Nhìn chung, bên cạnh những khía cạnh truyền thống liên quan đến hội đồng quản trị và thành quả của công ty, vấn đề kiêm nhiệm của hội đồng quản trị cũng đã và đang đ
Trang 1TRẦN MINH HOÀNG
SỰ KIÊM NHIỆM CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
VÀ THÀNH QUẢ, RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 2TRẦN MINH HOÀNG
SỰ KIÊM NHIỆM CỦA HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ
VÀ THÀNH QUẢ, RỦI RO HOẠT ĐỘNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TẠI VIỆT NAM
Chyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã ngành: 60340201 LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS PHAN THỊ BÍCH NGUYỆT
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả, rủi
ro hoạt động của các doanh nghiệp tại Việt Nam” là công trình nghiên cứu thực sự của cá nhân, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS TS Phan Thị Bích Nguyệt
Các số liệu và kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong các công trình nghiên cứu khác
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 11 năm 2016
Trần Minh Hoàng
Trang 4MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC
DANH MỤC BẢNG BIỂU
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 5
1.5 Phương pháp nghiên cứu 5
1.6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 6
1.7 Kết cấu của bài nghiên cứu 7
CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 8
2.1 Các nghiên cứu trước đây về sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả, rủi ro của công ty 8
2.2 Các nghiên cứu khác liên quan đến hội đồng quản trị và thành quả, rủi ro của công ty 13
CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU 18
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu 18
3.2 Mô tả các biến 18
3.3 Mô tả dữ liệu: 21
CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU: 25
4.1 Xây dựng các giả thiết của mô hình: 25
4.2 Phương pháp nghiên cứu 26
4.2.1 Sự kiêm nhiệm của Hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của công ty 27
4.2.2 Sự kiêm nhiệm của Hội đồng quản trị và rủi ro của công ty 28
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 30
5.1 Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả của công ty 30
5.2 Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và rủi ro của công ty 33
5.3 Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế: 38
CHƯƠNG 6: KIỂM TRA TÍNH BỀN VỮNG: 45
Trang 56.1 Tác động của các thành viên bên ngoài so với thành viên bên trong lên công ty: 45
6.1.1 Tác động đến thành quả công ty: 45
6.1.2 Tác động đến rủi ro của công ty 48
6.2 Mức độ kiêm nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị: 49
CHƯƠNG 7: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ: 53
7.1 Các kết luận quan trọng của bài nghiên cứu: 53
7.2 Các hạn chế của bài nghiên cứu: 55
7.3 Một số kiến nghị và hướng nghiên cứu tiếp theo của bài: 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Phụ lục 1: Danh sách các công ty niêm yết được đưa vào mẫu nghiên cứu
Phụ lục 2: Các biến nghiên cứu được sử dụng trong bài
Trang 6DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thống kê mô tả các biến: 21Bảng 2: Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả của công ty 30Bảng 3: Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và rủi ro của công ty 33
Bảng 4: sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị, thành quả và rủi ro của công ty trước và sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008 - 2010 39
Bảng 5: Ảnh hưởng của thành viên bên ngoài/bên trong kiêm nhiệm và thành quả của công ty 46Bảng 6: Ảnh hưởng của thành viên bên ngoài/bên trong kiêm nhiệm và rủi ro công ty 48Bảng 7: sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị, thành quả và rủi ro của công ty với sự thay đổi định nghĩa về sự kiêm nhiệm 50
Trang 7CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, việc một doanh nghiệp có nhiều thành viên hội đồng quản trị cũng là thành viên hội đồng quản trị của doanh nghiệp khác không còn là vấn đề xa lạ, việc kiêm nhiệm nhiều vị trí quản lý cấp cao ở đồng thời nhiều công ty vừa mang lại lợi ích cũng đồng thời mang đến những ảnh hưởng không tốt đến với các công ty Việc một thành viên hội đồng quản trị có thể làm việc ở cùng lúc nhiều công ty chứng tỏ
họ là những người có nhiều kiến thức quản trị, có nhiều danh tiếng và kinh nghiệm quản lý của họ sẽ giúp ích cho công ty, tuy nhiên, việc xao nhãng trong quản lý do phải chia sẽ thời gian của mình tại nhiều công ty cũng có thể khiến hiệu quả quản trị của họ giảm sút từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến công ty Trước vấn đề này, một bài nghiên cứu về sự ảnh hưởng của các thành viên hội đồng quản trị do phải kiêm nhiệm vị trí ở những công ty khác lên các yếu tố quyết định sự thành công của công
ty bao gồm thành quả và rủi ro hoạt động là việc làm rất cần thiết
Ngoài ra, nguyên nhân chính yếu để nghiên cứu vấn đề kiêm nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị ảnh hưởng đến hoạt động của công ty là do các nghiên cứu trước đây khi nghiên cứu về hội đồng quản trị của công ty thường tập trung nghiên cứu quy mô của hội đồng quản trị cũng như là sự độc lập của hội đồng trong việc đưa ra các quyết định quản trị, từ đó tác động đến thành quả hoạt động của công ty (nghiên cứu của các tác giả Hermalin và Weisbach 1988, 1998; Yermack 1996; Coles et al 2008) Một điểm chung trong các nghiên cứu này, đó là các tác giả đều cho rằng ở các công ty lớn và có cấu trúc quản trị phức tạp, ban điều hành của công
ty sẽ cần phải được giám sát chặt chẽ hơn, điều đó đòi hỏi hội đồng quản trị cũng phải có quy mô lớn hơn đồng thời cũng cần nhiều thành viên hội đồng quản trị đến
từ những công ty khác, những người có nhiều kinh nghiệm, kiến thức quản trị ở nhiều lĩnh vực khác nhau để đưa ra những sự tư vấn, giám sát hợp lý cho công ty Nhìn chung, vấn đề nghiên cứu về sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị có tác động như thế nào đến công ty vẫn còn khá mới mẻ và có rất ít nghiên cứu trước đây
Trang 8nghiên cứu về vấn đề này
Về vấn đề sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị công ty, gần đây cũng đã có một số tác giả quan tâm đến và có những nghiên cứu rất đáng chú ý, tiêu biểu như nghiên cứu của các tác giả Ferris et al năm 2003; Fich và Shivdasani năm 2006 nghiên cứu
về tác động của sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị lên thành quả hoạt động của các công ty phi tài chính hay nghiên cứu của tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang năm 2015 nghiên cứu về sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị tác động đến thành quả và rủi ro của các công ty nắm vốn ngân hàng Nhìn chung, bên cạnh những khía cạnh truyền thống liên quan đến hội đồng quản trị và thành quả của công ty, vấn đề kiêm nhiệm của hội đồng quản trị cũng đã và đang được nghiên cứu ngày càng chuyên sâu hơn Ở mặt tích cực, các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm nhiều vị trí ở các công ty khác là những người phải có được kiến thức rất tốt, đi kèm với đó là kinh nghiệm trong quản trị, những danh tiếng và các mối quan hệ mà họ có thể mang lại cho công ty, đây là những tài sản vô hình vô cùng quý báu mà các công ty rất khó để kiếm được Tuy nhiên, ở mặt tiêu cực, các thành viên bận kiêm nhiệm quá nhiều vị trí quản trị ở các công ty phải chia sẽ quỹ thời gian, cùng với đó là sức lực của mình để cùng lúc quản trị ở nhiều công ty, từ đó có khả năng dẫn đến việc
lơ là trong việc tư vấn và đưa ra những quyết định quản trị sáng suốt cho công ty Các nghiên cứu trước đây cũng đưa ra các bằng chứng nghiên cứu trái ngược nhau đối với vấn đề sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả công ty Như tác giả Ferris et al không tìm thấy bằng chứng chứng tỏ sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị tác động đến thành quả của công ty trong khi tác giả Fich và Shivdasani lại tìm ra được bằng chứng cho thấy sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị có tác động xấu đến thành quả của công ty
Nhìn chung, tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu này có thể tóm gọn trong các ý chính sau: Đầu tiên, đó là vì vấn đề sự ảnh hưởng của hội đồng quản trị công ty – trong đó nổi bật là sự kiêm nhiệm của họ ở các công ty khác, có thật sự có ích hay gây hại cho các công ty họ đang quản lý hay không vẫn cần sự giải đáp mà các bài nghiên cứu trước đây rất ít tìm hiểu đến Từ đó cần có hướng mở rộng ra hơn
Trang 9nghiên cứu các vấn đề có liên quan đến hội đồng quản trị của công ty như là sự kiêm nhiệm hoặc các vấn đề khác thay vì các vấn đề đã được các nghiên cứu trước đây nghiên cứu kỹ như quy mô hay khả năng quản trị của hội đồng quản trị công ty
Thứ hai, những nghiên cứu trước đây, khi nghiên cứu về sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị, thường tập trung vào tác động đến thành quả của công ty Tuy nhiên, các tác giả đã bỏ qua một yếu tố quan trọng không kém, đó chính là tác động lên cả rủi ro hoạt động của công ty Hiện tại chỉ mới có nghiên cứu của tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang năm 2015 đã đề cập đến tác động của sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị ảnh hưởng đến rủi ro hoạt động của các công ty nắm vốn trong ngân hàng Các nghiên cứu khác thường bỏ qua hoặc nhắc đến rất ít về khía cạnh này, vì vậy bài nghiên cứu này nhằm mục đích đào sâu hơn vấn đề rủi ro hoạt động của các công ty, không chỉ trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng như tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang đã nghiên cứu mà mở rộng ra các doanh nghiệp phi tài chính khác
Thứ ba, cùng với sự nghiên cứu về vấn đề kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả, rủi ro của công ty Qua bài nghiên cứu này, tồn tại một vấn đề mà các nghiên cứu trước chưa ít đề cập đến Đó là trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu, một số doanh nghiệp nhờ vào sự lãnh đạo, tư vấn, giám sát tài tình của các thành viên hội đồng quản trị nên đã đứng vững trước khó khăn, điều này đặt ra câu hỏi phải chăng sự kiêm nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị lúc này đã phát huy tác dụng để giúp công ty vượt qua khó khăn trong thời kỳ khủng hoảng ? Do đó, việc đưa vấn đề này vào bài nghiên cứu cũng sẽ cho chúng ta được lời giải đáp hợp lý
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu trọng tâm của bài chính là xác định xem sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị thực sự có ích cho công ty hay không Dựa trên các nghiên cứu trước, tôi cho rằng việc kiêm nhiệm của hội đồng quản trị công ty sẽ giúp gia tăng
Trang 10thành quả của công ty đồng thời làm giảm đi rủi ro mà công ty phải đối mặt vì lý do các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm mặc dù sẽ phải chia sẽ quỹ thời gian và sức lực của mình cho việc quản trị nhiều công ty nhưng họ sẽ mang đến cho công ty nhiều kinh nghiệm, kiến thức quản trị, các kỹ năng cần thiết đồng thời đưa
ra được những sự tư vấn hợp lý nhất cùng với những quyết định quản trị đúng đắn Dựa trên các lập luận trên, bài nghiên cứu này đã tìm được một số bằng chứng cho thấy các công ty có nhiều thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm sẽ có thành quả tốt hơn đồng thời rủi ro cũng ít hơn Các tiêu chí đo lường thành quả hoạt động của công ty trong bài nghiên cứu này bao gồm tỷ số Ebit trên tổng tài sản, Tobin’s Q và ROE Các tiêu chí được sử dụng để đo lường rủi ro của công ty bao gồm rủi ro tổng thể, rủi ro thị trường (hệ số Beta) và hệ số Z-Score
Ngoài ra, một vấn đề đáng quan tâm trong bài nghiên cứu này là sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị có giúp công ty thoát khỏi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu hay không Một số kết quả nghiên cứu trong bài cũng cho thấy các tác động tích cực của hội đồng quản trị kiêm nhiệm trong cuộc khủng hoảng tài chính khi gia tăng thành quả của công ty Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng tài chính cũng làm cho sự kiêm nhiệm phản tác dụng và làm gia tăng rủi ro mà công ty phải hứng chịu
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Câu hỏi nghiên cứu lớn nhất trong bài này chính là sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị công ty có lợi hay không? Hay nói cách khác là sự kiêm nhiệm có giúp ích cho công ty hay không hay sẽ làm hại cho công ty?
Để trả lời được câu hỏi nghiên cứu này, tôi đặt ra một số câu hỏi nghiên cứu để giải quyết vấn đề nghiên cứu trong bài đồng thời tìm câu trả lời thông qua kết quả nghiên cứu:
Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến thành quả của công ty thể hiện qua các chỉ số ROE, Tobin’s Q, Ebit/tổng tài sản hay không?
Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị có ảnh hưởng đến rủi ro của công ty thể hiện qua các chỉ số rủi ro tổng thể, rủi ro thị trường, rủi ro phá sản hay không?
Trang 11 Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị có tác dụng trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế năm 2008 – 2010 hay không? Và nó có ảnh hưởng như thế nào đến thành quả và rủi ro hoạt động của công ty?
1.4 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của bài là sự kiêm nhiệm của các thành viên hội đồng quản trị công ty – được tính là số lượng thành viên hội đồng quản trị trong một công ty phải nắm giữ từ ba vị trí hội đồng quản trị trở lên ở các công ty khác nhau ảnh hưởng đến thành quả của công ty – đo lường bằng chỉ số ROE, Tobin’s Q, Ebit/tổng tài sản và rủi ro của công ty – đo lường bằng rủi ro tổng thể, rủi ro thị trường và rủi
ro phá sản
1.5 Phạm vi nghiên cứu
Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu trong bài nghiên cứu này, tôi sẽ tìm hiểu về mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả cũng như là rủi
ro của các doanh nghiệp dựa trên mẫu nghiên cứu là 50 doanh nghiệp phi tài chính được niêm yết tại thị trường chứng khoán Việt Nam (bao gồm hai sàn HOSE và HNX) trong khoảng thời gian từ 2009 đến 2015 Theo các quan sát trong mẫu, trung bình số vị trí quản trị một thành viên hội đồng quản trị công ty nắm giữ là 2.3, điều này cho thấy xu hướng hiện nay đa số các thành viên hội đồng quản trị của công ty đều nắm giữ vị trí hội đồng quản trị của công ty khác, vì vậy việc xác định xem một thành viên hội đồng quản trị thực sự có kiêm nhiệm hay không được thực hiện theo cách đếm số vị trí quản trị mà họ nắm giữ tại thời điểm quan sát, một thành viên được xem là kiêm nhiệm thực sự khi họ nắm giữ ba vị trí quản trị ở các công ty khác nhau
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Bài nghiên cứu sử dụng phương pháp nghiên cứu định lượng, mô hình hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định theo cách làm của tác giả Fich và Shivdasani trong bài nghiên cứu năm 2006 nghiên cứu về thành quả và sự kiêm nhiệm của các doanh nghiệp phi tài chính tại Mỹ và tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang năm 2015
Trang 12nghiên cứu về thành quả, rủi ro và sự kiêm nhiệm của các công ty nắm vốn ngân hàng
1.7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Bài nghiên cứu này của tôi đóng góp cho các nghiên cứu trước và sau này ở các điểm chính như sau
Đầu tiên, bài nghiên cứu này thực tế đã nghiên cứu được mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của công ty, các kết quả nghiên cứu cho thấy sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị sẽ có các tác động tích cực nhất định đến thành quả của công ty
Điều quan trọng thứ hai đó là bài nghiên cứu đã nghiên cứu được mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị của và rủi ro của các công ty đó, điều này dẫn đến sự quan tâm về các hành vi tiếp nhận rủi ro của hội đồng quản trị – nhằm tạo được tỷ suất sinh lợi tốt hơn theo lý thuyết đánh đổi về rủi ro – tỷ suất sinh lợi, kết quả nghiên cứu trong bài cũng chỉ ra rằng sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị mang lại các rủi ro ít hơn cho công ty
Đa số các nghiên cứu trước đây khi nghiên cứu về hội đồng quản trị ít chú trọng vào vấn đề sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị mà chủ yếu tập trung nghiên cứu sâu hơn về quy mô và các thành viên của hội đồng quản trị Vì các lập luận trên, có thể thấy bài nghiên cứu này có thể mở ra một hướng nghiên cứu sâu hơn về hội đồng quản trị của công ty Từ vấn đề sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị công ty, có thể mở rộng ra lợi ích của các cổ đông công ty sẽ có được từ hội đồng quản trị kiêm nhiệm thể hiện qua việc thành quả hoạt động gia tăng và giảm đi rủi ro có thể gặp phải như các rủi ro thị trường, rủi ro đặc thù, rủi ro phá sản ngoài ra các nhà quản trị công ty như CEO, CFO cũng có thể có được nhiều sự tư vấn hợp lý từ các thành viên kiêm nhiệm trên cũng như là tạo dựng các mối quan hệ rộng lớn với các đối tác bên ngoài
Cuối cùng, bài nghiên cứu đã trả lời cho câu hỏi về ảnh hưởng của sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị lên thành quả và rủi ro của công ty trong thời kỳ khủng hoảng
Trang 13kinh tế năm 2008 – 2010 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế năm 2008 – 2010, sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị đã phát huy tác dụng làm gia tăng thành quả của công ty tuy nhiên cũng chính sự kiêm nhiệm cũng đã bộc lộ các điểm yếu của mình từ đó đã góp phần làm giảm khả năng phòng ngừa rủi ro của công ty
1.8 Kết cấu của bài nghiên cứu
Cấu trúc của bài nghiên cứu được chia thành các phần như sau:
Phần 1 giới thiệu tổng quan về bài nghiên cứu
Phần 2 giới thiệu về tổng quan các nghiên cứu trước đây
Phần 3 mô tả về cách thức thu thập dữ liệu, giới thiệu các biến và thực hiện thống kê mô tả dữ liệu
Phần 4 giới thiệu mô hình nghiên cứu và phương pháp thực hiện mô hình nghiên cứu
Phần 5 đưa ra các kết quả thực nghiệm
Phần 6 kiểm tra tính bền vững của mô hình
Phần 7 là phần kết luận, các hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo cho bài
Trang 14CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY
2.1 Cơ sở lý thuyết: Lý thuyết chi phí đại diện
2.1.1 Nghiên cứu của Jensen và Meckling (1976) về lý thuyết chi phí đại diện
Jensen và Meckling là một trong những người đầu tiên đặt nền móng cho lý thuyết
về chi phí đại diện hình thành trong một công ty Theo tác giả Jensen và Meckling, lý thuyết về chi phí đại diện thể hiện mối quan hệ hợp đồng giữa một bên là người chủ sở hữu vốn của công ty và một bên là người quản lý, là người đại diện thực hiện các quyết định của công ty Chi phí đại diện xảy ra khi có phát sinh những thiệt hại
do người quản lý không cố gắng làm tối đa hóa giá trị doanh nghiệp Lý thuyết đại diện nêu ra vấn đề chính là làm thế nào để cho người đại diện làm việc vì lợi ích cao nhất cho người chủ khi họ có lợi thế về thông tin hơn người chủ và có những lợi ích khác với lợi ích của người chủ
Theo Jensen, vấn đề chi phí đại diện phát sinh thông qua các mối quan hệ sau:
Quan hệ giữa cổ đông và người quản lý
Các cổ đông – người chủ của công ty, luôn cần tìm kiếm những người đủ khả năng đại diện cho mình để quản lý công ty Những nhà quản lý, là những người được thuê để quản lý cho công ty của người chủ, hiểu rõ tầm quan trọng của mình những lợi ích không nhỏ, họ được quyền ra quyết định và thực hiện các hoạt động mà được cho là sẽ đem lại lợi ích cho các cổ đông, họ được hưởng lương và các khoản lợi tức khác từ công việc quản trị công ty, họ có cơ hội nâng cao uy tín quản trị của mình khi công ty hoạt động hiệu quả, từ đó nâng cao vị thế của mình trong thị trường lao động,… Khi bỏ tiền ra thuê người đại diện điều hành công ty, các cổ đông – chủ sở hữu của công ty mong muốn mọi hoạt động của người đại diện đều nhằm mục đích tối đa hoá giá trị tài sản của công ty Trong khi đó, người đại diện – Người điều hành – của công ty lại có những lợi ích cá nhân riêng biệt, họ có thể trực tiếp quyết định hay ngụy tạo ra các lý do khiến cho các ông chủ không thực hiện đầu tư vào những dự án có tỷ suất sinh lợi cao vì tâm lý e ngại rủi ro, hoặc quyết định đầu tư vào những dự án không đem lại lợi nhuận tối ưu cho công ty nhưng lại đem lại lợi
Trang 15nhuận cho ví riêng của họ, hay thậm chí với những thông tin và quyền lực có được
từ việc điều hành công ty, họ có thể giúp ví tiền của thân nhân họ nhiều thêm mà không cần quan tâm đến lợi nhuận hay những hậu quả mà công ty sẽ phải gánh chịu Những mâu thuẫn này về lợi ích của nhà quản lý và cổ đông đã dẫn đến phát sinh chi phí đại diện cho công ty
Quan hệ giữa cổ đông và chủ nợ:
Mối quan hệ thứ hai dẫn đến vấn đề phát sinh chi phí đại diện trong công ty là mối quan hệ giữa cổ đồng và chủ nợ Các cổ đông, lúc này đóng vai trò người đại diện vay của chủ nợ để thực hiện các quyết định đầu tư nhằm mang lại lợi ích cao nhất cho cả hai Khi quyết định cho vay, các chủ nợ của công ty quan tâm đến phần thu nhập của họ dưới dạng lãi suất cho vay cũng như tài sản của công ty trong trường hợp phá sản Trong khi đó, các cổ đông lại nắm quyền kiểm soát những quyết định điều hành ảnh hưởng đến tỷ suất sinh lợi của dòng tiền và những rủi ro liên quan (thông qua người điều hành doanh nghiệp) Các chủ nợ cho doanh nghiệp vay tiền với lãi suất cho vay phụ thuộc vào mức độ rủi ro của tài sản, tỷ lệ nợ trên vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của doanh nghiệp, cũng như những kì vọng về những thay đổi trong mức độ rủi ro của 2 biến này Còn các cổ đông, thông qua các nhà điều hành, mong muốn doanh nghiệp mình thực hiện các dự án có độ rủi ro cao hơn nhằm đạt tỉ suất sinh lợi cao hơn Nếu dự án đầu tư vốn đầy rủi ro này thành công, tất cả lợi nhuận sẽ thuộc về các cổ đông của công ty, bởi vì lợi nhuận của người cho vay là cố định ở mức lãi suất tương ứng rủi ro thấp ban đầu Tuy nhiên, nếu dự án thất bại, các chủ nợ buộc phải chia sẻ những thiệt hại, bị trì hoãn việc chi trả nợ gốc
và lãi suất, hoặc thậm chí mất cả số tiền đã cho vay
2.1.2 Nghiên cứu của các tác giả khác về chi phí đại diện
Ang, Cole & Lin (2000) đã thực hiện nghiên cứu trên những công ty chưa niêm yết tại Mỹ và kết luận rằng chi phí đại diện tăng lên đáng kể ở những công ty được quản lý bởi một giám đốc không phải là cổ đông của công ty Ngoài ra, chi phí đại diện và số lượng cổ phần của nhà quản lý công ty có mối quan hệ nghịch biến với nhau Chi phí đại diện tăng lên cùng với số lượng những cổ đông không nằm trong
Trang 16bộ phận quản lý công ty
Bên cạnh mối quan hệ với cấu trúc quyền sở hữu, chi phí đại diện còn có sự tương quan với các yếu tố khác của công ty Trong nghiên cứu của Ang, Cole & Lin (2000), chi phí đại diện có xu hướng giảm đi cùng với sự tăng lên về mặt kiểm soát
từ phía các chủ nợ Tương tự, Zhang & Li (2008) đã chỉ ra rằng tỷ lệ nợ trên tài sản của công ty có mối quan hệ nghịch biến với chi phí đại diện trên mẫu nghiên cứu các công ty ở Anh
Moh’d, Perry và Rimbey (1995) đã nghiên cứu trên 341 công ty tại Mỹ trong 18 năm và cho rằng có mối quan hệ tồn tại giữa chi phí đại diện và chính sách chia cổ tức của công ty Sử dụng tiền mặt để chia cổ tức buộc các nhà quản lý công ty phải tìm kiếm nguồn tài trợ từ bên ngoài, dẫn đến việc họ cắt giảm bớt chi phí đại diện để đáp ứng những yêu cầu của các nhà tài trợ trên thị trường vốn
2.2 Các nghiên cứu trước đây về sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả, rủi ro của công ty
Nhiều người cho rằng các thành viên hội đồng quản trị của công ty kiêm nhiệm nhiều vị trí khác nhau thường có những kiến thức có giá trị, kinh nghiệm trong việc quản lý và các uy tín trên thương trường tuy nhiên họ lại quá bận rộn để có thể giám sát được hoạt động của công ty mình Ferris năm 2003 lần đầu tiên nghiên cứu về tác động của hội đồng quản trị kiêm nhiệm nhiều vị trí lên thành quả của các doanh nghiệp phi tài chính Trong nghiên cứu này họ đã phát hiện ra rằng các thành viên hội đồng quản trị của các doanh nghiệp lớn và có khả năng sinh lợi nhuận cao thường nắm giữ vị trí hội đồng quản trị ở các doanh nghiệp khác, điều này được lý giải là do họ làm việc ở các công ty lớn nên sẽ dễ dàng thu hút được sự chú ý của các công ty khác từ kinh nghiệm quản lý, danh tiếng của họ và từ đó họ sẽ được mời nắm giữ thêm nhiều vị trí quản trị ở công ty khác Phát hiện lớn nhất của nghiên cứu này chính là việc kiêm nhiệm vị trí quản trị ở nhiều công ty khác nhau không thể khiến cho họ thoái thác trách nhiệm của mình được và do đó, hội đồng quản trị kiêm nhiệm sẽ không ảnh hưởng đến thành quả công ty
Trang 17Nghiên cứu của Fich và Shivdasani năm 2006 nghiên cứu về ảnh hưởng do các thành viên hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm nhiều vị trí đến khả năng quản trị cũng như là hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Câu hỏi nghiên cứu của bài là có phải hội đồng quản trị kiêm nhiệm ảnh hưởng đến khả năng quản trị hay không Trong nghiên cứu này, họ định nghĩa một hội đồng quản trị kiêm nhiệm nhiều vị trí nếu như số nhiều thành viên hội đồng quản trị bên ngoài nắm giữ ba vị trí hội đồng quả trị trở lên tại các công ty Kết quả tìm được cho thấy hội đồng quản trị quá kiêm nhiệm gây hại cho hiệu quả hoạt động của công ty, thể hiện qua các kiểm định cho thấy các công ty có hội đồng quản trị bận kiêm nhiệm sẽ có các tỷ số giá trị thị trường trên sổ sách, khả năng sinh lợi và độ nhạy của doanh thu do CEO mang lại
so với hiệu quả hoạt động thấp hơn các công ty khác Bài nghiên cứu tương tự của Hauser năm 2014 cũng cho thấy sự giảm đi gánh nặng quản trị sẽ dẫn đến thu nhập cao hơn, tỷ số thị trường trên sổ sách cao hơn và khả năng các CEO kiếm lại được nhiều hợp đồng có giá trị hơn
Nghiên cứu của Elyas Elyasiani và Ling Zhang năm 2015 nghiên cứu vấn đề kiêm nhiệm của hội đồng quản trị lên thành quả hoạt động và rủi ro của các công ty nắm giữ ngân hàng (BHC) Kết quả nghiên cứu của tác giả có các phát hiện quan trọng, thứ nhất, thành quả của các công ty BHC (đo lường bằng các tỷ số ROE, tobin’s Q, EBIT trên tổng tài sản) có tương quan dương với sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị Thứ hai, rủi ro hoạt động của các BHC (đo lường bằng rủi ro tổng, rủi ro thị trường, rủi ro phi hệ thống, rủi ro tín dụng và rủi ro phá sản) có tương quan âm với sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị Thứ ba, lợi ích (hoặc tác hại) của việc có các thành viên quản trị mạnh lên (hoặc yếu đi) trong giai đoạn khủng hoảng 2008 – 2010) Cuối cùng, nếu các thành viên hội đồng quản trị vừa tham gia hoạt động trong hội đồng quản trị ở các BHC lẫn các công ty phi tài chính, họ có xu hướng tham dự nhiều cuộc họp hội đồng quản trị ở các BHC hơn
Trong một khảo sát trên 500 công ty lớn tại Mỹ được thực hiện bởi tác giả Korn và Ferry (1998) cho thấy rằng phải làm quá nhiều công việc quản trị có thể có tác động tiêu cực đến nhà quản trị 60% các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài cho biết
Trang 18họ đã từng từ chối các lời mời làm thêm ít nhất một vị trí nữa trong thành viên hội đồng quản trị của các công ty khác vì lí do được đưa ra là không có đủ thời gian và sức lực để phục vụ cho nhiều công ty Những nhà quản trị này tin rằng việc phải kiêm nhiệm quá nhiều sẽ làm họ trở nên phân tâm hơn và từ đó giảm đi hiệu quả quản trị của mình Các tác giả này cũng đưa ra kiến nghị rằng các CEOs và các thành viên hội đồng quản trị bên trong của công ty chỉ nên gói gọn vị trí hội đồng quản trị trong chính công ty đó và nên để sự kiêm nhiệm cho các thành viên bên ngoài thực hiện Mặc dù vậy, lợi ích của việc kiêm nhiệm đem lại là các kinh nghiệm, kiến thức quản trị quý báu là không thể phủ nhận
Nhiều lý thuyết cho rằng công ty có hội đồng quản trị kiêm nhiệm nhiều vị trí được hưởng lợi từ nguồn kinh nghiệm quý báu và danh tiếng đối với các thành viên Hội Đồng Quản Trị bên ngoài Fama và jensen 1983 lưu ý rằng các tác động về danh tiếng có thể trở thành những ưu đãi quan trọng đối với những thành viên bên ngoài Tuy nhiên có tương đối ít bằng chứng thể hiện chi phí liên quan đến việc các thành viên hội đồng quản trị phải phục vụ cho nhiều công ty, và các nghiên cứu trước đó
về chủ đề này là không thuyết phục Beasley (1996) thấy rằng rằng xác suất của việc gian lận kế toán có sự tương quan dương đến số trung bình các vị trí quản lý được nắm giữ bởi các thành viên bên ngoài Core, Holthausen, và Larcker (1999) báo cáo rằng các thành viên Hội đồng quản trị bên ngoài đưa ra mức đãi ngộ cho các CEO cao ngất ngưởng, do đó dẫn đến làm giảm thành quả của công ty Ngược lại, Ferris, Jagannathan, và Pritchard (2003) lại không tìm thấy mối quan hệ nào giữa con số trung bình các vị trí quản lý được nắm giữ bởi các thành viên bên ngoài và tỷ số giá trị thị trường trên sổ sách của công ty
Ngoài ra, sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị trước và sau công ty gặp khủng hoảng cũng có sự khác biệt Như tác giả Gilson trong nghiên cứu năm 1990 đã phát hiện ra rằng các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài rời bỏ công ty bị kiệt quệ tài chính sẽ nắm giữ xấp xỉ một đến ba vị trí hội đồng quản trị ở các công ty sau này sau ba năm kể từ rời công ty cũ
Trang 19Chi phí để chiêu mộ thêm các thành viên hội đồng quản trị cũng khá tốn kém Theo như nghiên cứu của Kaplan and Reishus năm 1990 thì các nhà quản trị của doanh nghiệp phải chấp nhận cắt giảm cổ tức gần 50% để chiêu mộ thêm vị trí hội đồng quản trị cho công ty
Similarly, Brickley, Linck, và Coles trong nghiên cứu năm 1999 cho thấy rằng các vị trí hội đồng quản tri được nắm giữ bởi các CEO đã nghỉ hưu – thường là những người đã từng hoặc đang kiêm nhiệm nhiều vị trí quản trị ở các công ty sẽ có tác động tích cực đến thành quả của công ty
Tác giả Booth và Deli trong nghiên cứu năm 1995 lập luận rằng các công ty có quy
mô lớn là những công ty mang đến môi trường kinh doanh thu hút hơn, vì vậy cũng đòi hỏi phải có nhiều đối tác hơn Điều này làm gia tăng nhu cầu chiêu mộ thêm các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm để có thể tận dụng các mối quan hệ ngoài xã hội từ họ Ngoài ra, mối quan hệ giữa quy mô công ty và số vị trí quản trị được các thành viên hội đồng quản trị nắm giữ còn được lý giải là do các nhà điều hành đến từ các doanh nghiệp lớn có thể bị các doanh nghiệp khác lôi kéo khi đang thương thảo hợp đồng với các doanh nghiệp ấy
Một số nghiên cứu khác cũng đưa ra các bằng chứng cho thấy sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị thực sự có liên quan đến thành công của công ty Miwa và Ramseyer trong nghiên cứu năm 2000 phát hiện ra rằng sự hiện diện của các thành viên hội đồng quản trị nắm giữ nhiều vị trí quản trị có liên quan mật thiết đến thành quả của công ty trong ngành công nghiệp cotton của Nhật trong suốt những năm đầu thế kỷ 20 Tác giả Cotter, Shivdasani và Zenner năm 1997 cũng đưa ra các tài liệu cho thấy các cổ đông trong công ty nhận được các lợi ích gia tăng lớn hơn kỳ vọng khi một công ty có các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm Cuối cùng, các tác giả Brown và Maloney năm 1999 phát hiện ra rằng các công ty đạt được tỷ suất sinh lợi khá cao khi có các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm
2.3 Các nghiên cứu khác liên quan đến hội đồng quản trị và thành quả, rủi ro của công ty
Trang 20Yermack (1996) cũng tìm thấy bằng chứng cho thấy những công ty có hội đồng quản trị quy mô nhỏ hơn thường mang lại hiệu quả quản trị cao hơn Trong bài nghiên cứu sử dụng mẫu 452 công ty công nghiệp lớn của Mỹ từ năm 1984 đến
1991, Yermack đã tìm thấy mối tương quan nghịch giữa giá trị thị trường của công
ty và quy mô của hội đồng quản trị được đo bằng số thành viên hội đồng quản trị Hơn nữa, ông cũng thấy rằng, trong các công ty có Hội đồng quản trị với quy mô nhỏ hơn, các CEO dễ dàng bị phế truất và thay thế bằng người khác nếu thành quả của công ty kém đi
Bài nghiên cứu của tác giả Raheja (2005) lại nghiên cứu về tầm quan trọng của các cổ đông bên ngoài so với các đổ công bên trong công ty trong vấn đệ quản trị doanh nghiệp Tác giả bài nghiên cứu này cho rằng những “người trong cuộc” – là các cổ đông nắm các thông tin quan trọng của công ty sẽ có thông tin công ty cụ thể hơn nhưng có thể sẽ bị ảnh hưởng, hay nói cách khác là phụ thuộc vào các CEO, trong khi các cổ đông bên ngoài tuy nắm ít thông tin hơn nhưng lại hoàn toàn độc lập với CEO, và do đó, sẽ hiệu quả hơn trong việc giám sát các CEO Ngoài ra, tác giả cũng tìm thấy mối quan hệ cho thấy hiệu quả quản trị của hội đồng quản trị có ảnh hưởng bởi số lượng các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài
Một số nghiên cứu khác cũng cung cấp bằng chứng cho thấy rằng các công ty có số lượng thành viên hội đồng quản trị bên ngoài nhiều thường có hiệu quả hơn trong việc giám sát công ty và đem lại nhiều lợi ích của cổ đông, đó là trường hợp của Weisbach (1988), trong bài nghiên cứu năm 1988, ông thấy rằng trong một công ty mà hội đồng quản trị được kiểm soát bởi đa số các thành viên bên ngoài, các CEO thường bị giám sát rất chặt chẽ và có nhiều khả năng phải từ chức thành quả của công ty kém đi
Nghiên cứu của hai tác giả Rosenstein và Wyatt (1990) cũng cho thấy giá cổ phiếu thường có xu hướng tích cực trước và sau các cuộc họp của các thành viên hội đồng quản trị
Tác giả Byrd và Hickman (1992) lại tìm thấy rằng các công ty có ít nhất 50% thành
Trang 21viên hội đồng quản trị là thành viên độc lập sẽ có lợi nhuận bất thường lớn hơn đáng kể so với các công khác
Ngoài ra ông Brickley et al (1994) cũng tìm thấy các bằng chứng rằng phản ứng của thị trường đối với giá cổ phiếu của các công ty khi đón nhận một thông tin bất lợi sẽ tích cực hơn đối với các công ty có phần lớn thành viên hội đồng quản trị độc lập và sẽ tiêu cực hơn đối với các công ty không có thành viên độc lập
Ngoài vai trò giám sát ra, hội đồng quản trị còn có một vai trò khác khá quan trọng, đó là vai trò cố vấn Tuy nhiên so với vai trò giám sát, vai trò cố vấn ít thu hút được sự chú ý hơn (theo tác giả oles et al., 2008)
Theo tác giả Dalton et al (1999), các công ty có hội đồng quản trị với quy mô lớn thường đưa ra các lời khuyên bổ ích cho các nhà quản trị, và các lời khuyên này chủ yếu đến từ các thành viên độc lập bên ngoài Theo nghiên cứu của Fich (2005) cho thấy rằng các công ty thường muốn bổ nhiệm CEO của các công ty khác làm thành viên hội đồng quản trị độc lập bởi các lời khuyên họ sẽ đưa ra để điều hành công ty mình là rất cần thiết
Tác giả Coles et al (2008) lập luận rằng đối với hội đồng quản trị của một công ty phức tạp (được định nghĩa là các công ty được đa dạng hóa với cơ cấu vốn tập trung chủ yếu ở các khoản nợ, chức năng tư vấn của hội đồng quản trị cần phải được chú trọng phát huy một cách cần thiết Theo đó Coles cho rằng các công ty phức tạp nên
có hội đồng quản trị quy mô lớn với các thành viên bên ngoài nhiều hơn bởi vì các thành viên bên ngoài sẽ mang về chuyên môn và kiến thức và cung cấp lời khuyên tốt hơn cho việc điều hành công ty (điều này cũng giống theo ý kiến của các tác giả Hermalin và Weisbach, 1988; Dalton et al, 1999; Agrawal và Knoeber, năm 2001; Fich, 2005)
Sử dụng dữ liệu về các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp 1992-2001, Coles
et al (2008) phát hiện ra rằng các công ty phức tạp thường có hội đồng quản trị với quy mô lớn và thành quả hoạt động (đo lường bằng Tobin’s Q) có tương quan dương với quy mô của hội đồng quản trị Tác giả giải thích rằng thực chất mối
Trang 22tương quan dương này có được là do các thành viên hội đồng quản trị bên ngoài đã mang lại những sự tư vấn hợp lí cho ban điều hành của công ty
Tác giả Ronald C Anderson và David M.Reeb khi nghiên cứu về mối quan hệ giữa thành quả của công ty và cấu trúc sở hữu của công ty trong bài nghiên cứu năm
2003 đã phát hiện ra rằng các doanh nghiệp được sở hữu theo kiểu gia đình sẽ đạt được thành quả tốt hơn các doanh nghiệp khác Ngoài ra kết quả nghiên cứu của hai tác giả trên cũng cho thấy rằng đối với các công ty theo kiểu gia đình có CEO là thành viên trong gia đình sẽ đạt được hiệu quả cao hơn so với thuê CEO bên ngoài Tác giả Audra L.Boone trong bài nghiên cứu năm 2007 về quy mô của hội đồng quản trị và sự tăng trưởng của công ty khi nghiên cứu về các hồ sơ của doanh nghiệp 10 năm sau khi IPO cũng đã phát hiện ra rằng quy mô của hội đồng quản trị
và sự độc lập của hội đồng có sự tương quan dương với mức độ tăng trưởng của công ty, cho thấy công ty ngày càng tăng trưởng, phát triển thì đòi hỏi hội đồng quản trị cũng phải gia tăng về số lượng cũng như là sự độc lập để có thể kiểm soát được công ty Bài nghiên cứu này cũng tìm phát hiện ra rằng quy mô của hội đồng quản trị phản ánh sự đánh đổi giữa một bên là lợi nhuận của công ty và một bên là các chi phí quản lý, hàm ý rằng công ty càng muốn tăng lợi nhuận thì càng phải gia tăng về quy mô của hội đồng quản trị tuy nhiên điều này sẽ vấp phải trở ngại là sự gia tăng của các chi phí thù lao cho hội đồng quản trị
Đề cập đến vấn đề quy mô của hội đồng quản trị được tính bằng số thành viên của hội đồng quản trị và thành quả của công ty, trong bài nghiên cứu năm 2012 về tác động của số lượng thành viên hội đồng quản trị lên thành quả của công ty đo lường bằng hệ số Tobin’s Q và ROE, tác giả Paul Guest đã sử dụng mẫu bao gồm 2,746 công ty niêm yết tại Anh trong giai đoạn từ 1981 – 2002 và kết quả nghiên cứu cho thấy quy mô của hội đồng quản trị có tương quan âm khá mạnh đối với thành quả của công ty, đặc biệt, sự tương quan âm này lớn dần theo quy mô của công ty, cho thấy các công ty có quy mô càng lớn, càng muốn đạt được thành quả cao thì quy mô hội đồng quản trị phải giảm đi tương ứng
Trang 24CHƯƠNG 3: DỮ LIỆU
3.1 Phương pháp thu thập dữ liệu
Phạm vi nghiên cứu là các công ty được niêm yết trên sàn chứng khoán tại việt Nam giai đoạn 2009 – 2015, không bao gồm các ngân hàng, công ty tài chính hoặc có liên quan đến lĩnh vực tài chính
Các dữ liệu liên quan đến số liệu kế toán, giá trị thị trường, sổ sách được lấy từ báo cáo tài chính hợp nhất thời điểm 31/12 các năm
Các dữ liệu liên quan đến Hội Đồng Quản Trị: được thu thập thủ công, bằng cách xem trên các báo cáo thường niên, các dữ liệu có sẵn trên các trang web như
www.google.com, www.cafef.vn, www.cophieu68.com, …
3.2 Mô tả các biến
Theo xu thế cổ phần hóa các doanh nghiệp hiện nay, một công ty dù ít hay nhiều cũng sẽ có các thành viên hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm nhiều vị trí ở các công
ty khác, đó vừa là lợi thế cũng vừa là điểm bất lợi của các công ty, việc này tùy thuộc chủ yếu vào danh tiếng của các thành viên trong hội đồng quản trị cũng như mức độ kiêm nhiệm của họ tại các công ty khác Trong bài nghiên cứu này, một thành viên hội đồng quản trị được xem là kiêm nhiệm nhiều công ty – biến quan trọng nhất của bài nghiên cứu, được xác định bằng cách đếm số công ty mà họ có tên trong hội đồng quản trị, họ được xác định là kiêm nhiệm nếu nắm giữ ba vị trí hội đồng quản trị trở lên ở các công ty khác nhau, đây cũng là cách xác định của các tác giả Fich và Shivdasani (2006), Ferris et al (2003), Elyas Elyasiani và Ling Zhang (2015) Để xác định xem lựa ba vị trí được xem là kiêm nhiệm có phù hợp với nghiên cứu này hay không, tôi đã thực hiện nghiên cứu với cách xác định các thành viên là kiêm nhiệm nếu nắm giữ hai vị trí (phần 6 của nghiên cứu) Kết quả cho thấy các dấu hiệu tương quan không rõ ràng bằng mẫu bao gồm các thành viên kiêm nhiệm nắm giữ ba vị trí trở lên Như vậy việc xác định các thành viên kiêm nhiệm thông qua việc nắm giữ ba vị trí quản trị trở lên trong bài này là phù hợp
Trang 25Quy mô của hội đồng quản trị được xác định là tổng số lượng thành viên trong hội đồng quản trị của một công ty, bao gồm cả chủ tịch và các thành viên hội đồng quản trị độc lập
Số tuổi của các thành viên hội đồng quản trị được tính bằng cách chia trung bình số tuổi của các thành viên hội đồng quản trị theo từng năm
Thành viên hội đồng quản trị “bên trong” công ty là các thành viên trực tiếp tham gia điều hành công ty, thành viên hội đồng quản trị “bên ngoài” là các thành viên hội đồng quản trị không tham gia điều hành công ty, định nghĩa này được đưa ra bới tác giả Fich và Shivdasani trong nghiên cứu năm 2006 (dữ liệu thu thập được từ các báo cáo thường niên của công ty)
Quy mô của công ty được tính dựa trên số liệu tổng tài sản, cụ thể quy mô công ty tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản các thời điểm cuối năm tài chính (31/12) Đòn bẩy của công ty, biến thể hiện số lượng nợ mà công ty sử dụng đồng thời cũng phản ánh được mức độ an toàn trong việc sử dụng nguồn vốn của công ty được tính bằng cách lấy tổng nợ chia cho tổng tài sản
Rủi ro công ty được tính bằng độ lệch chuẩn của các tỷ suất sinh lợi hàng tháng Theo đó dữ liệu giá chứng khoán thời điểm đóng cửa ngày đầu và cuối tháng được dùng để tính tỷ suất sinh lợi hàng tháng, trong 1 năm sẽ có 12 tỷ suất sinh lợi tháng và từ đó tính ra được độ lệch chuẩn
Ba cách để đo lường thành quả hoạt động của công ty được sử dụng trong
bài nghiên cứu:
ROE: tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần
Tobin’s Q: theo cách tính của tác giả Adams và Mehran (2003), Laeven và Levine
(2009), chỉ số Tobin’s Q tính bằng công thức sau:
Tobin’s Q = (Giá thị trường của vốn cổ phần + giá trị sổ sách của tổng tài sản – giá trị sổ sách của vốn cổ phần)/giá trị sổ sách của tổng tài sản
Trang 26Trong đó giá trị thị trường của vốn cổ phần được tính bằng số cổ phần đang lưu hàng nhân với giá cổ phần tại thời điểm cuối ngày 31/12 hàng năm
EBIT/tổng tài sản: chỉ số lợi nhuận trước thuế và lãi vay chia cho tổng tài sản
Ba cách để đo lường rủi ro của công ty được sử dụng trong bài nghiên
cứu:
Rủi ro tổng thể: tính bằng độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi hàng ngày Giá cổ
phiếu vào thời điểm đóng cửa ngày hôm trước và hôm nay được dùng để tính tỷ suất sinh lợi, từ dữ liệu tỷ suất sinh lợi hàng ngày trong một năm ta tính ra được độ lệch chuẩn
Rủi ro thị trường: hay còn gọi là hệ số rủi ro beta, là hệ số đo lường mức độ biến
động hay còn gọi là thước đo rủi ro hệ thống của một chứng khoán hay một danh mục đầu tư trong tương quan với toàn bộ thị trường Beta được sử dụng trong mô hình định giá tài sản vốn (CAPM) để tính toán tỷ suất sinh lời kỳ vọng của một tài sản dựa vào hệ số beta của nó và tỷ suất sinh lời trên thị trường Nếu một chứng khoán có hệ số beta:
Bằng 1, mức biến động của giá chứng khoán này sẽ bằng với mức biến động của thị trường
Nhỏ hơn 1, mức độ biến động của giá chứng khoán này thấp hơn mức biến động của thị trường
Lớn hơn 1: mức độ biến động giá của chứng khoán này lớn hơn mức biến động của thị trường
Công thức tính hệ số beta:
Beta = Covar(Ri,Rm)/Var(Rm)
Trong đó: Ri: Tỷ suất sinh lời của chứng khoán
Rm: Tỷ suất sinh lời của thị trường (ở đây là VN-Index)
Var(Rm): Phương sai của tỷ suất sinh lời của thị trường
Trang 27Covar(Ri,Rm): Hiệp phương sai của tỷ suất sinh lời của chứng khoán và tỷ suất sinh lời của thị trường
Tỷ suất sinh lời của chứng khoán cũng như là chỉ số VN – Index được tính bằng cách lấy dữ liệu về giá thời điểm cuối ngày hôm nay và hôm trước Tương ứng 1 năm sẽ có 364 tỷ suất sinh lợi chứng khoán và thị trường, từ đó ta có thể áp dụng vào công thức để tính hệ số Beta
Hệ số khả năng phá sản (Z-Score): do nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I Altman,
giảng viên trường đại học New York thiết lập Hệ số này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài chính như ngân hàng hay là các công ty đầu tư tài chính Theo Edward I Altman, hệ số này được tính toán như sau:
Z-score = 1,2*A1+1,4*A2+3,3*A3+0,6*A4+1,0*A5 Trong đó:
A1 = Vốn luân chuyển ( = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn)/Tổng tài sản
A2 = Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản
A3 = EBIT (Lợi nhuận trước lãi vay và thuế)/Tổng tài sản
A4 = (Giá thị trường của cổ phiếu*Số lượng cổ phiếu lưu hành)/Tổng nợ
A5 = Hiệu quả sử dụng tài sản =Doanh thu/Tổng tài sản
3.3 Mô tả dữ liệu:
Mô tả chi tiết các dữ liệu trên cơ sở thống kê mô tả được trình bày trong bảng 1 dưới đây Dữ liệu được lấy từ các doanh nghiệp phi tài chính đã được niêm yết trên sàn chứng khoán tại Việt Nam bao gồm hai sàn chứng khoán HNX và HOSE Dữ liệu từ năm 2009 đến năm 2015 bao gồm giai đoạn 7 năm và gồm 50 công ty, tổng
số lượng quan sát được là 350 quan sát
Bảng 1: Thống kê mô tả các biến:
Trang 28Biến liên quan đến tài chính
Biến liên quan đến hội đồng
quản trị
Mean – multi directorship
Biến liên quan đến thành quả
hoạt động
Biến liên quan đến rủi ro
Tổng tài sản trung bình của các doanh nghiệp trong mẫu tính theo logarit của tổng tài sản bằng 12.32 Trong bài nghiên cứu này, logarit tự nhiên của tổng tài sản được sử dụng để tính toán quy mô của các doanh nghiệp thay vì sử dụng số liệu thực vì theo tác giả Elyas Elyasiani đây là cách để làm giảm sự ảnh hưởng của các doanh nghiệp có quy mô tổng tài sản lớn trong mẫu lên kết quả nghiên cứu
Tỷ lệ tài trợ bằng nợ (leverage) trung bình của các doanh nghiệp trong mẫu bằng 0.46 Trong đó tỷ lệ tài trợ bằng nợ thấp nhất là 0.06, cao nhất là 1.39 Do mẫu được
Trang 29lấy từ nhiều ngành khác nhau nên tỷ lệ tài trợ bằng nợ cũng có sự khác biệt
Rủi ro đặc thù của doanh nghiệp – đo lường bằng tỷ suất sinh lợi hàng tháng có số liệu trung bình trong mẫu là 0.11, con số lớn nhất là 1.71 và nhỏ nhất là 0.03
Quy mô trung bình của hội đồng quản trị công ty là 6.46 người, trong khi con số tối
đa và tối thiểu lần lượt là 12 và 3 Hội đồng quản trị có quy mô gồm nhiều thành viên thường là những doanh nghiệp có giá trị vốn hóa thị trường lớn, ở đó số lượng lớn các cổ đông đòi hỏi phải có nhiều người cùng quản trị doanh nghiệp để đảm bảo được lợi ích cho họ
Tuổi trung bình của các thành viên Hội đồng quản trị là 47.53, trong đó công ty có
số tuổi trung bình của các thành viên lớn nhất là 60 tuổi, con số này là 35 đối với công ty có độ tuổi trung bình của thành viên hội đồng quản trị nhỏ nhất
Trung bình các vị trí quản lý mà tất cả các thành viên hội đồng quản trị trong công
ty nắm giữ là 2.3, con số lớn nhất là 5.6 và nhỏ nhất là 1
Trung bình số lượng các thành viên hội đồng quản trị được xem xét là thành viên phải kiêm nhiệm nhiều vị trí trong bài được quan sát là 2.07, con số nhỏ nhất quan sát được là 0 và lớn nhất là 12
Tỷ suất sinh lợi trên vốn cổ phần (ROE) trung bình của các doanh nghiệp trong mẫu là 21%, mẫu quan sát có giá trị ROE cao nhất là 89%, thấp nhất là -39%
Tobin’s Q, số liệu thể hiện khả năng tăng trưởng của các doanh nghiệp, có giá trị trung bình trong mẫu là 1.99, trong khi giá trị lớn nhất của mẫu là 19.23, nhỏ nhất của mẫu là 0.59
Tỷ số Ebit/tổng tài sản có giá trị trung bình đạt 0.15, giá trị lớn nhất đạt 0.9 và nhỏ nhất đạt -0.15%
Hệ số Z-score trung bình trong mẫu là 3.07, mẫu có giá trị lớn nhất là 13.23, nhỏ nhất là -0.23
Rủi ro tổng thể – đo lường bằng cách lấy độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi hàng
Trang 30ngày của các chứng khoán, có số liệu trung bình là 3%, con số lớn nhất trong mẫu là 2.54 và nhỏ nhất là 0.01
Rủi ro thị trường – hệ số Beta của chứng khoán trung bình trong mẫu đạt 0.45, số lớn nhất trong mẫu là 2.59 và nhỏ nhất là -0.4
Trang 31CHƯƠNG 4: MÔ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
4.1 Xây dựng các giả thiết của mô hình:
Mặc dù có một số nghiên cứu trước đây của các tác giả nổi tiếng cho rằng việc các thành viên hội đồng quản trị bận kiêm nhiệm nhiều vị trí quản trị ở các công ty khác có thể gây ảnh hưởng đến khả năng quản trị công ty từ đó tác động tiêu cực đến thành quả hoạt động và các rủi ro Tuy nhiên không thể phủ nhận được những lợi ích mà các thành viên bận rộn này đem lại Trước nhất, các thành viên này sẽ có được khả năng quản trị tuyệt vời, những kiến thức bổ ích, cùng với đó là kinh nghiệm quản trị từ các công ty thuộc các ngành khác nhau, đối với các công ty, đặc biệt là những doanh nghiệp có tuổi đời non trẻ, nguồn vốn quản trị này thực sự quý báu và rất cần thiết Bên cạnh đó lợi ích thực sự cần phải nói tới chính là họ có thể mang đến các mối quan hệ, kết nối công ty với những đối tác, nhà cung cấp, bạn hàng, hoặc thậm chí là các ngân hàng để huy động nguồn vốn
Các thành viên hội đồng quản trị giàu kinh nghiệm trong việc quản lý còn có thể đưa ra những lời tư vấn hợp lý cho hội đồng quản trị công ty, từ đó có khả năng hạn chế bớt các vấn đề liên quan đến chi phí đại diện Ngoài ra, với các công ty có hội đồng quản trị nhiều thành viên, các thành viên giàu kinh nghiệm, kiến thức cũng góp phần gia tăng hiệu quả quản trị tương xứng với chi phí bỏ ra để thuê họ Lợi ích ròng mà các thành viên này mang lại sẽ lớn hơn nhiều khi so sánh với các thành viên khác
Theo tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang trong bài nghiên cứu vào năm 2015 cho rằng, hội đồng quản trị của công ty chính là những người chịu trách nhiệm chính trong việc quyết định các chính sách, các kế hoạch kinh doanh của công ty đồng thời là người có cái nhìn tổng thể cuối cùng đối với các quyết định đánh đổi giữa rủi
ro và thành quả hoạt động của công ty Do vậy, trong bài nghiên cứu này, tôi kỳ vọng rằng một hội đồng quản trị có nhiều thành viên kiêm nhiệm ở các công ty khác nhau sẽ giúp ích cho công ty qua việc mang lại thành quả cao và giúp giảm đi các rủi ro trong hoạt động Từ những lý do trên đã dẫn đến một số giả thuyết trong bài
Trang 32nghiên cứu như sau:
Giả thiết H1: Các doanh nghiệp có số lượng thành viên trong hội đồng quản trị
phải kiêm nhiệm nhiều hơn cũng sẽ có thành quả hoạt động – thể hiện qua các tiêu chí ROE, EBIT/Tổng tài sản, Tobin’s Q cao hơn các doanh nghiệp khác
Giả thiết H2: Các doanh nghiệp có số lượng thành viên trong hội đồng quản trị
phải kiêm nhiệm nhiều hơn sẽ dẫn đến rủi ro ít hơn – thể hiện qua các tiêu chí Zscore, rủi ro tổng thể, hệ số Beta thấp hơn
Bên cạnh đó, vấn đề được quan tâm khá nhiều trong thời gian gần đây, đó là cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu diễn ra vào năm 2008 – 2010 và các hậu quả mà nó để lại cho nền kinh tế Với lợi thế từ kinh nghiệm, kiến thức và các mối quan hệ đến từ các thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm, các công ty có hội đồng quản trị kiêm nhiệm được kỳ vọng sẽ vượt qua được giai đoạn khủng hoảng và sự kiêm nhiệm sẽ phát huy tác dụng trong giai đoạn khủng hoảng thông qua việc giúp công ty gia tăng thành quả và giảm rủi ro hoạt động Từ đó đưa đến các giả thiết sau:
Giả thiết H3: Các doanh nghiệp có hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm nhiều vị trí
sẽ có tác động tích cực trong việc gia tăng thành quả trong thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 - 2010
Giả thiết H4: Các doanh nghiệp có hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm nhiều vị trí
sẽ có tác động tích cực trong việc giảm rủi ro công ty phải hứng chịu trong thời kỳ diễn ra cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 - 2010
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Khác với nghiên cứu của các tác giả Ferris et al (2003) sử dụng phương pháp hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS) dựa trên bộ dữ liệu về các doanh nghiệp phi tài chính năm 1995 hay tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang (2015) sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất ba giai đoạn (3SLS) đối với dữ liệu các công ty nắm vốn trong ngân hàng, trong bài nghiên cứu này, tôi sử dụng phương pháp của tác giả Fich và Shivdasani (2006), phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng hồi quy
Trang 33cố định (Fixed effects regressions) Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng hồi quy cố định có một số lợi thế nhất định khi so sánh với các nghiên cứu của tác giả trước như sau:
Thứ nhất, so với mô hình hồi quy bình phương nhỏ nhất (OLS), mô hình sử dụng phương pháp hiệu ứng hồi quy cố định trở nên mạnh mẽ để xử lý các biến mang tính đặc thù của công ty như là quy mô tổng tài sản, đòn bẩy, ROE, rủi ro đặc thù…, là những biến có khả năng gây ra vấn đề nội sinh trong mô hình OLS
Thứ hai, so với mô hình sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất ba giai đoạn (3SLS), tác giả sử dụng phương pháp này là Elyas Elyasiani và Ling Zhang phải giả định thêm biến công cụ (instrumental variables), trong bài nghiên cứu năm 2015 là
số lượng các công ty niêm yết có trụ sở chính đặt tại cùng thành phố với công ty nghiên cứu trong mẫu Rõ ràng phương pháp này sẽ có hiệu quả hơn trong việc giải quyết vấn đề nội sinh giữa các biến nhưng lại khá phức tạp và đòi hỏi nhiều thời gian để thu thập hết các dữ liệu để có được biến công cụ Vì vậy, phương pháp hồi quy dữ liệu bảng sử dụng hiệu ứng hồi quy cố định được xem xét là phù hợp nhất trong bài nghiên cứu này
Phần kiểm định của bài được chia làm hai phần, nhằm mục đích nghiên cứu tác động của việc các thành viên hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm nhiều vị trí quản trị ở các công ty lên thành quả và rủi ro của các công ty đó
4.2.1 Sự kiêm nhiệm của Hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của công
ty
Các biến sử dụng trong bài nghiên cứu để đo lường thành quả hoạt động của công ty bao gồm tỷ suất sinh lời trên vốn cổ phần (ROE), Ebit trên tổng tài sản, hệ số Tobin’s Q Mô hình nghiên cứu được sử dụng các biến theo nghiên cứu của tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang năm 2015 và phương pháp hồi quy dữ liệu bảng với hiệu ứng cố định theo tác giả Fich và Shivdasani năm 2006 như sau:
Trang 34Mô hình nghiên cứu
Performance = α 0 + α 1 NBD + α 2 TTA + α 3 LEV + α 4 RSK + α 5 BOS + α 6 BOA + α 7 MMD + α 8 POD + ε
TTA: Tổng tài sản của công ty
LEV: Hệ số đòn bẩy của công ty
RSK: Rủi ro chung của công ty
BOS: Quy mô hội đồng quản trị
BOA: tuổi trung bình của các thành viên hội đồng quản trị
MMD: Trung bình số lượng vị trí quản trị trong 1 công ty
POD: Tỷ trọng số lượng thành viên hội đồng quản trị bên ngoài
4.2.2 Sự kiêm nhiệm của Hội đồng quản trị và rủi ro của công ty
Các biến sử dụng trong bài nghiên cứu để đo lường rủi ro của công ty bao gồm rủi
ro tổng thể, hệ số Z-Score và hệ số Beta (rủi ro thị trường)
Mô hình nghiên cứu:
Risk = α 0 + α 1 NBD + α 2 TTA + α 3 LEV + α 4 RSK + α 5 BOS + α 6 BOA + α 7
Trang 35 TTA: Tổng tài sản của công ty
LEV: Hệ số đòn bẩy của công ty
RSK: Rủi ro chung của công ty
BOS: Quy mô hội đồng quản trị
BOA: tuổi trung bình của các thành viên hội đồng quản trị
MMD: Trung bình số lượng vị trí quản trị trong 1 công ty
POD: Tỷ trọng số lượng thành viên hội đồng quản trị bên ngoài
Trang 36CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM
5.1 Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả của công ty
Bảng 2: Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả của công ty
Bảng 2 đưa ra các kết quả nghiên cứu về mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả của công ty Sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị được xác định là số lượng thành viên hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm từ 3 vị trí quản trị ở các công ty trở lên Thành quả của công ty được đo lường thông qua các hệ số ROE, Tobin’s Q và Ebit trên tổng tài sản Phương pháp đo lường này được thực hiện dựa trên phương pháp của tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang trong bài nghiên cứu vào năm 2015 Số ở trên thể hiện hệ số tương quan của các biến, số ở dưới thể hiện độ lệch chuẩn, các dấu *, **, *** lần lượt thể hiện mức ý nghĩa 10%, 5%, 1% cho từng biến
NBD
0.004 (0.006)
0.092 (0.079)
0.013*** (0.004)
BOA
-0.005 (0.004)
0.062 (0.046)
0.001 (0.003)
BOS
-0.004 (0.007)
-0.113 (0.073)
-0.004 (0.004)
LEV
-0.040 (0.050)
-1.282**
(0.641)
-0.112*** (0.037)
MMD
0.003 (0.017)
-0.002 (0.218)
0.014 (0.013)
POD
-0.023 (0.052)
-0.123 (0.663)
-0.038 (0.039)
Trang 37RSK
0.029 (0.041)
-0.441 (0.526)
0.063**
(0.031)
Với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi, kết quả hồi quy được mô tả như sau:
Mô hình (1.1): ROE
Hệ số tương quan của biến sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị so với biến ROE là 0.004 cho thấy được rằng khi số thành viên kiêm nhiệm của hội đồng quản trị tăng (giảm) 1 người thì hệ số ROE tăng (giảm) tương ứng là 0.4%
Hệ số tương quan của biến tổng tài sản so với biến ROE là -0.117 với mức ý nghĩa 1% thấy khi tổng tài sản của công ty (tính theo logarit tự nhiên của tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán) tăng (giảm) 1 đơn vị thì hệ số ROE giảm (tăng) tương ứng là 11.7%
Mô hình (1.2): Tobin’s Q
Hệ số tương quan của biến sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị so với biến Tobin’s
Q là 0.092 cho thấy khi số thành viên kiêm nhiệm của hội đồng quản trị tăng (giảm)
1 người thì hệ số Tobin’s Q tăng (giảm) tương ứng là 0.092 đơn vị
Hệ số tương quan của biến đòn bẩy tài chính so với biến Tobin’s Q là – 1.282 với mức ý nghĩa 5% cho thấy khi đòn bẩy tài chính tăng (giảm) 1 đơn vị thì hệ số Tobin’s Q giảm (tăng) tương ứng là 1.282 đơn vị
Hệ số tương quan của biến tồng tài sản so với biến Tobin’s Q là 0.950 với mức ý nghĩa 5% cho thấy khi tổng tài sản (tính bằng logarit tự nhiên của tổng tài sản trên bảng cân đối kế toán) tăng (giảm) 1 đơn vị thì hệ số Tobin’s Q tăng (giảm) tương ứng là 0.950 đơn vị
Trang 38Mô hình (1.3): Ebit/tổng tài sản
Hệ số tương quan của biến sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị so với biến Ebit/Tổng tài sản là 0.013 với mức ý nghĩa 1% cho thấy khi số thành viên kiêm nhiệm của hội đồng quản trị tăng (giảm) 1 người thì hệ số Ebit/Tổng tài sản tăng (giảm) tương ứng là 0.013 đơn vị
Hệ số tương quan của biến Đòn bẩy tài chính so với biến Ebit/Tổng tài sản là -0.112 với mức ý nghĩa 1% cho thấy khi tỷ lệ đòn bẩy tăng (giảm) 1 đơn vị thì hệ số Ebit/Tổng tài sản giảm (tăng) tương ứng là 0.112 đơn vị
Hệ số tương quan của biến rủi ro riêng của công ty so với biến Ebit/Tổng tài sản là 0.063 với mức ý nghĩa 5% cho thấy khi rủi ro công ty (đo lường bằng độ lệch chuẩn của các tỷ suất sinh lợi hàng tháng) tăng (giảm) 1 đơn vị thì hệ số Ebit/Tổng tài sản tăng (giảm) tương ứng là 0.063 đơn vị
Các kết quả kiểm định mối quan hệ giữa sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị và thành quả hoạt động của công ty được thể hiện trong bảng 2 ở trên Các biến thể hiện thành quả của công ty gồm ROE, Tobin’s Q cho ra kết quả tương quan dương nhưng không có ý nghĩa, tuy nhiên, đối với biến Ebit/tổng tài sản, kết quả tương quan dương và có ý nghĩa rất lớn (mức ý nghĩa 1%) với số lượng thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm – biến đại diện cho sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị Kết quả độ tương quan của sự kiêm nhiệm của hội đồng quản trị với hệ số Ebit/tổng tài sản là 0.013 với mức ý nghĩa 1% Kết quả đã chứng minh cho thấy các công ty có nhiều thành viên hội đồng quản trị kiêm nhiệm mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn thể hiện bằng thành quả tốt hơn những công ty có ít thành viên kiêm nhiệm, kết quả này hoàn toàn phù hợp với giả thuyết H1 của bài nghiên cứu này: “Các doanh nghiệp có số lượng thành viên trong hội đồng quản trị phải kiêm nhiệm nhiều hơn cũng sẽ có hiệu quả hoạt động – thể hiện qua chỉ tiêu Ebit/Tổng tài sản cao hơn các doanh nghiệp khác”
Kết quả nghiên cứu này thể hiện sự tương đồng với kết quả nghiên cứu của tác giả Elyas Elyasiani và Ling Zhang năm 2015 Nhìn chung, mặc dù việc kiêm nhiệm có