1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu luận Thương mại quốc tế về Tự vệ thương mại ở Việt Nam và thế giới

26 166 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 1,2 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biện pháp phi thuế quan Các biện pháp phi thuế là tất cả các biện pháp không phải thuế quan mà có tác dụnghạn chế việc nhập khẩu hàng hoá vào một nước được áp dụng trong tự vệ thương mạ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

KHOA KINH DOANH QUỐC TẾ – MARKETING

BỘ MÔN KINH DOANH QUỐC TẾ

Sinh viên thực hiện:

GVHD : THẦY LÊ MINH TUẤN

Thành phố Hồ Chí Minh, Ngày 28 tháng 06 năm 2020

Trang 2

MỤC LỤC

I Tự vệ thương mại và các vấn đề liên quan 3

1 Khái niệm 3

2 Vai trò 3

3 Lịch sử phát triển của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế 3

4 Các biện pháp tự vệ quy định trong WTO 4

4.1 Biện pháp thuế quan 4

4.2 Biện pháp phi thuế quan 4

5 Áp dụng biện pháp tự vệ 6

5.1 Điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ 6

5.2 Điều kiện cho các biện pháp tự vệ 7

6 Vận dụng thực tiễn về các quy định biện pháp tự vệ 7

II Quy trình khởi kiện, đối phó với các vụ kiện hàng nhập khẩu 9

1 Quy trình khởi kiện 9

1.1 Các nguyên tắc WTO quy định 9

1.2 Trình tự khởi kiện 9

2 Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ 10

2.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử 10

2.2 Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại 11

3 Đối phó với các biện pháp tự vệ 11

4 Vấn đề phòng vệ thương mại trong EVFTA 12

4.1 Các quy định bổ sung 12

4.2 Biện pháp tự vệ song phương 12

III Thực trạng tự vệ thương mại của Thế giới và Việt Nam 13

1 Tự vệ thương mại ở thế giới 13

2 Tự vệ thương mại ở Việt Nam 17

2.1 Quy định của Việt Nam về biện pháp tự vệ đối với hàng hóa nước ngoài17 2.2 Các vụ việc tự vệ thương mại ở Việt Nam 17

2.3 Những tồn tại trong pháp luật Việt Nam về biện pháp tự vệ 22

2.4 Đề xuất điều chỉnh các quy định 23

Tài liệu tham khảo: 23

Trang 3

I Tự vệ thương mại và các vấn đề liên quan

1 Khái niệm

“Tự vệ thương mại là một trong ba biện pháp phòng vệ thương mại ( chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ) Biện pháp tự vệ là công cụ bảo vệ ngành sản xuất hàng hóa trong nước, nhằm hạn chế những tác động tiêu cực gây thiệt hại nghiêm trọng chosản xuất trong nước do hàng hóa nhập khẩu gia tăng đột biến Biện pháp tự vệ chỉ

được áp dụng đối với hàng hoá, không áp dụng đối với dịch vụ, đầu tư hay sở hữu trí tuệ

Mỗi nước thành viên Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) đều có quyền áp dụng phòng vệ thương mại, nhưng khi áp dụng thì họ phải bảo đảm tuân theo các quy định của WTO (về điều kiện, thủ tục, cách thức áp dụng biện pháp tự vệ).”

Trang 4

3 Lịch sử phát triển của các biện pháp tự vệ trong thương mại quốc tế

“Biện pháp tự vệ thương mại được ghi nhận lần đầu tiên trong Hiệp định giữa Mexico

và Hoa Kỳ năm 1943 liên quan đến chế độ thương mại có đi có lại giữa hai quốc gianày Và có thể nói Điều XIX GATT 1947 là sự kế thừa trực tiếp của các điều khoảnnày Trong khuôn khổ hệ thống GATT/WTO, biện pháp tự vệ thương mại được quyđịnh chủ yếu tại Điều XIX Hiệp định GATT và Hiệp định tự vệ thương mại Bên cạnh

đó, GATT/WTO cũng quy định về biện pháp tự vệ thương mại trong thương mại hàngnông nghiệp tại Điều 5, Hiệp định Nông nghiệp và thương mại dịch vụ tại Điều X,Hiệp định GATS Về bản chất, biện pháp tự vệ thương mại là một trường hợp ngoại lệcủa hệ thống thương mại GATT/WTO, theo đó trong một số trường hợp đặc biệt khẩncấp thành viên WTO được phép miễn thực hiện một số nghĩa vụ theo quy định củaGATT và các cam kết WTO liên quan Việc thực hiện các biện pháp tự vệ thương mạiphải đáp ứng và tuân thủ các điều kiện nhất định được quy định tại Điều XIX GATT

1994 và Hiệp định tự vệ thương mại Ngoài ra, tự vệ thương mại ở Việt Nam cũngđược quy định tại Mục 4 , Điều 91 Luật Quản lý ngoại thương 2017, bao gồm các biệnpháp : Áp dụng thuế tự vệ; Áp dụng hạn ngạch nhập khẩu; Áp dụng hạn ngạch thuếquan; Cấp giấy phép nhập khẩu; Các biện pháp tự vệ khác.”

4 Các biện pháp tự vệ quy định trong WTO

“Các nguyên tắc về việc sử dụng biện pháp tự vệ trong WTO được quy định tại:

● Điều XIX GATT 1994; và

● Hiệp định về biện pháp tự vệ (Hiệp định SG)

Các nước thành viên khi xây dựng pháp luật nội địa về biện pháp tự vệ có nghĩa vụtuân thủ các nguyên tắc này của WTO Các vụ kiện, việc điều tra và áp dụng biệnpháp tự vệ trên thực tế được tiến hành theo pháp luật nội địa của từng nước nhậpkhẩu, phù hợp với quy định liên quan của WTO

Về hình thức tự vệ, WTO không có quy định ràng buộc về loại biện pháp tự vệ được

áp dụng Trên thực tế, các nước nhập khẩu thường áp dụng biện pháp hạn chế lượngnhập khẩu (phi thuế quan) hoặc tăng thuế nhập khẩu đối với hàng hoá liên quan (thuếquan)

4.1 Biện pháp thuế quan

Thuế quan hay còn được gọi là thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, thuế quá cảnh đượcđánh tùy theo đối tượng bị thu thuế Về bản chất thì đây là loại thuế gián thu đánh vàohàng hóa khi chúng di chuyển từ lãnh thổ hải quan này sang lãnh thổ hải quan khác.Đây là công cụ đảm bảo tính minh bạch và dễ dự đoán, được thể hiện bằng những con

Trang 5

số rõ ràng Bên cạnh đó, dựa vào mức độ cao thấp của thuế quan, ta có thể đánh giáđược mức độ bảo hộ dành cho một ngành sản xuất của một nước.

Thuế quan được sử dụng một cách phổ biến vì nó có tác động điều tiết nhập khẩulượng hàng hóa tràn vào một thị trường nhất định Thuế quan cao sẽ làm giảm lượnghàng hóa được nhập khẩu, bên cạnh đó không làm mất đi các mối quan hệ thương mại

vì nó vẫn cho phép hàng hóa nước ngoài thâm nhập vào thị trường nội địa Thuế quancòn giúp các nhà sản xuất nội địa bán hàng trên thị trường nội địa mà không phải chịusức ép cạnh tranh cao, phục vụ cho các mục tiêu kinh tế là bảo hộ sản xuất Đây cũng

là nguồn thu đáng kể trong ngân sách nhà nước đối với các quốc gia đang phát triển.Việc tự do hóa thương mại ảnh hưởng nhất định đến nguồn thu ngân sách, vì vậy họphải tìm các khoản thu khác để bù đắp.”

4.2 Biện pháp phi thuế quan

Các biện pháp phi thuế là tất cả các biện pháp không phải thuế quan mà có tác dụnghạn chế việc nhập khẩu hàng hoá vào một nước được áp dụng trong tự vệ thương mại.Hàng rào phi thuế quan có 2 nhóm chính là : Hàng rào hành chính và rào cản kỹ thuật.4.2.1 Hàng rào hành chính:

Bao gồm các quy định pháp luật về cấm nhập hoặc cấm xuất, giấy phép, hạn ngạch (quota), hạn chế xuất khẩu tự nguyện, tỷ lệ nội địa hoá bắt buộc

4.2.1.a Cấm nhập hoặc cấm xuất

“Cấm nhập hoặc cấm xuất là những quy định pháp lý mà một quốc giakhông cho phép nhập khẩu hoặc xuất khẩu đối với một số hàng hóa nhấtđịnh Đặc biệt là những hàng hóa có ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến anninh, quốc phòng, sức khỏe con người, và môi trường thì cấm nhập, cấmxuất là cần thiết Tuy nhiên, với những hàng hóa thông thường nếu quyđịnh cấm nhập hoặc cấm xuất thì đây chính là biện pháp hành chính tạo

ra hàng rào ngăn cản tự do thương mại quốc tế”

4.2.1.b Giấy phép

“Trước đây, cấp phép nhập khẩu là một biện pháp được sử dụng rất rộngrãi nhằm hạn chế nhập khẩu Hiện nay, các quy định về cấp phép nhậpkhẩu của một nước thành viên phải tuân thủ Hiệp định về thủ tục cấpphép Nhập khẩu của WTO, tức là đáp ứng các tiêu chí như đơn giản,minh bạch và dễ dự đoán Trình tự, thủ tục xin cấp phép cũng như lý do

áp dụng giấy phép phải được thông báo rõ ràng, đặc biệt là với các loại

Trang 6

4.2.1.c Hạn ngạch (quota)

“Hạn ngạch là biện pháp dùng để quy định số lượng cao nhất của mộtmặt hàng hay một nhóm hàng được phép xuất khẩu hoặc nhập khẩu từmột thị trường trong một thời gian nhất định (thường là 1 năm), thôngqua hình thức cấp giấy phép Hạn ngạch được sử dụng để ngăn cảnkhông cho hàng hóa nhập khẩu ồ ạt vào thị trường nội địa, gây tổn hạicho các doanh nghiệp trong nước hoặc ngăn không cho hàng hóa chấtlượng thấp, giá trị thấp vào thị trường gây xáo trộn cạnh tranh Trên thực

tế hiện nay có 2 loại hạn ngạch:

- Hạn ngạch tuyệt đối: là hạn ngạch khi áp dụng, nếu hàng hóa nhập khẩuvượt quá một số lượng đã được quy định thì không được cấp phép nhậpkhẩu

- Hạn ngạch thuế suất thuế quan: là hạn ngạch khi áp dụng, nếu hàng hóanhập khẩu không vượt quá mức quy định thì sẽ đánh thuế suất thôngthường; ngược lại sẽ bị đánh thuế suất bổ sung hay đánh thuế tăng lêntheo từng phần tăng tương ứng của số lượng hàng nhập khẩu.”

4.2.1.d Hạn chế xuất khẩu tự nguyện

“Hạn chế xuất khẩu tự nguyện là một biện pháp hạn chế xuất khẩu màtheo đó quốc gia nhập khẩu đòi hỏi quốc gia xuất khẩu phải hạn chế chếbớt lượng hàng xuất khẩu sang nước mình một cách tự nguyện, nếu

không thì sẽ áp dụng biện pháp trả đũa kiên quyết Cách thức này gầngiống như hạn ngạch nhưng khác ở chỗ, trong khi hạn ngạch là quy địnhđơn phương của một quốc gia thì hạn chế xuất khẩu tự nguyện là sảnphẩm của một hiệp định song phương.”

4.2.1.e Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc

Tỷ lệ nội địa hóa bắt buộc là một cách thức ngăn cản hàng hóa nhậpkhẩu, theo đó một quốc gia quy định một mặt hàng nào đó phải đạt một

tỷ lệ nội địa hóa mới được tiêu thụ tại quốc gia đó

Trang 7

5 Áp dụng biện pháp tự vệ

5.1 Điều kiện áp dụng các biện pháp tự vệ

“Một nước nhập khẩu chỉ có thể áp dụng các biện pháp tự vệ sau khi tiến hành điều tra

và chứng minh được sự tồn tại đồng thời của các điều kiện sau:

Thứ nhất: Hàng hóa liên quan được nhập khẩu tăng đột biến về số lượng: việc nhập

khẩu được xem là tăng đột biến khi sự gia tăng này là gia tăng tuyệt đối (ví dụ nhưlượng nhập khẩu tăng gấp 2 lần) hoặc tương đối so với sản xuất trong nước (ví dụlượng hàng nhập khẩu hầu như không tăng nhưng cùng thời điểm đó lượng hàng sảnxuất trong nước lại giảm mạnh); đồng thời sự gia tăng này phải diễn ra đột ngột,nhanh và tức thời, thuộc diện “không đoán trước được”

Thứ hai: Ngành sản xuất sản phẩm tương tự hoặc cạnh tranh trực tiếp với hàng hóa đó

bị thiệt hại hoặc đe dọa bị tổn hại nghiêm trọng Tổn hại nghiêm trọng ở đây đượchiểu là sự suy giảm toàn diện đáng kể tới vị trí của ngành công nghiệp nội địa.”

“Thứ ba: Có mối quan hệ nhân quả giữa hiện tượng nhập khẩu tăng đột biến và thiệt

hại hoặc đe dọa thiệt hại nói trên Nếu có những yếu tố khác không phải là sự gia tăngnhập khẩu, xuất hiện cùng một thời gian, gây ra tổn hại nghiêm trọng hay đe dọa gây

ra tổn hại này sẽ không được tính cho sự gia tăng nhập khẩu

Điều kiện chung : Việc tăng đột biến lượng nhập khẩu phải là một hiện tượng độtngột, nhanh, mà nước nhập khẩu đó không thể lường trước khi đưa ra cam kết trongWTO Cùng với điều kiện chung đó, các nước khi gia nhập vào WTO phải có nhữngcam kết riêng liên quan đến các biện pháp tự vệ.”

5.2 Điều kiện cho các biện pháp tự vệ

“Hình thức: WTO không có quy định ràng buộc, thường các quốc gia sẽ áp dụng hạn

chế lượng nhập khẩu (hạn ngạch) hoặc tăng thuế nhập khẩu đối với hàng hóa liênquan

Mức độ: chỉ có thể áp dụng ở mức cần thiết, đủ để ngăn chặn, bù đắp thiệt hại, tạo

điều kiện điều chỉnh sản xuất nội địa

Thời hạn: không kéo dài quá 4 năm, giảm dần theo định kỳ kể từ năm đầu tiên áp

dụng Trường hợp biện pháp được áp dụng trên 3 năm thì phải được xem xét lại vàogiữa kỳ để cân nhắc khả năng chấm dứt hoặc giảm mức áp dụng mạnh hơn nữa

Về gia hạn tự vệ: có thể gia hạn nếu nước nhập khẩu chứng minh được việc gia hạn là

cần thiết, tổng thời gian áp dụng và gia hạn không quá 8 năm.”

Trang 8

6 Vận dụng thực tiễn về các quy định biện pháp tự vệ

Các quy định này khá quan trọng để xem xét và lưu ý, bởi khi các bên tham gia đàmphán thương mại, việc thật sự hiểu rõ về biện pháp tự vệ thương mại là rất cần thiết,

để khi áp dụng vào thực tiễn có thể tạo được lợi thế cạnh tranh, tránh được những rủi

ro không lường trước và làm chủ được tình hình của mình trên thị trường quốc tế Đểkhái quát hơn, ta có thể xem xét một ví dụ, đó là vụ kiện dầu thực vật nhập khẩu củaViệt Nam Kể từ ngày 01/01/2009, Việt Nam phải áp dụng thuế suất 0% cho sản phẩmdầu ăn từ việc áp dụng quy định của AFTA và ACFTA Sau đó, doanh nghiệp ViệtNam đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt từ sản phẩm dầu nhập khẩu (chủ yếu là từASEAN), đặc biệt trong năm 2012 có sự gia tăng đột biến dẫn tới thiệt hại nghiêmtrọng cho ngành sản xuất trong nước Cuối năm 2012, Công ty Công nghiệp Dầu thựcvật Việt Nam (Vocarimex) đã gửi đơn kiện đến Bộ Công thương yêu cầu áp dụng biệnpháp tự vệ đối với mặt hàng dầu đậu nành và dầu cọ nhập khẩu vào Việt Nam (“dầuthực vật”) với mã HS:1507.90.90, 1511.90.91, 1511.90.92, 1511.90.99 với lý doVocarimex và các DN Việt Nam liên tục mất thị phần trên thị trường kể từ khi ViệtNam áp dụng thuế 0% cho AFTA từ năm 2009, đặc biệt năm 2012 mất trên 20% Đơnkiện này được sự ủng hộ của các doanh nghiệp sản xuất trong nước khác bao gồm:Cty Cổ phần Dầu thực vật Tường An, Công ty TNHH Dầu thực vật Cái Lân, Công tyDầu ăn Golden Hope Nhà Bè Sau quá trình điều tra từ ngày 01/01/2012 đến ngày31/12/2012, Bộ Công thương đã ra Quyết định số 5987/QĐ-BCT ngày 23/8/2013 về

áp dụng thuế tự vệ với mức thuế ban đầu là 5%.Điều đó cho thấy, việc áp dụng biệnpháp tự vệ thương mại có ý nghĩa quan trọng đối với các doanh nghiệp trong nướcmột khi chúng ta gia nhập vào thị trường thương mại tự do với việc tham gia vào tổchức WTO và kí kết các Hiệp định thương mại

“Mặt khác, trong bối cảnh hình thành các Hiệp định Thương mại tự do (FTA), việcgiảm thuế, ưu đãi thuế thường thấp hơn mức thuế được thực hiện theo nguyên tắc tốihuệ quốc (MFN) được quy định của WTO, vì thế, ngành sản xuất trong nước của cácbên tham gia FTA sẽ gặp rất nhiều rủi ro, gây tổn hại hoặc đe dọa gây tổn hại chongành sản xuất trong nước khi nền kinh tế phải thích ứng với sự cạnh tranh trong môitrường mới Do đó, các biện pháp tự vệ trở thành công cụ bảo vệ rất quan trọng trongFTA, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp Vì vậy, các thỏa thuận về biện pháp tự

vệ trong các FTA rất chú ý đến cách thức áp dụng các biện pháp tự vệ Đây là một quyđịnh giống như “một van cứu sinh” để ngăn chặn tác động tiêu cực đến ngành sản xuấttrong nước do quá trình tự do hóa thương mại.Ví dụ như: Theo thống kê, đến nay,tổng số hiệp định thương mại Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán là 20 hiệpđịnh, trong đó 12 FTA đang thực thi (ASEAN, ASEAN - Trung Quốc, ASEAN - HànQuốc, ASEAN - Australia - NewZealand, ASEAN - Ấn Độ, ASEAN - Nhật Bản, ViệtNam - Nhật Bản, Việt Nam - Chi Lê, Việt Nam - Hàn Quốc, Việt Nam - Lào, ViệtNam - Liên minh châu Âu (EVFTA) và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộxuyên Thái Bình Dương - CPTPP) Trong các FTA kể trên, CPTPP và EVFTA được

Trang 9

coi là FTA thế hệ mới với phạm vi cam kết rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực phi thươngmại.

Về PVTM, các FTA thế hệ mới có nhiều điểm kế thừa và phát huy, nội dung quy địnhchặt chẽ hơn so với các FTA trước đó Chẳng hạn như: CPTPP khẳng định lại cácnguyên tắc của Hiệp định về biện pháp tự vệ của WTO, tuy nhiên, bổ sung thêm mộtquy trình tự vệ mới bên cạnh quy trình tự vệ theo WTO Theo đó, các nước có thể duytrì 02 nhóm biện pháp tự vệ bao gồm: Tự vệ toàn cầu (tự vệ theo WTO như trước nayvẫn áp dụng) và tự vệ trong thời gian chuyển đổi (tự vệ riêng của CPTPP)

Về biện pháp tự vệ toàn cầu, chương PVTM trong Hiệp định CPTPP bổ sung thêmquy định mang tính WTO+, đó là khi áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu, một nướcthành viên có thể loại trừ hàng hóa nhập khẩu từ một nước thành viên CPTPP kháctrong trường hợp hàng hóa nhập khẩu từ quốc gia đó không phải là nguyên nhân gây

ra hoặc đe dọa gây thiệt hại nghiêm trọng

Với cam kết CPTPP, một nước CPTPP khi áp dụng biện pháp tự vệ toàn cầu có thểloại trừ các sản phẩm có xuất xứ mà áp dụng hạn ngạch thuế quan hoặc nằm trongdanh mục cắt giảm thuế của nước đó nếu việc nhập khẩu các hàng hoá này không phải

là nguyên nhân gây ra thiệt hại hoặc đe dọa gây ra thiệt hại đối với ngành sản xuất nộiđịa của nước đó Nói cách khác, khi một nước CPTPP áp dụng một biện pháp tự vệtoàn cầu, thì có thể loại trừ không áp dụng đối với các hàng hoá có xuất xứ từ mộtnước CPTPP khác.”

II Quy trình khởi kiện, đối phó với các vụ kiện hàng

nhập khẩu

1 Quy trình khởi kiện

1.1 Các nguyên tắc WTO quy định

“Khác với trường hợp các vụ kiện chống bán phá giá hay chống trợ cấp, WTO không cónhiều quy định chi tiết về trình tự, thủ tục kiện áp dụng biện pháp tự vệ Tuy nhiên, WTO

có đưa ra một số các nguyên tắc cơ bản mà tất cả các thành viên phải tuân thủ trong điều

19 GATT 1994 và Hiệp định về Biện pháp tự vệ, quy định điều kiện áp dụng biện pháp tự

vệ, các thủ tục điều tra và cách áp dụng biện pháp tự vệ, các biện pháp bồi thường và các

ưu tiên dành cho nước đang phát triển, ví dụ như một số các nguyên tắc sau:

· Đảm bảo tính minh bạch ( quyết định khởi xướng vụ điều tra tự vệ phải đượcthông báo công khai; Báo cáo kết luận điều tra phải được công khai vào cuốicuộc điều tra…)

Trang 10

· Đảm bảo quyền tố tụng của các bên ( các bên liên quan phải được đảm bảo cơhội trình bày các chứng cứ, lập luận của mình và trả lời các chứng cứ, lập luậncủa đối phương)

· Đảm bảo bí mật thông tin (đối với thông tin có bản chất là mật hoặc được cácbên trình với tính chất là thông tin mật không thể được công khai nếu không có

sự đồng ý của bên đã trình thông tin)

· Các điều kiện về biện pháp tạm thời ( phải là biện pháp tăng thuế, và nếu kếtluận cuối cùng của vụ việc là phủ định thì khoản chênh lệch do tăng thuế phảiđược hoàn trả lại cho bên đã nộp; không được kéo dài quá 200 ngày…)

· Một Thành viên nước đang phát triển có quyền kéo dài thời hạn áp dụng biệnpháp tự vệ trong thời hạn không quá 2 năm sau khi hết thời hạn tối đa

1.2 Trình tự khởi kiện

1) Đơn yêu cầu áp dụng biện pháp tự vệ của ngành sản xuất nội địa nước nhậpkhẩu

2) Khởi xướng điều tra

3) Điều tra và công bố kết quả điều tra về các yếu tố tình hình nhập khẩu; tìnhhình thiệt hại; mối quan hệ giữa việc nhập khẩu và thiệt hại

4) Ra quyết định áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp tự vệ

Chú ý rằng việc điều tra và áp dụng biện pháp tự vệ, mặc dù có nhiều yếu tố giốngmột trình tự tố tụng tư pháp (một vụ kiện tại tòa án), nhưng đây bản chất là một thủtục hành chính do một cơ quan hành chính nước nhập khẩu tiến hành, để xử lý mộttranh chấp thương mại giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài (về nguyên tắc là từ tất cảcác nước đang xuất khẩu hàng hóa liên quan vào nước nhập khẩu) và ngành sản xuấtnội địa liên quan của nước nhập khẩu Việc này được thực hiện trong khuôn khổ phápluật nội địa nước nhập khẩu phù hợp với quy định của WTO và về nguyên tắc khôngphải là công việc giữa các Chính phủ (Chính phủ các nước xuất khẩu và Chính phủnước nhập khẩu) Tuy nhiên, do vấn đề này đã được ràng buộc bởi các nguyên tắc bắtbuộc có liên quan trong Hiệp định SG của WTO nên các thành viên có thể thông quaWTO để xử lý những trường hợp nước nhập khẩu tiến hành điều tra mà vi phạmWTO

Việt Nam đã là thành viên của WTO, vì vậy nếu một nước thành viên WTO tiến hànhđiều tra và áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam màkhông tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc về trình tự, thủ tục hoặc điều kiện áp dụng biệnpháp tự vệ của WTO thì Việt Nam có thể khởi kiện nước đó ra WTO (theo cơ chế giải

Trang 11

quyết tranh chấp trong WTO) Tuy nhiên, về cơ bản việc này chỉ khả thi nếu có cácthông tin thực tế mà doanh nghiệp cung cấp về việc vi phạm nguyên tắc WTO củanước điều tra.

2 Nguyên tắc áp dụng biện pháp tự vệ

2.1 Nguyên tắc không phân biệt đối xử

Nguyên tắc không phân biệt đối xử theo quy định của Hiệp định về các biện pháp tự

vệ chính là nguyên tắc đối xử Tối huệ quốc theo đó biện pháp tự vệ sẽ được áp dụngtheo cách không phân biệt đối xử về xuất xứ hàng hóa nhập khẩu Như vậy, khác vớibiện pháp chống bán phá giá và biện pháp chống trợ cấp (chỉ áp dụng đối với nhà xuấtkhẩu từ một hoặc một số nước xuất khẩu nhất định bị điều tra), biện pháp tự vệ ápdụng cho tất cả các nhà sản xuất, xuất khẩu của tất cả các nước xuất khẩu đang xuấtmặt hàng đó sang nước nhập khẩu

Trường hợp biện pháp tự vệ là hạn ngạch, nước nhập khẩu phải phân bố hạn ngạchgiữa các nước xuất khẩu trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nước này và xem xét lợiích thỏa đáng của các nhà cung cấp mới (Theo điều 5, khoản 2a) Nếu không đạt đượcthỏa thuận, việc phân bổ sẽ được thực hiện theo thị phần tương ứng của từng nướcxuất khẩu trong giai đoạn trước đó

2.2 Nguyên tắc đảm bảo bồi thường tổn thất thương mại

Một nước thành viên khi áp dụng các biện pháp tự vệ phải đền bù thỏa đáng cho nước

bị áp dụng biện pháp tự vệ do tác động bất lợi tới lợi ích thương mại của nước đó.Việc đền bù thiệt hại thường được thể hiện qua giảm thuế đối với hàng hóa có lợi íchxuất khẩu đối với nước bị áp dụng tự vệ với mức độ đền bù phải tương đương đáng

kể Nếu biện pháp tự vệ có tính chất hạn chế định lượng thì mức độ tương đương nàyphải được tính dựa trên dự đoán lượng xấp xỉ về số lượng nhập khẩu bị cấm sau khi ápdụng tự vệ

Nước nhập khẩu áp dụng biện pháp tự vệ phải tiến hành thương lượng với các nướcxuất khẩu về biện pháp đền bù thương mại thoả đáng Trường hợp không đạt đượcthỏa thuận, nước xuất khẩu liên quan có thể áp dụng biện pháp trả đũa (thường là việcrút lại những nghĩa vụ nhất định trong WTO, bao gồm cả việc rút lại các nhượng bộ

về thuế quan - tức là từ chối giảm thuế theo cam kết WTO - đối với nước áp dụng biệnpháp tự vệ) Tuy nhiên, việc trả đũa không thể được thực hiện trong 3 năm đầu kể từkhi biện pháp tự vệ được áp dụng ( nếu biện pháp áp dụng tuân thủ đầy đủ các quyđịnh của WTO và thiệt hại nghiêm trọng là thiệt hại thực tế)

Trang 12

3 Đối phó với các biện pháp tự vệ

Đằng sau việc áp dụng biện pháp tự vệ là sự bảo hộ có điều kiện ngành sản xuất nộiđịa nước nhập khẩu trước sự gia tăng đột biến của hàng nhập khẩu Vì vậy, để đối phóvới nguy cơ bị áp dụng các biện pháp tự vệ, các doanh nghiệp xuất khẩu cần:

Về nhận thức: Cần nhận biết về sự tồn tại của nguy cơ bị kiện tại các thị trường xuất

khẩu và cơ chế vận hành của chúng, nhóm thị trường và loại mặt hàng thường bị kiện;

Về chiến lược kinh doanh: Cần tính đến khả năng bị kiện khi xây dựng chiến lược

xuất khẩu để có kế hoạch chủ động phòng ngừa và xử lý khi không phòng ngừa được(ví dụ đa dạng hoá thị trường xuất khẩu, tránh phát triển quá nóng một thị trường, tăngcường cạnh tranh bằng chất lượng và giảm dần việc cạnh tranh bằng giá rẻ…);

áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Việt Nam, yêu cầu có bồi thườngquyền lợi thương mại khi có việc nước khác áp dụng biện pháp tự vệ

4 Vấn đề phòng vệ thương mại trong EVFTA

4.1 Các quy định bổ sung

Chương trình về các biện pháp phòng vệ thương mại bao gồm các điều khoản liênquan đến việc sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại truyền thống trong WTO(bao gồm các biện pháp: chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ)

So với cam kết WTO, Hiệp định EVFTA bổ sung các quy định giới hạn việc sử dụngcác công cụ này để tránh lạm dụng và đảm bảo công bằng, minh bạch Các quy địnhnày tạo ra môi trường kinh doanh ổn định và thuận lợi hơn cho doanh nghiệp xuấtkhẩu Nhằm tăng cường tính minh bạch, EVFTA quy định ngay sau khi một bên tiếnhành các biện pháp tạm thời và ngay trước khi có quyết định cuối cùng thì bên này

Trang 13

phải cung cấp các thông tin đã được sử dụng để đánh giá và đưa ra quyết định.EVFTA quy định các bên tiếp tục tuân thủ các quy định của WTO về biện pháp tự vệ(gọi là biện pháp tự vệ toàn cầu) đồng thời bổ sung thêm các cam kết sau:

Thông báo: Bên khởi xướng điều tra/chuẩn bị áp dụng biện pháp tự vệ phải thông báo

bằng văn bản tất cả các thông tin cơ bản và các căn cứ ra quyết định trong vụ việc tự

vệ theo yêu cầu của Bên kia

Cách thức: Phải tạo điều kiện để trao đổi song phương giữa hai Bên về biện pháp tự

vệ và chỉ được áp dụng chính thức biện pháp tự vệ sau 30 ngày kể từ khi trao đổi songphương thất bại

4.2 Biện pháp tự vệ song phương

Bên cạnh biện pháp tự vệ toàn cầu theo WTO (biện pháp tự vệ áp dụng chung chohàng hóa từ tất cả các nguồn), theo Chương này, Việt Nam và EU có thể áp dụng biệnpháp tự vệ song phương (chỉ áp dụng cho hàng hóa từ đối tác mà không áp dụngchung cho hàng hóa từ các nguồn xuất khẩu khác) Biện pháp tự vệ song phương nàychỉ được áp dụng trong 10 năm đầu tiên Hiệp định có hiệu lực, ngoài khoảng này, việc

áp dụng phải được sự đồng ý của Bên bị áp dụng

Điều kiện áp dụng: Sự gia tăng của hàng nhập khẩu từ Bên kia là do việc cắt giảm

thuế theo Hiệp định này và là nguyên nhân gây ra thiệt hại nghiêm trọng của ngànhsản xuất nội địa

Thủ tục điều tra: Ngoài các quy định của WTO về điều tra tự vệ, EVFTA bổ sung

thêm các yêu cầu:

· Phải tham vấn song phương với Bên kia trước khi khởi xướng điều tra

· Thời hạn điều tra là 01 năm

· Áp dụng biện pháp tự vệ không quá 200 ngày

Hình thức tự vệ: Biện pháp tự vệ song phương chỉ có thể áp dụng dưới các hình thức

(i) tạm ngừng cắt giảm thuế quan theo cam kết tại Hiệp định; (ii) tạm tăng thuế trở lạibằng mức MFN tại thời điểm liên quan hoặc bằng mức thuế cơ sở đàm phán ban đầu

Cách thức áp dụng:

· Thời hạn áp dụng không quá 02 năm, có thể gia hạn tối đa là 02 năm nữa

· Bên áp dụng biện pháp tự vệ phải tham vấn với bên kia về việc bồi thường(dưới dạng các nhượng bộ có trị giá thương mại tương đương với mức tự vệ)trong vòng 30 ngày kể từ ngày áp dụng biện pháp tự vệ song phương; nếukhông tham vấn, Bên bị áp dụng biện pháp tự vệ có thể thực hiện biện pháp trảđũa tạm thời (tạm ngưng các nhượng bộ thuế quan, với trị giá thương mại

Ngày đăng: 30/08/2020, 08:46

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Dưới đây là bảng thống kê các vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Việt Nam - Tiểu luận Thương mại quốc tế về Tự vệ thương mại ở Việt Nam và thế giới
i đây là bảng thống kê các vụ điều tra áp dụng biện pháp tự vệ đối với hàng hoá Việt Nam (Trang 18)

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w