghịch chiều mạnh mẽ khi lạm phát ở trên mức 40%

Song song đó, Ghosh và Phillips (1998) với bài viết “Warning: Inflation

May Be Harmful to Your Growth” đã sử dụng mảng dữ liệu về tăng trưởng GDP

bình quân đầu người hàng năm theo giá so sánh và số liệu về lạm phát theo CPI bình quân của 145 nước thành viên của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) trong khoảng

Trang 20

thời gian 1960 – 1996 với 3606 quan sát kết hợp với phân tích hồi quy đa biến theo các nhóm và phương pháp cây nhị phân đệ quy Các tác giả đã tìm thấy mức ngưỡng lạm phát khá thấp khoảng 2% - 3%, khi tỷ lệ lạm phát vượt mức này sẽ có tác động tiêu cực đến sự phát triển kinh tế và ở dưới mức này lạm phát sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế Bài nghiên cứu cũng tìm thấy được mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế có dạng lồi, do đó, sự suy giảm trong tăng trưởng khi lạm phát tăng từ 10% đến 20% là lớn hơn nhiều so với sự gia tăng lạm phát từ 40% đến 50%

Với bài nghiên cứu “From Inflation to Growth-Eight Years of Transition”

của Christoffersen và Doyle (1998), các tác giả đã sử dụng số liệu về GDP theo giá

so sánh, dân số, cơ cấu hàng xuất khẩu, chỉ số cải cách chuyển đổi cho 22 nền kinh

tế chuyển đổi trong bối cảnh đổi mới nền kinh tế và mở rộng thị trường xuất khẩu

từ năm 1990 đến 1997 nhằm nghiên cứu mối quan hệ giữ lạm phát và tăng trưởng kinh tế cũng như ảnh hưởng của thiểu phát đối với tăng trưởng kinh tế Các tác giả tìm ra được mức ngưỡng lạm phát là 13% và không tìm thấy bất kỳ bằng chứng nào cho thấy có sự tăng trưởng kinh tế khi lạm phát cao hơn mức ngưỡng này Do

đó, các tác giả đề xuất rằng các quốc gia có tỷ lệ lạm phát rất thấp so với ngưỡng này phải đặt mục tiêu kìm giữ mức lạm phát thấp này

Tiếp theo đó, Khan và Senhadji (2001) với bài nghiên cứu “Threshold

Effects in the Relationship Between Inflation and Growth” đã ước tính ngưỡng lạm

phát một cách riêng biệt cho các nước đang phát triển và các nước công nghiệp hoá bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 140 quốc gia trong giai đoạn 1960 – 1998 Các tác giả sử dụng mô hình bình phương tối thiểu phi tuyến để tìm ra mức ngưỡng lạm phát ở các nước đang phát triển là 11 – 12% và ở các nước công nghiệp hoá khoảng 1 – 3% Với kết quả này, nếu mức lạm phát nằm dưới mức ngưỡng sẽ không có ảnh hưởng gì đến tăng trưởng kinh tế, nhưng nếu lạm phát vượt mức ngưỡng này sẽ có tác động tiêu cực đến tốc độ phát triển kinh tế Tuy

Trang 21

nhiên, tác giả cũng nêu rõ là kết quả này phụ thuộc nhiều vào phương pháp ước tính chẳng hạn như việc có sự loại trừ những số liệu quan sát lạm phát cao hoặc lặp

đi lặp lại nhiều lần

Tương tự, bài nghiên cứu “Inflation-Growth Profiles Across Countries:

Evidence from Developing and Developed Countries” của Moshiri và Sepehri

(2004) sử dụng dữ liệu của bốn nhóm quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau và tìm ra được khả năng tồn tại nhiều ngưỡng lạm phát (chứ không phải chỉ

có một mức ngưỡng) cho các quốc gia ở các giai đoạn phát triển khác nhau Các tác giả tìm thấy mức ngưỡng lạm phát 15% cho các quốc gia có mức thu nhập dưới mức trung bình, ngưỡng 11% cho các nước có mức thu nhập trung bình và ngưỡng lạm phát 5% có các quốc gia có mức thu nhập trên trung bình Các tác giả không tìm thấy được mối tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế của các quốc qia thuộc nhóm Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (Organisation for Economic Cooperation and Development - OECD)

Bài nghiên cứu “Inflationary Threshold Effects in the Relationship Between

Financial Development and Economic Growth: Evidence from Taiwan and Japan” của Lee và Wong (2005) đã sử dụng mô hình ngưỡng và mô hình TAR của

Tong (1978) và Hansen (1996) với các dữ liệu quý thiết lập từ giai đoạn 1965 –

2002 đối với Đài Loan và giai đoạn 1970 – 2001 đối với Nhật Bản để tìm sự tồn tại của mức ngưỡng lạm phát tại hai quốc gia này Các tác giả tìm thấy khi lạm phát tại Đài Loan vượt quá ngưỡng 7,3% thì lạm phát có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế Đối với Nhật Bản, các tác giả tìm thấy hai mức ngưỡng lạm phát là 2,5% và 9,7%, các tác giả cho rằng lạm phát dưới mức ngưỡng 9,7% sẽ có tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế

Drucker và các cộng sự (2005) với bài nghiên cứu “Threshold Effects in the Relationship Between Inflation and Growth: A New Panel-data Approach” đã áp dụng mô hình hồi quy ngưỡng nội sinh mới của Hansen (1999) trên dữ liệu của

Trang 22

138 quốc gia trong giai đoạn 1950 – 2000 để ước lượng ngưỡng lạm phát Kết quả cho thấy tồn tại hai mức ngưỡng lạm phát tại các nước phát triển là 2,57% và 12,61% và duy nhất một ngưỡng lạm phát đối với mẫu đầy đủ 138 quốc gia là 19,16%

Li (2006) với bài nghiên cứu “Inflation anh Economic Growth: Threshold

Effects Transmission Mechanisms” kiểm nghiệm mối quan hệ giữa lạm phát và

tăng trưởng kinh tế bằng cách sử dụng phương trình tăng trưởng chi tiêu Y = C + I + G + NX và phương trình tăng trưởng kế toán, trên dữ liệu của 90 quốc gia đang phát triển từ năm 1961 đến năm 2004 Kết quả, bài nghiên cứu tìm thấy mối quan

hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng, nhưng hình thức mối quan hệ phi tuyến này thì khác nhau đối với các nhóm quốc gia khác nhau Theo đó, các nước đang phát triển có 2 mức ngưỡng lạm phát là 14% và 38% Cơ chế phi tuyến mà hai mức ngưỡng này hoạt động như sau: Khi tỷ lệ lạm phát ở dưới mức ngưỡng đầu tiên (14%), tác động của lạm phát đến tăng trưởng không đáng kể và thậm chí là tích cực Khi tỷ lệ lạm phát nằm giữa hai mức ngưỡng, lạm phát sẽ tác động mạnh

mẽ và tiêu cực đến tăng trưởng Khi lạm phát quá cao - vượt qua mức ngưỡng thứ

2, tác động biên của lạm phát lên tăng trưởng giảm dần nhưng vẫn mang ý nghĩa tiêu cực Đối với các nước phát triển, chỉ có một ngưỡng lạm phát được phát hiện, ước tính khoảng 24%

Ngoài ra, bài nghiên cứu “Inflation and Economic Growth: A Cross –

Country of Non – Linear Analysis” của Pollin và Zhu (2006) đã tìm thấy mối quan

hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế cho hơn 80 quốc gia có mức thu nhập trung bình và trung bình thấp trong giai đoạn 1961 – 2000 Các tác giả tìm thấy mức ngưỡng lạm phát nằm trong khoảng 16 – 18%, vượt mức ngưỡng này, lạm phát sẽ có tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế, và dưới mức ngưỡng này

sẽ có tác động tích cực

Trang 23

Schiavo và Vaona (2007) với bài nghiên cứu “Nonparametric and

Semiparametric Evidence on the Long-run Effects of Inflation on Growth” bằng

cách sử dụng biến công cụ không tham số và bán tham số để kiểm định mối quan

hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, đồng thời tìm ra mức ngưỡng lạm phát Các tác giả sử dụng bảng dữ liệu của 167 quốc gia (bao gồm cả các quốc gia phát triển và đang phát triển) trong giai đoạn từ 1960 – 1999 và tìm ra mức ngưỡng lạm phát là 12% cho các nước phát triển Do sự biến động cao của tốc độ tăng trưởng tại các nước đang phát triển, bài nghiên cứu không thể tìm ra được mức ngưỡng lạm phát

Bài nghiên cứu ““Phillips Curve” in Selected Asean Countries: New

Evidence from Panel Data Analysis” của Furuoka và cộng sự (2009) tìm hiểu về

ngưỡng lạm phát tại Malaysia, bằng cách sử dụng mô hình tự hồi quy ngưỡng nội sinh (TAR) của Hansen (1999) Tác giả sử dụng dữ liệu trong giai đoạn 1970 –

2005 mà tìm thấy mức ngưỡng lạm phát là 3,89%, nếu lạm phát vượt mức này lạm phát sẽ làm chậm tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế, nếu dưới mức này thì lạm phát sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

Bài nghiên cứu “Inflation and economic growth: The non-linear

relationship Evidence from CIS countries” của Sergii (2009) nghiên cứu mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm phát cho các quốc gia thuộc “Cộng đồng các Quốc gia Độc lập” (CIS) cho giai đoạn 2001-2008 bằng cách sử dụng phương pháp bình phương bé nhất phi tuyến (non-linear least square) Kết quả nghiên cứu của tác giả cho thấy ngưỡng lạm phát ước tính ở các quốc gia CIS là 8% Nghĩa là khi lạm phát lớn hơn 8%, lạm phát ảnh hưởng tiêu cực đến tăng trưởng

Bài nghiên cứu “Estimating The Inflation - Growth Nexus - A Smooth

Transition Model” của Espinoza và cộng sự (2010) sử dụng mô hình hồi quy

chuyển tiếp trơn (STR) để tìm kiếm một ngưỡng mà ở đó khi lạm phát lớn hơn sẽ

có ảnh hưởng xấu đến nền kinh tế Tác giả đã sử dụng dữ liệu của 165 quốc gia

Trang 24

trong giai đoạn 1960 – 2007 Kết quả của bài nghiên cứu chỉ ra mức ngưỡng lạm phát là 10% cho các quốc gia mới nổi và 1% cho các nước tiên tiến, trên mức ngưỡng này, lạm phát sẽ nhanh chóng trở nên có hại cho tăng trưởng, điều này cho thấy sự cần thiết của một chính sách để đối phó lạm phát tại hoặc ở trên ngưỡng đó kịp thời

Trong bài nghiên cứu “On the impact of inflation on output growth: Does

the level of inflation matter?” của Villavicencio và Mignon (2011), các mô hình

PSTR của González et al (2005) và Fok et al (2005) được áp dụng cho mẫu dữ liệu bao gồm 44 quốc gia trong giai đoạn 1961-2004 Kết quả của bài viết cung cấp bằng chứng rõ ràng rằng lạm phát tác động phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế

Cụ thể hơn, có tồn tại một ngưỡng mà khi lạm phát trên ngưỡng này, nó tác động tiêu cực đến tăng trưởng Giá trị ngưỡng lạm phát này đối với các nước tiên tiến rất khác so với các nước đang phát triển, ước tính là 2,7% đối với các nền kinh tế công nghiệp hóa và 17,5% cho nền kinh tế mới nổi Hơn nữa, đối với tỷ lệ đối với các nền kinh tế phát triển, trong khi ở mức lạm phát dưới 17,5%, liên kết giữa chúng là không đáng kể đối với các nước đang phát triển Sự khác biệt trong các giá trị ngưỡng giữa những nhóm quốc gia thu được từ phương pháp PSTR minh họa một mức chịu đựng lạm phát cao hơn đối với các nước mới nổi, có thể được giải thích bởi các yếu tố khác nhau, chẳng hạn như tác động Balassa-Samuelson, việc sử dụng các hệ thống chỉ số, chính sách tỷ giá hối đoái và mức lạm phát cao của các nước đó Những kết quả này là mạnh mẽ đối với phương pháp chặn do kết quả tương tự đã thu được bằng cách sử dụng các ước tính GMM trên phương trình tăng trưởng bao gồm các hệ số tương tác bậc hai Căn cứ vào việc tỷ lệ lạm phát và

tỷ lệ thay đổi của cung tiền tương quan chặt chẽ với nhau, thực tế rằng lạm phát ảnh hưởng phi tuyến đến tăng trưởng kinh tế có thể có ý nghĩa quan trọng về chính sách tiền tệ Thật vậy, tốc độ tăng trưởng cung tiền là công cụ chính của ngân hàng trung ương cho chính sách tiền tệ, sự tồn tại của một mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng sản lượng cho thấy rằng chính sách tiền tệ có thể có hiệu

Trang 25

ứng khác nhau đối với GDP phụ thuộc vào mức lạm phát Kết quả là, điều này gợi lên nghi vấn về tính trung lập lâu dài của tiền tệ

Trong bài nghiên cứu của Bick (2010), tác giả mở rộng mô hình ngưỡng của Hansen (1999) thông qua các hệ số chặn (regime intercepts) và áp dụng mô hình này trên mảng số liệu của 40 nước đang phát triển giai đoạn 1960-2004 và sử dụng số liệu trung bình 5 năm Kết quả cho thấy giả thuyết giá trị ngưỡng không tồn tại bị bác bỏ ở mức ý nghĩa 5% Việc tính các hệ số chặn chế độ làm giảm ước tính ngưỡng từ 19% xuống 12% và giới hạn dưới từ 11,8% đến 5,3%, với khoảng tin cậy 95% Điểm nổi bật nhất là nếu không có hệ số chặn chế độ, tỷ lệ lạm phát dưới ngưỡng 19% có tác động tích cực đáng kể (0,407) lên tăng trưởng với mức ý nghĩa 10%, trong khi các tác động tiêu cực (-0,232) cho tỷ lệ lạm phát trên 19% không có ý nghĩa thống kê Ngược lại, nếu có hệ số chặn chế độ, độ lớn các tác động tăng gấp đôi (0,785 -0,531) và thiết lập tại mức ý nghĩa ít nhất 5% Chính các

hệ số chặn chế độ δ1 có ý nghĩa tại mức 5% Như vậy, việc lựa chọn các mô hình chính xác, tức là kiểm soát chênh lệch hệ số chặn chế độ, có những ngụ ý quan trọng Đầu tiên, ước tính điểm và giới hạn dưới của khoảng tin cậy mà lạm phát gây hại đến tăng trưởng đều thấp hơn đáng kể Thứ hai, độ lớn của tác động bất lợi của tỷ lệ lạm phát trên ngưỡng tăng gấp đôi Thứ ba, giữ lạm phát dưới ngưỡng rõ ràng là có lợi hơn

Một vài điểm đáng lưu ý có thể được rút ra từ các nghiên cứu trước đây như sau:

- Hầu hết các nghiên cứu đều đồng thuận với kết quả lạm phát và tăng trưởng kinh tế có mối quan hệ phi tuyến và tồn tại một mức ngưỡng lạm phát mà ở

đó nếu lạm phát ở dưới mức ngưỡng này có thể không tác động hoặc tác động tích cực đến tăng trưởng kinh tế, ngược lại, nếu lạm phát ở trên mức này thì sẽ tác động tiêu cực đến tốc độ phát triển của nền kinh tế Mức

Trang 26

ngưỡng này là khác nhau ở mỗi quốc gia tùy thuộc vào mức độ phát triển kinh tế, thể chế và cấu trúc thực tế của mỗi quốc gia

- Các quốc gia đang phát triển thường có mức ngưỡng lạm phát cao hơn so với các quốc gia phát triển

- Việc lựa chọn mô hình ước lượng và kiểm tra độ tin cậy cũng đóng vai trò quan trọng trong việc kiểm định mối quan hệ phi tuyến của lạm phát và tăng trưởng

Nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam:

Tại Việt Nam, cũng có rất nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa lạm phát

và tăng trưởng

Cụ thể, Nguyễn Trung Chính (2009) với bải viết “Mối quan hệ giữa tăng

trưởng và lạm phát qua kết quả phân tích tại Việt Nam” nghiên cứu mối quan hệ

giữa tăng trưởng và lạm phát giai đoạn 1995 - 2008 dựa trên phương pháp hồi quy đồng liên kết, mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) và mô hình VAR Kết quả cho thấy tăng trưởng và lạm phát có mối quan hệ đồng liên kết với ước lượng hệ số đồng liên kết là 0.5883 có ý nghĩa ở mức 1% Hệ số phù hợp R2 cho thấy lạm phát

có ảnh hưởng khá lớn đến tăng trưởng Kiểm định đồng liên kết Johansen cũng cho kết quả tương tự với số véc tơ đồng liên kết là 2 Đồng thời, kết quả thu được khi

sử dụng mô hình ECM cho thấy trong ngắn hạn, lạm phát tăng thì tăng trưởng cũng tăng Trong dài hạn, khi lạm phát và tăng trưởng chệch khỏi điểm cân bằng thì xuất hiện sự điều chỉnh khiến tăng trưởng thay đổi theo xu hướng đưa các yếu

tố của nền kinh tế về vị trí cân bằng Song song đó, lạm phát và tăng trưởng thời

kỳ trước đều có ảnh hưởng đến sự thay đổi của tăng trưởng tại thời điểm hiện tại Kết quả mô hình VAR cho thấy sự thay đổi lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng nhiều hơn sự ảnh hưởng trở lại của tăng trưởng đến lạm phát Như vậy, từ kết quả phân tích, tăng trưởng và lạm phát có mối quan hệ dương (đồng biến) trong cả dài hạn và ngắn hạn và sự thay đổi của tăng trưởng nhanh hơn sự thay đổi của lạm

Trang 27

phát trong cả hai trường hợp Từ đó, tác giả kết luận trong giai đoạn phân tích, lạm phát có tác động tích cực đến tăng trưởng và chưa vượt quá ngưỡng kiểm soát

Theo nghiên cứu “Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và lạm

phát ở Việt Nam thông qua mô hình kinh tế lượng” của Phùng Duy Quang, Lâm

Văn Sơn, Lê Văn Tuấn (2014), giữa lạm phát và tăng trưởng có mối quan hệ tác động lẫn nhau Bằng việc áp dụng mô hình đồng liên kết, mô hình ECM, mô hình VAR trên dữ liệu Việt Nam giai đoạn 2008 - 2012, nhóm tác giả khẳng định sự tồn tại của mối quan hệ tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Theo kết quả

mô hình đồng liên kết, mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát dài hạn là quan

hệ đồng biến, tức là lạm phát tăng 1 đơn vị thì tăng trưởng khoảng 0,586278 đơn

vị Hệ số xác định R2 ước lượng được là 86,546% cho thấy rằng lạm phát có ảnh hưởng khá lớn đến tăng trưởng Đồng thời, kết quả kiểm định đồng kiên kết bằng phương pháp kiểm định Johansen cho thấy lạm phát và tăng trưởng kinh tế có quan

hệ đồng liên kết với nhau với số véc tơ đồng liên kết r=2 Tiếp theo đó, nhóm tác giả dùng mô hình sai số hiệu chỉnh (ECM) để nghiên cứu sự biến động trong ngắn hạn của tăng trưởng và lạm phát Theo đó, kết quả cho thấy trong ngắn hạn lạm phát và tăng trưởng kinh tế có quan hệ đồng biến Trong dài hạn khi lạm phát và tăng trưởng lệch khỏi vị trí cân bằng thì sẽ có sự điều chỉnh đưa các yếu tố kinh tế trở về điểm cân bằng Song song đó, lạm phát và tăng trưởng thời kỳ trước có tác động đến tăng trưởng thời kỳ hiện tại Kết quả mô hình VAR cho thấy 92,568% sự biến động của tăng trưởng được giải thích bởi biến động của lạm phát và tăng trưởng trong quá khứ và 90,5683% biến động của lạm phát được giải thích bởi biến động của lạm phát và tăng trưởng trong quá khứ Chi tiết hơn, kết quả phân tích phương sai trong 12 thời kỳ cho thấy lạm phát và tăng trưởng không những tác động qua lại lẫn nhau mà còn chịu tác dộng của bản thân nó trong quá khứ Trong ngắn hạn, sự thay đỏi của lạm phát ảnh hưởng đến tăng trưởng nhiều hơn sự ảnh hưởng trở lại của tăng trưởng đến lạm phát

Trang 28

Trương Minh Tuấn (2013) áp dụng phương pháp phân tích phương sai dựa trên mô hình VAR và mô hình sai số hiệu chỉnh ECM để kiểm định mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng trong ngắn hạn lẫn dài hạn Theo đó, tác giả sử dụng

mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mối quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát dựa trên việc phân tích chuỗi thời gian và tìm hiểu tác động của các cú sốc vào trong chỉ số giá Trong mô hình, chỉ số giá của một thời kỳ chịu tác động của cú sốc cầu, cú sốc cung, cú sốc tiền tệ, cú sốc tỷ giá hối đoái được đại diện lần lượt bởi các biến như giá dầu thế giới, tỷ lệ tăng trưởng thực, mức cung tiền và tỷ giá hối đoái danh nghĩa đa phương Kết quả phân tích cho thấy giữa tăng trưởng kinh

tế và lạm phát có mối quan hệ nghịch biến trong cả dài hạn và ngắn hạn Trong dài hạn, sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế chậm hơn sự thay đổi trong lạm phát Tuy nhiên, trong ngắn hạn, sự thay đổi của lạm phát lại ảnh hưởng đến sự thay đổi của tăng trưởng và mức thay đổi trong lạm phát cao hơn mức thay đổi trong tăng trưởng kinh tế Trong dài hạn, dựa vào kết quả ước lượng mô hình ECM và kết quả kiểm định Engle-Granger (EG) hay Augmented Engle-Granger (AEG), lạm phát

và tăng trưởng kinh tế đồng liên kết với nhau theo quan hệ nghịch biến Cụ thể, khi tăng trưởng tăng 1% thì lạm phát giảm 0,037% và ngược lại Trong ngắn hạn, dựa vào kết quả ước lượng mô hình VAR và kiểm định mối quan hệ nhân quả Granger giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế, tác động của tăng trưởng kinh tế đến lạm phát không có ý nghĩa thống kê trong khi tăng trưởng kinh tế lại chịu tác động của lạm phát theo quan hệ nghịch biến

Tại bài nghiên cứu “Lạm phát và tốc độ tăng trưởng kinh tế ở Việt Nam”

của Trần Hoàng Ngân, Hoàng Hải Yến, Vũ Thị Lệ Giang (2013), nhóm tác giả phân tích hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế trên dữ liệu thời gian 1987 - 2012 Kết quả cho thấy, hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng

là âm ( ) Điều này ngụ ý là lạm phát tăng 1% sẽ làm giảm tăng trưởng 0,382% Tuy nhiên, quan sát dãy số liệu của Việt Nam, nhóm tác giả nhận thấy có

2 năm Việt Nam rơi vào tình trạng siêu lạm phát Do đó, nhóm tác giả loại trừ các

Trang 29

số liệu tại hai năm này và xem xét lại hệ số tương quan giữa lạm phát và tăng trưởng Kết quả cho thấy, sau khi loại trừ các cú sốc lạm phát, hệ số tương quan giữa tăng trưởng vẫn Từ đó, nhóm tác giả kết luận rằng xét trong một giai đoạn dài, cho dù có xảy ra cú sốc lạm phát hay không thì lạm phát vẫn tác động tiêu cực ở mức trung bình tới tăng trưởng kinh tế Lạm phát tăng cao sẽ đẩy tăng trưởng kinh tế chậm lại Kết quả này giống kết quả nghiên cứu giai đoạn sau khủng hoảng dầu hỏa 1973 - 1974 của Fischer (1993), Bruno và Easterly (1995) và Barro (1998) khi tìm thấy quan hệ âm giữa lạm phát và tăng trưởng Tiếp theo đó, nhóm tác giả tách dãy dữ liệu ra hai thời kỳ 1989-2000 và 2001-2012 để xem xét quan hệ giữa tăng trưởng và lạm phát trong ngắn hạn Kết quả cho thấy, trong giai đoạn 1989-2000, lạm phát tác động ngược chiều đến tăng trưởng kinh tế

Tuy nhiên, trong giai đoạn 2001 - 2012, lạm phát có tác động tiêu cực yếu đến tăng trưởng kinh Theo đó, tác giả kết luận rằng trong cả hai giai đoạn ngắn, lạm phát hoặc tác động tiêu cực thấp tới tăng trưởng kinh tế hoặc không thể kết luận được mối quan hệ giữa hai biến Quan sát bảng dữ liệu, nhóm tác giả cho rằng ngưỡng lạm phát ở Việt Nam khoảng 5 – 7% Khi lạm phát dưới mức 5%, lạm phát ảnh hưởng tích cực mạnh đến tăng trưởng Khi lạm phát trên 7%/năm sẽ có mối quan hệ ngược chiều ở mức cao tới tăng trưởng

Theo đó, nếu chọn ngưỡng lạm phát Việt Nam là 5 - 7% thì phù hợp với khảo sát của nhóm nghiên cứu khi có đến 65,4% người được hỏi cho rằng mức lạm phát 6,6% năm 2006 là mức bình thường Cũng như vậy, năm 2009, với mức lạm phát 6,52%/năm thì có đến 59,6% cho rằng đây là mức lạm phát trung bình Từ đó, nhóm tác giả kết luận rằng xét ở thời kỳ dài 24 – 26 năm, lạm phát ảnh hưởng tiêu cực yếu đến tăng trưởng kinh tế Tuy nhiên, ảnh hưởng của lạm phát tới tăng trưởng là tích cực hay tiêu cực còn phụ thuộc vào mức lạm phát sử dụng để xác định mối tương quan này Nếu khảo sát trong khoảng thời gian từ năm

1989 - 2012, lạm phát đóng góp 14.6% vào sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế Còn trong khoảng thời gian 20 năm từ 1990 – 2009, lạm phát chỉ đóng góp 12.8%

Trang 30

vào sự thay đổi của tốc độ tăng trưởng kinh tế đo bằng tốc độ tăng GDP Như vậy, nếu chỉ sử dụng hệ số tương quan giữa CPI và tốc độ tăng GDP ở trên để đưa ra các con số dự báo về tỷ lệ lạm phát khi muốn đạt tốc độ tăng trưởng nhất định hoặc ngược lại, đưa ra con số dự báo về tốc độ tăng trưởng kinh tế nhằm mục tiêu kiểm soát lạm phát ở một mức nhất định là không chính xác Bởi lạm phát chỉ là một yếu tố, dù quan trọng, trong vô vàn các yếu tố khác tác động tới tăng trưởng kinh tế Đồng thời, ngưỡng lạm phát ở Việt Nam là 5% – 7% Ở mức này thì lạm phát lại ảnh hưởng tích cực mạnh đến tăng trưởng kinh tế Ở khoảng này, lạm phát

có thể giải thích được xấp xỉ 65% sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế

Bài nghiên cứu “Threshold effects of Inflation on Growth in the ASEAN-5

Countries: A Panel Smooth Transition Regression Approach” của PGS.TS Sử

Đình Thành (2015) nhằm kiểm định giả thiết mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế là phi tuyến Tác giả sử dụng bảng dữ liệu của 5 quốc gia Đông Nam Á (trong đó có Việt Nam) trong giai đoạn 1980 – 2011 Mô hình PSTR được

sử dụng đế tính toán ngưỡng lạm phát Ngoài ra, bài nghiên cứu cũng kiểm định độ chắc chắn của tính toán bằng các sử dụng mô hình GMM-IV Tác giả ước tính ngưỡng giá trị và độ dốc hệ số thông qua việc sử dụng các biến hồi quy nội sinh được lựa chọn từ các bài nghiên cứu của Barro (1991), Sala-i-Martin (1997), Khan

và Senhadji (2001), Lo1pez-Villavicencio và Mignon (2011), và Baglan và Yoldas (2014) như các biến tỷ lệ tăng trưởng ban đầu, tỷ lệ thất nghiệp, tỷ lệ tăng trưởng đầu tư, tỷ lệ tăng trưởng chi tiêu công, tốc độ tăng trưởng mậu dịch và độ lệch chuẩn của mậu dịch

Kết quả ước lượng cho thấy bằng chứng mạnh mẽ về mối quan hệ phi tuyến giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Mức ngưỡng lạm phát được dự đoán cho năm quốc gia Đông Nam Á là 7.84% có ý nghĩa thống kê ở mức 1% trong cả kiểm định PSTR và GMM-IV

Trang 31

- Mức ngưỡng 7.84% này là cao hơn mức ngưỡng 5.43% cho các quốc gia Châu Á được tìm thấy trong bài nghiên cứu của Vinayagathasan (2013) Kết quả có sự khác biệt chủ yếu do việc sử dụng khác mô hình và mẫu dữ liệu

- Mức ngưỡng 7.84% này là thấp hơn mức ngưỡng 18.9% của Cộng đồng Phát triển Nam Phi (SADC) được ước tích bởi Seleteng và cộng sự (2013), mức ngưỡng 10 – 12.9% cho các quốc gia có mức thu nhập trên và dưới mức trung bình theo ước tích của Baglan và Yoldas (2014) Sự khác biệt này có thể là do các quốc gia Đông Nam Á có tỷ lệ phát triển cao và ổn định trong một giai đoạn nhất định và đã được áp dụng chính sách nhất quán, dẫn đến tỷ lệ lạm phát thấp và ổn định (Cheng, 1999) Các chính sách

vĩ mô tại các nước Đông Nam Á thường được giữ ổn định Do đó, các quốc gia Đông Nam Á thường có mức lạm phát thấp hơn so với những thị trường mới nổi khác (Jiranyakul & Opiela, 2010)

Bên cạnh đó, tác giả cũng tìm thấy mức tương quan của các biến kiểm soát được sử dụng trong mô hình là khá ổn định so với các kiểm định thực nghiệm Tốc

độ của quá trình chuyển đổi tương đối trơn tru Điều này cho thấy các ngân hàng trung ương ở các quốc gia Đông Nam Á nên có những động thái nhanh khi lạm phát ở gần mức hay trên mức ngưỡng Tóm lại, các ngân hàng trung ương nên cải thiện tốc độ phát triển kinh tế bằng cách giảm mức lạm phát khi lạm phát lớn hơn hoạt gần mức ngưỡng Ngân hàng trung ương tại các nước Đông Nam Á nên xem xét tỷ mức ngưỡng lạm phát 7.8% như là một mức lạm phát mục tiêu để có thể duy trì sự ổn định của nền kinh tế, Để cải thiện tỷ lệ lạm phát và phát triển kinh tế, chính phủ tại khu vực này nên kết hợp với chính sách tiền tệ, chính sách tài chính

và chính sách tỷ giá chung với nhau (Ayres, Belasenm, & Kutan, 2014)

Bài nghiên cứu “Threshold in Relationship between Inflation and Economic

Growth: Empirical Evidence in Vietnam” của nhóm tác giả Lê Thanh Tùng và

Trang 32

Phạm Tiến Thành (2015) được xem là một trong những bài nghiên cứu mới nhất

về mức ngưỡng lạm phát của Việt Nam Bài nghiên cứu sử dụng 3 phương pháp bao gồm phương pháp bình quân bé nhất thông thường (OLS), phương pháp bình quân bé nhất hai giai đoạn (2-SLS) và phương pháp GMM với dữ liệu trong giai đoạn 1986 – 2013 để chứng minh sự tồn tại của mối quan hệ tuyến tính giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Kết quả bài nghiên cứu tìm ra được mức ngưỡng lạm phát ở Việt Nam là 7% Chính phủ nên xem đây là mức lạm phát mục tiêu cho những chính sách vĩ mô để điều chỉnh và duy trì tỷ lệ lạm phát thực gần với mức lạm phát mục tiêu đã đề ra

Trang 33

CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Các nghiên cứu trước đó thường sử dụng mô hình ngưỡng của Hansen (1999) để ước tính giá trị ngưỡng lạm phát Tuy nhiên, việc áp dụng mô hình ngưỡng của Hansen (1999) để phân tích thực nghiệm về mối quan hệ giữa lạm phát – tăng trưởng có nhiều hạn chế Hạn chế quan trọng nhất trong mô hình Hansen là các biến hồi quy bắt buộc phải là biến ngoại sinh

Trong mô hình hồi quy tăng trưởng kinh tế với dữ liệu bảng của Hansen (1999), giả định ngoại sinh phải được thỏa mãn nhưng biến thu nhập ban đầu (độ trễ của GDP) - một biến quan trọng trong mô hình bị nội sinh bởi cấu trúc

Caselli và các cộng sự (1996) chứng minh rằng các ước lượng của mô hình

dữ liệu bảng tuyến tính của tăng trưởng kinh tế có thể không phù hợp do:

- Các ảnh hưởng cố định của từng quốc gia cụ thể

- Sự bao gồm của các biến nội sinh trong mô hình hồi quy

Do tầm quan trọng của thu nhập ban đầu đối với các tranh luận về các lý thuyết tăng trưởng kinh tế, các nghiên cứu thực nghiệm về mối quan hệ của lạm phát và tăng trưởng áp dụng phương pháp của Hansen đã quyết định bỏ qua yếu tố chệch nội sinh tiềm năng, ví dụ như Khan và Senhadji (2001), Cuaresma và Silgoner (2004), Foster (2006) và Bick (2010) Ngược lại, Drukker và các cộng sự (2005) loại trừ thu nhập ban đầu khỏi hồi quy tăng trưởng kinh tế để tránh vấn đề nội sinh

Cả hai cách để giải quyết việc nội sinh của biến thu nhập ban đầu có thể dẫn đến các ước tính chệch của ngưỡng lạm phát và gây hiểu nhầm kết luận về tác động của lạm phát đến tăng trưởng trong các chế độ lạm phát tương ứng

Bài nghiên cứu này xây dựng mô hình ngưỡng dựa trên nghiên cứu thực nghiệm của Kremer và các cộng sự (2013) Nghiên cứu của Kremer và các cộng sự

Trang 34

(2013) giới thiệu một phiên bản động của mô hình ngưỡng dữ liệu bảng của Hansen về mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế Bằng cách áp dụng phương pháp chuyển đổi chệch trực giao chuyển tiếp (the forward orthogonal deviations transformation) của Arellano và Bover (1995) kết hợp ước tính biến công cụ của mô hình dữ liệu chéo của Caner và Hansen (2004) và mô hình ngưỡng

dữ liệu bảng của Hansen (1999) Trong mô hình động này, nội sinh của các biến kiểm soát quan trọng không còn là một vấn đề Điều này cho phép tác giả ước tính tác động của lạm phát đối với tăng trưởng kinh tế mặc dù vấn đề nội sinh của thu nhập ban đầu

3.1 Mô hình kinh tế lƣợng:

Mô hình ngƣỡng của Hansen (1999):

Mô hình này kết hợp mô hình ngưỡng của Hansen (1999) cùng với việc áp dụng biến công cụ trong mô hình ngưỡng của Caner và Hansen (2004) để giải quyết hiện tượng nội sinh

Bài nghiên cứu phân tích vai trò của ngưỡng lạm phát trong mối quan hệ giữa lạm phát và tăng trưởng kinh tế (Yit = dgdpit), biến hồi quy nội sinh là thu nhập ban đầu (gdpit-1)

Mô hình ngưỡng như sau:

Trong đó:

i = 1, , N là các quốc gia

t = 1,…., T là thời gian

Trang 35

là ảnh hưởng cố định riêng biệt của từng quốc gia

là sai số với trung bình 0 và không tương quan nối tiếp

là tốc độ tăng trưởng của GDP thực bình quân đầu người của quốc gia i tại thời điểm t

là biến ngưỡng ngoại sinh và biến đổi theo thời gian

3.2 Loại bỏ các ảnh hưởng cố định:

Bước đầu tiên, để ước tính mô hình ngưỡng thì phải loại bỏ những ảnh hưởng cố định riêng biệt của từng quốc gia bằng cách chuyển đổi các ảnh hưởng

cố định Thách thức chính của việc chuyển đổi để loại bỏ các ảnh hướng cố định

cụ thể của các quốc gia trong mô hình ngưỡng dữ liệu bảng là làm cách nào để không vi phạm các giả định phân phối của Hansen (1999) và Caner và Hansen (2004), xem thêm Hansen (2000) Trong mô hình ngưỡng động, việc chuyển đổi các ảnh hưởng cố định dẫn đến các ước tính không phù hợp vì biến phụ thuộc trễ luôn tương quan với trung bình các sai số riêng biệt và do đó tương quan với tất cả sai số riêng biệt chuyển đổi, điều này khiến cho các tiêu chuẩn của mô hình Hansen (1999) bị vi phạm Sai phân cấp 1 của mô hình ngưỡng cho thấy tương

Trang 36

quan nối tiếp âm của các sai số, do đó giả định phân phối của Hansen (1999) bị vi phạm với dữ liệu bảng

Do đó, để loại bỏ những ảnh hưởng cố định riêng biệt của từng quốc gia , Arellano và Bover (1995) đã sử dụng phương pháp chuyển đổi chệch trực giao chuyển tiếp (the forward orthogonal deviations transformation) Đặc trưng phân biệt của phương pháp chuyển đổi chệch trực giao chuyển tiếp là tương quan nối tiếp của các sai số chuyển đổi được loại bỏ Thay vì trừ quan sát trước đó từ một sai phân cấp 1 hoặc trung bình từ mỗi quan sát (trong chuyển đổi), nó trừ đi trung bình của tất cả các quan sát có sẵn trong tương lai của một biến Do đó, đối với các sai số, phương pháp chuyển đổi chệch trực giao chuyển tiếp được thể hiện như sau:

Vì vậy, phương pháp chuyển đổi chệch trực giao chuyển tiếp duy trì sự không tương quan giữa các sai số, ví dụ:

 Theo Hansen (2000), điều này đảm bảo rằng phương pháp ước lượng của Caner và Hansen (2004) đối với một mô hình dữ liệu chéo có thể được áp dụng cho mô hình ngưỡng trên

3.3 Ƣớc tính

Trong bước 1, theo Caner và Hansen (2004), Kremer và các cộng sự (2013) ước tính một hồi quy thu gọn cho các biến nội sinh, z2it, như là một hàm của các biến công cụ xit Các biến nội sinh, z2it, sau đó được thay thế trong các phương trình cấu trúc bằng các giá trị kỳ vọng Trong bước 2, phương trình (1) được ước tính thông qua phương pháp bình phương bé nhất cho một ngưỡng cố định mà

Ngày đăng: 31/08/2020, 13:36

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm