1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hiện thực chiến tranh trong miền hoang của sương nguyệt minh và mùa chinh chiến ấy của đoàn tuấn

146 37 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 146
Dung lượng 1,49 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN --- NGUYỄN THỊ YẾN HIỆN THỰC CHIẾN TRANH TRONG MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH VÀ MÙA CHINH CHIẾN ẤY CỦA ĐOÀN TUẤN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ YẾN

HIỆN THỰC CHIẾN TRANH TRONG

MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH VÀ MÙA CHINH CHIẾN ẤY CỦA ĐOÀN TUẤN

LUẬN VĂN THẠC SĨ VĂN HỌC

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

-

NGUYỄN THỊ YẾN

HIỆN THỰC CHIẾN TRANH TRONG

MIỀN HOANG CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH VÀ MÙA CHINH CHIẾN ẤY CỦA ĐOÀN TUẤN

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Văn học Việt Nam

Mã số: 8229030.04

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đoàn Đức Phương

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những nội dung tôi trình bày trong luận văn là kết quả quá trình nghiên cứu của bản thân tôi

Trong quá trình nghiên cứu, tôi có tìm hiểu, tham khảo thành quả khoa học của các tác giả với sự trân trọng và biết ơn, nhưng những nội dung tôi nghiên cứu không trùng với kết quả nghiên cứu của tác giả khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2020 Học viên

Trang 4

Tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc đến PGS.TS Đoàn Đức Phương – người Thầy đã tận tâm hướng dẫn tôi trong quá trình học tập và triển khai luận văn

Sau cùng, tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bạn bè, đồng nghiệp đã luôn tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình học tập cũng như thực hiện luận văn

Do thời gian có hạn và kinh nghiệm nghiên cứu khoa học chưa nhiều nên luận văn còn nhiều thiếu sót, rất mong nhận được sự góp ý của Thầy/ Cô và các anh chị học viên

Hà Nội, ngày tháng năm 2020 Học viên

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Lịch sử vấn đề 3

3 Đối tượng, mục đích, phạm vi nghiên cứu 6

4 Phương pháp nghiên cứu 7

5 Cấu trúc luận văn 7

Chương 1: VĂN HỌC VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975 VÀ SÁNG TÁC CỦA SƯƠNG NGUYỆT MINH, ĐOÀN TUẤN 1.1 Văn học về đề tài chiến tranh sau 1975 8

1.1.1 Cơ sở của việc phản ánh hiện thực chiến tranh 8

1.1.2 Hiện thực chiến tranh với những hướng tiếp cận mới 11

1.1.2.1 Hiện thực chiến trường qua góc nhìn đời tư, thế sự 11

1.1.2.2 Hiện thực chiến tranh từ góc nhìn văn hoá, tâm linh 16

1.2 Sáng tác của Sương Nguyệt Minh, Đoàn Tuấn 21

1.2.1 Sáng tác của Sương Nguyệt Minh 21

1.2.1.1 Vài nét về Sương Nguyệt Minh 21

1.2.1.2 Hành trình sáng tạo 22

1.2.2 Sáng tác của Đoàn Tuấn 26

1.2.2.1 Vài nét về Đoàn Tuấn 26

1.2.2.2 Hành trình sáng tạo 27

Chương 2: HIỆN THỰC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM TRONG MIỀN HOANG VÀ MÙA CHINH CHIẾN ẤY 2.1 Bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc 33

2.1.1 Hoàn cảnh chiến trường 33

2.1.1.1 Chiến trường dữ dội, khốc liệt 33

2.1.1.2 Sự hi sinh, mất mát 41

2.1.2 Cuộc chiến đấu vì Tổ quốc và nghĩa vụ quốc tế 45

2.1.2.1 Nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng 45

Trang 6

2.2 Hình tượng người lính Việt Nam 51

2.2.1 Hình tượng người lính trong cuộc đấu tranh với kẻ thù 51

2.2.1.1 Vẻ đẹp tâm hồn, phẩm chất 51

2.2.1.2 Những góc khuất tâm hồn người lính 64

2.2.2 Hình tượng người lính trở về sau chiến tranh 70

2.3 Hình tượng kẻ thù 73

2.3.1 Hình tượng kẻ thù với bản chất xấu xa 73

2.3.2 Hình tượng kẻ thù trong hiện thực chiến trường 76

2.3.2.1 Những kẻ độc ác, tàn bạo 76

2.3.2.2 Những kẻ đê tiện, thô bỉ 80

Chương 3: MIỀN HOANG VÀ MÙA CHINH CHIẾN ẤY NHÌN TỪ PHƯƠNG DIỆN NGHỆ THUẬT BIỂU HIỆN 3.1 Nghệ thuật xây dựng nhân vật 84

3.1.1 Khắc hoạ nhân vật qua ngoại hình 84

3.1.2 Ngôn ngữ nhân vật 90

3.2 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật 94

3.2.1 Người kể chuyện 94

3.2.2 Điểm nhìn trần thuật 103

3.3 Ngôn ngữ trần thuật 109

3.3.1 Ngôn ngữ có tính hiện thực 110

3.3.2 Ngôn ngữ dung tục, đời thường 114

3.3.3 Ngôn ngữ giàu chất thơ 118

3.3.4 Ngôn ngữ đậm chất triết lí 122

3.3.5 Ngôn ngữ ma mị, ám ảnh 126

KẾT LUẬN 131

TÀI LIỆU THAM KHẢO 133

Trang 7

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Chiến tranh là một địa hạt văn chương khá màu mỡ, thu hút nhiều cây bút tài năng Trong chiến tranh chống Pháp, chống Mỹ, chúng ta đã thấy một số lượng tác phẩm hùng hậu, mang chiều sâu về nội dung Văn học đã làm tròn sứ mệnh thiêng liêng của mình trở thành vũ khí đắc lực trong cuộc chiến với kẻ thù Phần lớn các tác phẩm đã phản chiếu trung thành những năm tháng hào hùng của dân tộc, xây dựng những hình tượng đẹp đẽ về đất nước và nhân dân anh hùng

Khi hoà bình lập lại, văn học viết về chiến tranh vẫn có một chỗ đứng riêng với những cách tân về tư duy nghệ thuật Đất nước bước vào thời bình, các nhà văn

đã có một độ lùi nhất định để nhìn nhận chiến tranh một cách bình tĩnh hơn, sâu lắng hơn và phản ánh vấn đề toàn diện hơn Các tác phẩm viết về chiến tranh ở thời

kì này đã có những tìm tòi, đổi mới về nội dung tư tưởng, quan niệm về thể loại và đổi mới về “kĩ thuật”, có những đóng góp quan trọng vào công cuộc đổi mới văn học nước nhà Chính vì vậy, những năm gần đây, văn chương viết về đề tài chiến tranh có khá nhiều thành tựu, là khu vực đặc biệt thú vị và đầy hứa hẹn, bắt kịp với

trình độ của văn học đương đại trên thế giới

Cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở vùng biên giới Tây Nam (1975 – 1979) có

ý nghĩa lịch sử quan trọng Mỗi người lính ra trận không chỉ có nhiệm vụ bảo vệ biên giới của Tổ quốc mà còn gánh trên vai nghĩa vụ quốc tế cao cả Thế nhưng, trong cuộc chiến ấy, bao nhiêu người lính đã ngã xuống, bao nhiêu những đau thương vây bủa ngay cả khi những người còn sống được trở về Hiện thực ấy đã được thể hiện một cách chân thực qua văn học, dù mới chỉ là một “mảnh đất nhỏ”

với những tác phẩm như Dòng sông Xô Nét của Nguyễn Trí Huân, Không phải trò

đùa của Khuất Quang Thuỵ, Khoảng rừng có những ngôi sao và Ngôi chùa ở Pratthana của Văn Lê, Bên dòng sông mê của Bùi Thanh Minh, Mùa xa nhà của

Nguyễn Thành Nhân, Hồi ức lính của Vũ Công Chiến,…Có thể thấy, chiến tranh

biên giới Tây Nam đã lùi xa hơn 40 năm, nhưng những kí ức về cuộc chiến đấu vì nhiệm vụ quốc tế cao cả ấy vẫn còn là nỗi trăn trở của nhiều cây bút hiện đại Một

số tác phẩm viết về chiến tranh ra đời như một “món nợ” với đồng đội, với những

Trang 8

người đã ngã xuống Món nợ văn chương được các nhà văn bù lấp bằng những tác

phẩm có “tâm” và có “tầm” với lối tư duy nghệ thuật hiện đại Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn là những tác phẩm như

thế Chân thực, sâu sắc, toàn diện, thấm thía, cảm xúc,…hai tác giả không chỉ mang đến cái nhìn về hiện thực chiến tranh, mà hơn hết mỗi trang văn đều được hình thành từ cái tâm và lương tri của người lính - những lính hoàn thành nhiệm vụ thiêng liêng từ chiến trường K năm ấy và bây giờ, họ dành những trang văn đẹp đẽ nhất viết về đồng đội mình, về chiến tranh, …từ cái nhìn của một người trong cuộc Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn là hai cây bút tài năng của văn học Việt Nam hiện đại Họ viết văn bằng ý thức nghề nghiệp của mình Nhưng điều đặc biệt

họ từng là người lính, họ từng trực tiếp tham gia chiến đấu, họ từng dấn thân trên chiến trường nước bạn, gánh trên vai nhiệm vụ chiến đấu thiêng liêng Họ cầm bút cũng là khi “Hàng vạn đồng đội của họ đã chết để họ được sống và kể lại câu chuyện của thế hệ mình”, họ là những người “được chọn” để viết về đồng đội của mình và viết để “trả nợ” đồng đội 40 năm qua đi, những kí ức về chiến tranh, về đồng đội…vẫn vẹn nguyên và thôi thúc những người lính – nhà văn ấy cầm bút trong một thực tại hoàn toàn khác Tài năng, lương tri của người lính kết hợp với những cách tân mới mẻ về nghệ thuật đã giúp Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn viết một cách chân thực nhất, thấm thía nhất về chiến tranh biên giới Tây Nam

Nghiên cứu, tìm hiểu chủ đề chiến tranh trong hai tác phẩm Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn, một mặt khai thác

những mảng hiện thực đa bộn, nhiều chiều về chiến tranh biên giới Tây Nam nói riêng và đề tài chiến tranh nói chung, mặt khác thấy được sự độc đáo, mới lạ trong những cách tân nghệ thuật, những “kĩ thuật” khai thác hiện thực chiến tranh rất hiệu quả của Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn Qua đó khẳng định sự phát triển của văn học chiến tranh với những cách tân đáng chú ý, bắt kịp với trình độ đương đại

của văn học thế giới Đó là lí do chúng tôi lựa chọn đề tài “Hiện thực chiến tranh

trong Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn

Tuấn” để thực hiện

Trang 9

2 Lịch sử vấn đề

Miền hoang ra mắt bạn đọc vào năm 2014, sau đó được Nhà xuất bản Trẻ in

thành sách cùng tên Đây là cuốn tiểu thuyết đầu tiên của tác giả Cuốn tiểu thuyết đoạt giải Sách hay năm 2015 và được nhiều nhà nghiên cứu, phê bình văn học, nhà văn, nhà báo quan tâm giới thiệu, phân tích, bình luận

Trong buổi toạ đàm Nhà văn Sương Nguyệt Minh với tiểu thuyết „Miền hoang‟

được tổ chức vào ngày 17/12/2014 tại Đại học Văn hoá Hà Nội, nhiều nhà nghiên

cứu phê bình đã bày tỏ ý kiến nhận định về tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh Nhà phê bình văn học Phạm Xuân Nguyên nhận định Miền hoang là

cuốn tiểu thuyết được viết tâm huyết, công phu, độc đáo về cuộc chiến tranh bảo vệ

biên giới Tây Nam và cuộc chiến ở chiến trường Campuchia… Cuộc chiến Miền

hoang là cuộc chiến giữa văn minh và bạo tàn, chỉ có cuộc lạc rừng loanh quanh của

4 người mà viết được hơn 600 trang, đọc vẫn bất ngờ, cuốn hút, hấp dẫn Nguyễn

Văn Thọ đánh giá cao sự “khôn ngoan” của tác giả Miền hoang trong việc lựa chọn

ngôi kể, quy chiếu được nhiều góc nhìn, điểm nhìn, nhờ đó nội dung câu chuyện được kể thoải mái hơn, thật hơn, khách quan hơn Đỗ Bích Thuý cũng nhận xét thấu

đáo về tác phẩm Miền hoang Theo nhà văn, sở trường giỏi nhất về truyện ngắn của

Sương Nguyệt Minh lại một lần nữa được thể hiện trong tác phẩm, đặc biệt là các chi

tiết Chi tiết trong Miền hoang kĩ lưỡng, sắc nét, và chị cho rằng, với Miền hoang,

Sương Nguyệt Minh thêm một lần nữa khẳng định tên tuổi ở thể loại tiểu thuyết

Đặc biệt, nhà phê bình Lã Nguyên có bài biết công phu về tác phẩm Miền

hoang của Sương Nguyệt Minh Trong đó, ông đánh giá cao tác giả, tác phẩm:“Đặt bên cạnh những tập truyện ngắn trước kia của ông, thấy „Miền hoang‟ vẫn nằm trong văn mạch của một cây bút đã định hình phong cách”; “Tôi cho rằng điểm mới lạ, độc sáng trong thiên tiểu thuyết này là nghệ thuật chuyển đổi điểm nhìn trần thuật”; “Sẽ không tìm thấy trong văn xuôi Việt Nam hiện nay một tiểu thuyết thứ hai có hệ thống nhân vật người kể chuyện được dụng công xây dựng như vậy” [55]

Còn Lê Minh Quốc, nhà văn, nhà thơ, đồng đội của Sương Nguyệt Minh thời

ở chiến trường K đã dành những lời chia sẻ: “Miền hoang của nhà văn Sương

Nguyệt Minh là cuốn tiểu thuyết…viết chân thành Sự việc tàn khốc, bi thảm và hào hùng từ chất liệu vốn có Hãy đọc Nên đọc” [70]

Trang 10

Nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ đánh giá cao nghệ thuật tự sự của Miền hoang khi cho

rằng, tuy là lần đầu tiên viết tiểu thuyết nhưng Sương Nguyệt Minh đã trổ hết những

“ngón nghề” về thể loại Cả nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ và nhà phê bình Nguyễn Chí

Hoan đều cho rằng tác giả Miền hoang “khôn ngoan” khi dùng những bản tin thông

tấn ngắn gọn làm đề từ như một sự hỗn dung thể loại: văn chương - báo chí, tiểu thuyết tư liệu - tiểu thuyết phiêu lưu; bản thân những bản tin đã có sức khơi tạo được không khí, bối cảnh của sự kiện, tiết kiệm được công sức của nhà văn

Nhà báo Việt Quỳnh (báo Thể thao Văn hoá) trong bài viết Nhà văn Sương

Nguyệt Minh: Tiểu thuyết từ ám ảnh của người lính lạc rừng cho rằng: “Cảm hứng để viết cuốn tiểu thuyết định mệnh này, có lẽ bắt nguồn từ những ám ảnh ký ức của nhà văn, khi từng là „người lính lạc rừng lang thang đói khát, mặt quắt như ngón tay chéo

ở những cánh rừng Campuchia‟ như tác giả đã chia sẻ Những mảnh vụn còn sót lại trong trí nhớ lúc thể hiện, lúc mờ nhạt qua từng trang viết tạo nên một thế giới nội tâm đầy ấm ức Trải nghiệm lạ thường trong dòng chảy cảm giác và cảm xúc được kể lại bằng chất văn mềm mại, bình dị, pha cả trong sáng ngây thơ” [74]

Có thể nói, khi ra đời tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh nhận

được khá nhiều ý kiến của các nhà phê bình, nghiên cứu văn học Qua đó người đọc dần dần khám phá những nét đặc sắc trong tác phẩm của Sương Nguyệt Minh nói

chung và tiểu thuyết Miền hoang nói riêng

Mùa chinh chiến ấy là cuốn sách đầu tay của Đoàn Tuấn Ngày 22/7/2017,

hơn 330 cựu binh thuộc thuộc tiểu đoàn 8, Trung đoàn 29, Sư đoàn 307 tham gia chiến đấu trên chiến trường Campuchia đã có buổi gặp mặt kỉ niệm 40 năm ngày nhập ngũ tại Đà Nẵng Cũng trong dịp này, nhà văn Đoàn Tuấn đã ra mắt và tặng

hơn 300 cuốn sách Mùa chinh chiến ấy cho đồng đội mình

Trong lời đề tựa ra mắt cuốn sách Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn, Xuân

Thân đã trích dẫn lời nhận xét của nhà thơ - nhà báo Lê Minh Quốc, cựu binh Đại đội

7, Tiểu đoàn 8, Trung đoàn 29, Sư 307: “Với tư cách người lính từng cầm súng chiến đấu và sống những năm tháng thanh xuân thơ dại trên quê hương Chùa Tháp, tôi dám

nói rằng…hồi ức chiến binh Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn là một trong những

tập bút ký xuất sắc nhất, có vị trí quan trọng trong các tác phẩm viết về chiến sĩ quân

Trang 11

tình nguyện Việt Nam” Đồng thời, cũng trong bài viết, Xuân Thân cho rằng: “ Có

thể xem Mùa chinh chiến ấy như những thước phim về một giai đoạn lịch sử của đất

nước được nhìn dưới con mắt của một người lính ở tầng thấp nhất”, là “hồi ức một thời của tác giả, cũng như những đồng đội của mình, ông đã có khoảng thời gian rất dài để chiêm nghiệm về những gì đã qua Dù vẫn còn đó những ám ảnh về mất mát,

hi sinh nhưng những người lính cũng đã thanh thản và nhẹ nhàng hơn, đã có thể nhìn được đằng sau những ngày tháng khốc liệt ấy là tình người, là những giá trị cuộc sống

mà chỉ khi trải qua những ngày tháng gian nan của cận kề cái chết họ mới hiểu hết

được” Đó cũng là lí do mà cựu binh Hiền Nhân nhận xét: “Mùa chinh chiến ấy…ngỡ

như một giấc mơ khốc liệt mà tuyệt đẹp” [ 82]

Tác giả Nguyễn Văn Hùng trong bài viết „Mùa chinh chiến‟ ấy và khúc tráng

ca người lính đã có những chia sẻ: “Bằng sự nhạy cảm và điềm tĩnh trước mọi tình

huống cùng khả năng quan sát tinh tường, ghi chép tỉ mỉ - những tố chất sẵn có của một người lính thông tin, Đoàn Tuấn đã tái hiện “mùa chinh chiến” nơi biên giới Tây Nam trong những năm 1978 - 1983 khốc liệt mà tuyệt đẹp, lôi cuốn và giàu sức

ám gợi Gương mặt chiến tranh hiện lên hào hùng nhưng không kém phần khắc nghiệt… Ở đó, sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong nháy mắt; nơi mỗi phum làng được giải phóng, từng giây từng phút bình yên của người dân đều phải trả giá bằng xương máu của quân tình nguyện Việt Nam Có sự hi sinh anh dũng, đẹp đẽ, rạng ngời nhưng cũng có cái chết tức tưởi, nghẹn uất, phi lí Chiến tranh là vậy, và Đoàn Tuấn đã không né tránh mảng hiện thực gai góc, trần trụi, nghiệt ngã đến tận

cùng ấy” Với Mùa chinh chiến ấy, Đoàn Tuấn trở thành người thư kí trung thành

của thời đại anh, nói về thế hệ mình - tiếng nói được cất lên từ lương tâm người lính, từ ý thức trách nhiệm của một con người Tác phẩm vang lên như một khúc tráng ca để thế hệ của anh tự hào, kiêu hãnh về những năm tháng đã sống, chiến đấu

và hi sinh một phần tuổi thanh xuân Nó còn là một khúc nguyện cầu an ủi, xoa dịu, hoá giải cho những thiệt thòi, mất mát, đau thương của các linh hồn đã khuất Lắng nghe và nghiệm suy tiếng nói, người đọc hôm nay sẽ nhận diện được gương mặt lịch sử, thấu hiểu, đồng cảm với những đau thương và vinh quang, nhọc nhằn và kiêu hãnh của một thế hệ, để nhắc nhở trách nhiệm với Tổ quốc và gia đình” [31]

Trang 12

Phạm Quang Long trong bài viết Mùa chinh chiến ấy – những trang sách được

viết ra từ chiến hào đã đánh giá “Mùa chinh chiến ấy là hồi ký nhưng hấp dẫn và giàu chất truyện như một cuốn tiểu thuyết” [43] Còn PGS.TS Phạm Xuân Thạch

khi trả lời phỏng vấn của tạp chí Văn nghệ quân đội, đã cho rằng Mùa chinh chiến

ấy là một tập xuất sắc về một cuộc chiến qua cái nhìn của người lính

Điểm qua các bài viết về Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn, có thể thấy phần

lớn là các bài giới thiệu, điểm sách, chưa đi sâu vào khai thác tư tưởng, thẩm mĩ đặc sắc của tác phẩm

Trên tinh thần kế thừa người đi trước, với đề tài Hiện thực chiến tranh trong

„Miền hoang‟ của Sương Nguyệt Minh và „Mùa chinh chiến ấy‟ của Đoàn Tuấn,

luận văn tập trung khai thác hiện thực chiến tranh biên giới Tây Nam qua hai tác phẩm trên, đồng thời khám phá những phương thức phản ánh hiện thực mới mẻ ở hai tác phẩm, từ đó người đọc có cái nhìn chân thực nhất về chiến tranh cũng như

sự đổi mới và phát triển của văn học chiến tranh ở thể kỉ XXI

3 Đối tƣợng, mục đích, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề hiện thực chiến tranh trong văn

xuôi Việt Nam đương đại, cụ thể qua hai tác phẩm Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn Lựa chọn hai tác phẩm tiêu biểu của

văn xuôi đương đại viết về đề tài chiến tranh, người viết hướng tới hiện thực chiến tranh, đặc biệt là chiến tranh biên giới Tây Nam và phương thức phản hiện thực chiến tranh của văn xuôi Việt Nam hiện đại từ đó có cái nhìn sâu sắc, toàn diện nhất

về chiến tranh cũng như góp phần khẳng định tài năng của các nhà văn hiện đại như Sương Nguyệt Minh, Đoàn Tuấn,…trên địa hạt văn chương đương đại

3.2 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu đặc trưng thi pháp của hai tác phẩm Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn để thấy được sự vận động và cách tân

của văn xuôi viết về đề tài chiến tranh hiện nay

Từ đó luận văn khẳng định vai trò, vị trí và những đóng góp của Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn vào thành tựu của văn xuôi chiến tranh cùng tiến trình hiện đại hoá tiểu thuyết Việt Nam đương đại

Trang 13

3.3 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn khảo sát hai tiểu thuyết Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và

Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn Hai tác phẩm có một điểm chung là đều viết về

chiến tranh biên giới Tây Nam Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn đã viết bằng tâm thế của người trực tiếp tham gia chiến đấu Chính vì vậy, khi nghiên cứu hai tác phẩm, người viết có thể có một cách nhìn khái quát hơn, chân thực hơn về cuộc chiến đã qua đi

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp lịch sử - xã hội: Tác phẩm Miền hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn ra đời gắn với hoàn cảnh lịch sử đặc

biệt – cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Chính vì vậy, sử dụng phương pháp lịch

sử - xã hội sẽ là một phương pháp hiệu quả khi khai thác hiện thực chiến tranh trong hai tác phẩm

- Phương pháp tiếp cận thi pháp học là phương pháp cần thiết trong quá trình nghiên cứu Ở chương 2 của luận văn, người viết tập trung khai thác phương thức nghệ thuật của hai tác phẩm trong việc phản ánh hiện thực chiến tranh Phương pháp tiếp cận thi pháp học sẽ là chìa khóa giúp người viết vận dụng thi pháp học vào tìm hiểu tác phẩm văn chương

- Ngoài ra, trong luận văn người viết còn dùng các phương pháp khác như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê; phương pháp tự sự học

5 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1 Văn học về đề tài chiến tranh sau 1975 và sáng tác của Sương Nguyệt Minh, Đoàn Tuấn

Chương 2 Hiện thực chiến tranh biên giới Tây Nam trong Miền hoang và

Mùa chinh chiến ấy

Chương 3 Miền hoang và Mùa chinh chiến ấy nhìn từ phương diện nghệ thuật

biểu hiện

Trang 14

Chương 1 VĂN HỌC VỀ ĐỀ TÀI CHIẾN TRANH SAU 1975 VÀ SÁNG TÁC CỦA

SƯƠNG NGUYỆT MINH, ĐOÀN TUẤN 1.1 Văn học về đề tài chiến tranh sau 1975

1.1.1 Cơ sở của việc phản ánh hiện thực chiến tranh

Sau năm 1975, cuộc kháng chiến 20 năm kết thúc, đất nước hoàn toàn giải phóng nhưng đồng thời cũng phải đối diện với muôn vàn khó khăn thử thách Một mặt chúng ta vừa phải gánh chịu những hậu quả nặng nề của chiến tranh, vừa phải đối mặt với muôn vàn những khó khăn, thử thách trong công cuộc dựng xây đất nước Nhân dân ta vừa hàn gắn vết thương do chiến tranh, vừa dựng xây đất nước trong sự hoang tàn, xơ xác, vừa phải giải quyết những vấn đề của thời hậu chiến Mặt khác, không bao lâu sau, chiến tranh biên giới phía Bắc và biên giới Tây Nam lại nổ ra, dân tộc lại gồng mình lên đường chiến đấu để bảo vệ chủ quyền, lãnh thổ Nhận biết tình hình, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhanh chóng đề ra những chủ trương, đường lối phát triển đất nước phù hợp với thực tiễn Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI với phương châm “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ

sự thật” phù hợp với xu thế phát triển của đất nước lúc bấy giờ

Những đặc điểm về hoàn cảnh xã hội tác động không nhỏ đến văn học, làm thay đổi diện mạo của nền văn học sau năm 1975 Văn học viết về chiến tranh có sự chuyển mình đáng kể, mở ra một thời kì mới cho sáng tác văn học trong yêu cầu tái tạo thời kì lịch sử hiện nay

Sau năm 1975, văn học viết về chiến tranh có những chuyển động đáng chú

ý Trong đó phải kể đến sự thay đổi về chủ thể sáng tạo Văn học từ 1975 đến nay

đã có một đội ngũ sáng tác trải nghiệm đi từ thời chiến bước vào thời Đổi mới với bao va đập qua những bước ngoặt lịch sử Nhà văn viết về chiến tranh là những người trực tiếp cầm súng chiến đấu Họ viết về mình, về thế hệ mình, về những vinh quang thăng trầm quá khứ một cách chân thực và sâu sắc Họ đã đem vào trong văn xuôi về chiến tranh những trải nghiệm từ chiến hào của cá nhân mình và của thế hệ mình Hơn ai hết, họ hiểu về hiện thực khốc liệt của chiến tranh, hiểu về sự hi sinh lớn lao và nghĩa tình của đồng bào, đồng chí Và họ viết bằng tất cả cảm xúc chân

Trang 15

thật của mình, viết bằng trái tim, viết bằng sự tri ân đối với những người đồng đội còn nằm lại chiến trường Những trang viết vì thế mà ấm nóng, những trang viết vì thế mà phản ánh một cách chân thực nhất về sự dữ dội của chiến tranh và những tình cảm thiêng liêng, sâu sắc của tình đồng chí, tình quân dân…trong những năm

tháng khốc liệt ấy Nói như Sương Nguyệt Minh: “Viết bằng tâm thế người can dự

trong cuộc đi suốt cuộc chiến tranh với nỗi phấp phỏng băn khoăn giày vò, chứ không viết vằng thứ tình cảm đi xem người ta đánh nhau rồi sáng tác, cũng không viết như mấy ông nhà văn ngồi ở Hà Nội tưởng tượng về chiến tranh sáng tác như

vẽ rắn thêm chân và viết nhăng cuội” [ 52, tr 231]

Mặt khác, văn học sau 1975 tiếp tục mở rộng phạm vi phản ánh hiện thực chiến tranh Các tác phẩm viết về chiến tranh không chỉ dừng lại ở hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, đường biên chiến tranh được mở rộng khi các nhà văn hướng đến khai thác cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và chiến tranh biên giới phía Bắc Tuy số lượng tác phẩm viết về chiến tranh biên giới ít hơn so với tác phẩm viết về hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ nhưng những tác phẩm này đã thể hiện sự trải nghiệm sâu sắc của người cầm bút, họ viết về chiến tranh bằng những day dứt, trăn trở, bằng những nếm trải của người “người trong cuộc”, bởi thế những trang văn của họ chân thực và thấm thía Không ít tác phẩm để lại ấn tượng sâu đậm trong lòng người đọc bởi chất hiện thực ngồn ngộn, tươi ròng

cùng cái nhìn mới về hiện thực chiến tranh và chân dung người lính như Dòng sông

Xô Nét của Nguyễn Trí Huân, Không phải trò đùa của Khuất Quang Thụy, Khoảng rừng có những ngôi sao và Ngôi chùa ở Pratthana của Văn Lê, Lính Hà (Nguyễn

Ngọc Tiến), Mùa chinh chiến ấy (Đoàn Tuấn), Hồi ức lính (Vũ Công Chiến),…Trong đó, theo Sương Nguyệt Minh, có thể xem Dòng sông Xô Nét của

Nguyễn Trí Huân viết năm 1980 là tiểu thuyết đầu tiên viết về chiến tranh biên giới Tây Nam Có thể nói, đây chính là một dòng văn học dù ít, dù nhiều đã góp phần tái hiện lại những năm tháng gian nan trong cuộc chiến đấu ở “đất bên ngoài Tổ quốc”

Ở giai đoạn này, các nhà văn cũng có nhu cầu nhận thực lại hiện thực chiến tranh và viết về chiến tranh với cảm quan mới Nếu như trước 1975, hiện thực chiến tranh chủ yếu được soi rọi bằng cái nhìn sử thi, hào hùng và cảm hứng lạc quan lãng

Trang 16

mạn thì đến nay, văn học viết về chiến tranh đã có sự đổi mới rõ rệt trên phương diện tiếp cận, miêu tả và phản ánh hiện thực Trong các trang viết về chiến tranh đã bắt đầu xuất hiện cái nhìn đa chiều, trần trụi hơn ở nhiều góc độ: bi tráng, khốc liệt; đời tư, thế sự, nhân văn; văn hóa, tâm linh Các tác phẩm viết về chiến tranh đã không còn né tránh hiện thực, mặt khác các nhà văn đã tái hiện hiện thực chiến tranh với tất cả sự khốc liệt, những tổn thất, hi sinh nặng nề của nó Hiện thực ấy không chỉ là những ngày tháng nơi trận mạc, mà nó còn tiếp tục đeo bám người lính khi chiến tranh kết thúc và mang đến cho người đọc cảm nhận chân thực nhất về hệ lụy của chiến tranh Có thể thấy, văn học đã nhìn thẳng vào hiện thực chiến tranh bằng những trải nhiệm và cái nhìn cá nhân, tái hiện lại cái chiều kích đau thương và

bộ mặt tàn khốc không thể quy giản của chiến tranh, nói lên tiếng nói cảnh báo về những hiểm hoạ của chiến tranh để lại trong thời hậu chiến Văn học đương đại Việt Nam về chiến tranh thiên về khai phá những mặt còn khuất lấp, những vấn đề đời tư

- thế sự, hướng đến cuộc sống đa trị và qua đó thể hiện cảm quan của nhà văn Hiện thực chiến tranh được tiếp cận, giải mã không đơn điệu, một chiều mà phức tạp, đa dạng; hình tượng con người được miêu tả trong cái nhìn đa chiều, phong phú

Bên cạnh việc nhận thức lại hiện thực, văn học viết về chiến tranh sau 1975 còn hướng tới thân phận của từng con người trong cuộc chiến ác liệt chống lại kẻ thù Các tác phẩm văn học chiến tranh viết về những số phận bi thảm, những con người mang trong mình những vết thương về hình hài, thân xác, về tâm hồn Những vết thương ấy không chỉ hiện hình trong chiến tranh mà thậm chí ngay cả khi người lính đã trở về, nỗi đau vẫn không hề nguôi ngoai Hình tượng con người được miêu

tả trong cái nhìn đa chiều, phong phú Hàng loạt kiểu con người mới nghiêng về tính chất đời tư, thế sự, cá nhân, thân phận lần lượt được miêu tả Tất cả đã khắc

họa đậm nét hệ lụy của chiến tranh và bi kịch của con người thời hậu chiến Nhà phê bình Tôn Phương Lan đã nhận xét: “Văn học viết về đề tài chiến tranh trong

những năm chiến tranh ít nói về buồn vui của cuộc sống thường nhật, ít nói về những đau thương, mất mát, hi sinh trên chiến trường, ít quan tâm đến số phận con người mà tập trung đến số phận đất nước Sau chiến tranh, văn học viết về đề tài này mới có xu hướng viết về sự thật của đời sống, viết về những khó khăn ác liệt,

Trang 17

sau lầm, vấp ngã, thiếu sót của người lính trong chiến tranh cũng như trước sự cám

dỗ của cuộc sống đời thường” [39] Hiện thực chiến tranh được nhìn nhận qua thế

giới nội tâm, những số phận cá nhân con người Tiếp cận chiến tranh từ bên dưới, từ những số phận, những mảnh đời…nhà văn có điều kiện nhìn con người tham gia chiến tranh từ hai phía và lí giải chiến tranh trên nguyên tắc nhân bản

Văn học sau 1975 có những cách tân đáng kể về mặt nghệ thuật Trước tiên

là ở điểm nhìn trần thuật, các nhà văn đã sử dụng khá linh hoạt các điểm nhìn Sự gia tăng điểm nhìn, dịch chuyển điểm nhìn linh hoạt trong nghệ thuật trần thuật đã tạo ra hiệu quả nghệ thuật phong phú cho tiểu thuyết viết về chiến tranh, bộ mặt chiến tranh hiện lên một cách khách quan và toàn vẹn hơn Mặt khác, văn học thời

kì này cũng có sự đổi mới về ngôn ngữ, giọng điệu và nghệ thuật xây dựng nhân vật Những cách tân về nghệ thuật tạo ra những góc nhìn đa chiều về chiến tranh, góp phần làm thay đổi diện mạo của văn học sau năm 1975

Có thể thấy, khi chiến tranh kết thúc, văn học có “độ lùi” cần thiết để viết về chiến tranh, đánh giá và nhìn nhận lại chiến tranh một cách toàn diện hơn Đó cũng

chính là lí do khiến chiến tranh trở thành “siêu đề tài, người lính trở thành siêu

nhân vật, càng khám phá càng thấy những độ rung không mòn nhẵn”[37]

1.1.2 Hiện thực chiến tranh với những hướng tiếp cận mới

Viết về chiến tranh, văn học đương đại Việt Nam đã có những dịch chuyển

về góc nhìn nghệ thuật Nếu như trước năm 1975, hiện thực chiến tranh chủ yếu được soi rọi bằng cái nhìn sử thi, hào hùng và cảm hứng lạc quan, lãng mạn; đến nay mặc dù cái nhìn và cảm hứng sử thi ấy vẫn được duy trì trong những trang viết

về chiến tranh, song đã bắt đầu xuất hiện cái nhìn đa chiều, trần trụi hơn ở những góc độ: đời tư, thế sự và văn hóa, tâm linh Những góc nhìn này khiến cho hiện thực chiến tranh trở nên chân thực hơn, sâu sắc hơn, khai thác được bề sâu, bề xa và bề

sau của mỗi cuộc chiến, đặc biệt là chiến tranh biên giới Tây Nam

1.1.2.1 Hiện thực chiến trường qua góc nhìn đời tư, thế sự

Sau năm 1975, văn học bắt đầu có sự chuyển mình, từ cảm hứng sử thi sang cảm hứng thế sự, đời tư Ở giai đoạn này, văn học không còn ngợi ca mà chuyển sang chiêm nghiệm, phê phán, lấy vấn đề của cuộc sống hàng ngày, bình thường

Trang 18

của con người bình thường làm đối tượng khám phá Chất hiện thực đời thường theo khuynh hướng đời tư, thế sự được khai thác nhiều hơn Chính vì vậy, chiến tranh được nhìn nhận đánh giá lại một cách đầy đủ và nghiêm túc Trong lịch sử dân tộc, hiện thực chiến tranh là hiện thực hào hùng với những trang sử vẻ vang, với những bản anh hùng ca cách mạng Nhưng bên trong hiện thực ấy chất chứa cả những nỗi đau, những mất mát, những giằng xé nội tâm và thậm chí cả những xấu

xa, thấp hèn trong mỗi người lính Văn học đương đại Việt Nam viết về chiến tranh thiên về khai phá những mặt còn khuất lấp, những vấn đề đời tư - thế sự, qua đó thể hiện cảm quan của nhà văn Các tác giả văn học đương đại đã chú ý nhiều hơn đến cái gọi là “đời” mà trước đây ít nói đến Họ viết về chiến tranh bằng sự giày vò, day dứt của những người trong cuộc, của những người đi qua chiến thắng và may mắn sống sót, nên hơn ai hết họ hiểu rõ về chiến tranh Những tác phẩm của họ là một quá trình tìm tòi, trăn trở về chiến tranh, về số phận con người Chính vì vậy hàng loạt tác phẩm trong giai đoạn này không đơn giản là những bức tranh về chiến tranh đầy ắp sự kiện mà chiến tranh chỉ làm “bức phông” để các nhà văn khai thác số phận con người trong nỗi đau nhân bản nhất

Điểm chung trong Miền hoang và Mùa chinh chiến ấy là cả hai nhà văn đều

tiếp cận, miêu tả hiện thực cuộc sống qua góc nhìn đời tư, thế sự Phía sau mỗi trận đánh là cuộc sống sinh hoạt bình dị nhưng không kém phần sôi nổi, vui vẻ Đó là những bữa cơm trắng nuốt không trôi, những đêm tát suối nhớ đời hay lần đầu được chén thịt voi…Đó là những hình ảnh rất bình dị thuộc về cuộc sống, là những trải nghiệm của lính tráng ở nơi đất bạn tuy vất vả nhưng không kém phần thú vị Người lính đã hòa mình vào sinh hoạt cộng đồng của người dân Họ cùng ăn một bữa cơm, uống cùng bình rượu, cùng nhau nhảy múa hát ca, trong tình quân dân ấm áp Họ xúc động trước một tiếng hát ngọt ngào, vỡ òa cảm xúc trong thanh âm tiếng Việt trong trẻo, họ trân trọng từng nét đẹp văn hóa của nhân dân Campuchia Cuộc sống của họ trở nên tươi mới như suối nguồn tươi trẻ, giảm đi phần nào sự khốc liệt và

dữ dội của chiến tranh Các tác giả không chỉ dựng lại bức tranh sinh hoạt thời chiến mà còn cho người đọc thấy được tinh thần lạc quan, yêu đời của những người lính trẻ chiến đấu trên mảnh đất không phải quê hương

Trang 19

Mặt khác, Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn thiên về khai thác những mặt còn khuất lấp, đặc biệt là những tâm tư, cảm xúc rất chân thực của người lính Trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn, người lính không phải là những người truyền bá lí tưởng, ngược lại họ là những con người rất đỗi bình thường Bởi thế, họ được khắc họa với những suy tư, khao khát, ước mơ, với những xúc cảm rất chân thực trong đời sống nội tâm phức tạp, nhiều chiều Đó là khoảnh khắc sau những ngày tháng khô hạn, thiếu nước, người lính hạnh phúc khi được dầm dưới cơn mưa rào để cơ thể như được tái sinh Đó là niềm vui khi nghe giai điệu quen thuộc từ đài phát thanh Campuchia và nghiêng ngả hát theo Đó là giây phút hạnh phúc khi được nhận thư nhà và sẻ chia cùng đồng đội Đó là những nỗi nhớ miên man về gia đình, về người yêu thương, … Thậm chí cả những sợ hãi, bất lực hay tuyệt vọng trong hoàn cảnh khốc liệt nhất Có thể nói, trên trang viết của nhà văn, người lính đã sống với những cảm xúc thành thật, riêng tư nhất Họ suy ngẫm về cuộc chiến với tất cả những bi hùng, họ ước ao được trở về quê hương, gia đình, được ăn bữa cơm mẹ nấu, được sống một cuộc sống bình yên Trong những câu chuyện của người lính chiến đấu nơi đất bạn, khát khao được trở về đất nước luôn thôi thúc họ Không phải họ là những kẻ hèn yếu, không phải họ quên đi nghĩa

vụ quốc tế thiêng liêng, không phải họ không dám vượt qua những khó khăn thử thách mà thực ra phía sau họ là quê hương, là gia đình Khát khao ấy cũng là dễ hiểu với những chàng trai trẻ tuổi phải đối diện với muôn ngàn khó khăn, thử thách, hiểm nguy trên đất bạn Tuy nhiên, ước mơ khát khao ấy không khiến họ thoái lui,

bỏ cuộc, hàng ngày họ vẫn đấu tranh để bảo vệ từng tất đất, đánh đuổi kẻ thù, họ

vẫn gánh trên vai trách nhiệm thiêng liêng bởi: “tất cả mọi người lính Việt Nam ai

cũng muốn trở về nhà thì bọn Pol Pot quay trở lại Phnom Pênh ngay Người Khmer

sẽ sống ra sao với bọn man rợ ấy Bỏ thì thương, vương thì tội Bỏ cuộc chiến đồng nghĩa với trắng tay” [ 52, tr 231] Có thể nói, Sương Nguyệt Minh và Đoàn

Tuấn đã chạm vào phần sâu nhất trong mỗi người lính, khiến trang viết của họ lấp lánh giá trị nhân bản trong cuộc chiến tranh khốc liệt nơi chiến trường K

Soi chiếu chiến tranh dưới góc nhìn đời tư, Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn không giấu giếm những chuyện thầm kín riêng tư, những góc khuất bản năng

Trang 20

của những người lính trẻ Bởi xét cho cùng, họ đều là những thanh niên, chưa biết đến cảm giác yêu thương từ bạn khác giới, cho đến khi vội vã tham chiến, giữa không gian núi rừng mênh mông rộng lớn, họ khát khao một vòng tay ấm, một cử

chỉ âu yếm, một ánh mắt thân yêu Trong Mùa chinh chiến ấy, Đoàn Tuấn đã khắc

họa khá chân thực cảm xúc của người lính khi nghe tin đoàn văn công đến Không sao giấu nổi sự háo hức ở những chàng trai suốt ngày chỉ quen với súng đạn, họ háo hức, họ phấn đấu, họ chu đáo với những cô gái của đoàn văn công Và khi đoàn văn

công rời đi, họ tiếc nuối ngẩn ngơ giống như những cô gái ấy “như một đám mây, từ

trên trời rơi xuống” Hình ảnh đoàn dân công cũng chính là những khát khao của

tuổi trẻ, là những cảm xúc rất đời, bởi lẽ họ đã “để lại trong lòng lính tráng cái cảm

giác về đời thường, về sự cân bằng âm dương thiết yếu của mọi thứ tạo vật trên đời, không chỉ riêng con người” [96, tr 377] Còn ở Miền hoang, Sương Nguyệt Minh

cũng không cố che giấu những cảm xúc, bản năng của nhân vật Tùng - chàng trai

Hà thành còn rất trẻ Trong một khoảnh khắc đặc biệt, con người bản năng của

Tùng trỗi dậy Vẻ đẹp của cô gái Sa Ly đã cuốn hút anh “Tôi đang sống trong cảm

giác được mơn man khơi gợi, kích thích bản năng tính dục thức dậy trong niềm thích thú đê mê âm thầm” [ 52, tr 280] Có thể nói, chiều sâu tâm hồn của những

người lính ấy đã được Đoàn Tuấn và Sương Nguyệt Minh khắc họa một cách chân thực nhưng cũng không kém phần lãng mạn Họ đã soi chiếu chiến tranh từ góc nhìn đời tư thầm kín của những người lính trẻ, đã khai thác góc khuất nơi bản năng của những chàng thanh niên vừa mới rời ghế nhà trường, từ đó hình tượng người lính trở nên chân thực hơn

Mặt khác, chiến trường K cũng chính là nơi để thử thách, để nhận diện giá trị của mỗi người Trong bối cảnh ác liệt ấy, hình ảnh người lính hiện ra với tất cả các hành vi, tình cảm, nhận thức về nghĩa vụ, trách nhiệm, quan hệ với đồng đội, bạn

bè, sống chết, đúng sai, cao cả và thấp hèn, dũng cảm và hèn nhát, sự thực và dối trá

ở mỗi người lính Khi cuộc chiến ngày càng trở nên khốc liệt, ranh giới giữa sự sống và cái chết vô cùng mong manh, hàng loạt cảnh tượng chết chóc kinh hoàng cứ liên tiếp nối nhau đè nặng lên trí óc người lính khiến tâm hồn của họ chao đảo,

mông lung Trong Miền hoang, không ít lần Tùng gục ngã giữa rừng hoang hiểm

Trang 21

độc để cho sự yếu đuối chế ngự: “Sợ hãi quá! Cực thân quá Bỗng dưng anh ôm

mặt khóc tu tu Khóc mà nước mắt không chảy ra, anh biết tính mạng mình đã đến lúc nguy kịch Chính lúc khóc thảm thiết không ra nước mắt vì cơ thể mất nước ấy cũng chính là lúc lòng anh hoang vắng nhất.” [ 52, tr 243] Chiến tranh, sự chết

chóc làm cho họ trở nên bạc nhược Có những người lính đã tự bắn súng vào đầu mình chỉ vì không vượt qua nổi cơn khát đến chết đi sống lại ở rừng hoang như trường hợp của anh Nguyễn Bá Lan Chiến tranh không chỉ cướp đi tính mạng của những người lính trẻ, chiến tranh để lại dư chấn khủng khiếp trong trái tim, khối óc của họ Đó là hình ảnh của Mạnh - một người lính không có khả năng làm điều ác nhưng đã mất tinh thần chiến đấu, rơi vào tình trạng trầm cảm khi phải chứng kiến cái chết của kẻ bên kia chiến tuyến Quả thực, người lính đã bước vào cuộc chiến và gánh chịu tất cả những mất mát, đau thương do chiến tranh gây ra

Cũng trong góc nhìn đời tư thế sự, hình tượng người lính được khắc họa với

cả những xấu xa, thấp hèn và ích kỉ Bên cạnh những người anh hùng là những kẻ

hèn nhát, cơ hội, gian lận,…Chẳng hạn, trong Mùa chinh chiến ấy, chỉ vì vài nhúm

thuốc rê mà lính đã vô tình làm lộ kế hoạch quân sự Vì không được cấp phép về nhà mà lính sẵn sàng quay lưng bắn vào đồng đội của mình…Thậm chí, chuyện lính đào ngũ cũng được viết đến như một lẽ tự nhiên, một câu chuyện đùa của anh em

lính tráng kiểu: “Ai về thưa với quân khu/ Lính không đào ngũ, lính ngu suốt đời”; hay “Hà chuồn, Nam lủi, Thái Bình bay/ Hải Phòng anh dũng trốn ban ngày/ Hà

Tây về phép không cần giấy/ Thanh Hóa mất mùa xin ở lại/ Nghệ An thấy thế cũng giơ tay” [ 96, tr 261] Và đương nhiên, chuyện đào ngũ không phải là chuyện bông

đùa, nhiều người lính đã bỏ lại chiến trường, đồng đội Lính tráng đào ngũ như

chuyện của Trần Văn Điểm trong Mùa chinh chiến ấy, như Quân “kều” trong Miền

hoang, là chuyện không thiếu Nhưng đến cả tiểu đoàn trưởng - có cấp bậc, có chức

tước cũng đào ngũ thì quả thực người ta không thể nhìn chiến tranh một cách đơn giản Sự lung lạc ý chí, mờ mịt mục tiêu khiến những người lính đi ngược lại chính bản thân mình, khi lí tưởng của họ bị xói mòn và nhân cách tha hóa Với những hành động ấy, người lính được nhìn một cách chân thực hơn, phía sau ánh hào quang của những người anh hùng là những mảng tối ý thức, nhân cách

Trang 22

Có thể thấy, nhân vật người lính không chỉ là những người anh hùng mang

vẻ đẹp lí tưởng, họ còn được xây dựng là những con người bình thường với cả những khát vọng lớn lao và ham muốn thấp hèn, với tất cả những xấu xa, ích kỉ, tha hóa trong cái khốc liệt của chiến tranh Họ không chỉ là những con người lạc quan cách mạng, những con người với lí tưởng lớn lao mà ngược lại, họ được nhìn nhận lại một cách chân thực hơn Họ xuất hiện với tư cách là những con người bình thường với đầy đủ lí tính, tình cảm, ý thức, vô thức…Song với góc nhìn đời tư thế

sự ấy, Đoàn Tuấn và Sương Nguyệt Minh đã mang đến một cách nhìn khách quan, chân thực và đầy chất nhân văn về người lính và hiện thực chiến tranh Tác phẩm của họ vì thế đã bứt phá khỏi lối tự sự truyền thống, tạo ra một lối đi riêng trongviệc phản ánh hiện thực chiến tranh Quả thực, góc nhìn đời tư thế sự góp một phần

không nhỏ vào thành công của Mùa chinh chiến ấy và Miền hoang

1.1.2.2 Hiện thực chiến tranh từ góc nhìn văn hoá, tâm linh

Sau năm 1975, yếu tố tâm linh thâm nhập ngày càng nhiều vào văn học, nhất

là sau Đổi mới (1986), khi dân tộc vừa bước ra khỏi cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại, đang gồng mình khắc phục hậu quả của chiến tranh Trong các tác phẩm của Nguyễn Huy Thiệp, Hồ Anh Thái, Hòa Vang, Nguyễn Xuân Khánh…yếu tố tâm linh trở thành một chất liệu sáng tác mới cho văn học Theo nhà phê bình văn học

Trần Đình Sử: “Tâm linh đã trở lại với văn học, không chỉ có tác dụng miêu tả đời

sống trong phương thức tồn tại tâm linh, mở rộng khái niệm hiện thực do diễn ngôn tâm linh kiến tạo, góp phần kích thích trí tưởng tượng, thích thúc cái kì ảo mà còn nuôi dưỡng tinh thần con người, đi sâu vào những miền mà khoa học chưa thể giải thích mà cũng không nhất thiết đều phải giải thích của đời sống” [78]

Tâm linh là một phần trong đời sống của con người mà văn học phản ánh hiện thực thì điều tất yếu văn học phải gắn liền với yếu tố tâm linh Thiếu yếu tố tâm linh, sự miêu tả trong văn học sẽ thiếu đi sự chân thực Với văn học đương đại, văn hóa tâm linh được khai thác khá thành công trong những trang viết của các nhà văn đương đại Tâm linh được xem như là hiện tượng tự nhiên trong đời sống, nay được dùng làm chất liệu sáng tạo mới, mang lại những chân trời rộng mở cho chủ thể sáng tạo cũng như cộng đồng diễn giải

Trang 23

Nếu giai đoạn trước, văn học viết về đề tài chiến tranh chủ yếu miêu tả “bề nổi” của hiện thực với những sự kiện, biến cố có thể tri giác rõ ràng, thì bây giờ nhằm mở rộng biên độ phản ánh, luận giải hiện thực có chiều sâu, các nhà văn đã quan tâm nhiều hơn đến “phần chìm” tâm linh - mảng hiện thực con người chỉ có thể linh giác, dự cảm

Tiếp cận hiện thực chiến tranh theo góc nhìn văn hóa tâm linh trở thành một hướng đi mới khá độc đáo của các cây bút đương đại viết về chiến tranh Với hướng

đi đó, Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn đã soi rọi, lí giải hiện thực chiến tranh từ cái nhìn văn hóa tâm linh Trong hành trình truy tìm, khám phá “cõi đời”, “cõi người” vô cùng vô tận, hai nhà văn đã thâm nhập vào kí ức và thực tại, cõi dương

và cõi âm, vùng sáng và vùng tối, ý thức và vô thức trong tâm hồn con người Những linh tính, giấc mộng không đầu không cuối, những hiện tượng kì bí, ảo diệu được hai tác giả đưa vào tác phẩm với một “liều lượng” vừa đủ để có thể nhận diện hiện thực và con người một cách toàn diện

Trong Miền hoang, Sương Nguyệt Minh khéo léo xen giữa câu chuyện khắc

nghiệt, tàn bạo của hiện thực chiến tranh và cuộc đấu tranh sinh tồn giữa rừng hoang bằng những huyền thoại kinh dị và đẹp đẽ nhuốm màu huyền ảo Đó có thể là huyền thoại về người rắn - loại sinh vật thường cứu những chàng trai dân chài bị chết đuối nhưng sau đó lại quyến rũ để quan hệ giao hoan cho đến khi họ sức tan lực kiệt mà chết Hoặc các nghi lễ của dân tộc Campuchia được ông ghi chép tỉ mỉ, chọn lọc Cụ thể là nghi lễ “trận trảm” trên thân thể của các cô gái đồng trinh Khi con gái đến tuổi cập kê thì cần được tiến hành làm trận trảm bằng cách người ta dùng ngón tay làm mất đồng trinh người con gái rồi nhúng vào rượu, đem ra chấm vào trán cha mẹ cô gái và hàng xóm Từ sau đêm trận trảm đó, người con gái sẽ ra ngủ phòng ngoài và muốn làm gì với trai thì làm, họ được quyền quyết định những

gì thuộc về thân thể mình Đây được coi là tín ngưỡng dân gian, thể hiện đặc trưng đời sống tâm linh của dân tộc Campuchia

Song ám ảnh nhất, hãi hùng nhất có lẽ chính là hình ảnh Ma Lai: “Ma Lai là

loại ma cổ cao ba ngấn có thể xoay đầu tách khỏi thân xác, rút ruột gan phổi ra ngoài Ban đêm làm ma, nhưng ban ngày Ma Lai là một cô gái sinh sống bình

Trang 24

thường, thậm chí lấy chồng, đẻ con Trong hình dung của mọi người, Ma Lai là một

cô gái eo thon, mông mẩy, ngực nở có vẻ đẹp quyến rũ mê hồn Người ta nói, món

ăn chính ngon lành của Ma Lai là phân và ruột người, ruột động vật Ban ngày, cô gái xinh đẹp nào cứ nhìn soi mói vào bụng mọi người tìm bộ lòng ngon thì cứ coi chừng điều xấu sắp xảy ra” [ 52, tr.61] Huyền thoại về Ma Lai trở đi trở lại trong

trang viết của Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn Bất kì người lính nào cũng biết đến huyền thoại Ma Lai Nó ám ảnh những người lính trong sinh hoạt đời thường, thậm chí câu chuyện hoang đường ấy còn đi vào giấc ngủ khiến họ sợ hãi và với họ

bất kì người gái đẹp nào cũng có thể là Ma Lai Còn với riêng Tùng trong Miền

hoang, hình ảnh Ma Lai cứ trở đi trở lại những lúc anh cô độc, những lúc anh yếu

lòng nhất Có thể nói, câu chuyện về Ma Lai vô cùng kì bí, khiến cho người lính sợ

hãi: “Khiếp thật! Người Khmer có những chuyện bí ẩn rùng rợn và huyễn hoặc còn

quá sức tưởng tượng của cả những nhà văn đường rừng hay kinh dị cao thủ nhất”

[52, tr.210] Huyền thoại về Ma Lai khiến cho hiện thực chiến tranh khốc liệt hơn, dẫn dắt người đọc tìm được bề sâu của chiến tranh với những ám ảnh tinh thần của người lính

Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn cũng không ngại ngần đề cập đến những những điều kiêng kị, những linh tính, những hiện tượng bí ảo không thể giải thích nổi… để đưa người đọc đến một cái nhìn đầy đủ nhất về hiện thực chiến tranh Nói

như Đoàn Tuấn: “Ở chiến trường, lính tráng có nhiều điều mê tín Không có sách nào

ghi lại Nhưng nó đã thành định kiến, thành niềm tin, thành đá tảng „không gì lay chuyển nổi‟ Chẳng hạn, trong đơn vị có hai thằng trùng tên thì thể nào cũng có một thằng chết Không chết vì đạn thì chết vì mìn Không chết vì mìn thì chết đuối Không chết đuối thì sốt rét mà chết Không sốt rét thì bị bắn nhầm… Đủ kiểu” [96, tr.217]

Hay chuyện kiêng cơm sống, không ăn cơm khê, lính tráng quan niệm “ăn cơm sống, thể nào cũng gặp địch” Cái chết của anh Lâm Bình Định xảy đến khiến mọi người kết nối các dự cảm không lành vì bữa cơm cháy và sự trùng tên đồng đội Sau cái chết của anh Lâm, các sự kiện lạ kì xảy đến khiến đồng đội không thể không tin vào những yếu tố tâm linh ấy Cũng có khi, lời chào cũng trở thành một điều kiêng kị để

tránh cái đen đủi Những người lính truyền tai nhau: “Như một luật bất thành văn,

Trang 25

lính thông tin hay trinh sát, ai được phân công đi chiến đấu cùng các đơn vị bộ binh thường lẳng lặng mà đi, không cần chào tạm biệt Vì cả người đi và người ở lại đều

có cảm giác, lời chào như một lời vĩnh biệt Vừa kiêng, vừa sợ Không ai nói ra Không ai phân tích Tất cả lặng im thực hiện” [96, tr.447] Đó là cách lính thông tin

lí giải sự hi sinh của Phán vì trước khi đi “nó đã chào mình” Những câu chuyện tưởng như vô lí nhưng lại hiện hữu chân thực giữa cuộc chiến một cách ngẫu nhiên

và không tìm được lời giải đáp Thế nhưng, những điều kì lạ ấy khiến chiến tranh được soi rọi dưới một góc nhìn khác, sâu sắc hơn và khốc liệt hơn

Chuyện tâm linh không chỉ nằm trong phạm vi những điều kiêng kị mà còn

là chuyện linh hồn của đồng đội hiện về Trong Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn, lính tráng đồn nhau về sự hi sinh của ông Lâm, rằng “Ông Lâm thiêng lắm Đêm

đêm vẫn mò sang C8 đòi giày” [96, tr 223] Hay trường hợp của anh Biện đêm đêm

vẫn hiện về Trong câu chuyện của những đồng đội, dường như anh Biện vẫn chưa

bao giờ rời xa đơn vị, anh vẫn ở đó lúc thì “đi huỳnh huỵch quanh hầm”, khi thì

“kêu mọi người dậy tập thể dục” hoặc “vấn thuốc rê” [96, tr.228] Những góp

nhặt của lính tráng về anh Biện thêm khẳng định phần âm là có thật nơi ngập mùi

mốc meo, hoang tàn bao phủ Quả thực “Người sống bị ám ảnh người chết Còn

người chết cũng quyến luyến người sống” [96, tr.229], bởi vậy Đoàn Tuấn cho rằng

“Trước đây chỉ có những người đồng đội đang sống, cùng sát cánh giờ chiến đấu,

giờ, giữa chúng tôi có thêm, có chung những đồng đội đã mất” [96, tr.252] Yếu tố

tâm linh khiến cho những người đồng đội sát lại gần nhau hơn, dù trong hoàn cảnh nào những người đồng đội đồng chí vẫn ở cạnh nhau Nhưng sự trở về của đồng đội một phần thể hiện những ẩn ức của người lính, họ vẫn chưa yên tâm khi sang thế

giới bên kia, “đời sống tâm linh của người lính chúng tôi vẫn hoang mang một

khoảng trống” [96, tr.229]

Còn trong Miền hoang, những linh hồn người chết vẫn cứ trở về đối thoại

với Tùng Không ít lần Tùng gặp anh Du, được anh bảo ban, dạy dỗ Thậm chí, trong trạng thái kiệt sức, đầu óc không còn đủ minh mẫn và tỉnh táo, Tùng đã có một cuộc “gặp gỡ” với những “vong hồn trên cánh đồng chết” Chính trong cuộc đối thoại ấy, qua lời kể của vong hồn nhà sư, Tùng càng thấm thía hơn sự khốc liệt

Trang 26

của chiến tranh và tội ác của kẻ thù Chiến tranh đã khiến Tùng bị trôi dạt đến bờ vực của cái chết, còn những người chết linh hồn cũng không thể siêu thoát Có lẽ,

đó mới chính là hiện thân đầy đủ và thấm thía nhất hiện thực của chiến trường

Hiện thực chiến trường còn là những yếu tố không thể giải đáp, khoa học cũng không thể vào cuộc để có thể có câu trả lời chính xác nhất khiến người chiến

sĩ rơi vào sự hồ nghi, dần dần mất đi lí trí Đó là trường hợp của Vinh trong câu chuyện của Đoàn Tuấn Khi tìm được xác đồng đội, Vinh đã phải trải qua một cuộc khủng hoảng tinh thần Bởi lẽ đồng đội của anh đã chết tận ba ngày nơi hoang vắng,

bị rỉa hết thịt nhưng “Vinh thấy lạ, là tại sao bọn quạ không rỉa hạ bộ của bạn

mình?” [97, tr.332] và khi chỉ còn lại bộ xương khô nhưng khiêng lên ai cũng cảm

thấy nặng nề Bom đạn dù có hủy diệt đến tận cùng nhưng cũng chưa thể hiện hết

sự khốc liệt của chiến tranh Họ còn trải qua những cú sốc nặng nề, những ám ảnh, những day dứt…như bủa vây bám víu lấy họ Dường như đời sống tâm linh của người lính vẫn hoang hoải một khoảng trống, không ai biết đâu là nơi bắt đầu cũng không thể xác định được nơi kết thúc của thế giới đầy hoang đường, mộng mị Có thể là sau này, là mãi mãi, là khi chiến tranh kết thúc hoặc …không biết nữa!

Thế giới tâm linh cũng là nơi có khả năng phát ra những tia sáng bất ngờ Đó những khả năng kì lạ của con người, là “giác quan thứ sáu”, là những “linh tính” trước khi xảy ra những việc hệ trọng hoặc cảm nhận được những “điềm báo” kì lạ

từ đâu đó bên ngoài lí trí của mình Trong Mùa chinh chiến ấy, khi nhớ về người

đồng đội Tô Văn Phán, Đoàn Tuấn đã đề cập cái gọi là “linh cảm” ấy Dường như

những người đồng đội đã linh cảm trước sự hi sinh của Phán: “Mình có linh cảm,

đợt này đi thằng Phán thể nào cũng chết!” [96, tr.447] Cái chết do vấp mìn nhưng

“thằng Phán không kêu một tiếng Mắt nó mở to, nhìn trân trân vào hai ống chân

đỏ lòm, gần như vỡ toác, đứt đôi Nó cứ nhìn như vậy, không kêu la Mặt nó vẫn bình thường, không lộ vẻ đau đớn Nó cảm nhận cái chết hết sức điềm nhiên Hình như nó đã linh cảm thấy cái chết này Nó đón nhận Và chấp nhận” [96, tr.449]

Yếu tố tâm linh hiện diện nơi chiến trận không chỉ tạo nên bầu không khí vừa thực, vừa ảo, vừa khốc kiệt vừa ma mị mà còn để thấu hiểu những nỗi đau, sự

ám ảnh tinh thần mà người lính phải chịu đựng Tuy nhiên, Sương Nguyệt Minh và

Trang 27

Đoàn Tuấn không sa đà trong đời sống tâm linh Việc miêu tả thế giới với những điều kì ảo, vô thức được đặt trong một nhãn quan tỉnh táo, chừng mực, không mang tới cảm giác li kì rùng rợn hoặc cổ vũ mê tín dị đoan Đó là những câu chuyện lính, suy nghĩ của lính, đậm chất lính…để thấy hiện thực chiến tranh không chỉ là bom đạn, nó còn là bí ẩn, là niềm tin,…Đó là một góc nhìn khác về chiến tranh, tạo ra độ chân thực về chiến tranh

1.2 Sáng tác của Sương Nguyệt Minh, Đoàn Tuấn

1.2.1 Sáng tác của Sương Nguyệt Minh

1.2.1.1 Vài nét về Sương Nguyệt Minh

Sương Nguyệt Minh tên thật là Nguyễn Ngọc Sơn, sinh ngày 15 tháng 9 năm

1958 tại xã Yên Mỹ, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình Ông xuất thân trong một gia đình có chữ nghĩa, hiếu học ở nông thôn Trong bối cảnh đầy biến động của lịch sử, gia đình Sương Nguyệt Minh chịu nhiều sóng gió đặc biệt là trong cuộc đấu tranh nội bộ về ruộng đất Ông nội của nhà văn bị quy sai là thành phần địa chủ, bị bắt và đưa ra đấu tố trước tòa án nông dân và bị kết tội là “địa chủ cường hào gian ác, bóc lột và đánh đập nông dân” Rất may, sau đó có lệnh sửa sai từ Trung ương, ông nội Sương Nguyệt Minh không bị kết tội địa chủ nữa, được giải oan và xuống thành phần trung nông lớp dưới Tuy nhiên, chính hoàn cảnh gia đình đã khiến tuổi thơ của Sương Nguyệt Minh rơi vào cô độc bởi sự kì thị “con cháu địa chủ” của dân làng Nhưng chính sự mặc cảm, cô độc trong kì thị, chính hoàn cảnh gia đình và quê hương ấy đã trở thành chất liệu nghệ thuật độc đáo trong quá trình sáng tác của Sương Nguyệt Minh sau này

Năm 1974, Sương Nguyệt Minh có giấy gọi vào đại học nhưng xã giữ lại không cho đi Đầu năm 1975, ông nhập ngũ rồi tham gia bảo vệ biên giới Tây Nam

và có mặt ở chiến trường K, cùng đoàn quân tình nguyện giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng do bọn phản động Pol Pot gây ra Sau những năm tháng ở chiến trường K, nhà văn Sương Nguyệt Minh được điều về nước học trường Sỹ quan Lục quân 2, rồi về Học viện Quân y công tác Sau đó, ông còn theo học chuyên ngành Xây dựng Đảng - Chính quyền và Nhà nước ở Học viện Chính trị - Quân sự, học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội

Trang 28

Bén duyên với văn chương, nhưng thời gian đầu Sương Nguyệt Minh không thể toàn tâm toàn ý với nghiệp văn Cuộc sống với nỗi lo cơm áo gạo tiền khiến chàng văn sĩ đành gác lại nghề viết để làm kinh tế Ông từng đi buôn trứng vịt lộn, thuốc lá, cắt dán phong bì, khoan nước giếng bán cho khu tập thể, nuôi chim cút, nuôi gà công nghiệp…Tuy nhiên, những năm tháng lăn lộn với cuộc đời đã cho ông một vốn sống phong phú cho nghiệp văn sau này của mình Lựa chọn cuối cùng là bước vào nghề văn, Sương Nguyệt Minh nhận ra mình không biết và cũng không thể làm gì khác ngoài nghề viết văn

1.2.1.2 Hành trình sáng tạo

Sương Nguyệt Minh là hiện tượng độc đáo và đặc biệt của văn học Việt Nam đương đại Tuy nhiên, con đường văn chương với Sương Nguyệt Minh không mấy suôn sẻ Ông thích viết, yêu viết và ông bắt đầu sự nghiệp viết văn của mình từ cuối thời bao cấp, ông chăm chỉ, chịu khó “cày cuốc” trên địa hạt văn chương, bắt đầu từ những bài bút kí, hồi ký, phóng sự dài kì Tuy nhiên, giấc mộng văn chương đã có lúc tạm gác lại vì gánh nặng kinh tế cơm áo gạo tiền Song, càng lăn lộn với cuộc đời, Sương Nguyệt Minh càng nhận ra rằng nghề văn mới là con đường đúng đắn nhất của ông Đến năm 34 tuổi, ông mới in truyện ngắn đầu tay Sự nghiệp văn chương của Sương Nguyệt Minh muộn hơn đồng nghiệp đến 15 năm Tuy nhiên, Sương Nguyệt Minh đã sớm khẳng định được dấu ấn của mình trên văn đàn

Sương Nguyệt Minh là một nhà văn hoạt động lao động sáng tạo nghệ thuật cần mẫn Ông luôn khát khao viết và viết, luôn muốn thử sức mình ở những địa hạt văn chương mới để mang đến cái đẹp cho cuộc đời Thậm chí có lúc ông từng từ chức Trưởng ban văn xuôi vì “Làm biên tập chiếm mất nhiều thời gian, không có lúc nào mà sáng tác”, nhưng điều quan trọng nhất là ông muốn dành toàn bộ thời gian và tâm huyết của mình cho những trang văn Ông không muốn những trang viết của mình bị ảnh hưởng bởi phong cách của một nhà biên tập Những trang viết phải thực sự chân thành, phải xuất phát từ cảm xúc, từ những trải nghiệm nóng hổi của bản thân - đó là điều Sương Nguyệt Minh mong muốn

Sương Nguyệt Minh là người luôn cầu toàn trong sáng tác và nghiêm túc với chữ nghĩa Ông luôn nghiêm khắc với bản thân trong hoạt động lao động nghệ

Trang 29

thuật Mỗi tác phẩm ra đời không chỉ là tâm huyết, nó còn trải qua một quá trình nghiền ngẫm, chọn lọc, cân nhắc sao cho phù hợp Chẳng hạn khi viết một cuốn tiểu

thuyết về chiến tranh, ông tâm sự: “Tôi viết hơn 10 năm rồi chưa xong Thật là nhọc

nhằn Nhọc nhằn bởi nghĩ ngợi nhiều quá, nên viết thế nào để khác người đi trước? Mới là khác luôn là thách thức đối với bất cứ nhà văn nào Nhưng văn chương là cái nghiệp rồi Không bỏ được Cứ theo mãi” [44]

Sương Nguyệt Minh không chỉ là một nhà văn nghiêm túc với chữ nghĩa mà ông còn luôn đề cao sự sáng tạo trong quá trình sáng tác Với Sương Nguyệt Minh,

“Mỗi lần viết là một lần làm mới, không chỉ mình khác với người khác, mà còn phải

khác với chính mình trước đây Có lẽ cái „tạng‟ của tôi phải cựa quậy, luôn luôn thay đổi, để đa giọng điệu, đa phong cách” [12] Chính vì vậy, giữa “siêu đề tài” -

chiến tranh, Sương Nguyệt Minh vẫn tìm được hướng đi riêng của mình, đưa người đọc đến những “địa phận” khác của chiến tranh để người đọc có cái nhìn chân thực

và sâu sắc hơn Quả thực, ở Sương Nguyệt Minh là vẻ đẹp của một nhà văn tâm huyết và đầy tự trọng nghề nghiệp

Điểm nổi bật trong sự nghiệp sáng tác của Sương Nguyệt Minh là những tác phẩm viết về chiến tranh Ông tự nhận mình là một nhà văn chiến tranh Là người lính từng cầm súng chiến đấu ở chiến trường Campuchia chống quân Pol Pot, những trải nghiệm sâu sắc về cuộc đời đã cho nhà văn vốn sống phong phú và quý giá Xuất thân là một người lính, Sương Nguyệt Minh thấm thía cảm xúc của một

người lính trực tiếp cầm súng Ông tâm sự: “Tôi là nhà văn chiến tranh Thời trai

trẻ cũng là thời ước mơ, khát vọng, hành động ở rừng và chiến trận Nhà văn chiến tranh có ba loại: một là, nghe người từ chiến trường kể về rồi viết; hai là „đi xem‟, thực ra là chứng kiến người ta chiến đấu rồi viết; ba là, vừa chiến đấu vừa viết hoặc chiến đấu xong rồi viết Tôi thuộc loại nhà văn thứ ba Và như vậy, tôi viết bằng sự tưởng tượng, hư cấu nhưng cũng viết bằng kí ức chiến trận Không gian sông Vàm Cỏ Đông, Đồng Bưng, Cánh đồng chó ngáp, những cây thốt nốt và tiếng đại bác từ phía bên kia biên giới bắn sang…cứ lặp lại trong sáng tác của tôi Rồi không gian sông Tonlé Sap, những cánh rừng Âm Leng, U Đông, những ngày đói khổ, những sự hi sinh thầm lặng của đồng đội…luôn ám ảnh và đi vào sáng tác của

Trang 30

tôi” [12] Từ những kí ức, những ám ảnh ấy mà những trang viết của Sương Nguyệt

Minh trở nên chân thực và sâu sắc, đặc biệt khi Sương Nguyệt Minh viết về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam

Mặt khác, những trang văn của Sương Nguyệt Minh mang nét hồn hậu, bình

dị bởi cảm hứng nghệ thuật của ông gắn với quê hương, gia đình, gắn với những con người của quê hương đất nước thân yêu Những trang viết của Sương Nguyệt Minh vì thế luôn chân thành và xúc cảm, lôi cuốn người đọc trên tất cả các thể loại sáng tác

Sương Nguyệt Minh có sở trường viết truyện ngắn Tuy nhiên, khi viết truyện ngắn đầu tay, Sương Nguyệt Minh gửi đến một số tờ báo nhưng đều bị từ chối Đến

năm 1992, lần đầu tiên truyện ngắn Nỗi đau dòng họ của ông được đăng trên tạp chí

Văn nghệ Quân đội Truyện ngắn đầu tiên đã thể hiện được chất riêng của nhà văn,

được đánh giá là những trang văn “có mùi có vị, rõ ra tư chất nhà văn”

Cho đến nay, ông đã cho ra đời bảy tập truyện ngắn: Đêm làng Trọng Nhân (1988), Người ở bến sông Châu (2001), Đi qua đồng chiều (2005), Mười ba bến

nước (2005), Chợ tình (2007), Dị hương (2009) Mỗi tập truyện ngắn của Sương

Nguyệt Minh mang một màu sắc riêng, thể hiện những chuyển biến về phong cách của Sương Nguyệt Minh Tuy nhiên, khi tiếp cận sáng tác của Sương Nguyệt Minh, người đọc dễ dàng nhận ra một lối viết giản dị, gần gũi, không hề phô trương, cầu kì của nhà văn Có thể nói, chất riêng và lạ ở văn chương Sương Nguyệt Minh đã làm

rung động rất nhiều những tâm hồn đồng điệu Năm 2010, tập truyện ngắn Dị

hương của Sương Nguyệt Minh được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam

Điều này đã khẳng định tài năng và tên tuổi của Sương Nguyệt Minh ở thể loại truyện ngắn nói riêng

Dù thành công ở thể loại truyện ngắn nhưng Sương Nguyệt Minh vẫn “rẽ ngang” sang viết tiểu thuyết và tạo được ấn tượng trong lòng bạn đọc Ở thể loại

này, Sương Nguyệt Minh cũng tạo cho mình một dấu ấn riêng.Theo ông, “Tiểu

thuyết cần sự chiêm nghiệm sáng tác bằng độ chín nhất định, cần thời gian và thời gian của đời nhà văn phải ở lúc sung sức nhất cả sức khỏe và nội lực sáng tạo Tôi viết tiểu thuyết lúc tôi đang tràn trề năng lực sáng tạo, tìm kiếm được cách viết mới,

Trang 31

không giẫm lên con đường sáng tạo của thế hệ cha anh” [12] Chính vì thế, cuộc

chiến với Khmer Đỏ Pol Pot lùi xa đã 25 năm và trong hơn hai mươi năm ấy, Sương

Nguyệt Minh đã viết khá nhiều truyện ngắn nhưng đến tận 2014 tiểu thuyết Miền

hoang mới được ra mắt độc giả Cuốn tiểu thuyết đã gây được sự chú ý của dư luận

bởi cách nhìn về chiến tranh trong vai trò là một người lính từng chiến đấu ở biên giới Tây Nam Tác phẩm viết về bốn con người ở hai chiến tuyến bị lạc trong rừng hoang dã: một cô y tá câm, một lính áo đen, một Ông Lớn - Trung đoàn trưởng bị thương dập nát một ống chân trong nhóm tàn quân Pol Pot, một chiến sĩ quân tình nguyện Việt Nam bị bắt làm tù binh, và thêm một gã người rừng - dã nhân mắt một

mí bị mất nửa bàn chân, lạc rừng lang thang, lòng vòng, quẩn quanh,…đói khát, bất lực, tuyệt vọng trong cái nắng nóng mùa khô khắc nghiệt, thú dữ rình rập, bom mìn

ẩn khuất dưới đất…luôn luôn đe dọa tính mạng Họ đói khát tơi tả, vết thương còn hơi sực mùi thuốc súng, lê lết trong rừng…luôn là miếng mồi béo bở của lũ kên

kên, chó sói Miền hoang còn là số phận cô y tá câm người Khmer xinh đẹp trước

ba gã đàn ông nơi hoang dã trần trụi - nơi mà khái niệm đạo đức và pháp luật là thứ

xa xỉ, chỉ còn sức mạnh cá thể hoang dã làm bá chủ Tiểu thuyết Miền hoang cũng

là câu chuyện sinh tồn khi bị đẩy vào nơi hoang dã Con người trong chiến tranh đi qua miền hoang dã, lại đối mặt với một miền hoang dã mới

Đọc Miền hoang của Sương Nguyệt Minh, chúng ta thấy nỗi ám ảnh về

chiến tranh không chỉ dừng lại ở bom rơi, đạn lạc, đó còn là nỗi ám ảnh về những cảm giác, về sự sinh tồn, về hoàn cảnh sống khắc nghiệt do chiến tranh gây ra Trong những ngày tháng lạc giữa rừng hoang, chống chọi với đói khát, với sợ hãi, tuyệt vọng, không ít lần Tùng đã nhớ khôn nguôi về thời thơ ấu Những kí ức ngọt ngào ấy trở thành chất liệu để phản ánh hiện thực khốc liệt của chiến tranh trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh Có thể nói, với hơn 600 trang tiểu thuyết, Sương Nguyệt Minh đã thể hiện một cách sâu sắc và toàn diện về chiến tranh Chất hiện thực ngồn ngộn trong tác phẩm được viết ra từ chính những trải nghiệm của Sương Nguyệt Minh trong những năm chiến đấu trên chiến trường Tây Nam Cuốn tiểu thuyết không chỉ thể hiện quá trình lao động nghệ thuât công phu, đầy tâm huyết của nhà văn với những tìm tòi sáng tạo ở thể loại tiểu thuyết, cuốn sách còn là tiếng

Trang 32

nói tự trái tim của người lính - nhà văn, ông viết về chiến tranh với tất cả những gì sâu sắc và chân thực nhất trong cảm nghiệm của mình

Có thể thấy, là thế hệ nhà văn của thời kì Đổi mới chuyên viết về chiến tranh song Sương Nguyệt Minh đã tìm ra được hướng đi riêng, thể hiện tài năng và phong cách của mình Sương Nguyệt Minh đã vượt ra sự giới hạn của đề tài, của thế giới hiện thực trong nền văn học cách mạng mà khám phá và thể hiện hiện thực đời sống trong tính muôn mặt, muôn vẻ của nó Ông đã đi sâu vào đời sống hiện thực để tìm tòi, khám phá, từ đó có những cách tân làm nên thành công to lớn trên hành trình nghệ thuật của mình Có thể nói, Sương Nguyệt Minh là người không chịu dừng lại, thỏa mãn nhấm nháp hoa thơm trái ngọt của vụ mùa cũ mà luôn tiếp tục sáng tạo trên hành trình tìm kiếm cái đẹp cho cuộc đời Ông sẽ tiếp tục dấn thân không mệt mỏi và thể hiện những dấu ấn riêng trên con đường văn nghiệp của mình

1.2.2 Sáng tác của Đoàn Tuấn

1.2.2.1 Vài nét về Đoàn Tuấn

Đoàn Tuấn sinh năm 1960, tại Hà Nội Ông tham gia vào cuộc chiến đấu bảo

vệ biên giới Tây Nam khi tròn 18 tuổi Lúc đó, Đoàn Tuấn vừa học xong phổ thông, biết tin mình đỗ vào khoa Ngữ văn của Đại học Tổng hợp Hà Nội thì đồng thời có giấy gọi tham gia nghĩa vụ quân sự Giống như bao chàng trai Thủ đô hồi đó, Đoàn Tuấn đi khám sức khỏe, thấy đủ tiêu chuẩn thì sẵn sàng xếp bút nghiên lên đường ra mặt trận

Từ năm 1978 - 1983 ông tham gia chiến đấu tại chiến trường Campuchia Trong thời gian 5 năm quân ngũ, Đoàn Tuấn công tác tại trung đội thông tin, tiểu đoàn 8, trung đoàn 29, sư đoàn 307 Ba năm đầu Đoàn Tuấn đi phối thuộc chiến đấu

ở các đơn vị khác Khi tiểu đoàn 8 chuyển lên Anlong Veng, được bổ sung quân, Đoàn Tuấn lại chuyển về ban tác chiến tiểu đoàn Ở đây, ông làm nhiệm vụ quản lí quân số cùng một số trang thiết bị của đơn vị Ngoài ra, Đoàn Tuấn còn làm một nhiệm vụ rất thiêng liêng là chăm sóc cho thương binh, tử sĩ Đoàn Tuấn luôn hết

lòng vì đồng đội, những người còn sống và cả những người đã hi sinh: “Tôi hiểu

Và làm hết sức mình Đun nước Nhặt thịt xương Rửa ráy Chắp lại Xếp cho đủ các bộ phận cơ thể Mặc quần áo Quấn vải liệm Gác đêm, canh thú rừng khỏi mò

Trang 33

đến ăn xác Đào huyệt Tổ chức đội vệ binh đứng bên bờ huyệt Đọc lời điếu và bắn súng tiễn biệt đàng hoàng Sau đó mới chôn Hết sức „oách‟ theo kiểu nhà binh”

[62].Đây là khoảng thời gian có ý nghĩa to lớn đối với Đoàn Tuấn

Trở về sau chiến tranh, Đoàn Tuấn công tác ở nhiều lĩnh vực và gặt hái được nhiều thành công trong sự nghiệp Ông tốt nghiệp khoa Ngữ văn tại Đại học Tổng hợp Hà Nội Năm 1991, ông tốt nghiệp Đại học Điện ảnh Liên Xô Đoàn Tuấn thành công trong nhiều kịch bản phim truyền hình, trở thành nhà lí luận phê bình điện ảnh, giảng dạy ở Đại học Sân khấu Điện ảnh và tiếp tục tham gia làm báo

Hiện nay Đoàn Tuấn đang công tác tại tạp chí Thế giới điện ảnh Ông như con ong

cần mẫn, viết từng ngày, đi dạy, làm báo rồi lại viết Ở lĩnh vực nào, Đoàn Tuấn cũng gặt hái được thành công nhưng ông vẫn đau đáu với nghiệp văn chương, với những trang viết tri ân quá khứ

1.2.2.2 Hành trình sáng tạo

Đoàn Tuấn được biết đến ở nhiều “vai”, ông viết văn, làm thơ, viết kịch bản điện ảnh, viết lí luận phê bình điện ảnh, giảng dạy ở trường Đại học Sân khấu Điện ảnh và làm báo…Ông có nhiều đóng góp cho văn học đương đại, đặc biệt là văn học chiến tranh Nhắc đến ông là nhắc đến những câu thơ, những trang văn thấm đẫm tình yêu Tổ quốc, tình yêu và món nợ nghĩa tình với đồng đội, với những người lính không trở về sau chiến tranh

Đầu những năm thập niên 1980, Đoàn Tuấn đoạt giải thơ sáng giá của tạp chí

Văn nghệ Quân đội Những bài thơ viết từ chiến trường K đã khiến công chúng tìm

thấy một tiếng nói mới, thủ thỉ, thân tình và chân thật:

Những dãy núi con đường và vị trí các C Như đồ vật trong nhà, tôi nhớ

Bao đồng đội thành cây rừng ở đó Mỗi gương mặt bạn bè một địa chỉ không quên Dũng đi phục mùa hè mưa xé túi quần hun muỗi Cởi áo ra mình đắp chóng sáng hơn

Mạc Văn Tướng trèo cây bắn B41 Mười hai giờ đêm ăn cháo khỉ xì xòm

Trang 34

Đi tìm chỗ ngủ - Hãng phim Giải phóng - 1999; Đường thư - Hãng phim truyền

hình Việt Nam - 2000; Sống cùng lịch sử - Hãng phim truyền hình Việt Nam - 2014; Trên đỉnh bình yên - Hãng phim truyền hình Việt Nam - 2016 Bên cạnh đó, Đoàn Tuấn còn viết thêm cả phim hoạt hình như Én con và chiếc lá

Ở lĩnh vực văn học, Đoàn Tuấn có những đóng góp không nhỏ Các tác

phẩm chính: tiểu thuyết Bùa yêu (NXB Phụ nữ, 1993); truyện ngắn Khúc dạo đầu

mùa xuân (1995); tập thơ Đất bên ngoài Tổ quốc (thơ chung với Lê Minh Quốc,

1995); truyện kí Những người không gặp nữa (2006); tác phẩm dịch Thơ trữ tình

X.Exenhin (1995)

Ngoài ra, Đoàn Tuấn còn cộng tác cho nhiều tờ báo trong Nam, ngoài Bắc và

ký hàng loạt bút danh khác nhau Có thể nói, Đoàn Tuấn là một trong những nhà văn có sức lao động dồi dào Ông có nhiều đóng góp cho văn học - nghệ thuật và sân khấu - điện ảnh

Ở phương diện văn học, Đoàn Tuấn là một trong số những nhà văn xuất sắc viết về chiến tranh, đặc biệt là những tác phẩm ra đời từ hiện thực chiến tranh biên giới Tây Nam khốc liệt Đoàn Tuấn có 5 năm chiến đấu tại chiến trường Campuchia Những ngày tháng chiến đấu ấy đã để lại một miền kí ức xen lẫn khổ

Trang 35

đau, mất mát lẫn hào hùng, trong sáng và dũng cảm để sau này khi trở về, hiện thực

ấy vẫn hiện lên nguyên vẹn “buộc” Đoàn Tuấn phải viết Ông viết không chỉ vì cái nghiệp văn chương mà còn viết để “trả nợ đồng đội”, những người đồng đội đã nằm xuống nơi chiến trường K, viết về những người đồng đội may mắn được trở về, viết cho thế hệ hôm nay - những người muốn cảm nhận một cách chân thực về sự khốc liệt, dữ dội của chiến tranh biên giới Tây Nam

Viết về chiến tranh, Đoàn Tuấn viết bằng những cảm xúc chân thành, viết bằng những trải nghiệm quý giá trên chiến trường Ngay từ khi bước chân vào cuộc

chiến, ông đã mang theo nỗi trăn trở: “Ngay từ lúc ấy, tôi cảm thấy mình thật nhỏ

bé giữa những con người vô danh Như đất biên giới Như cây rừng tóe máu Làm sao để ghi lại những hình ảnh, những câu chuyện của họ?” [92, tr.28] Những ngày

sống, chiến đấu tại chiến trường K giúp Đoàn Tuấn hiểu hơn về những người đồng đội của mình, mỗi người họ là một vũ trụ bí mật mà nếu không ghi lại được, ông sẽ

không cảm thấy an lòng:“Mỗi người lính là một thế giới diệu kì, một kho tàng trí

thức dân gian Nếu coi đó là một cuốn sách hay, biết cách đọc, cách kể, chúng ta sẽ

có biết bao câu chuyện tuyệt vời Nhưng cũng thật đáng tiếc Vì chiến tranh Những cuốn sách đó có thể sẽ không bao giờ được lật mở, có thể sẽ mãi mãi nằm sâu trong lòng đất bất cứ lúc nào Và rồi, những câu chuyện có tuyệt vời đến mấy cũng chìm

đi, lẫn vào trong bao câu chuyện đời thường Làm sao góp nhặt để tặng cho mỗi người, cho đồng đội tôi?” [92, tr.284]

Trong quá trình viết, Đoàn Tuấn luôn tìm tòi, trăn trở và theo ông, điều cần thiết của một nhà văn đó chính là tìm ra giọng điệu cho tác phẩm của mình Đoàn

Tuấn tâm sự: “Phải mất gần 10 năm trăn trở mới tìm ra giọng điệu cho một cuốn

sách Tôi nghĩ, với người viết văn, vốn sống rất quan trọng Nhưng cái quan trọng hơn đó là việc tìm ra giọng điệu Giọng điệu của riêng mình Một giọng điệu thích hợp với từng cuốn sách” [101] Và Mùa chinh chiến ấy được hình thành sau một

quá trình dài để tìm ra chất riêng của tập hồi ký, chất riêng của chiến tranh biên giới Tây Nam và chất riêng của chiến tranh biên giới Tây Nam trong kí ức của nhà văn

Ông tâm sự: “Tôi viết lần đầu, đặt tên là „Trung đoàn viễn chinh‟ nhưng thấy văn

chương dài dòng quá, bỏ luôn Lần thứ hai, tôi viết cuốn „Sư đoàn tình nguyện‟

Trang 36

nhưng đọc lại, thấy giọng văn giống các nhà văn viết từ hồi chống Pháp và chống

Mỹ Không khoái Tôi cũng bỏ nốt Bởi thế hệ chúng tôi là thế hệ thứ ba tham gia bảo vệ Tổ quốc Khi gặp lại đồng đội, thấy họ nói chuyện, tôi quan sát và nghĩ: Đây mới chính là giọng kể mà mình đang tìm kiếm Đầy chất lính tráng Đầy giọng điệu thời nay Và tôi lao vào viết như đúng kiểu chúng tôi trò chuyện” [101] Sau 10

năm, Đoàn Tuấn mới tìm ra giọng điệu cho cuốn sách của mình Và Mùa chinh

chiến ấy của Đoàn Tuấn trở thành cuốn “bách khoa toàn thư” về đời lính, là một tập

đại thành về số phận của những người lính trong chiến tranh biên giới Tây Nam

Mùa chinh chiến ấy do Nhà xuất bản Trẻ ấn hành, dày gần 500 trang Tác

phẩm được viết dưới dạng hồi ức chiến binh, nhớ lại và viết Vì vậy nội dung cuốn

sách được chắt lọc hoàn toàn từ những trải nghiệm xương máu, không thông qua lăng kính phóng đại hay hư cấu của thể tài văn học cố định nào Nhân vật “tôi” - cũng chính là tác giả, người lính đã cầm súng chiến đấu trong cuộc hành quân dài hàng ngàn cây số tới những miền rừng núi heo hút của xứ sở Chùa Tháp và để lại một phần máu thịt tuổi trẻ ở đó Những trang văn là đầy ắp những con người, những

sự kiện, những cảm xúc, suy tư có thực của đời “lính K” Với người lính trẻ Đoàn Tuấn, 5 năm chiến đấu ở nước bạn là quãng thời gian đẹp nhất, in hằn trong tâm trí ông không thể phai nhòa Đó là nơi mà sự sống và cái chết chỉ cách nhau trong nháy mắt, nơi mỗi phum làng được giải phóng, từng giây phút bình yên của người dân đều phải trả bằng xương máu của những đồng đội của ông Có lẽ vì vậy mà nằm sâu mãi trong muôn tầng kí ức, những mẩu chuyện về biên giới Tây Nam vẫn luôn theo Đoàn Tuấn đầy ám ảnh để trong hầu hết các sáng tác của ông, dù với văn học hay điện ảnh, hình ảnh người lính luôn là mảng đề tài mà ông viết nhiều nhất Với ông, việc được sống và kể lại giống như món nợ cần phải trả cho những người đồng đội thân yêu và ruột thịt những người đã sống, đang sống và cả những linh hồn đang còn lẩn khuất giữa bạt ngàn rừng xanh, núi thẳm

Chứa đựng thật nhiều tâm huyết của cuộc đời, cuốn hồi ký Mùa chinh chiến

ấy được ra mắt độc giả năm 2017 sau gần 40 năm cuộc chiến tranh kết thúc Một tác

phẩm trung thành với sự thật được viết lên từ chính những kí ức về tính nhân đạo,

sự hi sinh của “đoàn quân nhà Phật” Hơn cả một tác phẩm văn học, Mùa chinh

Trang 37

chiến ấy còn chứa đựng những tư liệu hiện thực sâu sắc, nghiệt ngã về những gì

quân tình nguyện Việt Nam từng trải qua trên chiến trường nước bạn

Gần đây nhất, Đoàn Tuấn cho ra đời bút kí Mùa linh cảm Cuốn sách đã lay

động tâm thức người đọc vì Đoàn Tuấn không chỉ viết về những linh cảm trước cái chết không tránh khỏi của đồng đội mình, “mùa linh cảm” ấy còn là linh cảm về những nỗi đau mà người lính Việt phải chịu đựng sau khi đã kết thúc cuộc chiến

này Đoàn Tuấn đã viết: “Tôi nghĩ về người lính Bề ngoài, ai cũng tưởng đơn giản

Đơn giản đến tận cùng Uống chung ngụm nước Đọc chung lá thư Chui cùng căn hầm…Nhưng bên trong họ là những miền bí ẩn, là những chiều sâu thẳm hơn đại dương, không ai và không bao giờ khám phá nổi Tôi nhớ câu nói nổi tiếng của một nhà văn mà tôi không nhớ tên: “Nhìn từ xa, một trăm cây bạch dương giống nhau

cả một trăm; một trăm ánh nến giống nhau cả trăm Nhưng khi đến gần, mỗi cây bạch dương lại khác nhau; mỗi ánh nến cũng khác nhau nữa”, con người cũng vậy

Và người lính, trong đời sống giáp ranh sinh tử, họ càng khác biệt bao nhiêu” [79]

Quả thật, Đoàn Tuấn là nhà văn viết về chiến tranh Những trang viết của ông đưa người đọc về cuộc chiến diễn ra hơn 40 năm trước nhưng cho đến hôm nay vẫn còn ấm nóng tình đời tình người trong hiện thực vô cùng khốc liệt và đau thương Viết - với Đoàn Tuấn đó là sự thôi thúc, là sự “trả ơn” với những người đồng đội Và qua những trang viết ấy, người đọc có cơ hội chiêm nghiệm, nhìn nhận, đánh giá một cách trung thực về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam của Tổ quốc

Trang 38

Tiểu kết chương 1

Trong chương 1 của luận văn, chúng tôi đã đưa ra một cái nhìn tương đối khái quát về văn học phản ánh hiện thực chiến tranh sau năm 1975 và những điểm chính trong sáng tác của Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn Có thể thấy, văn học viết về chiến tranh sau 1975 đã có những bước chuyển mình đáng kể, quan niệm về hiện thực thay đổi, chiến tranh được nhìn nhận một cách chân thực, toàn diện và sâu sắc hơn Chiến tranh được tiếp cận từ nhiều góc nhìn, đường biên chiến tranh được

mở rộng, thân phận con người trong chiến tranh được nhận thức và lí giải trên tinh thần đổi mới quan niệm về nghệ thuật và thay đổi tư duy sáng tạo Từ đó, hiện thực chiến tranh hiện lên đa chiều hơn, sâu sắc hơn

Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn là hai nhà văn có đóng góp không nhỏ cho văn học đương đại Việt Nam, đặc biệt là văn học viết về đề tài chiến tranh Bằng trải nghiệm của người lính từng trực tiếp tham gia chiến đấu, họ đã nhìn thẳng vào sự thật, viết bằng sự thật về cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam Qua lăng kính của người trong cuộc, chiến tranh được soi chiếu đa diện, sâu sắc và thấu đáo hơn Bằng tâm huyết, bằng tài năng, bằng tấm lòng với đồng đội, Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn đã viết lên những dòng văn máu về chiến tranh biên giới Tây Nam để người đọc hôm nay có thể nhìn nhận một cách thấu đáo và toàn diện hơn về cuộc

chiến đã lùi xa 40 năm

Trang 39

Chương 2

HIỆN THỰC CHIẾN TRANH BIÊN GIỚI TÂY NAM

TRONG MIỀN HOANG VÀ MÙA CHINH CHIẾN ẤY

2.1 Bản anh hùng ca của cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc

2.1.1 Hoàn cảnh chiến trường

2.1.1.1 Chiến trường dữ dội, khốc liệt

Hiện thực chiến tranh trước 1975 là hiện thực lí tưởng, là hiện thực của những biến cố, sự kiện Sau năm 1975, hiện thực chiến tranh đã được tái hiện chân thật, gần gũi hơn, đó là hiện thực tồn tại như nó đang có, là hiện thực của số phận con người Các nhà văn viết về chiến tranh đã chú ý về tính chân thực của chiến tranh Chiến tranh hiện lên với tất cả bề rộng, bề xa, và bề sâu của nó Chiến tranh không chỉ là những ánh hào quang, không chỉ là những người anh hùng, không chỉ

là những chiến thắng oanh liệt Chiến tranh phải được nhìn một cách đa diện hơn, chân thực hơn

Cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam diễn ra năm 1979 là một cuộc chiến đặc biệt Người lính vừa bảo vệ giữ gìn từng tấc đất nhưng cũng vừa thực hiện nhiệm vụ quốc tế cứu dân tộc Campuchia trước hiểm họa diệt chủng do chính nhà cầm quyền của họ gây ra trên đất nước họ Sau 40 năm, với độ lùi thời gian cần thiết, các nhà văn có thời gian để suy ngẫm, để chiêm nghiệm và viết về chiến tranh với sự khách quan nhất Trong những trang viết của mình, họ nói đến vẻ đẹp của những con người trong chiến tranh, tình đồng chí, đồng đội thiêng liêng Họ cũng không phủ nhận sự bi tráng của cuộc chiến bảo vệ biên giới của Tổ quốc và thực hiện nghĩa vụ quốc tế thiêng liêng Tuy nhiên, các nhà văn không hề né tránh hiện thực mà trong

hiện thực ấy chính là sự khốc liệt của chiến trường, của hi sinh mất mát,…Miền

hoang của Sương Nguyệt Minh và Mùa chinh chiến ấy của Đoàn Tuấn mở ra cho

người đọc hôm nay một hướng tiếp cận mới về chiến tranh, đặc biệt là hiện thực chiến trường với tất cả sự dữ dội và khốc liệt của nó

Hiện thực chiến tranh được tái hiện ngay ở phần mở đầu của cuốn tiểu thuyết

của Sương Nguyệt Minh: “Quân tình nguyện Việt Nam tác chiến ở chiến trường K

Trang 40

tựa hồ như cuộc chiến trên cái đầm lầy khổng lồ miền nhiệt đới Càng về cuối chiến tranh, hình thái tác chiến càng thay đổi, cái đại quân dần dần rút về nước…chiến tranh du lích nhùng nhằng, nhỏ lẻ, cò cưa dai dẳng, quân số hai bên cứ thế hao hụt dần, để rồi lại bổ sung lính, lại chết…lại bổ sung” [52, tr.6] Trong cuộc chiến ấy,

người lính phải xông pha nơi mũi tên hòn đạn, đối diện với những khó khăn, những thiếu thốn, những ốm đau bệnh tật, chống chọi với bom đạn hủy diệt của kẻ thù và

“chiến đấu” với thiên nhiên hoang độc, chứa đầy bí ẩn và rồi lại chết… lại bổ sung

không biết bao nhiêu mà kể Quả thực, sự khốc liệt của chiến trường Campuchia không sao mà kể, chỉ có thể khẳng định đó là hiện thực vô cùng khốc liệt như

những khái quát của Sương Nguyệt Minh trong những trang cuối Miền hoang: “Ra

trận không phải bảo vệ đất nước mình và viễn chinh ở một nơi xa xôi, mù mịt Cái nơi kẻ thù lạ mặt không còn xâm phạm bờ cõi mình Lãnh thổ, địa hình lạ hoắc Khí hậu chưa bao giờ nếm trải Ngôn ngữ bất đồng v.v Người lính đơn độc chiến đấu trong vòng vây, trong những tập kích, quấy nhiễu kinh thiên động địa của bọn lính thiện chiến áo đen” [52, tr.551]

Hiện thực chiến trường được ghi dấu là trận chiến khốc liệt giữa quân tình nguyện Việt Nam và lính Pol Pot Trong cuộc chiến sinh tử với kẻ thù, người chiến

sĩ trải qua rất nhiều những trận đánh cam go, ác liệt Cả Sương Nguyệt Minh và Đoàn Tuấn đều không quên ghi lại những giây phúc chiến đấu ác liệt ấy Trong

Miền hoang, sự ác liệt hiện hữu ngay trong những trang viết đầu tiên, trong trận tấn

công ồ ạt của kẻ thù: “Một đợt cối cá nhân nữa chóc vào các vật cản, và nơi chúng

tôi lợi dụng địa hình địa vật ẩn nấp Khi đó, một tốp lính áo đen lặng lẽ bò đến quá gần, mới bắn Đạn cày xuống đất màu gan gà và bắn thẳng vào thạch tháp viên trượt viên phá toe toét đá Đạn tằng tằng xé tơi tả cành lá và ghim vào cây bóc toác

ra những mảnh vỏ ứa nhựa tươi” [52, tr.16] Bom đạn dội xuống, “đạn cày”, “đạn

tằng tằng xé tơi tả” của kẻ địch đủ sức tiêu hủy mọi thứ, đẩy quân ta vào tình trạng chống cự yếu ớt và gánh chịu những tổn thất nặng nề Cũng có thể là những trận

đánh một sống một còn giữa quân ta và quân địch: “Giờ nổ súng Tôi thấy từ phía

sau các hướng, đạn bay đỏ trời, nhằm quả đồi rơi xuống Những tiếng nổ xé tai, như tiếng B-52 ngày bé tôi nghe ở Hà Nội Đất dưới chân cũng rung lên Tranh thủ

Ngày đăng: 31/08/2020, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Thái Phan Vàng Anh (2010), Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ trần thuật trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại
Tác giả: Thái Phan Vàng Anh
Năm: 2010
2. Lại Nguyên Ân (1986), Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua, Nxb Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thử nhìn lại văn xuôi mười năm qua
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Văn học
Năm: 1986
3. Lại Nguyên Ân (2003), 150 thuật ngữ văn học, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: 150 thuật ngữ văn học
Tác giả: Lại Nguyên Ân
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 2003
4. Lại Nguyên Ân ( 2004), Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại, Tạp chí nghiên cứu văn học số 2, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề xung quanh phạm trù chủ nghĩa hiện đại
5. Lê Huy Bắc (2015), Văn học hậu hiện đại lý thuyết và tiếp nhận, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học hậu hiện đại lý thuyết và tiếp nhận
Tác giả: Lê Huy Bắc
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2015
6. Nguyễn Thị Bình (1996), Mấy nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975, Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy nhận xét về nhân vật văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia
Năm: 1996
7. Nguyễn Thị Bình (1996), Một phương diện đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn xuôi Việt Nam sau 1975, Tạp chí Khoa học, Đại học Quốc gia Hà Nội, số 3 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một phương diện đổi mới trong quan niệm nghệ thuật về con người của văn xuôi Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
8. Nguyễn Thị Bình (1996), Những đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975, Luận án PTS Ngữ văn, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những đổi mới văn xuôi nghệ thuật Việt Nam sau 1975
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 1996
9. Nguyễn Thị Bình (2007), Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn khái quát, Tạp chí Nghiên cứu văn học (số 2) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam sau 1975 - một cái nhìn khái quát
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Năm: 2007
10. Nguyễn Thị Bình (2007), Văn xuôi giai đoạn 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn xuôi giai đoạn 1975 – 1995 những đổi mới cơ bản
Tác giả: Nguyễn Thị Bình
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
11. Nguyễn Minh Châu (1987), Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ, Báo Văn nghệ, số 49,50 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh hoạ
Tác giả: Nguyễn Minh Châu
Năm: 1987
14. Hà Huy Dũng (2007), Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải, Luận văn thạc sĩ văn học, Đại học Quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người kể chuyện trong tiểu thuyết Nguyễn Khải
Tác giả: Hà Huy Dũng
Năm: 2007
15. Đinh Xuân Dũng (1995), Đổi mới văn xuôi chiến tranh, Báo văn nghệ (số 51) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới văn xuôi chiến tranh
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Năm: 1995
16. Đinh Xuân Dũng (2003), Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hiện thực chiến tranh và sáng tạo văn học, Nxb Quân đội nhân dân
Tác giả: Đinh Xuân Dũng
Nhà XB: Nxb Quân đội nhân dân"
Năm: 2003
17. Đoàn Ánh Dương (2014), Không gian văn học đương đại, Nxb Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không gian văn học đương đại
Tác giả: Đoàn Ánh Dương
Nhà XB: Nxb Phụ nữ
Năm: 2014
18. Phan Cự Đệ (1984), Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số 9 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mấy vấn đề của tiểu thuyết viết về đề tài chiến tranh cách mạng
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 1984
19. Phan Cư Đệ (2000), Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại
Tác giả: Phan Cư Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
20. Phan Cự Đệ (2001), Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới, Tạp chí Văn nghệ Quân đội, số (12) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới
Tác giả: Phan Cự Đệ
Năm: 2001
21. Phan Cự Đệ (2004), Văn học Việt Nam thế kỉ XX, Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học Việt Nam thế kỉ XX
Tác giả: Phan Cự Đệ
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2004
22. Nguyễn Hoàng Đức (2014), Cảm hứng nhân đạo từ một cuộc chiến tranh, Báo Quân đội Nhân dân, (số 989) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cảm hứng nhân đạo từ một cuộc chiến tranh
Tác giả: Nguyễn Hoàng Đức
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w