Các chính sách giảm nhẹ gánh nặng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triểnĐặc điểm trong bối cảnh toàn cầu ảnh hưởng đến tự do hóa tài chínhPhân tích tình hình tài chính của Việt nam trong giai đoạn 2017 – nayBài phân tích đã đưa ra tình hình tài chính Việt Nam trong giai đoạn 2017 hiện nay trên các yếu tố: Thu NSNN trong giai đoạn 20172019 đều vượt dự toán và tình hình quý I2020 giảm do dịch Covid19 ; chi NSNN chuyển biến tích cực, bội chi được kiểm soát tốt, nợ công nằm trong giới hạn an toàn cho phép; FDI ngày càng tăng. Đã thấy được xu hướng chuyển biến tích cực và đề ra giải pháp, kiến nghị cho tình hình tài chính Việt Nam trong 5 năm tới. Trong thời gian tới, củng cố mức huy động vào ngân sách sẽ là một trong những nội dung cốt lõi trong lộ trình giảm bội chi, trong khi vẫn đảm bảo các khoản chi tiêu quan trọng cho các lĩnh vực an sinh xã hội và đầu tư phát triển. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục các nỗ lực nhằm đẩy mạnh cải thiện chính sách và quản lý thu. Đồng thời sự ảnh hưởng của dịch bệnh COVID19 khá lớn đến tình hình tài chính của Việt Nam cần sự chỉ đạo đưa ra những chính sách hợp lý để điều hòa ổn định cơ cấu và hệ thống các vấn đề tài chính.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC KINH TẾ
- -BÀI TẬP LỚN MÔN: TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN
GVHD: Lương Thị Ngọc Hà
Họ và tên: Vũ Thị Thu Chang
Mã sinh viên: 17050111 Lớp: QH 2017E-KTPT
Hà Nội, 2020
Trang 2Bài làm:
Bài 1: Các chính sách giảm nhẹ gánh nặng nợ nước ngoài ở các nước đang phát triển:
Tái tài trợ: tài trợ mới để con nợ có điều kiện trả nợ cũ Khoản nợ không thay đổi nhưng các điều khoản về việc hoàn trả nợ được thả lỏng hơn thông qua các kỳ hạn phải thanh toán kéo dài hơn và mức lãi suất phải trả có thể thấp hơn
Hoản nợ/giãn nợ: có quan hệ mật thiết với tái tài trợ, trong đó giá trị vốn vay ban đầu vẫn được giữ nguyên theo giá trị sổ sách nhưng thời hạn trả nợ thay đổi để con
nợ có được các kỳ hạn trả nợ dài hơn và lãi suất phải trả cũng có thể thấp hơn
Giảm nợ, trong đó khoản nợ chính thức được cắt giảm bới đi (ví dụ xoá nợ, hoặc xoá một phần (ghi giảm) hoặc giảm toàn bộ (xoá nợ), Gia tăng lượng kiều hối về nước nhằm tăng nguồn ngoại tệ, giảm áp lực tỷ giá khi đến hạn trả nợ
Mua lại: con nợ có thể mua lại khoản vay từ chủ nợ với tỷ lệ phần trăm nhất định
so với giá trị nợ theo sổ sách
Hoán đổi nợ thành vốn, trong đó chủ nợ được đổi lấy cổ phần trong công ty dưới hình thức từ bỏ phần nợ chưa đến hạn thanh toán
Đẩy mạnh thu hút các nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài (FDI), đây là hướng lâu dài không chỉ ở các nước đang phát triển, mà ngay cả nước phát triển Một số nước đã nhận ra điều này và đang tích cực áp dụng bằng các chính sách mở thu hút đầu tư, tạo điều kiện tốt để tranh thủ nguồn vốn trực tiếp này
Cơ cấu lại tỷ lệ vay nước ngoài, hạn chế vay ngắn hạn
Ví dụ:
Việt nam đổi mới toàn diện quá trình thu hút FDI từ xúc tiến đầu tư, đến thẩm định cấp giấy đăng ký, triển khai dự án theo hướng chính phủ điện tử với bộ máy được cơ cấu có hiệu năng, đội ngũ công chức để trở thành điểm đến đầy tiềm năng của các nhà đầu tư trong thời gian tới
Malaysia đã cơ cấu lại tỷ lệ vay nước ngoài trong đó hơn một nửa nợ nước ngoài có kỳ hạn trung / dài hạn hạn chế vay ngắn hạn
Bài 2: Đặc điểm trong bối cảnh toàn cầu ảnh hưởng đến tự do hóa tài chính:
Phát triển giao dịch tài chính và vốn quốc tế:
Xóa bỏ hạn chế của pháp luật
Ổn định kinh tế vĩ mô và cải cách chính sách tại nhiều nước đang phát triển
Tự nhân hóa các doanh nghiệp nhà nước
Đa phương hóa thương mại
Trang 3 Phát triển các công cụ tài chính phát triển
Cách mạng CNTT & truyền thông:
Giảm bớt chi phí vận tải, liên lạc & xử lí dữ liệu, giao dịch
Phát triển tài sản tài chính mới
Dải các công cụ tài chính được giao dịch quốc tế ngày càng rộng hơn
Phát triển các cơ chế khắc phục vấn đề thông tin BĐX
Khó khăn kiểm soát dòng vốn quốc tế
b Ví dụ
Thổ Nhĩ Kỳ và Venezuela là những nước đầu tiên trải qua sự đảo ngược mạnh mẽ của dòng vốn vào thập niên 1990 Cả hai trường hợp đều do sự mất niềm tin của nhà đầu tư vào chính sách của chính phủ đã bắt đầu tự do hóa tài chính
Sau cuộc khủng hoảng nợ đầu những năm 1980 Trong bối cảnh các chương trình điều chỉnh cơ cấu được thực hiện với sự hỗ trợ của các cơ sở tài chính quốc tế, các nước Argentina, Chile, Uruguay đã trải qua quá trình tự do hóa tài chính song song với tự do hóa thương mại
Trong bối cảnh toàn cầu các nước mở cửa đa phương hóa thương mại thì việc Việt Nam thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài (FDI) là nguồn lực quan trọng cùng với nguồn vốn trong nước để tăng trưởng kinh tế giúp tự do hóa giao dịch vốn 1 phần trong tự do hóa tài chính
Bài 3: Phân tích tình hình tài chính của Việt nam trong giai đoạn 2017 – nay
Trang 4MỤC LỤC
Danh mục chữ viết tắt 5
Danh mục các bảng 5
Danh mục các hình 5
MỞ ĐẦU 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1 Cơ sở lí luận 6
2 Cơ sở thực tiễn của Việt Nam 7
CHƯƠNG II: TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-NAY 7
1 Khái quát chung tình hình tài chính của Việt Nam giai đoạn 2017- Nay 7
2 Phân tích tình hình tài chính của Việt Nam giai đoạn 2017- Nay 7
2.1 Thu chi ngân sách nhà nước 7
2.2 Nợ công và nợ nước ngoài 9
2.3 Tình hình thu hút vốn đầu tư nước ngoài FDI 11
2.4 ODA 13
2.5 Độ sâu tài chính 13
CHƯƠNG III: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP CHO TÀI CHÍNH VIỆT NAM TRONG MÙA DỊCH COVID -19 VÀ GIAI ĐOẠN 2021-2025 14
1 Kiến nghị 14
2 Giải pháp 14
KẾT LUẬN 15
TÀI LIỆU THAM KHẢO 15
Danh mục chữ viết tắt
FDI/ Đầu tư trực tiếp nước ngoài (Foreign Direct Investment)
Trang 5FTA Hiệp định thương mại tự do( Free Trade Agreement)
GDP Tổng sản phẩm quốc nội(Gross Domestic Product )
KBNN Kho bạc nhà nước
NSĐP Ngân sách địa phương
NSNN Ngân sách nhà nước
NSTW Ngân sách trung ương
ODA Vốn hỗ trợ phát triển chính thức
Danh mục các bảng
Bảng 1: Độ sâu tài chính Việt Nam giai đoạn 2017-2019 (Đơn vị; %GDP)…….13
Danh mục các hình
Hình 1: Nợ công của Việt Nam giai đoạn 2017-2020( Đơn vị: %GDP)………….9
Hình 2: Tổng vốn đầu tư FDI 2 tháng cùng kỳ đầu năm từ năm 2017-2020 tại Việt Nam (Đơn vị: tỷ USD)………12
Hình 3: Mức cung tiền M2/GDP năm 2017-2019( Đơn vị: %GDP)……… 13
Hình 4: Vốn hóa thị trường Việt Nam năm 2017-2019 ( Đơn vị: %GDP) ………13
MỞ ĐẦU
Lí do lựa chọn đề tài: Hiện nay Việt Nam có sự đổi mới theo nền kinh tế thị
trường mở cùng với đó môi trường kinh tế toàn cầu ngày càng trở nên thách thức hơn Để thấy được những xu hướng biến động, hạn chế từ đó đưa ra những giải pháp hợp lý kết hợp giữa kiến thức lý luận và tài liệu tham khảo tôi đã chọn đề tài
“ Phân tích tình hình tài chính Việt Nam giai đoạn 2017-Nay”
Mục tiêu, đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng : Đề tài tập trung phân tích các vấn đề cơ bản trong nền tài chính Việt
Nam như thu chi NSNN, nợ công, nợ nước ngoài, FDI, ODA thông qua các chỉ số kinh tế
- Mục tiêu: Đưa ra những số liệu cụ thể của các yếu tố thu chi NSNN, nợ công và
nợ nước ngoài, ODA, FDI của Việt Nam 2017- nay từ đó phân tích, nhận xét tình hình tài chính và đưa ra những kiến nghị giải pháp phù hợp cho hiện tại và tương lai
Trang 6 Câu hỏi nghiên cứu:
- Tình hình thu chi NSNN của Việt Nam từ năm 2017- hiện nay có chuyển biến gì?
- Tăng thu nhập có tương quan với tăng độ sâu tài chính không?
- Tình hình nợ công, nợ nước ngoài, thu hút FDI, ODA của Việt Nam từ năm 2017- hiện này như thế nào?
Phạm vi nghiên cứu: Phân tích tình hình cơ cấu NSNN, các biến số về nợ công,
FDI, ODA, độ sâu tài chính của Việt Nam trong giai đoạn 2017-Nay
Tổng quan tài liệu nghiên cứu: Có 2 tài liệu nổi bật nhất liên quan đến đề tài:
- IMF( 2019), Article consultation press release; staff report and statement by the executive director for VietNam đã giải thích được triển vọng của nền kinh tế Việt
Nam, những lĩnh vực đang được củng cố và những giải pháp khắc phục rủi ro hiện tại
- T.S Vũ Thành Tự Anh(2020), Những điều cần biết về kinh tế Việt Nam trước cú sốc Covid-19 tại hội thảo” Chính sách ứng phó với dịch bệnh của Chính Phủ”.
Tác giả đã nêu những phân tích về tác động của dịch Covid-19 đối với kinh tế Việt Nam từ đó có những biện pháp để không rơi vào khủng hoảng tài chính
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp phân tích, thống kê mô tả
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1 Cơ sở lí luận
Hệ thống tài chính bao gồm một loạt các định chế tài chính cho phép các cá nhân
có tiết kiệm (những người chi tiêu ít hơn thu nhập) có thể dễ dàng cung cấp vốn cho những người có nhu cầu vay vốn (những người chi tiêu nhiều hơn thu nhập)
Khái niệm thu NSNN:Thu ngân sách Nhà nước là việc Nhà nước dùng quyền lực của mình để tập trung một phần nguồn tài chính quốc gia hình thành quĩ ngân sách Nhà nước nhằm thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu của Nhà nước
Khái niệm chi NSNN: Chi ngân sách Nhà nước là việc phân phối và sử dụng quỹ
ngân sách Nhà nước nhằm đảm bảo thực hiện chức năng của Nhà nước theo những nguyên tắc nhất định
Khái niệm nợ công: là tổng giá trị các khoản tiền mà chính phủ thuộc mọi cấp từ
trung ương đến địa phương đi vay
Khái niệm nước ngoài: là tổng các khoản nợ nước ngoài của Chính phủ, nợ được
Chính phủ bảo lãnh, nợ của doanh nghiệp và tổ chức khác được vay theo phương thức tự vay, tự trả theo qui định của pháp luật Việt Nam
Khái niệm FDI: là hình thức kinh doanh của doanh nghiệp nền kinh tế này hoạt
động trên lãnh thổ của nền kinh tế khác nhằm đạt được các lợi ích lâu dài và dành quyền quản lý thực sự doanh nghiệp
Trang 7 Khái niệm ODA: là hình thức đầu tư nước ngoài và có nguồn vốn vay ưu đãi, gọi là vốn “Hỗ trợ phát triển chính thức
Độ sâu của tài chính: là tỷ lệ tài sản tài chính so với GDP
2 Cơ sở thực tiễn của Việt Nam
Việt Nam là một nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường và hướng ngoại mở rộng đã giúp Việt Nam đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững và bao trùm Để duy trì tăng
trưởng và nâng cao chất lượng, Việt Nam đã và đang hiện đại hóa các thể chế kinh tế, đặc biệt là về quản lý tài chính và tiền tệ, và tiếp tục cải cách theo hướng thị trường và hướng ngoại Mặc dù môi trường kinh tế toàn cầu trở nên thách thức hơn, nhưng nền kinh tế Việt Nam vẫn đứng vững nhờ sức cầu mạnh trong nước và nền sản xuất định hướng xuất khẩu
CHƯƠNG II : TÌNH HÌNH TÀI CHÍNH CỦA VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2017-NAY
1 Khái quát chung tình hình tài chính của Việt Nam giai đoạn 2017- Nay
Tình hình tài chính của Việt Nam trong giai đoạn này khả quan và triển vọng hơn giai đoạn trước đáp ứng quá trình hội nhập quốc tế Tăng thu, giảm chi dần qua từng
năm.Trong những năm gần đây, Việt Nam đã cố gắng ngăn chặn sự gia tăng nợ công và tăng cường thu hút FDI Tiếp tục phát triển thị trường vốn và những chính sách tài chính-ngân hàng hợp lí điều tiết hệ thống tài chính, giúp tăng cường khả năng của ngành tài chính để hỗ trợ tăng trưởng bền vững
2 Phân tích tình hình tài chính của Việt Nam giai đoạn 2017- Nay
2.1 Thu chi ngân sách nhà nước
a Thu ngân sách nhà nước
Tăng trưởng kinh tế được duy trì ở mức cao, với tốc độ bình quân hàng năm là khoảng trên 6% đã giúp cho nâng cao số thu NSNN và đều vượt chỉ tiêu dự toán và tăng so với cùng kỳ các năm trước từ năm 2017-2019 Do tác động của dịch COVID-19, năm 2020
sẽ có nhiều thách thức đặt ra cho thu ngân sách Nhà nước mặc dù trong quý 1 vừa qua nguồn thu tăng so với cùng kỳ năm 2019 là 1,8%
Năm 2017: Thu cân đối NSNN ước đạt 1.283,2 nghìn tỷ đồng, vượt 71 nghìn tỷ
đồng (tương đương 5,9%) so với dự toán, tăng 43,7 nghìn tỷ đồng so với báo cáo Quốc hội, đạt mức động viên 25,6% so với GDP
Năm 2018: Thu cân đối ngân sách nhà nước đạt hơn 1.422 nghìn tỷ đồng, đạt trên
107,8% (vượt 103,5 nghìn tỉ đồng) so với dự toán tỷ lệ động viên đạt khoảng 25,7% GDP là minh chứng cho nỗ lực thu NSNN của ngành Tài chính trong suốt
cả năm 2018
Trang 8 Năm 2019: Tổng thu NSNN đạt 1.539,4 nghìn tỷ đồng, tăng 9,1% so với dự toán,
tương đương 128,1 nghìn tỷ đồng, vượt 82,1 nghìn tỷ đồng so với số đã báo cáo Quốc hội Tỷ lệ động viên thu ngân sách nhà nước đạt 25% GDP
Năm 2020: Tổng thu ngân sách Nhà nước trong tháng 3 đạt 106.400 tỷ đồng, luỹ
kế thu ngân sách Nhà nước trong cả quý 1 là 391.000 tỷ đồng, bằng 25,9% dự toán
và tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2019
- Thu ngân sách nhà nước năm 2020 ước giảm tối thiểu khoảng 140 - 150 nghìn tỷ đồng do ảnh hưởng của dịch bệnh COVID-19 Đối với cân đối ngân sách Trung ương, dự kiến dành 34,6 nghìn tỷ đồng nguồn tăng thu và kinh phí ngân sách Trung ương còn lại năm 2019 chuyển sang năm 2020
b Chi ngân sách nhà nước:
Cơ cấu chi được quản lý chặt chẽ theo đúng dự toán và tiến độ thực hiện; tiếp tục cơ cấu lại chi NSNN, tăng tỷ trọng chi đầu tư phát triển, giảm tỷ trọng chi thường xuyên, đồng thời cơ cấu lại chi trong từng lĩnh vực, gắn với đổi mới sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế và đổi mới khu vực sự nghiệp công nên mức chi ngân sách đang có xu hướng giảm
Năm 2017: Tổng chi NSNN khoảng 1.457,3 nghìn tỷ đồng, vượt dự toán 4,8%
Bội chi NSNN năm 2017 là 136.963 tỷ đồng giảm 4 nghìn tỷ đồng so với dự toán bằng 2,74% GDP thực hiện, giảm cả số tương đối và tuyệt đối so với dự toán Quốc hội giao, thể hiện Chính phủ đã có nhiều nỗ lực trong quản lý, điều hành ngân sách và kiểm soát bội chi
Năm 2018: Tăng cường kỷ luật, kỷ cương chi NSNN nhằm thực hành tiết kiệm,
chống thất thoát lãng phí trong chi NSNN, cả chi thường xuyên cũng như chi đầu
tư phát triển Cơ cấu chi ngân sách chuyển dịch tích cực Bội chi ngân sách năm
2018 ở mức dưới 3,6% GDP thực hiện, thấp hơn so với dự toán là 3,7% GDP
Năm 2019:Bội chi NSNN năm 2019 giảm từ mức 3,7% dự toán xuống ở mức dưới 3,4% GDP thực hiện năm 2019 là năm thắng lợi toàn diện Tốc độ tăng GDP cả năm đạt 7,02%, vượt mục tiêu của Quốc hội đề ra, thuộc nhóm các nước tăng trưởng cao hàng đầu khu vực và thế giới
Năm 2020: Chi NSNN trong tháng 3 đạt 122.500 tỷ đồng, cả quý I đạt 343.100 tỷ
đồng, bằng 19,6% dự toán, tăng 8,7% so với cùng kỳ năm 2019
- Trong bối cảnh chống dịch COVID-19, ngân sách trung ương và địa phương đã tăng chi cho các hoạt động y tế, bảo đảm vệ sinh môi trường và các hoạt động hỗ trợ kiểm soát, phòng, chống dịch bệnh Bộ Tài chính đã phối hợp với các bộ trình Thủ tướng Chính phủ xem xét trích 2.700 tỷ đồng dự phòng ngân sách Trung ương-năm 2020 bổ sung cho Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng và Bộ Công an triển khai các hoạt động phòng chống dịch và xây dựng một số chế độ, chính sách đặc thù trong phòng chống dịch COVID-19
Trang 92.2 Nợ công và nợ nước ngoài
Hình 1: Nợ công của Việt Nam giai đoạn 2016-2020( Đơn vị: %GDP)
* Nguồn: Số liệu bộ tài chính
a Nợ công và nợ chính phủ
Tình hình nợ công của Việt Nam vẫn trong giới hạn và có diễn biến khả quan với nhiều lí do Thứ nhất, nền tảng vĩ mô khởi sắc, tăng trưởng GDP vượt kế hoạch và đạt mức cao nhất trong 11 năm qua Thứ hai, Việt Nam điều hành chính sách tài khóa đạt được nhiều thành quả khả quan, thu cân đối ngân sách ước vượt 7,8% so với dự toán, dự kiến bội chi NSNN thấp hơn so với dự toán là 3,7% GDP, qua đó giảm nhu cầu huy động vốn vay của Chính phủ Thứ ba, giải ngân vốn ODA, ưu đãi nước ngoài chậm hơn dự kiến và biến động tỉ giá được kiểm soát tốt đã góp phần giảm quy mô nợ nước ngoài của Chính phủ khi quy ra đồng Việt Nam Thứ tư, kiểm soát chặt chẽ các khoản bảo lãnh của Chính phủ, không cấp bảo lãnh mới cho doanh nghiệp vay trong nước và khuyến khích người vay trả nợ trước hạn dẫn đến giảm dư nợ bảo lãnh nước ngoài
Năm 2017: Mức tăng trưởng đạt 6,81% GDP đạt khoảng 5,1 triệu tỷ đồng từ đó nợ công còn 61,4% GDP kỳ hạn nợ được kéo dài Nghĩa vụ nợ của Chính phủ trong năm 2017 khoảng 260.150 tỷ đồng, gồm trả nợ trong nước là 214.878 tỷ đồng, trả
nợ nước ngoài trực tiếp là 28.022 tỷ đồng, trả nợ của các dự án vay lại nguồn vốn vay nước ngoài của Chính phủ trong năm 2017 ở mức khoảng 17.250 tỷ đồng
Năm 2018: So với tỷ lệ nợ công trước đó vào cuối năm 2017 đã giảm hơn 3% Đây cũng là năm thứ 2 liên tiếp tỷ lệ nợ công trên GDP giảm Nợ công năm 2018
là 58,4% GDP; nợ Chính phủ là 50% GDP Nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ/thu ngân sách là 15,9% bảo đảm trong giới hạn được Quốc hội quyết định và thấp hơn mức dự kiến tại Nghị quyết 01/NQ-CP ngày 1/1/2018 của Chính phủ về
Trang 10nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2018
Năm 2019: Các chỉ tiêu nợ so với GDP duy trì trong các ngưỡng an toàn được
Quốc hội cho phép và tiếp tục xu hướng giảm của năm 2018.( Nợ công giảm 3,4%GDP, nợ chính phủ giảm 1,5% GDP) Báo cáo cũng Chính phủ cũng cho biết, lũy kế 9 tháng đầu năm 2019, tổng trả nợ của Chính phủ khoảng 237.470 tỷ đồng (bằng 71,3% kế hoạch năm), trong đó trả nợ trong nước khoảng 196.281 tỷ đồng nợ nước ngoài của quốc gia so với GDP dự kiến giảm 0,2% xuống còn khoảng 45,8% (so với năm 2018)
Năm 2020:Các chỉ tiêu nợ so với GDP nhiều khả năng sẽ tiếp tục giảm, khi Chính phủ dự báo đến cuối năm 2020 nợ công khoảng 54,3% GDP, nợ Chính phủ
khoảng 48,5% GDP Dự kiến nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ so với thu ngân sách nhà nước năm 2020 khoảng 23%, tiến gần ngưỡng 25% được Quốc hội cho phép trong giai đoạn 2017-2020
b Nợ nước ngoài
Biểu đồ Hình 1 cho thấy năm 2016-2017 chỉ tiêu nợ nước ngoài của quốc gia so với
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) có xu hướng tăng nhanh, bình quân tăng 16,7%/năm, cao hơn tốc độ tăng trưởng GDP theo giá hiện hành là 13,0%/năm trong cùng giai đoạn Nguyên nhân do các khoản tự vay, tự trả của doanh nghiệp và tổ chức tín dụng bắt nguồn
từ nhu cầu vốn tăng cao của các doanh nghiệp Tuy nhiên so với năm 2017, năm 2018 đã giảm xuống còn 46% tiếp tục xu hướng giảm thì năm 2019 nợ nước ngoài của Việt Nam
so với GDP dự kiến cũng sẽ giảm xuống còn khoảng 45,8% đã cho thấy vấn đề nợ nước ngoài Việt Nam trong giai đoạn 2017-2020 đang trong tầm kiểm soát Cụ thể là:
Năm 2017: Tổng dư nợ nước ngoài của quốc gia là 2.451 triệu tỉ đồng, bằng 48,9% GDP, vẫn nằm trong giới hạn cho phép là dưới 50% GDP.Chính phủ cũng không thực hiện cấp bảo lãnh Chính phủ cho các dự án mới vay vốn nước ngoài
Dư nợ cuối năm của các dự án được Chính phủ bảo lãnh thấp hơn so với đầu năm
và ở mức trên 247 nghìn tỷ đồng, bằng 4,9%GDP
Năm 2018: Chính phủ đã trả nợ trong nước là 198.907 tỷ đồng (trong đó: trả gốc
là 101.657 tỷ đồng, trả lãi là 97.250 tỷ đồng) Số tiền trả nợ nước ngoài là 51.554
tỷ đồng, bao gồm: nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ là 27.748 tỷ đồng (trong đó: trả gốc 20.027 tỷ đồng, trả lãi 7.721 tỷ đồng); nghĩa vụ trả nợ của các khoản Chính phủ vay về cho vay lại là 23.806 tỷ đồng (trong đó: trả gốc 15.473 tỷ đồng, trả lãi 8.333 tỷ đồng)
Năm 2019: Số tiền trả nợ nước ngoài của Chính phủ khoảng 49.179 tỷ đồng
(trong đó nghĩa vụ trả nợ cấp phát khoảng 29.103 tỷ đồng, cho vay lại khoảng 20.076 tỷ đồng) đạt khoảng 94,5% kế hoạch trả nợ trong năm 2019 Nhu cầu vay